Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi về phát triển kinh tế, Bình Dương cũng phải đối mặt với những thách thức không nhỏ về các vấn đề chính trị - xã hội: lao động nhập cư ngày càng lớn, c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN HÙNG
TP HỒ CHÍ MINH - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi do Tiến sỹ Trần Hùng hướng dẫn Tất cả những số liệu, tài liệu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Nhà trường về những lời cam đoan này
TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 4 năm 2012
Người thực hiện
Trần Thị Tuyết Nhung
Trang 3NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
UBTVQH : Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 6
3.1 Mục đích 6
3.2 Nhiệm vụ 6
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7
4.1 Cơ sở lý luận 7
4.2 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Giới hạn của đề tài 7
6 Những đóng góp của luận văn 7
7 Kết cấu của luận văn 8
Chương 1: TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY 9
1.1 Quy chế dân chủ ở cơ sở và quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về thực hiện dân chủ ở cơ sở 9
1.1.1 Quy chế dân chủ ở cơ sở 9
1.1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ và thực hiện dân chủ ở cơ sở 17
1.2 Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương hiện nay 23
1.2.1 Những điều kiện cơ bản tác động đến quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Bình Dương 23 1.2.2 Thực hiện quy chế dân chủ là yêu cầu, động lực và sức mạnh của
Trang 5sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương hiện nay 30
Chương 2: QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH DƯƠNG TỪ NĂM 1998 -
2008 36 2.1 Giai đoạn 1998 - 2003 36
2.1.1 Tình hình Bình Dương trước năm 1998 36 2.1.2 Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong những năm 1998 - 2003 41 2.1.2.1 Chủ trương, biện pháp của Đảng bộ tỉnh 41 2.1.2.2 Đảng bộ tỉnh lãnh đạo triển khai thực hiện Quy chế dân chủ
ở cơ sở (1998 - 2003) 43
2.2 Giai đoạn 2003 - 2008 59
2.2.1 Chủ trương và biện pháp của Đảng bộ tỉnh 59 2.2.2 Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong những năm 2003 - 2008 62
2.3 Đánh giá chung về quá trình lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở
cơ sở của Đảng bộ tỉnh Bình Dương (1998 - 2008) 76
2.3.1 Thành tựu 76 2.3.2 Hạn chế 88
2.4 Một số kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở của Đảng bộ tỉnh Bình Dương giai đoạn (1998 - 2008) 94 Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG TRONG THỜI GIAN TỚI 98 3.1 Những vấn đề đặt ra cần giải quyết 98 3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
Trang 6trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong thời gian tới 100
3.2.1 Củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở 100 3.2.1.1 Củng cố, kiện toàn, tổ chức cơ sở Đảng xã, phường, thị trấn nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo các Đảng bộ cơ sở trong lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở 101 3.2.1.2 Nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền cơ sở 103 3.2.1.3 Phát huy vai trò của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân cơ
sở trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở 107 3.2.2 Nâng cao nhận thức của toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân cấp cơ sở về dân chủ ở cơ sở 109 3.2.3 Gắn thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở cơ sở và nâng cao trình độ dân trí 110 3.2.4 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, học tập, quán triệt các chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ
ở cơ sở 112 3.2.5 Tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc, tổng kết thực tiễn, trao đổi kinh nghiệm giữa các địa phương 114
KẾT LUẬN 117 PHỤ LỤC 129
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cơ sở (xã, phường, thị trấn) là nơi sinh sống, lao động sản xuất, công
tác,…của các tầng lớp nhân dân, là nơi Đảng bộ, chính quyền, công chức điều hành làm việc trực tiếp và tiếp xúc hàng ngày với dân, là nơi trực tiếp thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; đồng thời cũng là nơi các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước tác động trực tiếp đến đời sống của người dân Vì vậy, cấp cơ sở là nền tảng của xã hội, là nơi cần thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi
nhất Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng khẳng định: “Nước ta là
nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” [47, tr.515] Do đó, mở
rộng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đặc biệt là nhân dân ở cơ sở là một việc làm hết sức cần thiết và cấp bách hiện nay Đó vừa là mục tiêu, vừa
là động lực để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)
Nhận thức được vấn đề trên, nhằm phát huy đầy đủ, hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp đổi mới đất nước, ngày 18/02/1998, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa VIII)
đã ra Chỉ thị số 30 - CT/TW về “Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ
sở” Chỉ thị đã nhấn mạnh: “Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở” [3, tr.1] Một trong những nội dung
cốt lõi của Chỉ thị 30 - CT/TW là: phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong
cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”
Bình Dương là một tỉnh được tái lập và đi vào hoạt động theo đơn vị hành chính mới từ ngày 01/01/1997 Là một tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Với vị trí địa lý thuận lợi, nằm trên các trục giao thông quan trọng của Quốc gia, tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh -
Trang 8Trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước Do đó, Bình Dương có rất nhiều điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh tế, nhất là kinh tế công nghiệp
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi về phát triển kinh tế, Bình Dương cũng phải đối mặt với những thách thức không nhỏ về các vấn đề chính trị -
xã hội: lao động nhập cư ngày càng lớn, các tệ nạn xã hội phát sinh, quyền làm chủ của nhân dân ở một vài nơi vẫn chưa được thực hiện triệt để; các biểu hiện tiêu cực như quan liêu, hách dịch, cửa quyền,… vẫn còn tồn tại ở các xã, phường, thị trấn Tình hình đó đã làm nảy sinh hàng loạt các vấn đề xã hội, gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân và an ninh chính trị của địa phương Việc giải quyết những vấn đề trên là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng yếu của Đảng bộ và chính quyền từ tỉnh đến cơ sở
Quán triệt Chỉ thị 30 - CT/TW của Bộ Chính trị, Đảng bộ tỉnh Bình Dương đã lãnh đạo nhân dân thực hiện Quy chế dân chủ (QCDC) ở cơ sở Qua
10 năm thực hiện QCDC ở cơ sở (1998 - 2008), nhờ phát huy quyền làm chủ
của nhân dân với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đã
góp phần củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở, đời sống nhân dân được cải thiện, kinh tế - xã hội phát triển, quốc phòng an ninh được giữ vững Điều đó đã được khẳng định rõ nét trong Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình
Dương lần thứ IX vừa qua: “Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, đã tạo sự
đồng thuận trong xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ” [23, tr.66]
Bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được nêu trên, trong quá trình triển khai và thực hiện QCDC ở cơ sở, cũng bộc lộ những mặt hạn chế, khiếm khuyết: có những lúc, những nơi việc thực hiện QCDC chưa thật sâu rộng, một vài nơi còn mang tính hình thức, chưa thật sự tạo động lực mạnh
mẽ thúc đẩy các mặt kinh tế, văn hóa - xã hội và xây dựng hệ thống chính trị
ở cơ sở Vì vậy, việc thực hiện QCDC cơ sở ở Bình Dương cần được nghiên
Trang 9cứu và thực hiện triệt để hơn nữa, nhằm làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bình Dương, từ đó đề ra các biện pháp làm cho QCDC tạo được một không khí mới đối với toàn bộ hệ thống chính trị ở cơ sở theo hướng dân chủ, tích cực và hiệu quả hơn, góp phần làm chuyển biến một bước phương thức lãnh đạo của các cơ sở Đảng, chính quyền ở tỉnh Bình Dương; đồng thời còn tạo thêm động lực mới thúc đẩy việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng ở địa phương
đó mạnh dạn đề xuất những giải pháp góp phần thực hiện tốt hơn QCDC ở cơ
sở của tỉnh nhà trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề dân chủ ở cơ sở và thực hiện dân chủ ở cơ sở đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, cả trên bình diện lý luận và thực tiễn:
Cuốn sách của Ban Dân vận Trung ương, “Dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra” và vấn đề xây dựng Quy chế dân chủ ở cơ sở do Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia Hà Nội năm 1998, đã giới thiệu về những sơ sở lí luận và thực tiễn của phương châm nói trên, tình hình thực hiện phương châm đó những năm qua ở nhiều cơ sở xã, phường trong nước; những cơ sở khoa học
và thực tiễn của việc xây dựng QCDC ở cơ sở Đồng thời cuốn sách cũng giới thiệu một số báo cáo tổng kết thực hiện phương châm này ở các tỉnh, thành phố như Hải Phòng, Quảng Ninh, Quảng Trị, Thành phố Hồ Chí Minh Ngoài
ra, cuốn sách còn giới thiệu một số văn bản quan trọng của Đảng về việc
Trang 10hướng dẫn thực hiện QCDC ở cơ sở
Trong cuốn “Dân chủ và dân chủ cơ sở ở nông thôn trong tiến trình đổi
mới” của tác giả Hoàng Chí Bảo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà nội
năm 2007, đã nêu bật tầm quan trọng của dân chủ và dân chủ ở cơ sở, đặc biệt
là dân chủ ở nông thôn nước ta hiện nay, những hạn chế yếu kém trong quá
và vấn đề xây dựng chính quyền cấp xã hiện nay Đồng thời, tác giả cũng nói lên được ý nghĩa, những hạn chế, tồn tại của việc thực hiện QCDC ở cơ sở, từ
đó tác giả cũng đề xuất một số biện pháp nhằm tiếp tục phát huy dân chủ, đổi mới tổ chức, hoạt động của chính quyền cấp xã
Cuốn “Các đoàn thể nhân dân với việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở hiện nay” của tác giả Phan Xuân Sơn, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội năm
2003, đã đề cập đến quá trình hình thành, phát triển, nội dung, phương thức hoạt động của các đoàn thể nhân dân Đồng thời, nói lên được vai trò quan trọng của các đoàn thể nhân dân trong quá trình thực hiện QCDC ở cơ sở,… Ngoài ra còn rất nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học, các
đề tài đã được nghiệm thu, các luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ, về vấn đề
Điển hình là các bài viết của các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện QCDC ở cơ sở như: Đỗ
Mười (1998), "Phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở", Tạp chí Cộng
sản, (20), trang 3 - 8, Lê Khả Phiêu (1998), "Phát huy quyền làm chủ của
Trang 11nhân dân, xây dựng và thực hiện thiết chế dân chủ ở cơ sở", Tạp chí Cộng
sản, (3), trang 3 - 7, Tòng Thị Phóng (2004), “Khâu đột phá của quá trình
phát huy dân chủ ở nước ta trong thời kỳ mới”, Tạp chí Cộng sản, (21), trang
3 - 8, Nông Đức Mạnh (2004), “Đưa cuộc vận động thực hiện Quy chế dân
chủ ở cơ sở lên một bước mới rộng rãi hơn, hiệu qủa hơn, thiết thực hơn”,
Tạp chí Cộng sản, (20), trang 3 - 7, Phạm Gia Khiêm (2004), “Thực hiện Quy
chế dân chủ gắn với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở”, Tạp chí Cộng sản,
(9), trang 7 - 9
Ở Bình Dương, vấn đề thực hiện QCDC ở cơ sở cũng được nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm: năm 2005, Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ
tỉnh Bình Dương đã cho xuất bản cuốn “Các văn bản thực hiện Quy chế dân
chủ”, trong đó đề cập một cách chi tiết đến các Chỉ thị, Quyết định của Chính
phủ và của Tỉnh ủy Bình Dương về việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cả 3 loại hình: cơ quan, xã, phường, thị trấn và doanh nghiệp Nhà nước cho cán bộ công chức, đảng viên và nhân dân Năm 2008, Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế
dân chủ tỉnh Bình Dương tiếp tục cho xuất bản cuốn “Các văn bản liên quan
thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”
Với nhiều góc độ khác nhau, các bài viết, các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận, ý nghĩa thực tiễn
của việc thực hiện QCDC ở cơ sở, đồng thời cũng đưa ra các giải pháp để
thực hiện tốt QCDC ở cơ sở Tuy nhiên, chưa có một bài viết, nghiên cứu nào
đi sâu vào việc làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bình Dương trong việc lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở từ năm 1998 - 2008
Song, những công trình nghiên cứu, những bài viết dưới dạng báo, tạp
Trang 123 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt mục đích trên luận văn có những nhiệm vụ sau:
Một là, làm rõ nội dung, mục đích, vai trò, tầm quan trọng của QCDC ở
cơ sở Đồng thời trình bày các quan điểm, chủ trương của Đảng về dân chủ và thực hiện dân chủ, từ đó nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc thực hiện QCDC ở cơ sở đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương
Hai là, nêu bật vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bình Dương
trong việc lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở từ năm 1998 đến năm 2008
Ba là, đánh giá những thành tựu, hạn chế trong quá trình lãnh đạo thực
hiện QCDC ở cơ sở của Đảng bộ tỉnh Bình Dương và rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của Đảng bộ tỉnh
Bốn là, nêu lên một số vấn đề cấp bách có tác động tới việc thực hiện
QCDC cơ sở ở Bình Dương hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy dân chủ cơ sở ở Bình Dương trong thời gian tới
Trang 134 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận quan trọng là dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh Ngoài ra, tác giả còn dựa trên những tài liệu, văn bản, văn kiện của Đảng và Nhà nước, những chủ trương chính sách của Đảng
bộ tỉnh Bình Dương, các văn bản, Nghị quyết, báo cáo tổng kết của Ủy ban nhân dân, Ban Dân vận, Sở Nội vụ,… tỉnh Bình Dương về thực hiện QCDC ở
cơ sở
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp lịch sử và phương pháp logic là những phương pháp chính mà tác giả luận văn luôn vận dụng Ngoài ra, các phương pháp: phân tích tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, so sánh, thống kê, xã hội học,… cũng được tác giả vận dụng trong đề tài
5 Giới hạn của đề tài
Đề tài nghiên cứu quá trình thực hiện Quy chế dân chủ thuộc phạm vi cấp xã, phường, thị trấn của tỉnh Bình Dương từ năm 1998 - 2008
6 Những đóng góp của luận văn
Luận văn đã tiếp cận, lựa chọn, phân tích, tổng hợp một số tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau có liên quan đến vấn đề thực hiện QCDC cơ sở ở Bình Dương Việc nghiên cứu tương đối đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng và Đảng bộ tỉnh, việc phân tích những thành tựu và hạn chế trong quá trình thực hiện QCDC ở cơ sở của Đảng bộ và nhân dân tỉnh, sẽ làm nổi bật lên vai trò lãnh đạo của Đảng bộ trong việc bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân Đồng thời góp phần khẳng định việc ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở theo Chỉ thị số 30 - CT/TW ngày 18/2/1998 của Bộ Chính trị và các Nghị định của Chính phủ về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở vừa qua
Trang 14là một hướng đi đúng đắn
Qua việc phân tích, khảo sát tình hình thực tế ở địa phương, tác giả đưa
ra những giải pháp phù hợp với tình hình thực tiễn ở địa phương, góp phần đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở trong thời gian tới, nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng, sớm đưa Bình Dương trở thành một đô thị văn minh, hiện đại như kì vọng của Đại hội Đại biểu Tỉnh Đảng bộ lần thứ IX vừa qua
Luận văn góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hoạch định và thực hiện chính sách về dân chủ cơ sở ở Bình Dương Vì vậy, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở và những ai quan tâm đến vấn đề dân chủ cơ sở ở Bình Dương
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương và 8 tiết
Trang 15Chương 1:
TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ
Ở CƠ SỞ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
TỈNH BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY
1.1 Quy chế dân chủ ở cơ sở và quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về thực hiện dân chủ ở cơ sở
1.1.1 Quy chế dân chủ ở cơ sở
Nhận thức được việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân không chỉ là mục tiêu, bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà còn là nhân tố quan trọng để giữ vững sự ổn định chính trị và là động lực để phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước Để đưa Chỉ thị 30 - CT/TW vào cuộc sống, Chính phủ đã
ban hành một số Nghị định để pháp lý hóa như Nghị định 29/1998/NĐ - CP
về “Ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã”, Nghị định 71/1998/NĐ - CP
về dân chủ trong hoạt động của cơ quan, Nghị định 07/1998/ NĐ - CP về dân chủ trong doanh nghiệp nhà nước Ngày 07/7/2003, Chính phủ ban hành Nghị
định 79/2003/NĐ - CP về “Ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã”, kèm
theo Quy chế thực hiện dân chủ ở xã thay thế cho Nghị định 29/1998/NĐ -
CP Ngày 20/4/2007, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) khóa XI đã
thông qua Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (Pháp lệnh 34)
Đây là những văn bản quan trọng do Đảng, Nhà nước ban hành Những Chỉ thị, Nghị định trên đã tạo ra bước đột phá trong đời sống chính trị - xã hội, được cán bộ, đảng viên hoan nghênh ủng hộ và nhanh chóng được triển khai trong cơ sở Như vậy, vấn đề xây dựng và thực hiện dân chủ ở cơ sở được Đảng và Chính phủ rất quan tâm và đã được xây dựng, hoàn thiện liên tục trong gần 10 năm qua
Nội dung của QCDC ở cơ sở rất phong phú, bao gồm những việc cần
Trang 16thông báo để nhân dân biết, những việc nhân dân bàn và quyết định trực tiếp; những việc nhân dân bàn, tham gia ý kiến, Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) xã quyết định; những việc nhân dân giám sát, kiểm tra
và trách nhiệm xây dựng cộng đồng dân cư thôn, làng, ấp, bản
Quy chế thực hiện dân chủ ở xã do Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 29/1998/NĐ - CP ngày 11/5/1998 (đến tháng 7/2003 là Nghị định số 79/2003/NĐ - CP) Quy chế gồm lời nói đầu, 7 chương, 25 điều và điều khoản thi hành
* Nội dung của Quy chế dân chủ ở cơ sở :
Quy chế dân chủ ở cơ sở quy định cụ thể các loại công việc để: dân biết,
dân bàn, dân giám sát, dân kiểm tra Trong lời nói đầu Quy chế đã nêu rõ: “Quy
chế này chỉ quy định những việc chính quyền địa phương phải thông tin và công khai để dân biết, những việc dân bàn và quyết định trực tiếp, những việc dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan nhà nước quyết định; những việc dân giám sát, kiểm tra và các hình thức thực hiện Quy chế dân chủ” [16, tr.1]
Về nội dung cần thông báo để nhân dân biết: Quy chế quy định nghĩa vụ
của chính quyền phải có trách nhiệm thông tin kịp thời và công khai cho người dân, bao gồm 14 điểm sau:
1 Chính sách, pháp luật của Nhà nước
2 Các quy định của Nhà nước và chính quyền địa phương về thủ tục hành chính giải quyết các công việc liên quan đến dân
3 Kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội dài hạn và hàng năm của xã
4 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai
5 Các nghị quyết của HĐND, quyết định của UBND xã và của cấp trên liên quan đến địa phương
6 Dự toán và quyết toán ngân sách xã hàng năm
7 Dự toán và quyết toán thu, chi các quỹ, dự án, các khoản huy động
Trang 17đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng của xã, thôn làng, ấp, bản và kết quả thực hiện
8 Các chương trình dự án do Nhà nước, các tổ chức và cá nhân đầu tư, tài trợ trực tiếp cho xã
9 Chủ trương, kế hoạch vay vốn phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo
10 Điều chỉnh địa giới hành chính xã và các đơn vị hành chính liên quan đến xã
11 Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ xã, thôn, làng, ấp, bản
12 Công tác văn hóa, xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội của xã
13 Sơ kết, tổng kết hoạt động của HĐND, UBND xã
14 Những việc khác mà chính quyền thấy cần thiết và nhân dân yêu cầu được thông báo
Về những việc nhân dân bàn và quyết định trực tiếp: Quy chế quy định
nhân dân được bàn và quyết định trực tiếp những công việc chủ yếu sau:
1 Chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng
2 Lập thu, chi các loại quỹ trong khuôn khổ pháp luật
3 Xây dựng hương ước, quy ước làng văn hóa, nếp sống văn minh, giữ gìn an ninh trật tự, bài trừ các hủ tục, mê tín dị đoan, các tệ nạn xã hội
4 Các công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư thôn, làng, ấp, bản, phù hợp với pháp luật của Nhà nước
5 Thành lập ban giám sát công trình xây dựng do nhân nhân đóng góp
6 Tổ chức bảo vệ sản xuất, kinh doanh
Những việc dân bàn, tham gia ý kiến, HĐND, UBND xã quyết định gồm có:
1 Dự thảo quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội dài hạn, hàng
Trang 18năm của xã, phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất và phương án phát triển ngành nghề, giải quyết việc làm cho người lao động
2 Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai ở địa phương và việc quản lý sử dụng có hiệu quả quỹ đất công ích ở địa phương
3 Dự thảo quy hoạch khu dân cư và đề án định canh, định cư, vùng kinh
tế mới Kế hoạch, dự án huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng do xã quản lý
4 Dự thảo đề án phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính xã, đề án chia, tách, thành lập thôn, làng, ấp, bản
5 Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình quốc gia về y tế, nước sạch, vệ sinh môi trường
6 Chủ trương, phương án đền bù giải phóng mặt bằng
7 Giới thiệu người ứng cử đại biểu HĐND xã
8 Những việc khác HĐND, UBND thấy cần thiết
Những việc nhân dân giám sát, kiểm tra gồm có:
1 Hoạt động của HĐND và UBND xã
2 Kết quả thực hiện Nghị quyết của HĐND và quyết định của UBND xã
3 Hoạt động của đại biểu HĐND xã, của cán bộ UBND và cán bộ, công chức Nhà nước hoạt động tại địa phương
4 Giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân
5 Dự toán và quyết toán ngân sách xã
6 Kết quả nghiệm thu và quyết toán công trình do nhân dân đóng góp xây dựng và các chương trình dự án do Nhà nước, các tổ chức và cá nhân đầu tư tài trợ trực tiếp cho xã
7 Quản lý và sử dụng đất đai
8 Thu, chi các loại quỹ và lệ phí theo quy định của Nhà nước, các khoản đóng góp của nhân dân
Trang 199 Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng liên quan đến cán bộ xã
10 Việc thực hiện chế độ chính sách ưu đãi, chăm sóc, giúp đỡ thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, những người và gia đình có công với nước, chính sách bảo hiểm xã hội, cứu tế xã hội
Ngoài ra, Quy chế còn đề cập đến việc xây dựng cộng đồng dân cư thôn, làng, ấp, bản (Chương VI) Quy định các hình thức hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư, việc tổ chức hội nghị nhân dân thôn (điều 14); nhiệm vụ và quyền hạn của trưởng thôn (điều 15); việc xây dựng hương ước, quy ước về công việc thuộc nội bộ cộng đồng dân cư (điều 16); việc thành lập các ban hòa giải, ban an ninh , tổ bảo vệ sản xuất, kiến thiết (điều 17)
Từ những nội dung cụ thể và thiết thực của QCDC cho thấy, QCDC ở cơ sở
ra đời đã đáp ứng những đòi hỏi bức xúc của nhân dân Vì vậy, đây là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân Thực hiện tốt QCDC ở cơ sở là nhân tố quan trọng để nâng cao nhận thức, thái độ chính trị và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chính quyền và chế độ XHCN Đó cũng chính là mục tiêu, động lực bảo đảm cho sự thắng lợi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH)
* Mục đích của Quy chế dân chủ ở cơ sở
Mục đích của việc thực hiện QCDC ở cơ sở được nêu rõ trong Điều 1
Chương I của Quy chế: “Nhằm phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của
nhân dân ở xã, động viên sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn của nông dân
và nhân dân trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội, tăng cường đoàn kết nông thôn, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng Đảng bộ, chính quyền và đoàn thể ở xã trong sạch, vững mạnh, ngăn chặn và khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, tham nhũng, góp phần vào sự nghiệp dân gàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng
xã hội chủ nghĩa” [16, tr.1]
Trang 20Như vậy, mục đích đó thống nhất với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Để thực hiện được mục đích đó, trong quá trình triển khai QCDC ở cơ sở, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa VIII đã chỉ đạo phải thực hiện tốt các yêu cầu sau:
Thứ nhất, đặt việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trong cơ
chế tổng thể của hệ thống chính trị “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân
dân làm chủ” Coi trọng cả ba mặt này, không được nhấn mạnh hay hạ thấp
mặt nào
Thứ hai, phát huy tốt chế độ dân chủ đại diện, nâng cao chất lượng và
hiệu quả hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, HĐND và UBND các cấp; đồng thời thực hiện tốt chế độ dân chủ trực tiếp ở cấp cơ sở để nhân dân trực tiếp tham gia bàn bạc và quyết định những công việc quan trọng, thiết thực gắn liền với lợi ích của họ
Thứ ba, phát huy dân chủ phải gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội,
nâng cao dân trí, tạo điều kiện mở rộng dân chủ có chất lượng và hiệu quả
Thứ tư, nội dung của các Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở phải hợp
hiến, hợp pháp thể hiện tinh thần dân chủ đi đôi với trật tự, kỷ cương, quyền hạn gắn liền với trách nhiệm, lợi ích đi đôi với nghĩa vụ; chống tham nhũng, quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, đồng thời chống tình trạng vô chính phủ, lợi dụng dân chủ vi phạm pháp luật
Thứ năm, gắn quá trình xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở với công
tác cải cách hành chính, hoàn thiện hệ thống chính trị
* Vai trò, tầm quan trọng của Quy chế dân chủ ở cơ sở
Từ những nội dung và mục đích nêu trên của QCDC ở cơ sở cho thấy, QCDC ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy dân chủ ở cơ sở
và là động lực to lớn để đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Vì vậy, thực hiện QCDC ở cơ
Trang 21sở là việc làm mang tính chiến lược, căn bản và lâu dài
Có thể nói, QCDC ở cơ sở ra đời là một đòi hỏi tất yếu của quá trình thực hiện dân chủ ở nước ta Lần đầu tiên định hướng chính trị về dân chủ, phương
châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã được cụ thể hóa trong
văn bản quy phạm pháp luật Vì thế, QCDC ở cơ sở có vai trò rất to lớn :
Một là, QCDC ở cơ sở ra đời đã đáp ứng đòi hỏi tất yếu, cấp bách của quá trình thực hiện dân chủ cơ sở
Việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở là cách thiết thực nhất, là nền tảng cho nhân dân lao động được thực sự làm chủ trên mọi lĩnh vực cuộc sống QCDC đã cụ thể hóa quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở với những quy định cụ thể về những việc dân được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra, người dân được thực hiện quyền dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện của mình, đã góp phần đảm bảo quyền lực chính trị của nhân dân Người dân đã
có được những quyền và lợi ích nhất định trong cơ cấu xã hội Có thể nói, lần
đầu tiên trong thực tiễn chính trị nước ta, phương châm “Dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra” không còn là những câu khẩu hiệu, mà trở thành hiện
thực bởi có cơ chế đảm bảo thực hiện Chính vì thế khi QCDC ở cơ sở được triển khai thực hiện, nhận được sự đồng tình, hưởng ứng của đông đảo nhân dân
Hai là, QCDC ở cơ sở ra đời góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở
QCDC ở cơ sở ra đời không chỉ mang lại cách giải quyết về cơ bản và triệt để đối với việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, mà còn góp phần to lớn vào việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền và đông đảo quần chúng nhân dân Thực hiện QCDC ở cơ sở góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở, có tác động tích cực tới công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc
Trang 22(MTTQ) và các đoàn thể, tạo chuyển biến tích cực về ý thức và phong cách làm việc của cán bộ theo hướng gần dân, tôn trọng dân và có trách nhiệm với
dân hơn Đồng thời góp phần tăng cường đoàn kết, xây dựng Đảng bộ, chính
quyền và các đoàn thể ở cơ sở trong sạch, vững mạnh
QCDC ở cơ sở với những quy định rõ ràng các việc cần thông báo cho dân biết, những việc dân được bàn, những việc dân được giám sát, kiểm tra, tài chính được công khai, minh bạch đã góp phần rất lớn trong việc hạn chế các biểu hiện tha hóa của các cán bộ, đảng viên trong bộ máy quyền lực Nhà nước; ngăn chặn và khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng của một số cán bộ, đảng viên và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn
minh theo định hướng XHCN Vì vậy, việc ban hành QCDC ở cơ sở là một
yêu cầu vừa có tính cấp bách vừa mang tính chiến lược, đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới đặt ra
Ba là, QCDC ở cơ sở ra đời góp phần phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
Những nội dung, điều khoản toàn diện, cụ thể, mang tính pháp lý của quy chế là phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở, đặc biệt phù hợp với lòng dân hiện nay
Khi được biết, được bàn, được làm và được kiểm tra, người dân sẽ có trách nhiệm hơn với cộng đồng, xã hội; họ sẵn sàng đóng góp tiền của, công sức để xây dựng các công trình phục vụ thiết thực cho cuộc sống như: trường học, cầu cống, các con đường liên khu, ấp, Góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp
Thực hiện QCDC ở cơ sở còn tạo ra sự chuyển biến rõ rệt trong đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, phát huy lực lượng của nhân dân thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng, góp phần
Trang 23làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội, xây dựng môi trường văn hóa, xây dựng nếp sống văn minh, bài trừ hủ tục, tệ nạn xã hội và mê tín dị đoan, tạo
nền tảng vững chắc và ổn định tình hình cơ sở
Vì vậy, thực hiện nghiêm túc, nền nếp QCDC ở cơ sở sẽ có tác động tích cực đến nhiều phương diện của đời sống xã hội ở cơ sở, làm chuyển biến tư tưởng, tổ chức xã hội, sinh hoạt chính trị, kinh tế - xã hội theo hướng dân chủ hóa, hình thành chế độ dân chủ ở cơ sở
Như vậy, có thể khẳng định, QCDC ở cơ sở là một bước đột phá quan trọng trong việc hiện thực hóa bản chất dân chủ của chế độ ta Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề thực hiện QCDC ở cơ sở phải đặt thành nhiệm vụ quan trọng và cấp bách Bởi lẽ, thực hiện QCDC ở cơ sở cũng chính là từng bước thực hiện mục tiêu và con đường XHCN ở Việt Nam
1.1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ
và thực hiện dân chủ ở cơ sở
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên quan điểm của Người về một nước dân chủ là:
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân
Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân [47, tr.618]
Người đã nhận thấy nguồn sức mạnh vô cùng to lớn của nhân dân
“Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [48, tr 276]
Thấm nhuần Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta
Trang 24luôn đề cao dân chủ và không ngừng phát huy dân chủ trong suốt quá trình
lãnh đạo cách mạng Việt Nam Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã lãnh đạo
nhân dân đấu tranh thực hiện Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Dân tộc
và dân chủ là hai mục tiêu luôn gắn bó chặt chẽ với nhau từ buổi đầu sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ ngày
có Đảng lãnh đạo cho thấy, nguồn gốc mọi thắng lợi là sức mạnh của nhân dân Trong suốt chặng đường dài của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng
và Nhà nước ta luôn coi trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân nên
đã tạo ra được sức mạnh vô địch đánh thắng mọi kẻ thù, giành lại độc lập cho
tổ quốc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân Sau cách mạng dân tộc dân chủ thành công, Đảng ta lãnh đạo đất nước chuyển sang giai đoạn cách mạng mới
- Cách mạng XHCN Làm cách mạng XHCN chính là giải phóng xã hội, giải phóng con người, phát huy quyền làm chủ của nhân dân một cách rộng rãi, hiệu quả và toàn diện hơn, tiến tới xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, đem lại cuộc sống tự do, hạnh phúc và những giá trị cao cả, tiến bộ cho con
người Đây là mục tiêu xuyên suốt, nhất quán cả trong lý luận và chỉ đạo thực
tiễn của Đảng và Nhà nước ta
Trong công cuộc xây dựng đất nước, trong toàn bộ hoạt động của mình,
Đảng ta luôn quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng - Đại hội đổi mới chỉ rõ: “Trong toàn bộ
hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây
dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động” [32, tr.549]
Đây chính là những tư tưởng trọng yếu, làm cơ sở lý luận và thực tiễn để thực hiện dân chủ và phát huy dân chủ trong quá trình đổi mới đất nước
Cùng với quan điểm “lấy dân làm gốc” và phương châm: “Dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra”, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng
đã tạo ra một động lực, một luồng sinh khí, một phong trào cách mạng mới
Trang 25cho đất nước Nhưng dân chủ luôn luôn biến đổi cùng với sự biến đổi của đời sống kinh tế - xã hội Dân chủ hóa đời sống xã hội càng đạt được thành tựu to lớn, thì trình độ nhận thức và thực hành dân chủ của nhân dân càng được nâng cao Do đó, nhu cầu về dân chủ của người dân cũng được nâng lên một tầm cao mới Vì thế, mở rộng và phát huy dân chủ trong đời sống xã hội là một đòi hỏi tất yếu của đời sống, là một việc làm hết sức cần thiết
Trong thời kì đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân xây dựng đất nước Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng phát huy quyền làm chủ của nhân dân Quyền làm chủ của nhân dân được phát huy là điều kiện cơ bản, làm cho mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ ngày càng thêm gắn bó
Phát triển tư tưởng về dân chủ, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên
CNXH với nội dung: “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị
nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân Dân chủ gắn liền với công bằng xã hội, phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua hoạt động
của Nhà nước do dân cử ra và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp” [26,
một trong những đặc trưng cơ bản của CNXH Xây dựng nền dân chủ XHCN
là một mục tiêu lớn, một nội dung quan trọng của công cuộc xây dựng XHCN
ở nước ta Xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân cũng là thực hiện được nền dân chủ XHCN, một nền dân chủ có trình độ cao hơn chế độ tư sản cả về pháp lý và trong thực tế
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, Đảng ta khẳng
định: “Xây dựng nền dân chủ XHCN là một nội dung cơ bản của đổi mới hệ
Trang 26thống chính trị ở nước ta Phải có cơ chế và cách làm cụ thể để thực hiện phương châm:“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước” [28, tr.44] Tư tưởng quan
trọng này chính là cơ sở của Chỉ thị số 30 - CT/TW, ngày 18/02/1998 về
“Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”
Việc ban hành Chỉ thị số 30 - CT/TW ngày 18/02/1998 về “Xây dựng và
thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở” của Bộ Chính trị, được xem là sự kiện
nổi bật trong quá trình Đảng lãnh đạo phát huy dân chủ trong thời kì đổi mới của Đảng ta Đây vừa là kết quả tất yếu của quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện dân chủ, vừa là bước đột phá quyết định để phát huy dân chủ ở cơ sở Chỉ thị
chỉ rõ: “Mở rộng dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là
mục tiêu, đồng thời là động lực bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng, của công cuộc đổi mới” [3, 1]
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, với khẩu hiệu “Trí tuệ,
dân chủ, đoàn kết và đổi mới” Tại Đại hội này, dân chủ đã được đặt trong
những mục tiêu của con đường đi lên CNXH ở nước ta, đó là: “Độc lập dân
tộc gắn liền với CNXH, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [29, tr.22] Nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, trong những
năm đổi mới vừa qua, Đảng ta đã ban hành nhiều chính sách đổi mới về kinh
tế, chính trị, xã hội, “Đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước,
phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế” [29, tr.48] Cùng với việc đề ra
phương hướng, chiến lược phát triển đất nước một cách toàn diện và lâu dài,
tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Đảng ta nhấn mạnh: “Xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân, gắn với việc phát huy dân chủ trong đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở tất cả các cấp, các ngành [29, tr.124].Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, đã xác định rất rõ bản chất của Nhà
Trang 27nước ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh:“Nhà nước là đại diện quyền làm chủ của
nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối chính trị của Đảng Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều phản ánh lợi ích của đại đa số nhân dân” [31, tr.44]
Trải qua các kỳ đại hội, đến Đại hội XI Đảng ta tiếp tục khẳng định các
quan điểm về xây dựng “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo” [33, tr.70] Đây
là một bước đột phá rất lớn trên con đường nhận thức về Nhà nước pháp quyền ở nước ta
Về phát huy dân chủ XHCN, Đại hội XI tiếp tục khẳng định: “Xây dựng
và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm dân chủ được thực
hiện trong thực tế cuộc sống, ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực” [33, tr.85]
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (2011 - 2020), Đảng ta đã
xác định một trong 5 quan điểm phát triển đó là: “Mở rộng dân chủ, phát huy
tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển” [33, tr.30] Đồng thời, Đảng ta cũng khẳng định:
“Dân chủ XHCN là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực
của sự phát triển đất nước” [33, tr.84 - 85]
Như vậy, qua 25 năm đổi mới, Đảng ta đã có những phát triển mới, quan
trọng trong nhận thức về dân chủ Đảng ta đã quán triệt sâu sắc và hoàn thiện hơn mục tiêu XHCN, quan niệm về dân chủ được mở rộng, với việc đưa “dân
chủ” - một mục tiêu của XHCN thành “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh” [33, tr.70] Điều đó cho thấy, những mục tiêu này đều có
mối quan hệ gắn bó với nhau: dân có giàu thì nước mới mạnh, có dân chủ thì mới có công bằng xã hội
Như vậy, nội dung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân luôn là nội dung quan trọng và nhất quán trong toàn bộ đường lối cách mạng
Trang 28của Đảng ta từ trước tới nay và được phát triển, nâng cao thêm qua các giai đoạn cách mạng, các Nghị quyết Đại hội VI, VII, VIII, IX, X, XI của Đảng Quyền làm chủ của nhân dân đã được phát huy thêm một bước; cùng với đổi mới về kinh tế, mở rộng dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là một trong những thành tựu nổi bật của công cuộc đổi mới những năm
của nhân dân là mục tiêu cao cả, đồng thời là động lực to lớn của cách mạng
Một trong những thách thức của nước ta hiện nay đó là, các thế lực thù
địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta [33, tr.29] Ngoài ra, “quyền làm chủ của nhân dân vẫn bị vi
phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực; tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu dân vẫn diễn ra phổ biến và nghiêm trọng mà chúng ta chưa ngăn ngặn được Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chưa được cụ thể hóa và thể chế hóa thành pháp luật, cho nên chậm đi vào cuộc sống” [3, tr.1] Vì vậy, việc mở rộng dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội lại càng trở nên cấp bách hơn Trong đó, thực hiện dân chủ ở cơ sở nói chung, ở xã, phường, thị trấn nói riêng là vấn đề hết sức quan trọng; có ý nghĩa vừa cấp bách, vừa lâu dài Đó là mục tiêu và là động lực để nhân dân ta vượt qua khó khăn, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược trong tình hình mới, đồng thời thể hiện bản chất
tốt đẹp của chế độ ta Việc Đảng ta ban hành Chỉ thị 30 - CT/TW về “Xây
dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở” và chỉ đạo thực hiện QCDC ở cơ
sở là một trong những biện pháp cụ thể, tích cực, đảm bảo quyền dân chủ của nhân dân, đã phát huy tác dụng tốt, có tác động tích cực trong đời sống xã hội
Trang 291.2 Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương hiện nay
1.2.1 Những điều kiện cơ bản tác động đến quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, nằm hoàn toàn trong nội địa, không giáp biển và cũng không có đường biên giới giáp với các nước
Bình Dương giáp tỉnh Bình Phước, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Nam
và Tây Nam giáp với Thành phố Hồ Chí Minh và phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh
Nằm ở vị trí trung tâm của Đông Nam bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, trên địa bàn tỉnh Bình Dương hiện có nhiều tuyến đường giao thông huyết mạch của Quốc gia đi qua Đó là quốc lộ 1A, 13, 14, 1K, đường sắt Bắc - Nam và tuyến đường xuyên Á Ngoài ra, còn có hệ thống các đường tỉnh lộ và đường xương cá nối trung tâm các huyện, thị với các điểm dân cư trong tỉnh với nhau
Vị trí địa lý và điều kiện giao thông là lợi thế lớn để cho Bình Dương phát triển kinh tế - xã hội về mọi mặt, đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) và góp phần quan trọng trong việc củng cố, giữ vững an ninh - quốc phòng ở vùng Đông Nam bộ nói riêng và cả nước nói chung Đồng thời, những đặc điểm trên cũng đã tạo ra những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội cơ bản có tác động đến quá trình thực hiện QCDC ở cơ
sở của Bình Dương
* Về kinh tế
Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong 10 năm (1998 - 2008) phát
Trang 30triển nhanh, toàn diện với tốc độ tương đối cao, nhất là trên lĩnh vực công
nghiệp Sản xuất công nghiệp là hoạt động kinh tế chính của Bình Dương Đây cũng là lĩnh vực thu hút nhiều lực lượng lao động của tỉnh và lao động nhập cư
Sau khi tách tỉnh, cơ cấu ngành kinh tế của Bình Dương là Công nghiệp -
Dịch vụ - Nông lâm nghiệp, tỷ trọng tương ứng: 43,7% - 29% - 27,3 Đến
năm 2008, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng
công nghiệp và dịch vụ, với tỷ trọng tương ứng: Công nghiệp (52%) - Dịch vụ
(27%) - Nông lâm nghiệp (21%) [58, tr.1] Tổng sản phẩm trong tỉnh tăng
10,2% Trong đó, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 12,5 %; nông lâm nghiệp tăng 5,2%; dịch vụ tăng 11% (so với năm 2007) [7, tr.1] Tổng thu ngân sách tăng 6%, thu nhập bình quân đầu người tăng 10,5%, giảm 36% hộ nghèo, không còn hộ đói [58, tr.1]
Ngoài ra, Bình Dương là một tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch Nơi đây được đánh giá là vùng đất trù phú, thiên nhiên đa dạng với nhiều địa danh đậm nét của vùng Đông Nam bộ Vườn trái cây Lái Thiêu là một trong những địa danh xanh có từ hàng trăm năm nay, với tổng diện tích hơn 1.200 ha cây trái xum xuê Các di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc như Nhà tù Phú Lợi, Địa đạo Tây Nam Bến Cát, chùa núi Châu Thới (Dĩ An), chùa Hội
Khánh, chùa Bà, khu du lịch Lạc cảnh Đại Nam văn hiến (Thị xã Thủ Dầu
Một),… Ngoài ra, còn có làng nghề truyền thống sơn mài Tương Bình Hiệp,
làng gốm sứ Hưng Định, Thuận Giao, Bình Hòa,… Đó là những tài sản vô giá, tiền đề để phát triển du lịch của tỉnh
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế trong thời gian qua, đời sống nhân dân Bình Dương ngày càng được cải thiện, nhân dân phấn khởi và tin tưởng vào
sự lãnh đạo của Đảng Đặc biệt, sự tăng trưởng kinh tế đã có những tác động
tích cực tới việc mở rộng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trước hết
Trang 31là nhân dân ở cơ sở Đó là tiền đề, điều kiện vật chất quan trọng, quyết định
chất lượng việc thực hiện QCDC ở cơ sở “Nền kinh tế vững chắc là điều kiện
đảm bảo thực hiện dân chủ có chất lượng và hiệu quả, nhân dân không thể thực sự có dân chủ, khi còn nghèo đói, thiếu thốn, ốm đau không có điều kiện chữa chạy, không được học hành Làm chủ trước hết là làm chủ đời sống của chính mình và sự phồn vinh của cộng đồng Điều đó chỉ có được khi biết chăm lo đến nền kinh tế phát triển vững chắc - yếu tố đảm bảo đích thực và bền vững cho dân chủ” [51, tr.42]
* Về văn hóa xã hội
Sau 10 năm tái lập tỉnh, lĩnh vực văn hóa xã hội, đã tạo được nhiều thành
tựu nổi bật :
Giáo dục và Đào tạo:
Sau ngày tái lập tỉnh, với phương châm “Phát triển sự nghiệp giáo dục
là mục tiêu hàng đầu, là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” [87, tr.367]
Sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo của tỉnh trong những năm qua có nhiều chuyển biến tích cực: đến 2008, tỉnh Bình Dương đã hình thành hệ thống các trường mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông ở mỗi xã, phường, thị trấn Mạng lưới trường lớp, các ngành học đã được phát triển rộng khắp ở tất cả các xã, phường, thị trấn trong tỉnh, kể cả vùng sâu, vùng xa, đáp ứng nhu cầu giáo dục trên từng địa bàn Nhìn chung, Ngành Giáo dục & Đào tạo của Bình Dương đã đạt được những kết quả to lớn và có bước phát triển mới trên nhiều mặt Bình Dương là một trong số các tỉnh hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở sớm nhất cả nước
Y tế:
Chăm sóc và cải thiện sức khỏe cộng đồng, được xác định là một trong
những mục tiêu quan trọng trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Bình Dương Đến năm 2008, toàn tỉnh có 11 bệnh viện, 08 phòng khám đa
Trang 32khoa khu vực và 89 trạm y tế xã, phường với 2.227 giường bệnh [18, tr.217] 100% các xã, phường, thị trấn đều có trạm y tế với các trang thiết bị bảo đảm
cho việc cấp cứu, khám bệnh, điều trị Bình Dương cũng đã thực hiện xã hội
hóa hoạt động y tế ở trình độ cao Đồng thời, tỉnh cũng coi trọng công tác đào tạo cả về chuyên môn và quản lý nhằm đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cộng đồng
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ và chính quyền tỉnh đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách mới, sáng tạo, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương Bình Dương luôn chú trọng đẩy mạnh cuộc vận động đền
ơn đáp nghĩa, chăm sóc phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng Các phong trào xóa đói giảm nghèo, giúp nhau làm kinh tế gia đình, giúp đỡ người neo đơn tàn tật, chăm sóc trẻ mồ côi, hỗ trợ đồng bào thiên tai lũ lụt, phát động phong trào thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, xây dựng xã, phường, thị trấn lành mạnh, không có tệ nạn xã hội, giữ gìn trật tự tại địa phương,… được tiến hành thường xuyên với phương thức mới, với kết quả và chất lượng cao hơn Đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện rõ rệt, Những việc làm trên đã tạo được mối quan hệ gần gũi, gắn bó mật thiết giữa MTTQ, các đoàn thể với các tầng lớp nhân dân Đây cũng là một yếu tố quan trọng, góp phần tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân tham gia thực hiện tốt QCDC ở cơ sở
Nhìn chung, trong những năm qua Bình Dương đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực: kinh tế liên tục tăng trưởng khá, văn hóa - xã hội phát triển, quốc phòng - an ninh cơ bản được giữ vững
Với tinh thần đoàn kết, trí tuệ, năng động, các lĩnh vực kinh tế, văn hóa,
xã hội đều có những bước chuyển biến tích cực, đời sống nhân nhân được cải thiện đáng kể Đó là những cơ sở rất thuận lợi để nhân dân Bình Dương thực hiện QCDC ở cơ sở một cách có hiệu quả, tiến hành công cuộc đổi mới một cách toàn diện
Trang 33* Về hệ thống chính trị - xã hội
Bình Dương là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, diện
đó có 64,5% là nhân khẩu thường trú Cơ cấu hành chính có 6 huyện và 01 thị
xã, 89 xã, phường, thị trấn, trong đó có 72 xã, 8 phường, 9 thị trấn, 547 khu phố, ấp [18]
Nhận thức được hệ thống chính trị vững mạnh là cơ sở quan trọng đảm bảo thực hiện tốt việc phát huy dân chủ trong Đảng bộ Cùng với việc tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, Tỉnh ủy cũng đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc chăm lo xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, xem đây là nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng trong tình hình mới Vì vậy, hệ thống chính trị cấp cơ sở ở Bình Dương trong thời gian qua đang tiếp tục được củng cố, hoàn thiện nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân và thực hiện QCDC ở cơ sở một cách thực sự
Đến nay, chất lượng chính trị ở các xã, phường, thị trấn đã có nhiều chuyển biến tích cực và toàn diện, hoạt động ngày càng được đổi mới, phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương Tổ chức bộ máy cơ quan Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể xã, phường, thị trấn nhanh chóng được kiện toàn đủ về số lượng, hoạt động hiệu quả, khắc phục sự trì trệ, yếu kém trước đây Công tác tổ chức, xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ có bước phát triển đáng kể và đạt được một số kết quả bước đầu
Cấp ủy Đảng của các xã, phường, thị trấn nhận thức đúng đắn về vai trò,
vị trí hạt nhân lãnh đạo chính trị tại cơ sở; năng lực lãnh đạo, điều hành qua từng năm được nâng lên, vai trò cá nhân người đứng đầu được thể hiện rõ nét Chính quyền các xã, phường, thị trấn có nhiều đổi mới trong hoạt động, đem lại hiệu quả thiết thực
Công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao
Trang 34chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được Tỉnh ủy quan tâm thường xuyên
Đặc biệt, chương trình “Xây dựng hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn
vững mạnh và nâng cao năng lực hoạt động của đội ngũ cán bộ” được chỉ
đạo quyết liệt và đạt được nhiều hiệu quả Trình độ đội ngũ cán bộ ở xã, phường, thị trấn cũng được nâng lên một bước: sau khi tái lập tỉnh có 78,3%
có trình độ trung học phổ thông; 30,7% có trình độ cao đẳng, đại học; 56,2%
có trình độ trung cấp chính trị trở lên Đến năm 2000, đã có 83,5% tốt nghiệp trung học phổ thông; 33,7 % tốt nghiệp cao đẳng, đại học; 60,1% có trình độ
lý luận chính trị trung, cao cấp; trong đó cao cấp, cử nhân chiếm 20,6% [24, tr.537] Qua nhiều năm thực hiện công tác đào tạo cán bộ, việc chuẩn hóa cán
bộ có chuyển biến tốt, trình độ cán bộ ngày càng được nâng lên Đến năm
2008, trình độ cán bộ công chức xã, phường, thị trấn có trình độ từ trung cấp trở lên là 1.093/3.364, chiếm 32,49% [67, tr.5]
Đảng bộ tỉnh đặc biệt chú trọng việc phát huy dân chủ trong sinh hoạt Đảng, tự phê bình, phê bình, tăng cường đoàn kết nội bộ, nâng cao chất lượng sinh hoạt ở từng chi bộ Công tác đánh giá, phân loại, khen thưởng những cơ
sở Đảng, đảng viên hàng năm được đảm bảo chặt chẽ, đúng quy định và hướng dẫn của Trung ương, trong đó chú trọng về chất lượng Hệ thống tổ
chức cơ sở Đảng tăng về số lượng, đảm bảo về chất lượng
Công tác phát triển Đảng cũng được các cơ sở tăng cường chỉ đạo thực hiện, đảm bảo theo yêu cầu, nội dung, phương châm, phương hướng của cấp trên, đảm bảo được chất lượng, số lượng đảng viên hàng năm đều đạt và vượt chỉ tiêu đề ra Số đảng viên được kết nạp tăng liên tục qua các năm: năm 2002
có 479 đảng viên được kết nạp, năm 2003 có 540, năm 2004 có 516, năm
2005 có 618, năm 2006 có 783 đảng viên được kết nạp [67, tr.6] Đến năm
2008, toàn tỉnh đã kết nạp được 1.558 đảng viên [70, tr.4] Chính vì vậy, chức năng, nhiệm vụ, vai trò của Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ và các
Trang 35đoàn thể của xã, phường, thị trấn được phát huy rõ hơn; nội dung, phương thức lãnh đạo, hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở đổi mới và nâng dần chất lượng, hiệu quả
Tóm lại, những đặc điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội và hệ thống chính trị ở cơ sở nêu trên, là điều kiện thuận lợi cho tỉnh Bình Dương bước vào sự nghiệp CNH, HĐH, phát triển kinh tế - xã hội nói chung, thực hiện QCDC ở
đương đầu với nhiều thử thách đó là: kinh tế tuy tăng trưởng nhanh nhưng chưa vững chắc cả về sản xuất, tiêu thụ và khả năng hội nhập kinh tế khu vực, lao động có trình độ kỹ thuật thiếu nhưng khả năng đào tạo nguồn nhân lực có hạn, hạ tầng đô thị chưa phát triển đồng bộ, công tác quản lý đô thị còn nhiều bất cập, còn có sự chênh lệch giữa các vùng Toàn tỉnh cơ bản không còn hộ đói nghèo, nhưng đời sống của nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn chất lượng còn thấp, các tệ nạn xã hội, các loại tội phạm, tai nạn giao thông,… có chiều hướng gia tăng, những biện pháp ngăn chặn còn kém hiệu quả
Bên cạnh một số thành tưu đạt được, hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn tỉnh Bình Dương vẫn đang còn nhiều bất cập, chưa phát huy được vai trò, chức năng, hiệu lực và hiệu quả của mình, chưa đáp ứng được yêu cầu trong giai đoạn mới Một số tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể chưa thật sự vững mạnh, còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém, chưa làm tốt vai trò lãnh đạo, quản lý, điều hành, vận động, tập hợp quần chúng Một số cấp ủy Đảng chậm đổi mới phương thức lãnh đạo, điều hành; trình độ đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức xã, phường, thị trấn hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế so với yêu cầu nhiệm vụ Hệ thống chính trị trong quản lý điều hành còn biểu hiện trì trệ, chưa sát dân, chưa đồng cảm với những khó khăn, bức xúc của nhân dân, còn nhũng nhiễu, thiếu trách nhiệm đối với nhân dân Sự phối hợp giữa chính
Trang 36quyền, ban nghành, đoàn thể ở một số nơi chưa chặt chẽ, làm hạn chế kết quả các phong trào hoạt động tại địa phương
Mặt trận và các đoàn thể hoạt động nội dung chưa phong phú, một số cán bộ thiếu nhiệt tình; sự phối hợp, giải quyết các vấn đề nảy sinh ở các tổ chức chưa đồng bộ, thiếu chủ động, vai trò trách nhiệm, tự quản chưa cao Việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân chưa kịp thời Vai trò giám sát, phản biện xã hội còn yếu Những hạn chế, thiếu sót trên một phần do một
số cán bộ chủ chốt còn có tư tưởng xem nhẹ vai trò, vị trí, nhiệm vụ của hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn Công tác kiểm tra, hướng dẫn chưa thường xuyên; công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ chưa được quan tâm đúng mức
Vì vậy, nhận rõ những thuận lợi và khó khăn trên là điều kiện cần thiết
để Đảng bộ tỉnh có những hoạch định đúng đắn và giải pháp thích hợp, nhằm lãnh đạo thực hiện một cách hiệu quả dân chủ ở cơ sở, đáp ứng được yêu cầu của thời kì mới
1.2.2 Thực hiện Quy chế dân chủ là yêu cầu, động lực và sức mạnh của
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương hiện nay
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ VIII (Nhiệm kì
2005 - 2010) đã xác định mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội của thời
kì 2006 - 2010 là: “Tạo ra bước đột phá mới nhằm đẩy mạnh tăng trưởng
kinh tế một cách bền vững, gắn với phát triển văn hóa, xã hội, giữ vững quốc phòn - an ninh, định hướng quy hoạch phát triển Bình Dương thành đô thị
loại I trong 5 - 10 năm tới” [23, tr.151]
Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX (2010) vừa qua đã đặt ra phương
hướng, mục tiêu, nhiệm vụ trong thời gian tới là: “Nâng cao hơn nữa năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, xây dựng hệ thống chính trị vững
Trang 37mạnh gắn với tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; tiếp tục đổi mới mạnh
mẽ và toàn diện trên các lĩnh vực, tập trung phát triển kinh tế nhanh và bền vững Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng ưu tiên phát triển dịch vụ - công nghiệp gắn với quá trình đô thị hóa, đầu tư hợp
lý để phát triển nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao, xây dựng nông thôn mới Nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp, thực hiện tốt cải cách hành chính, tạo môi trường thông thoáng để thu hút đầu tư Cải thiện và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ môi trường Giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội Đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, làm động lực cho sự phát triển, sớm đưa Bình
Dương thành đô thị văn minh, hiện đại” [23, tr 97]
Để thực hiện được những mục tiêu trên, Đảng bộ tỉnh Bình Dương phải biết huy động cả sức mạnh vật chất và tinh thần, đặc biệt là phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới Sự nghiệp CNH, HĐH, trước hết là CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn có thể thực hiện được hay không, phần lớn phụ thuộc vào bộ phận dân cư ở cấp cơ sở
Từ khi bắt đầu sự nghiệp đổi mới đến nay, vai trò động lực đặc biệt của con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội ngày càng được thể hiện rất rõ
Vì vậy, trước tình hình đó, việc thực hiện QCDC ở cơ sở, mở rộng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy cao độ vai trò nhân tố con người trong sự nghiệp CNH, HĐH của tỉnh Bình Dương, là động lực rất to lớn cho
sự phát triển của địa phương
Trong thời kỳ đổi mới, thực hiện CNH, HĐH, tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ sa sút về phẩm chất, đạo đức, lối sống, lợi dụng chức quyền dẫn đến quan liêu, tham nhũng; tình trạng cán bộ ở cơ sở quan liêu, hách dịch, nhũng nhiễu nhân dân vẫn còn Mặt khác, do trình độ dân trí còn thấp nên sự
Trang 38hiểu biết về pháp luật, quyền lợi, nghĩa vụ của quần chúng nhân dân còn hạn chế, dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật trong nhân dân vẫn còn phổ biến Đặc biệt, Bình Dương là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam,
có nhiều điều kiện để phát triển công nghiệp, với nhiều dự án xây dựng, phát triển giao thông, đô thị lớn, đã và đang làm nảy sinh trong nhân dân nhiều vấn
đề tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến đền bù, giải phóng mặt bằng Vì vậy, QCDC ở cơ sở nếu thực hiện tốt sẽ là một giải pháp hiệu quả để tạo sự đồng thuận trong nhân dân, tạo không khí phấn khởi, tin tưởng trong nhân dân Sức mạnh tinh thần được khơi dậy, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ Do đó, thực hiện dân chủ là mục tiêu, động lực và là điều kiện quan trọng góp phần giải quyết những vấn đề chính trị, xã hội trên địa bàn tỉnh
Hiện nay, Bình Dương là một tỉnh có nền kinh tế phát triển, năng động, thu hút rất lớn đầu tư của nước ngoài, việc thực hiện QCDC ở cơ sở không những để giữ vững quyền lực chính trị, mà còn là động lực thực sự thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, tình hình kinh tế phát triển làm nảy sinh những yêu cầu tự nhiên về quyền dân chủ trong hoạt động kinh tế của nhân dân, đòi hỏi các Đảng bộ khi lãnh đạo việc thực hiện QCDC ở cơ sở phải nắm vững và định hướng được việc thực hiện QCDC ở cơ sở đáp ứng các nhu cầu
đó Quy chế dân chủ ở cơ sở, với những nội dung rất thiết thực là thực hiện
quyền làm chủ của các tầng lớp nhân dân ở cơ sở trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, nhằm bảo đảm cho mọi tổ chức và hoạt động ở cơ sở thực sự là của dân, do dân, vì dân, được tiến hành dưới hai hình thức: dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp Như vậy, thông qua việc thực hiện QCDC ở cơ sở, nhân dân ý thức được quyền làm chủ của mình, làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, tích cực tham gia phát triển kinh
tế, văn hoá, xã hội Cán bộ, đảng viên thấy rõ vai trò, tác dụng của dân chủ, vì thế mà nhiệt tình hơn, tận tụy hơn trong công tác
Trang 39Như vậy, việc ban hành, xây dựng và thực hiện QCDC cơ sở sẽ tạo điều kiện cho nhân dân được thực hiện quyền làm chủ và mở mang tri thức trên nhiều lĩnh vực Xuất phát từ vai trò, tầm quan trọng của QCDC ở cơ sở trong
sự nghiệp đổi mới, tiến hành CNH, HĐH tỉnh Bình Dương, vấn đề thực hiện QCDC càng trở thành nhu cầu to lớn, cấp bách và đồng thời là động lực đối với mọi người dân, đặc biệt là nhân dân ở cơ sở Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
từng nói: “Nền tảng của mọi công tác là cấp xã” và “Cấp xã là gần gũi dân
nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi” [47, tr.317] Vì vậy, có thể khẳng định thực hiện QCDC ở cơ sở là
yêu cầu, động lực và sức mạnh của của sự nghiệp CNH, HĐH, phát triển kinh tế- xã hội tỉnh Bình Dương hiện nay
Thực hiện dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, người dân biết được các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và hàng năm của tỉnh; Quy hoạch và
kế hoạch sử dụng đất đai; dự toán và quyết toán ngân sách hàng năm; chủ trương, kế hoạch vay vốn phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo địa phương mình Ngoài ra, người dân cũng được biết về những thông tin khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất Điều này có tác dụng tích cực trong việc khai thác và phát huy có hiệu quả tiềm năng sáng tạo của mỗi cá nhân, cũng như của cả cộng đồng xã hội, góp phần tạo ra các nguồn lực cho sự phát triển Thực hiện dân chủ trong lĩnh vực chính trị, sẽ tạo điều kiện cho người dân được tham gia vào các sinh hoạt chính trị trong đời sống ở địa phương, được tham gia vào các tổ chức, đoàn thể xã hội, phát biểu ý kiến bày tỏ quan điểm, lập trường của mình Việc dân tham gia ý kiến trước khi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định, là quy định có vai trò rất quan trọng trong việc giúp Đảng bộ, chính quyền tỉnh cũng như cơ sở có những quyết định đúng đắn, hợp lòng dân hơn, nhằm khắc phục tình trạng quan liêu, độc đoán, chuyên quyền của cán bộ quản lý điều hành, đặc biệt là cán bộ chủ chốt ở xã,
Trang 40phường, thị trấn Đồng thời, góp phần đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở theo hướng gần gũi, sát dân hơn, tôn trọng và biết lắng nghe ý kiến của quần chúng nhân dân trong việc xây dựng các đề án, các chương trình, kế hoạch, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội -
ở địa phương Khi quyền con người và quyền công dân được đảm bảo, vai trò làm chủ xã hội và tính tích cực chính trị của các tầng lớp nhân dân, trong các địa bàn dân cư khắp các xã, phường, thị trấn ngày một tăng lên, là một trong những điều kiện rất thuận lợi để Đảng bộ tỉnh Bình Dương thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH tỉnh nhà
Thực hiện dân chủ trong lĩnh vực văn hóa, tư tưởng và tinh thần là điều kiện quan trọng để đảm bảo quyền tự do tư tưởng và giải phóng tinh thần cho
Bình Dương thành một đô thị văn minh, giàu đẹp như kì vọng của Đại hội Đảng bộ lần thứ IX vừa qua, việc xây dựng khu, ấp văn hóa, xây dựng hương ước, quy ước, bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội, xây dựng cộng đồng dân cư đoàn kết, văn minh, tiến bộ, là những việc làm hết sức quan trọng và có ý nghĩa quyết định Bởi lẽ, khi người dân được tự do tư tưởng, giải phóng tinh thần là cội nguồn của sự sáng tạo to lớn, dẫn đến sự phát triển tài năng, trí tuệ, nhân cách của mỗi cá nhân Điều đó tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân tham gia ngày càng nhiều hơn vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đóng góp nhiều ý kiến quan trọng cho việc hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương
Như vậy, việc thực hiện QCDC ở cơ sở có ý nghĩa vô cùng to lớn, vừa cấp bách, vừa lâu dài đối với sự nghiệp CNH, HĐH, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương Là một tỉnh có nền công nghiệp phát triển, đặc điểm dân cư và nguồn nhân lực các xã, phường, thị trấn là cư dân trẻ chiếm số đông, có thuận lợi trong việc tiếp thu cái mới, đấu tranh xóa bỏ nghèo nàn, lạc