1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chủ nghĩa mác lênin về con người và quyền con người với việc thực hiện quyền con người ở việt nam

151 43 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan niệm của C.Mác - Ph.Ăngghen về con người và sự nghiệp giải phóng của Tiến sĩ Bùi Bá Linh 2003 do Nxb Tổng Hợp thành phố Hồ Chí Minh, tác phẩm gồm 3 chương, phân tích và trình bày m

Trang 1

- -

HOÀNG THỊ THU HUYỀN

CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CON NGƯỜI VỚI VIỆC THỰC HIỆN

QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH – 2012

Trang 2

- -

HOÀNG THỊ THU HUYỀN

CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CON NGƯỜI VỚI VIỆC THỰC HIỆN

QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Người thực hiện

HOÀNG THỊ THU HUYỀN

Trang 4

Chương 1: CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ QUYỀN

CON NGƯỜI 10

1.1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ CON NGƯỜI 10

1.1.1 Nguồn gốc, bản chất và vai trò của của con người 10

1.1.2 Vấn đề giải phóng con người 24

1.2 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI .36

1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về tính tất yếu xuất hiện quyền con người 36

1.2.2 Những nội dung cơ bản về quyền con người trong chủ nghĩa Mác-Lênin 54

Chương 2: SỰ VẬN DỤNG CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM 66

2.1 QUÁ TRÌNH ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VẬN DỤNG VẤN ĐỀ CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI 66

2.1.1 Kế thừa quan điểm quyền con người trong triết học Mác - Lênin để xây dựng quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam 66

2.1.2 Thực trạng quá trình phát huy chế định quyền con người trong pháp luật hiện nay 78

2.2 GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HIẾN PHÁP VIỆT NAM 95

2.2.1 Nắm vững quan điểm về con người và quyền con người trong triết học Mác- Lênin là cơ sở lý luận về quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam 95

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO 139

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xã hội ngày càng phát triển, nhận thức con người ngày càng sâu rộng, vấn đề về con người cũng vì thế càng trở nên phong phú hơn, đa dạng hơn, nếu không nói là phức tạp hơn Ngay từ khi xuất hiện con người đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học, và ngày nay, tiếp tục trở thành đối tượng nghiên cứu của tất cả các môn khoa học Đặc biệt, không thể bỏ qua triết học, môn khoa học luôn xem con người là vấn đề muôn thuở, thế giới xung quanh con người luôn vận động, biến đổi và bản thân con người cũng luôn vận động và phát triển Từ rất sớm trong lịch sử triết học đã quan tâm đến con người, mong muốn tìm ra bản chất con người và giải phóng con người Với hạn chế do điều kiện lịch sử- xã hội, hầu như các trường phái triết học nghiên cứu về con người chưa tìm được câu trả lời đầy đủ nhất về bản chất con người cũng như cách thức giải phóng con người Nhưng, những trường phái triết học đó đã để lại những tiền đề quý giá về nguồn gốc, bản chất con người, tạo điều kiện cho triết học C.Mác kế thừa, phát triển đưa ra quan điểm khoa học về con người Đứng vững trên lập trường và lợi ích của giai cấp vô sản, với thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng, trực tiếp là quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử xã hội, triết học C.Mác đã tiếp cận toàn diện về con người, đồng thời vạch rõ quy luật phát triển bản chất người trong lịch sử, cũng như con đường cách mạng và khoa học để giải phóng triệt

để con người, cải tạo và xây dựng con người một cách toàn diện Mặc dù ra đời từ thế kỷ trước, nhưng những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn còn nguyên giá trị đến ngày hôm nay với sức sống mạnh liệt của nó

Kế thừa và phát triển tinh hoa tư tưởng văn hóa của nhân loại đặc biệt là học thuyết Mác - Lênin về con người trong hoàn cảnh Việt Nam, trong suốt

Trang 7

quá trình hoạt động cách mạng của mình, vấn đề giải phóng con người, đem lại hạnh phúc cho con người đã được chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là mục tiêu cao nhất Nó không là lý thuyết xuông, nó trở nên thực tế hơn, đi vào cuộc sống của mỗi người khi Đảng và nhà nước cụ thể hóa trong các bản Hiến pháp Với chế định quyền con người trong các bản Hiến pháp , nhà nước Việt Nam đã vận dụng một cách sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về con người trong việc khái quát những vấn đề mang tính triết luận sâu sắc Tuy nhiên, trong điều kiện đổi mới, khoảng cách giàu nghèo đâu đó vẫn còn tồn tại, một bộ phận người giàu ngày càng giàu hơn, người nghèo ngày càng nghèo hơn Trên thế giới ngày nay vẫn đang tồn tại những thế lực cường quyền sử dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền làm công cụ để can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia, dân tộc, nhất là đối với các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa Đối với Việt Nam, các thế lực thù địch trong và ngoài nước đã và đang thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ Song điều đó không làm mất đi mục tiêu cao cả của Đảng và nhà nước

ta là coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cuộc cách mạng và tiến bộ xã hội, con người là vốn quý nhất

Với mong muốn làm rõ hơn sự ảnh hưởng của Chủ nghĩa Mác - Lênin

về con người đến việc xây dựng bốn bản hiến pháp ở nước ta, và khẳng định Hiến pháp Việt Nam luôn đề cao và coi trọng quyền con người , tôi mạnh

dạn chọn đề tài “Chủ nghĩa Mác- Lênin về con người và quyền con người với việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam” làm luận văn thạc

sĩ triết học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề con người trong chủ nghĩa Mác - Lênin, quyền con người ở Việt Nam là những vấn đề trọng điểm vì trong giai đoạn hiện nay khi các thế lực

Trang 8

phản động đang tìm cách xuyên tạc chủ nghĩa C.Mác, và dưới chiêu bài

“nhân quyền” đang âm thầm quấy rối nền chính trị của Việt Nam Do đó, vấn đề này đã thu hút rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu với nhiều công trình tiêu biểu như:

Thứ nhất, vấn đề Chủ nghĩa Mác - Lênin về con người đã có những công

trình nghiên cứu như:

Con người và phát triển con người trong quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen do Giáo sư Hồ Sĩ Quý chủ biên năm 2003(Nxb Chính trị Quốc

Gia) Tác phảm gồm hai phần: Phần thứ nhất trình bày những luận điểm về con người và phát triển con người trong quan điểm của C.Mác và Ph.Ănghen, tương ứng với các luận điểm đó là cách trích dẫn tư tưởng của hai ông về chủ đề con người, về bản chất con người, về vấn đề giải phóng con người Phần thứ hai gồm những bài viết của nhiều tác giả, trong đó phân tích làm sáng tỏ quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về vấn đề con người Tác phẩm đã trình bày tương đối toàn diện và sâu sắc vấn đề con người, mang tính triết học chuyên sâu trải dài theo chiều lịch sử, đồng thời cập nhật những tri thức mới nhất của thế giới xung quanh vấn đề con người

Quan niệm của C.Mác - Ph.Ăngghen về con người và sự nghiệp giải phóng của Tiến sĩ Bùi Bá Linh (2003) do Nxb Tổng Hợp thành phố Hồ Chí

Minh, tác phẩm gồm 3 chương, phân tích và trình bày một cách khái quát, tương đối có hệ thống quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về con người và bản chất con người, về mối quan hệ con người- tự nhiên- xã hội và vai trò sáng tạo lịch sử của con người, về sự nghiệp giải phóng con người để qua đó, góp phần khẳng định tính khoa học, bản chất cách mạng, tư tưởng nhân văn trong quan niệm đúng đắn này, đồng thời góp phần khẳng định sự vận dụng sáng tạo của Đảng ta trong việc xây dựng con người Việt Nam hiện đại với

Trang 9

tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Tác phẩm Triết học C.Mác và thời đại của Viện Khoa học Xã hội Việt

Nam, Viện Triết học(2009), Nxb Khoa học Xã hội Tác phẩm gồm bảy phần

do hơn 40 tác giả trong nước nghiên cứu, chủ yếu đề cập đến sức sống trường tồn, bản chất cách mạng và khoa học, về giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của quan niệm duy vật về lịch sử, về hình thái kinh tế - xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về con người và giải phóng con người, về sở hữu và vấn đề xóa bỏ chế độ tư hữu, về văn hóa và xã hội trong triết học Mác.Tác phẩm cho chúng ta thấy được sức sống trường tồn của triết học Mác trong thời đại ngày nay

Thứ hai, về vấn đề Hiến pháp đã có những công trình nghiên cứu cụ thể như:

Hiến pháp năm 1946, bản hiến pháp đặt nền móng cho nền lập hiến nhà nước Việt Nam (2006) của Tiến sĩ Đỗ Ngọc Hải, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

Nội Tác phẩm đã trình bày quá trình ra đời và ý nghĩa thời đại của bản Hiến pháp 1946 trong hệ thống lập hiến của nước ta

Hiến pháp năm 1946 và sự kế thừa phát triển trong các Hiến pháp Việt Nam (1998)của Văn phòng Quốc Hội, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Công

trình là sự kết hợp của các bài viết phân tích nội dung và ý nghĩa của các bản Hiến pháp, đồng thời đề cập đến vai trò lịch sử của chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc đặt nền móng cho việc xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam

Thứ ba, về vấn đề quyền con người đã có những công trình nghiên cứu tiêu

biểu như:

Quyền con người, quyền công dân trong hiến pháp Việt Nam của PGS

TS Nguyễn Văn Động, Nxb Khoa học xã hội, 2006 Tác phẩm gồm 252 trang

Trang 10

với 4 chương luận giải sâu sắc, toàn diện về quyền con người và quyền công dân và vai trò của pháp luật đối với việc đảm bảo quyền con người, quyền công dân ở nước ta Đồng thời, tác giả đã đưa ra một số quan điểm và phương hướng nâng cao vai trò của hiến pháp trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam hiện nay

Hội thảo khoa học cấp nhà nước về Chính quyền địa phương với việc bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân (từ thực tiễn thành phố

Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam) của trường Đại học Luật thành phố Hồ

Chí Minh và Trung tâm nhân quyền - tạp chí khoa học pháp lý vào tháng 9/

2009 Hội thảo với nhiều bài viết của nhiều tác giả trên địa bàn các tỉnh phía Nam đã được đề cập quyền con người của chính quyền địa phương trong việc thực hiện pháp luật, từ đó nhìn nhận những thiếu sót trong công tác của mình

Quyền con người trong thế giới hiện đại Viện thông tin khoa học xã hội

phối hợp với trung tâm nghiên cứu quyền con người, thuộc học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức nghiên cứu sưu tầm và biên dịch Tác phẩm đã trình bày một cách hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về quyền con người trong bối cảnh thế giới hiện đại đồng thời chỉ ra những kinh nghiệm phong phú và đa dạng mà các nước khác nhau đã đặt ra và giải quyết

Công trình nghiên cứu của PGS.TS Trần Ngọc Đường: Bàn về quyền

con người, quyền công dân trong nhà nước Pháp quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đã trình bày vấn đề bằng cái nhìn tổng quát những nôi dụng cơ bản

mang tính chuyên khảo như: quan niệm về con người, quyền công dân, quyền và nghĩa vụ công dân, vấn đề đảm bảo pháp lý trong việc thực hiện quyền con người, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa

Trang 11

Việt Nam Qua đó cũng cố vững chắc thêm chính sách đúng đắn và nhất quán của Đảng và nhà nước ta về vấn đề con người

Ngày 30/12/1990, tại Học viện Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính

trị Quốc gia Hồ Chí Minh) đã tổ chức Hội nghị khoa học về đề tài: "Chủ

nghĩa xã hội và nhân quyền", với sự tham gia của nhiều nhà khoa học trong

Học viện và Viện Nghiên cứu Khoa học xã hội Việt Nam, Ban Văn hóa - Tư tưởng Trung ương, Viện Mác - Lênin, Bộ Ngoại giao, Tạp chí Cộng sản, Văn phòng Quốc hội 27 báo cáo tham luận trong hội nghị đã phân tích cụ thể của nhân quyền trong thực tiễn xã hội Việt Nam và các kiến nghị liên quan đến lĩnh vực này Tiếp đó, Nhà nước ta đã cho triển khai Chương trình KX-

07 "Con người, mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội" do

GS.TS Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm, với hơn 200 nhà khoa học thuộc các chuyên ngành khác nhau tham gia Trong đó, có đề tài KX.07-16 nghiên cứu

về "Các điều kiện đảm bảo Quyền con người, quyền công dân trong sự

nghiệp đổi mới đất nước" do GS.TS Hoàng Văn Hảo chủ nhiệm; Trung tâm

Nghiên cứu Quyền con người biên tập hai tập chuyên khảo "Quyền con

người, quyền công dân" của nhiều tác giả, xuất bản năm 1995; Viện Thông

tin Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia phối hợp với Trung tâm Nghiên

cứu Quyền con người đã tổ chức nghiên cứu, sưu tầm cuốn: "Quyền con

người trong thế giới hiện đại" do PGS Phạm Khiêm Ích và GS.TS Hoàng

Văn Hảo chủ biên, Viện Thông tin Khoa học xã hội xuất bản năm 1995; công

trình: Tìm hiểu vấn đề nhân quyền trong thế giới hiện đại, do TS Chu Hồng

Thanh chủ biên, Nxb Lao động, Hà Nội, 1996…

Như vậy, vấn đề con người và quyền con người thực sự rất đa dạng và phong phú vì thế có rất nhiều đề tài khoa học đặc biệt quan tâm Với thực tế trên, luận văn được khai triển trên sự kế thừa, học hỏi những kinh nghiệm,

Trang 12

những lý luận chung của các công trình đã được công bố để từ đó phát triển một hướng đi khá độc lập cho mình, đó là đi sâu nghiên cứu sự ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin về con người đến quyền con người trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, từ đó định hướng các phương pháp nhằm nâng cao vai trò của Hiến pháp trong việc bảo về quyền con người

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Mục đích của luận văn: làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin

về con người và quyền con người, sự vận dụng nó trong quá trình thực hiện quyền con người ở Việt Nam

Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản sau:

Thứ nhất: Làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về con người

và quyền con người

Thứ hai: Trình bày quá trình vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người và quyền con người để xây dựng hiến pháp Việt Nam về quyền con người và trên cơ sở đó chỉ ra thực trạng phát huy chế định quyền con người trong pháp luật hiện nay ở Việt Nam

Thứ ba: Đưa ra những giải pháp phát huy quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Trong khuôn khổ của luận văn cao học, tác giả luận văn tập trung đi vào thời kỳ xây dựng Hiến pháp cho đến nay, cùng với việc tìm hiểu quan điểm

Trang 13

của chủ nghĩa Mác- Lênin về con người và tính đặc thù, tính phổ biến của quyền con người

4 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và hoàn thành nhiệm vụ nêu trên, luận văn đã thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả còn sử dụng các phương pháp như: phương pháp tổng hợp, phương pháp logic và phân tích, quy nạp và diễn dịch, lịch sử và logic, phương pháp thống kê liệt kê Trong luận văn này tác giả sử dụng một số tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam, Hiến Pháp 1946 – 1959 – 1980- 1992, và các bộ luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tác phẩm của các nhà nghiên cứu về chủ nghĩa Mác - Lênin và pháp luật Việt Nam….cùng một số tạp chí liên quan đến nội dung của luận văn

5 Ý nghĩa khoa học

Về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm rõ sự ảnh hưởng của Chủ nghĩa

Mác - Lênin về con người đến vấn đề quyền con người trong Hiến pháp ở Việt Nam, và định hướng các giải pháp trong công tác nâng cao vai trò của Hiến pháp trong việc bảo vệ quyền con người

Về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần giúp người đọc hiểu thêm về con

người và quyền con người trong xã hội, và việc thực hiện pháp luật nhằm đảm bảo những quyền đó ở Việt Nam Hiện nay,các thế lực tư sản trên thế giới luôn xuyên tạc chủ nghĩa C.Mác, cho đấy là “chủ nghĩa không có con người”, và các thế lực thù địch ở Việt Nam dưới chiêu bài “bảo vệ nhân

Trang 14

quyền”, nhằm phá hoại vu khống, bôi nhọ sự lãnh đạo của Đảng ta, chế độ chính trị của nhà nước ta Chúng ra sức xuyên tạc những tư tưởng những đường lối chính sách Đảng đã đề ra trong Hiến pháp Để đấu tranh chống lại những âm mưu, những luận điệu xuyên tạc ấy, việc đi sâu nghiên cứu phân tích vấn đề con người trong triết học Mác - Lênin và tư tưởng quyền con người trong Hiến pháp và quá trình đảm bảo quyền con người ở nước ta có ý nghĩa thực tiến vô cùng to lớn nhằm chống lại những tư tưởng xuyên tạc của các thế lực thù địch làm ảnh hưởng đến nền chính trị của ta hiện nay Đây cũng là phương cách tốt nhất để ta đứng vững trên mặt trận đấu tranh vì quyền con người, vì chủ nghĩa xã hội, vì độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ của dân tộc Việt Nam hiện nay Ngoài ra, luận văn này còn có thể giúp một phần nào đó cho việc làm tài liệu tham khảo, học tập và nghiên cứu triết học và pháp luật

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo luận văn gồm 2 chương, 4 tiết

Trang 15

Chương 1

CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CON

NGƯỜI

Nhận thức về con người một cách đầy đủ và hoàn thiện là sự kế thừa quá trình tiến triển lâu dài của triết học phương Tây lẫn phương Đông Bằng những tiền đề đã có trong lịch sử, trên cơ sở tiếp thu một cách chọn lọc, kế thừa và phát triển những tư tưởng hợp lý của các nhà triết học trong lịch sử nhân loại, từ triết học Ấn Độ, Trung Quốc, Hy lạp- La Mã cổ đại, đến các nhà triết học cổ điển Đức Chủ nghĩa Mác- Lênin đã xây dựng nên một học thuyết

về con người đầy đủ và khoa học, được thể hiện ở những nội dung sau:

1.1.1 Nguồn gốc, bản chất và vai trò của của con người

Nguồn gốc của con người

Các nhà triết học – thần học coi con người và xã hội chẳng qua chỉ là những hình thái biểu hiện cụ thể khác nhau của một đấng siêu nhiên Những nhà duy tâm khách quan tiêu biểu như Platon, sau là Hêghen tuy không mượn tới thần linh, nhưng lại nhờ tới “ý niệm” hoặc “ý niệm tuyệt đối”, để lý giải nguồn gốc và bản chất của con người Tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của triết học trước đó, trực tiếp là triết học cổ điển Đức, C.Mác đã nhận ra những sai lầm của Hêghen và Phoiơbắc khi xây dựng quan điểm của mình về bản chất con người Các ông đã phê phán một cách có luận cứ khoa học trên tinh thần cách mạng đối với quan niệm duy tâm tư biện của Hêghen, khi coi con người là hiện thân của “ý niệm tuyệt đối” Đối với quan điểm duy vật nhân bản của Phoiơbắc về con người và giải phóng con người, C.Mác cũng nhận rõ tính chất siêu hình trong quan điểm của Phoiơbắc, khi đồng nhất tính sinh học vào bản chất con người, tách con người ra khỏi đời sống xã hội, hòa

Trang 16

tan bản chất con người vào bản chất tôn giáo; do đó, không thấy được hoạt động đích thực của con người là hoạt động thực tiễn, mà chỉ coi “hoạt động lý luận là hoạt động đích thực của con người.” [12,12] Triết học Mác-Lênin vén tấm màn bí ẩn về con người và đi đến kết luận về đặc trưng tồn tại của con người, đó là một thực thể thống nhất giữa các mặt sinh học- xã hội- tinh thần Thành tựu của di truyền học đã xác định luận điểm nổi tiếng của chủ nghĩa C.Mác về sự thống nhất của thế giới vật chất, là cơ sở vững chắc cho chủ nghĩa duy vật bác bỏ những quan điểm thần bí và tôn giáo về con người Với quan điểm duy vật về lịch sử giúp C.Mác và Ph.Ăngghen nhận ra, con người

là kết quả của sự tiến hóa lâu dài trong nhiều triệu năm của vật chất, là “một

cơ thể phức tạp nhất mà giới tự nhiên sản sinh ra được.” [11,475]

Nếu đứng về mặt sinh học “con người là một bộ phận của giới tự nhiên” [22,35], phát sinh trực tiếp từ động vật, thống nhất chặt chẽ với tổ tiên động vật về cơ sở phân tử của tính di truyền và cơ sở tổ chức tế bào Khoa học và thực tiễn đã chứng minh rằng, tiền đề đầu tiên của sự tồn tại người là sự sống

và thể xác Thể xác của con người trước hết là vật thể của giới tự nhiên như Ph.Ănghen đã nhận xét trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên: “bản thân chúng ta với cả xương thịt, máu mủ và đầu óc chúng ta là thuộc về giới tự nhiên” [72,268-269] Chính vì vậy, với phần thể xác tự nhiên ấy, con người cũng có những thuộc tính không khác các động vật về những nhu cầu tự nhiên (ăn, uống, ngủ, nghĩ, duy trì nòi giống, tự vệ… ) mà nếu thiếu những thuộc tính này con người không thể tồn tại được Không phủ nhận con người là một thực thể sinh học, bởi con người cũng có những yếu tố hữu sinh, hữu cơ, những cái về bề mặt phát sinh gắn bó với tổ tiên động vật, những yếu tố làm cho con người hình thành và hoạt động như một cá thể Trong Bản thảo kinh tế- triết học năm 1844, C.Mác đã lập luận rất thuyết phục rằng giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người, con người sống bằng giới tự nhiên, đời sống thể

Trang 17

xác và tinh thần của con người gắn với giới tự nhiên Giới tự nhiên bao giờ cũng tồn tại hiện thực với con người và là đối tượng cho hoạt động của con người; song trong mọi hoạt động của mình, con người luôn xuất phát từ những nhu cầu của bản thân mình Điều này đặc trưng cho sự vận động lịch sử của đời sống sinh hoạt hiện thực của con người cũng như cho việc nhận thức sự vận động đó Khẳng định điều này, C.Mác nhấn mạnh: “Như thế nghĩa là giới

tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua chỉ

có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên” [22,135] Như vậy, với C.Mác, con người tồn tại bao giờ cũng gắn liền với điều kiện tự nhiên nhất định; hơn thế nữa, con người là một bộ phận không thể tách rời giới tự nhiên

Con người giống như các loài động vật khác, con người cũng phải tìm kiếm mọi điều kiện cần thiết cho sự tồn tại trong đời sống tự nhiên, như tìm kiếm thức ăn cũng như đấu tranh với tự nhiên, với thú dữ cho sự sinh tồn của mình Trải qua hàng triệu năm con người dần dần phát triển mình lên tầm cao mới, tách mình ra khỏi thế giới của những loài động vật bình thường, con người đã thay đổi mình từ loài vượn thành người Điều này chứng minh cho các giai đoạn sinh học mà con người đã trải qua từ khi hình thành, phát triển

đã quy định bản tính sinh học trong con người Với cấu tạo sinh học riêng, con người là động vật đặc biệt, là động vật cao cấp nhất, tinh hoa nhất của muôn loài, con người là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của thế giới

tự nhiên Sự xuất hiện của con người là một bước ngoặt vĩ đại, một khâu kỳ diệu trong sự tiến hóa của sự sống trên trái đất Con người là động vật ở bậc thang cao nhất, đồng thời là động vật sinh động nhất, bỏ xa các động vật xuất hiện trước con người trong quá trình tiến hoá, nhưng như thế không có nghĩa

Trang 18

là con người đã lột bỏ tất cả những cái tự nhiên để không còn một sự liên hệ nào với tổ tiên của mình, con người có thể chinh phục tự nhiên, cải tạo tự nhiên Con người là một sinh vật có tính loài, là một bộ phận của giới tự nhiên, có hoạt động sinh sống có ý thức, cho nên về bản chất hoạt động của con người là hoạt động tự do, có khả năng tri thức Tất cả những quan hệ, những biến đổi xuất hiện do ảnh hưởng của các điều kiện xã hội khác nhau, những quy định về mặt xã hội đã tạo nên con người Mặt tự nhiên không phải

là yếu tố duy nhất quy định nên bản chất con người, yếu tố xã hội đã quy đinh nên sự khác biệt và vượt bậc của con người với động vật khác Tuy nhiên, để nhìn thấy vấn đề con người ở góc độ toàn diện, cụ thể trong toàn bộ tính hiện thực của nó, triết học C.Mác đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, nhận thấy con người có được sự vượt bậc so với các loài động vật khác chỉ có thể tồn tại được khi tiến hành lao động sản xuất của cải vật chất để thoả mãn nhu cầu mình Lao động là nguồn gốc cho con người và xã hội tồn tại; theo logic thì lao động là nguồn gốc của văn hoá vật chất và tinh thần Trong lao động, con người quan hệ với nhau trong lĩnh vực sản xuất, đó là những quan

hệ nền tảng hình thành các quan hệ xã hội khác trong các lĩnh vực đời sống và tinh thần Lao động của con người chính là điều kiện cơ bản, đầu tiên của toàn

bộ đời sống loài người, là cái sáng tạo ra bản thân con người Các nhà kinh tế chính trị khẳng định rằng: lao động là nguồn gốc của mọi của cải, vì khi đi đôi với giới tự nhiên, là cái cung cấp những vật liệu cho lao động biến thành của cải Lao động là một điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại của con người, là môi giới cho sự trao đổi chất giữa con người với tự nhiên, tức là cho bản thân

sự sống của con người Trong cơ thể con người không chỉ có những nhu cầu

tự nhiên và các quy luật sinh học, mà còn những nhu cầu xã hội và các quy luật sinh-tâm lý, tình cảm xã hội…Hơn nữa, ngay trong những nhu cầu tự nhiên của con người không còn thuần túy tự nhiên, nó đã mang chút gì đó màu

Trang 19

sắc của tính xã hội hóa sâu sắc Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin thừa nhận ý nghĩa hiển nhiên của các yếu tố sinh học đối với con người, nhưng không bao giờ họ coi đó là tính quyết định Bởi từ khi thoát khỏi loài vượn thì con người không còn là động vật thuần túy như bao loài động vật khác mà trở thành một thực thể xã hội- sinh học Bằng hoạt động sản xuất ra thế giới vật chất đồng thời có khả năng cải tạo thế giới tự nhiên, cải tạo xã hội, con người tỏ ra là một sinh vật có tính loài có ý thức, có tính nhân văn, tính đồng loại nghĩa là coi những người cùng loài với mình như chính bản thân mình Đó là những đặc tính chỉ có con người mới có, xuất hiện cùng với sự xuất hiện của loài người Thừa nhận con người là một “động vật xã hội”, chủ nghĩa Mác - Lênin đương nhiên thừa nhận sự phát triển mọi mặt của con người là tuân theo hai loại quy luật là quy luật sinh học và quy luật xã hội Ở con người, đặc biệt là con người hiện đại, vai trò của hai loại quy luật này là không giống nhau, nhất là về cường độ và thời gian tác động Quy luật sinh học tác động quyết định ở giai đoạn đầu trong sự phát sinh và phát triển của con người, từ khi là hợp tử đến khi lọt lòng Nhưng càng về sau các quy luật

xã hội càng chi phối với tính chất quyết định, nhất là đối với sự hình thành nhân cách Chính nhờ cấu trúc “sinh vật-xã hội” kết hợp với quá trình lao động và ngôn ngữ, con người phản ánh một cách tích cực sáng tạo hiện thực khách quan vào bộ não con người hình thành nên ý thức Các nhà triết học của chủ nghĩa Mác - Lênin không quá tập trung nghiên cứu về cấu trúc cơ thể con người, mà tập trung vào những hoạt động của con người trong lịch sử C.Mác cho rằng “bản thân con người bắt đầu bằng sự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình- đó là bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình” [13,29] Cũng giống như các loài động vật khác, để tồn tại con

Trang 20

người phải tự kiếm sống, nhưng cách kiếm sống của con người khác xa cách kiếm sống của các loài động vật xung quanh mình C.Mác đã chỉ rõ: “Cố nhiên con vật cũng sản xuất Nó xây dựng tổ, chổ ở của nó, như con ong, con hải ly, con kiến Nhưng con vật chỉ sản xuất cái mà bản thân nó hoặc con nó trực tiếp cần đến; nó sản xuất một cách phiến diện, trong khi con người sản xuất một cách toàn diện; con vật chỉ sản xuất vì bị chi phối bởi nhu cầu thể xác trực tiếp, còn còn người sản xuất ngay cả khi không bị nhu cầu đó ràng buộc” [22,137] Và “ con vật chỉ sản xuất ra bản thân nó, còn con người tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên” Hơn nữa việc tái sản xuất của con người không chỉ giải quyết nhu cầu vật chất, mà còn vì những nhu cầu tinh thần Con người vốn có bản chất tự do, có tính loài và có ý thức, sản xuất không chỉ vì có nhu cầu bản thân mà còn vì muốn tạo ra một thế giới của loài người theo quy luật của cái đẹp Do đó, theo C.Mác: “con vật chỉ xây dựng theo kích thước và nhu cầu loài của nó, còn con người thì có thể sản xuất theo kích thước của bất kỳ loài nào và ở đâu cũng biết vận dụng bản chất cố hữu của mình vào đối tượng;

do đó, con người cũng xây dựng theo quy luật của cái đẹp” [22,137] Hiểu được ý nghĩa, C.Mác đã cho rằng “con vật đồng nhất trực tiếp với hoạt động sinh sống của nó Nó không tự phân biệt nó với hoạt động sinh sống của nó

Nó là hoạt động sinh sống ấy Còn con người làm cho bản thân hoạt động sinh sống của mình trở nên đối tượng của ý chí và của ý thức của mình Hoạt động sinh sống của con người là hoạt động sinh sống có ý thức….Hoạt động sinh sống có ý thức phân biệt trực tiếp con người với hoạt động sinh sống của con vật” [22,136] Hoạt động của con người và con vật khác nhau, hoạt động của con vật chủ yếu là bản năng, trong khi hoạt động của con người là hoạt động

có ý thức, hoạt động này là điểm cơ bản để phân biệt con người với con vật

Trang 21

Bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội

Khắc phục những thiếu xót cũng như tiếp thu những điểm hợp lý của các nhà triết học đi trước trong vấn đề triết học về con người, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xuất phát từ con người hiện thực, từ cá nhân trong hoạt động thực tiễn, những mối quan hệ phức tạp “Hoàn toàn trái với triết học Đức là triết học từ trên trời đi xuống đất, ở đây chúng ta từ dưới đất đi lên trời, tức

là chúng ta không xuất phát từ những điều mà con người nói, tưởng tượng, hình dung, chúng ta cũng không xuất phát từ những con người chỉ tồn tại trong lời nói, trong ý nghĩa, trong trí tưởng tượng, trong biểu tượng của người khác, để từ đó mà đi tới những con người bằng xương bằng thịt; không, chúng ta xuất phát từ những con người đang hành động, hiện thực và chính là cũng xuất phát từ quá trình đời sống hiện thực của họ mà chúng ta

mô tả sự phát triển của sự phản ánh tư tưởng và tiếng vang tư tưởng của quá trình đời sống ấy Ngay cả những ảo tưởng hình thành trong đầu óc con người cũng là những vật thăng hoa tất yếu của quá trình đời sống vật chất của họ, một quá trình có thể xác định được bằng kinh nghiệm và gắn liền với những điều kiện vật chất” [9,37-38]

C.Mác và Ph.Ăngghen đã vượt lên trên tất cả các học thuyết mang tính thần thánh, ý niệm, tự nhiên, trừu tượng trong lịch sử khi coi: “bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng lẻ Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ” [12,11] Đây là luận điểm cực kỳ quan trọng trong triết học Mác - Lênin, dẫn đến bước ngoặt về chất trong lịch sử triết học về xã hội, về con người Trong

sự tồn tại của mình, con người không tách rời xã hội, con người chịu sự điều chỉnh của các quan hệ xã hội trong việc hình thành nhân cách, cũng như phát triển chính bản thân mình Mỗi cá nhân là một chỉnh thể năng động, phát triển thống nhất giữa cái chung và cái đặc thù và cái đơn nhất Vai trò và giá

Trang 22

trị của mỗi cá nhân chỉ có thể bộc lộ và có ý nghĩa khi đặt trong quan hệ với

xã hội, với cộng đồng Do đó, con người cá nhân không thể tách khỏi con người tập thể

Con người là một thực thể phức hợp vô cùng đa diện, đa dạng, và đa hệ

Sự hình thành và phát triển bản chất con người do vậy cũng chịu sự tác động tổng hợp, nhiều chiều và đa dạng của các yếu tố, quan hệ trong rất nhiều lĩnh vực của xã hội Trong hệ thống những quan hệ phức tạp ấy, nổi bật hơn cả là quan hệ sản xuất giữ vai trò quyết định Bởi hạt nhân của quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong việc sở hữu tư liệu sản xuất đã chi phối hết thẩy những quan hệ còn lại của con người như quan hệ giữa con người với

tự nhiên, quan hệ giữa con người với khả năng chinh phục tự nhiên của con người Điều này tất yếu làm thỏa mãn những nhu cầu của mình, con người đã tác động vào tự nhiên, làm xuất hiện những quan hệ kinh tế giữa người với người Quan hệ kinh tế này làm nền tảng cho sự phân hóa con người về mặt xã hội, quy định nên bản chất của con người C.Mác đã viết: “Trong sự sản xuất

xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức là những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ” [16,14-15] Từ những mối quan hệ hình thành trong quá trình lao động sản xuất đã hình thành nên các quan hệ xã hội khác và chính những quan hệ xã hội này đã tác động trở lại làm biến đổi quan hệ sản xuất Những quan hệ ấy cũng là cơ sở hình thành nên xã hội- là nơi chứa đựng những cá thể loài, trong đó có con người và các quan hệ của con người với nhau, quy định nên bản chất của con người C.Mác và Ph.Ăngghen đã đặt con người trong những mối quan hệ với cá nhân, trong những mối quan hệ xã hội hiện thực, làm điều kiện để phát triển con người Không có cộng đồng, không

có môi trường xã hội thì cá nhân khó có thể phát triển, khó có thể khẳng định

Trang 23

chính mình cũng như khó nhận biết mình là ai Khi đặt con người trong mối quan hệ xã hội để tìm ra bản chất con người, nghĩa là C.Mác - Ph.Ăngghen đã đứng trên mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái bộ phận và cái toàn thể Trong mỗi cộng đồng, mỗi giai đoạn lịch sử tạo ra những cá nhân cụ thể, chứ không phải là những cá nhân chung chung, trừu tượng cho mọi chế độ xã hội, mỗi giai đoạn lịch sử - một sai lầm phổ biến về nhận thức của nhiều triết gia trước đó Như vậy, bản chất con người vừa là sự phán ánh cái chung của sự phát triển xã hội loài người, đồng thời lại vừa phản ánh cái riêng biệt của mỗi thời đại lịch sử Trong xã hội, cá nhân được phát triển một cách toàn diện, nhưng theo C.Mác và Ph.Ănghen, cá nhân không thể có được tự do riêng lẽ của mình, bởi “trong điều kiện có cộng đồng thực sự, các cá nhân có được tự

do khi họ liên hợp lại và nhờ sự liên hợp ấy” [9,108] Trong mọi hoàn cảnh, các cá nhân, mặc dù bao giờ cũng xuất phát từ bản thân mình, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của mình, họ cần phải có liên hệ với người khác thông qua các quan hệ xã hội Như vậy, “chỉ có trong cộng đồng cá nhân mới có được những phương tiện để có thể phát triển toàn diện về năng khiếu của mình và do đó, chỉ có trong cộng đồng, mới có thể có tự do cá nhân” [9,108]

Với phương pháp lịch sử cụ thể, khi xem xét đánh giá mỗi con người, C.Mác và Ph.Ănghen đã chỉ rõ tính cụ thể của con người thông qua những mối quan hệ con người tiếp xúc hay những nhu cầu mà con người cần có Quá trình sản xuất ra đời sống vật chất, tham gia những quan hệ xã hội làm nảy sinh đời sống tinh thần của con người, nảy sinh bản chất con người Mỗi con người, mỗi thế hệ người khi ra đời không thể tự chọn lựa cho mình những quan hệ theo sở thích, mà phải gia nhập ngay vào những quan hệ đã có, và dù muốn hay không cũng phải trở thành “cái mang những mối quan hệ xã hội ấy” Chính vì vậy, trong đời sống thực tiễn của con người không bộc lộ như là thực thể sinh vật, mà là một thực thể xã hội Những mối quan hệ xã hội nhất

Trang 24

định sẽ quyết định sự tồn tại của các cá nhân, quyết định những nhu cầu và mục đích hoạt động của cá nhân Ngược dòng lịch sử của xã hội loài người từ khi xuất hiện đến nay, khi phương thức sản xuất mới ra đời thay thế phương thức sản xuất cũ, thì hình thái kinh tế - xã hội cũng biến đổi; trong sự thay thế

ấy, con người đóng vai trò là nhân tố quyết định Tuy nhiên, trong mỗi hình thái kinh tế- xã hội khác nhau với những mối quan hệ xã hội tương ứng của

nó, bản chất con người cũng khác nhau Bản chất ấy có thể nói ngày càng hướng đến sự hoàn thiện hơn, trình độ tư duy, năng lực chủ thể trong xã hội được phát triển, vai trò và vị trí của con người trong xã hội cũng được quan tâm hơn Khi không xuất phát từ hệ thống các quan hệ xã hội nhất định sẽ không hiểu hết nét đặc thù của con người, bản chất của con người C.Mác và Ph.Ăngghen đã thừa nhận tất cả các quan hệ đều góp phần vào việc hình thành bản chất con người chứ không riêng một quan hệ nào Và các mối quan hệ ấy

có mối liên hệ mật thiết với nhau trong suốt lịch sử tồn tại của mình; do vậy, khi đánh giá bản chất con người thông qua các mối quan hệ không chỉ dựa vào mối quan hệ hiện tồn, mà cần kế thừa những mối quan hệ trước đó Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, khi xem xét bản chất con người không nên tách rời hiện tại và tương lai, bởi thế hệ những con người tương lai cũng lại sẽ kế thừa

di sản của thế hệ những con người hiện tại Ph Ănghen từng viết: “Để tạo ra cái định đề cơ bản cho rằng hai người và ý chí của họ là hoàn toàn bình đẳng với nhau và không một người nào trong hai người đó lại có thể chỉ huy người kia, thì chúng ta hoàn toàn không thể dùng bất kỳ hai người đàn ông nào Đó phải là hai người hoàn toàn thoát ly mọi hiện thực, thoát ly mọi quan hệ dân tộc, kinh tế, chính trị và tôn giáo tồn tại trên trái đất, thoát ly mọi đặc tính giới tính và cá nhân , đến mức là hai người ấy chỉ còn lại có khái niệm thuần túy là

“người” và chỉ lúc ấy thì họ mới thật sự “hoàn toàn bình đẳng” [18,142-143]

Trang 25

Đây là điều không tưởng, bởi vì con người là sản phẩm của xã hội và xã hội luôn vận động nên con người cũng chịu ảnh hưởng của sự vận động ấy

Con người là chủ thể của lịch sử

Con người bắt nguồn từ động vật, từ giới tự nhiên; cũng giống như các loài động vật khác, con người sống được là nhờ giới tự nhiên Tuy nhiên, con người khác con vật, khi con người không phải là đối tượng lệ thuộc hoàn toàn vào giới tự nhiên, sống dựa vào sự “ban phát” của giới tự nhiên Loài vật lợi dụng giới tự nhiên để tồn tại theo bản năng của nó, nhưng con người biết bắt

tự nhiên phải phục vụ cho những mục đích của chính mình, con người biết làm chủ giới tự nhiên Con người đã tạo ra những biến đổi trong giới tự nhiên phù hợp với nhu cầu cuộc sống của mình và trở thành chủ thể thống trị giới tự nhiên “Nghĩa là thế giới không thỏa mãn con người, và con người quyết định biến đổi thế giới bằng hành động của mình” [102,229] Đấy là những con người ở vị trí trung tâm thế giới làm thước đo cho mọi vật, làm chủ cuộc sống, con người không ngừng phát huy mọi sức mạnh, mọi tiền năng và năng lực của mình theo hướng vươn tới những chủ thể tích cực và hoàn thiện Con người không phải là chỉnh thể đứng ngoài xã hội, mà là chủ thể đóng vai trò quyết định trong mọi lĩnh vực, mọi quá trình tích cực của xã hội

Các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp giữa cơ thể và môi trường, quy luật về quá trình trao đổi chất, tác động tạo nên phương diện sinh học của con người Các quy luật tâm lý, ý thức hình thành và hoạt động trên nền tảng sinh học của con người hình thành tư tưởng tình cảm khát vọng niềm tin, ý chí Các quy luật xã hội quy định mối quan hệ giữa người với người, điều chỉnh hành vi của con người Hệ thống các quy luật trên cũng tác động lên con người, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh giữa cái sinh học, cái xã hội trong con người Tuy nhiên, khác với các loài động vật thông thường, con

Trang 26

người mang trong mình nét độc đáo riêng, giúp chúng ta nhận ra được tầm quan trọng và ý nghĩa của sự tồn tại Nếu con vật là sản phẩm của tự nhiên, tồn tại theo bản năng, theo quy luật tự nhiên đã ban tặng, ở con người, mặc dù

là đối tượng tồn tại do sự tác động của tự nhiên, do sự tiến hóa của lịch sử nhân loại, nhưng con người biết thống trị tự nhiên , khắc phục được tự nhiên, biến đổi bộ mặt của tự nhiên, bắt tự nhiên phải phục vụ con người Với tư cách

là con người xã hội, là con người hoạt động thực tiễn, con người sản xuất ra của cải vật chất, tác động vào tự nhiên để cải tạo tự nhiên Đó là điều tạo nên vai trò chủ thể của con người đối với lịch sử xã hội Nhưng, con người chỉ có thể thống trị tự nhiên nếu biết tuân theo và nắm bắt các quy luật của chính bản thân nó Quá trình cải biến tự nhiên, con người không những là sản phẩm của

xã hội mà con người còn là chủ thể cải tạo chúng Bằng mọi hoạt động lao động sản xuất, con người sáng tạo ra toàn bộ nền văn hoá vật chất, tinh thần; bằng hoạt động cách mạng, con người đánh dấu thêm các trang sử mới cho chính mình Mặc dù tự nhiên và xã hội đều vận động theo những quy luật khách quan, song quá trình vận động của con người luôn xuất phát từ nhu cầu, động cơ và hứng thú, theo đuổi những mục đích nhất định và do đó đã tìm cách hạn chế hoặc mở rộng phạm vi tác dụng của quy luật cho phù hợp với nhu cầu và mục đích của mình Nếu không có con người với tư cách là chủ thể sinh động nhất của xã hội thì không thể có xã hội, không thể có sự vận động của xã hội mà vượt lên tất cả chính là của cải vật chất

Nói đến xã hội, chúng ta hiểu ngay rằng đó là sản phẩm của con người trong sự gắn kết cộng đồng, trong những mối quan hệ đa dạng của nó Bản thân con người không chỉ là sản phẩm cao nhất trong sự phát triển lâu dài của

tự nhiên, mà còn là một thực thể xã hội phức tạp Con người ngay từ khi là xuất hiện đã tự mình khám phá tự nhiên, thúc đẩy xã hội phát triển và khám phá những bí mật của chính bản thân mình Trong suốt quá trình phát triển lâu

Trang 27

dài của lịch sử tư tưởng nhân loại, con người bao giờ cũng là chủ thể của lịch sử- xã hội Quan niệm của C.Mác và Ph.Ănghen, giới tự nhiên bao giờ cũng tồn tại hiện thực đối với con người và là đối tượng cho hoạt động của con người; song, trong mọi hoạt động của mình, con người luôn xuất phát từ những nhu cầu của bản thân Điều này đặc trưng cho sự vận động lịch sử của đời sống sinh hoạt hiện thực của con người cũng như cho việc nhận thức sự vận động ấy Trong quá trình nhận thức lịch sử nhân loại, con người bao giờ cũng bắt đầu từ sự nhận thức về bản thân mình với tư cách là tiền đề xuất phát Theo các ông, nhận thức về lịch sử không phải là sự nhìn nhận cái bên ngoài, lịch sử là kết quả hoạt động của chính bản thân con người Con người là chủ thể chân chính nhất của lịch sử, hoạt động của con người tác động nên bộ mặt của lịch sử Nhận thức về lịch sử cũng chính là sự tự nhận thức và hoạt động của chính con người, con người làm nên lịch sử, mong muốn nắm bắt tiến trình lịch sử của con người dựa trên những thành tựu mới nhất về con người, tức là từ chính bản thân con người

Khi hình thành quan niệm duy vật về lịch sử, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định vai trò cải tạo thế giới, làm nên lịch sử của con người Bằng sự phát triển toàn diện thì con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển lực lượng sản xuất, khi lực lượng sản xuất càng phát triển thì khả năng chiếm lĩnh và sử dụng các lực lượng tự nhiên ngày càng cao hơn, con người tạo ra ngày càng nhiều hơn cơ sở vật chất cho bản thân mình, đồng thời từ đó thúc đẩy con người tự hoàn thiện chính bản thân họ Với quan điểm như vậy thì Chủ nghĩa Mác-Lênin đã kết luận: Con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, mà nó còn là chủ thể của quá trình lịch sử, của tiến bộ

xã hội Đặc biệt khi xã hội loài người phát triển đến trình độ nền kinh tế tri thức thì vai trò của con người đặt biệt quan trọng, vì con người tạo ra tri thức

Trang 28

mới, chứa đựng những tri thức mới C.Mác đã từng nói: “Cùng với con người, chúng ta bước vào lịch sử” [11,476]

Khi xem xét mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác- Lênin luôn đặt trọng tâm vào đời sống sản xuất của con người, theo các ông đánh giá là đời sống loài của con người “Công nghiệp là quan hệ lịch sử hiện thực của tự nhiên, và do đó cả của khoa học tự nhiên với con người” [18,178] “Còn đối với con người, thì ruộng đất tồn tại chỉ nhờ có lao động, canh tác” [22,160] Các ông đã coi tính đặc thù của tồn tại con người dựa trên quá trình sản xuất, trên sự cải tạo thực tiễn thế giới vật chất Lịch sử nhân loại, lịch sử xã hội loài người có được bao giờ cũng bắt đầu từ hoạt động sản xuất vật chất, khi lấy nó làm điểm xuất phát trong việc xem xét mối quan

hệ của con người với tự nhiên, bởi các nhà sáng lập của chủ nghĩa Mác-Lênin

đã vạch rõ tính chất lịch sử của mối quan hệ đó Với tư cách là tiền đề, điều kiện cho đời sống con người, khách thể của quan hệ với con người, tự nhiên trở thành kết quả lịch sử Tự nhiên mở ra cho con người khả năng sáng tạo, như C.Mác nói “Toàn bộ cái gọi là lịch sử toàn thế giới chẳng qua chỉ là sự sáng tạo con người kinh qua lao động của con người, sự sinh thành của tự nhiên cho con người” [22,182] Con người đối với với thực thể tự nhiên với tư cách là một lực lượng của tự nhiên, con người vận dụng sức mạnh tự nhiên thuộc về thân thể của mình để chiểm hữu tự nhiên, tác động vào tự nhiên, bắt

tự nhiên phục vụ cho con người Bởi “giới tự nhiên là tư liệu sinh sống trực tiếp đối với con người”, “giới tự nhiên là vật liệu, đối tượng và công cụ của hoạt động sinh sống của con người” [22,135] Nhưng nhờ con người toàn bộ giới tự nhiên mới bộc lộ hết giá trị của nó, lịch sử nhân loại mới tồn tại Như trong Hệ tư tưởng Đức, C.Mác viết: “Tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống Vì vậy, điều cụ thể đầu tiên cần phải xác định là tổ chức cơ thể của những cá nhân ấy và mối

Trang 29

quan hệ mà tổ chức cơ thể ấy tạo ra giữa họ với phần còn lại của tự nhiên” [12,29] Con người có những mặt tự nhiên như các loại động vật khác, nhưng mặt tự nhiên của con người không thuần túy như các loài sinh vật ấy Con người thực hiện đời sống sinh vật theo cách của mình, tạo văn hóa của cả một cộng đồng người và toàn thể nhân loại Khi nói đến con người, không phải nói con người trong trạng thái tự nhiên thuần túy, mà là con người hoạt động thực tiễn, biết làm chủ tự nhiên, tạo ra lịch sử cho nhân loại, làm biến đổi đời sống

xã hội, đồng thời cũng biến đổi chính mình

Xét về vị thế của con người trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin đã đi đến quan niệm: “xã hội là sản phẩm của sự tác động quan lại giữa những con người ” [20,607] và “lịch

sử của con người luôn chỉ là lịch sử của sự phát triển cá nhân của những người” [20,658] Con người tạo ra bước nhảy cho chính mình “từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do” khi con người làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội “một cách thực sự và có ý thức” , khi “những lực lượng khách quan bên ngoài” mà từ trước đến nay vẫn “thống trị lịch sử” sẽ do chính con người kiểm soát và con người “bắt đầu tự mình sáng tạo ra lịch sử của chính mình một cách hoàn toàn tự giác” [17,330] Với khả năng lao động và năng lực sáng tạo con người đã trở thành động lực cho sự phát triển kinh tế- xã hội, cho

sự thay đổi các hình thái kinh tế- xã hội, từ lạc hậu đến hiện đại, từ bất công đến công bằng, đồng thời con người trở thành chủ thể sáng tạo nên những giá trị, những nền văn minh của lịch sử nhân loại

1.1.2 Vấn đề giải phóng con người

Vấn đề giải phóng con người đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử xã hội loài người Khi con người ý thức được chính mình, nhận thấy những mâu thuẫn trong xã hội là nguồn gốc tạo nên sự đau khổ, sự bất bình đẳng trong họ,

Trang 30

thì khát vọng được giải phóng đã xuất hiện thông qua các tư tưởng triết học thần học Song, đến với triết học Mác - Lênin, đề tài về sự giải phóng con người bước qua một chương mới, khi coi sự giải phóng loài người khỏi bị áp bức bóc lột, khỏi sự sỉ nhục không phải là một loại giải phóng có tính đặc thù

mà nó phải là quy tắc cho mọi sự giải phóng Triết học mácxít là triết học mang tính nhân văn sâu sắc, do đó con người trong chủ nghĩa Mác-Lênin là điểm xuất phát và sự giải phóng con người là mục tiêu cao nhất

Tính tất yếu giải phóng con người

Trong xã hội bao giờ cũng tồn tại những mặt đối lập, đó là nguồn gốc sinh ra mâu thuẫn Đặc biệt trong xã hội tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn trở nên gay gắt nhất khi phương thức bóc lột trở nên hiện đại, khi sự chà đạp lên giá trị của con người ngày càng tinh vi Lao động là hoạt động người, song lao động của người công nhân không phải để thỏa mãn nhu cầu của lao động mà chỉ vì sự sinh tồn của thể xác- đó là lao động cưỡng bức Những chức năng, những giá trị sống của người công nhân không được nguyên nghĩa của nó Người công nhân bị chính sức lao động của mình làm cho què quặt cùng với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, vì lợi nhuận đã “ném một bộ phận công nhân trở về với lao động dã man và biến một bộ phận công nhân thành những cái máy” [22,131] Chính chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự áp bức bất công trong xã hội, sự tha hóa của người công nhân làm thuê Sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất đã tập trung những tư liệu sản xuất cơ bản của xã hội vào trong tay một số nhà tư sản, một số tập đoàn tư bản làm cho tuyệt đại đa

số người lao động trở thành người vô sản Nhu cầu sinh tồn đã buộc những con người không có tư liệu sản xuất tự nguyện một cách cưỡng bức trở thành

Trang 31

người làm thuê cho tư bản, chịu sự bóc lột của giai cấp tư sản, và quá trình người bóc lột người cứ liên tiếp diễn ra

Nhà tư bản đã lấy đi phần thặng dư mà người công nhân làm ra nhằm tạo giá trị thặng dư cho họ Sự vận động và phát triển của chủ nghĩa tư bản là dựa vào sự bóc lột giá trị sức lao động của công nhân làm thuê, “thử hỏi lao động làm thuê, lao động của người vô sản, có tạo ra sở hữu cho người vô sản không? Tuyệt đối không Nó tạo ra tư bản, tức là cái sở hữu bóc lột lao động làm thuê, cái sở hữu chỉ có thể tăng lên với điều kiện là phải cứ sản xuất mãi mãi ra lao động làm thuê để lại bóc lột lao động làm thuê đó.” [9,559] Với chế độ quyền sở hữu chỉ có ở giai cấp tư sản thì sự sở hữu vận động ở hai cực đối lập: tư bản và người lao động Tư bản ra sức bóc lột người lao động nhằm tạo ra lợi nhuận cho mình, còn người lao động phải tiêu hao sức lao động nhưng chẳng tạo cho mình lợi nhuận Người lao động được C.Mác và Ph.Ăngghen đặt một cái tên “là người tư bản”, họ là giai cấp công nhân làm việc cho nhà tư bản và chính họ tạo ra tư bản cho nhà tư bản Có điều họ không được những gì như nhà tư bản, mà họ phải chịu cảnh áp bức, bóc lột như đã phân tích ở trên C.Mác và Ph.Ăngghen đã nói “là nhà tư bản tức là không những chỉ chiếm một địa vị thuần tuý cá nhân mà còn chiếm một địa vị

xã hội trong sản xuất” [9,559] C.Mác và Ph.Ăngghen với con mắt nhân đạo của mình, hai ông đã nhận thấy người công nhân trong thời đại đó không còn

là yếu tố cá nhân, mà trở thành yếu tố có “địa vị xã hội trong sản xuất” Vì nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là nền sản xuất công nghiệp, buộc người lao động liên kết lại với nhau làm việc theo dây chuyền Chính điều này C.Mác đã nói

“Tư bản là sản phẩm của tập thể” [9,559] cho nên “tư bản không phải là một lực lượng cá nhân, nó là một lực lượng xã hội” [9,560] Nó chính là nhờ hoạt động chung của tất cả cá nhân toàn xã hội sản xuất, mang tính chất xã hội; vậy

mà trên thực tế, giai cấp tư sản lại biến nó thuộc sở hữu cá nhân Xu hướng ấy

Trang 32

ngày càng phát triển, và “công nhân càng sản xuất nhiều thì anh ta có thể tiêu dùng càng ít; anh ta tạo ra càng nhiều giá trị thì bản thân anh ta càng bị mất giá trị, càng bị mất phẩm cách; sản phẩm của anh ta tạo ra dáng càng đẹp thì anh ta càng què quặt; vật phẩm do anh ta tạo ra càng văn minh thì bản thân anh ta càng giống với người dã man; lao động càng hùng mạnh thì người công nhân càng ốm yếu; công việc anh ta làm càng phức tạp thì bản thân anh ta càng trống rỗng về trí tuệ và càng bị nô lệ vào giới tự nhiên” [22,131]

Nhưng tất cả đều có nguyên do của nó; sở hữu tư nhân vừa là cơ sở vừa

là nguyên nhân của sự bất công ấy, nó khiến cho lao động của người công nhân bị tha hóa Trong điều kiện của Chủ nghĩa tư bản, C.Mác đã vạch rõ thực chất sự tha hóa của lao động chính là sự bất công xã hội, thể hiện ở quan hệ không công bằng giữa người lao động với chính sản phẩm của họ cũng như thể hiện trong bản thân hoạt động sản xuất Cả khi lực lượng sản xuất đạt đến trình độ phát triển cao, nhưng nếu như giữa quan hệ người với người vẫn là quan hệ bóc lột, bất công, bất bình đẳng thì sự phát triển của lực lượng sản xuất chỉ dừng lại ở sự gia tăng và ngày càng hoàn thiện của tư liệu sản xuất, chứ chưa phải là sự phát triển của con người với tính cách là một bộ phận cấu thành lực lượng sản xuất C.Mác và Ph.Ăngghen đã nói “Giá trị trung bình của lao động làm thuê là số tiền công tối thiểu, nghĩa là tổng số những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho công nhân sống với tính cách là công nhân Cho nên cái mà người công nhân chiếm hữu được bằng bạo lực của mình cũng chỉ vừa đủ để tái sản xuất ra đời sống đã bị hạ xuống đến mức thấp nhất mà thôi” [9,560] Công nhân là những người lao động làm thuê mà lao động làm thuê thì phụ thuộc vào người chủ thuê, họ bị coi là một hàng hoá trong tay nhà tư bản, mà hàng hóa thì bao giờ giá cả của nó cũng thấp hơn giá trị mà nó có được Do vậy, họ chỉ có thể “sống với tính cách là công nhân” [9,560] Quả là bất công trong xã hội, khi giá trị của chính bản thân mình bị hạ thấp, cuộc sống mình có

Trang 33

được luôn trái ngược với những gì mình làm ra, tất cả đều bị nhà tư bản bóc lột chiếm đoạt làm tư hữu cho riêng họ Những gì giai cấp công nhân làm ra

đã góp phần tích cực cho đời sống xã hội vậy mà họ lại không được thừa hưởng cái thành quả đó Phải chăng đó là cội nguồn của sự đau khổ bất công cho người công nhân??? Có lẽ, do lòng tham sự tư hữu của giai cấp tư sản tạo

ra sự tha hóa trong quá trình lao động của người công nhân, C.Mác đã từng chỉ ra “lao động chết thống trị và bòn rút lao động sống” [20,606], vì người lao động bị tách khỏi tư liệu lao động, tách khỏi những điều kiện khách quan của lao động Quá trình tha hóa đó đã làm “bản chất có tính loài của con người- giới tự nhiên cũng như tài sản tinh thần có tính loài của con người- bị biến thành một bản chất xa lạ với con người, thành phương tiện duy trì sự tồn tại cá nhân của con người Lao động bị tha hóa làm cho thân thể của bản thân con người, cũng như giới tự nhiên của con người, bản chất nhân loại của con người, trở thành xa lại với con người” [22,138] Khi nói đến sự tha hóa của con người, có nghĩa là sự phủ định con người, tức là con người bị đặt trong tình trạng bất nhân Và điều đó càng đẫn đến sự xâm phạm quyền con người,

họ không được sống với đúng nghĩa của bản thân họ Chính lao động bị tha hóa làm cho “bản chất có tính loài của con người bị tha hóa với con người, có nghĩa là người này bị tha hóa với người khác, và từng người trong số họ bị tha hóa với bản chất người” [22,138-139] Nói đến xã hội trước hết là nói đến quan hệ giữa người với người Vì vậy, dù tư liệu sản xuất có tăng lên bao nhiêu chăng nữa, ngày càng hiện đại thêm bao nhiêu mà người lao động vẫn chịu cảnh bị bóc lột, áp bức, bất công; lao động của anh, nói như C.Mác, vẫn chưa phải là lao động tự nguyện, mà là lao động bị cưỡng bức, không phải là

sự thỏa mãn nhu cầu lao động mà chỉ là một phương tiện để thỏa mãn nhu cầu khác, nghĩa là con người vẫn chưa được giải phóng hoàn toàn thì chưa thể nói rằng xã hội đã đạt đến đỉnh cao của sự tiến bộ

Trang 34

Khi phân tích sự tha hóa của con người trong chủ nghĩa tư bản, C.Mác cho rằng chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa không chỉ làm cho người công nhân

bị mất nhân tính mà bản thân nhà tư bản cũng mất nhân tính, cũng bị tha hóa

“Sự tha hóa thể hiện ở chổ tư liệu sinh hoạt của tôi thuộc về người khác, ở chổ đối tượng mong muốn của tôi là vật sở hữu của người khác mà tôi không với tới được, cũng như ở chổ bản thân mỗi vật hóa ra là một gì khác với bản thân

nó, ở chổ hoạt động của tôi hóa ra là một cái khác nào đó và cuối cùng điều này cũng đúng cả đối với nhà tư bản” [22,196] Với điều C.Mác phân tích trên, giai cấp tư sản tình hình cũng không sáng sủa hơn Trong xã hội tư bản, giai cấp tư sản là người chủ của xã hội, họ nắm toàn bộ quyền sinh, quyền sát trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tưởng như họ được tự do tuyệt đối với niềm vui và hạnh phúc tràn trề, nhưng không, họ cũng trở thành nô lệ cho chính những đồng tiền của mình Bởi vì, ông chủ thật sự của xã hội tư bản là

tư bản, là tiền; tiền là sức mạnh, là thước đo giá trị của mỗi con người trong xã hội tư bản Nỗi lo sợ mất tiền, cùng với khát vọng có nhiều tiền, để có cơ hội chiến thắng trong cuộc chiến khốc liệt diễn ra thường xuyên giữa chính những người tư sản và các tập đoàn tư bản đã vô tình xô đẩy họ vào vòng xoáy bạo lực, bị chính những đồng tiền của mình sai khiến tới mức mù quáng, mê muội

Ma lực của đồng tiền đã làm cho các nhà tư bản hy sinh mọi niềm vui, hạnh phúc chân chính của con người Vì tiền, họ có thể bán cả lương tâm, danh dự, tình yêu, phẩm giá, hy sinh cả người ruột thịt, chém giết, đoạ đày đồng loại, thậm chí hy sinh cả tính mạng của mình Theo C.Mác, “chế độ tư hữu và lao động bị tha hoá là cái làm cho suy nghĩ của con người trở nên “ngu xuẩn và phiến diện”, làm “thô lỗ hoá” mọi nhu cầu của con người, biến mọi cảm giác

vô cùng đa dạng, phong phú của con người thành “cảm giác chiếm hữu” Đâu đâu cũng là hoạt động bóc lột những lực lượng bản chất người; bóc lột, tàn phá tự nhiên; làm tha hoá con người Mỗi sản phẩm của người này sáng tạo ra

Trang 35

đều như những miếng mồi nhử nhằm đưa người khác vào cái bẫy sa đọa, đánh mất nhân tính của mình Nền sản xuất của xã hội tư bản đã biến toàn bộ con người thành con người hàng hoá, thành “một thực thể mất hết tính người cả về tinh thần lẫn thể xác” Đây chính là tai hoạ lớn nhất, khủng khiếp nhất mà chế

độ tư hữu và lao động bị tha hoá trong xã hội tư bản đã đưa đến cho con người Khi nhà tư bản chỉ biết nghĩ đến hưởng lạc, coi lao động của người khác, “mồ hôi đẫm máu của người khác” là miếng mồi cho lòng thèm muốn của mình, nhà tư bản không lao động nhưng lại muốn hưởng thụ thì chính anh

ta đã trở thành nô lệ cho của cải, lúc đó của cải cũng đứng trên bản thân anh

ta, xa lạ với anh ta Nhà tư bản đã trở thành nô lệ cho chính sở hữu của mình, việc đặt lợi nhuận trên hết đã biến nhà tư bản trở thành một kẻ thực dụng, lạnh lùng, khiến mối quan hệ giữa con người và con người chỉ còn là mối quan hệ tiền nong đơn thuần Vì thế, C.Mác đã khẳng định, xoá bỏ chế độ tư hữu và lao động bị tha hoá là lời kêu gọi khẩn thiết nhất nhằm cứu lấy con người, giải phóng con người

Con đường giải phóng con người

Các nhà sáng lập chủ nghĩa C.Mác đã trình bày quan điểm của mình về con người với mục đích giải phóng con người khỏi sự nô lệ, sự tha hóa, sự áp bức bất công, sự bần cùng hóa Giải phóng con người, giải phóng người lao động là lý tưởng cao cả mà khi xây dựng học thuyết về con người C.Mác và V.I.Lênin muốn hướng tới Trong Bản thảo kinh tế triết học năm 1844, với phạm trù lao động bị tha hóa, C.Mác đã xây dựng nên một hệ thống lý luận triết học có khả năng soi sáng con đường giải phóng nhân loại, khắc phục triệt

để tình trạng tha hóa bản chất con người, “bất kỳ sự giải phóng nào cũng bao hàm ở chổ nó trả thế giới con người, những quan hệ con người về với bản thân con người” [11,557], giúp “người lao động thoát khỏi lao động bị tha hóa”

Trang 36

[22,168] Với cách coi con người là điểm xuất phát và sự giải phóng con người, là mục tiêu cao nhất mà nhân loại cần hướng đến đã mang lại cho học thuyết về con người trong triết học Mác - Lênin một nét độc đáo và hoàn bị nhất C.Mác và Ph.Ăngghen đã coi một trong những đặc trưng cơ bản nhất trong việc giải phóng con người là xây dựng cho họ một xã hội tươi đẹp nhất, nơi đó con người có thể phát triển toàn diện: những con người có khả năng sử dụng một cách toàn diện năng lực phát triển của mình Ngay trong lời nói đầu của tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Heghen, C.Mác đã khẳng định “con người không phải một cái tồn tại trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới Con người chính là thế giới những con người, là nhà nước, là

xã hội” [14,569]

Trong quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin, giải phóng con người là đưa con người ra khỏi sự khép kín về đẳng cấp, về địa vị, về vị trí của con người trong xã hội, là sự thừa nhận bản chất phổ biến của con người, thừa nhận bản tính loài của con người xuyên suốt sự tồn tại hiện thực của con người, làm cho con người sống nhân bản hơn, bình đẳng hơn Do đó, đấu tranh là tất yếu, nếu đấu tranh chống lại những thế lực tự nhiên thì có lẽ sẽ dễ dàng gấp nhiều lần so với sự đấu tranh chống lại kẻ thù là những người như mình Các nhà triết học mácxít đã nhìn thấy bản chất thực sự đằng sau khẩu hiệu bác ái của giai cấp tư sản, chính quá trình tích lũy nguyên thủy “đầm đìa máu và bùn nhơ” của chủ nghĩa tư bản đã tạo nên tình trạng lao động bị tha hóa, sự bần cùng hóa tuyệt đối và tương đối của người công nhân

Vì vây, C.Mác đã đi sâu vào nghiên cứu sự vân động và biến đổi của quá trình sản xuất vật chất của xã hội, vạch ra quy luật khách quan của nó , nhằm tìm ra được nguyên nhân sâu xa của tình trạng tha hóa của con người, và từ đó nhận thức được con đường giải phóng con người giải phóng nhân loại Hai

Trang 37

ông không chỉ luận giải về sự đối kháng giai cấp, sự đấu tranh giai cấp mà còn khẳng định quy luật giải phóng con người đạt tới sự tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người Khi Tuyên ngôn nêu lên luận điểm: “Những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình trong một công thức duy nhất là: xoá bỏ chế độ tư hữu” [9,559] thì điều đó không

có nghĩa rằng mục đích của những người cộng sản, của cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ nhằm giải quyết vấn đề sở hữu, vấn đề kinh tế Ph.Ăngghen đã giải thích tường minh vấn đề này trong tài liệu xuất phát của Tuyên ngôn rằng:

“Thủ tiêu chế độ tư hữu là cách nói vắn tắt nhất và tổng quát nhất về việc cải tạo toàn bộ chế độ xã hội” [9,452] Đưa việc xoá bỏ chế độ tư hữu thành một công thức là để khẳng định lập trường và nguyên tắc căn bản chủ nghĩa cộng sản khoa học Với công thức đó, chủ nghĩa cộng sản khoa học đã vượt qua cái chỗ mà các tư tưởng và học thuyết chủ nghĩa cộng sản khoa học khác dừng lại hoặc né tránh Việc xoá bỏ chế độ tư hữu chỉ là việc “Giai cấp vô sản thi hành bản án mà chế độ tư hữu, trong khi đẻ ra giai cấp vô sản, đã định cho bản thân mình” [19,149] Và chừng nào, nơi nào “bản án” ấy chưa được thực thi thì chừng đó, nơi đó chưa thể nói đến việc tạo ra cái mà trong “Bản thảo kinh tế triết học năm 1844” C.Mác gọi là “hoàn cảnh có tính người” Xoá bỏ chế độ

tư hữu đối với chủ nghĩa Mác-Lênin là để thực hiện mục đích giải phóng con người trên một cơ sở kinh tế- xã hội mới C.Mác đã nói rõ vấn đề này như sau:

“Chủ nghĩa cộng sản khoa học coi như sự xoá bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu- sự tự tha hoá ấy của con người và do đó coi như sự chiếm hữu một cách thực sự bản chất con người bởi con người và vì con người” [12,128] C.Mác

đã khẳng định Chủ nghĩa cộng sản chính là sự phủ định một cách tất yếu, tự nhiên mà lịch sử xã hội loài người dành cho chế độ tư hữu và cũng là một bước tiến lớn của lịch sử trong sự nghiệp giải phóng con người, để trả lại những gì mà chế độ tư hữu đã cướp đi, đã lấy đi của con người Chủ nghĩa

Trang 38

cộng sản là sự giải phóng triệt để mọi lực lượng bản chất của con người; biến mọi cảm giác, thuộc tính và nhu cầu của con người thành cảm giác, thuộc tính

và nhu cầu xã hội; biến cả thế giới đối tượng thành “thế giới đối tượng có tính chất người”; giải phóng con người khỏi cả tôn giáo - một biểu hiện cơ bản của

sự tha hoá con người về ý thức, tinh thần và giải phóng con người khỏi cả chế

độ tư hữu - nhân tố cơ bản làm con người tha hoá trong hiện thực Do vậy, chủ nghĩa cộng sản như là “sự xoá bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu – sự tự tha hoá ấy của con người”, là “chủ nghĩa tự nhiên hoàn bị” với tư cách yêu cầu khách quan của cuộc sống, là “chủ nghĩa nhân đạo hoàn bị”, là “sự chiếm hữu một cách thực sự bản chất con người bởi con người, vì con người” [22,167] Thực tế lịch sử cho thấy, không phải những lời lẽ của Tuyên ngôn về tự

do của con người mà chính là những điều kiện sinh hoạt vật chất thực tiễn quy định và cho phép con người ta tự do đến mức nào Tự do, bình đẳng, bác ái trong Tuyên ngôn của các cuộc cách mạng dân chủ tư sản chỉ là những từ hoa

mỹ bị cuộc sống của xã hội tư sản dày xéo Quyền tư hữu thiêng liêng của mọi người trở thành quyền chiếm hữu của những người có của, những người khác chỉ có quyền bán sức lao động theo thời giá Không thể có tự do, bình đẳng cụ thể trong một xã hội bị thống trị bởi cái luật lợi nhuận Chủ nghĩa cộng sản khoa học sở dĩ là cần thiết và chính đáng đối với con người và lịch sử là do tư cách văn hoá của nó Sức hấp dẫn, sức thu hút của chủ nghĩa cộng sản khoa học là thái độ của nó đối với con người, đối với tự do và hạnh phúc của con người Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới có khả năng mang lại cho con người không chỉ một đời sống vật chất dồi dào, mà còn và quý giá hơn là một đời sống văn hoá tinh thần phong phú tốt đẹp Có sự cắt nghĩa rằng, đó là một tất yếu lịch sử, nhưng sự cắt nghĩa ấy hoàn toàn không có cơ sở Tất yếu của lịch

sử chỉ có thể là xã hội tư bản chủ nghĩa tiến lên xã hội xã hội chủ nghĩa, và xã hội xã hội chủ nghĩa, nấc thang cao hơn, sẽ thay thế cho xã hội tư bản chủ

Trang 39

nghĩa chứ không phải ngược lại Ở đây, sự tất yếu lịch sử đã không còn là tất yếu nữa bởi hành động của con người có những mặt không phù hợp với quy luật phát triển Các tầng lớp nhân dân đứng lên làm cách mạng, đánh đổ các chế độ áp bức, lập nên chính quyền của nhân dân; cũng đã có nhiều đóng góp vào việc tìm tòi, xây dựng một xã hội, giải phóng giai cấp và giải phóng loài người Để làm được điều đó đòi hỏi phải có những con người có đạo đức cộng sản, đó là đạo đức của công nhân cách mạng Cuộc cách mạng này là cuộc cách mạng giải phóng của cả loài người khỏi ách áp bức bóc lột bằng cách

“đoạn tuyệt triệt để nhất với chế độ sở hữu cổ truyền” [9,567], tức là đoạn tuyệt triệt để với chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất của các giai cấp thống trị bóc lột Tính cách mạng của các phong trào đấu tranh biểu hiện ở sự cải tạo xã hội, được sử dụng để xoá bỏ xã hội cũ và xây dựng xã hội mới, phản ánh lợi ích của công nhân trong toàn bộ quá trình cách mạng vô sản Trong cách mạng vô sản, tư tưởng giải phóng con người trở thành vũ khí tinh thần mạnh mẽ để giai cấp công nhân sử dụng xoá bỏ xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, tức là nó thúc đẩy tiến bộ xã hội và tiến bộ đạo đức Xây dựng xã hội cộng sản đã phủ định biện chứng xã hội của các giai cấp lao động trước đó, hoàn thành một vòng khâu phát triển, làm nên bước tiến bộ toàn diện trong thời đại ấy Các giai cấp lao động trong xã hội là những giai cấp thường bị bóc lột tước đoạt tư liệu sản xuất vật chất cũng như những tư liệu tinh thần Họ là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội và là lực lượng chủ lực trong các cuộc cách mạng xã hội Do đó, họ có năng lực đấu tranh giành lấy những tư liệu vật chất và tư liệu tinh thần để tồn tại và phát triển như một bộ phận tiến bộ của xã hội loài người “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản thực sự cách mạng Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp; giai cấp vô sản, trái lại,

là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp” [9,554] C.Mác và Ph.Ănghen

Trang 40

hướng dẫn cho những người cộng sản đi đúng con đường của mình trong công cuộc giải phóng nhân loại Đó là cuộc đấu tranh đầy khó khăn, gian khổ và lâu dài, không tránh khỏi những thất bại, nhưng thành công là tất yếu Nhưng đòi hỏi giai cấp công nhân và Đảng cần nhận thức được tính tất yếu đó, và kiên quyết đi theo con đường đã chọn Trong tác phẩm Tuyên Ngôn của Đảng cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cho chúng ta những chuẩn mực cũng như những quy tắc đòi hỏi đối với một Đảng cầm quyền, cũng như những người cộng sản, những người đang lái bánh lái xã hội tiến lên con đường chủ nghĩa cộng sản, đòi hỏi mọi cá nhân phải nhận thức hài hoà lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể với lợi ích giai cấp theo nguyên tắc ưu tiên lợi ích giai cấp công nhân Lợi ích của giai cấp công nhân là lợi ích cao nhất, là mục đích của toàn bộ hoạt động của con người Những người cộng sản là những tấm gương về lòng trung thành với lý tưởng cộng sản “họ tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản” [9,557] Trong hoạt động của mình họ đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thể giai cấp vô sản” [9,557], “họ luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào” [9;557] Hạnh phúc và ý nghĩa cuộc sống của họ phải là “suốt đời hy sinh phấn đấu vì lý tưởng cộng sản” [9,557] Lòng dũng cảm, đức hy sinh trong chiến đấu, lao động và học tập là biểu hiện cao nhất của

sự trung thành với lý tưởng cộng sản hay là những mẫu hành vi được xác định bởi nguyên tắc này Có thể nói những tri thức về đạo đức là điều cần thiết là cốt lõi của người làm cách mạng, bởi khi giác ngộ được những chân lý đó, người cách mạng sẽ “hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào cộng sản” [9, 558] để thực hiện con đường hoạt động của mình

Trong cuộc sống của mình, mỗi cá nhân phải xác định một hệ thống những mục đích có tính nhất quán nhằm khẳng định lợi ích của giai cấp công nhân, “những người cộng sản chiến đấu cho những lợi ích và những mục đích

Ngày đăng: 11/05/2021, 23:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w