1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dư luận xã hội về việc triển khai chủ trương xây dựng nếp sống văn minh đô thị tại thành phố hồ chí minh (nghiên cứu trường hợp quận 8, quận 9, huyện hóc môn)

144 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (11)
  • 2. Đối tượng, khách thể và giới hạn, phạm vi nghiên cứu (11)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài (16)
    • 2.2. Khách thể nghiên cứu (16)
    • 2.3. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu (16)
  • 3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài (11)
    • 3.1. Mục tiêu tổng quát (17)
    • 3.2. Mục tiêu cụ thể (17)
  • 4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài (11)
    • 4.1. Ý nghĩa khoa học (18)
    • 4.2. Ý nghĩa thực tiễn (18)
  • 5. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu (11)
    • 5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu (18)
    • 5.2 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu (21)
  • 6. Giả thuyết nghiên cứu (11)
  • 7. Khung phân tích (11)
  • 8. Kết cấu luận văn (11)
    • 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu (25)
      • 1.1.1 Về nghiên cứu lý luận (25)
      • 1.1.2 Một số kinh nghiệm về xây dựng nếp sống VMĐT trên thế giới (25)
      • 1.1.3 Các nghiên cứu về văn minh đô thị và dư luận xã hội (25)
    • 1.2. Lý thuyết áp dụng (25)
      • 1.2.2. Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber (25)
      • 1.2.3 Lý thuyết hành vi lựa chọn hợp lý (James S. Coleman) (25)
    • 1.3 Các khái niệm có liên quan (25)
      • 1.3.1 Về dư luận xã hội (52)
      • 1.3.2 Về văn minh đô thị (57)
  • 2. Cơ sở thực tiễn của đề tài (25)
    • 2.1. Khái quát về địa bàn khảo sát (25)
      • 2.1.1 Một vài nét về Thành phố Hồ Chí Minh (62)
      • 2.1.2 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu (64)
        • 2.1.2.1 Quận 3 (64)
        • 2.1.2.2 Quận 9 (66)
        • 2.1.2.3 Huyện Hóc Môn (68)
    • 2.2 Đặc điểm dân số-kinh tế-xã hội của dân số nghiên cứu (25)
      • 2.2.1 Mẫu khảo sát định lượng (25)
        • 2.2.1.1 Về độ tuổi, giới tính (70)
        • 2.2.1.2 Vấn đề tôn giáo (71)
        • 2.2.1.3 Yếu tố đảng viên (72)
        • 2.2.1.4 Trình độ học vấn (72)
        • 2.2.1.4 Khu vực cư trú, tình trạng cư trú (73)
        • 2.2.1.5 Khu vực làm việc (73)
        • 2.2.1.6 Thu nhập (73)
      • 2.2.2. Mẫu khảo sát định tính (25)
  • CHƯƠNG 2 DƯ LUẬN XÃ HỘI VỀ THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG “XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN MINH ĐÔ THỊ” TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (25)
    • 2.1 Dư luận xã hội về việc tiếp nhận chủ trương “Xây dựng nếp sống văn minh đô thị” (77)
    • 2.2 Dư luận xã hội về thực trạng và hiệu quả thực hiện chủ trương (77)
      • 2.2.1.1 Thực trạng (77)
      • 2.2.1.2 Hiệu quả thực hiện và sự chuyển biến (77)
      • 2.2.2 Tại địa bàn nghiên cứu (77)
        • 2.2.2.1 Thực trạng (77)
        • 2.2.2.2 Hiệu quả và sự chuyển biến (77)
  • CHƯƠNG 3 DƯ LUẬN XÃ HỘI VỀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HẠN CHẾ, YẾU KÉM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG “XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN MINH ĐÔ THỊ” TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (26)
    • 3.1 Dư luận xã hội về các nguyên nhân dẫn đến hạn chế, tồn tại (116)
      • 3.1.1 Ý thức chấp hành của người dân (116)
      • 3.1.2 Công tác tuyên truyền (116)
      • 3.1.3 Hệ thống pháp luật, các biện pháp chế tài và một số nguyên nhân khác tác động đến việc thực hiện chủ trương (116)
    • 3.2 Dư luận xã hội về những giải pháp nhằm tiếp tục triển khai chủ trương trong thời gian tới (116)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (143)

Nội dung

Bên cạnh đó, quá trình đô thị hoá đã và đang làm cho Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh vốn rộng lớn nay lại trở nên hỗn tạp, chật hẹp, đông đúc với hàng loạt các vấn đề về dân sinh, xã hội

Đối tượng, khách thể và giới hạn, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu dư luận xã hội về việc triển khai chủ trương xây dựng nếp sống văn minh đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Khách thể nghiên cứu

Đề tài xác định khách thể nghiên cứu là người dân (bao gồm người dân có hộ khẩu thường trú lâu năm, người dân tạm trú ngắn hạn và dài hạn) ở Quận 3, 9, huyện Hóc Môn thành phố Hồ Chí Minh

Bên cạnh đó, đề tài cũng tìm hiểu thêm thông tin từ phía các cơ quan, tổ chức, lãnh đạo có liên quan đến việc triển khai thực hiện chủ trương này tại 3 địa bàn đã chọn.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu tổng quát

Việc điều tra và sử dụng kết quả nghiên cứu dư luận xã hội về việc triển khai chủ trương xây dựng “Năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị” tại Thành phố Hồ Chí Minh sẽ góp phần đạt được các mục tiêu chung như :

- Thúc đẩy quá trình dân chủ trong xã hội, tạo điều kiện cho mọi tầng lớp dân cư tham gia vào việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước, của Thành phố

- Giúp cho các cấp lãnh đạo đánh giá được dư luận xã hội một cách chính xác, do vậy tránh được những nhận định và suy nghĩ chủ quan, duy ý chí; từ đó góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chủ trương trong thời gian tới

- Giúp xác định sự tín nhiệm của người dân với các cơ quan công quyền các cấp tại thành phố Hồ Chí Minh

- Bổ sung về mặt lý luận cho công tác nghiên cứu dư luận xã hội phục vụ cho yêu cầu của công tác điều hành, quản lý.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học

Chủ trương xây dựng “Năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị” mới bắt đầu được triển khai vào năm 2008, vì vậy hiện chưa có nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá về hiệu quả triển khai cũng như sự cần thiết của chủ trương trong đời sống của người dân Thành phố, đặc biệt dưới góc độ dư luận xã hội Đề tài luận văn hy vọng sẽ có thể bổ sung về mặt lý luận cho công tác nghiên cứu dư luận xã hội nhằm phục vụ cho yêu cầu của công tác điều hành, quản lý của các cấp lãnh đạo Thành phố.

Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu

Phương pháp thu thập dữ liệu

N ộ i dung thu th ậ p : Để có cái nhìn khái quát về quá trình thực hiện chủ trương xây dựng nếp sống văn minh đô thị tại Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cũng như tìm hiểu về mô hình xây dựng thành công tại nhiều nước khác, tác giả xác định nguồn dữ liệu thứ cấp cần thu thập bao gồm các lĩnh vực như : đô thị (bao gồm các đánh giá về đô thị hóa, tác động của đô thị hóa đến chất lượng cuộc sống nói chung), các vấn đề liên quan đến văn minh đô thị (trong nước và nước ngoài), dư luận xã hội (bao gồm các vấn đề liên quan đến lý luận và thực tiễn)

Các nội dung trên được thu thập từ các nguồn chính như :

- Các đề tài nghiên cứu, báo cáo lượng giá của Ngân Hàng Thế Giới, Viện Nghiên cứu Phát triển, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ và một số trường Đại học khác trên địa bàn Thành phố

- Một số báo cáo thống kê của các cơ quan chức năng có liên quan như Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch, Ban Văn hóa-xã hội-Hội đồng nhân dân Thành phố, Ủy ban nhân dân Thành phố, quận huyện

- Sách báo và các phương tiện truyền thông khác

Dữ liệu sơ cấp được thực hiện bởi các công cụ: bảng hỏi cấu trúc, phỏng vấn sâu a B ả ng h ỏ i c ấ u trúc :

- Nội dung thu thập : bằng cách phỏng vấn dựa trên bảng hỏi anket, thông tin định lượng được thu thập sẽ phản ánh nội dung chính đó là việc tiếp cận những thông tin về thực hiện chủ trương xây dựng nếp sống văn minh đô thị; đánh giá hiệu quả và những yếu tố tác động đến hiệu quả thực hiện; giải pháp thực hiện trong thời gian tới tại Quận 3, Quận 9 và huyện Hóc Môn

- Công cụ : phỏng vấn bằng bảng hỏi

- Địa điểm lấy mẫu: phường 3, Quận 3 (cụ thể là khu phố 4, 5, 8); xã Nhị Bình (cụ thể là ấp 1, 2, 4) huyện Hóc Môn; phường Long Trường, Quận 9

- Về việc chọn địa bàn nghiên cứu: tác giả lựa chọn địa bàn nghiên cứu dựa trên một số tiêu chí như một quận đại diện cho vùng trung tâm, là địa bàn được Thành phố lựa chọn để làm điểm trong việc triển khai thực hiện chủ trương “Năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị” với thành phần dân cư tương đối ổn định, có thời gian gắn bó với địa phương tương đối cao; một quận ngoại ven (cũng triển khai thực hiện chủ trương xây dựng nếp sống văn minh đô thị, tuy nhiên không phải là quận được chọn làm điểm) với đặc điểm dân số có tính ổn định không cao, chủ yếu là người dân nhập cư, có thời gian sinh sống tại địa bàn chưa nhiều ; và một huyện ngoại thành, tốc độ đô thị hóa chưa cao

- Tiêu chí chọn mẫu: những hộ được lựa chọn để thực hiện công cụ này, trước hết là những gia đình nằm trong danh sách dân số được cơ quan chức năng tại địa phương thường xuyên cập nhật và quản lý Có sự phân biệt giữa chủ hộ thực tế và chủ hộ danh nghĩa (là người đứng tên chủ hộ trên giấy tờ) Đề tài chọn phỏng vấn bằng bảng hỏi với những chủ hộ thực tế nghĩa là những người thực sự quyết định và cân nhắc các khoản chi phí đầu tư hàng tháng của gia đình và các thành viên cho các vấn đề như sức khỏe, vệ sinh môi trường

- Cách chọn mẫu được sơ đồ hóa như sau: Ở địa phương sẽ cung cấp cho tác giả danh sách tất cả các hộ gia đình (bao gồm cả những hộ thường trú và các hộ tạm trú khác) Cộng gộp cả ba danh sách tại ba địa bàn nghiên cứu chúng ta sẽ có một danh sách mẫu chung bao gồm 6913 hộ gia đình Theo bảng kích thước mẫu yêu cầu đối với các tổng thể khác nhau cho khoảng sai số 5% của Krejcie và Morgan (được trích lại trong cuốn “Các phương pháp nghiên cứu trong nhân học” của H.Russel Bernard) ta có kích thước mẫu cần làm là 360 hộ gia đình

Như vậy, 6913 hộ gia đình trong danh sách mẫu sẽ được đánh số thứ tự từ 1 đến 6913, thực hiện bước nhảy k theo công thức k=N/n (trong đó, N: kích thước tổng thể, n: dung lượng mẫu) Như vậy, sau khi chọn ngẫu nhiên bằng cách bốc thăm một mẫu bất kỳ từ trong nhóm số với bước nhảy cụ thể là cách 19 người chọn 1 người Và như thế sẽ tìm ra được danh sách mẫu cần được phỏng vấn trong cuộc điều tra là 360 người đại diện cho 360 hộ gia đình

- Cấu trúc bảng hỏi: được thiết kế gồm các phần cơ bản sau:

+ Dư luận xã hội đánh giá về thực trạng và hiệu quả thực hiện chủ trương xây dựng nếp sống văn minh đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua

+ Những yếu tố tác động đến hiệu quả thực hiện chủ trương

+ Đánh giá triển vọng thực hiện chủ trương trong thời gian tới, đồng thời đưa ra các giải pháp thực hiện b Ph ỏ ng v ấ n sâu

- Đối tượng thu thập: người dân trong cộng đồng, cán bộ tổ dân phố/ấp, xã/phường, quận/huyện

+ Đối với người dân: là những người đã có trong mẫu bảng hỏi ở các độ tuổi và nghề nghiệp khác nhau, bao gồm cả những người đã có thời gian dài gắn bó, sinh sống ổn định tại địa bàn và những người mới sống một thời gian, tính ổn định không cao nhằm khái quát đầy đủ hiệu quả thực hiện chủ trương xây dựng nếp sống văn minh đô thị trên nhiều góc nhìn khác nhau từ đó thấy được sự khác biệt và các nhân tố ảnh hưởng

+ Cán bộ tổ dân phố/ấp, phường/xã và quận/huyện : tìm hiểu chung về công tác tuyên truyền thông tin và việc xây dựng, triển khai các quy định, quy tắc liên quan cũng như việc thực thi các biện pháp chế tài Đánh giá hiệu quả thực hiện chủ trương xây dựng nếp sống văn minh đô thị dưới góc độ là cán bộ quản lý

- Công cụ: phỏng vấn sâu bán cơ cấu

- Nội dung chính cần thu thập

+ Với người dân: Quan niệm về “xây dựng văn minh đô thị” tại Thành phố; Đánh giá về hiệu quả thực hiện chủ trương trong thời gian qua; Các yếu tố tác động đến hiệu quả thực hiện; Nhận xét về công tác tuyên truyền ở địa phương: nội dung, hiệu quả, mong muốn; Ý kiến mong đợi và những kiến nghị đề xuất

+ Đối với cán bộ địa phương: Đánh giá chung về tình hình kinh tế - chính trị

- xã hội - dân số của phường/ xã; Các tiêu chí để được công nhận là phường/xã văn hóa; các tiêu chí có liên quan về việc thực hiện chủ trương; Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện chủ trương của người dân nói chung và đặc biệt là với người dân nhập cư ở phường/ xã mình; Đánh giá thực trạng tuyên truyền ở địa phương; cụ thể đã dùng những hình thức nào để tuyên truyền về chủ trương, việc thực hiện, khen thưởng cũng như hình thức chế tài Nhận xét về hiệu quả của các hình thức tuyên truyền này; Những kiến nghị, đề xuất.

Kết cấu luận văn

Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.3 Các nghiên cứu về văn minh đô thị và dư luận xã hội

Cơ sở thực tiễn của đề tài

Đặc điểm dân số-kinh tế-xã hội của dân số nghiên cứu

2.2.1 Mẫu khảo sát định lượng

2.2.2 Mẫu khảo sát định tính

DƯ LUẬN XÃ HỘI VỀ THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG “XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN MINH ĐÔ THỊ” TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

DƯ LUẬN XÃ HỘI VỀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HẠN CHẾ, YẾU KÉM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG “XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN MINH ĐÔ THỊ” TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Dư luận xã hội về các nguyên nhân dẫn đến hạn chế, tồn tại

3.1.1 Ý thức chấp hành của người dân

3.1.3 Hệ thống pháp luật, các biện pháp chế tài và một số nguyên nhân khác tác động đến việc thực hiện chủ trương

Dư luận xã hội về những giải pháp nhằm tiếp tục triển khai chủ trương trong thời gian tới

DƯ LUẬN XÃ HỘI VỀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HẠN CHẾ, YẾU KÉM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG “XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN MINH ĐÔ THỊ”

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.1 Dư luận xã hội về các nguyên nhân dẫn đến hạn chế, tồn tại

3.1.1 Ý thức chấp hành của người dân

Có thể nói có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hành vi ứng xử thiếu văn hóa của người dân tại nơi công cộng Trước hết, thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố trẻ, mặc dù lịch sử hình thành và phát triển đã hơn 3 thế kỷ nhưng thời gian thành phố chính thức phát triển và trở thành một đô thị lớn thì theo lịch sử là chỉ từ khi thực dân Pháp xâm lược năm 1862 đến nay với đặc điểm là phân ra thành những khu vực sang trọng phục vụ cho tầng lớp thống trị người Pháp và những khu tồi tàn, lạc hậu dành cho những người buôn bán nhỏ và nhân dân lao động bản xứ Sài Gòn được hình thành như một thành phố nửa văn minh, nửa lạc hậu, nửa thành thị và nửa nông thôn chính vì vậy nhiều nơi chưa có những dịch vụ quản lý mang tính chất đô thị như hệ thống cung cấp nước, hệ thống thu gom rác thải, vệ sinh môi trường…

Vào giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ảnh hưởng của chiến trang đã làm cho Thành phố phát triển một cách ồ ạt, không kiểm soát, dân cư từ nông thôn kéo ra thành thị rất nhiều làm hình thành những khu ổ chuột Chính quyền thực dân đế quốc lúc bấy giờ không những không chú trọng đến việc xây dựng nếp sống văn minh nơi công cộng mà còn du nhập thêm vào nhiều hành vi ứng xử thiếu văn hóa; đặc biệt là trong thời kỳ đế quốc Mỹ cai trị, thành phố bị ảnh hưởng nặng nề bởi lối sống của chủ nghĩa thực dân mới

Từ sau ngày giải phóng, chúng ta cử những cán bộ quân đội ra quản lý đô thị, do không có kinh nghiệm trong công tác quản lý nên việc xây dựng nếp sống văn minh nơi công cộng vì vậy chưa được chú trọng cùng với cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng khiến các cấp chính quyền chưa thật sự quan tâm, chú trọng đến công tác xây dựng nếp sống văn minh nơi công cộng

Từ khi bước vào công cuộc đổi mới, Thành phố đã phát triển thành một trung tâm kinh tế, tài chính, văn hóa lớn của cả nước Làn sóng nhập cư vào thành phố ngày càng đông và mạnh mẽ trong khi đó hệ thống pháp luật, quy chế quản lý đô thị chưa thể hoàn chỉnh theo kịp Một bộ phận không nhỏ cư dân thành phố vẫn còn mang nặng thói quen, nếp sống của cư dân nông thôn khiến việc thực hiện nếp sống văn minh đô thị càng trở nên khó khăn Cuộc khảo sát đã cho thấy, có đến 91,25% người dân cho rằng nguyên nhân chính của những khó khăn, hạn chế trong việc thực hiện chủ trương xây dựng nếp sống văn minh đô thị là do ý thức chấp hành của người dân chưa cao

Bảng 14 : Những tồn tại, khó khăn sau 3 năm triển khai thực hiện chủ trương

Nội dung Tần số Tỷ lệ %

1 Ý thức chấp hành của người dân chưa cao 313 91.25

2 Chưa xử lý nghiêm, đúng mức 264 76.97

3 Hạn chế về cơ sở hạ tầng 215 62.68

4 Hệ thống các dịch vụ như dọn vệ sinh, thu gom rác thải, nhà vệ sinh công cộng… còn quá thiếu 215 62.68

5 Chưa thực thi kiểm tra, giám sát một cách nghiêm túc 192 55.98

6 Không có chiến lược toàn diện, đồng bộ, còn làm theo phong trào 187 54.52

7 Sự phối hợp giữa các đơn vị và địa phương chưa tốt 175 51.02

8 Vai trò của các đoàn thể tại địa phương chưa phát huy đúng mức 172 50.15

9 Tuyên truyền chưa sâu rộng, liên tục và chưa đi vào cuộc sống 139 40.52

10 Luật và các quy định dưới luật chưa đầy đủ, cụ thể 137 39.94

11 Công tác giáo dục ý thức vệ sinh, bảo vệ môi trường trong trường học chưa được quan tâm đúng mức 118 34.40

(Nguồn: Số liệu điều tra của đề tài được tiến hành khảo sát vào 12/2010)

Một số đề tài nghiên cứu đã cho thấy rằng ý thức chấp hành pháp luật trong đó sự hiểu biết về pháp luật trong lĩnh vực giao thông của người dân thành phố là rất thấp Theo báo cáo của đề tài Xây dựng trật tự đô thị thành phố Hồ Chí Minh từ cách tiếp cận văn hóa-xã hội do Sở Khoa học Công nghệ Thành phố thực hiện năm 2004 cho thấy trong 400 người hiện cư trú tại các quận 1, 3, 4, 5, 10, 11, Tân Bình, Phú

Nhuận có 100% những người được khảo sát đều cho rằng luật giao thông là quan trọng đối với họ; luật giao thông giúp họ điều hành giao thông an toàn và thuận lợi hơn trên đường Tuy nhiên, khi khảo sát thực tế về mức độ hiểu biết luật giao thông đã cho thấy chỉ có 56,3% là có hiểu biết nhiều, số hiểu biết ít và không biết chiếm đến 43,7%, trong đó gần 10% là hoàn toàn không hiểu biết về luật giao thông Cũng trong một cuộc điều tra khác của đề tài Cơ sở khoa học của việc xây dựng ý thức lối sống và lối sống theo pháp luật do GS Đào Trí Úc chủ trì cho thấy trong 400 trường hợp vi phạm luật giao thông ở thành phố Hồ Chí Minh thì có đến 76% là thanh niên trong đó có 30% không hiểu gì về pháp luật Điều nguy hại là trong số những người không hiểu biết về luật giao thông đều là những người đã trưởng thành (từ 16 tuổi trở lên) và có thời gian sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh từ 3 năm trở lên, đã có công ăn việc làm hoặc đang tham gia học tập, tu nghiệp tại các trường đại học, các viện nghiên cứu

Tình trạng không hiểu biết, hoặc hiểu biết “lờ mờ” về luật giao thông hiện nay chủ yếu là do hầu hết những người tham gia giao thông không được tham dự các khóa học hoàn chỉnh về luật giao thông cũng như các quy tắc khi tham gia giao thông ở đô thị Hình thức chủ yếu mà họ nắm được thông tin về luật giao thông không phải là được đọc trực tiếp văn bản mà thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và làm theo người khác Bên cạnh đó cũng còn cần phải kể đến ý thức tự giác học tập và tìm hiểu luật giao thông của chính những người tham gia giao thông nhằm phục vụ cho chính việc đi lại của mình Tình trạng này tồn tại ở hầu khắp các thành phần dân cư và chiếm không ít trong số đó là thanh niên, học sinh, sinh viên Có người đã cho rằng, việc thực hiện xây dựng nếp sống văn minh đô thị là trông chờ vào giới trẻ tuy nhiên trên thực tế thì có đến gần 70% số trường hợp bị công an xử phạt do vi phạm luật giao thông là ở độ tuổi từ 20-30 tuổi

Bên cạnh ý thức chấp hành pháp luật chúng ta còn có ý thức cộng đồng trong tham gia giao thông, bao gồm các vấn đề như phản ứng của người lưu thông khi bị kẹt xe, ùn tắc giao thông; phản ứng khi thấy các trường hợp vị phạm hoặc tai nạn giao thông; ý thức về các cuộc vận động lớn của chính quyền Thành phố về lĩnh vực này; những phản ứng khác khi tham gia lưu thông như từ tốn, lịch sự, nhã nhặn, nói lời cảm ơn, xin lỗi… Nếu xét trên góc độ này thì vấn đề về ý thức cộng đồng khi tham gia lưu thông hiện đang được dư luận hết sức quan tâm Nhiều ý kiến cho rằng, việc xảy ra tình trạng kẹt xe, ùn tắc giao thông ngày càng nghiêm trọng trên địa bàn Thành phố thì ngoài những lý do khách quan như đường hẹp, cơ sở vật chất chưa đáp ứng, phân luồng chưa hợp lý, giờ cao điểm… thì còn có một nguyên nhân chủ quan hết sức quan trọng là do tâm lý nôn nóng dẫn đến hành vi chen lấn của người tham gia lưu thông Chính yếu tố này trong nhiều trường hợp đã là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng hỗn loạn giao thông, bất chấp các quy tắc, biển báo, bảng chỉ dẫn; dẫn đến va quẹt rồi nảy sinh những lời thô lỗ, thiếu văn hóa dành cho nhau Ở những đoạn đường vắng bóng cảnh sát, có những người sẵn sàng nói đồng loại của mình là “khùng”,

“mát”, hay “chạm dây thần kinh” khi họ chấp hành dừng xe chờ đèn đỏ Điều đáng báo động là lối ứng xử này ngày càng trở nên phổ biến và trở thành bình thường, dẫn đến một thực trạng rất đáng báo động về văn hóa ứng xử trên đường phố

Khi được hỏi về các nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, yếu kém trong việc thực hiện xây dựng nếp sống văn minh đô thị, có đến 40,52% người dân cho rằng là do công tác tuyên truyền chưa thật sự sâu rộng, hiệu quả

Chương trình tuyên truyền vận động người dân hưởng ứng chủ trương xây dựng nếp sống văn minh đô thị được Ủy ban nhân dân Thành phố xác định là nhằm vận động sâu rộng, nâng cao ý thức tự giác, trách nhiệm của người dân Thành phố trên ba lĩnh vực:

- Nâng cao ý thức và hành vi văn hóa khi tham gia giao thông

- Xây dựng mỹ quan đô thị, vận động thực hiện làm xanh-sạch-đẹp thành phố

- Giao tiếp, ứng xử văn minh nơi công cộng, nơi địa bàn cư trú

Trong năm 2010, Thành phố phấn đấu đẩy mạnh phát triển mảng xanh trên vỉa hè, khu vực công cộng… góp phần tăng thêm diện tích xanh, làm đẹp mỹ quan đô thị Trong đó có 6 hành vi không có văn hóa cần được giảm dần đi đến xóa bỏ hẳn mà trong đề tài cũng đã có khảo sát, đó là các hành vi không bán hàng rong trước cổng trường học, không phát tờ rơi và sử dụng âm thanh quảng cáo quá lớn trên đường, không xả rác và nước thải ra đường, không rải vàng mã trên đường, không nói tục chửi thề, phóng uế bừa bãi, không chạy xe trên vỉa hè và dừng đúng vạch sơn quy định

Chương trình được bắt đầu phát động từ năm 2008 đến nay, mỗi năm với các chủ đề khác nhau với các hình thức tuyên truyền chủ yếu như tập huấn, hội họp, tổ chức hội thi, phong trào, phát hành ấn phẩm tuyên truyền, phát thanh và phát sóng trên truyền hình, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng…

Tuy nhiên, có thể nói, hiện nay để đánh giá hiệu quả của công tác tuyên truyền tại cơ sở vẫn chưa có một thang đo hay tiêu chí nào thống nhất Hiệu quả của công tác tuyên truyền được đánh giá chủ yếu một cách định tính và chủ quan lẫn khách quan của các đơn vị chủ quản; chủ yếu là thông qua và dựa trên các báo cáo của các đơn vị tổ chức tổng hợp Tuy nhiên, phần lớn các báo cáo này hiện nay chủ yếu vẫn đánh giá một cách định tính những việc làm được và chưa làm được, những thuận lợi và khó khăn ngoài ra chưa có định lượng rõ ràng về tính hiệu quả của chương trình Tại một số địa phương, cơ quan chức năng cũng dựa vào sự phản hồi của người tham gia để đánh giá hiệu quả chương trình tuy nhiên với phần lớn trường hợp thì sự phản hồi này lại chưa mang tính tổng thể vì vậy cũng rất khó để đưa ra kết luận mang tính thuyết phục Hiện nay, một số chương trình tuyên truyền đã bắt đầu được đánh giá thông qua phiếu khảo sát lấy ý kiến người thực hiện bao gồm cả những người tổ chức và người đón nhận chương trình tuyên truyền Có thể nói đây là một bước tiến quan trọng nhằm có thể lượng hóa được hiệu quả của công tác tuyên truyền tuy nhiên, phương pháp này lại khá tốn kém về kinh phí và thời gian Bên cạnh đó, để kết quả lượng hóa phản ánh chính xác còn đòi hỏi đội ngũ thực hiện điều tra, khảo sát bằng phiếu khoa học, khách quan và trung thực Nhìn chung, tất cả các phương pháp đều có thể xem là cơ sở cho việc đánh giá hiệu quả công tác tuyên truyền nhưng rõ ràng để kết quả đánh giá thật sự toàn diện, chính xác thì đòi hỏi phải có sự kết hợp đồng bộ nhiều phương pháp một lúc

Ngày đăng: 11/05/2021, 23:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm