Quan điểm hiện đại của Ngôn ngữ học tri nhận không chỉ xem ẩn dụ như một cấu trúc “so sánh ngầm” mà ẩn dụ còn được hiểu như một cách tri nhận thế giới thông qua cách biểu đạt của tư duy
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
TRẦN THỊ NGỌC GIANG
ẨN DỤ TRONG CA DAO VIỆT NAM
DƯỚI GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài………1
2 Lịch sử vấn đề………3
3 Phạm vi tư liệu và đối tượng nghiên cứu……… 6
4 Phương pháp nghiên cứu………6
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài……….….7
6 Kết cấu luận văn……….8
Phần nội dung Chương một Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống và quan điểm hiện đại 1.1 Ẩn dụ theo quan điểm Ngôn ngữ học truyền thống………… 11
1.1.1 Những lí thuyết cổ điển về ẩn dụ……….……11
1.1.2 Các lí thuyết về ẩn dụ trong Việt ngữ học……… ….13
1.1.3 Bản chất của kí hiệu ngôn ngữ-cơ sở của ẩn dụ…… ……15
1.2 Ẩn dụ theo quan điểm Ngôn ngữ học hiện đại và cơ chế ẩn dụ ý niệm trong thơ ca……… 19
1.2.1 Lí thuyết về ẩn dụ tri nhận……….……… 19
1.2.2 Thơ ca và cơ chế ẩn dụ ý niệm trong thơ ca………… … 31
1.2.3 Ẩn dụ trong ca dao-dân ca………39
Tiểu kết 42
Chương hai
Ẩn dụ tri nhận trong ca dao tình yêu
Trang 4dụ tình yêu trong ca dao 43
2.2 Tình yêu được ý niệm qua những cuộc hành trình … ……… …52
2.3 Tình yêu được ý niệm qua thực thể vật chất ……… ………59
2.4 Tình yêu là men say ……… … … … …63
2.5 Tình yêu được ý niệm qua quá trình lao động……… …65
2.6 Quy luật tình cảm là quy luật tự nhiên……… ….………… 69
Tiểu kết 73
Chương ba Ẩn dụ tri nhận về tình yêu trong thơ tình Xuân Diệu 3.1 Ý niệm cơ bản: trái tim là vật chứa cảm xúc tình yêu…… ….…74
3.2 Ý niệm “tình yêu là khu vườn tình ái”……….………… … … 80
3.3 Ý niệm ‘tình yêu là ngọn lửa thắp nên ánh sáng’ ………….… 90
Tiểu kết……… ……….… ………99
Kết luận……….……… ……… 100
Tài liệu tham khảo 102
Phụ lục 106
Trang 5ẨN DỤ TRONG CA DAO VIỆT NAM
DƯỚI GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN
A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa phổ biến của tất cả các ngôn ngữ Việc hiểu và nắm vững phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ góp phần làm giàu vốn ngôn ngữ, làm tiếng Việt thêm phong phú và đa dạng về ý nghĩa Công việc nghiên cứu ẩn dụ tiếng Việt sẽ đóng góp một phần không nhỏ cho lý luận
về từ vựng và phong cách, làm cơ sở giải thích cho những hiện tượng ngôn ngữ tưởng như không thể giải thích được
Ấn dụ tri nhận là một trong các bộ phận quan trọng của lý thuyết ngôn ngữ học, được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học rất quan tâm hiện nay Quan điểm hiện đại của Ngôn ngữ học tri nhận không chỉ xem ẩn dụ như một cấu trúc “so sánh ngầm” mà ẩn dụ còn được hiểu như một cách tri nhận thế giới thông qua cách biểu đạt của tư duy logic được định hình trong ý thức của mỗi cộng đồng ngôn ngữ nhất định Có thể thấy rằng trong cách nhìn của Ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ có vai trò vô cùng quan trọng trong ngôn ngữ đời thường và đặc biệt đó là một công cụ tri nhận mạnh mẽ để ý niệm hóa các phạm trù trừu tượng Trước đây Ngôn ngữ học truyền thống quan niệm ngôn ngữ là cánh cửa mở vào thế giới khách quan quanh ta thì hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của Ngôn ngữ học tri nhận, ngôn ngữ được xem là cánh cửa đi vào thế giới tinh thần, trí tuệ con người, cũng như là một phương tiện khám phá ra những bí mật của quá trình tư duy của con người
Trang 6Giữa tiếng nói của một dân tộc với nền văn hoá của dân tộc ấy luôn
có một mối quan hệ nhất định Vì ngôn ngữ trực tiếp phản ánh cách tri giác và
tư duy thế giới của cộng đồng dân tộc, mà văn hoá dân tộc không thể không liên quan đến cách tri giác và tư duy ấy
Không tác động trực tiếp vào cảm giác như nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật Ngữ văn dân gian tác động vào con người bằng những kí hiệu ngôn ngữ
Là một loại hình của Ngữ văn dân gian, ca dao thông qua những kí hiệu ngôn ngữ đã thể hiện phong phú và linh hoạt những hình tượng thẩm mĩ văn học, phản ánh mọi mặt của cuộc sống sinh hoạt, những suy tư và diễn biến tình cảm của con người Ca dao - dân ca Việt Nam là kho tàng tri thức dân gian phản ánh những phong tục tập quán, tâm tư nguyện vọng của con người tạo thành một cách nghĩ, cách cảm về cuộc sống thiên nhiên và con người Việt Nam Ngôn ngữ thơ ca nói chung và ca dao nói riêng với số lượng hữu hạn các đơn vị từ ngữ vẫn phải phản ánh mọi cung bậc tình cảm đa dạng của tư tưởng và sự phong phú nhiều mặt của các hoạt động trong đời sống con người Nói tới thơ ca người ta không thể không nhắc tới phương thức ẩn dụ
Để có thể hiện thực hoá khả năng này, thơ ca phải luôn sáng tạo những con đường riêng để khai thác triệt để tính đa trị của ngôn ngữ Một trong những con đường ấy chính là phương thức ẩn dụ Ngoài ra, ca dao là ngôn liệu lưu giữ về cuộc sống, về lối ứng xử mang đậm đặc trưng văn hoá của cả cộng đồng sử dụng ngôn ngữ
Nghiên cứu, tìm hiểu ẩn dụ trong ca dao tiếng Việt là một vấn đề đã được khảo sát nhiều, qua đề tài này tác giả muốn khẳng định lại những thành tựu của những công trình đi trước và đi sâu hơn về tiềm năng của phép ẩn dụ theo quan điểm của Ngôn ngữ học tri nhận Tuy vậy, luận văn chủ yếu khảo
Trang 7sát bộ phận ca dao về tình yêu nam nữ, vì theo khảo sát thì bộ phận ca dao về tình yêu chiếm số lượng rất lớn trong ca dao trữ tình
Max Black cho rằng ẩn dụ chỉ là một phép so sánh tỉnh lược Ông cho rằng ẩn dụ bao gồm hai chủ thể: chính và phụ
Ví dụ: Juliet is the sun
(Trong đó Juliet là principals – chính - và the sun là subsidiarys - phụ) Theo ông, ẩn dụ có được là nhờ sự tương tác giữa hai chủ thể, khi nó
“lựa chọn, tô đậm, thanh lọc, dàn xếp những nét đặc trưng của chủ thể chính thông qua việc hàm ngụ những nhận định thường được áp dụng vào chủ thể
Ông cho rằng: ngoài nghĩa gốc, một ẩn dụ có thể ẩn chứa một nội dung tri nhận xác thực (positive cognitive content) mà người ta không thể hiểu được một cách ngọn nguồn nếu chỉ dựa vào sự diễn giải ngữ nghĩa
1
Max Black, “Metaphor”, tr 25-47, model and Metaphor, Ithaca, Cornell
Trang 8Năm 1980, khi tác phẩm “Metaphor we live by” của G Lakoff và M Johnson xuất hiện, nó đồng nghĩa với việc một hướng tiếp cận mới về ẩn dụ cũng ra đời Theo hai ông: ẩn dụ không chỉ là một hiện tượng ngôn ngữ mà hơn thế nữa còn là một hiện tượng tư duy, hành động và cảm xúc của con người Đơn vị cơ sở của ẩn dụ tri nhận là ý niệm, được hiểu như kết quả của quá trình tri nhận gắn liền với ngôn ngữ và văn hóa dân tộc.Khác với ẩn dụ tu
từ và ẩn dụ từ vựng, ẩn dụ ý niệm (hay tri nhận), ngoài chức năng quy ước hóa và từ vựng hóa còn có chức năng ý niệm hóa, thể hiện cách tư duy, tri nhận về sự vật của người bản ngữ theo những phương thức nhất định
Tóm lại, từ thời Aristotle đến nay, việc nghiên cứu ẩn dụ có thể được chia thành hai giai đoạn chính : Giai đoạn tiền tri nhận và giai đoạn tri nhận
Giai đoạn tiền tri nhận : Các tác giả trong giai đoạn này thống nhất
với nhau ở một điểm chung cơ bản rằng ẩn dụ là một biện pháp ngôn ngữ học
Đó là các nhà triết học, tâm lý học, ngôn ngữ học như : Aristotle, L Wittgenstein, D Davidson, M Black…
Giai đoạn tri nhận : Các tác giả trong giai đoạn này xem ẩn dụ
không chỉ là biện pháp ngôn ngữ học, làm đẹp cho thi ca mà chủ yếu là cơ
chế của tư duy con người G.Lakoff và M Johnson cho rằng ẩn dụ thấm sâu
vào đời sống thường nhật của chúng ta, đồng thời thấm sâu không chỉ vào ngôn ngữ mà cả tư duy và hành động Trong giai đoạn này tiêu biểu có các
tác giả : G Lakoff, M Johnson, G Fauconnier, Ch Fillmore, R Langacker,
L Talmy…
Điểm khác biệt giữa hai giai đoạn trên là : Ngôn ngữ học tri nhận nói chung và ẩn dụ tri nhận nói riêng trong giai đoạn tri nhận nghiên cứu cách con người nhìn và nhận thức thế giới qua lăng kính ngôn ngữ và văn hóa dân tộc
Trang 9Với Ngôn ngữ học Việt Nam, vào những năm 90 khi Ngôn ngữ học tri nhận thế giới phát triển thì ở Việt Nam cũng có nhiều bài viết nghiên cứu
về tiếng Việt theo quan điểm mới, đặc biệt là các tác giả: Lý Toàn Thắng với
“ Ngôn ngữ học tri nhận từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt” (2004) Hữu Đạt với “ Cái mới trong Ngôn ngữ thơ Hồ Chí Minh dưới cách nhìn của lý thuyết ẩn dụ” (Tạp chí khoa học ĐHQGHN, KHXH và NV 24- 2008) Công trình “ Tìm hiểu đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy của người Việt” của tác giả Nguyễn Đức Tồn đã đi sâu nghiên cứu vấn đề
chuyển nghĩa theo hướng lý thuyết tâm lí - ngôn ngữ học tộc người
Đã có nhiều luận văn nghiên cứu về vấn đề ẩn dụ tiếng Việt dưới góc
(4) Nguyễn Thị Minh Thu, 2008, KHXH&NV, Những ẩn dụ trong các tác phẩm Nam Cao
(5) Lê Thị Ánh Hiền, 2009, KHXH&NV, Ẩn dụ trong thi pháp dưới góc nhìn của Lakoff và Turner
Trên tinh thần kế thừa và học tập những người đi trước, tác giả đã tổng hợp những tài liệu có liên quan về ẩn dụ theo quan điểm truyền thống đến những tài liệu viết theo quan điểm Ngôn ngữ học hiện đại, tác giả đi vào tìm hiểu một cách cẩn thận, có hệ thống về ẩn dụ trong ca dao Việt Nam dưới góc độ Ngôn ngữ học tri nhận (khảo sát ở bộ phận ca dao về tình yêu)
Trang 103 Phạm vi tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu:
Ca dao Việt Nam rất phong phú, chứa đựng một nền văn hóa đa dạng trong thống nhất của dân tộc Việt Trong phạm vi một luận văn, để khảo sát một cách hoàn thiện các bộ phận ca dao là không thể Trong luận văn, chúng tôi chỉ giới hạn ở bộ phận ca dao về tình yêu
Để thực hiện luận văn “ẩn dụ trong ca dao Việt Nam dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận”, tác giả trực tiếp khảo cứu những tài liệu có liên quan như:
(1) Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt (Cù Đình Tú)
(2) 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (Đinh Trọng Lạc)
(3) Ngôn ngữ học tri nhận: từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt (Lý Toàn Thắng)
(4) Metaphor we live by ( G.Lakoff và M Johnson)
(5) Toward a cognitive semantics ( Leonard Talmy)
(6) Kho tàng ca dao người Việt
(7) Journal of language and listening (Richard Bailey)
(8) The fall of the wall between literary studies and linguistics: cognitive poetics (Margaret H Freeman)
(9) Metaphor of love in Chinese comics (Dan Chang)
…
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình tiến hành đề tài, tác giả sẽ sử dụng một số phương pháp chính như sau:
Trang 11(1) Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Ẩn dụ không chỉ là vấn đề, hiện tượng ngôn ngữ mà hơn thế là một vấn đề của tư duy, cảm xúc con người Vì thế, ẩn dụ theo quan điểm Ngôn ngữ học tri nhận có mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố văn hóa, tâm lí con người, tâm lí dân tộc Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các thành tựu của các ngành khoa học khác như: Văn hóa học, tâm lí học…để tìm hiểu về ẩn
dụ một cách toàn diện nhất
(2) Phương pháp thống kê - miêu tả: Luận văn đặt vấn đề tìm hiểu ẩn dụ trong ca dao dưới quan điểm Ngôn ngữ học hiện đại nên tác giả có sử dụng phương pháp thống kê - miêu tả nhằm có được chứng cứ cụ thể, chính xác khi nghiên cứu ẩn dụ tri nhận trong những phân loại ca dao
về tình yêu
(3) Phương pháp so sánh: Như chúng ta biết, ngôn ngữ luôn trong quá trình biến đổi và phát triển, tư duy, ý niệm của con người về các sự vật - hiện tượng cũng không phải là bất biến, nên trong mỗi thời kì con người có những ý niệm không giống nhau về cùng một vấn đề Đặc biệt, tình yêu vốn là một vấn đề muôn đời của thơ ca Tác giả có sử dụng phương pháp so sánh để khảo sát ý niệm của người Việt về tình yêu có sự giống
và khác nhau như thế nào giữa ca dao về tình yêu và thơ ca hiện đại về tình yêu
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài
Thực hiện đề tài “Ẩn dụ trong ca dao Việt Nam dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận”, chúng tôi không tham vọng khảo sát và lí giải đầy đủ về ẩn
dụ tiếng Việt theo quan điểm hiện đại, mà chỉ hi vọng tìm hiểu một cách cẩn thận một số vấn đề về ẩn dụ tri nhận trong ca dao Việt, góp phần làm rõ một cái nhìn mới về ẩn dụ, bước đầu góp phần khẳng định tính đúng đắn về học
Trang 12thuyết tri nhận ẩn dụ: ẩn dụ không chỉ là phương thức tu từ trang sức cho thơ
ca mà nó là cơ chế để nhận thức, tư duy, ý niệm của con người
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương, tập trung vào các vấn đề sau:
Trong chương một, luận văn tập trung vào ba vấn đề chính sau: ẩn dụ theo quan điểm Ngôn ngữ học truyền thống, quan điểm truyền thống phân ẩn
dụ thành hai loại chính là ẩn dụ tu từ và ẩn dụ từ vựng, xem ẩn dụ không chỉ
là một biện pháp làm giàu từ vựng mà còn làm cho nghĩa của từ ngày càng đa dạng, tinh tế, làm cho ngôn ngữ văn chương thêm bóng bẩy Ngôn ngữ học hiện đại xem vị trí của ẩn dụ không ở trong ngôn ngữ mà ở trong cái cách chúng ta khái quát hóa một hiện tượng tinh thần này bằng một hiện tượng tinh thần khác Lý thuyết chung của ẩn dụ nằm trong những đặc điểm của sự xác lập khái quát có tính liên tưởng Ngoài ra chương một còn xem xét đặc điểm loại hình ngôn ngữ của ca dao - thơ ca dân gian là một loại hình nghệ thuật ngôn từ mang tính đặc trưng riêng biệt Ngôn ngữ thơ ca dân gian có nguồn gốc dân dã, thể hiện bản chất bình dị, chất phác, hồn nhiên của người nông dân lao động Đó cũng chính là đặc tính cơ bản của loại hình ngôn ngữ trong
ca dao Ẩn dụ trong ca dao cũng thế, nó thể hiện một cách sâu sắc suy nghĩ, tư duy của người bình dân về các sự vật-hiện tượng
Chương hai, là chương chính của luận văn Đề tài trong ca dao đa dạng và phong phú, ca dao về tình yêu, ca dao về tình yêu quê hương-đất nước, về tình mẫu tử, ngoài ra có ca dao hài hước Nhưng chủ yếu luận văn tập trung khảo sát bộ phận ca dao về tình yêu Chương này, tác giả chủ yếu tìm hiểu về ý niệm, cách tư duy của người Việt về tình yêu Tác giả sẽ đi sâu khảo sát từng bộ phận ca dao, xem những hình ảnh, biểu tượng ẩn dụ nào được lặp nhiều để tìm hiểu xem cách tri nhận của người bản ngữ về vấn đề đó
Trang 13như thế nào Theo như tác giả tìm hiểu thì ca dao về tình yêu chiếm một bộ phận khá lớn trong ca dao Việt Nam
Chương ba, tác giả sẽ tìm hiểu sự khác nhau trong cách tri nhận, tư duy của người Việt trong những giai đoạn khác nhau về vấn đề tình yêu (trong ca dao và thơ ca hiện đại về tình yêu - tác giả chỉ giới hạn ở thơ tình Xuân Diệu) Theo chúng ta biết thì ngôn ngữ luôn trong trạng thái biến đổi, phát triển và phần nào, nó cũng chi phối cách tư duy về sự vật - hiện tượng của con người Mặt khác ý niệm là một phạm trù lịch sử có khả năng biến đổi
do hoạt động tri nhận của con người thường xuyên biến đổi để lĩnh hội những kiến thức mới Chính sự khác biệt trong cách tư duy, trải nghiệm về tình yêu
ở trong những thời gian khác nhau đem lại cho chúng ta một cái nhìn thú vị
Trang 14Chương hai Ẩn dụ tri nhận trong ca dao tình yêu
Chương ba Ẩn dụ tri nhận về tình yêu trong thơ tình Xuân Diệu
Trang 15Khi phân tích các ẩn dụ như là hiện tượng của ngôn ngữ, người nghiên cứu muốn hiểu cấu trúc của các phát ngôn có tính chất ẩn dụ, những đặc trưng phân biệt với các phát ngôn có tính chất theo câu chữ Các nhà nghiên cứu quan tâm đến việc các ẩn dụ đã được dùng như thế nào trong giao tiếp để từ
đó trả lời câu hỏi tại sao người ta dùng ẩn dụ để giao tiếp và ẩn dụ đã tăng cường năng lực nhận thức, năng lực biểu cảm của ngôn ngữ như thế nào Theo Aristotle, nhà triết học Hy Lạp cổ đại, ẩn dụ là một cách thức làm mới ngôn ngữ, để tạo ra sự “lạ hóa”, khi được sử dụng thích hợp, có thể tác động dựa trên sự nhận thức để sản sinh ra nghĩa mới Do vậy, ẩn dụ sẽ làm giàu có thêm cho ngôn ngữ bằng cách cung cấp cho người đọc những cách diễn đạt mới mẻ và hấp dẫn Chính vì thế, quan điểm cho rằng ẩn dụ là một cách dùng trang trí của ngôn ngữ đã chế ngự trong cách lí giải các ẩn dụ một thời gian dài Theo Cicero, ẩn dụ lúc đầu xuất hiện là do sự hạn chế, nghèo nàn về từ
Trang 16vựng của một ngôn ngữ nào đó Theo Bachelard, tác dụng trang trí của ẩn dụ
là giúp cho con người biết những cách thức, phương tiện để quyến rũ lí trí I.A Richards (1936) cho rằng ẩn dụ không chỉ nằm trong các từ được dùng mà
nó nằm trong sự liên hệ giữa các ngữ cảnh do cả cơ sở, cả chủ đề và đối tượng
so sánh tạo nên
Sau đó, vào năm 1962, Max Black đã nhấn mạnh rằng ẩn dụ không phải là một từ cô lập Theo ông, ẩn dụ không phải là một từ mới, một cách gọi tên mới sự vật mà là một sự vị từ hóa mà ý nghĩa của nó được biểu đạt bằng cả một câu Ẩn dụ không phải gọi tên một thực thể, nó là một sự trình bày Quan điểm này đã đưa ẩn dụ vào trong phạm vi một diễn ngôn có ý nghĩa chứ không phải chỉ dừng lại ở một từ Max Black đã đưa ra lí thuyết tương tác về ẩn dụ (Interaction theory) trong đó nhấn mạnh chức năng nhận thức của ẩn dụ
Sau đó, Sehon và Reddy bắt đầu xem xét những ẩn dụ trong ngôn ngữ như đầu mối của tư duy con người và của sự ý niệm hóa, ông xem xét giao tiếp như “sự di chuyển” của thông tin qua “các đường kênh”, ý tưởng này là xuất phát điểm cho một lí thuyết tri nhận về ẩn dụ làm nảy sinh những thành tựu nghiên cứu mối liên kết giữa ẩn dụ và tư duy
Các học giả khi nghiên cứu về ẩn dụ thấy rằng ẩn dụ giúp ngôn ngữ thoát khỏi sựu tầm thường, đem sự mới lạ vào trong ngôn ngữ, gợi hình ảnh
và đem đến cho ngôn ngữ một chiều sâu
Trang 171.1.2 Các lí thuyết về ẩn dụ trong Việt ngữ học
Tác giả Hữu Đạt cho rằng “Ẩn dụ là kiểu so sánh không nói thẳng ra Người tiếp nhận văn bản khi tiếp cận với phép ẩn dụ phải dùng năng lực liên tưởng để qui chiếu giữa các yếu tố hiện diện trên văn bản với các sự vật hiện tượng tồn tại ngoài văn bản Như vậy thực chất của phép ẩn dụ chính là việc dùng tên gọi này để biểu hiện sự vật khác dựa trên cơ chế tư duy và ngôn ngữ
Nguyễn đức Tồn cho rằng “Ẩn dụ là phép thay thế tên gọi của các sự vật hiện tượng khác loại, khác phạm trù dựa trên cơ sở sự liên tưởng đồng nhất hóa chúng theo đặc điểm, thuộc tính nào đó có ở chúng”
Tiếp cận ẩn dụ ở góc độ ngôn ngữ là các công trình về Từ vựng học với
những tác giả như Đỗ Hữu Châu với “Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt” (1981), tác giả Nguyễn Thiện Giáp với “Từ vựng học tiếng Việt” (1998), tác giả Vũ
Đức Nghiệu…trong đó ẩn dụ được khảo sát như là một phương thức chuyển biến ý nghĩa của từ, phương thức chuyển nghĩa phổ biến của tất cả các ngôn ngữ Đặc biệt là các công trình nghiên cứu xem ẩn dụ là đối tượng của Phong
cách học của các tác giả như Đinh Trọng Lạc với “ Giáo trình Việt ngữ - tập III - tu từ học” (1964), ông xem ẩn dụ là một phương thức chuyển nghĩa, có tác dụng gợi hình, gợi cảm Tác giả Cù Đình Tú với công trình “phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt” (1983) nhận định ẩn dụ là “cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi biểu thị đối tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên cơ sở của mối liên tưởng về nét tương đồng giữa hai đối tượng”, ví dụ
Trang 18Biển mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu về đâu
(Xuân Quỳnh)
Hay là sự tương đồng về trạng thái:
Ngôi sao ấy lặn hóa bình minh
chức năng định danh của từ ẩn dụ, chia ẩn dụ thành 3 loại: ẩn dụ định danh,
ẩn dụ nhận thức và ẩn dụ hình tượng Trong đó tác giả cho là ẩn dụ định danh
và ẩn dụ nhận thức là loại ẩn dụ từ vựng, có hiệu quả tu từ nhỏ bé, còn ẩn dụ hình tượng mới đem lại hiệu quả tu từ cao, có khả năng đem lại sự cảm thụ sáng tạo cho người đọc, ví dụ như: tâm hồn giá lạnh, tuổi xuân mơn mởn, dòng sông hiền hòa…
Có thể thấy rằng trong Việt ngữ học, ẩn dụ được xem xét theo hai góc
độ Thứ nhất, ẩn dụ là một trong những phương thức chuyển nghĩa cơ bản của các đơn vị từ vựng Và các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học khi nghiên cứu ẩn
dụ tiếng Việt mới chỉ dừng lại việc khảo sát các đơn vị từ vựng - đó là từ Khảo sát ẩn dụ trong văn thơ, trong kho tàng ca dao người Việt ta thấy ẩn dụ
Trang 19hoạt động rất rộng rãi, có thể xuyên suốt cả một đoạn văn, nhiều đoạn, cả bài tạo nên tính liên kết, mạch lạc của chủ đề Thứ hai, ẩn dụ là một biện pháp tu
từ tạo nên nhiều biểu tượng trong nhận thức của con người Với tư cách là một biện pháp tư từ, ẩn dụ được khảo sát trong những ngữ cảnh cụ thể, gắn liền với văn bản
Ẩn dụ là nét độc đáo của ngôn ngữ tự nhiên Vai trò của ẩn dụ đặc biệt được chú ý khi phân tích các hình tượng trong ca dao trữ tình Nhiều tác giả như Xuân Kính, Hữu Đạt…đã đề cập đến vai trò của phương thức ẩn dụ trong việc xây dựng các hình tượng nghệ thuật Có thể nói, ca dao là môi trường lí tưởng để ẩn dụ phát huy tác dụng, nhờ biện pháp ẩn dụ mà những từ ngữ bình
dị mộc mạc trong lời ăn tiếng nói hàng ngày như thuyền, bến…trở thành những hình tượng nghệ thuật sinh động trong tâm thức người Việt
1.1.3 Bản chất của kí hiệu ngôn ngữ-cơ sở của ẩn dụ
Ẩn dụ là cơ chế thông qua đó chúng ta hiểu những khái niệm trừu tượng và thực hiện tư duy trừu tượng Con người hình thành nên cái nhìn của mình về thế giới, hoặc “bức tranh thế giới của mình”, không phải tự thân mà
thông qua ngôn ngữ “Ngôn ngữ đã góp phần quan trọng vào sự hình thành nên cách nhìn đặc biệt về thế giới Bức tranh Thế giới ấy khác với bức tranh tương tự đã được tạo ra trong ngôn ngữ khác” [14;tr89] “Bức tranh ngôn
ngữ về thế giới” không trùng nhau ở các dân tộc, nghĩa là mỗi dân tộc có “bức tranh” của riêng mình về thế giới hiện thực Ngôn ngữ học tri nhận phân biệt hai loại bức tranh về : Bức tranh Khoa học và bức tranh Ngôn ngữ “Bức
tranh Ngôn ngữ về thế giới” theo E S Iacoleva là “ một sơ đồ tri giác hiện thực được ghi lại trong ngôn ngữ và đặc trưng cho một ngôn ngữ nào đó”[14;tr92], do đó “Bức tranh ngôn ngữ về thế giới” cũng chính là sự biểu
hiện thế giới quan của một dân tộc được phác họa bằng chất liệu ngôn ngữ
Trang 20của dân tộc đó Do ngôn ngữ của một dân tộc luôn mang trong mình những đặc trưng văn hóa – dân tộc của người bản ngữ, nên bức tranh được vẽ tất yếu cũng phản ánh những đặc điểm thực tế của đời sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần của người bản ngữ Với quan điểm của Ngôn ngữ học tri nhận, đối tượng của “bức tranh Ngôn ngữ về thế giới” là ý niệm có cấu trúc theo kiểu trường gồm có phần trung tâm và ngoại vi, nằm ở trung tâm của cấu trúc ý niệm là khái niệm, nằm ở ngoại vi là những đặc trưng Văn hóa – dân tộc bao quanh khái niệm Bức tranh ngôn ngữ về thế giới của một dân tộc còn cho thấy đặc điểm tri giác/ tri nhận hiện thực khách quan gắn liền với đặc trưng tâm lí và sự liên tưởng cùng xuất hiện của dân tộc bản ngữ
Theo S Carơsepsky “cùng một kí hiệu có một số chức năng, cùng một ý nghĩa được biểu hiện bằng một số kí hiệu Bất kì một kí hiệu nào cũng đều có tiềm năng là từ đồng âm và đồng nghĩa một cách đồng thời” [14; tr374] Ông
gọi đó là “tính nhị nguyên bất đối xứng” của kí hiệu Tính nhị nguyên bất đối xứng đó của kí hiệu là một phần nguyên nhân của sự chuyển nghĩa ở các từ, còn sự chuyển nghĩa thuộc về một phạm vi rộng hơn - sự cải biến ngữ nghĩa
Theo V Gac sự chuyển biến ngữ nghĩa chính là “sự chuyển từ tên gọi có cấu trúc ngữ nghĩa này sang tên gọi có cấu trúc ngữ nghĩa khác”[14;tr375], đồng
thời cơ sở của sự cải tên cũng như cơ sở của các biến đổi ý nghĩa như mở rộng, thu hẹp, các dạng chuyển nghĩa khác nhau, là các quy luật logic-hình thức của tư duy, quan hệ giữa các khái niệm
Theo F D Saussure, mối liên hệ giữa âm và nghĩa (tức là cái biểu đạt- CBĐ và cái được biểu đạt-CĐBĐ) trong kí hiệu ngôn ngữ là mang tính võ đoán Đây là một đặc điểm vô cùng quan trọng của ngôn ngữ với tư cách là một hệ thống Chính nhờ đặc điểm kí hiệu ngôn ngữ có tính võ đoán nên con người biết lợi dụng những kí hiệu ngôn ngữ (những đơn vị có sẵn) làm đơn vị gốc để tạo ra những kí hiệu ngôn ngữ mới đáp ứng nhu cầu phản ánh thế giới
Trang 21khách quan đa dạng và sinh động Có hai con đường cơ bản như sau: Thứ nhất là con đường phát triển nghĩa của từ bằng cách chuyển nghĩa (dùng vỏ
âm thanh của những từ đã có sẵn để biểu thị một cái được biểu đạt mới) Vì thế mối quan hệ giữa CBĐ và CĐBĐ không còn là quan hệ một đối một nữa
Nó tạo ra hiện tượng đồng âm và đa nghĩa, đó là nguyên lí phi đối xứng Thứ hai là con đường tạo ra những từ ngữ mới trên cơ sở các đơn vị gốc đã có sẵn bằng cách vận dụng các cơ chế cấu tạo từ và các phương tiện có giá trị hình thái học quen thuộc của ngôn ngữ
Hai mặt CBĐ và CĐBĐ luôn gắn bó khăng khít với nhau:
Như vậy khi muốn tạo ra một ẩn dụ thì người ta phải thiết lập thêm một CĐBĐ mới dựa trên cơ sở mối quan hệ vừa nêu Khi đó, sơ đồ tín hiệu tham gia vào cơ chế ẩn dụ là:
Trang 22Dù là ẩn dụ tu từ hay ẩn dụ tri nhận thì cả người tạo lập văn bản hay người tiếp nhận văn bản đều phải dùng thao tác tư duy trừu tượng Ở đó, sự liên tưởng là đường dây nối kết vỏ vật chất âm thanh của ngôn ngữ với các sự vật-hiện tượng ở thế giới khách quan Và theo quan điểm truyền thống, ẩn dụ thường sử dụng phép chuyển nghĩa trên
Ví dụ:
- Hoa đến kì thì hoa phải nở
Đò đã đầy, đò phải sang sông
Đến duyên em, em phải lấy chồng
- Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chua ai vào
Tuy nhiên, lí thuyết ẩn dụ của ngôn ngữ học tri nhận đã mở ra cách tiếp cận hoàn toàn mới mẻ và hé lộ cho việc nghiên cứu ẩn dụ nói chung và thành ngữ nói riêng Theo cách hiểu truyền thống, thành ngữ (idiom) mang tính võ đoán nhưng theo cách hiểu của ngôn ngữ học tri nhận, thì hoàn toàn khác Chúng không hoàn toàn võ đoán mà là có nguyên do Đó là khi những khái niệm về tình cảm như tình yêu và sự giận dữ được biểu đạt qua rất nhiều ẩn
dụ cũng như rất nhiều trong số những khái niệm cơ bản thuộc các hệ thống ý niệm cũng được hiểu thông thường qua các khái niệm ẩn dụ như thời gian, chất lượng, tình trạng, sự thay đổi, hành động, nguyên nhân, mục đích, phương tiện, tình thái và thậm chí là các khái niệm về một phạm trù lớn
Ẩn dụ có thể coi là một cách so sánh, tuy nhiên nếu xét ẩn dụ và so sánh như hai biện pháp tu từ trong ngôn ngữ, thì ẩn dụ và so sánh có một sự
Trang 23khác biệt dễ nhận biết So sánh luôn có những từ so sánh như: như, tựa, giống như…còn ẩn dụ thì không Ví dụ khi nghe câu nói: đời tôi đã trải qua nhiều sóng gió, ta hiểu rằng sóng gió ở đây là những khó khăn, trắc trở, hay khi nói mối tình của chúng tôi gặp phải nhiều rào cản, thì rào cản không phải được hiểu là chướng ngại vật theo nghĩa đen Hay “cô ấy đang ngập đầu trong công việc” (she is drowing in work) => công việc như nước lũ Những suy nghĩ của
họ thật khó nuốt (their ideas are difficult to swallow), ở đây có thể hiểu là những suy nghĩ này khó để có thể hiểu được Ẩn dụ không đơn thuần là vấn
đề của ngôn ngữ, và ẩn dụ không chỉ giới hạn trong lĩnh vực văn chương Trong thực tế, chúng ta gặp ẩn dụ rất nhiều trong cuộc sống hàng ngày, đôi khi chúng ta đang dùng ẩn dụ và chúng ta không ý thức được điều đó
1.2 Ẩn dụ theo quan điểm Ngôn ngữ học hiện đại và cơ chế ẩn dụ ý
niệm trong thơ ca
1.2.1 Lí thuyết về ẩn dụ tri nhận
Trường phái mới Ngôn ngữ học tri nhận cho rằng tri nhận là quá trình
tổ chức các trải nghiệm về thế giới khách quan bằng các hoạt động tâm lí, ý niệm hóa, cấu trúc hóa chúng Do đó hoạt động tri nhận liên quan đến tất cả các quá trình tinh thần, nó tạo ra các biểu tượng, biểu trưng, vì biểu tượng biểu trưng của một vật là phương tiện quan trọng của sự hiểu biết Trung tâm của Ngôn ngữ học tri nhận là ngữ nghĩa mà ngữ nghĩa thì xuất phát từ quá
trình nhận thức sự vật, “Ngôn ngữ học tri nhận quan niệm chỉ có ngữ nghĩa mới mang tính tạo sinh, không phải hiện thực khách quan tuyệt đối mà kinh nghiệm và năng lực tri nhận của con người có tác dụng quan trọng trong việc giải thích ngữ nghĩa không tồn tại cái gọi là ý nghĩa độc lập, nằm ngoài tri
nhận của con người” [Theo Nguyễn Thiện Giáp]
Trang 24Thế kỉ XX, với sự phát triển của Ngôn ngữ học tri nhận, một lí thuyết
về Ngôn ngữ học mới về ẩn dụ mới bắt đầu xuất hiện, ẩn dụ không phải là vấn đề của ngôn ngữ mà là vấn đề của tư duy, còn gọi là ẩn dụ ý niệm Là một trường phái mới của Ngôn ngữ học hiện đại tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở kinh nghiệm và sự cảm thụ của con người về thế giới khách quan cũng như cách thức mà con người tri giác và ý niệm hóa các sự vật và sự tình của thế gới khách quan đó Ẩn dụ không phải là cách dùng ngôn từ đặc biệt
để trang sức như những mĩ từ, mà xa hơn ẩn dụ còn là phương thức của tư duy, sáng tạo và từ đây ẩn dụ tham gia vào quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ Không phải là người đầu tiên đặt ẩn dụ trong mối quan hệ với tư duy của con người nhưng cột mốc quan trọng trong sự phát triển của lí thuyết hiện đại của tri nhận luận về ẩn dụ là công trình “Metaphor we live by” của G
Lakoff va M Johnson Hai ông cho rằng “hệ thống ý niệm đời thường của chúng ta mà trong khuôn khổ của nó chúng ta suy nghĩ và hành động, về bản chất là ẩn dụ” Sự khái quát thể hiện thành cách diễn đạt ẩn dụ có tính thi ca
diễn ra không phải ở trong ngôn ngữ mà ở trong tư duy, nó là những liên tưởng khái quát vượt qua ranh giới khái niệm Từ công trình của G Lakoff và
M Johnson (1980) về ẩn dụ tri nhận thì có một sự tăng nhanh về mối hấp dẫn trong sự nghiên cứu ẩn dụ, cơ bản là trên lĩnh vực tâm lí và khoa học tri nhận Chúng ta nói về những vật (things), và về những con đường, những cách thức
mà chúng ta hình thành ý niệm về chúng, điều này được dựa trên cơ sở kinh nghiệm lẫn văn hóa, hệ thống ý niệm cơ bản của chúng ta cơ bản là những ẩn
dụ tự nhiên Trong những thuật ngữ mang tính thực tiễn, lí thuyết về tri nhận
và ngôn ngữ đã cung cấp hai mức độ của ẩn dụ: ẩn dụ tri nhận (cognitive metaphor) và ẩn dụ ngôn ngữ (linguistic metaphor) Bản đồ tri thức và ngữ nghĩa tri nhận đã thiết lập nên hình thức: Miền đích là/như miền nguồn (target domain is/as source domain) Lấy ví dụ như ẩn dụ ý niệm: Life is a journey
Trang 25(cuộc đời là một chuyến đi) thì Life là miền đích – target và journey là miền nguồn - source, từ đó hình thành nên những ẩn dụ ngôn ngữ phổ biến như: Chúng ta đang đi đúng/sai đường (we’re on the right (wrong) track (path)), chúng ta đã đi quá xa phía dưới con đường để có thể quay trở lại (we’ve come too far down this road to turn back now); Anh ta đang tìm kiếm một hướng đi khác (he’s looking for a change of direction) Và có rất nhiều cách diễn đạt phổ biến hàng ngày cũng như việc mở rộng sự diễn đạt phức tạp hơn trong ngôn ngữ thi ca
Với Lakoff và Johnson, ẩn dụ với bản chất cốt lõi của nó là “hiểu và trải nghiệm một dạng này trong thuật ngữ một cái khác” (understanding and
experiencing a kind of thing in term of another), nó là vấn đề thuộc về tư duy hơn là ngôn ngữ Theo quan điểm truyền thống, ngôn ngữ hình tượng đặc biệt
là trong văn chương, nó được xem là vật để tạo nên hiệu quả trang trí và theo nghĩa là trái ngược với nghĩa đen Quan điểm truyền thống xem rằng có sự khác biệt vô cùng tinh tế, mỏng manh giữa ẩn dụ và hoán dụ, còn ngôn ngữ học tri nhận cho rằng giữa chúng là sự khác biệt Trong khi phép ẩn dụ, theo những cách xác định và nhận thức của nó, nhằm đến mục đích là sự hiểu biết
và sự nhận thức, còn hoán dụ là một quá trình tri nhận phản ánh ý đồ diễn đạt của người nói trong đó chúng ta liên kết hai đối tượng lại với nhau theo kiểu cái này thay thế cho cái kia trong một ngữ cảnh phù hợp Tóm lại, có thể thấy rằng trong cách nhìn của Ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ có vai trò vô cùng quan trọng trong ngôn ngữ đời thường được sử dụng hàng ngày và đặc biệt nó
là một công cụ tri nhận mạnh mẽ để ý niệm hoá các phạm trù trừu tượng
Nếu trước đây ngôn ngữ học truyền thống quan niệm rằng ngôn ngữ
mở cánh cửa đi vào thế giới khách quan quanh ta thì nay, với sự xuất hiện và phát triển của ngôn ngữ học tri nhận, ngôn ngữ giờ được coi là cánh cửa bước
Trang 26vào thế giới tinh thần cũng như trí tuệ của con người cũng như là phương tiện nhằm khám phá ra những bí mật của quá trình tư duy mà trước đây bị coi là không thể thấu đạt được của con người
Ý nghĩa của ngôn ngữ không hạn chế trong nội bộ hệ thống ngôn ngữ
mà nó có nguồn gốc sâu xa từ kinh nghiệm được hình thành trong quá trình con người và thế giới tương tác với nhau Bởi thế, nhờ ngôn ngữ học tri nhận, người ta hiểu rõ hơn, nắm bắt rõ hơn về quá trình ẩn dụ, nhờ đó, hé
mở cánh cửa nhằm hiểu sâu sắc hơn các tầng bậc ngôn ngữ cũng như chính bản thân mình
Lakoff’s 1993 trong “The contemporary theory of metaphor” đã chỉ ra
lý thuyết về ẩn dụ tri nhận hoạt động như thế nào Ông phân biệt hai dạng thông thường cơ bản: những ẩn dụ ở cấp độ khái quát và những ẩn dụ ở mức
độ cụ thể Những ẩn dụ thông thường là những cái đã trở thành quen thuộc và
là một phần vô thức trong ý thức hàng ngày của chúng ta, cái mà chúng ta rất
ít để ý đến Ví dụ nhiều thì hướng lên, ít hơn thì hướng xuống (more is up/ less is down); vui thì hướng lên, buồn thì hướng xuống (happy is up/ sadness
is down) Những ẩn dụ ở cấp độ cụ thể (specific metaphor level) được thiết lập đầy đủ nhưng ít phổ biến hơn, nó cụ thể hơn ở phương diện văn hóa, lấy
đồ chiếu Tình yêu/ cuộc hành trình là một ví dụ, đó là ẩn dụ ở cấp độ cụ thể dựa trên ẩn dụ ý niệm cơ bản là “Những hoạt động lâu dài có tính mục đích là cuộc hành trình” Nguyên tắc bất biến “invariant principle” cho rằng cấu trúc giản đồ hình ảnh của miền nguồn phải phù hợp với cấu trúc cố hữu của miền đích Điều đó thể hiện tính cố định đến sự ánh xạ và đảm bảo tính chắc chắn Miền đích có quyền ưu tiên và giới hạn những hình thức diễn đạt ngôn ngữ để
có sự phù hợp tương ứng giữa hai miền ý niệm nguồn và đích Trong ẩn dụ ý niệm: hoạt động là sự chuyển di (actions are transfers), hoạt động được ý
Trang 27niệm như vật thể được di chuyển từ tác nhân này sang tác nhân khác, lấy một
ví dụ: I will give Lakoff a kick (tôi sẽ cho Lakoff một cú đá), miền nguồn cho phép chúng ta nghĩ rằng người nhận cú đá sau đó sẽ sở hữu nó Nhưng miền đích không để ý đến điều này vì chúng ta biết rằng hoạt động đó sẽ không tiếp tục sau khi nó xuất hiện Vì thế nói chung trong lời nói hàng ngày, “ẩn dụ” có thể cho ai đó hoặc vật gì đó một hành động vật lí nhưng không có hệ quả tất yếu là họ phải giữ nó
Một đặc điểm quan trọng khác là cấu trúc kế thừa có tính thứ bậc giữa các ẩn dụ Giữa những hình thức chung nhất trong suy nghĩ hàng ngày, lập luận và lời nói là những ẩn dụ cấu trúc sự kiện (event - structure metaphors): những phương diện, khía cạnh của sự kiện như trạng thái, sự thay đổi, quá trình, hành động, nguyên nhân, và mục đích được hiểu trong thuật ngữ không gian, chuyển động và sức mạnh Ví dụ như, một trạng thái được xem như là một vùng có giới hạn, chúng ta có thể sử dụng “in”, “out of”, “entering”,
“leaving” trong những cách nói sau đây: in hurry, out of patience, theo đó, chúng ta có một ý niệm mang tính phổ quát: trạng thái là nơi chốn (states are location) Trong tiếng Anh, giới từ thuộc về không gian được sử dụng một cách đa dạng trong những tri giác mang tính ẩn dụ Sự thừa kế mang tính hệ thống cấp bậc (inheritance hierarchy) cho rằng những ẩn dụ cấu trúc sự kiện
cơ bản (basic event - structure metaphor) làm nền trên cấu trúc cốt lõi của chúng để thiết lập nên những ẩn dụ cụ thể hơn ở cấp độ dưới Ví dụ: long-term purposeful activities are journey (generic level - event structure) (những hoạt động mang tính mục đích dài hạn là một cuộc hành trình) Theo đó ta có các ẩn dụ ở mức độ cụ thể (specific level): A purposeful life is a journey; Love is a journey; A career is a journey Một ví dụ khác: Ideas are food (ý tưởng là thức ăn) là một ẩn dụ mang tính khái quát, từ đó ta có những cách
Trang 28của tôi (what she said left a bad taste in my mouth); Tôi không thể nuốt nổi lời tuyên bố đó (I just can’t swallow that claim)
Lakoff cho rằng khá nhiều trải nghiệm của chúng ta được tạo thành theo phương thức ẩn dụ thông qua một số lượng hữu hạn các lược đồ hình ảnh Ví dụ như lược đồ hình ảnh về sự chứa đựng Lược đồ hình ảnh này được tạo ra bởi một vật chứa đựng có phía trong, phía ngoài và được xét theo không gian ba chiều Qua quá trình khảo sát, Lakoff đã phát hiện ra rằng lược đồ hình ảnh về sự chứa đựng được áp dụng theo phương thức ẩn
dụ với một số lượng lớn các phạm trù ý niệm phi không gian Chẳng hạn như trong phạm trù ngôn ngữ, tình cảm vốn có tính phi không gian nhưng được ý niệm hóa thành vật chứa đựng trong những từ và ngữ như “empty words”, “to be in love”
Ý niệm - đơn vị cơ bản của tính tinh thần, nó là kết quả của quá trình tri
nhận, là quá trình tạo ra các biểu hiện tinh thần (mental representation) Cấu trúc của biểu hiện tinh thần gồm ba thành tố: trí tuệ, cảm xúc và ý chí, cả ba
thành tố này đều được biểu hiện trong ngôn ngữ Như chúng ta đã biết, quá trình nhận thức trải qua hai giai đoạn: cảm tính (bao gồm cảm giác và tri giác)
và lí tính (bao gồm biểu tượng và khái niệm) Đơn vị nhỏ nhất của quá trình
nhận thức là khái niệm Trong khi đó quá trình tri nhận không chia giai đoạn
rạch ròi như thế Nó là quá trình tổng hợp những kết quả thu nhận được bắt đầu từ tri giác cảm tính thông qua năm giác quan của con người để rồi cuối
cùng tạo ra những ý niệm – đơn vị nhỏ nhất của quá trình tri nhận Ý niệm
được hình thành trong ý thức của con người Cấu trúc nội tại của nó bao gồm một mặt là nội dung thông tin về thế giới hiện thực và thế giới tưởng tượng, mang những nét phổ quát, mặt khác, bao gồm tất cả những gì làm cho nó trở thành sự kiện của văn hoá, nghĩa là nó chứa đựng những nét đặc trưng văn
Trang 29hoá-dân tộc Cơ sở của ý niệm là kinh nghiệm cảm tính trực tiếp mà con người thu nhận được thông qua quá trình tri giác thế giới bằng các cơ quan cảm giác, thông qua hoạt động tư duy và hoạt động giao tiếp dưới hình thức ngôn ngữ Ý niệm là một hình ảnh, nó có thể chuyển động từ một hình ảnh cảm tính sang một hình ảnh tư duy Ví dụ như trái tim lạnh lẽo, lời nói khô cứng, tấm lòng ấm áp…"Lửa" là một hiện tượng thiên nhiên cũng như những hiện tượng thiên nhiên khác: "nước", "sấm chớp", "mưa", "gió", "bão" v.v Song "lửa" phát ra hơi nóng (nhiệt độ), có thể làm cháy những sự vật xung quanh Lửa có thể phát ra ánh sáng Hình ảnh cảm tính đó của "lửa" có thể chuyển thành hình ảnh tư duy trong ý niệm "nhiệt tình": "ngọn lửa nhiệt tình",
"ngọn lửa tình yêu"
Biểu trưng hóa là một trong những phương pháp mà Ngôn ngữ học tri nhận rất quan tâm nghiên cứu Trong khi tiếp xúc với thế giới bên ngoài, con người bộc lộ những nhu cầu nhận thức của mình dưới dạng cảm nhận những
sự vật khách quan thông qua hình ảnh của chúng Biểu trưng là cách lấy một
sự vật, hiện tượng nào đó để biểu hiện có tính chất tượng trưng, ước lệ một cái gì đó mang tính trừu tượng Đó là hiện tượng khá phổ biến và quen thuộc đối với các dân tộc và phản ánh quan niệm “ngây thơ” Khi một sự vật – hiện tượng có giá trị biểu trưng thì nó sẽ gợi lên trong ý thức của người bản ngữ sự liên tưởng khá bền vững Mỗi dân tộc có cách biểu trưng riêng, chính
vì thế hiện tượng biểu trưng mang đậm đà bản sắc dân tộc Đối với người Việt, bụng hay “dạ” được coi là biểu trưng của thế giới nội tâm của con người nói chung
- Em chớ thấy anh lắm bạn mà ngờ
Bụng anh vẫn thẳng như tờ giấy phong
(ca dao)
Trang 30Có hai loại biểu trưng hóa: Biểu trưng hóa vật thể và biểu trưng hóa ngôn ngữ
Biểu trưng hóa vật thể là khi con người dùng một vật cụ thể để biểu trưng cho một sự cảm nhận, tình cảm hoặc thái độ đánh giá nào đó Ví dụ như hoa hồng tượng trưng cho tình yêu, con hổ tượng trưng cho sức mạnh…
Biểu trưng hóa ngôn ngữ là quá trình con người sử dụng từ ngữ của một ngôn ngữ cụ thể để biểu hiện nghĩa biểu trưng Những biểu thức ngôn ngữ chứa nghĩa biểu trưng thường là cái biểu hiện của những khái niệm trừu tượng, những sự vật không quan sát trực tiếp được Ví dụ như những biểu thức ngôn ngữ sau: “liễu yếu đào tơ”, “lá lành đùm lá rách”, “uống nước nhớ nguồn”…
Kết quả của biểu trưng hóa là những biểu tượng cụ thể, với ẩn dụ tri nhận, những nét nghĩa biểu trưng không bộc lộ ra ngoài, chúng là những nét nghĩa hàm ẩn Ngoài ra, một khái niệm quan trọng của ẩn dụ tri nhận chính là biểu tượng tinh thần (mental symbolization)
Biểu tượng tinh thần là một khái niệm chìa khóa của khoa học tri nhận liên quan đến quá trình biểu tượng thế giới trong đầu óc con người, đồng thời
nó liên quan đến việc đơn vị của biểu tượng đó tồn tại thay cho một sự hiện tượng gì đó trong thế giới hiện thực hoặc trong thế giới tưởng tượng của con người Vì vậy, biểu tượng tinh thần thay thế cho một sự vật-hiện tượng trong quá trình tư duy của con người
vật-Một trong những dạng thức phổ biến của chuyển nghĩa theo ẩn dụ là đánh đồng sự vật và con người (nhân cách hóa) VD: bụng bảo dạ, thuyền ơi
có nhớ…
Ta thấy người Việt thiên về kiểu tư duy liên hợp, cảm giác hành động-trực quan
Trang 31Hiện nay các nhà nghiên cứu cũng thừa nhận ẩn dụ cũng chính là phương thức của tư duy Ẩn dụ chính là phương thức tư duy của con người
Từ đó các nhà khoa học về ngôn ngữ đã xây dựng lí thuyết ẩn dụ khái niệm
để mô tả cách chúng ta hiểu các khái niệm trừu tượng khi được hiện thân hóa qua trải nghiệm cảm xúc của chúng ta
Bản chất của khái niệm ẩn dụ: Ẩn dụ là phép thay thế tên gọi hoặc chuyển đặc điểm, thuộc tính của sự vật-hiện tượng này sang sự vật - hiện tượng khác theo lối loại suy dựa trên cơ sở sự liên tưởng đồng nhất hóa
vậy, dựa vào bản chất của ẩn dụ có thể nghĩ rằng đặc trưng văn hóa - dân tộc của ẩn dụ có thể được biểu hiện ở chỗ mỗi dân tộc sẽ phát hiện ra nét đồng nhất khác nhau của các sự vật và đồng nhất hóa chúng hoặc để tạo ra các ý
nghĩa phái sinh khác nhau Chính vì thể theo Trần Văn Cơ “ẩn dụ gắn liền với đặc trưng văn hóa của người bản ngữ Sự lựa chọn ẩn dụ này khác và sự tách
ra những ẩn dụ chính trong tập hợp các ẩn dụ có thể thay đổi từ nền văn hóa
Lý thuyết hiện đại nghi ngờ quan điểm của ngôn ngữ học truyền thống, cái làm cơ sở cho ngữ nghĩa học hình thức Theo quan điểm truyền thống thì luôn tồn tại một sự khác biệt giữa ngôn ngữ nghĩa đen và ngôn ngữ nghĩa bóng, nó coi sự hoạt động và giải thích của ẩn dụ thuộc lĩnh vực ngữ dụng học, nơi mà
ý nghĩa ẩn dụ được xem là bắt nguồn từ ngôn ngữ nghĩa đen tùy theo sự áp
Trang 32dụng của những nguyên tắc cồng kềnh và sự chi phối của ngữ cảnh Ngôn ngữ học tri nhận bác bỏ quan điểm cho rằng ẩn dụ là riêng biệt và hiểu nó một cách khác biệt so với ngôn ngữ nghĩa đen và ngôn ngữ thông thường Theo sự phân loại của Lakoff và Johnson, ẩn dụ tri nhận được phân thành bốn loại cơ bản sau:
(1) Ẩn dụ cấu trúc
Nhóm ẩn dụ ý niệm cấu trúc được Lakoff và Johnson (1980) xem là là nhóm có số lượng nhiều nhất Ở loại ẩn dụ ý niệm này, những trải nghiệm phức tạp và trừu tượng được ý niệm hóa dựa trên những trải nghiệm đơn giản
và cụ thể
Ần dụ cấu trúc là loại ẩn dụ khi nghĩa (hoặc giá trị) của một từ (hay một biểu thức) này được hiểu (được đánh giá) thông qua cấu trúc của một từ (hoặc
biểu trưng hóa (vật thể và ngôn ngữ) và của sự liên tưởng
Trong nhóm ẩn dụ ý niệm này, hiện tượng “làm nổi” (highlighting) và
“che dấu” (hiding) trong miền ý niệm là một đặc điểm quan trọng Lấy ví dụ như ẩn dụ “tình yêu là cuộc hành trình”, các khía cạnh nổi bật của tình yêu có thể được đưa vào để tương ứng với những khía cạnh nổi bật của cuộc hành trình Mặc dù không phải tất cả các phương diện ý nghĩa của hai miền ý niệm trên có liên quan trực tiếp với nhau nhưng chúng vẫn có đủ những sự tương ứng để mối quan hệ đó có ý nghĩa Với cách hiểu chung nhất, ẩn dụ cấu trúc
là những ẩn dụ tri nhận khi mà một ý niệm này được cấu trúc hóa về mặt ẩn
dụ trong thuật ngữ của một ý niệm khác Nói cách khác, ẩn dụ ý niệm cấu trúc
là hiện tượng cấu trúc lại ở miền ý niệm đích về mặt nghĩa sau khi nhận được những tri thức mới do ý niệm ở miền nguồn ánh xạ lên
Trang 33Ví dụ: Cuộc đời là cõi tạm
Tình yêu là ánh sáng
Tình yêu là ngọn lửa
Tình yêu là cuộc hành trình
Cuộc đời là một chuyến đi
Cuộc đời là một dòng sông…
(2) Ẩn dụ ý niệm định hướng
Lakoff và Johnson (1980) gọi nhóm này là ẩn dụ định hướng vì chúng
có liên quan đến sự định hướng trong không gian của con người như: trên - dưới, trong - ngoài, trước - sau, nông - sâu, trung tâm - ngoại vi v.v Nguồn gốc của nhóm ẩn dụ này chính là cảm nhận của con người về không gian sống xung quanh như nhà nghiên cứu Trần Văn Cơ nhận xét:
“Chúng ta là những thực thể vật lí bị hạn chế trong một không gian nhất định
và tách biệt khỏi thế giới còn lại bởi bề mặt da của chúng ta; chúng ta tri giác thế giới còn lại như thế giới ở ngoài chúng ta Mỗi người chúng ta là cái chứa
đựng bị hạn chế bởi bề mặt của thân thể; cái chứa đựng này có khả năng định hướng kiểu “trong-ngoài” Khả năng định hướng này chúng ta tưởng tượng chuyển sang những đối tượng vật lí khác bị hạn chế bởi các bề mặt Đồng thời chúng ta cũng khảo sát chúng như những vật chứa có không gian bên trong và tách biệt khỏi thế giới bên ngoài.”
Một ví dụ thường được trích dẫn để minh họa nhóm ẩn dụ ý niệm định hướng là “hạnh phúc hướng lên, buồn bực hướng xuống” (happy is
up, sad is down)
(3) Ẩn dụ ý niệm bản thể
Trang 34Lakoff và Johnson (1980) cho rằng việc ý niệm hóa kinh nghiệm của chúng ta theo miền ý niệm chất liệu hay vật thể giúp cho con người có thể trích xuất kinh nghiệm, ý tưởng trừu tượng của mình ra và xem nó như là những vật thể hay chất liệu cụ thể Theo đó kinh nghiệm trong quá trình tương tác với các vật hay chất liệu cụ thể chính là nền tảng cho rất nhiều loại ẩn dụ ý niệm bản thể trong đó sự kiện, hoạt động, tình cảm, ý tưởng v.v được xem
là các bản thể
(4) Ẩn dụ ý niệm ống dẫn:
Theo phân tích của Reddy thì:
1 Ngôn ngữ hoạt động giống như ống dẫn Nó truyền tải tư tưởng từ người này sang người khác
2 Khi nói và viết, người ta “nhét” tư tưởng và tình cảm vào trong từ ngữ
3 Từ ngữ thực hiện quá trình truyền tải tư tưởng và tình cảm
4 Khi nghe hay đọc, người ta trích xuất tư tưởng và tình cảm ở từ ngữ
Reddy đã đưa ra nhiều ví dụ trong tiếng Anh để minh họa và cho rằng ẩn
dụ ống dẫn xuất hiện ở ít nhất là 70% các biểu thức diễn đạt ý tưởng, chẳng hạn như:
Don't force your meanings into [nhét ý nghĩa vào trong] the wrong words (Đừng diễn đạt ý tưởng của anh bằng những từ không đúng)
His words carry [mang] little meaning (Lời nói của anh ta chẳng có ý nghĩa gì)
Your words seem hollow [rỗng] (Lời nói của anh có vẻ trống rỗng)
Trang 35Các hình hệ ngôn ngữ học tiền tri nhận lấy ngôn ngữ làm đối tượng nghiên cứu, và xem “ngôn ngữ là đối tượng chân chính và duy nhất của ngôn ngữ học”, còn ngôn ngữ học tri nhận thì không, đối tượng của Ngôn ngữ học tri nhận nằm ngay trong bản thân tên gọi-đó là tri nhận thế giới bằng phương tiện ngôn ngữ Và trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ-tri nhận thì tri nhận là đối tượng, mục đích, còn ngôn ngữ là phương tiện hay công cụ của tri nhận, hơn nữa, chúng ta biết rằng ngôn ngữ chứa đựng trong nó những đặc trưng về văn hóa-dân tộc Nói cách khác, Ngôn ngữ học tri nhận nghiên cứu cách con người nhìn nhận thế giới thông qua lăng kính ngôn ngữ và văn hóa dân tộc Thế giới được tri nhận bao gồm thế giới thực tồn tại trong thực tế khách quan (thế giới có thể được quan sát và cảm nhận trục tiếp bằng năm giác quan) và thế giới của trí tưởng tượng Bởi lẽ bản thân con người cũng là biểu tượng của hai thế giới: thế giới thực- vật chất (thể xác) và thế giới trừu tượng-linh hồn
Ẩn dụ tri nhận đã mở ra một cách tiếp cận mở, một cách tiệp cận hoàn toàn mới đối với một vấn đề quen thuộc trong ngôn ngữ học
1.2.2 Thơ ca và cơ chế ẩn dụ ý niệm trong thơ ca
Trong bài “More than Cool Reason: A Field Guide to Poetic Metaphor” (1989), Lakoff and Turner nhấn mạnh: Không đơn thuần là vấn đề
của từ ngữ, ẩn dụ là vấn đề của suy nghĩ – tất cả mọi loại suy nghĩ “Far from being merely a matter of words, metaphor is a matter of thought - all kinds of thought…” Nó thiết yếu không chỉ với trí tưởng tượng mà còn đối với lí trí, lập luận của chúng ta Những thi sĩ vĩ đại có thể giao tiếp với chúng ta bởi vì
họ sử dụng cách thức suy nghĩ mà tất cả chúng ta sở hữu Ngôn ngữ thơ ca không phải là cái gì đặc biệt hay dành riêng cho các nhà thơ và những nhà văn hoàn hảo Thậm chí là một ví dụ điển hình có thể có sự trái nghịch là nó quá phổ biến trong ngôn ngữ mà chúng ta thường không để tâm, những ẩn dụ đó
Trang 36được gọi là những ẩn dụ chết “dead metaphors” Lý thuyết về ẩn dụ tri nhận cung cấp những cái nhìn sâu sắc hơn, những cách diễn đạt mang tính ẩn dụ sáng tạo trong ngôn ngữ có thể được truy nguyên trở lại từ một số lượng hạn chế những ẩn dụ ý niệm nằm ở bề sâu được hình thành bởi sự trải nghiệm và văn hóa, sự đồ chiếu của ẩn dụ đã tồn tại từ trước đó và đã cư trú trong hệ thống ý niệm Nhưng điều đó không có nghĩa là ẩn dụ thì không thay đổi hoặc rằng chúng ta không thể thay đổi chúng, một điểm thú vị về ẩn dụ trong cấu trúc ý niệm là chúng ta có thể giải thích chúng và xem xét những lựa chọn thay thế Eaglestone đưa ra luận điểm rằng một phần của thực hành tiếng Anh
“doing English” là sử dụng tiếng Anh không chỉ để tạo nên hiệu quả tu từ mà còn tạo ra những sự lựa chọn để đề ra những cách thức mới trong việc ý niệm hóa Thế giới
Lakoff và Turner đã phân chia những ẩn dụ mang tính mới lạ - những
ẩn dụ được tìm thấy trong thơ ca, văn chương, và những cách diễn đạt mới - thành hai loại: sự mở rộng của ẩn dụ thông thường và những ẩn dụ mang tính hình tượng, loại thứ hai thường xuất hiện trong thơ ca và rất trừu tượng Một
ẩn dụ hình tượng chiếu xạ một hình ảnh tinh thần từ một nguồn tri thức lên một hình ảnh tinh thần từ một nguồn khác Lấy một bài thơ mang tính trừu tượng và siêu thực của Andre Breton là “Free Union”:
My wife whose hair is brush fire
Whose thoughts are summer lightening
Whose waist is an hourglass”
(Vợ tôi người có mái tóc như ngọn lửa
Người có suy nghĩ như ánh sáng mùa hè
Vòng eo như chiếc đồng hồ cát)
Trang 37Những chi tiết về sự chiếu xạ bị khuyết trong ví dụ trên và người đọc cần phải tự mình điền vào đó Những đặc điểm của ngọn lửa cháy “brush fire” chúng ta có thể chiếu xạ lên mái tóc “hair” như màu sắc, có thể kiểm soát, tính chất không ổn định Tại sao mà dường như rất tự nhiên khi khắc họa những ý tưởng suy nghĩ trong thuật ngữ ánh sáng “lightening” Dòng thơ cuối cùng trong ví dụ trên cho ta thấy hình ảnh tinh thần của một chiếc đồng
hồ cát với vòng eo của người phụ nữ Chúng ta chiếu xạ hình ảnh phần giữa của chiếc đồng hồ cát lên chiếc vòng eo của người phụ nữ bởi vì chúng ta ý thức được chúng có một khuôn hình chung Nhưng điều này không thể hiện
rõ trong bản thân các từ, những ẩn dụ bắt nguồn từ hệ thống ý niệm của chúng ta và nó không phải là vấn đề của ngôn ngữ
Theo nghiên cứu của mình về ẩn dụ ý niệm trong thơ ca và văn chương, Lakoff và Turner giả thuyết sự tồn tại của một số lượng những ẩn dụ ở cấp độ khái quát (generic level metaphors) để giải thích cho một phạm vi các phương tiện văn chương Phép nhân hóa được tìm thấy rất đa dạng trong thơ
ca và văn xuôi Lấy ví dụ cái chết thường được nhân hóa trong thuật ngữ hành động được gây ra bởi một số tác nhân, điều này cho phép chúng ta giả thuyết một ẩn dụ mang tính khái quát: Event are actions (sự kiện là hành động) và nó kết hợp với những ẩn dụ mang tính cụ thể như “Chết là một cuộc khởi hành” (death is depature) hay “Con người là cây” (people are plants), và
vì thế nó giải thích sự tồn tại của những hình ảnh về những người lái xe (drivers), người đánh xe ngựa (coachmen), hay là thần chết (reapers) trong những sự nhân hóa phổ biến về cái chết Để hiểu một sự kiện trong thuật ngữ của những hành động thì chắc chắn phải có sự tương ứng “mô hình chung của hành động phải phù hợp với mô hình chung của sự kiện”
Trang 38Có thể nói ẩn dụ là một công cụ đắc dụng cho thơ ca, lấy một bài thơ rất nổi tiếng của Christina Rossetti (1830-1894) là bài uphill “Lên đồi”làm ví dụ:
Cuộc du hành suốt ngày dài Con đường đi ngược mãi đỉnh đồi -Phải đến bao giờ cuối
Cuộc du hành suốt ngày dài?
-Bạn đi mãi từ sáng đến tối
Nhưng trên ấy có chỗ nghỉ ngơi
Có mái nhà cho ai đang tới Nhưng đêm đen mù mịt, người ơi!
- Bạn đừng ngại, sẽ không lạc lối Tôi có gặp những người đã đi
Đi trước tôi đi trong đêm tối?
Tôi phải gọi cửa hay làm chi?
- Sẽ không để cho ai phải đợi
Ở trên ấy tối được nghỉ ngơi?
- Nghỉ hay không tùy người, đừng hỏi
Có chỗ cho tôi, cho mọi người?
-Có đủ chỗ cho ai đi tới
Trong bài thơ tìm thấy các biểu hiện của những phép ẩn dụ khái niệm sau đây:
Cuộc sống là một hành trình (life is a journey)
Cuộc đời là một ngày ( a lifetime is a day)
Trang 39Chết là ngủ ( death is sleep)/ Cái chết là bóng đêm (death
is night)
Chết là đi đến một điểm cuối cùng (death is going to a
final destination) Cái chết là sự ra đi (death is depature)
Theo Lakoff và Johnson, ẩn dụ ý niệm là phương thức của tư duy Thơ
ca mang tính cô đọng hàm súc nên ẩn dụ ý niệm đóng vai trò không thể thiếu đối với nó Để hiểu được ý nghĩa của một câu, một đoạn, một bài thơ, người đọc phải giải mã (encode) ẩn dụ ý niệm do nhà thơ lập mã (code) dựa trên ẩn
dụ ý niệm phổ quát (conventional metaphors)
Xét những ví dụ sau:
(1) Two roads diverged in a wood, and
I took the one less traveled by
( Robert Frost “The road not taken”)
Dịch: Hai đường rẽ lối trong rừng lạ
Tôi chọn đường hoang chưa có ai
(2) Đi đường mới biết gian lao
Núi cao rồi lại núi cao trập trùng
(Hồ Chí Minh)
Hai ẩn dụ trên chứa ý niệm về cuộc đời: Cuộc đời là một hành trình
Và mỗi ẩn dụ trên đề cập đến những khía cạnh khác nhau về cuộc đời Ví dụ (1) đề cập đến những sự lựa chọn trong cuộc sống và ở đây con người chọn cách làm khác với những người khác, nó được ví như một con đường mới chưa có người khám phá thay vì chọn một con đường mòn Trong ẩn dụ (3) lại đề cập đến những khó khăn trong cuộc sống tương ứng với những khó
Trang 40khăn trong một chuyến leo núi Điều kiện tạo ra ẩn dụ “Cuộc đời là một cuộc hành trình” không phải do các từ ngữ mà là sơ đồ ánh xạ chuyển tiếp giữa hai phạm trù ý niệm, phạm trù nguồn hành trình đến phạm trù đích là cuộc đời
Ý niệm đích được hiểu như là ý niệm nguồn
Cuộc đời là một cuộc hành trình
(trừu tượng) (ít trừu tượng)
Có thể thấy được ẩn dụ ý niệm trên trong những cách nói sau:
Con đường nó đi đầy chông gai
Ở cuối con đường này, nó cần được nghỉ ngơi
Vậy thì nguyên tắc nào chi phối việc sử dụng kiểu diễn đạt về hành trình để nói về cuộc đời? và nguyên tắc đó chi phối cách thức sử dụng các kiểu lập luận của chúng ta về hành trình để lập luận về cuộc đời không Nguyên tắc đó không nằm trong hệ thống từ vựng Các nhà ngôn ngữ học tri nhận đã chỉ ra nguyên tắc đó chính là hệ thống ý niệm nằm sâu bên dưới hệ thống ngôn ngữ Ẩn dụ trên đòi hỏi chúng ta phải hiểu ý niệm cuộc đời theo một miền ý niệm hoàn toàn khác là miền ý niệm về cuộc hành trình Theo Lakoff và Johnson (1980) thì ẩn dụ trên được hiểu là một chiếu xạ từ miền ý niệm nguồn sang miền ý niệm đích, và quá trình chiếu xạ được cấu trúc một cách chặt chẽ, có nghĩa là những thành tố trong miền ý niệm cuộc đời sẽ có mối liên hệ với các thành tố trong cuộc hành trình Chiếu xạ được hiểu là tập hợp các mối quan hệ tương ứng giữa hai miền ý niệm Khi ta nói “cuộc đời là một cuộc hành trình” thì ta đang nói về các mối quan hệ tương ứng giữa hai miền ý niệm đó Ẩn dụ trên được hiểu bằng cách liên hệ hiểu biết của chúng
ta về cuộc hành trình với hiểu biết của chúng ta về cuộc đời, nó được tạo thành từ các mối liên hệ chứ không phải từ các đơn vị từ vựng Theo Lakoff,
ẩn dụ không phải là vấn đề ngôn ngữ mà là vấn đề của tư duy và lập luận,