1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự thích ứng của người dân nhập cư ở vùng miền núi biên giới tỉnh quảng trị hiện nay (trường hợp nghiên cứu khu dự án mô hình bố trí lại dân cư vùng biên giới, khai thác vùng gò đồi xã a dơi, huyện

178 21 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 3,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì tầm quan trọng và thiết yếu của vấn đề đã thúc đẩy tác giả thực hiện đề tài tìm hiểu “Sự thích ứng của người dân nhập cư ở vùng miền núi - biên giới tỉnh Quảng Trị hiện nay” với

Trang 1

PHAN NỮ NGỌC LAN

SỰ THÍCH ỨNG CỦA NGƯỜI DÂN NHẬP

CƯ Ở VÙNG MIỀN NÚI – BIÊN GIỚI TỈNH QUẢNG TRỊ HIỆN NAY

(TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU: KHU DỰ ÁN MÔ HÌNH BỐ TRÍ LẠI DÂN CƯ VÙNG BIÊN GIỚI, KHAI THÁC VÙNG GÒ ĐỒI XÃ A DƠI, HUYỆN HƯỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – Tháng 02/2011

Trang 2

PHAN NỮ NGỌC LAN

SỰ THÍCH ỨNG CỦA NGƯỜI DÂN NHẬP

CƯ Ở VÙNG MIỀN NÚI – BIÊN GIỚI TỈNH QUẢNG TRỊ HIỆN NAY

(TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU: KHU DỰ ÁN MÔ HÌNH BỐ TRÍ LẠI DÂN CƯ VÙNG BIÊN GIỚI, KHAI THÁC VÙNG GÒ ĐỒI XÃ A DƠI, HUYỆN HƯỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ)

CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC

Mã số: 60.31.30

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN THỊ HỒNG XOAN

Thành phố Hồ Chí Minh – Tháng 02/2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, đề tài nghiên cứu này chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác

Số liệu được phân tích và dẫn chứng trong đề tài là kết quả nghiên cứu thực nghiệm của tôi đã tiến hành thực hiện tại khu dự án mô hình bố trí lại dân cư vùng biên giới, khai thác vùng gò đồi xã A Dơi, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị vào tháng 05 năm 2011

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2011

Tác giả luận văn Phan Nữ Ngọc Lan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Quyển Luận văn này sẽ không bao giờ được hoàn thiện nếu chỉ có sự cố gắng của riêng bản thân tôi Những thành quả ngày hôm nay của tôi còn có sự giúp sức của các thầy cô, gia đình và bạn bè xung quanh

Tôi xin cảm ơn Khoa Xã hội học của Trường Đại học Khoa học Huế, Đại học Huế, Phòng Sau đại học, Khoa Xã hội học của Trường Đại học Khoa học xã hội

và nhân văn Tp HCM cùng toàn thể Quý Thầy Cô đã tạo mọi điều kiện học tập, nghiên cứu cho tôi trong thời gian học Cao học cũng như trong thời gian làm luận văn

Tôi xin đặc biệt cảm ơn người hướng dẫn khoa học cho tôi, TS Nguyễn Thị Hồng Xoan Mặc dù còn nhiều nỗi lo toan riêng, nhưng với tinh thần làm việc rất nghiêm túc Cô vẫn dành cho tôi sự quan tâm chu đáo và tận tình hướng dẫn Những kiến thức, kinh nghiệm và những lời động viên của Cô đã cho tôi sự tự tin cần thiết

để tôi có thể hoàn thành luận văn của mình

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Chi cục di dân & Phát triển nông thôn thuộc Sở Nông nghiệp Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Trị và chính quyền địa phương nơi tôi tiến hành điều tra thực địa: Uỷ ban nhân dân xã A Dơi, Uỷ ban nhân dân huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị và tất cả những hộ gia đình trong vùng dự án

mô hình bố trí lại dân cư vùng biên giới, khai thác vùng gò đồi xã A Dơi đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình lấy dữ liệu ở địa phương phục vụ cho luận văn này

Tôi cũng không quên cảm ơn những người bạn đã tận tình giúp đỡ trong quá trình điều tra thực địa, giúp tôi thu thập dữ liệu một cách nhanh chóng và chính xác

Trên hết, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình và tất cả những người thân đã luôn động viên, giúp đỡ tôi về mặt tinh thần lẫn vật chất để tôi có thể sớm hoàn thành luận văn này

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2011

Phan Nữ Ngọc Lan

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN DẪN NHẬP……… 7

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI……… 7

1.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI……… 9

1.2.1 Đối tượng nghiên cứu………9

1.2.2 Khách thể nghiên cứu………9

1.2.3 Phạm vi nghiên cứu……… 9

1.3 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI……… 10

1.3.1 Mục tiêu chung……….10

1.3.2 Mục tiêu cụ thể……….10

1.4 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI……… 11

1.4.1 Ý nghĩa lý luận……… 11

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn……… 11

PHẦN B:……… 12

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………12

1.1 TỔNG QUAN VỀ DI DÂN Ở VIỆT NAM VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1.1 Tổng quan về di dân ở Việt Nam………12

1.1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu di dân ở Việt Nam……… 14

1.1.3 Các công trình nghiên cứu về di dân lên các tỉnh miền núi – biên giới ở Việt Nam……… 17

1.2 CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI……….24

1.2.1 Khái niệm thích ứng………24

1.2.2 Một số khái niệm cơ bản về di dân……….25

- Di dân - Nhập cư - Người nhập cư 1.2.3 Khái niệm nông thôn miền núi………28

1.3 CÁC LÝ THUYẾT SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI……… 28

Trang 6

1.3.1 Lý thuyết tiếp cận………28

- Lý thuyết cấu trúc chức năng……….28

1.3.2 Lý thuyết áp dụng………29

- Quan điểm về tiến hoá xã hội……….29

- Lý thuyết về sự thích ứng trong di dân……… 31

1.4 KHUNG PHÂN TÍCH……… 33

1.5 CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU……… 33

1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………35

1.6.1 Các phương pháp luận nghiên cứu ……….……… 35

1.6.2 Các phương pháp thu thập thông tin……….36

1.7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN……… 39

1.8 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI……… 39

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT, XÃ HỘI VÀ SỰ THÍCH ỨNG CỦA NGƯỜI DÂN NHẬP CƯ Ở VÙNG DỰ ÁN XÃ A DƠI, HUYỆN HƯỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ……….42

2.1 BỐI CẢNH KINH TẾ, VĂN HOÁ, XÃ HỘI CỦA TỈNH QUẢNG TRỊ…42 2.1.1 Thực trạng kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Trị………42

2.1.2 Tình hình điều chuyển, phân bố lại lao động – dân cư trên địa bàn tỉnh trong những năm vừa qua 43

2.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ, VĂN HOÁ, XÃ HỘI CỦA HUYỆN HƯỚNG HOÁ 2.2.1 Thực trạng kinh tế - xã hội của huyện Hướng Hoá……… 45

2.2.2 Tình hình định canh, định cư – kinh tế mới ở huyện Hướng Hoá 46

2.3 TÌNH HÌNH KINH TẾ, VĂN HOÁ, XÃ HỘI CỦA XÃ A DƠI 47

2.3.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội xã A Dơi 47

2.3.2 Tình hình thực hiện chương trình di dân và định canh, định cư trên địa bàn xã A Dơi (2002 – 2006)………48

2.3.3 Đặc điểm và mục tiêu của dự án mô hình bố trí lại dân cư vùng biên giới xã A Dơi……… 49

Trang 7

2.4 THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT, XÃ HỘI VÀ SỰ THÍCH ỨNG

CỦA NGƯỜI DÂN NHẬP CƯ Ở VÙNG DỰ ÁN XÃ DƠI………50

2.4.1 Thực trạng và sự thích ứng về đời sống vật chất……… 50

2.4.1.1 Nghề nghiệp - việc làm và điều kiện, tính chất công việc……… 51

2.4.1.2 Thu nhập, chi tiêu, tiết kiệm……… 64

2.4.1.3 Điều kiện sống và các tài sản, phương tiện sinh hoạt ……… 69

2.4.2 Thực trạng và sự thích ứng về đời sống xã hội……… 72

2.4.2.1 Sự tham gia các tổ chức, đoàn thể xã hội và các hoạt động vui chơi, giải trí… 73

2.4.2.2 Việc làm quen với một số các phong tục, tập quán tại nơi ở mới và mối liên hệ với gia đình, họ hàng ở quê cũ………80

2.5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THÍCH ỨNG CỦA NGƯỜI DÂN NHẬP CƯ………88

2.5.1 Các yếu tố chủ quan……….88

2.5.1.1 Ảnh hưởng của yếu tố độ tuổi……….88

2.5.1.2 Ảnh hưởng của yếu tố trình độ học vấn……….90

2.5.1.3 Ảnh hưởng của yếu tố các mối quan hệ xã hội ……… 92

2.5.2 Ảnh hưởng của các yếu tố khách quan……… 94

2.5.2.1 Ảnh hưởng của yếu tố các điều kiện kinh tế - văn hoá – xã hội nơi đi và nơi đến……… 94

2.5.2.2 Ảnh hưởng của chính sách di dân trước khi di cư và các chính sách hiện hành khác………99

- Chính sách di dân trước khi người dân di cư - Chính sách cho hộ gia đình người nhập cư trong vùng dự án vay vốn - Chính sách chuyển giao kiến thức khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp - Chính sách về đời sống văn hóa - xã hội PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……… 116

I Kết luận……….116

Trang 8

II Khuyến nghị……… 120

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……….126

PHẦN PHỤ LỤC……… 129

1 Bảng, biểu……… 129

2 Bảng hỏi 149

3 Câu hỏi phỏng vấn sâu……… 173

4 Một số hình ảnh minh hoạ cho cuộc nghiên cứu……….175

Trang 9

quan trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” do Bộ Lao động – Thương binh và

Xã hội tổ chức với sự hỗ trợ của Quỹ Châu Á (The Asia Foundation)2 cũng đã

khẳng định:“Di cư là yếu tố tất yếu, là động lực tích cực thúc đẩy sự phát triển kinh

tế - xã hội, góp phần phân bổ lại dân cư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế lao động, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo” 3 Chính vì vậy:“Công tác di dân luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước thông qua các chương trình, chính sách nhằm thức đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá, củng cố an ninh quốc phòng”

Quá trình di dân ở Việt Nam luôn gắn liền với lịch sử phát triển kinh tế và xã hội Ngay từ những năm 60, Đảng và Chính phủ đã tổ chức di dân đi khai hoang các tỉnh miền núi phía Bắc Từ năm 1975, sau khi đất nước thống nhất, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục tổ chức đưa dân đến các vùng đất hoang hoá ở Tây Nguyên, Đông Nam bộ để giải quyết lương thực, thực phẩm và phát triển các vùng kinh tế mới Sau Đổi mới, luồng di cư có sự thay đổi, chủ yếu từ nông thôn ra đô thị nhưng di cư

từ nông thôn đến nông thôn đặc biệt là đến vùng nông thôn miền núi vẫn chiếm một

vị trí quan trọng trong chính sách của Đảng và Nhà nước ta Tuỳ từng giai đoạn lịch

sử cụ thể mà Nhà nước ta đã có những chính sách di dân phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất Đầu thập kỷ 90, Chính phủ đã ban hành quyết định 116/HĐBT với nội

Trần Lan Phương – Agroinfo, Hội thảo "Di cư và các vấn đề xã hội có liên quan trong bối cảnh hội nhập

kinh tế quốc tế", 05/04/2007,www.ipsard.gov.vn/news/newsdetail.asp?targetID=1453 - 46k

Trang 10

dung di dân theo vùng dự án, đầu tư tập trung trọng điểm đồng bộ, thay thế cho các chính sách về di dân xây dựng các vùng kinh tế mới vào đầu thập kỷ 1980 có địa bàn nhập cư chủ yếu là Tây Nguyên, Đông Nam bộ

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng đầu tư các chương trình, dự án nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của vùng đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa Dự án mô hình di dân lên biên giới, khai thác vùng gò đồi tại xã A Dơi, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị được triển khai năm 2005 là nhằm đầu tư có trọng tâm, trọng điểm cho vùng đặc biệt khó khăn và vùng biên giới, đáp ứng yêu cầu củng cố an ninh - quốc phòng vùng biên giới và các vùng xung yếu trên toàn tuyến biên giới Việt – Lào, tạo ra sự đột phá mới trong quá trình thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia, Chương trình mục tiêu của Tỉnh để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của toàn vùng nhằm thực hiện

có hiệu quả Quyết định 190/2003/QĐ – TTg ngày 16/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách di dân thực hiện quy hoạch, bố trí dân cư giai đoạn 2003 – 2010

và Nghị quyết 05 Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị khoá XIII về phát triển kinh tế - xã hội miền Tây đến năm 2010 Trên cơ sở đó đúc rút những kinh nghiệm nhằm nhân rộng mô hình ra toàn tỉnh và cả nước

Tuy nhiên, để xem xét mô hình liệu có hiệu quả khi được triển khai tại địa bàn này của Tỉnh hay không? Nó đã thực sự khai thác hiệu quả nguồn lực lao động của những người dân nhập cư hay chưa và có nên chăng sẽ là mô hình chuẩn để nhân rộng ra cả nước? Muốn tìm câu trả lời cho điều này, trước hết cần có sự hiểu biết về đời sống kinh tế và xã hội của người dân nhập cư tại địa bàn hiện nay, những thuận lợi và khó khăn mà những cá nhân và gia đình người nhập cư gặp phải tại nơi

ở mới, đặc biệt là sự thích ứng của họ đối với môi trường mới ở nơi đến

Việc tìm hiểu sự thích ứng của người dân nhập cư ở địa bàn này sẽ giúp cho các nhà lập chính sách nắm được khả năng thích ứng của người dân nhập cư ở vùng miền núi - biên giới tỉnh Quảng Trị Từ đó, xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển vùng nhằm hỗ trợ cho người dân nhập cư có được những điều kiện tốt nhất để sớm thích ứng với cuộc sống ở nơi đến Một khi người dân nhập cư có “an

Trang 11

cư, lạc nghiệp” thì mới có thể đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế kết hợp với việc nâng cao đời sống văn hoá, đáp ứng yêu cầu củng cố an ninh - quốc phòng vùng biên giới và các vùng xung yếu trên toàn tuyến biên giới Việt – Lào

Chính vì tầm quan trọng và thiết yếu của vấn đề đã thúc đẩy tác giả thực hiện

đề tài tìm hiểu “Sự thích ứng của người dân nhập cư ở vùng miền núi - biên giới tỉnh Quảng Trị hiện nay” với mong muốn sẽ góp phần cung cấp thêm những luận

điểm khoa học cho việc đánh giá khách quan về thực trạng và hiệu quả của mô hình

dự án tại địa bàn nghiên cứu trong bối cảnh phát triển hiện nay ở tỉnh Quảng Trị nói riêng và Việt Nam nói chung

1.2 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tìm hiểu sự thích ứng của người dân nhập cư ở vùng miền núi -biên giới tỉnh Quảng Trị hiện nay

1.2.3 Khách thể nghiên cứu

- Những người dân thuộc hộ gia đình nhập cư ở vùng biên giới xã A Dơi, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị

1.2.3 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian và khách thể nghiên cứu: đề tài nghiên cứu được giới hạn

thực hiện tại một địa bàn nghiên cứu trọng điểm: xã A Dơi, huyện Hướng Hoá, một

xã thuộc diện đặc biệt khó khăn thuộc vùng miền núi - biên giới tỉnh Quảng Trị Năm 2005 Tỉnh đã thực hiện dự án mô hình bố trí lại dân cư và di dân lên vùng biên giới xã A Dơi Đây là một dự án điểm của cả nước nhằm thực hiện quy hoạch bố trí dân cư theo Quyết định 190/2003/QĐ-TTg ngày 16 tháng 9 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ Trong mô hình dự án có 160 hộ, trong đó: 95 hộ di dân từ các xã vùng đồng bằng lên (từ huyện khác đến) và sắp xếp lại 65 hộ dân của đồng bào dân tộc thiểu số vào vùng dự án (từ các thôn, bản khác trong cùng huyện, được xem là

di dân nội vùng)

Khách thể của cuộc nghiên cứu là những người dân (chủ hộ hoặc vợ /chồng của chủ hộ) tuổi từ 15 - 60 đối với nam và 15 - 55 đối với nữ thuộc các hộ gia đình

Trang 12

di cư, di chuyển từ huyện, thôn, bản khác trong Tỉnh đến vùng dự án từ năm 2005 đến nay đã cư trú ở nơi điều tra liên tục từ 6 tháng trở lên để đảm bảo đánh giá được tính thích ứng của họ ở môi trường mới

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.3.1 Mục tiêu chung

Thông qua việc kết hợp các cách tiếp cận, đề tài tập trung nghiên cứu sự thích ứng về đời sống kinh tế và xã hội của người dân nhập cư ở vùng miền núi - biên giới tỉnh Quảng Trị Để đạt được mục tiêu chung trên, nghiên cứu sẽ có ba mục tiêu cụ thể

1.3.2 Mục tiêu cụ thể

Thứ nhất, mô tả về thực trạng và sự thích ứng củangười nhập cư tại địa bàn nghiên cứu:

- Những đặc điểm và sự thích ứng về đời sống vật chất của người dân nhập

cư như: nghề nghiệp, việc làm, điều kiện làm việc: nơi làm việc, thời gian làm việc, khoảng cách giữa nơi ở và nơi làm việc, tính chất công việc Các điều kiện về nhà ở, thu nhập, chi tiêu, tiết kiệm, phương tiện sinh hoạt và các tài sản khác…

- Những đặc điểm và sự thích ứngvề đời sống xã hội của người dân nhập cư như: các hoạt động vui chơi, giải trí, việc “nhập gia” các phong tục, tập quán, việc tham gia vào các tổ chức, đoàn thể xã hội ở nơi đến, mối liên hệ với gia đình ở nơi ở

+ Các yếu tố khách quan gồm: các điều kiện kinh tế - văn hoá – xã hội tại nơi

đi và nơi đến, các chính sách di dân và các chính sách hiện hành khác của các cấp chính quyền

Trang 13

Thứ ba, dựa vào kết quả nghiên cứu, phân tích hiệu quả và hạn chế của các

chính sách dành cho người nhập cư ở địa bàn, sự thích ứng từ phía bản thân người dân để đề xuất các khuyến nghị và giải pháp giúp các nhà quản lý, hoạch định chính sách có cơ sở xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển vùng nhằm hỗ trợ cho người dân nhập cư có được những điều kiện tốt, giúp họ sớm thích ứng với cuộc sống ở nơi đến

1.4 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.4.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài được thực hiện dựa trên việc vận dụng các lý thuyết và cách tiếp cận trong nghiên cứu xã hội học, cũng như sử dụng các phương pháp điều tra xã hội Đề tài được nghiên cứu sẽ làm tài liệu tham khảo về lý thuyết và phương pháp nghiên cứu cho các nghiên cứu thực nghiệm về sự thích ứng của người dân nhập cư, đặc biệt là nhập cư có tổ chức ở địa bàn nông thôn miền núi

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Di cư không đơn thuần chỉ là vấn đề của mỗi một cá nhân, mỗi một gia đình riêng lẻ mà di cư còn có tác động đến sự phát triển ổn định, bền vững cả của một quốc gia, dân tộc Do đó, đề tài này sau khi thực hiện sẽ cung cấp một bức tranh tổng quát về đời sống kinh tế và xã hội của người dân nhập cư ở vùng biên giới tỉnh Quảng Trị, những thuận lợi và khó khăn họ gặp phải trong trong quá trình thích ứng với cuộc sống hiện tại, đặc biệt là sự thích ứng của họ đối với môi trường mới ở nơi đến Đề tài sẽ góp phần đưa ra các kiến nghị và giải pháp thích hợp giúp các nhà quản lý, hoạch định chính sách xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển vùng nhằm hỗ trợ cho người dân nhập cư có được những điều kiện tốt, giúp họ sớm thích ứng và ổn định cuộc sống ở nơi đến để phát huy được những tiềm năng của mình

Bên cạnh đó, thông qua việc đánh giá sự thích ứng của người dân nhập cư ở đây, có thể đưa ra những nhận định về hiệu quả của mô hình khi được triển khai tại địa bàn này của Tỉnh từ chính kinh nghiệm thực tế của người dân nhập cư để đề xuất có nên nhân rộng mô hình này ra cả nước hay không

Trang 14

PHẦN B CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 1.1 TỔNG QUAN VỀ DI DÂN Ở VIỆT NAM VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1.1 Tổng quan về di dân ở Việt Nam

Di cư ở Việt Nam không phải là một hiện tượng mới mà đã xảy ra từ thời xa xưa Các tài liệu cho thấy ở nước ta hiện tượng di cư có định hướng đã xuất hiện từ cuối thế kỷ thứ X Hiện tượng này không diễn ra thường xuyên liên tục mà được thực hiện từng đợt do nhà nước quân chủ điều hành vì mục tiêu chính trị quân sự là chủ yếu (Đặng Thu, 1994) Nghiên cứu quá trình di cư người Việt trong giai đoạn này, các tác giả đã đưa ra các dạng thức di cư như sau: di cư lan toả trên bề mặt lãnh thổ, di cư về phía Nam và các luồng nhập cư từ ngoài vào đất nước của người Việt

- Di cư theo hướng lan toả nội bộ: Do sự khác biệt về môi trường sinh thái giữa vùng đồi núi và đồng bằng cộng với những tác động về văn hoá, chính trị của mỗi vùng đã dẫn đến sự phát triển không đồng đều giữa cư dân miền núi với đồng bào miền xuôi Miền xuôi phát triển nhanh về mọi mặt trong khi đó miền núi phát triển chậm và tự thủ trước sự quản lý của nhà nước quân chủ tập quyền dẫn đến hiện tượng di chuyển dân cư theo hướng lan toả Hiện tượng di cư lan toả được diễn

ra theo ba hình thức:

+ Di cư nhằm mục đích khai hoang, lập thành những tụ điểm dân cư mới Điển hình nhất là di cư theo hướng chiếm lĩnh đồng bằng ven biển

+ Di cư theo hướng lập những điền trang của vương hầu thời Trần

+ Di cư hướng về kinh đô – trung tâm của đất nước

Mỗi hình thức di cư đều có sự khác nhau về mục đích, phương hướng và quy mô

Trang 15

- Di cư về phía Nam: Từ thế kỷ thứ X, ở nước ta đã xuất hiện hiện tượng di

cư vượt qua Hoành Sơn, biên giới phía Nam của đất nước Hiện tượng bắt đầu từ thế kỷ thứ X và kết thúc vào thế kỷ thứ XVIII

Từ những năm 60, Đảng và Nhà nước ta coi di dân và phân bố lại dân cư là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội cuả đất nước Có thể tóm lược một số giai đoạn chính của quá trình di dân có tổ chức dưới sự điều hành của Chính phủ như sau:

Giai đoạn 1960-1975: là thời kỳ xây dựng kinh tế của miền Bắc trong hoàn

cảnh đất nước còn bị chia cắt, Nhà nước đã tiến hành điều động lao động và dân cư

từ các tỉnh đồng bằng sông Hồng, đất chật người đông lên miền núi thuộc các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hoà Bình ở Tây Bắc và lên các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Quảng Ninh ở khu vực Đông Bắc Mục tiêu chủ yếu của giai đoạn này là phát triển kinh tế nông thôn miền núi ở vùng đất hoang, kết hợp với phân bố lại dân cư từ vùng đồng bằng đất chật lên miền núi, đồng thời với mục tiêu đưa người Kinh lên miền núi để làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi

Giai đoạn 1975-1980: Sau khi nước nhà thống nhất, di dân có tổ chứcđược triển khai trên phạm vi cả nước, với hướng di dân chủ yếu là từ Bắc vào Nam Các luồng di dân từ Đồng bằng sông Hồng lên miền núi phía Bắc giảm dần Mục tiêu của giai đoạn này là di dân tiếp quản sau khi đất nước được giải phóng Bên cạnh dòng di dân theo kế hoạch của nhà nước tới các vùng kinh tế mới cũng đã tồn tại xu hướng lao động nông thôn muốn thoát ly ra thành phố nhưng tỷ lệnày rất thấp

Giai đoạn từ 1981- 1989: Là thời kỳ di dân lớn vào Tây Nguyên và Đông

Nam Bộ, điều dân vào lao động cho các nông, lâm trường quốc doanh cà phê và cao

su là chủ yếu

Giai đoạn từ 1990 đến nay: Trong giai đoạn này di dân theo kế hoạch của

nhà nước đã có phần chững lại trong khi đó di dân tự do đến các đô thị, thành phố lớn có xu hướng tăng nhanh Tổng cục Thông kê (GSO) năm 2001 đã công bố con

số di chuyển lâu dài gia tăng 1/3 trong thời kỳ từ 1989 – 1999 và 5 năm trước cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999 Theo số liệu của tổng điều tra năm 1999

Trang 16

cho thấy gần 4,5 triệu người, chiếm tỷ trọng 6,5% dân số trên 5 tuổi đã thay đổi nơi

cư trú chính thức trong giai đoạn 1994-1999 Di cư đến thành thị chiếm hơn 53% quy mô di cư, chủ yếu là đến Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (Tổng cục thống

kê và UNDP, 2001, trích Dương, 2005) Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong thời kỳ 2001-2005 đã có khoảng 106.000 hộ (631.000 người) đã tham gia chương trình di cư có tổ chức, trong đó 90% là di cư nội tỉnh

1.1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu di dân ở Việt Nam

Di cư lao động là một hiện tượng thực tế khách quan của quá trình phát triển

xã hội Dù muốn hay không thì hiện tượng di cư trên thực tế đã thúc đẩy quá trình hội nhập nông thôn – đô thị, góp phần thúc đẩy sự phát triển nông thôn và góp phần vào sự phát triển kinh tế, công bằng xã hội ở Việt Nam (Tương Lai, 1998; Phương Tiến, 2000) Bên cạnh đó, một số nhận định vẫn xem di cư như là một vấn đề bức xúc cần giải quyết, một cái giá phải trả cho sự phát triển, chứ không phải là một yếu

tố tích cực góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội Do vậy, di cư lao động luôn là đề tài gây nhiều tranh cãi, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước

Trong tài liệu “Chính sách di dân ở Châu Á” do PTS Đỗ Văn Hoà làm chủ

biên Nhà xuất bản Nông nghiệp, 1998, đã có bài viết đề cập đến lịch sử di dân có

tổ chức ở Việt Nam

Cuốn sách này đã tập hợp các bài báo cáo được nghiên cứu công phu của các đại biểu tham gia hội thảo quốc tế “Chính sách di dân ở Châu Á” trong khuôn khổ của dự án VIE/95/004 nhằm “Tăng cường nguồn lực xây dựng chính sách di dân nội địa ở Việt Nam”

Các tác giả cho rằng, chính sách phân bố lại dân cư và di dân ở các nước có những giải pháp khác nhau tuỳ thuộc vào yêu cầu từng nước, nhưng có điểm chung

là phát huy các mặt tích cực của các dòng di dân hướng vào các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Học tập kinh nghiệm của các nước trong khu vực về giải quyết vấn

đề di dân là sự cần thiết, gợi ý cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam trong việc xây dựng chính sách di dân phù hợp Cũng với mục đích trên mà UNDP đã hỗ

Trang 17

trợ cho Cục Định canh định cư và vùng Kinh tế mới tổ chức cuộc hội thảo và xuất bản tập tài liệu này

Những bài viết này là những nghiên cứu mang tầm khu vực Nó mang lại cho những đọc giả quan tâm đến vấn đề di dân một tài liệu tham khảo có ích để hình thành các ý tưởng mới mẻ trong việc xây dựng các chính sách có liên quan đến di dân phù hợp với giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Hơn nữa, nó còn giúp ích cho chúng ta khi học tập kinh nghiệm của các nước trong khu vực về giải quyết vấn đề di dân, gợi ý cho các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam trong việc xây dựng chính sách di dân phù hợp Tuy nhiên, những nghiên cứu là những bài viết mang tính chất tham luận nên chưa đề cập nhiều đến các phương pháp nghiên cứu hay lý thuyết ứng dụng để người đọc có thể hiểu rõ Ngoài ra, các nghiên cứu này hầu như tập trung, chú trọng về mặt chính sách, xây dựng chính sách nhưng chưa quan tâm nhiều đến mảng đề tài sự thích ứng của người dân di cư sau khi đến nơi ở mới Đa phần các bài viết còn tập trung nhiều vào vấn đề di cư từ nông thôn đến thành thị

Ở bài viết đầu tiên trong tập sách này: “Các mô hình và chính sách di dân trong nước tại các nước Đông Nam Á của TS Martin Brockerhoff” đã giới thiệu

đến người đọc các mô hình và chính sách di cư trong nước ở Việt Nam qua các thời kỳ:

Chiến tranh Việt Nam 1954 – 1975 đã được điển hình hoá bởi sự di chuyển

từ thành thị về nông thôn ở phía Bắc một phần để tránh ném bom, và di chuyển từ nông thôn tới thành thị ở phía Nam một phần để tránh xung đột trong vùng nông thôn Sau khi thống nhất đất nước, năm 1976, Chính phủ Việt Nam hình thành rõ ràng một kế hoạch tái phân bố đến cuối thế kỷ khoảng 1/5 dân số của mình nhằm chặn lại các vấn đề nhận thấy như thất nghiệp tại thành thị và mật độ dân số thấp tại nông thôn kế hoạch phát triển 5 năm lần thứ hai (1976 – 1980) ưu tiên cao cho di

cư tới các vùng kinh tế mới ở vùng xa xôi về địa lý, nhiều đến mức 1,5 triệu người

có thể đã tái định cư tạm thời tại các vùng kinh tế mới này trong nửa cuối của thập

kỷ 70, (Theo Forbes và Thrift 1987) Các kế hoạch phát triển nhiều năm liên tục để

Trang 18

tái định cư dân số (ví dụ, 2 triệu người giữa 1988 đến 1991) từ vùng đồng bằng sông Hồng mật độ dân số cao tới Tây Nguyên và các vùng thung lũng dân cư thưa thớt Tái định cư trong phạm vi các tỉnh và các huyện cũng ngày càng phát triển

Tuy nhiên, nhìn chung các nhà bình luận phương Tây nhận xét rằng, các con

số này không chứng tỏ đã đạt được kết quả về mục tiêu nhân khẩu trong chương trình tái định cư của Việt Nam Hầu hết những người mới đến vùng kinh tế mới đã quay trở lại quê cũ hoặc di cư tới chỗ khác ngay sau khi tới nơi, các thị trấn và các khu công nghiệp đã từng là thành thị được xếp loại là các vùng nông thôn ( Bainister, 1993) Một ý kiến phê phán sự di chuyển không tự nguyện dân số “dư thừa” bằng việc thúc đẩy hàng loạt người thuộc tầng lớp kinh doanh (gồm cả người Hoa) rời khỏi các thành phố phía Nam ở cuối thập kỷ 70 đầu thập kỷ 80 đã không những không làm giảm mật độ đô thị hoá mà còn không thu hút được dân cư vào các vùng nông thôn (Debarats, 1987)

Bắt đầu của Đổi mới cải cách kinh tế năm 1986, số lượng lớn người di cư từ các tỉnh kém phát triển vào các tỉnh phát triển tăng nhanh, trái ngược với các mục đích tái định cư của Chính phủ (Đặng, Goldstein và MCNally, 1997) Khảo sát năm

1994 về người di cư tự phát tại Vũng Tàu cho thấy phần lớn những người di cư đã tới từ các tỉnh xa ở vùng đồng bằng sông Hồng, nhưng một tỷ lệ lớn đều do yếu tố

“đẩy” từ vùng kinh tế mới bởi kết quả các cơ hội kinh tế và điều kiện văn hoá nghèo nàn tại các vùng đó (Diệp và Thẩm, 1996)

Qua bài viết này giúp người đọc có thể hình dung ra bức tranh về các mô hình và chính sách di dân ở nước ta qua các thời kỳ, ngoài ra, còn có sự phân tích, đưa ra ý kiến bình luận của các nhà khoa học về nguyên nhân thất bại của một số

mô hình di dân có tổ chức ở nước ta ở từng giai đoạn Như vậy, liệu mô hình di dân

có tổ chức ở nước ta hiện nay, cụ thể là mô hình dự án điểm về sắp xếp, di dân từ vùng nông thôn đồng bằng lên vùng nông thôn miền núi biên giới miền Trung Việt Nam, ở xã A Dơi, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị có sự khác biệt so với các mô hình di dân có tổ chức trước đây không? Nó sẽ thành công hay thất bại? Điều này

Trang 19

đòi hỏi cần phải có một sự đầu tư nghiên cứu mới có thể đưa ra được câu trả lời xác đáng

Ngoài ra, qua tìm hiểu thêm các tài liệu khác cho thấy, mặc dù cho đến nay ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về di cư, đặc biệt là sau đổi mới nhưng đa số lại tập trung vào việc tìm hiểu và mô tả quá trình di cư từ nông thôn ra thành thị mà rất ít cuộc nghiên cứu thực sự tập trung vào chủ đề di cư từ nông thôn đến nông thôn, từ nông thôn lên miền núi xây dựng vùng kinh tế mới, ổn định vùng biên giới Những cuộc nghiên cứu về chủ đề này thường là những nghiên cứu về các cuộc di cư diễn ra trong thời gian những năm 90 và tập trung vào địa bàn các tỉnh phía Bắc hay Tây Nguyên còn nghiên cứu về mảng đề tài này tại một địa bàn cụ thể thuộc vùng miền núi - biên giới ở miền Trung hiện nay thì hầu như vẫn còn vắng

bóng

1.1.3 Các công trình nghiên cứu về di dân lên các tỉnh miền núi – biên giới ở Việt Nam

Công trình nghiên cứu “Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế

- xã hội ở các tỉnh miền núi” 4 là một đề tài nghiên cứu độc lập cấp nhà nước mang

mã số ĐLNN – 02/04, do Tiến sĩ Đặng Nguyên Anh làm chủ nhiệm

Đây là một công trình nghiên cứu khá toàn diện khi đánh giá về chính sách

di dân trong quá trình phát triển kinh tế -xã hội ở các tỉnh miền núi Nghiên cứu này

đã chú trọng đến mảng đề tài mà gần đây các nghiên cứu về di dân ít tập trung là mảng đề tài di dân đến các địa bàn nông thôn, miền núi

Đề tài nhằm mục đích làm rõ thực trạng di dân trong những năm 1990 trên phạm vi cả nước, trong đó tập trung chủ yếu vào đánh giá tổng quan các chính sách

di dân được chính phủ phê duyệt (các chính sách được ban hành và thực hiện) theo các loại hình di dân các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên Từ đó, đề xuất các giải pháp chính sách đối với vấn đề di dân trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Trang 20

Nội dung của cuốn sách được trình bày trong năm chương với những thông tin và luận điểm về chính sách liên quan đến các loại hình di dân ở miền núi nước

ta Trong chương đầu, cuốn sách đã cung cấp những khái niệm cơ bản và một số hướng tiếp cận lý thuyết trong nghiên cứu về di dân Điều này không chỉ giúp cho tác giả có những cở sở lý luận vững chắc để lý giải rõ ràng cho kết quả nghiên cứu của mình mà qua đây độc giả có thể tham khảo những cách tiếp cận về lý thuyết trong nghiên cứu di dân để lý giải các vấn đề liên quan Phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định khá rõ, tập trung đi sâu tìm hiểu các loại hình di dân nổi bật ở miền núi trong những năm 1990, bao gồm di dân ổn định biên giới, định canh định

cư, di dân tự do, di dân kinh tế mới Trong phần đánh giá tổng quan về các chính sách di dân ở miền núi có phân tích những mặt được và chưa được trong chủ trương chính sách đối với di dân và phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi; Thực trạng di dân ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên được đi sâu xem xét với những số liệu thống kê chính thức được thu thập trên diện rộng về tình hình di dân ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên Đánh giá thực trạng di dân, hiệu quả của các chính sách di dân đối với cộng đồng và phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi được xem xét Trong phần này, tác giả đã đi sâu phân tích và đánh giá đặc điểm chủ yếu của các cộng đồng di cư, dựa trên mức độ nhận thức của người dân và cán bộ địa phương, các kết quả khảo sát mẫu tại 7 tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên được phân tích đánh giá Nội dung xây dựng và đổi mới chính sách di dân ở khu vực miền núi được trình bày trong chương cuối của cuốn sách Những khuyến nghị chính sách được đề xuất

cụ thể đối với từng nhóm tương ứng với loại hình di dân kinh tế mới, định canh định cư và di dân tự phát Đây cũng là 3 hình thái di dân chủ yếu nhất ở miền núi nước ta, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển bền vững của khu vực này Cùng với các nhóm khuyến nghị chính sách, cuốn sách còn đưa ra những giải pháp chính theo hướng đổi mới chính sách di dân nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền núi Lời giải cho bài toán phát triển nông thôn miền núi cần được kiếm tìm trước hết bằng quá trình dịch chuyển dân số - lao động và vai trò của

di dân trong sự nghiệp xoá đói giảm nghèo hiện nay

Trang 21

Tuy công trình nghiên cứu đã chỉ ra và có những phân tích sâu sắc về những

ưu và nhược điểm của các chính sách di dân ở miền núi nhưng chủ yếu là những đánh giá tổng quan các chính sách di dân chứ chưa đi sâu tìm hiểu sự thích ứng của người dân nhập cư tại vùng đó, có chăng chỉ dừng lại ở mặt thích ứng với các chính sách mà chưa đề cập đến các mặt khác trong đời sống của người dân ở đây Địa bàn nghiên cứu xuyên suốt của đề tài là các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên nói chung tại thời điểm những năm 1990 còn địa bàn miền Trung hiện nay, nơi vẫn có những luồng di cư như vậy thì trong nghiên cứu này vẫn đang bỏ ngỏ.Đó sẽ là một mảng đề tài cần có nhiều nghiên cứu để khám phá thêm

Tóm lại: “Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền núi” là một công trình có giá trị khoa học về mặt thực tiễn và chính sách,

đưa ra những đề xuất và những khuyến nghị giải pháp cơ bản nhằm mục tiêu thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi nước ta Đây là một công trình khoa học nhằm chuyển tải các kết quả nghiên cứu tới những nhà lập chính sách, kế hoạch và đầu tư, gợi mở những ý tưởng về vùng chủ đề liên quan cho những độc giả quan tâm trong hoạt động nghiên cứu và đào tạo

Cũng nằm trong vùng chủ đề nghiên cứu di dân lên các tỉnh miền núi, Trịnh

Thị Quang trên tạp chí Xã hội học số 2 (86) năm 2004 có bài viết “ Chính sách di dân lao động và phân bố dân cư miền núi Việt Nam” Tác giả dùng phương pháp

phân tích tư liệu sẵn có từ các văn bản chính sách di dân lao động và phân bố dân

cư miền núi Việt Nam để tiến hành phân tích, đánh giá nhóm chính sách này Qua

đó, đã tìm hiểu quá trình thực hiện các chủ trương chính sách di dân và phân bố dân

cư trong các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội như kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường đồng thời phân tích những điều phù hợp và những điều chỉnh rút ra từ quá trình thực hiện chính sách, những xu hướng, giả thiết về sự phát triển của nhóm chính sách này trong mối quan hệ với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội khác của nhà nước giai đoạn hiện nay Từ đó, tác giả đã đưa ra những kết luận và khuyến nghị sát sao cho vấn đề điều chỉnh nhóm chính sách di dân lao động và phân bố dân

cư miền núi Việt Nam

Trang 22

Theo ý kiến của tác giả thì đây là một báo cáo đóng góp bằng phương pháp phân tích văn bản chứ không phải bằng phương pháp thực nghiệm do đó tác giả đề xuất đây sẽ là một tham khảo có tính chất gợi ý cho các nghiên cứu khác cùng đề tài tiến hành phân tích, thẩm định bao quát hơn chủ đề rộng lớn này

Nhìn chung, bài viết đã nêu bật được lý do tại sao cần phải có những nghiên cứu về chính sách di dân lao động và phân bố dân cư miền núi Việt Nam Những năm gần đây, địa bàn miền núi là nơi thực thi và thẩm định một số lượng lớn các chính sách nhằm mục tiêu phát triển toàn diện nền kinh tế xã hội Di dân, phân bố dân cư và định canh định cư miền núi là một trong những chính sách chủ yếu của ta thời kỳ đổi mới Vì vậy, những phát hiện trong bài sẽ giúp các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách có cơ sở xem xét và điều chỉnh các chính sách của nhà nước đối với sự phát triển toàn diện và bền vững của một khu vực có tầm quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia Tuy nhiên, trong bài viết chưa thấy tác giả đưa ra những lý thuyết tiếp cận để làm cơ sở phân tích và bài viết vẫn còn mang tính chất chung chung khi đánh giá, phân tích vai trò của nhóm chính sách này Thiết nghĩ, nếu những phân tích về vai trò và tác động của chính sách có tính chất

cụ thể hơn, đặc biệt có sự xem xét cả khía cạnh thích ứng của người dân nhập cư đối với nhóm chính sách này thì khuyến nghị của tác giả sẽ là một bộ giải pháp mang tính chất đồng bộ và có tính thuyết phục hơn

Về nghiên cứu những tác động của di dân từ nông thôn đồng bằng lên các

vùng nông thôn vùng núi, tác giả Huỳnh Thị Xuân có bài:“Những ảnh hưởng của vấn đề di dân nông thôn - nông thôn lên những vùng dân đến định cư ở tỉnh Đắc Lắc” đăng trong cuốn sách “ Chính sách di dân ở Châu Á” do Đỗ Văn Hoà chủ

biên, nhà xuất bản Nông nghiệp, 1998

Ngoài việc khái quát về tình hình di dân ở tỉnh Đắc Lắc với các đặc điểm như: di dân đến Đắc Lắc diễn ra hết sức sôi động với hai hình thức chủ yếu là di dân

có tổ chức (di dân theo kế hoạch) và di dân không có tổ chức (di dân tự phát – di dân tự do – di dân không có kế hoạch) Bài viết đã mô tả các số liệu rất cụ thể và chi tiết về kết quả và nguyên nhân của những luồng di dân lên Đắc Lắc Bài viết cũng

Trang 23

nêu lên một thực trạng phổ biến dẫn đến có nhiều nghiên cứu tập trung về vấn đề này khi nghiên cứu về di dân ở Tây Nguyên là dòng di dân tự do ngày càng ồ ạt, nhất là vào thời kì 1991 – 1995, đã lấn át dòng di dân theo kế hoạch Bên cạnh đó, tác giả đã đưa ra những đánh giá về loại hình di dân ở Đắc Lắc như sau: di dân ở Đắc Lắc là di dân nông thôn ra nông thôn và nghiên cứu di dân ở Đắc Lắc là nghiên cứu ảnh hưởng của vấn đề di dân từ nông thôn ra nông thôn đến định cư ở Đắc Lắc

mà thực chất là nghiên cứu ảnh hưởng của di dân ngoại tỉnh (di dân có kế hoạch và

di dân tự do) đến những vùng có tiếp nhận dân kinh tế mới Trong phần đánh giá tổng quát về các ảnh hưởng của việc di dân ở tỉnh Đắc Lắc tác giả cũng đã khẳng định mặc dầu những ảnh hưởng của vấn đề di dân ở Đắc Lắc sẽ có những mặt tích

cực và tiêu cực nhưng: “di dân là một quy luật tất yếu, tồn tại lâu dài ở nước ta, nơi

mà diện tích đồng bằng đất chật người đông, nhiều vùng ở miền núi điều kiện sống quá khắc nghiệt, trong khi đó có các vùng trên đất nước lại có điều kiện sống khá thuận lợi – trong đó có tỉnh Đắc Lắc”

Đây là một tài liệu tham khảo rất tốt cho mảng đề tài di dân từ nông thôn đến nông thôn lên những vùng miền núi, nhất là đối với những ai quan tâm và có ý định thực hiện một cuộc nghiên cứu về vấn đề này ở các địa bàn có các điều kiện tương

tự như ở Đắc Lắc Đây cũng được xem là một gợi ý thú vị cho việc nghiên cứu mô hình di dân ở miền Trung bởi vìtừ những phân tích về mặt tích cực và tiêu cực của

mô hình di dân này có thể là những tham khảo bổ ích để nghiên cứu xây dựng các

mô hình di dân ở miền Trung nhằm hạn chế sức ép di dân đến các vùng đô thị khác

và hạn chế hiện tượng ly hương, khai thác những tiềm năng của nguồn nhân lực tại địa phương Tuy nhiên, do công trình nghiên cứu này chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu hình thức di dân ngoại tỉnh đến những vùng nhập cư nên chưa thể thấy hết được bức tranh toàn cảnh về di dân, chưa đề cập đến đối tượng di dân nội bộ trong tỉnh, và chưa so sánh giữa những người di dân nội tỉnh và những người di dân ngoại tỉnh Nếu bổ sung được điều này thì nghiên cứu sẽ mang tính toàn diện và sâu sắc hơn

Từ công trình điều tra cấp quốc gia “Điều tra di cư Việt Nam năm 2004”,

Tổng cục Thống kê đã công bố một số nội dung chính từ cuộc điều tra này thông

Trang 24

qua một loạt các ấn phẩm với các nội dung phong phú từ những kết quả chủ yếu đến chất lượng cuộc sống của người di cư, vấn đề di dân và sức khoẻ, di cư và các sự kiện cuộc sống Đây là một cuộc điều tra khá toàn diện và có quy mô lớn nhất từ trước tới nay điều tra về các vấn đề của di cư Việt Nam Trong đó có phần trình bày

về di cư lên vùng cao Tây Nguyên Cuộc điều tra di cư năm 2004 với cỡ mẫu đủ lớn

là một nghiên cứu cấp quốc gia đầu tiên ở Việt Nam, thu thập thông tin về lịch sử di chuyển và đặc điểm kinh tế - xã hội khác diễn ra trong chu trình sống của đối tượng điều tra Mẫu của cuộc điều tra gồm 10.000 cuộc phỏng vấn, 5000 dành cho đối tượng phỏng vấn là người di cư và 5000 phỏng vấn người không di cư Phương pháp chọn mẫu là mẫu cụm nhiều giai đoạn rất chi tiết và cụ thể Là một ví dụ tốt để tham khảo cho các đề tài nghiên cứu về di cư Tuy nhiên cũng cần phải chú ý đến những hạn chế của thiết kế mẫu trong công trình điều tra này:

Mục đích chính của cuộc điều tra là để hiểu biết về di cư và sự khác biệt của các loại hình di cư, mà không nhằm cung cấp các ước lượng đại diện cho một khu vực địa lý được xác định nào đó Do đó những kết quả mô tả của nó vẫn còn mang tính chất khái quát chứ không đại diện hay phân tích chuyên sâu cho một địa bàn đặc thù nào Mặc dù có đề cập đến những đặc điểm di dân ở vùng Tây Nguyên nhưng chỉ dưới dạng so sánh với các khu vực khác trong nghiên cứu

Do sơ đồ mẫu tập trung vào những khu vực có tỷ trọng người di cư tạm thời cao Điều đó có nghĩa là kết quả có thể đại diện tốt cho các khu vực là nơi đến của nhiều người di cư tạm thời, dẫn đến cuộc điều tra chỉ thiên về đối tượng di cư tạm thời mà ít chú ý hơn đến đối tượng là những người di cư lâu dài bởi các dự án di cư của nhà nước

Cuộc điều tra di cư năm 2004 là một cuộc điều tra mẫu về tình hình di dân trong nước đến một số khu vực trọng điểm tiêu biểu cho ba luồng di cư chính đến các thành phố lớn, khu công nghiệp và khu vực nông thôn Cuộc điều tra đã được tiến hành ở 11 tỉnh/thành phố và được xếp đại diện cho 5 khu vực Trong đó có đến

4 khu vực bao gồm các tỉnh, thành nằm ở vùng đồng bằng và đang có sự phát triển kinh tế mạnh, là các thành phố lớn hoặc các khu công nghiệp Chỉ có một khu vực

Trang 25

đại diện cho vùng cao đó là khu vực Tây Nguyên, bao gồm Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông và Lâm Đồng

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy di cư đến Tây Nguyên có những đặc trưng khác di cư đến các khu vực khác trong nghiên cứu Chẳng hạn như khi nói đến di cư tới khu vực khác thì trong nghiên cứu này có khuynh hướng chú trọng nhiều đến việc mô tả kết quả di cư từ nông thôn ra thành thị do tác động của nền kinh tế thị trường và quá trình đô thị hoá và phần lớn là di cư tự phát trong khi đó di cư đến Tây Nguyên thường là di cư có tổ chức

Lúc mới đến, chưa đến một nửa số người di cư không gặp phải bất kỳ khó khăn nào Chỉ có ở Tây Nguyên, nơi có trên 80% người di cư trả lời rằng họ có gặp khó khăn, việc điều chỉnh để phù hợp với nơi ở mới sau di chuyển là quan tâm của

đa số người di cư Trong số những người di cư gặp khó khăn, các trở ngại chính liên quan đến nhà ở Đó là điều quan tâm ở tất cả các khu vực trong đó có khu vực Tây Nguyên Tuy rằng thông qua những mô tả của cuộc điều tra này đã cho thấy những khó khăn trong cuộc sống mà người di cư gặp phải đặc biệt là đối với những đối tượng ở khu vực Tây Nguyên nhưng họ có làm gì để thích ứng với điều đó hay không, đó là những phương thức ra sao thì chưa được làm rõ trong phạm vi cuộc điều tra này

Từ những mô tả về đặc trưng của luồng di cư đến Tây Nguyên (di cư đến vùng cao) chủ yếu là dùng để so sánh với các luồng di cư các vùng khác (các vùng

đô thị công nghiệp) đã được đề cập trong cuộc điều tra này sẽ giúp cho chúng ta có được sự hiểu biết sơ lược về đối tượng di dân đến Tây Nguyên nhưng mỗi địa phương sẽ có những yếu tố về điều kiện kinh tế - chính trị - văn hoá - xã hội khác nhau; Chính vì vậy, cần phải có những nghiên cứu về vấn đề này ở các địa bàn khác như miền Trung, nhằm góp phần cung cấp thêm sự hiểu biết về mô hình di dân có

tổ chức và làm phong phú hơn mảng tài liệu về vùng chủ đề này

Từ việc tổng quan những công trình nghiên cứu về di dân lên vùng miền núi – biên giới trên đây đã trang bị cho tác giả có những hiểu biết về lý thuyết và thực tiễn liên quan đến vấn đề di dân, đặc biệt là di dân lên các vùng miền núi – biên giới

Trang 26

Việt Nam Trên cơ sở kế thừa các thành quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trước, đề tài có điều kiện đi sâu vào vấn đề sự thích ứng của người dân nhập cư tại một địa bàn cụ thể ở miền Trung, một đề tài cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đề cập đến

1.2 CÁC KHÁI NIỆM CÔNG CỤ

1.2.1 Khái niệm thích ứng

Theo từ điển tiếng Việt, (Hoàng Phê chủ biên, 1988), thích ứng là có những thay đổi cho phù hợp với điều kiện mới, yêu cầu mới Ví dụ: lối làm việc thích ứng với tình hình mới

Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam 5, khái niệm “thích ứng” được phát triển ở thế kỉ 19 trong sinh học, lí thuyết tiến hoá; sau đó được mở rộng sang lĩnh vực tâm lí học và nhất là lĩnh vực xã hội học Ngày nay, trên cơ sở phát triển của khoa học tự động hoá, sự thích ứng được phân tích như là sự ăn khớp với nhau một cách liên tục giữa những mối quan hệ của hai hệ thống Hai hệ thống này vẫn

có thể được gọi bằng những cái tên cổ điển trước kia đã dùng là “cơ thể” và “môi trường” Trong xã hội học, người ta đi tới hai khuynh hướng khác nhau, theo đó

“môi trường” được hiểu là xã hội hoặc nhóm, còn “cơ thể” là cá nhân, hay cá thể

Theo khuynh hướng thứ nhất, sự thích ứng xã hội của cá nhân với môi trường thường trải qua giai đoạn không chấp nhận, thậm chí còn có cả tính xung đột, song cũng lại có những khả năng tác động ngược lại đến môi trường, như các

hệ thống giáo dục, hướng nghiệp, các quan hệ con người, vv cho nên, cuối cùng sự thích ứng được thực hiện

Theo khuynh hướng thứ hai, sự thích ứng của các cơ thể xã hội với môi trường có thể được nghiên cứu trong truyền thống sinh học của khái niệm Nói chung, xã hội học nghiên cứu sự thích ứng này với một quan điểm ít tĩnh hơn, và quan tâm đến sự tác động qua lại giữa các hệ thống Sự thích ứng khi đó có thể được nghiên cứu như một trong những nhân tố chủ yếu của sự tiến hoá, nhân tố bảo

5

dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx? &page=1 - 57k

Trang 27

đảm truyền đi sự thay đổi từ một hệ thống hay một phân hệ này sang một hệ thống hay phân hệ khác trong khuôn khổ của một quan niệm toàn bộ về xã hội

Nói tóm lại, chúng ta cần đến “sự thích ứng” khi phải làm quen, xâm nhập vào môi trường đó – như một điều kiện, một phẩm chất quan trọng giúp con người tồn tại, phát triển Con người không chỉ phải đáp ứng với những yêu cầu của môi trường tự nhiên mà cả môi trường xã hội, không chỉ duy trì sự tồn tại mà còn tác động trở lại môi trường đó theo ý muốn của mình Rõ ràng, khả năng thích ứng thể hiện tính năng động, tích cực, linh hoạt của mỗi người Trong khuôn khổ luận văn,

“thích ứng” được hiểu là sự thay đổi, điều chỉnh bản thân (về ý thức, thói quen, hành vi…) cho phù hợp với những yêu cầu của hoàn cảnh mới về đời sống vật chất như công việc, phương thức sản xuất mới, điều kiện sống, các hoạt động sinh hoạt khác và về đời sống xã hội như các phong tục, tập quán, lối sống, các hoạt động vui chơi, giải trí, nhằm duy trì sự tồn tại, phát triển của những người nhập cư tại nơi ở mới

1.2.2 Một số khái niệm cơ bản về di dân

- Di dân:

Theo Hà Phương Tiến (2000), di cư là hiện tượng di chuyển nơi cư trú từ đơn vị hành chính lãnh thổ này sang đơn vị hành chính lãnh thổ khác, thông thường trong một khoảng thời gian tương đối dài, gắn liền với việc tìm kiếm những điều kiện, khả năng tồn tại, phát triển của cá nhân hay một cộng đồng người nhất định

Sự di chuyển của con người được xem là di cư nếu hội đủ ba tiêu chí:

- Đó phải là sự di chuyển ra khỏi đơn vị hành chính lãnh thổ sang một đơn vị hành chính lãnh thổ khác, có thể từ xã này sang xã khác, huyện này sang huyện khác, tỉnh này sang tỉnh khác hoặc từ quốc gia này sang quốc gia khác

- Sự thay đổi cư trú phải được thực hiện thông thường trong một thời gian tương đối dài từ vài tháng trở lên đối với những chủ thể cá biệt

- Gắn liền với việc tìm kiếm những điều kiện, khả năng tồn tại và phát triển của người di chuyển

Trang 28

Mặc dù nhiều ý kiến khác nhau khi xem xét khái niệm di dân Tuy nhiên theo Đặng Nguyên Anh (2006) có thể tóm tắt một số quan điểm chung được chấp nhận

và chúng tôi nhận thấy khá phù hợp khi áp dụng cho đề tài nghiên cứu của mình như sau:

- Người di dân di chuyển ra khỏi một địa dư nào đó đến một nơi khác sinh sống Nơi đi và nơi đến phải được xác định là một vùng lãnh thổ hay một đơn vị hành chính (khoảng cách giữa hai địa điểm là độ dài di chuyển)

Ở đây để làm rõ hơn có thể kết hợp với định nghĩa của Hà Phương Tiến đó là

sự di chuyển từ xã này sang xã khác, huyện này sang huyện khác, tỉnh này sang tỉnh khác hoặc từ quốc gia này sang quốc gia khác Trong đề tài nghiên cứu của chúng tôi, có cả loại hình di dân tại chỗ (cùng huyện) nên sự di chuyển này có thể được xác định ở cấp độ nhỏ hơn là từ thôn, bản này đến thôn, bản khác trong cùng một huyện

- Người di chuyển bao giờ cũng có những mục đích, họ đến một nơi nào đó

và định cư tại đó trong một khoảng thời gian để thực hiện mục đích đó Nơi xuất phát là là đầu đi và nơi ở mới là đầu đến Tính chất thay đổi nơi cư trú chính là điều kiện cần để xác định di dân

- Khoảng thời gian ở lại trong bao lâu là một trong những tiêu chí quan trọng

để xác định di dân Thông thường tuỳ theo mục đích nghiên cứu và loại hình di dân, thời gian đó có thể là một số năm, một số tháng, thậm chí là một là một số tuần Muốn biết được sự thích ứng của người dân di cư tại nơi đến thì thời gian xác định

ở đây ít nhất phải là sáu tháng trở lên

- Có thể đưa thêm một số đặc điểm khác nữa khi xem xét di cư như sự thay đổi các hoạt động sống thường ngày, thay đổi các quan hệ xã hội Di dân gắn liền với sự thay đổi công việc, nơi làm việc, nghề nghiệp, sở thích, lối sống, Khi đến một môi trường sống mới thì việc phải đối mặt và có những sự điều chỉnh để thích ứng với nó là điều bình thường và tất yếu của quá trình di dân

Có nhiều cách phân loại di dân theo các góc độ khác nhau, tuỳ vào mục đích nghiên cứu Có thể đưa ra hai thể loại di dân chính ở Việt Nam:

Trang 29

Di cư có tổ chức: Việc di cư được tiến hành theo một chương trình kế hoạch

định trước của nhà nước, mà trong đó những nội dung của chương trình, kế hoạch như mục tiêu tiến hành, đối tượng, số lượng, cường độ người di cư, địa điểm nơi đến, thời điểm bắt đầu và khoảng thời gian cần thiết để thực hiện đều được xây dựng và tính toán cụ thể Với hình thức di cư này người dân được hỗ trợ do mất mát

về đất đai, thiên tai, điều kiện sống đặc biệt khó khăn ở nơi ở cũ

Di cư tự phát: là hình thái di cư không có sự tổ chức của Nhà nước Hình

thái này được thừa nhận nhưng không được khuyến khích, hỗ trợ và thậm chí không cho phép Người di cư chịu chi phí tái định cư và tự chịu trách nhiệm trong việc lựa chọn nơi đến Tuy nhiên rất khó phân biệt rạch ròi giữa di cư có tổ chức và di cư tự phát bởi vì nhiều gia đình và cá nhân lúc đầu thi đi theo các chương trình có tổ chức nhưng sau khi đến nơi lại di chuyển tiếp và tự phát định cư ở nơi khác (Dương, 2005)

Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ đề cập đến đối tượng di cư có tổ chức Bởi vì nghiên cứu này tập trung tìm hiểu về sự thích ứng của người dân nhập cư tại khu mô hình dự án bố trí lại dân cư vùng biên giới xã A Dơi, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị Trong khu dự án này hầu như chỉ có những đối tượng di cư tới đây dưới sự tổ chức của Nhà nước

- Nhập cư:

Theo Đặng Nguyên Anh (2006) nhập cư là sự di chuyển dân cư, lao động đến một nơi cư trú nhất định có thể đến từ các địa bàn khác trong cùng một vùng hay lãnh thổ của một quốc gia Nhập cư vào các thành phố lớn, hay đến các khu vực miền núi cao, đất rộng người thưa là những hình thái phổ biến ở các quốc gia đang phát triển hiện nay

- Khái niệm về nông thôn miền núi:

Howard Newby (1988:17-25) đã tập hợp những khái niệm về nông thôn và rút ra những đặc trưng giống nhau của các khái niệm Tác giả cho rằng có 4 đặc điểm nhận dạng nông thôn mà có ở hầu hết các khái niệm, đó là: 1/- Sản xuất nông nghiệp hoặc có liên quan nhiều đến nông nghiệp dựa trên đất đai; 2/- Cộng đồng

Trang 30

quy mô nhỏ và có mật độ dân số tương đối thấp; 3/- Văn hoá truyền thống thuần nhất và biến đổi chậm chạp; 4/- Môi trường sống chưa bị mất cân bằng, hài hoà giữa con người và tự nhiên Yếu tố sản xuất nông nghiệp hoặc có liên quan nhiều đến nông nghiệp dựa trên đất đai được ghi nhận là đặc trưng cơ bản nhất để nhận dạng nông thôn

Theo đó, nông thôn miền núi là danh từ để chỉ những vùng đất nằm ở vị trí vùng đồi,núi, có phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã, ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp

1.3 CÁC LÝ THUYẾT VẬN DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU

1.3.1 Lý thuyết tiếp cận

- Lý thuyết cấu trúc chức năng

Lý thuyết cấu trúc chức năng được khởi nguồn từ A.Comte và nó còn gắn liền với các tên tuổi của các nhà xã hội học nổi tiếng như E.Durkheim, Herbert Spencer, Talcolt Parsons…

Theo quan điểm cấu trúc - chức năng, xã hội được quan niệm như là một tổng thể trong đó bao gồm nhiều bộ phận có liên hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, bất kỳ một sự thay đổi nào ở thành phần nào cũng kéo theo sự thay đổi

ở các thành phần khác Sự biến đổi của cấu trúc tuân theo quy luật tiến hoá, thích nghi khi môi trường sống thay đổi; sự biến đổi của cấu trúc luôn hướng tới thiết lập lại trạng thái cân bằng, ổn định

Theo đó có thể thấy rằng, khi đến nơi ở mới, người dân nhập cư sẽ có những thay đổi để hội nhập với môi trường sống mới và đời sống của người dân nhập cư ở vùng dự án sẽ chịu ảnh hưởng của các yếu tố tác động như các yếu tố vĩ mô, bao gồm các đặc trưng tự nhiên - kinh tế - chính trị - văn hoá – xã hội ở nơi đến và nơi

đi, trong đó các chủ trương, chính sách đối với người dân nhập cư của các cấp chính quyền có tác động rất lớn đến sự thích nghi về phương thức lao động sản xuất, điều kiện sống, sinh hoạt và đời sống văn hoá, tinh thần của họ…và các yếu tố vi mô bao gồm các đặc trưng nhân khẩu của người dân nhập cư như: tuổi, trình độ học vấn,

Trang 31

dân tộc, các mối quan hệ xã hội của người nhập cư Sự thành công hay thất bại của người dân nhập cư ở vùng dự án trong việc thích ứng với đời sống tại nơi ở mới sẽ phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố này

Đồng thời, các tác giả của thuyết cấu trúc chức năng cũng nhấn mạnh: “bên cạnh tính liên kết chặt chẽ giữa các bộ phận cấu thành nên chỉnh thể thì các hoạt động xã hội, các quá trình xã hội tồn tại bởi chúng có một chức năng tích cực nào

đó để thực hiện trong xã hội” Ở đây, việc đo lường sự thích ứng của người dân nhập cư phần nào cho thấy hiệu quả của mô hình phân bố và di dân lên vùng miền núi – biên giới ở tỉnh Quảng Trị, nếu là một mô hình thành công, có hiệu quả, chứng tỏ nó đã thực hiện chức năng tích cực, góp phần ổn định cuộc sống của người dân nhập cư, từ đó giúp ổn định và phát triển các mặt kinh tế - xã hội - an ninh quốc phòng của toàn tỉnh và cả nước

1.3.2 Lý thuyết áp dụng

Trong đề tài này, để lý giải tại sao người dân nhập cư đặc biệt là những người từ vùng đồng bằng lên sinh sống ở miền núi trong điều kiện gian khổ vẫn có thể thích ứng được Giải thích cho vấn đề cùng điều kiện di chuyển ban đầu như nhau nhưng có người lại thích ứng tốt khiến cho đời sống kinh tế khá lên, đời sống tinh thần cũng tốt lên, có người lại không thể thích ứng được với cuộc sống mới Có những khác biệt nào trong sự thích ứng giữa người dân nhập cư khác huyện và nội vùng, những yếu tố tác động nào ảnh hưởng đến sự thích ứng của họ? Chúng tôi sẽ vận dụng các quan điểm, lý thuyết về sự thích ứng và lý thuyết sự thích ứng trong di dân để làm sáng tỏ điều này

- Quan điểm tiến hoá xã hội

Trong khi nhiều lý thuyết giai đoạn tiến hoá quan tâm đến cơ chế chọn lọc đối với xã hội hoặc nhóm thì S.K.Sanderson lại lấy cá nhân làm đơn vị thích nghi

cơ bản6 Sanderson cho rằng tương đồng giữa tiến hoá sinh học và tiến hoá xã hội là

6

Trích Bùi Thế Cường,“Đến với các lý thuyết xã hội học: Quan điểm tiến hoá”, tạp chí xã

hội học số 4 (84), 2003

Trang 32

ở chỗ chúng bao hàm các quá trình thích nghi mà các quá trình này sẽ tạo ra biến đổi Nhưng đơn vị cơ bản của sự chọn lọc là cá nhân, chứ không phải các đơn vị xã hội trên cá nhân Các cấu trúc xã hội không thể là đơn vị thích nghi vì chúng chỉ là những khái niệm trừu tượng Chỉ những cá nhân cụ thể mới có thể là đơn vị thích nghi vì chỉ họ mới có nhu cầu và ý chí tìm kiếm sự tối đa hoá lợi ích và tối thiểu hoá chi phí hành động

Các cấu trúc xã hội có thể là tác nhân biến đổi, buộc cá nhân chấp nhận và thích nghi với chúng Song, trong sự phân tích tiến hoá xã hội, một khuôn mẫu xã hội phải được xem là mang tính thích nghi của các cá nhân trong cấu trúc xã hội đó

Theo Sanderson, những nguyên nhân cơ bản của tiến hoá xã hội nằm trong các điều kiện vật chất cho sự tồn tại của con người: nhân khẩu, sinh thái, công nghệ,

kỹ thuật là nguyên nhân của tiến hoá vì chúng tác động đến việc sản xuất ra sự tồn tại và tái sản xuất ra đời sống con người Nhưng sức tác động của các điều kiện này phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể mà con người sống trong đó Vì vậy, các kiểu xã hội khác nhau trong các thời kì lịch sử và những giai đoạn tiến hoá khác nhau sẽ có những lô gích tiến hoá khác nhau

Chính vì vậy, khi xem xét đề tài sự thích ứng của người dân nhập cư ở vùng miền núi – biên giới tỉnh Quảng Trị thì phải xem xét sự thích ứng của người dân ở môi trường mới với những đặc thù về điều kiện tự nhiên, chính trị, kinh tế, văn hoá

xã hội như thế nào Khi đến môi trường sinh sống mới thì người dân nhập cư sẽ lựa chọn cho mình một hướng đi, một loại hình nghề nghiệp, việc làm cho phù hợp với khả năng và hoàn cảnh kinh tế của gia đình mình Từ một khu vực sống khác (có thể là từ thôn, bản, huyện khác, từ đồng bằng lên miền núi) thì người dân nhập cư phải chuẩn bị, so sánh và lựa chọn cho mình, xem xét ngành nghề nào, phương thức, kỹ thuật sản xuất nào, những phong tục, tập quán, hoạt động sinh hoạt nào phù hợp với điều kiện của mình Bởi vì những nhân tố thúc đẩy di cư không chỉ liên quan đến các sự kiện trong cuộc sống cá nhân, mà còn có quan hệ với các sự kiện trong đời sống hộ, nhất là khi chiến lược kinh tế của hộ bước vào giai đoạn phát triển mở rộng Quyết định di cư thường là kết qủa của những đắn đo, tính toán trong

Trang 33

một thời gian dài, bao gồm việc cân nhắc những cái được và cái mất giữa các thành viên trong hộ, ở vào những giai đoạn khác nhau của đời sống gia đình Nếu như không tham gia vào hoạt động kinh tế tăng thu nhập, các hộ ở nông thôn sẽ không thể có đủ thu nhập để tồn tại và/ hoặc để chi trả những khoản chi tiêu khi đau ốm và cho việc học tập Thông qua di cư, các thành viên trong hộ sẽ chung sức đóng góp thu nhập, tích luỹ vốn để phát triển (trích “ Di cư trong nước và mối liên hệ với các

sự kiện trong cuộc sống”, De Jong và Gardner,1981:3) Trong trường hợp này thì đúng làchỉ những cá nhân cụ thể, chính là những người dân nhập cư mới có thể là đơn vị thích nghi vì chỉ họ mới có nhu cầu, ý chí đểtìm kiếm sự tối đa hoá lợi ích

và tối thiểu hoá chi phí hành động để tồn tại và phát triển tại nơi ở với những điều kiện mới

- Lý thuyết về sự thích ứng trong di dân

Theo lý thuyết xã hội học về sự thích nghi môi trường xã hội thì ở nơi đến,

có sự tác động qua lại về hành vi giữa người nhập cư khác huyện và người nhập cư nội vùng Các tập tục, thói quen và các hành vi xã hội của cộng đồng người người nhập cư nội vùng sẽ ảnh hưởng đến việc chuyển đổi hành vi của người nhập cư khác huyện và ngược lại Để thích nghi và hoà nhập với môi trường xã hội mới, người di cư có xu hướng chuyển đổi hành vi của bản thân theo các chuẩn mực của cộng đồng ở nơi đến

Từ mô hình nhập cư của Sharping (1997:24) đưa ra nhằm giải thích sự nhập

cư ở cấp độ vĩ mô và vi mô cho thấy sự nhập cư là một quá trình được chia làm hai bước riêng biệt nhưng giữa chúng có sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, đó là những yếu tố tác động đến động cơ di chuyển và các yếu tố tác động đến sự thích ứng của người dân nhập cư tại nơi ở mới Trong luận văn này, chúng tôi sẽ áp dụng mô hình nhập cư của Sharping ở phần thứ hai của mô hình, phần này đề cập những yếu tố tác động liên quan đến sự thích ứng của người nhập cư Theo đó, những kết quả của việc nhập cư phụ thuộc vào những nhân tố tác động và sự trông đợi Chẳng hạn như, một trong những nguyên nhân tác động đến việc tìm được việc làm tại nơi ở mới chính là trình độ học vấn và mối liên hệ với gia đình và chính kết quả của việc

Trang 34

tìm được công việc sẽ tác động ngược trở lại tình trạng nghề nghiệp và thu nhập của người nhập cư Tiếp đến, thu nhập lại đóng vai trò then chốt trong việc tạo nên điều kiện sống, tình trạng nhà ở của họ Trình độ học vấn tốt là yếu tố cần thiết nói chung nếu người nhập cư muốn thành công trong công việc, thu nhập, có nơi ở tốt

và nó cũng là yếu tố giúp người nhập cư bước vào một tầng lớp xã hội mới Kết quả của sự nhập cư sẽ là sự thay đổi trong cuộc sống của người nhập cư, chẳng hạn như

sự thay đổi để hội nhập xã hội

Bởi vậy, theo Spear (1983) khi người ta di chuyển từ nơi này đến nơi khác

họ không chỉ có những thay đổi về nghề nghiệp mà họ còn đối mặt với những thay đổi về văn hoá và xã hội Trong khi những người nhập cư thường xuất phát từ những vùng miền khác với những nền văn hoá và kinh tế khác với nơi đến Vì vậy,

để hội nhập vào một môi trường mới, người nhập cư cần có thời gian và những hiểu biết để quen với những sự khác biệt về điều kiện kinh tế, xã hội và văn hoá ở nơi đến Do đó, một sự so sánh về những khác biệt văn hoá giữa nơi đi và nơi đến nên được tính đến khi nghiên cứu về khả năng thích ứng đối với môi trường mới của người nhập cư

Bên cạnh đó, những thay đổi mà người nhập cư phải thích ứng tại nơi đến sẽ giúp cho người nhập cư, nhất là những người trẻ tuổi có thêm những kinh nghiệm

để đối mặt với những thử thách, bởi đây là thời gian quan trọng cho sự phát triển các giá trị nghề nghiệp và là bước khởi đầu của họ trong đời sống kinh tế - xã hội Hơn nữa, những người trẻ tuổi thường được trông đợi sẽ trở nên tự tin, có trách nhiệm với bản thân họ hơn Rõ ràng rằng cấp độ thích ứng của những người trẻ tuổi phụ thuộc vào cả những yếu tố tâm lý bên trong và những yếu tố xã hội bên ngoài (Pettiss, 1971)

Ngoài ra, sự thích ứng cũng cần phải được hiểu một cách sâu sắc rằng các cấp chính quyền cần sự xây dựng và thực hiện các chính sách hợp lý để giúp người nhập cư vượt qua những khó khăn và có cuộc sống ổn định (Nguyễn Nhung, 2004)

Trang 35

Đối với đời sống xã hội:

- Vui chơi, giải trí

- Các phong tục, tập quán nơi đến

Sự thích ứng của người dân nhập cư

Bối cảnh kinh tế - chính trị - văn hoá – xã hội

Các yếu tố tác động chủ quan:

 Đặc trưng nhân khẩu:

tuổi;trình độ học vấn; nghề nghiệp, dân tộc, quê quán, quan niệm sống…Điều kiện kinh tế của gia đình

 Các mối quan hệ xã hội

Như vậy, bên cạnh tác động của môi trường xã hội, thì những yếu tố thuộc

về đặc điểm cá nhân như tuổi, trình độ học vấn, dân tộc, giới tính, mức thu nhập…cũng sẽ có ảnh hưởng tới sự thích ứng của người dân nhập cư tại nơi ở mới

1.4 KHUNG PHÂN TÍCH

Trang 36

1.5 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở những lý thuyết đề cập ở trên và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự thích ứng của người dân nhập cư ở vùng miền núi – biên giới tỉnh Quảng Trị, chúng tôi đề xuất một số giả thuyết nghiên cứu như sau:

- Thứ nhất: Trong quá trình thích ứng tại nơi ở mới, người dân nhập cư gặp

nhiều khó khăn trong đó có khó khăn do bước đầu làm quen với mô hình lao động sản xuất mới và hoà nhập môi trường xã hội mới

- Thứ hai: Có sự khác biệt trong việc thích ứng đối với đời sống kinh tế và xã

hội giữa những nhóm người dân nhập cư từ nơi khác đến (khác huyện, đa số là người Kinh) và người dân nhập cư nội vùng (cùng huyện, đa số là người đồng bào dân tộc)

- Thứ ba: Ngoài các yếu tố khách quan thì các yếu tố chủ quan như tuổi,

trình độ học vấn, mối quan hệ xã hội của người dân nhập cư cũng có sự tác động đến việc thích ứng đối với đời sống vật chất, xã hội của họ tại nơi ở mới

- Thứ tư: Các chủ trương, chính sách của các cấp chính quyền có ảnh hưởng

tích cực đối với sự thích ứng về đời sống vật chất, đặc biệt là hoạt động lao động sản xuất của người dân nhập cư trong vùng dự án mô hình bố trí lại dân cư, di dân lên vùng biên giới đã có những chuyển biến tích cực do có sự hỗ trợ tốt từ phía các cấp chính quyền địa phương

1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Vì đây là đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực Xã hội học và để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, trong quá trình thực hiện đề tài, các phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng bao gồm:

1.6.1 Các phương pháp luận nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận nghiên cứu của Xã hội học trong đó bao gồm phương pháp thực chứng (phương pháp định lượng) và phương pháp lý giải (phương pháp định tính)

Phương pháp định tính và định lượng là hai phương pháp nghiên cứu thường được sử dụng trong nghiên cứu xã hội học thực nghiệm Nếu như với phương pháp

Trang 37

định lượng chúng ta có thể tìm hiều, so sánh giữa các nhóm đối tượng khác nhau thì với phương pháp định tính sẽ giúp phản ánh hiện thực theo hoàn cảnh tự nhiên của đối tượng nghiên cứu, có thể hiểu theo quan điểm của tác nhân, đó là cách nghĩ, cách làm của người dân tại địa điểm nghiên cứu Kết hợp giữa ưu điểm về tính khái quát hoá, tính khách quan của phương pháp định lượng, mà trong đó tính khách quan chính là yếu tố quan trọng hình thành nên các thông tin xác thực, những người điều tra chỉ đóng vai trò là những nhà phân tích và quan sát trung gian mà thôi; với điểm mạnh của phương pháp định tính là có thể mô tả chi tiết về các kinh nghiệm sống phức tạp của con người về một vấn đề gì đó, chẳng hạn như vấn đề khả năng thích ứng của người dân nhập cư tại địa bàn nghiên cứu, điều này sẽ cung cấp cho chúng ta một cách nhìn mới, một cách hiểu sâu hơn về đời sống của họ tại nơi này

từ chính những thông tin mà họ cung cấp

Muốn giải thích một hiện tượng, một thực trạng xã hội thì không chỉ tìm hiểu những biểu hiện, những yếu tố tác động bên ngoài thông qua các tỉ lệ, con số thể hiện mà phải tìm hiểu cả những yếu tố tác động bên trong để có cách lý giải xác đáng Chính vì vậy, trong đề tài này chúng tôi đã có sự kết hợp cả hai phương pháp như đã đề cập ở trên

1.6.2 Các phương pháp thu thập thông tin

Luận văn sử dụng phương pháp thu thập thông tin định lượng là chủ yếu, ngoài ra, còn sử dụng phương pháp thu thập thông tin định tính để bổ sung các thông tin chuyên sâu cũng như lý giải các yếu tố tác động mà kết quả nghiên cứu định lượng chưa khám phá ra hay còn chưa làm rõ

- Phương pháp thu thập thông tin định lượng

- Thu thập số liệu thứ cấp

Nguồn tư liệu được thu thập từ: Số liệu của các công trình nghiên cứu trước

đó về những vấn đề có liên quan, đặc biệt là nguồn số liệu thống kê về tình hình kinh tế - chính trị - văn hoá – xã hội của UBND xã A Dơi, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị và được trích dẫn để giải thích rõ hơn các vấn đề trong đề tài nghiên cứu

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Trang 38

Bảng hỏi gồm những câu hỏi đóng và mở, trong đó chủ yếu là những câu hỏi đóng, được soạn cho 2 khách thể là những hộ nhập cư khác huyện từ vùng đồng bằng lên và những hộ nhập cư nội vùng là tương đối giống nhau Bảng hỏi được chia làm ba phần: phần 1: thông tin về lịch sử di cư; phần 2: các đặc điểm và sự thích ứng về đời sống kinh tế - xã hội của người dân nhập cư tại nơi ở mới; phần 3: Những dự định và đề xuất của người dân nhập cư trong vùng dự án

Cách chọn mẫu để thực hiện phỏng vấn bảng hỏi

Nghiên cứu được thực hiện với dung lượng mẫu là 160 người dân nhập cư có

độ tuổi lao động từ 15 - 60 tuổi đối với nam và 15-55 tuổi đối với nữ, là chủ hộ hoặc vợ (chồng) của chủ hộ thuộc các hộ gia đình nhập cư trong vùng dự án, được chọn theo phương pháp chọn mẫu chỉ tiêu phi xác suất Do đây là trường hợp nghiên cứu trong một khu vực hẹp và không có danh sách dân cư nên chúng tôi đã không chọn cách chọn mẫu xác suất mà sử dụng phương pháp chọn mẫu này Vì dung lượng mẫu hạn chế và phương pháp chọn mẫu là phi xác suất, nên chưa thể khẳng định kết quả của cuộc nghiên cứu là mang tính khái quát cho tổng thể, mà chỉ

có thể đại diện cho nhóm người nhập cư được chọn vào mẫu hoặc cao hơn là đại

diện cho những hộ gia định nhập cư sống tại địa bàn nghiên cứu

Xử lý số liệu thu thập được từ phương pháp nghiên cứu định lượng

Trên cơ sở số liệu khảo sát mẫu được thu thập, sử dụng phần mềm SPSS for Window 11.5 để xử lý tổng hợp số liệu Đối với các dữ liệu định tính (biến định danh và thứ bậc): chủ yếu dùng thống kê mô tả (Descriptive strong SPSS), bảng tổng hợp nhiều biến (bảng tổng hợp 2 biến định tính, bảng kết hợp 1 biến định tính

và 1 biến định lượng, 2 biến định tính và 1 biến định lượng) Các kỹ thuật kiểm định tương quan thống kê được sử dụng nhằm đánh giá tác động của các yếu tố gián tiếp và trực tiếp đối với sự thích ứng của người dân nhập cư được khảo sát

- Phương pháp nghiên cứu định tính

+ Phỏng vấn sâu:

Nghiên cứu thực hiện thu thập thông tin định tính thông qua công cụ phỏng vấn sâu với những câu hỏi tập trung vào việc tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng, khả

Trang 39

năng thích ứng của người dân nhập cư ở địa bàn nghiên cứu Phỏng vấn sâu dành cho 8 người nhập cư, trong đó 04 người đại diện cho những hộ nhập cư nội vùng (02 người đại diện cho những hộ nhập cư thành công, 02 người đại diện cho những

hộ nhập cư chưa thành công), và 04 người đại diện cho những hộ nhập cư từ vùng đồng bằng lên (02 người đại diện cho những hộ nhập cư thành công, 02 người đại diện cho những hộ nhập cư chưa thành công) Thông qua phỏng vấn sâu chúng tôi

có thể trò chuyện trực tiếp với khách thể để tìm hiểu nguyên nhân sâu xa dẫn đến những sự thích ứng khác nhau ở những nhóm người dân nhập cư khác nhau, chẳng hạn như có sự khác nhau giữa người nhập cư nội vùng và người nhập cư từ huyện khác đến, giữa những người có thời điểm đến trước và những người đến sau, giữa những hộ có người chủ hộ là những người lớn tuổi và những hộ có người chủ hộ ở lứa tuổi trẻ hơn, những hộ nhập cư thành công, những hộ nhập cư chưa thành công Phỏng vấn sâu còn được tiến hành đối với 01 đại diện của UBND xã A Dơi, 01 cán

bộ kỹ thuật nông nghiệp của xã A Dơi, 01 đại diện của Chi cục di dân phát triển vùng kinh tế mới thuộc Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Trị Nội dung chủ yếu tập trung vào những đặc trưng và hình thức của mô hình bố trí lại dân cư và di cư lên vùng biên giới, khai thác vùng gò đồi xã A Dơi, huyện Hướng Hóa; Những chủ trương, chính sách của địa phương đã áp dụng dành cho các hoạt động thuộc đời sống kinh tế và xã hội của người dân nhập cư; Những đánh giá về điều kiện thuận lợi và khó khăn gặp phải nơi đến, khả năng thích ứng của người dân nhập cư dưới góc nhìn của các nhà xây dựng, hoạch định và thực thi chính sách ở địa phương được khảo sát

+ Phương pháp quan sát:

Luận văn sử dụng phương pháp quan sát không tham dự nhằm tìm hiểu trực tiếp điều kiện lao động sản xuất, sinh hoạt hàng ngày, các mối quan hệ của người nhập cư và bước đầu đánh giá sự thích ứng của họ về mặt đời sống kinh tế - xã hội

+ Phương pháp thảo luận nhóm tập trung:

Thảo luận nhóm được tiến hành trên ba nhóm đối tượng chính gồm: Nhóm những người di cư từ huyện khác đến (từ 5 - 8 người bao gồm những người đến từ

Trang 40

ngày đầu mới bắt đầu dự án và cả những người mới đến sau này, những người có sự thích ứng tốt và những người còn gặp nhiều khó khăn, chưa thích ứng kịp với cuộc sống mới ở nơi đến); Nhóm những người di cư nội vùng (từ 5 – 8 người có điều kiện giống như nhóm trên); Nhóm chính quyền (từ 5 – 8 người bao gồm cán bộ cấp bản, thôn, xã, đại diện các tổ chức đoàn thể của địa phương) Nội dung chủ yếu dựa trên các vấn đề liên quan đến những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thích ứng với điều kiện lao động sản xuất và sinh hoạt tại nơi ở mới của người nhập cư, họ đã

có những phương thức hành động nào để thích ứng với điều kiện hiện tại, họ mong đợi gì phía chính quyền địa phương để giúp họ có thể thích ứng sớm và tốt hơn với địa bàn nơi đến; Về phía chính quyền địa phương thì đã, đang và sẽ có những chính sách, việc làm cụ thể nào để lượng giá và hỗ trợ những nhu cầu, đề xuất của người dân nhập cư trong quá trình thích ứng với nơi ở mới

Phân tích và xử lý thông tin định tính

Dựa vào biên bản phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm và tiến trình quan sát, chúng tôi tiến hành đối chiếu, lý giải tại sao có những điểm giống và khác nhau theo điều kiện sống, mức thu nhập, mức chi tiêu của gia đình, loại hình nghề nghiệp, phương thức sản xuất, những hoạt động sinh hoạt hằng ngày như vui chơi, giải trí, những phong tục, tập quán, những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thích ứng của những người nhập cư hiện tại là những người di cư từ những nơi khác đến (đa

số là người Kinh) và những người di cư nội vùng (thường là đồng bào các dân tộc Vân Kiều, PaKô)…từ đó lập bảng biểu so sánh để thấy rõ sự khác biệt và tương đồng trong sự thích ứng của họ hiện nay

Trong quá trình phân tích và xử lý thông tin, chúng tôi sẽ có sự đối chiếu, so sánh giữa ý kiến của người nhập cư là người Kinh và đồng bào dân tộc thiểu số và những cán bộ trực tiếp hoạch định, thực thi chính sách tại địa bàn nghiên cứu; Từ

đó, có thể nhìn nhận và đánh giá về sự thích ứng của người dân nhập cư đối với các hoạt động trong đời sống kinh tế và xã hội tại địa phương khảo sát một cách toàn diện và khách quan

Ngày đăng: 11/05/2021, 23:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Nguy ên Anh (2006). “Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở các tỉnh miền núi”. Nhà xuất bản Thế Giới. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở các tỉnh miền núi
Tác giả: Đặng Nguy ên Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế Giới. Hà Nội
Năm: 2006
2. Vũ Tuấn Anh - Nguyễn Xuân Mai (2007). “ Những biến đổi kinh tế - xã hội của hộ gia đình”. Nhà xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biến đổi kinh tế - xã hội của hộ gia đình
Tác giả: Vũ Tuấn Anh - Nguyễn Xuân Mai
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2007
3. Tống Văn Chung (2000). “Xã hội học nông thôn”. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học nông thôn
Tác giả: Tống Văn Chung
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
4. Lê Bạch Dương, Đặng Nguyên Anh và cộng sự (2005). “Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam”. Nhà xuất bản Thế Giới. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam
Tác giả: Lê Bạch Dương, Đặng Nguyên Anh và cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế Giới. Hà Nội
Năm: 2005
5. Trần Văn Hà (chủ biên) (2007), “Phát triển nông thôn miền núi và dân tộc trong thời kỳ kinh tế chuyển đổi”, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông thôn miền núi và dân tộc trong thời kỳ kinh tế chuyển đổi
Tác giả: Trần Văn Hà (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Năm: 2007
6. Đỗ Văn Hoà (chủ biên) (1998), “Chính sách di dân ở Châu Á”, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách di dân ở Châu Á
Tác giả: Đỗ Văn Hoà (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1998
7. Lê Ngọc Hùng (2008), “Lịch sử và lý thuyết xã hội học”. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và lý thuyết xã hội học
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Năm: 2008
8. Lê Thị Kim Lan (chủ biên)(2011), “ Lao động di cư ở nông thôn miền Trung Việt Nam thời kỳ Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá”. Nhà xuất bản Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lao động di cư ở nông thôn miền Trung Việt Nam thời kỳ Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá
Tác giả: Lê Thị Kim Lan (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Huế
Năm: 2011
9. Hoàng Phê (1988). “Từ điển tiếng Việt”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1988
10. Lê Thanh Sang (2008). “Đô thị hoá và cấu trúc đô thị Việt Nam trước và sau đổi mới 1979 – 1989 và 1989 – 1999”. Nhà xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị hoá và cấu trúc đô thị Việt Nam trước và sau đổi mới 1979 – 1989 và 1989 – 1999
Tác giả: Lê Thanh Sang
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2008
11. Hà Thị Phương Tiến, Hà Quang Ngọc (2000). “Lao động nữ di cư tự do: Nông thôn – Thành thị”. Nhà xuất bản Phụ nữ. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lao động nữ di cư tự do: Nông thôn – Thành thị
Tác giả: Hà Thị Phương Tiến, Hà Quang Ngọc
Nhà XB: Nhà xuất bản Phụ nữ. Hà Nội
Năm: 2000
12. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2007),“Thống Kê Ứng dụng trong kinh tế xã hội ”, Nhà xuất bản Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống Kê Ứng dụng trong kinh tế xã hội
Tác giả: Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống Kê
Năm: 2007
13. Tổng cục Thống kê (2004). “Điều tra di cư Việt Nam năm 2004: những kết quả chủ yếu”. Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra di cư Việt Nam năm 2004: những kết quả chủ yếu
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2004
14. Huỳnh Khái Vinh (chủ biên). “Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội”. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
15. Huỳnh Thị Xuân (1998). Những ảnh hưởng của vấn đề di dân từ nông thôn ra nông thôn lên những vùng dân đến định cư ở tỉnh Đắc Lắc trong “Chính sách di dân Châu Á” do Đỗ Văn Hoà chủ biên, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ảnh hưởng của vấn đề di dân từ nông thôn ra nông thôn lên những vùng dân đến định cư ở tỉnh Đắc Lắc" trong “Chính sách di dân Châu Á
Tác giả: Huỳnh Thị Xuân
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1998
17. Nguyễn Thị Hồng Xoan (2008). “Migration of youth Ho Chi Minh City, Viet Nam: Determinants of Mobility and Adjustment Experiences”, Submitted for the degree of Philosophy January Sách, tạp chí
Tiêu đề: Migration of youth Ho Chi Minh City, Viet Nam: Determinants of Mobility and Adjustment Experiences
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Xoan
Năm: 2008
18. Pettiss S.T. (1971), “Social consequens of Rural-Urban Youth Migration in Two Afican Countries: Nigeria and Kenya,” Published by PhD Thesis, Graduated school for Advantage studies in Social Welfare, Brandeis University, Michigan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social consequens of Rural-Urban Youth Migration in Two Afican Countries: Nigeria and Kenya,” Published by PhD Thesis, "Graduated school for Advantage studies in Social Welfare
Tác giả: Pettiss S.T
Năm: 1971
21. Bùi Thế Cường (2003). Đến với các lý thuyết xã hội học: quan điểm tiến hoá., Xã hội học số 4 (84) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến với các lý thuyết xã hội học: quan điểm tiến hoá
Tác giả: Bùi Thế Cường
Năm: 2003
23. Trịnh Thị Quang (2004). Chính sách di dân lao động và phân bố dân cư miền núi Việt Nam. Tạp chí Xã hội học số 2(86) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách di dân lao động và phân bố dân cư miền núi Việt Nam
Tác giả: Trịnh Thị Quang
Năm: 2004
16. Quyết định 190/2003/QĐ – TTg ngày 16/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách di dân thực hiện quy hoạch, bố trí dân cư giai đoạn 2003 – 2010.TÀI LIỆU TIẾNG ANH Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w