Các đặc điểm của mô hình này là: về mặt tổ chức, nguyên tắc là bảo hiểm xã hội thống nhất; các trợ cấp xã hội được tái phân phối mạnh mẽ nhằm thu hẹp sự bất bình đẳng về kinh tế và xã hộ
Trang 1SÓNG THẦN HIỆN NAY
Chuyên ngành: XÃ HỘI HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN HỮU QUANG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
Trang 2Con xin cảm ơn đến ba mẹ, ông bà, anh em trong gia đình đã luôn động viên và
hỗ trợ Cảm ơn những chia sẻ vui buồn trong cuộc sống từ em: Châu Ái
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến 150 anh chị công nhân đã tham gia vào cuộc nghiên cứu này Nếu không có các anh, chị thì luận văn này không thể hoàn thành
Tôi xin cảm ơn quý thầy cô giảng dạy khoá Cao học Xã hội học năm
2008-2011, các thầy cô trong Khoa Xã hội học và các cán bộ phòng Sau đại học&Quản lý khoa học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh đã cung cấp cho tôi những kiến thức hữu ích trên con đường khoa học và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Luận văn của tôi cũng nhờ rất nhiều thông tin từ những trang web trên mạng Internet Xin cảm ơn những người thành lập và tham gia đóng góp cho những trang web, để tất cả đại chúng nói chung và bản thân tôi nói riêng được tiếp cận nguồn tri thức quý báu này
Tôi chân thành cảm ơn đến các thầy/cô: Nguyễn Xuân Nghĩa, Phạm Như Hồ, Bùi Thế Cường, Trần Thị Kim Xuyến, Nguyễn Thị Hồng Xoan, Lê Minh Tiến, những người đã góp ý và dạy cho tôi những bài học về nghiên cứu xã hội học
Trang 32
Xin cảm ơn toàn thể các thầy cô trong Khoa Xã hội học và Ban giám hiệu trường Đại học Mở, TP.HCM đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm luận văn
Trên hết, tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến người hướng dẫn khoa học: Thầy Trần Hữu Quang Cảm ơn những bài học sâu sắc mà Thầy đã dạy cho tôi Luận văn này thực sự không thể hoàn thành nếu không có sự tận tâm và nghiêm khắc mà thầy dành cho tôi
Bằng tất cả lòng biết ơn, một lần nữa tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quý thầy cô, bạn bè và người thân
Đỗ Hồng Quân
Trang 43
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và chưa từng được công bố
Những kết quả được phân tích trong đề tài là kết quả nghiên cứu của riêng tôi tại thực địa trong năm 2010
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 9 tháng 10 năm 2011
Tác giả luận văn
Đỗ Hồng Quân
Trang 54
MỤC LỤC
-0o0 -
PHẦN A: MỞ ĐẦU 10
I.1 Khủng hoảng kinh tế toàn cầu và những vấn đề đặt ra đối với chính sách an sinh xã hội tại các quốc gia đang phát triển .10
I.2 Lý do chọn đề tài 11
I.3 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 14
I.3.1 Những nghiên cứu nước ngoài về an sinh xã hội và phúc lợi xã hội 15
I.3.2 Những nghiên cứu trong nước về an sinh xã hội/phúc lợi xã hội 26
I.3.2.1 Về cách tiếp cận 26
I.3.2.2 Về nội dung nghiên cứu: 29
I.4 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 41
I 4.1 Mục tiêu nghiên cứu 41
I 4.2 Phạm vi nghiên cứu 41
I 4.2.1 Đối tượng nghiên cứu 41
I.4.2.2 Khách thể nghiên cứu 41
I.4.2.3 Địa bàn nghiên cứu 42
I.4.2.3.1 Tổng quan về thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương 42
I.4.2.3.2 Tổng quan về khu công nghiệp Sóng Thần 43
I.5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 46
I.5.1 Câu hỏi nghiên cứu 46
I.5.2 Giả thuyết nghiên cứu 46
I.6 Phương pháp khảo sát 47
I.6.1 Phương pháp thu thập thông tin 47
I.6.2 Phương pháp chọn mẫu 47
I.6.2.1 Tiêu chí để chọn mẫu 47
I.6.2.2 Cách thức chọn mẫu: 48
Trang 65
I.6.2.4 Phương pháp xử lý thông tin 48
I.7 Ý nghĩa của đề tài .49
I.8 Những giới hạn của đề tài nghiên cứu 49
PHẦN B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 50
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 50
I.1 Các khái niệm liên quan 50
I.1.1 Khái niệm an sinh xã hội 50
I.1.3 Khái niệm công nhân: 53
I.1.4 Khái niệm gia đình: 54
I.1.5 Di dân 54
I.1.6 Khu công nghiệp: 54
I.2 Quan điểm lý thuyết áp dụng 55
I.2.1 Lý thuyết cấu trúc – chức năng 55
I.2.2 Quan điểm của Esping – Andersen 57
I.2.3 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 58
I.3 Khung phân tích 60
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VIỆC THỤ HƯỞNG AN SINH XÃ HỘI CỦA HỘ GIA ĐÌNH CÔNG NHÂN NHẬP CƯ HIỆN NAY 61
II.1 Những đặc trưng về mặt nhân khẩu-xã hội của hộ gia đình công nhân di dân 61
II.1.1 Học vấn: 61
II.1.2 Nghề nghiệp 61
II.1.3 Về độ tuổi: 62
II.1.4 Tôn giáo 63
II.2 Thực trạng thụ hưởng an sinh xã hội của hộ gia đình công nhân di dân 63
II.2.1 Việc làm và việc thụ hưởng an sinh xã hội 63
II.2.1.1 Nơi làm việc 63
II.2.1.2 Quá trình thay đổi công việc 64
II.2.1.3 Chính sách bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội đối với người lao động 67
II.2.2 Tình hình chăm sóc sức khỏe y tế của hộ gia đình công nhân di dân 70
II.2.2.1 Tỷ lệ được mua bảo hiểm y tế của người lao động 72
Trang 76
II.2.2.3 Hình thức và nơi khám chữa bệnh của hộ gia đình công nhân di dân 76
II.2.2.4 Chi phí khám chữa bệnh và khả năng chăm sóc sức khỏe y tế của hộ gia đình công nhân di dân 79
II.2.3 Tình hình thụ hưởng và chi phí dành cho giáo dục của hộ gia đình công nhân 83
II.2.3.1 Mức chi cho giáo dục của hộ gia đình 83
II.2.3.2 Nơi học tập và sự tham gia của các chủ thể trong việc hỗ trợ về nơi học tập cho con em công nhân di dân 86
II.2.4 Tình hình nhà ở, hình thức ở của hộ gia đình công nhân 95
CHƯƠNG III NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỤ HƯỞNG AN SINH XÃ HỘI CỦA HỘ GIA ĐÌNH CÔNG NHÂN DI DÂN 100
III.1 Đời sống văn hóa và việc tiếp cận với những dịch vụ thông qua định chế truyền thông đại chúng 100
III.2 Nhóm học vấn và việc hưởng thụ về an sinh xã hội của hộ gia đình công nhân 102 III.3 Thời gian cư trú và việc thụ hưởng an sinh xã hội 104
III.4 Mạng lưới xã hội và những hỗ trợ cho hộ gia đình công nhân 114
III.5 Những hoạt động nhằm phòng ngừa rủi ro của hộ gia đình công nhân 118
III 6 Những yếu tố giúp hộ gia đình công nhân di dân ổn định về mặt đời sống 120
PHẦN C KẾT LUẬN 125
III.1 Những nhận định kết luận và kiểm chứng về giả thiết nghiên cứu 125
III.2 Khuyến nghị 137
III.3 Những đề xuất về hướng nghiên cứu tiếp theo 140
TÀI LIỆU THAM KHẢO 141
PHẦN D: PHỤ LỤC 150
D.1 PHỤ LỤC VỀ BẢNG BIỂU 150
D.2 MỘT SỐ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VỀ AN SINH XÃ HỘI CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG GIAI ĐOẠN 2008-2011 152
D.3 PHỤ LỤC VỀ BẢNG HỎI 159
Trang 87
MỤC LỤC CÁC BẢNG
Bảng A.1: Phân phối thu nhập và an sinh xã hội ở Việt Nam 2004 13
Bảng A.2: Các mô hình nhà nước phúc lợi và an sinh xã hội ở châu Âu 18
Bảng A.3 Ba mô hình chính sách xã hội trên thế giới 20
Bảng 2.1: Đặc điểm về nhóm tuổi, tôn giáo, giới tính của mẫu nghiên cứu 63
Bảng 2.2: Lý do thay đổi công việc của công nhân 66
Bảng 2.3: Mức độ đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo doanh nghiệp 68
Bảng 2.4: Mức độ được đóng bảo hiểm y tế theo loại hình doanh nghiệp 73
Bảng 2.5: Hình thức chữa bệnh (nhẹ) của hộ gia đình công nhân 77
Bảng 2.6: Hình thức chữa bệnh (nặng) của hộ gia đình công nhân 78
Bảng 2.7: Lý do hộ gia đình tiếp cận với các cơ sở y tế 79
Bảng 2.8 Mức chi của chính phủ và hộ gia đình trong ngành y tế 80
Bảng 2.9: Mức độ chi trả cho dịch vụ chăm sóc y tế so với thu nhập của gia đình 82
Bảng 2.10: Nơi hỗ trợ chi phí khám chữa bệnh cho hộ gia đình 82
Bảng 2.11: Số liệu so sánh chi tiêu cho giáo dục ở Việt Nam và một số nước 84
Bảng 2.12: Chi phí dành cho học tập so với thu nhập của gia đình 86
Bảng 3.1: Mức độ theo dõi các phương tiện truyền thông và tham gia các hoạt động giao tiếp tại địa phương 100
Bảng 3.2: Mức độ xem tivi và nghe radio với biết về bảo hiểm thất nghiệp 101
Bảng 3.3: Mức độ nói chuyện với bạn bè và mức độ biết về bảo hiểm thất nghiệp 102
Bảng 3.4: Mức độ biết về bảo hiểm thất nghiệp phân theo nhóm học vấn 103
Bảng 3.5: Tỷ lệ công nhân được mua bảo hiểm thất nghiệp theo nhóm học vấn 104
Bảng 3.6: Giấy tờ cư trú của hộ gia đình công nhân 106
Bảng 3.7: Tỷ lệ lao động được đóng bảo hiểm, phân theo giấy tờ cư trú của gia đình 107
Bảng 3.8: Tỷ lệ công nhân được mua bảo hiểm y tế theo giấy tờ cư trú của gia đình 107 Bảng 3.9: Nơi làm việc của hộ gia đình công nhân di dân theo giấy tờ cư trú 108
Bảng 3.10: Mức chi trung bình cho các dịch vụ hàng tháng, mức chi trung bình của hai nhóm hộ gia đình và kết quả kiểm định hộ gia đình công nhân di dân 114
Bảng 3.11: Những hoạt động nhằm phòng ngừa rủi ro của hộ gia đình công nhân 119
Phần phụ lục Bảng D.1: Diện tích nhà ở của gia đình công nhân 150
Bảng D.2: Nơi gửi con của hộ gia đình công nhân theo nhóm học vấn 150
Trang 98
Bảng D.3: Nơi ở của hộ gia đình công nhân theo nhóm học vấn 151
Bảng D.4: Bảng xoay và nhóm các nhân tố 151
MỤC LỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Nhóm trình độ học vấn của công nhân di dân 61
Biều đồ 2.2: Nhóm nghề nghiệp của lao động công nhân 62
Biểu đồ 2.3: Nguồn vốn đầu tư trực tiếp vào Bình Dương qua các năm 64
Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ phần trăm thay đổi công việc trong ba năm qua và có nhờ sự hỗ trợ của người khác khi tìm việc làm 65
Biểu đồ 2.5: Nguồn hỗ trợ tìm việc làm cho công nhân 66
Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ người lao động được đóng bảo hiểm thất nghiệp và mức độ biết về bảo hiểm thất nghiệp của công nhân 67
Biểu đồ 2.7: Phần trăm công nhân được mua bảo hiểm y tế 72
Biểu đồ 2.8: Mức độ tuân thủ đóng bảo hiểm theo từng loại hình doanh nghiệp 73
Biểu đồ 2.9: Số lần tiếp xúc với dịch vụ y tế trong một năm, phân theo các nhóm đối tượng bảo hiểm (nội trú) 75
Biểu đồ 2.10: Đánh giá của hộ gia đình công nhân về mức độ đáp ứng chi phí khám chữa bệnh trong các loại hình cơ sở khám chữa bệnh 81
Biểu đồ 2.11: Tỷ lệ chi phí cho giáo dục tiểu học của các gia đình người dân và của chính quyền tại chín quốc gia Đông Á 85
Biểu đồ 2.12: Cơ sở học tập của con em lao động công nhân 86
Biểu đồ 2.13: Nơi hộ gia đình công nhân di dân gửi con 88
Biểu đồ 2.14: Lý do cho sự lựa chọn nơi gửi con của hộ gia đình công nhân 91
Biểu đồ 2.15: Nơi ở hiện tại của hộ gia đình công nhân di dân 97
Biểu đồ 3.1: Những dự định tương lai về nơi ở của hộ gia đình công nhân 109
Biểu đồ 3.2: Nơi hộ gia đình gia đình công nhân dự định sẽ di chuyển đến 110
Biểu đồ 3.3:Hộ gia đình công nhân đánh giá về mối quan hệ với nhóm công nhân ở gần nơi cư trú 116
Biểu đồ 3.4: Những cá nhân có ảnh hưởng lên những quyết định của gia đình công nhân 117
Biểu đồ 3.5: Những nhóm yếu tố giúp hộ gia đình công nhân ổn định về mặt đời sống theo chọn lựa của công nhân 120
Trang 109
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KCN : Khu công nghiệp
WB (World Bank): Ngân hàng thế giới
ASXH: An sinh xã hội
TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
ILO (International Labour Organization): Tổ chức Lao động Quốc tế
GDP (Gross Domestic Product): Tổng sản phẩm nội địa
WTO (World Trade Organization): Tổ chức Thương mại Thế giới
Tr : Trang
Đvt: Đơn vị tính
Trang 1110
PHẦN A: MỞ ĐẦU I.1 Khủng hoảng kinh tế toàn cầu và những vấn đề đặt ra đối với chính sách an sinh xã hội tại các quốc gia đang phát triển
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong hai năm 2008-2009 đã có những ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế thế giới Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới (World Bank) thì kinh tế thế giới chỉ tăng trưởng 0,9% trong năm 2009 và đây là mức tăng trưởng chậm nhất của kinh tế toàn cầu kể từ năm 1982 (0,3%) Báo cáo này cũng cho rằng
“với những tác động tiêu cực của suy thoái kinh tế toàn cầu đã đặt ra cho nhiều quốc gia những bài toán về vấn đề an ninh con người trong thời đại kinh tế thị trường Trước hết, số lượng những người thất nghiệp trên toàn thế giới trong năm 2009 lên đến
24 – 59 triệu người Trong số này, có từ chín đến 26 triệu đến từ các quốc gia Châu Á Thái Bình Dương Điều đó có nghĩa là tổng số người thất nghiệp trên lục địa này là khoảng 112 triệu người” (Ngân hàng Thế Giới, 2010) Trên bình diện từng quốc gia, việc đối phó với tình trạng suy giảm kinh tế này luôn nhằm mục đích hạn chế đến mức tối thiểu những tác động tiêu cực của tình trạng này đối với đời sống của nhân dân Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng chính giai đoạn suy giảm kinh tế cũng là lúc mà những chính sách quốc gia về an sinh xã hội lại càng cần thiết để giúp cho người dân có thể đối phó với những rủi ro mà họ gặp phải trong cuộc sống
Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, khủng hoảng kinh tế cũng có những tác động rất lớn đến Việt Nam, nhất là trong giai đoạn chúng ta đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê (2010) thì mức tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Việt Nam từ 8,5% trong năm 2007 đã giảm xuống còn 6,2% trong năm 2008 và 6,5% năm 2009 Đi đôi với quá trình suy giảm kinh tế là một loạt các vấn đề đặt ra về an sinh xã hội Theo ước tính, suy giảm kinh tế sẽ gây ra tình trạng thất nghiệp cho khoảng 0,65% của 45 triệu lao động (Viện Khoa học Lao động và Xã hội, 2010) Kết quả điều tra doanh nghiệp của Viện Khoa học Lao động và Xã hội kết hợp với tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho thấy rằng có: “24,8% và 38,2% doanh nghiệp công bố thu hẹp mức doanh thu tương
Trang 1211
ứng trong năm 2008 và cuối 4/2009, do suy thoái kinh tế toàn cầu Nhiều doanh nghiệp đã giảm quy mô sản xuất, giảm thời gian làm việc và sa thải người lao động Trong năm 2008, 22,3% số doanh nghiệp được điều tra đã cắt giảm lực lượng lao động, tương tự con số năm 2009 là 24,8% doanh nghiệp” (Viện Khoa học Xã hội và Lao động, ILO, 2010, tr.31) Mặt khác, chính việc suy giảm về kinh tế cũng gây áp lực lên
hệ thống chăm sóc y tế và giáo dục do nhiều bộ phận dân cư trong xã hội bị giảm thu nhập hay mất việc làm Với những quốc gia đang phát triển như Việt Nam, trong bối cảnh hệ thống an sinh xã hội chưa đáp ứng được đầy đủ những nhu cầu về đời sống thì người dân phải dựa hầu như phần lớn vào hệ thống thân tộc hoặc các mạng lưới xã hội Điều này cũng quan trọng không kém đối với lao động trong các khu vực công nghiệp chính thức lẫn khu vực phi chính thức
I.2 Lý do chọn đề tài
Mục tiêu phát triển của Việt Nam trong nhiều năm qua luôn được xác định là
phải đảm bảo làm sao cho “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh” Đường lối của Đảng và Nhà nước cũng luôn nhấn mạnh rằng phát triển kinh tế
phải đi đôi với phát triển xã hội và văn hóa, quá trình tăng trưởng kinh tế không thể tách rời khỏi mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội Tuy nhiên cũng cần nhấn mạnh thêm rằng “mục tiêu của sự phát triển không phải là tạo thêm nhiều “vật phẩm”, hàng hóa, dịch vụ mà là làm tăng năng lực của con người để sống một cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc” (Amartya Sen 1990) Định nghĩa này đề cập đến thấy nhận thức về tầm quan trọng của việc giải thích mục đích tăng trưởng kinh tế để làm gì? Một quốc gia chỉ biết chăm lo cho phát triển kinh tế thì vấn đề gì sẽ xảy ra? Hay nói như nhiều người thì quá trình tăng trưởng kinh tế đó có thực sự bền vững Một điều không kém phần quan trọng, thậm chí còn quan trọng hơn là cách thức mà sự tăng trưởng GDP (tổng sản phẩm nội địa) tác động có hiệu quả đến phát triển con người Tăng trưởng kinh tế không chỉ làm tăng thu nhập của mỗi cá nhân mà còn đóng góp đáng kể vào việc tạo ra nguồn lực có thể sử dụng để cải thiện các dịch vụ xã hội (như chăm sóc y tế công cộng, việc làm, giáo dục, nhà ở, phòng chống dịch bệnh và nước sạch)
Tăng trưởng kinh tế và thực hiện chính sách an sinh xã hội có mối quan hệ tác động qua lại với nhau Tăng trưởng kinh tế tạo tiền đề và điều kiện vật chất để giải
Trang 1312
quyết tốt hơn các vấn đề xã hội thông qua chính sách phúc lợi xã hội và an sinh xã hội Nhưng nếu chính sách tăng trưởng không hướng vào mục tiêu bền vững và hiệu quả kinh tế-xã hội thì sẽ dẫn đến những hậu quả xã hội khó lường, nhất là nạn thất nghiệp, bất công xã hội, phân hóa giàu nghèo tăng Do đó, một chính sách kinh tế tốt là một chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong công bằng, không làm gia tăng quá đáng mức độ chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm dân cư, tăng trưởng phải gắn với công tác xóa đói giảm nghèo; bảo đảm cho mọi người, nhất là người nghèo, nhóm xã hội yếu thế đều được hưởng lợi từ thành quả tăng trưởng kinh tế
Kể từ khi Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới từ sau đại hội Đảng lần thứ VI (1986), chúng ta đã thu được những thành tựu hết sức to lớn Các chỉ số về phát triển như tỷ lệ người dân biết chữ, tăng tuổi thọ trung bình của người dân, nhiều chính sách
về phúc lợi đã đến được với người dân nghèo, đã đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia phát triển điển hình và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn tài trợ của chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (Trần Hải Hạc, 2008) Về kết quả thụ hưởng
an sinh xã hội thì nhiều báo cáo cho thấy rằng “ Đến nay, độ bao phủ của hệ thống an sinh xã hội ngày càng mở rộng, chất lượng cung cấp dịch vụ an sinh xã hội ngày một tốt hơn Nếu như năm 1996 mới có 3,2 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, thì đến năm 2007, con số đó đã lên tới 8,2 triệu người, tăng 2,6 lần so với năm 1996, chiếm 67% đối tượng thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc Chỉ tính riêng hai năm (2006 - 2007) có khoảng 2,866 triệu hộ nghèo được vay vốn ưu đãi, 1,33 triệu lượt hộ nghèo được hướng dẫn cách làm ăn, 15 triệu lượt người nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế, năm triệu lượt học sinh nghèo được miễn giảm học phí, 230 ngàn hộ nghèo được hỗ trợ nhà ở” (Nguyễn Hữu Dũng, 2008, tr 4)
Mặc dù đã đạt được những thành tựu trong nhiều năm qua, tuy nhiên cũng có những cảnh báo khác về kết quả tăng trưởng của Việt Nam Một trong những văn bản sau cùng của nguyên cố thủ tướng Võ Văn Kiệt lên tiếng về “người lao động, những
hộ thu nhập thấp, những người phải chạy ăn từng bữa - trên thực tế chỉ được thụ hưởng rất ít các kết quả tăng trưởng” Nói đến những viên chức quốc tế đánh giá cao thành quả của Việt Nam, ông nhắc nhở “những đánh giá ấy chủ yếu dựa trên các báo cáo trong nước, và chúng ta hiểu khoảng cách giữa thực tế và báo cáo còn đáng kể”
Trang 14Bảng A.1: Phân phối thu nhập và an sinh xã hội ở Việt Nam 2004
20%
nghèo nhất
Nhóm 20%
thứ hai
Nhóm 20%
thứ ba
Nhóm 20% thứ tư
Nhóm 20% giàu nhất
Trợ cấp bảo hiểm xã hội
cho người đi làm (%)
Trợ cấp bảo hiểm xã hội
cho người nghỉ hưu (%)
Nguồn: ( Chương trình phát triển Liên hiệp quốc, 2008, tr 18-19 và 24-26)
Quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng như hiện nay đã và đang đặt ra bài toán về an sinh xã hội cho những người lao động di cư, nhất là lao động nghèo
“Trên thực tế, lao động di dân đang có những đóng góp đáng kể vào công cuộc phát triển kinh tế và ổn định đất nước” (Tổng cục thống kê, 2005) Song trong bối cảnh hiện nay “lao động di dân dường như chưa nhận được bảo trợ tại địa phương nơi họ kiếm sống và làm việc Một công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy điều kiện sống
Trang 1514
và bảo trợ xã hội là một trong những vấn đề bức xúc nhất của lao động di cư tại các khu vực đô thị, các khu công nghiệp nước ta” (Đặng Nguyên Anh, 2006) Một nghiên cứu khác của Ngân hàng thế giới cho rằng người di cư đặc biệt bị nghèo hơn do việc cung cấp dịch vụ kém hơn so với người dân thành phố Điều này có nghĩa là việc đăng
ký cư trú đã làm ảnh hưởng đến mức độ và chất lượng dịch vụ chứ không phải là điều kiện kinh tế xã hội (Ngân hàng thế giới, 2005) Chính những rào cản làm người di dân không tiếp cận được đến các dịch vụ cơ bản, cộng thêm những khó khăn khác nữa đã
là nguyên nhân đẩy người di dân vào tình trạng bị lạm dụng, bị bóc lột (ActionAid, Ngân hàng thế giới, 2005) Nhiều những cuộc đình công, lãn công, bỏ việc hiện đang xảy ra ở khắp các khu công nghiệp mà nguyên nhân sâu xa cũng chỉ xuất phát từ vấn đề quyền lợi của người lao động không được đảm bảo (Trần Tử Vân Anh, 2009) Một khi các chủ doanh nghiệp chỉ chú trọng đến lợi nhuận cho mình mà bỏ qua việc chăm lo cho người lao động thì quá trình tăng trưởng được phản ánh qua nhiều con số
ấn tượng chỉ là bề nổi của “tảng băng” phát triển tại Việt Nam
Một đặc trưng nữa của hệ thống an sinh tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam là bên cạnh hệ thống an sinh chính thức luôn tồn tại hệ thống phi chính thức với các thiết chế như: làng, xã, thôn, gia đình hay cộng đồng, Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng mạng lưới xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định di cư của công nhân tại các khu công nghiệp Tuy nhiên vấn đề được đặt ra ở đây là họ hỗ trợ nhau như thế nào?, sự liên kết đó có thực sự bền vững? là những vấn đề mà chúng tôi cũng quan tâm ở đề tài nghiên cứu này
Đứng trước những vấn đề đã trình bày ở trên, tác giả quyết định chọn đề tài
“Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thụ hưởng an sinh xã hội của hộ gia đình công nhân di dân tại khu công nghiệp Sóng Thần hiện nay” để làm đề tài nghiên cứu cho
chính mình
I.3 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Nhằm đi đến một cái nhìn tổng quan về những nghiên cứu có liên quan đến an sinh xã hội/phúc lợi xã hội, tác giả luận văn đã tiến hành tổng quan những nghiên cứu cũng như bài viết trên báo chí, tạp chí nghiên cứu, báo cáo nghiên cứu
Trang 1615
I.3.1 Những nghiên cứu nước ngoài về an sinh xã hội và phúc lợi xã hội
Không chỉ riêng tại Việt Nam mà an sinh xã hội/phúc lợi xã hội từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu tại nhiều quốc gia khác nhau Các nhà xã hội học thuộc trường phái Chicago ở Mỹ và các nhà nhân học xã hội ở Anh, Pháp, đã thực hiện rất nhiều các công trình nghiên cứu về đời sống và hệ thống phúc lợi xã hội của các thành phần dân cư khác nhau tại các trung tâm đô thị Kết quả của mối quan tâm này
đã dẫn đến sự ra đời của nhiều hệ thống, mô hình về an sinh xã hội đã và đang được
áp dụng không chỉ ở các nước Tây Phương mà còn tại nhiều nước tại khu vực Á Châu
I.3.1.1 Những mô hình về an sinh xã hội/phúc lợi xã hội trên thế giới
Hệ thống an sinh xã hội được hình thành từ một nhóm nhỏ các nước công nghiệp phát triển Tây Âu trong 30 năm trước khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất, sau
đó nó được lan rộng sang các nước Nam và Bắc Mỹ trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ nhất và gần đây nó được phát triển ở một số nước thuộc thế giới thứ ba Tuy nhiên xét về mặt truyền thống, hệ thống an sinh xã hội của châu Âu được hình thành từ lâu hơn, trên cơ sở Luật cứu trợ người nghèo ra đời ở Anh từ thế kỷ XVI Trên cơ sở của luật cứu trợ này, một số quốc gia đã thiết lập các chương trình trợ giúp xã hội điển hình như nước Đức (1889), Đan Mạch (1891), Anh (1908), Ai Len (1908), Hà Lan và Thụy Điển (1913) (Đinh Công Tuấn, 2008, tr 22)
Cho đến ngày hôm nay, hệ thống an sinh xã hội đã phát triển rộng khắp trên phạm vi toàn thế giới Tuy nhiên về tổng thế có hai mô hình chính đó là:
Mô hình Bismarck (Otto Von BisMarck 1815 – 1898): Theo trường phái này,
chính sách an sinh xã hội được thực hiện dựa trên trụ cột là bảo hiểm xã hội (BHXH) gắn với yếu tố lao động Chế độ BHXH được áp dụng bắt buộc với một mức lương cụ thể, mức đóng góp và mức trả BHXH được tính căn cứ vào tiền lương và được quản lý bởi các đối tác xã hội
Quan niệm của trường phái Lord Beveridge: Theo trường phái này, hệ thống an
sinh xã hội hoạt động dựa trên ba nguyên tắc: Bao phủ toàn diện (mọi người lần đầu được hưởng an sinh xã hội); mức chi trả tương đương và quản lý tập trung, thống nhất
Trang 1716
Trong thời gian gần đây, hai tổ chức lớn trên thế giới là Ngân hàng thế giới (WB) và
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cũng đưa ra quan điểm của mình về mô hình an sinh
xã hội:
Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới (WB) : An sinh xã hội được xây dựng
dựa trên mô hình quản lý rủi ro xã hội Triết lý của mô hình này là mỗi cá nhân, mọi
gia đình, mọi cộng đồng đều phải chịu những rủi ro nhất định do thiên tai hay những biến động trong đời sống kinh tế, xã hội gây ra Chính những rủi ro này là nguyên nhân gây ra nghèo khổ Người nghèo là những người chịu nhiều rủi ro nhất so với các thành phần xã hội khác và ít có điều kiện tiếp cận các công cụ và phương tiện cho phép họ đối mặt với rủi ro Vì vậy, cần xây dựng cơ chế an sinh xã hội dành cho người nghèo để hạn chế tình trạng bấp bênh của họ, tạo cho họ các phương tiện để thoát nghèo Theo quan điểm mới dựa trên khái niệm quản lý rủi ro, hệ thống an sinh xã hội được hiểu là “toàn bộ các chính sách Nhà nước nhằm giúp đỡ các cá nhân, các gia đình và các nhóm xã hội quản lý các rủi ro của mình và cung cấp hỗ trợ cho những người nghèo khổ nhất
Theo quan điểm của WB, có ba chiến lược quản lý rủi ro, đó là: (1) Phòng ngừa rủi ro; (2) giảm nhẹ rủi ro và (3) khắc phục rủi ro Từ quan điểm này, WB cho rằng an sinh xã hội gồm hai vấn đề chính đó là mạng lưới bảo hiểm xã hội và vấn đề tư nhân hóa WB ủng hộ việc xây dựng mô hình bảo đảm xã hội được tư nhân hóa dựa trên vai trò của quỹ hưu trí Ưu điểm của mô hình này là mang tính tổng thể và toàn diện, chính sách an sinh xã hội được xây dựng trong mối quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế, giáo dục, y tế mang tính vĩ mô Tuy nhiên, do gắn với chức năng chính của WB là xoá đói giảm nghèo, cho nên mô hình này mới chỉ tập trung vào việc giải quyết nạn nghèo đói mà chưa chú trọng đến vai trò thúc đẩy sự thịnh vượng, sự liên hệ của an sinh xã hội với các yếu tố kinh tế – xã hội khác
Theo quan điểm truyền thống của ILO thì an sinh xã hội được xây dựng trên trụ
cột là bảo hiểm xã hội Tuy nhiên, trong thời gian gần đây mô hình này cũng đã được
sửa đổi mang tính toàn diện hơn dựa trên nguyên tắc đảm bảo quyền công dân Theo
mô hình này, là một thành viên của xã hội, mọi cá nhân đều có quyền được hưởng an sinh xã hội (phù hợp với tuyên ngôn nhân quyền 1948; Công ước 1966 của Liên hiệp
Trang 1817
quốc) Quyền hưởng an sinh xã hội là một quyền cơ bản của công dân, là nhân tố quan trọng cho sự phát triển của người lao động, gia đình họ và toàn thể cộng đồng An sinh
xã hội là một quyền cơ bản của con người và là nền tảng cho sự phát triển xã hội
Theo ILO mô hình an sinh xã hội xây dựng trên nguyên tắc quyền công dân có
ba bộ phận cấu thành: (1) Chăm sóc y tế, (2) trợ cấp gia đình, (3) bảo đảm an ninh thu nhập trong trường hợp bị ốm đau, thất nghiệp, tuổi già, tai nạn lao động, thai sản hoặc mất nguồn nuôi dưỡng Các trường phái trên được triển khai áp dụng trên thực tiễn tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của mọi quốc gia khác nhau Thực tế cho ở châu Âu thấy có ba mô hình an sinh xã hội:
Mô hình tự do của các nước ănglo-sacxon: Theo mô hình này, mức chi trả được
thực hiện kèm theo các điều kiện gắn với thu nhập do vậy thường không cao Mô hình này có ưu điểm là kích thích người lao động tham gia thị trường lao động và tham gia các loại hình bảo hiểm tư nhân khác (Do mức chi trả thấp nên muốn có nhiều thu nhập khi về hưu thì người lao động phải tham gia lao động hoặc tham gia loại bảo hiểm khác) Tuy nhiên, theo mô hình này do sự vận hành của an sinh xã hội dựa trên vai trò thị trường, cho nên tỷ lệ nghèo đói của các nước này khá cao và mức độ đảm bảo trước các biến động của thị trường lao động thấp
Mô hình dân chủ – xã hội của các nước Bắc Âu: Theo mô hình này tất cả mọi
người dân đều được hưởng an sinh xã hội nhằm mục tiêu công bằng xã hội, nâng cao mức sống, tránh phân hoá giàu nghèo rõ nét Mô hình dân chủ – xã hội chủ yếu dựa vào vai trò của Nhà nước trong việc cung cấp an sinh xã hội với hai hình thức chính là bảo hiểm xã hội và trợ cấp gia đình Mô hình này có ưu điểm là phạm vi rộng, thể hiện được tính chất công bằng của an sinh xã hội Tuy nhiên, mô hình này không kích thích nhu cầu tham gia quan hệ lao động, mặt khác do quá đề cao vai trò của Nhà nước cho nên nguồn ngân sách của Nhà nước đảm bảo cho an sinh xã hội là rất lớn
Mô hình phường hội (Cộng hòa Liên Bang Đức): Theo mô hình này, hệ thống
an sinh xã hội được chia theo từng ngành, từng lĩnh vực Ưu điểm của mô hình này là rất nhạy cảm đối với mọi sự biến động về việc làm của toàn bộ nền kinh tế nói chung
và từng ngành nói riêng Nhưng mô hình này lại có điểm hạn chế là không tạo ra được
sự công bằng giữa những người lao động khác nhau, trong ngành nghề khác nhau
Trang 19- Phân phối phúc lợi xã hội bình đẳng giữa các giai cấp, các thành viên trong xã hội
- Nhà nước là lực lượng chủ yếu đảm bảo phân phối phúc lợi
- Việc làm đẩy đủ là mục tiêu hàng đầu
An sinh xã hội theo kiểu Scandinavi
- Mọi người dân đều được hưởng hệ thống an sinh xã hội
- An sinh xã hội chủ yếu dựa vào thuế
- Hệ thống công ty chịu trách nhiệm chủ yếu về phân phối lợi ích an sinh xã hội
- Nhà nước chỉ đảm nhận thanh toàn bảo hiểm thất nghiệp
- Lợi ích an sinh xã hội người dân được hưởng rất cao Đức,
Áo,
Pháp
Nhà nước phúc lợi bảo thủ
- Nhà nước đóng vai trò chủ yếu trong phân phối phúc lợi
- Phúc lợi phân phối không đều giữa các giai cấp, các thành viên trong xã hội
An sinh xã hội kiểu
- An sinh xã hội được thanh toán không đồng đều cho các giai cấp, các thành viên trong xã hội
Anh, Ai
Len
Thị trường
tự do
- Phân phối phúc lợi xã hội chủ yếu dành cho người nghèo, người yếu thế trong xã hội
- Nhà nước chỉ can thiệp khi các thành viên trong xã hội gặp rủi ro
An sinh xã hội kiểu Anglo-Saxon
- Thực hiện hệ thống an sinh
xã hội toàn diện
- An sinh xã hội được thanh toán sau khi đã qua thẩm tra tài sản, ở mức thấp
- Dịch vụ sức khỏe được chú trọng
Nguồn: John Dixon 1999 Social security in Global Perspective
Trang 2019
Ở phần lớn các nước Âu châu, nhà nước là người đóng vai trò chính trong việc đảm đương trách nhiệm xây dựng và vận hành các hệ thống phúc lợi xã hội bắt buộc Theo số liệu của Eurostat-ESSPROS1, trong tổng chi tiêu cho hệ thống bảo hộ xã hội ở
27 nước thuộc Liên minh Âu châu (EU) vào năm 2005, có 37,6% là do sự đóng góp của nhà nước (lấy từ thuế), 59,0% là do các loại đóng góp của xã hội, còn lại là các nguồn thu khác, chiếm 3,4% Các loại đóng góp của xã hội bao gồm các khoản đóng phí của những người được bảo hộ (những người lao động làm công ăn lương, những người lao động tự do [tức làm một mình], những người về hưu, và những người khác) (20,8%), và các khoản đóng phí của những người sử dụng lao động (38,3%) (Trần Hữu Quang, 2009, tr.58)
Một quan điểm khác cũng quan tâm đến việc phân loại các hệ thống phúc lợi trên thế giới, Bùi Thế Cường (2002) cho rằng đại thể có ba mô thức cơ bản của chính sách xã hội mà các nước đang đi theo: hệ thống "bảo đảm toàn dân", hệ thống "bảo hiểm xã hội", và hệ thống "bảo đảm chọn lọc" (Bùi Thế Cường, 2002, tr 16)
Mô hình "bảo đảm toàn dân" là mô hình trong đó nhà nước chủ động tái phân phối các nguồn lợi quốc gia để chăm lo phúc lợi cho toàn dân, không phân biệt sự khác nhau về địa vị kinh tế, xã hội và nghề nghiệp (mô hình này cũng còn được gọi là
mô hình tái phân phối) Các đặc điểm của mô hình này là: về mặt tổ chức, nguyên tắc
là bảo hiểm xã hội thống nhất; các trợ cấp xã hội được tái phân phối mạnh mẽ nhằm thu hẹp sự bất bình đẳng về kinh tế và xã hội; về mặt tài chính, phần lớn ngân sách phúc lợi được trực tiếp lấy từ thuế khóa; sự chuyển dịch thu nhập thường được thực hiện thông qua các tổ chức dịch vụ xã hội do nhà nước quản lý (chẳng hạn y tế công cộng) Mô hình này được áp dụng phổ biển ở các nước Bắc Âu, nhất là Thụy Điển và Đan Mạch, và kể cả Anh (đặc biệt là thời kỳ trước nhiệm kỳ của nữ thủ tướng Thatcher) Tuy không hẳn tương đồng, nhưng cũng có thể xếp vào loại mô hình này các hệ thống bảo đảm xã hội của Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây
Mô hình thứ hai, "bảo hiểm xã hội", là mô hình trong đó tuy nhà nước cũng đóng vai trò chính trong việc đảm bảo phúc lợi cho người dân, nhưng cho phép có thêm nhiều dạng bảo hiểm xã hội của khu vực tư nhân mà người dân có thể tự nguyện tham gia Những đặc trưng chính của mô hình này là: mức đóng phí và mức chi trả trợ
1
European System of Integrated Social Protection Statistics, ESSPROS (Hệ thống thống kê tích hợp
về Bảo trợ xã hội Âu châu)
Trang 2120
cấp bảo hiểm phụ thuộc vào mức thu nhập của người được bảo hiểm (do đó, mô hình này "phiên dịch" vị thế thu nhập của mỗi người trên thị trường lao động vào lĩnh vực chính sách xã hội); về mặt tổ chức, hệ thống bảo hiểm không được tổ chức thống nhất,
mà theo các loại rủi ro và các nhóm nghề nghiệp; mức độ tái phân phối kém hơn mô hình trên; nguồn tài chính được lấy từ thỏa ước đóng góp giữa ba bên (nhà nước, người sử dụng lao động, và người lao động), hoặc hai bên (người lao động và người sử dụng lao động); sự chuyển dịch thu nhập bằng tiền đóng vai trò lớn hơn là thông qua các dịch vụ xã hội do nhà nước tổ chức Mô hình này được áp dụng ở những nước như Cộng hòa Liên bang Đức, Pháp, Áo, Ý
Còn mô hình thứ ba, "bảo đảm chọn lọc", theo Bùi Thế Cường, là mô hình chủ yếu áp dụng hình thức bảo hiểm tự nguyện, nhà nước chỉ trợ giúp phúc lợi đối với một
số nhóm dân cư chọn lọc nhất định mà thôi (mô hình này còn được gọi là mô hình tự
do hóa) Những đặc trưng chính của mô hình này là: dựa trên các hệ thống bảo hiểm tự nguyện (tư nhân hoặc tập thể); mục tiêu chính của mô hình này là bảo đảm mức hoạt động tự do cao cho các lực lượng thị trường, đồng thời chỉ tập trung chính sách xã hội cho người nghèo và yếu thế; mức độ và thời gian trợ cấp thường rất hạn chế; mức độ tái phân phối thấp, và chỉ tập trung vào những nhóm dân cư nghèo Những nước đi theo mô hình này là Mỹ, Úc, Canada (Bùi Thế Cường, 2002, tr 16-19)
Bảng A.3 Ba mô hình chính sách xã hội trên thế giới, theo Bùi Thế Cường, 2003
Bảo đảm toàn dân Bảo hiểm xã
tập trung thống nhất
Nhiều loại hình bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm tư nhân Trợ giúp của nhà nước
Mức can thiệp của
nhà nước
Nguồn: Bùi Thế Cường, "Phúc lợi xã hội ở Việt Nam: Hiện trạng, vấn đề và điều chỉnh", Báo cáo đề tài nghiên cứu cấp Bộ, Hà Nội, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trang 2221
Quốc gia, Viện XHH , 2003, tr 15
I.3.1.2 Những quan điểm, nghiên cứu về an sinh xã hội, trách nhiệm của doanh nghiệp trong lĩnh vực phúc lợi xã hội đối với người lao động trên thế giới
Một nghiên cứu khá điển hình về các mô hình phúc lợi trên thế giới là của
Gosta Esping-Andersen trong tác phẩm “Three world of social welfare capitalism”
Theo Gosta Esping-Andersen (1990), chính lịch sử của các mối liên minh chính trị giữa các giai cấp mới là nguyên nhân quyết định đối với những biến thể của mô hình nhà nước phúc lợi trong các xã hội hiện đại (Esping-Andersen, 1991, tr 1) Tác giả này cho rằng phần lớn các lý thuyết về nhà nước phúc lợi hiện nay đều dựa trên những phân tích truyền thống về các mức độ công nghiệp hóa, về hình thái quyền lực chính trị, hay về khả năng chi tiêu của ngân sách nhà nước Esping-Andersen muốn vượt qua những khuôn khổ phân tích ấy, và cho rằng chìa khóa của một hình thái nhà nước phúc lợi chủ yếu nằm trong ba khâu sau đây : mức độ phi hàng hóa hóa (de-commodification), sự phân tầng xã hội (social stratification), và tình hình nhân dụng (employment) trong xã hội (Esping-Andersen, 1991, tr 2-3, dẫn lại theo Trẫn Hữu Quang, 2009)
Người ta thường xem sự phát triển của các quyền xã hội (social rights) như là bản chất của chính sách xã hội Kế thừa và khai triển các tư tưởng của Karl Polanyi, Esping-Andersen cho rằng cần xem xét các quyền xã hội dưới góc độ khả năng "phi hàng hóa hóa" các quyền xã hội "Tiêu chuẩn nổi bật của các quyền xã hội phải là mức
độ mà theo đó chúng cho phép con người có thể xác lập được mức sống của mình mà không phụ thuộc vào các lực lượng của thị trường Chính là theo ý nghĩa này mà các quyền xã hội có thể làm giảm bớt tư cách 'hàng hóa' của các công dân" (Esping-Andersen,1991,tr.3) Esping-Andersen gọi sự "phi hàng hóa hóa" (de-commodification) là tình trạng trong đó sở dĩ người ta được hưởng các dịch vụ phúc lợi là do người ta có quyền được hưởng, và người ta có thể duy trì cuộc sống của mình
mà không cần dựa trên thị trường (Esping-Andersen, 1991, tr 21-22) Ông nói rõ rằng cho dù có những chính sách trợ giúp xã hội hay bảo hiểm xã hội thì điều này không nhất thiết dẫn đến một tình hình "phi hàng hóa hóa" thực thụ nếu chúng không thực sự giải phóng các cá nhân ra khỏi sự phụ thuộc vào thị trường Khi người công nhân bị lệ thuộc hoàn toàn vào thị trường, họ sẽ rất khó mà đoàn kết với nhau và rất khó mà tập hợp lại được trong những phong trào hành động tập thể Chỉ khi nào các quyền xã hội
Trang 2322
của họ được "phi hàng hóa hóa" thì lúc ấy họ mới thực sự có sức mạnh, và đồng thời, quyền lực tuyệt đối của giới chủ lúc ấy mới yếu bớt đi; chính vì thế mà giới nghiệp chủ thường không có thiện cảm và cũng không sẵn lòng tham gia vào các chương trình phúc lợi xã hội (Esping-Andersen, 1991, tr 22, dẫn lại theo Trần Hữu Quang, 2009)
Khi nghiên cứu về các loại hình nhà nước phúc lợi, Gøsta Esping-Andersen nhận định rằng có nhiều kiểu cấu hình sắp xếp (arrangements) khác nhau giữa nhà nước, thị trường và gia đình Từ đó, Esping-Andersen đã nhận diện ra ba loại hình nhà nước phúc lợi điển hình như sau:
a) Loại hình nhà nước phúc lợi theo quan điểm tự do (liberal), trong đó các đặc trưng chính là: trợ giúp dựa trên sự thẩm tra thu nhập; hạn chế chế độ trợ cấp phổ quát (universal transfer); hoặc chỉ có những chương trình bảo hiểm xã hội hạn hẹp Các khoản tiền trợ cấp thường rất thấp, và chủ yếu chỉ được dành cho những người có thu nhập thấp hoặc buộc phải sống phụ thuộc vào nhà nước Điển hình cho loại hình này là
Mỹ, Canada và Úc
b) Loại hình nhà nước phúc lợi bảo thủ và mang nặng tính chất "nghiệp hội" (corporatist) Chế độ phúc lợi ở đây dựa trên những khác biệt về vị thế (status), do đó các quyền ở đây luôn đi đôi với các giai cấp và các vị thế Nhà nước đóng vai trò chính trong việc cung ứng các dịch vụ phúc lợi xã hội, và hệ thống bảo hiểm tư nhân chỉ đóng vai trò mờ nhạt Đặc trưng của chế độ phúc lợi "nghiệp hội" còn là dựa vào các
tổ chức của giáo hội và gia đình Điển hình cho loại hình này là Áo, Pháp, Đức và Ý
c) Loại hình nhà nước phúc lợi thứ ba là chế độ dân chủ-xã hội, trong đó những nguyên tắc về tính phổ quát và về việc phi hàng hóa hóa các quyền xã hội được mở rộng cho tới cả các tầng lớp trung lưu Mục tiêu của khuynh hướng dân chủ-xã hội là xây dựng một nhà nước phúc lợi hướng đến sự bình đẳng ở mức độ cao nhất, chứ không chỉ sự bình đẳng đối với những nhu cầu tối thiểu như ở các nước khác Nguyên tắc của nhà nước phúc lợi này là không đợi đến khi các nguồn lực của gia đình cạn kiệt thì mới trợ cấp, mà là "xã hội hóa các chi phí của đời sống gia đình ngay từ đầu" ("to preemptively socialize the costs of familyhood"), không phải nhằm tăng cường sự phụ thuộc vào gia đình, mà ngược lại, nhằm tăng cường những khả năng độc lập của cá nhân Nhà nước phúc lợi này cung ứng các khoản trợ cấp trực tiếp cho trẻ em, đảm nhận trách nhiệm trực tiếp chăm lo cho trẻ em, người già và những người không nơi nương tựa Điển hình cho loại hình nhà nước phúc lợi này là các nước Bắc Âu
Trang 2423
(Esping-Andersen, 1991, tr 26-27)
Theo Jean Dreze và Amartya Sen, trong quyển Hunger and Public Action, năm
1989 đã cho rằng : "ý tưởng cơ bản của an sinh xã hội là sử dụng những biện pháp xã hội để ngăn ngừa sự thiếu thốn và tình trạng dễ bị tổn thương vì bị thiếu thốn".2 Hai tác giả này lập luận rằng sự cung ứng hệ thống an sinh xã hội trong những quốc gia đang phát triển cần được quan niệm dưới một nhãn giới rộng rãi hơn, và cần xem đây
"chủ yếu như một mục tiêu cần theo đuổi thông qua các biện pháp công hơn là như một nhúm chiến lược cá biệt được xác định một cách hẹp hòi." Cách hiểu này có lẽ cũng gần với quan niệm "Freedom from Want" (Không bị thiếu thốn) mà bản phúc trình của Ủy ban Beveridge đề xướng.3 Elizabeth Wickenden, với công trình “Social Welfare in a Changing World” (1965) thì cho rằng an sinh xã hội bao gồm các “luật lệ, chương trình, quyền lợi và dịch vụ bảo đảm và củng cố các biện pháp đáp ứng các nhu cầu xã hội được công nhận như an sinh cơ bản của quần chúng và cải tiến trật tự xã hội”.4
Với khách thể nghiên cứu là lao động di dân, Lina Song và Simon Appleton
trong bài viết “ Di dân và bảo trợ xã hội tại Trung Quốc: những gì bảo vệ người di
dân khỏi nền kinh tế không chắc chắn” đã đi sâu vào phân tích vấn đề bảo trợ xã hội
cho đối tượng là người di dân nông thôn – thành thị Bằng cách sử dụng những số liệu điều tra về hộ gia đình từ năm 2002 tại Trung Quốc và chia khách thể nghiên cứu làm
ba nhóm chính: nhóm cư dân đô thị, nhóm cư dân nông thôn và nhóm cư dân di dân từ nông thôn ra đô thị Với việc sử dụng phương pháp so sánh nhóm tác giả đã phân tích
và làm rõ những tác động của rủi ro kinh tế đến đời sống của ba nhóm đối tượng này, những cách thức mà họ sẽ dự định đối phó và những phương thức họ dự định sẽ bảo
vệ mình thoát khỏi những rủi ro về mặt kinh tế Cuối cùng tác giả kết luận rằng chính
140 triệu lao động di dân ( chiếm 10% dân số Trung Quốc) được miêu tả như là một
2
"The basic idea of Social Security is to use social means to prevent deprivation and vulnerability to deprivation." Jean Dreze, Amartya Sen, Public Action for Social Security Foundation and Strategy, Oxford University Press, New Delhi, 1991, dẫn lại theo Madhava P Rao, "Social security administration in India study
of provident funds and pension scheme", 30 Dec 2005, MPRA Paper (Munich Personal RePEc Archive), No
1919, tr 3
3
Jean Dreze, Amartya Sen, Hunger and Public Action, London, Oxford, Clarendon Press, 1989, dẫn
lại theo Madhava P Rao, "Social security administration in India Study of provident funds and pension scheme", 30-12-2005, MPRA Paper (Munich Personal RePEc Archive), No 1919, tr 4-5
4
Elizabeth Wickenden, Social Welfare in a Changing World, 1965, dẫn lại theo Nguyễn Thị Oanh,
“Tình hình phúc lợi xã hội tại một số nước trên thế giới”, bài chuyên đề viết cho đề tài “Hệ thống phúc lợi xã hội tại TPHCM”, 6-2005, tr 2, do Trần Hữu Quang làm chủ nhiệm
Trang 2524
lực lượng mạnh mẽ nhất trong công cuộc xói đói giảm nghèo tại Trung Quốc nhưng lại sống và làm việc trong điều kiện hết sức tồi tàn và nguy hiểm Về mặt bảo trợ xã hội, người lao động di dân không nhận được nhiều từ các cơ quan nhà nước mà thực tế họ phải dựa vào chính các mối quan hệ gia đình, họ hàng để bảo vệ mình trước các cú sốc
về kinh tế Ở đây cũng diễn ra quá trình phân tầng xã hội gay gắt khi hầu như các chương trình bảo trợ xã hội dường như chỉ tập trung vào cư dân đô thị, chính yếu tố kiểm soát về mặt cư trú đã làm hạn chế việc nhận được bảo trợ xã hội của người lao động di dân
Để đi đến một bức tranh chung về hiện trạng thụ hưởng an sinh xã hội của đối
tượng là những người lao động di cư trên toàn thế giới, tác giả Kenichi Hirose “An
sinh xã hội cho người lao động di cư” (2007), bài viết trong báo cáo kỳ họp Ban chấp
hành Hiệp hội An sinh xã hội ASEAN (ASSA) lần thứ 19 diễn ra từ ngày 24 đến ngày
27/4/2007 tại BanDung - Indonesia với chủ đề chính: “Các thách thức và chiến lược
tiến tới an sinh xã hội cho toàn dân” đã tập trung vào việc nghiên cứu quá trình di cư
đang diễn ra ngày một nhanh chóng trong bối cảnh toàn cầu hóa Theo số liệu thống
kê, đến năm 2000, trên toàn thế giới ước tính có 175 triệu người lao động di cư quốc
tế, tương đương 3% dân số thế giới Tại thời điểm hiện nay, có trên 86 triệu lao động
di cư, trong đó 34 triệu người làm việc ở các nước đang phát triển và phụ nữ chiếm 49% người lao động di cư trên thế giới Trong số những người lao động di cư quốc tế, khoảng 10% đến 15% là người lao động di cư trong tình trạng không hợp pháp Việc
di cư lao động đã giải quyết được phần lớn nạn dôi dư lao động ở một số nước, nhất là
ở các nước đang phát triển Bên cạnh đó, những người lao động di cư đã chuyển về nước họ một lượng tiền đáng kể, tổng số khoảng 80 tỷ đô la Mỹ (USD) trong năm
2002 Nhưng một thực trạng không thể phủ nhận là phần lớn những người lao động di
cư, mà chủ yếu là những người lao động di cư không hợp pháp, không được nhận các quyền lợi về an sinh xã hội tại các nước bản quán, cũng như đất nước họ đến làm việc Trên bình diện từng quốc gia, quá trình di cư cũng đang diễn ra nhanh chóng với việc tăng lên của nhóm lao động phi chính thức tại các đô thị lớn Tuy sự đóng góp của họ không thua gì đối với những người bản xứ nhưng thực tế hệ thống an sinh xã hội tại các khu vực này vẫn chưa thể đảm bảo sự công bằng cho những người mới di cư đến các đô thị Chịu thiệt thòi nhiều nhất vẫn là phụ nữ và trẻ em Cuối cùng tác giả nêu lên một câu hỏi cũng là mối quan tâm của nhiều nước đó là "làm thế nào chúng ta có thể bảo đảm đối xử công bằng về an sinh xã hội cho những người lao động di cư?”
Trang 2625
(Kenichi Hirose, 2007)
Nếu những nghiên cứu của Gøsta Esping-Andersen, Amartya Sen, Lina Song, Simon Appleton và Kenichi Hirose đều nhấn mạnh đến khía cạnh trách nhiệm đảm bảo an sinh xã hội cho toàn dân và người lao động không những trong phạm vi từng quốc gia mà còn trên thế giới thì những nghiên cứu của B.N Chattoraj, Indra Lestari và Lee Kyesun lại nhấn mạnh đến khía cạnh trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong
việc đảm bảo an sinh xã hội cho người lao động B.N Chattoraj trong bài viết “ Tham
gia của xí nghiệp tập thể và tư nhân vào phúc lợi xã hội Ấn Độ: những triển vọng và hạn chế” (trong Phúc lợi xã hội Châu Á-Thái Bình Dương: Phúc lợi doanh nghiệp do
Bùi Thế Cường (cb) 2002) đã nêu lên những đặc điểm của chính sách phúc lợi xã hội tại doanh nghiệp ở Ấn Độ Thực tế tại Ấn Độ, dịch vụ phúc lợi xã hội có thể được chia
ra làm hai dạng lớn: dạng thứ nhất là các tiêu chí/chỉ tiêu phúc lợi xã hội cho người lao động trong doanh nghiệp, dạng thứ hai là những hoạt động phúc lợi chung cho quần chúng nhân dân tổ chức trong nội bộ cộng đồng Tác giả B.N Chattoraj cho rằng chính những luật định do nhà nước đưa ra như Luật Công ty (1948) đã đề ra những tiêu chí phúc lợi bắt buộc đối với mọi doanh nghiệp (tập thể lẫn tư nhân) phải dành sự quan tâm đến những vấn đề liên quan như bảo hiểm thân thể, phương tiện sơ cứu, nhà ở, phòng nghỉ ngơi, nhà giữ trẻ, trang thiết bị nhà ăn đối với người lao động Ngoài ra, tác giả còn cho rằng tại Ấn Độ, phúc lợi doanh nghiệp không chỉ được chú trọng trong phạm vi những người làm công ăn lương mà còn được mở rộng ra cho những cộng đồng xung quanh, cũng thông qua việc thực hiện đầy đủ những trách nhiệm của mình với người lao động, doanh nghiệp sẽ tạo được danh tiếng của mình
Nếu như trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với người lao động tại Ấn Độ được thực hiện thông qua hai hệ thống chính thì trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Indonesia lại được xác định rất rõ thông qua bốn nhóm đối tượng: đối với người tiêu dùng, người sáng lập, người lao động và xã hội Indra Lestari (2002) trong bài viết
về “Vai trò và chức năng của doanh nghiệp trong phúc lợi xã hội” đã đề cập đến trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp với những ý tưởng đơn thuần rằng “doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là đơn vị sản xuất kinh tế mà còn là một đơn vị xã hội” Ở đây,
“trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với xã hội dựa trên cơ sở thừa nhận doanh nghiệp là một phần của xã hội, cộng đồng ” Trên cơ sở thừa nhận mình là một phần của xã hội nên cả hệ thống doanh nghiệp nhà nước lẫn doanh nghiệp tư nhân đều phải
Trang 2726
cân nhắc nhằm thực thi trách nhiệm của mình đối với người dân và nhà nước Cơ sở để
họ gánh vác trách nhiệm xã hội của mình chính là nhận thức của họ về vao trò và chức năng của doanh nghiệp mình, coi doanh nghiệp mình chính là một bộ phận của cả các doanh nghiệp và là một nhân tố cho phát triển Ý thức của doanh nghiệp được thông qua những ràng buộc về việc thực hiện những chính sách phúc lợi cho người lao động như: trả lương cao cho người lao động, chính sách về bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội
Cùng một mối quan tâm về chính sách an sinh xã hội của doanh nghiệp cho
người lao động, tác giả Lee Kyesun trong bài viết “ Các hình thức chăm sóc, giáo dục
mầm non cho con của người lao động tại các doanh nghiệp ở Hàn Quốc” (2008) đã
phân tích việc thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với người lao động, nhất là lao động nữ trong bối cảnh họ phải tham gia thị trường lao động ngày càng nhiều Ngay cả
trong Luật Chăm sóc giáo dục mầm non đã ghi rõ “ các chủ doanh nghiệp phải xây
dựng các cơ sở chăm sóc, giáo dục mầm non riêng trong nơi làm việc để chăm sóc, giáo dục con của người lao động” (Lee Kyesun, 2008, trang 77) Thực tế chính sách này ra đời đầu tiên với mục đích làm giảm áp lực “gánh nặng con cái” và xóa bỏ “định kiến xã hội đối với người phụ nữ” Quá trình thành lập cơ sở giáo dục mầm non tại nơi làm việc bắt đầu từ tháng 12 năm 1987 khi “ Luật về bình đẳng nam nữ trong tuyển dụng lao động “được ban hành Hiện nay tại Hàn Quốc đang tồn tại hai hệ thống chăm sóc, giáo dục mầm non tại nơi làm việc đó là: (1) loại hình cơ sở, giáo dục mầm non theo từng đơn vị doanh nghiệp riêng lẻ và (2) là loại hình, có sở giáo dục mầm non theo từng cụm công nghiệp Mặc dù tồn tại cả hai hệ thống giáo dục mầm non, tuy nhiên hình thức thứ hai được nhà nước quan tâm tạo nhiều hỗ trợ hơn thông qua chính sách trợ cấp chi phí giáo dục, hỗ trợ tài chính, hỗ trợ thuế nhằm giảm áp lực cho chính doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ này
I.3.2 Những nghiên cứu trong nước về an sinh xã hội/phúc lợi xã hội
I.3.2.1 Về cách tiếp cận
Những nghiên cứu về phúc lợi xã hội hay an sinh xã hội được nhiều tác giả áp dụng với nhiều cách tiếp cận như cách tiếp cận về quyền, cách tiếp cận về chính sách, cách tiếp cận về giới, cách tiếp cận kinh tế, cách tiếp cận dựa vào các thiết chế, cách tiếp cận dựa trên góc độ nhân khẩu học
Trong đề tài nghiên cứu “Hệ thống phúc lợi ở thành phố Hồ Chí Minh với mục
tiêu tiến bộ và công bằng xã hội”, tác giả Trần Hữu Quang đã áp dụng những quan
Trang 2827
điểm nền tảng về quyền (rights) để lý giải cho việc thụ hưởng về phúc lợi xã hội của
người dân tại thành phố Hồ Chí Minh Tư tưởng chủ đạo của tác giả trong suốt công trình nghiên cứu là luôn đặt khái niệm phúc lợi bên cạnh khái niệm quyền được hưởng phúc lợi của người dân Theo lý luận của tác giả thì ngay ở thế kỷ 21 này quyền được hưởng phúc lợi của người dân phải được xem như là quyền cơ bản của con người Nếu một xã hội chưa thực hiện được một cách triệt để yếu tố này thì chưa thể gọi xã hội đó
là văn minh hay tiến bộ được Bên cạnh đó, tác giả Bùi Thị Thanh Hà trong bài viết
“Công nhân trong các công ty liên doanh nước ta trong thời kỳ đổi mới” (2003) đã áp dụng lối tiếp cận về giới trong nghiên cứu về công nhân và chính sách dành cho nam
và nữ công nhân Với việc so sánh mối quan hệ về giới giữa nam và nữ trong việc thụ hưởng về chính sách thông qua lương bổng, chăm sóc sức khỏe, môi trường làm việc, tác giả đã kết luận rằng các công ty chưa chú ý đến yếu tố giới trong lao động Nữ công nhân vẫn chịu nhiều thiệt thòi so với nam công nhân Cũng với cách tiếp cận này
thì tác giả Ngô Minh Phương trong bài viết “Vấn đề lao động và sức khỏe của nữ công
nhân qua nghiên cứu xã hội học tại một số cơ sở hiện nay” (1998) cho rằng với các đối
tượng là nữ công nhân thì khi tham gia lao động sản xuất thì có nguy cơ mắc các bệnh
về phụ khoa, bệnh lao động chiếm tỷ lệ khá cao Tuy vậy nhận thức của người lao động lại chưa cao về vấn đề tự bảo vệ sức khỏe cho mình cũng như những chính sách
do nhà nước ban hành chưa đi vào thực tế là những cản trở chính cho đối tượng là nữ công nhân
Một cách tiếp cận khác cũng thường được đề cập đến khi nghiên cứu về người
công nhân nhập cư là cách tiếp cận về chính sách, Tác giả Tôn Thiện Chiếu với công trình “Vấn đề an sinh xã hội đối với công nhân, lao động” đã áp dụng lối tiếp cận này
để phân tích hiện trạng thụ hưởng phúc lợi của công nhân và lao động Lấy khung phân tích và khái niệm về phúc lợi của Tổ chức Lao động thế giới (ILO), tác giả đã phân chia ra những nội dung cơ bản của hệ thống chính sách xã hội tại một quốc gia bao gồm những chính sách về trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo làm sao cho mọi người dân được hưởng các chính sách xã hội phù hợp với vị thế và công sức lao động của họ
Dưới góc độ tiếp cận nhân khẩu học về chính sách xã hội, tác giả Nguyễn Thanh Liêm, Đặng Nguyên Anh trong bài “Mấy vấn đề về bảo trợ xã hội tại Việt Nam
nhìn dưới góc độ nhân khẩu học” cho rằng kể từ sau đổi mới (1986), chúng ta đã có
Trang 2928
những bước phát triển vươt bậc về kinh tế Tuy nhiên đứng dưới khía cạnh nhân khẩu học các tác giả cho rằng quá trình quá độ dân số ở nước ta hiện nay đã đi vào thời kỳ cuối mà ở đó mức chết rất thấp và mức sinh gần đạt được mức sinh thay thế Việt Nam hiện nay vẫn đang là nước có cấu trúc dân số trẻ Trong những năm qua, biến động lớn nhất về dân số chính là sự biến động không đồng đều giữa khu vực nông thôn và thành thị cũng như giữa các vùng địa lý Bên cạnh đó, di dân và đô thị hóa cũng đang ngày một sôi động hơn và làm cho các nhóm dân cư hiện có thêm đa dạng Các đặc trưng nhân khẩu và biến động dân số trên tạo ra những tác động đáng kể đến nhu cầu bảo trợ
xã hội Các tác giả này cũng cho rằng một trong những cách dùng để xác định đối tượng cần được ưu tiên trong bảo trợ xã hội là dựa vào tháp dân số Các nước đã phát triển thường có cơ cấu dân số già và vì vậy vấn đề bảo trợ người già được đặt lên hàng đầu và ngược lại với các nước đang phát triển là trẻ em
Sự khác biệt trong biến động dân số giữa nông thôn và thành thị đã đặt ra những vấn đề bảo trợ rất khác nhau cho khu vực nông thôn và thành thị Tại khu vực nông thôn, miền núi, mức sinh vẫn ở mức cao trong khi mức sinh tại các khu vực đô thị, đặc biệt tại các thành phố lớn đã giảm xuống mức sinh thay thế Do vậy, bên cạnh các chính sách bảo trợ đại trà theo chiều rộng, bảo trợ xã hội theo các vùng trọng điểm vẫn cần được quan tâm xem xét Bên canh đó, quá trình di dân đang diễn ra nhanh mạnh như hiện nay đã đặt ra bài toán bảo trợ cho lao động di cư nghèo từ nông thôn đi làm ăn xa ở mọi miền của đất nước Trên thực tế lao động di cư đóng góp rất đáng kể vào quá trình phát triển nhưng vẫn chưa nhận được những chính sách đảm bảo quan trọng nhất tại nơi họ ở và nơi làm việc, vì vậy thực thi chính sách bảo đảm ngay ở thời
điểm này là cần thiết Tác giả Lê Bạch Dương, Khuất Thu Hồng trong đề tài “ Di dân
và bảo trợ xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ sang kinh tế thị trường” đã sử dụng
phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính Với việc sử dụng cả hai phương pháp nghiên cứu này tác giả đã phân tích và làm rõ được mối quan hệ giữa việc di dân với các nguy cơ rủi ro về sức khỏe, giữa việc di dân với nguy cơ thiếu các bảo trợ xã hội cho người lao động từ nông thôn ra thành thị
Tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về phúc lợi xã hội hay an sinh xã hội, nhưng theo tác giả luận văn, với đối tượng nghiên cứu là an sinh xã hội thì những quan điểm về quyền, cách tiếp cận về cấu trúc, về các định chế là những quan điểm phù hợp
vì ba lí do sau đây:
Trang 3029
Thứ nhất: những quan điểm này phù hợp với các thông lệ và tinh thần của các
tổ chức thế giới như: Tổ chức lao động quốc tế (ILO), hiệp hội an sinh xã hội quốc tế (ISSA)
Thứ nhì: Cách tiếp cận này cũng phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội hiện đại trong thế kỷ 21 vốn xem trọng yếu tố quyền được hưởng phúc lợi của người dân là một trong những quyền căn bản của con người Đây cũng là một định hướng mà nhiều quốc gia hiện nay đang theo
Thứ ba: Cách tiếp cận này nó cũng phù hợp với các văn bản về hiến pháp, quyền, luật mà nhà nước ta đã ban hành
I.3.2.2 Về nội dung nghiên cứu:
An sinh xã hội là một vấn đề luôn thu hút được sự quan tâm của những nhà khoa học tại Việt Nam trong nhiều năm qua, nhất là từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới (1986) Có lẽ chính những hạn chế bước đầu trong giai đoạn mở của của nền kinh tế thị trường đã có những tác động lớn về mặt xã hội đối với người dân Và do đó những nghiên cứu về an sinh xã hội ngoài việc cho thấy những tác động tích cực và tiêu cực của quá trình hội nhập toàn cầu còn có chức năng định hướng xã hội Mặc khác, chúng tôi cũng nhận thấy rằng trong xã hội hiện đại và văn minh, sự phát triển của một quốc gia không chỉ thuần tuý được đánh giá trên cơ sở sự phát triển kinh tế mà còn căn cứ vào cách thức mà quốc gia đó "đối xử" với công dân của mình Một trong những hình thức cơ bản thể hiện sự chăm sóc của Nhà nước đối với công dân của mình đó chính là
hệ thống an sinh xã hội
Dựa vào khách thể trong các đề tài nghiên cứu về an sinh xã hội và phúc lợi xã
hội đã được tiếp cận, chúng tôi xin tạm thời chia ra bốn nhóm chính: (1) nhóm những
nghiên cứu về thực trạng đời sống của công nhân di dân, (2) nhóm những nghiên cứu
về phúc lợi xã hội/an sinh xã hội cho đối tượng là người lao động, làm công ăn lương,
(3) nhóm những nghiên cứu về phúc lợi xã hội/an sinh xã hội toàn dân, an sinh xã hội
trong điều kiện kinh tế thị trường, và (4) nhóm những nghiên cứu, báo cáo của các tổ chức quốc tế về phúc lợi xã hội/an sinh xã hội tại Việt Nam
I.3.2.2.1 Những nghiên cứu về công nhân và tình trạng đời sống của công nhân di dân
Nguyễn Thị Thu Trang: “Chính sách xã hội đối với nữ công nhân trong các
doanh nghiệp may mặc vừa và nhỏ tại thành phố Hồ Chí Minh” luận văn tốt nghiệp
Trang 3130
cao học xã hội học Nhìn vấn đề nghiên cứu dưới dạng chính sách xã hội cho chính đối tượng là nữ công nhân trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hồ Chí Minh, tác giả tập trung vào những nội dung như chính sách về tiền lương, điều kiện lao động bao gồm (an toàn lao động, vệ sinh lao động, thời gian lao động và thời gian nghỉ ngơi của nữ công nhân trong các công ty may mặc) Ngoài ra những chính sách về bảo hiểm
xã hội, chính sách về nhà ở, về đào tạo và nâng cao tay nghề cho công nhân, chính sách về sức khỏe, chính sách phúc lợi xã hội và vấn đề tham gia quản lý công ty của người lao động cũng được tác giả đề cập đến Với đối tượng nghiên cứu là chính sách
xã hội, tác giả kết luận rằng những chính sách cho công nhân nữ hiện nay tại các công
ty may mặc là chưa thỏa đáng, công nhân nữ trong các công ty may mặc phải làm việc trong môi trường nóng nực, oi bức, nhiều tiếng ồn Bên cạnh đó tác giả cũng kết luận rằng nhiều nữ công nhân may mặc không được khám sức khỏe định kỳ, nhất là sức khỏe về sinh sản Công nhân nữ cũng phải sông trong những căn nhà thuê và chật chội (Nguyễn Thị Thu Trang, 2007, tr.67)
Với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi thấy rằng tác giả đã nêu lên được thực trạng những vấn đề có liên quan đến chính sách cho đối tượng là nữ công nhân cũng như việc thụ hưởng về chính sách hiện tại của nữ công nhân Chúng tôi thấy rằng đề tài nghiên cứu này mới chỉ nêu được rất ít những chính sách cho đối tượng là nữ công nhân Nội dung nghiên cứu và kết luận của tác giả hầu như liên quan rất nhiều đến thực trạng chung về đời sống của công nhân nhập cư hiện nay tại các khu công nghiệp Trong đề tài này tác giả cũng chưa nêu lên được những yếu tố ảnh hưởng đến việc thụ hưởng về chính sách xã hội hay những mô hình cần thiết nhằm hỗ trợ cho những đối tượng lao động di dân
Tác giả Bùi Thị Thanh Hà: “Công nhân trong các công ty liên doanh nước ta
trong thời kỳ đổi mới” (2003) Trong đề tài này tác giả tập trung vào việc nghiên cứu
đội ngũ công nhân trong các công ty liên doanh thuộc các ngành công nghiệp: dệt may, giày da, công nghiệp thực phẩm trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Không những vậy đề tài còn tập trung vào việc nghiên cứu các điều kiện lao động của công nhân trong các loại hình công việc, tìm hiểu các quan hệ xã hội của công nhân trong các công ty liên doanh Tác giả cho rằng tại các công ty liên doanh, định mức lao động là rất cao và do vậy lương của công nhân tính theo các định mức này cũng cao theo Tuy nhiên trong thực tế thì các công nhân trong các công ty liên doanh thường
Trang 3231
chỉ đươc trả lương theo sản phẩm, việc trả lương theo sản phẩm là có lợi cho người sử dụng lao động nhiều chủ sử dụng lao động dựa vào lý do người lao động Việt Nam thì thể lực kém nên không thể làm việc theo các định mức Thông qua các tiếp cận về giới, tác giả cũng cho thấy rằng có sự khác biệt về mức lương nam và nữ công nhân,
cụ thể lương cao nhất của nữ công nhân là 682.000 nghìn đồng/người/tháng và bằng 88% so với lương của nam công nhân
Một nghiên cứu khác cũng về đề tài công nhân là của tác giả Nguyễn Thị Hồng
Thắm: “ Mạng lưới xã hội của công nhân nhập cư ở khu công nghiệp Việt Nam –
Singapore” (2009) Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả tập trung vào việc phân tích
những đặc điểm về nhân khẩu của công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Việt Nam – Singapore Những đặc trưng về mạng lưới xã hội của công nhân nhập cư như: qui mô
về số người thân tại khu công nghiệp, qui mô về những người đồng hương tại Bình Dương, qui mô những người sống tại phòng trọ, bạn thân nơi sinh sống, sự tham gia vào các tổ chức đoàn thể, các câu lạc bô tại địa phương đã được tác giả đề cập đến Tác giả cũng chú trọng vào việc nghiên cứu sự phân bố không gian mạng lưới xã hội của công nhân nhập cư và mục đích sử dụng mạng lưới xã hội ấy của công nhân tại khu công nghiệp Việt Nam – Singapore
Tác giả cũng kết luận rằng với những công nhân có người thân tại Bình Dương thì có hai xu hướng sử dụng mạng lưới xã hội của mình Một là dựa hoàn toàn vào các mối quan hệ có sẵn đặc biệt là mối quan hệ với người thân Hai là những công nhân này dựa vào các mối quan hệ mới được hình thành tại địa phương và theo tác giả thì điều này làm tăng khả năng hòa nhập và thích ứng của công nhân Cũng theo tác giả thì mạng lưới xã hội của nam và nữ, giữa những người độc thân và những người đã có gia đình có sự khác biệt nhỏ Về khía cạnh vùng miền thì tác giả cũng cho rằng những công nhân quê ở Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung có qui mô và mối quan hệ với đồng nghiệp rộng hơn công nhân có quê tại đồng bằng sông Cửu Long (Nguyễn Thị Hồng Thắm, 2009, trang 133)
Theo chúng tôi, đề tài nghiên cứu này mới chỉ nêu lên được những nét chính về mạng lưới xã hội của công nhân tại các khu công nghiệp Những nhận định về mối quan hệ của công nhân mới chỉ nêu lên được họ quan hệ với ai, mối quan hệ đó hiện nay như thế nào chứ chưa nêu lên được những mối quan hệ đó hỗ trợ hay giúp đỡ gì cho công nhân nhập cư
Trang 3332
Một nghiên cứu khác về nhu cầu học nghề của công nhân là của tác giả Tôn
Thiện Chiếu, “Nhu cầu đào tạo và nâng cao tay nghề của công nhân trong các doanh
nghiệp quốc doanh”, tạp chí Xã hội học (1998) Với đề tài nghiên cứu này, tác giả tập
trung vào việc tìm hiểu nhận thức và nhu cầu của công nhân về đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn, trên cơ sở đó chỉ ra những khó khăn và thuận lợi mà họ gặp phải khi tham gia đào tạo và kiến nghị các hình thức cũng như chính sách đào tạo thích hợp với tình hình thực tế đời sống và sản xuất của công nhân Về khách thể nghiên cứu, đề tài tập trung vào bốn nhóm ngành nghề mà người công nhân thường tham gia sản xuất bao gồm: nhóm ngành cơ khí, nhóm ngành dệt, nhóm ngành may mặc và nhóm ngành sản xuất giày Về nội dung nghiên cứu, tác giả tập trung vào việc nghiên cứu về trình
độ học vấn và tay nghề của công nhân, quá trình đào tạo và tự đào tạo lại của công nhân trong thời gian qua, sự phù hợp giữa trình độ tay nghề và việc làm của công nhân gắn với nhu cầu đào tạo của công nhân tại các doanh nghiệp quốc doanh hiện nay
Một nghiên cứu khác cũng về khách thể công nhân nhưng nhìn vấn đề nghiên
cứu dưới lăng kính giới là của Ngô Minh Phương (1998): “Vấn đề lao động và sức
khỏe của nữ công nhân qua nghiên cứu xã hội học tại một số cơ sở hiện nay Với đề
tài nghiên cứu này, tác giả đã đặt vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hết sức gay gắt Quá trình này dẫn đến một số vấn đề cần nghiên cứu trong đó có vấn đề về môi trường lao động và sức khỏe của người lao động Tác giả cũng nhấn mạnh đến lối tiếp cận giới trong nghiên cứu này để làm sáng tỏ những nội dung chính như: môi trường lao động ở một số cơ sở sản xuất
và dịch vụ ở Hà Nội, sự ảnh hưởng của môi trường lao động hiện nay tới sức khỏe của
nữ công nhân để làm khung phân tích cho mình
Chúng tôi nhận thấy rằng trong đề tài nghiên cứu này mặc dù tác giả nói rằng
đã sử dụng lối tiếp cận về giới nhưng xuyên suốt công trình chúng tôi thấy chỉ khảo sát
nữ công nhân mà không thấy nam công nhân Vì vậy, chúng tôi cho rằng lối tiếp cận
về giới trong nghiên cứu này chưa hợp lý
I.3.2.2.2 Những nghiên cứu về phúc lợi xã hội/an sinh xã hội cho đối tượng là người lao động, làm công ăn lương
Tác giả Lê Bạch Dương, Khuất Thu Hồng trong đề tài nghiên cứu: “Di dân và
bảo trợ xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ sang kinh tế thị trường” (2008) đã tập
trung vào việc khảo sát những rủi ro trong vấn đề di cư nông thôn-thành thị, và đặc
Trang 3433
biệt đề tài cũng nhấn mạnh đến yếu tố bảo trợ xã hội cho những người di cư trong nền kinh tế thị trường vốn có nhiều rủi ro Những rủi ro chính yếu được tác giả nêu lên có liên quan đến vấn đề về nơi cư trú, thu nhập, tiết kiệm, chăm sóc sức khỏe, an ninh việc làm và chính sách tại các đơn vị sản xuất Về kết quả nghiên cứu, tác giả kết luận rằng hầu hết những đối tượng công nhân đều sống tại các khu nhà trọ với điều kiện sống dưới mức tối thiểu Mức thu nhập của những lao động này là không cao mặc dù
họ là nguồn bảo trợ chính cho những người thân tại quê thông qua tiền tiết kiệm gửi về hàng tháng Dưới khía cạnh giới, tác giả cũng kết luận rằng thu nhập của nam giới là đều đặn và cao hơn nữ giới Về an ninh việc làm thì chỉ có 36% số lượng lao động trong mẫu nghiên cứu có hợp đồng lao động, đó chính là những con người may mắn
có được công việc ổn định và có lương Trong nhóm có hợp đồng lao động thì nhóm nam cao hơn nhóm nữ (Lê Bạch Dương, Khuất Thu Hồng, 2008, tr.104) Một nghiên cứu khác có cùng đối tượng là di dân và an sinh xã hội là của Phạm Quỳnh Hương:
“Người nhập cư đô thị và an sinh xã hội”(2006) Phân tích vấn đề nghiên cứu dưới
nhiều nhóm yếu tố tác động đến như mạng lưới xã hội, chính sách của nhà nước Cuối cùng, tác giả kết luận rằng chính mạng lưới xã hội là một phương cách hỗ trợ đắc lực cho công nhân nhâp cư tại các đô thị lớn Đây chính là điều kiện tiên quyết để đảm bảo về an sinh xã hội cho người nhập cư đô thị trong bối cảnh có nhiều thiếu hụt về hệ thống an sinh xã hội chính thức Với lao động nhập cư, khả năng tiếp cận với các dịch
vụ xã hội bị hạn chế rất nhiều do ảnh hưởng từ việc họ thường không đăng ký cư trú hay không có hộ khẩu Với đề tài nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra ba kết luận chính (1) Bảo trợ xã hội vẫn chưa đến được với người dân nhập cư tại các đô thị (2) Hệ thống đăng ký cư trú là một trong những nhân tố gây cản trở việc tiếp cận đến các dịch vụ xã hội của người nhập cư (3) Quyền tiếp cận đến các dịch vụ xã hội của những người nhập cư đô thị vẫn đang bị bỏ ngỏ
Một quan điểm khác khi đề cập đến an sinh xã hội cho khách thể người lao
động là của Tôn Thiện Chiếu trong bài viết: “Vấn đề an sinh xã hội đối với công nhân,
lao động” (2006) khi tác giả tập trung nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa trình độ nhận
thức và tay nghề của người lao động với việc thụ hưởng an sinh xã hội Chính vì trình
độ thấp mà người lao động chưa có ý thức cao trong việc tham gia vào tiểu hệ thống bảo hiểm xã hội Cuối cùng để thực hiện được chính sách trợ cấp thất nghiệp cho người lao động công nhân cần phải có ba nguồn chính là: nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động Tuy nhiên ở thời điểm đầu khi mới hoạt động thì nguồn kinh
Trang 3534
phí cho quỹ trợ cấp thất nghiệp chính vẫn là do nhà nước chi trả, sau đó mới là sự đóng góp của hai nguồn còn lại Tác giả cũng nhận định rằng, chính quyền các đô thị chưa đánh giá đầy đủ về sự đóng góp của người lao động nhập cư trong việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương mình nên chưa có chính sách cụ thể hay phương án trợ giúp cho người lao động nhập cư Bên cạnh đó tại các vùng đô thị, những người công nhân, lao động nhập cư luôn chịu chi phí cao hơn trong khi sử dụng các dịch vụ công cộng: điện nước, khám chữa bệnh, học tập của con cái Đôi khi họ còn bị coi là gánh nặng cho địa phương trong việc thiết lập trật tự xã hội ở đô thị Bên cạnh đó vốn xã hội của người công nhân, lao động nhập cư rất hạn chế, chính vì vậy khi bị thất nghiệp họ thường phải mất nhiều thời gian để tìm được công việc mới và thường những công việc mới vẫn là những công việc không ổn định
Chúng tôi nhận thấy rằng nhóm ba bài viết nghiên cứu ở trên với bốn tác giả là
Lê Bạch Dương, Khuất Thu Hồng, Phạm Quỳnh Hương, Tôn Thiện Chiếu đều có một điểm chung là nhìn những lao động di dân đến với các trung tâm đô thị hay những khu công nghiệp như là những nhân tố quan trọng góp phần vào sự phát triển kinh tế của địa phương Mặt khác, nhóm tác giả trên cũng đã trình bày được những nhân tố tác động đến việc thụ hưởng về an sinh xã hội của người lao động di dân như chính sách của nhà nước, vai trò của doanh nghiệp và đặc biệt là mạng lưới xã hội trong việc hỗ trợ cho lao động di dân Một điểm nữa chúng tôi cũng thấy nhóm tác giả trên có quan tâm đến chính là những bất bình đẳng về việc thụ hưởng an sinh xã hội của lao động di dân do những đặc điểm về thân phận của họ mang lại Tuy nhiên, chúng tôi cũng nhận thấy có một số điểm mà nhóm tác giả đã chưa quan tâm đến cụ thể như: nhóm tác giả
đã chưa phân định được rõ ràng những thành tố chính của khái niệm căn bản là an sinh
xã hội hay bảo trợ xã hội nên bài viết cho nhiều điểm chung chung, không rõ ràng về việc thụ hưởng an sinh xã hội của các nhóm yếu tố Nhóm tác giả cũng đã nêu lên được những bất bình đẳng đối với lao động di dân tuy nhiên lao động di dân ở đây được nhắc đến như những người thụ động Chúng tôi cho rằng rất cần quan tâm đến ứng xử của lao động di dân trong bối cảnh hiện tại, tức là đề cập đến lao động di dân với vai trò họ như là những chủ thể thật sự Xa hơn nữa chính là mức độ ổn định về mặt cư trú của lao động di dân vì đều này có liên quan trực tiếp đến mức độ ổn định về nguồn lao động, một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự phát triển kinh tế tại một số địa phương hiện nay
Trang 3635
I.3.2.2.3 Nhóm những nghiên cứu về phúc lợi xã hội/an sinh xã hội toàn dân, phúc lợi
xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường
Bên cạnh những nghiên cứu về an sinh xã hội quan tâm đến khách thể là lao động di dân, người làm công ăn lương, trong những năm qua cũng xuất hiện những nghiên cứu, bài viết mang tính tổng quát về hiện trạng phúc lợi xã hội của Việt Nam Hầu hết các nghiên cứu đều xuất phát từ một thực tế là quá trình chuyển đối từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường đã có những tác động rất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội Trong một vài năm qua, Việt Nam đã có những chuyển biến mang tính tích cực về việc thụ hưởng phúc lợi xã hội của người dân Tuy vậy, nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra bốn vấn đề cơ bản về hiện trạng phúc lợi xã hội hiện nay đáng quan tâm: (1) sự cần thiết phải có sự thay đổi trong quản lý về an sinh xã hội, (2) vai trò của các chủ thể trong việc cung cấp phúc lợi xã hội cho người dân, (3) sự phân tầng xã hội ngày một gay gắt trong việc thụ hưởng về phúc lợi xã hội, và cuối cùng (4) là việc cần xây dựng mô hình phúc lợi xã hội tại Việt Nam trong thời điểm hiện tại
Một công trình nghiên cứu mang tính chất tổng quát về phúc lợi xã hội tại Việt
Nam là của Bùi Thế Cường: “ Phúc lợi xã hội ở Việt Nam: hiện trạng, vấn đề và điều
chỉnh” (2003) Công trình này đã tập trung vào việc nghiên cứu khung phân tích phúc
lợi xã hội, ba mô hình khuôn mẫu và cấu trúc xã hội, những đặc điểm của phúc lợi xã hội tại Việt Nam hiện nay Với các đặc trưng của hệ thống phúc lợi hướng đến việc toàn dân, tác giả kết luận rằng quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường là một biến đổi quan trọng về xã hội và văn hóa Tuy nhiên khác với một số nước diễn ra sự quá
độ tương tự, chuyển đổi ở Việt Nam diễn ra tương đối suôn sẻ Điều này có được là nhờ vào định hướng của nhà nước vốn nhấn mạnh vào ưu tiên kinh tế vì thu nhập và việc làm vốn là mối quan tâm lớn của các giai tầng xã hội Bên cạnh đó nhà nước cũng đảm bảo duy trì một khoản chi cho phúc lợi xã hội và điều này làm giảm quy mô các nhóm xã hội và hộ gia đình rơi vào tình trạng khốn cùng do kinh tế chuyển đổi
Tuy nhiên, tác giả đề tài cũng cho rằng bên cạnh chính sách nhấn mạnh vào phúc lợi con người của Việt Nam vốn đã được suy trì suốt quá trình Đổi mới thì kinh
tế thị trường cũng đang làm tăng sự bất bình đẳng xã hội Phân phối phúc lợi xã hội một mặt góp phần cải thiện mức sống dân cư, nhưng mặt khác cũng góp phần làm tăng cách biệt xã hội Cuối cùng tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện hệ thống
Trang 3736
phúc lợi xã hội ở nước ta như: (1) Nhận thức về vị trí và chức năng của phúc lợi xã hội, (2) định hình học thuyết phúc lợi xã hội quốc gia, (3) định hình các chủ thể phúc lợi và mối quan hệ giữa chúng, (4) định hình rõ hơn chi tiêu phúc lợi xã hội cho nhóm nghèo, (5) doanh nghiệp và phúc lợi xã hội, (6) phát triển nguồn lực cán bộ và tổ chức phúc lợi xã hội, (7) tổ chức phối hợp về phúc lợi xã hội ở cấp độ quốc gia và địa phương, (8) những xu thế ưu tiên trong chiến lược phúc lợi mới như: nhấn mạnh đến phúc lợi hướng vào phát triển kinh tế, sử dụng nguồn lực tiết kiệm, mang tính mục tiêu
và hiệu quả, nhà nước hạn chế vào các chức năng thực sự của mình
Một trong những nghiên cứu nhấn mạnh đến những thành quả của công cuộc cải thiện an sinh xã hội tại Việt Nam trong nhiều năm qua là của tác giả Nguyễn Hữu
Dũng, “Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện chính
sách an sinh xã hội ở nước ta”(2008) Với đề tài nghiên cứu này, tác giả tập trung vào
việc xem xét những thành tựu về an sinh xã hội tại Việt Nam như giảm tỷ lệ hộ nghèo đói, tăng đối tượng được hưởng bảo hiểm xã hội, tăng tỷ lệ hộ nghèo được tiếp cận với các dịch vụ xã hội như miễn giảm học phí, tiếp cận với nước sạch và nhà ở Tác giả cũng nhấn mạnh đến việc phát triển các mô hình về an sinh xã hội tại các quốc gia như
Mỹ, Đức Các nước theo mô hình kinh tế thị trường tự do cũ (điển hình là Mỹ) đề cao vai trò tuyệt đối của thị trường, coi thị trường là chính thống, thị trường không chỉ điều tiết các hoạt động kinh tế mà còn chủ yếu điều tiết thu nhập; vai trò của nhà nước đối với phát triển kinh tế và giải quyết vấn đề xã hội, bảo đảm công bằng, trong đó có an sinh xã hội chỉ là thứ yếu Trong thế giới hiện đại, nhiều nước theo mô hình kinh tế thị trường tự do cũ đã có sự điều chỉnh theo hướng tăng cường vai trò của nhà nước trong việc quản lý kinh tế và thực hiện chính sách an sinh xã hội khi chuyển sang mô hình phát triển theo kinh tế thị trường tự do mới Tuy nhiên, ở mô hình này, vai trò của khu vực tư nhân vẫn được nâng cao, vai trò của nhà nước vẫn bị xem nhẹ Các nước theo
mô hình kinh tế thị trường xã hội, điển hình là Cộng hòa Liên bang Đức, về cơ bản vẫn dựa trên mô hình kinh tế thị trường tự do mới, nhưng có sự kết hợp sử dụng cơ chế thị trường với việc thi hành một hệ thống các chính sách phúc lợi xã hội để bảo đảm sự đồng thuận xã hội cho phát triển
Tuy cũng có những quan điểm tương đồng với tác giả Trần Hữu Dũng về việc phân tích những thành tựu và mô hình về phúc lợi xã hội của Việt Nam trong nhiều
năm qua, nhưng tác giả Mạc Tiến Anh trong đề tài nghiên cứu về “An sinh xã hội
Trang 3837
trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” (2006) lại nêu lên những đặc điểm của
hệ thống an sinh xã hội tại Việt Nam như: đã xuất hiện từ khá lâu trong các hình thái
xã hội cổ truyền, có sự thay đổi về chính sách an sinh xã hội từ những năm 1945 đến nay với việc gánh nặng chi phí dành cho an sinh xã hội do nhà nước đảm trách chính yếu trước đây được chuyển qua cho các bên tham gia trong quá trình lao động, cho các
tổ chức Mặt khác an sinh xã hội ở Việt Nam còn được thực hiện trong một môi trường văn hóa truyền thống vì vậy, nó có sự kết hợp hài hòa những tinh hoa của nhân loại và truyền thống của dân tộc Điều này đã đem lại cho nền an sinh xã hội ở nước ta một sắc thái riêng mà không phải nước nào cũng có được Tuy vậy, sự kết hợp này không phải ở đâu và lúc nào cũng hài hòa, vì vậy vẫn còn hiện tượng những hoạt động của cộng đồng về an sinh xã hội thì lại có xu hướng hành chính hóa, nhà nước hóa (nhất là trong các lĩnh vực cứu trợ / trợ giúp xã hội hoặc các hoạt động nhân đạo từ thiện); ngược lại, có những hoạt động thuộc phạm vi quản lý của Nhà nước thì lại đang
bị xã hội hóa một cách thái quá, nên dễ bị lạm dụng, cần sớm được điều chỉnh cho phù hợp Một nghiên cứu khác cũng của tác giả này về những tác động của kinh tế thị
trường và toàn cầu hóa lên an sinh xã hội của người dân “An sinh xã hội tại Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập” (2007) Với nội dung nghiên cứu là quá trình toàn cầu hóa đã
đem đến những thuận lợi và khó khăn gì cho người lao động, tác giả tìm cách chứng minh rằng đã có sự dịch chuyển về các ngành nghề đầu tư sản xuất sang các nước đang phát triển, bên cạnh đó toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế cũng đem đến nhiều cơ hội về việc làm, thu nhập cho người lao động cũng như sự thay đổi về kinh tế tại các nước đang phát triển Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng gây nên nhiều những rủi ro mới, người lao động sẽ tăng nguy cơ bị mất việc làm hay bị cắt giảm lao động tại các doanh nghiệp Người lao động cũng có thể bị bần cùng hoá vì những đối xử của chủ sử dụng lao động hoặc vì những ảnh hưởng của kinh tế toàn cầu và trong bối cảnh đó, các nước phải có những đổi mới, cải cách hệ thống an sinh xã hội để thích ứng với bối cảnh mới Tác giả cũng kết luận rằng “với bản chất sâu xa là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội với phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng, nhằm tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội, an sinh xã hội ở Việt Nam cần phải đổi mới theo hướng đa dạng về hình thức và phong phú về phương thức thực hiện Nói cách khác, phải tạo ra lưới an toàn xã hội gồm nhiều tầng, nhiều lớp, dựa trên nguyên tắc san sẻ trách nhiệm và thực hiện công bằng xã hội, được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương thức và các biện pháp khác
Trang 39Một công trình nghiên cứu khác theo chúng tôi là khá điển hình cả về lý thuyết
lẫn thực tiễn là của tác giả Trần Hữu Quang: “Hệ thống phúc lợi ở thành phố Hồ Chí
Minh với mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội” (2009) Công trình này đã tập trung
làm rõ khái niệm phúc lợi xã hội, các khái niệm liên quan cũng như những mô hình về phúc lợi xã hội tại các nước ở châu Âu, châu Á và Việt Nam Việc nghiên cứu về hệ thống phúc lợi xã hội gắn với mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội trong giai đoạn hiện nay đã cho thấy quan điểm chủ đạo của tác giả là “ hệ thống phúc lợi xã hội là hệ thống các định chế, các chính sách và các hoạt động nhằm bảo đảm cho người dân được thụ hưởng một cách thỏa đáng những dịch vụ đáp ứng những nhu cầu thiết yếu nhất, với mục tiêu làm sao cho mọi người dân có được một cuộc sống đàng hoàng, tử
tế, xứng đáng với phẩm giá con người” (Trần Hữu Quang, 2009) Về nội dung nghiên cứu, tác giả đề tài tập trung vào việc khảo sát việc thụ hưởng các chính sách về phúc lợi giáo dục, y tế, nhà ở của những hộ gia đình dân cư tại thành phố Hồ Chí Minh Với
đề tài nghiên cứu này theo chúng tôi có hai kết luận là then chốt và quan trọng: (1) tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đang diễn ra xu hướng “hàng hóa hóa” các dịch vụ phúc lợi căn bản Thực tế đề tài đã chứng minh rằng rất nhiều các lĩnh vực phúc lợi như: giáo dục, nhà ở, y tế người dân phải bỏ tiền ra để mua dịch vụ này tại các cơ sở công, và điều này này đi ngược lại với xu hướng “phi hàng hóa hóa” mà một nhà nước đúng nghĩa phải thực hiện cho người dân, (2) đang có một xu hướng là chuyển gánh nặng về phúc lợi từ nhà nước sang cho người dân Bên cạnh đó đang có một thực trạng
về bất bình đẳng trong cung ứng và thụ hưởng các lợi ích phúc lợi giữa nhóm hộ gia đình khá giả và trung lưu với hộ gia đình nghèo Cuối cùng, tác giả đề tài kết luận rằng tính chất của hệ thống phúc lợi xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa đảm bảo mục tiêu hướng đến tiến bộ và công bằng xã hội
Một quan điểm khác theo chúng tôi cần được đề cập ở đây là của tác giả Phạm
Trọng Nghĩa: “Định hướng hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam” (2005)
An sinh xã hội dưới quan điểm của tác giả chính là việc cần phải hoàn thiện bộ luật an
Trang 4039
sinh xã hội chung ở Việt Nam Có hai quan điểm được tác giả đề cập đến ở đây chính là: (1) Cần xây dựng một Bộ luật quy định tổng hợp các nội dụng của an sinh xã hội, cứu trợ xã hội, bảo hiểm xã hội, ưu đãi xã hội, lấy tên gọi là Bộ luật an sinh xã hội, (2) Không cần thiết phải xây dựng một bộ luật chung về an sinh xã hội mà giữ nguyên các
bộ phận hiện nay: pháp luật bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội, bảo hiểm y
tế Với hai luồng ý kiến này, tác giả cho rằng hiện nay tại Việt Nam không nên xây dựng một bộ luật chung về an sinh xã hội mà điều cần thiết ở đây là việc cần phải hoàn thiện những chính sách về an sinh xã hội hiện đang tồn tại, nhằm đảm bảo làm sao tất
cả những chính sách đưa ra có thể bao quát mọi mặt của đời sống xã hội, có thể tham gia được vào quá trình điều tiết những thay đổi và xung đột hiện đang tồn tại nhằm thúc đẩy sự công bằng, văn minh và ổn định xã hội
I.3.2.2.3 Nhóm những nghiên cứu, báo cáo của các tổ chức quốc tế về an sinh xã hội tại Việt Nam
Hàng năm, Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) đều có những
đánh giá về quá trình phát triển của Việt Nam Báo cáo năm 2007 với tựa đề “An sinh
xã hội ở Việt Nam Lũy tiến đến mức nào?” (How Progressive is Social Security in Viet Nam ?) của EVANS Martin, Ian Gough, Susan Harkness, Andrew McKay, Đào
Thanh Huyền và Đỗ Lê Thu Ngọc đã nêu lên thực trạng chung về an sinh xã hội của Việt Nam Với việc nhấn mạnh đến những khía cạnh căn bản của an sinh xã hội Việt Nam trong năm 2007 như: thu nhập và an sinh xã hội, nghèo và an sinh xã hội và cuối cùng là những tác động của hệ thống an sinh xã hội đến giáo dục, việc làm, tiền gửi tiết kiệm
Hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam có thể được coi là có hai nhóm thụ hưởng chính bao gồm: các hộ gia đình có thu nhập từ thấp đến trung bình nhận các khoản trợ cấp nhằm tiếp cận với các dịch vụ về y tế và một số các dịch vụ khác và nhóm thứ hai
là những đối tượng được thụ hưởng, các công chức trước thời kỳ đổi mới hoặc có công, các thương bệnh binh Bên cạnh đó, báo cáo cũng chỉ ra sự phân tầng trong việc thụ hưởng an sinh xã hội của người dân với gần 40% trợ cấp về an sinh xã hội rơi vào nhóm giàu nhất trong khi đó nhóm nghèo nhất chỉ nhận được 7%
Nếu như báo cáo của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc năm 2007 nhấn mạnh vào mức độ lũy tiến của nền an sinh xã hội tại Việt Nam thì báo cáo phát triển
Việt Nam năm 2008 với tựa đề là “ Bảo trợ xã hội” đã nêu bật lên được những vấn đề