1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đức mẹ maria trong đời sống văn hóa cộng đồng công giáo sài gòn tp hồ chí minh

154 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện tốt công tác tôn giáo, pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo của Đảng Cộng Sản và nhà nước Việt Nam Việc nghiên cứu “Đức Maria trong đời sống văn hóa của cộng đồng Công giáo Thành phố

Trang 1

CAO XUÂN KIM ANH

ĐỨC MẸ MARIA TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG CÔNG GIÁO

SÀI GÒN – TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC

Mã số : 60.31.70

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS TRƯƠNG VĂN CHUNG

TP HỒ CHÍ MINH – 2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, gia đình, các anh chị, các em và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:

Phó giáo sư – Tiến sĩ Trương Văn Chung, người thầy kính mến đã hết lòng giúp đỡ, chỉ bảo, động viên và tạo mọi điều kiện cho tôi từ lúc hình thành ý tưởng cho đến khi luận văn hoàn thành

Các thầy cô trong khoa văn hóa học đã nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian qua

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này

Xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè lớp cao học K9, đã đồng hành hỗ trợ và động viên tôi hoàn thành luận văn

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 3

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Lịch sử vấn đề 6

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 11

7 Bố cục luận văn 11

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 13

1.1 Văn hoá và văn hoá Công giáo 13

1.1.1 Định nghĩa, cấu trúc, chức năng văn hoá 13

1.1.2 Định nghĩa, cấu trúc, chức năng văn hoá Công giáo 14

1.2 Công giáo và đời sống văn hoá công giáo ở Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh 28

1.2.1 Khái quát lịch sử du nhập, đặc điểm văn hoá công giáo ở Sài Gòn -

Thành phố Hồ Chí Minh 28

1.2.2 Đời sống văn hoá công giáo Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 42

1.3 Đức Maria trong văn hóa công giáo 44

CHƯƠNG II: ĐỨC MẸ MARIA TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO SÀI GÒN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 53

2.1 Biểu tượng Đức Mẹ Maria trong đời sống văn hóa tinh thần người công giáo Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh 53

2.2 Đức Maria hiện thân của sự hiện hữu và giúp đỡ linh thiêng 64

2.2.1Biểu tượng của sự che chở, ban ơn 64

Trang 4

2.2.2 Đức Maria, biểu tượng Đấng phù hộ các giáo hữu 72

2.2.3 Biểu tượng của sinh sôi 76

2.3 Sự thánh thiện hiền mẫu 77

Tiểu kết : 84

CHƯƠNG III: ĐỨC MARIA TRONG SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG CÔNG GIÁO SÀI GÒN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 85

3.1 Biểu tượng của Đức Maria thể hiện trong nghệ thuật , âm nhạc, hội hoạ trong sinh hoạt cộng đồng Công Giáo 85

3.1.1 Trong nghệ thuật 85

3.1.2 Hội họa 104

3.1.3 Thơ và Âm nhạc 106

3.2 Biểu tượng Đức Maria trong giá trị chuẩn mực đạo đức 110

3.2.1 Mẫu gương vâng phục 111

3.2.2 Mẫu gương khó nghèo 111

3.2.3 Khiêm nhường, phục vụ 112

3.2.4 Thiên Chức làm mẹ 114

3.3 Biểu tượng của Đức Maria trong quan hệ ứng xử xã hội 116

3.3.1 Trong quan hệ gia đình 116

3.3.2 Trong quan hệ với những người xung quanh 117

Tiểu kết : 118

Kết Luận 119

TÀI LIỆU THAM KHẢO 120

PHỤ LỤC 130

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm, văn hóa giáo dục lớn của cả nước Nó không chỉ là một đầu tàu về kinh tế mà còn là địa bàn có nhiều loại hình tôn giáo - tín ngưỡng đang tồn tại, hoạt động trong chiến lược phát triển bền vững Việc nghiên cứu giải quyết những vấn đề văn hóa xã hội là một nhiệm vụ rất quan trọng của Thành phố:

Đoàn kết các tôn giáo trong đối thoại và khoan dung, trong tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh, tư tưởng đoàn kết tôn giáo là bộ phận không thể tách rời Đoàn kết tôn giáo và không tôn giáo trong đời sống xã hội Thực hiện phương châm tín ngưỡng tự do, đoàn kết tôn giáo

Đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu tâm linh, văn hóa tôn giáo của các cộng đồng tôn giáo Người có tín ngưỡng, tín đồ tôn giáo được tự do bày tỏ đức tin, thực hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện và tham gia các hình thức sinh hoạt, phục vụ lễ hội, lễ nghi tôn giáo, học tập giáo lý Thực hiện tốt công tác tôn giáo, pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo của Đảng Cộng Sản và nhà nước Việt Nam

Việc nghiên cứu “Đức Maria trong đời sống văn hóa của cộng đồng Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh“ góp phần thực hiện tốt những nhiệm vụ trên thông qua việc làm rỏ về mặt lý luận, đồng thời góp phần tìm hiểu đời sống văn hóa, tôn giáo – tín ngưỡng, tâm linh của người dân, một việc làm cần thiết để có cái nhìn đúng đắn về hoạt động văn hóa này Từ đó có những bước đi thích hợp trong công tác quản lý, tuyên truyền cơ sở văn hóa mới

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài này là làm rỏ các phương diện thần học, giáo

lý đức tin, nghi lễ và giá trị văn hóa của Đức Maria trong đời sống văn hóa của cộng đồng người Công giáo Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh Nhằm nhìn nhận một

Trang 6

trào lưu tín ngưỡng lâu đời của người Công giáo Sài Gòn – Thành Phố Hồ Chí Minh nói chung, cùng những ảnh hưởng sâu rộng của nó trên mọi lãnh vực văn hóa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Hình ảnh của Đức Maria luôn hiện diện trong tâm thức, đời sống tinh thần của người Công giáo Việt Nam trong suốt nhiều thế kỷ qua Ngoài ra còn có mặt khắp nơi trong cuộc sống của giáo dân Việt Nam gia đình, đền đài, khu xóm và những cuộc hành hương, những ngày lễ, thánh ca, câu chuyện, vở kịch, hội hoạ, tượng ảnh, quan thày cho các nhà thờ, tu viện, những bài giảng, những cuộc tĩnh tâm, những thị kiến, thần học – trong tất cả lãnh vực này Đức Maria không chỉ hiện diện, nhưng còn thiết yếu quan trọng

Đề tài được giới hạn trong phạm vi đối tượng là cộng đồng Công giáo người Việt Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh Không gian nghiên cứu là môi trường sống, môi trường nhân văn của cộng đồng Công giáo ở Sài Gòn – Thành phố

Hồ Chí Minh Thời gian nghiên cứu hiện nay

Trong Tân ước :

Kinh thánh không dành riêng một tác phẩm nào cho Đức Maria Và chỉ được nhắc đến trong mối liên hệ với Đức Kitô trong kế hoạch cứu độ Trong suốt 27 cuốn sách Tân ước, người ta chỉ đếm được khoảng chừng 200 câu nói liên quan đến Đức Maria Tuy nhiên, chân dung của Đức Maria khá nổi bật ở vài đoạn dĩ nhiên là chân dung tinh thần, chẳng hạn như ở những chương đầu của tin mừng Thánh Luca

về cuộc đời thơ ấu của Đức Kitô Đức Maria được mô tả “ đầy ân sủng”, được “ quyền năng Chúa Thánh Thần bao phủ” Khi mô tả việc giáng trần của Đức Kitô cả

Trang 7

Matthêu lẫn Luca đều nhìn nhận rằng Người là “mẹ trinh khiết của Đức Giêsu” Gioan đã gọi Người bằng danh hiệu “ Mẹ của Đức Giêsu” [Ga 2, 19,25]

Các Giáo Phụ

Các giáo phụ nói đến Đức Maria khi chú giải Kinh thánh; do đó không có tác phẩm biệt lập về Đức Maria Tuy nhiên, các giáo phụ cũng triển khai một vài đề tài mà Kinh thánh không nói đến hay nói thoáng qua Thí dụ Đức Maria là “ Eva mới” (Irênêô, Giustinô); Đức Maria được trình bày như mẫu gương “trinh nữ tận hiến” (Ambrôsiô) Tuy nhiên vào thời này, đã bắt đầu xuất hiện những tác phẩm tường thuật cuộc đời của Đức Maria, bắt đầu là tin mừng tiên khởi của thánh Giacôbê tựa đề sách De nativitate Mariae (việc sinh hạ Đức Maria) Bên cạnh những tác phẩm có tính cách tường thuật còn có thêm những bài giảng về Đức Maria manh nha cho các tác phẩm thần học tương lai

Thời trung cổ

Với sự phát triển của các Học viện và Đại học, các nhà thần học bắt đầu dùng những phương pháp suy luận để tìm hiểu thêm về Đức Maria, không những là những chân lý đức tin cổ truyền mà còn những vấn đề mới ví dụ vô nhiễm nguyên tội và xuất hiện những thiên khảo luận về những điểm thần học liên quan Ví dụ về

sự đồng trinh - De partu virginis của Pascasiô Radbertô Về sự thụ thai vô nhiễm – Tractatus de conception beatae Maria Virginis của Đôminicô Bollanô Tuy nhiên các nhà thần học thường viết về Đức Maria như một chương trong bộ tổng luận thần học chứ không thành một tác phẩm riêng biệt

Thời cận đại

Linh mục Franciscô suarez S.J(1548 – 1617) có lẽ là tác giả đầu tiên đã nảy ra ý định dành hẳn một ngành thần học cho Đức Maria Tuy nhiên, phải chờ đến thế kỷ sau mới thấy xuất hiện từ ngữ “ Mariologia” đặt làm tên sách của linh mục Placiđô Nigiđô S.J – Summae sarcae mariologiae pars prima xuất bản ở Palermo năm 1602 Tuy nhiên có một số người không tán thành việc đặt tên cho sách là Mariologia Cuối thế kỷ XVII, linh mục Vincent Contenson O.P (1641 –

Trang 8

1674) đặt tên cho tiểu luận viết về Đức Maria là Mariologiae- Marialogia, seu de incomparabilibus Deiparae Mariae Virginis dotibus, một chương của tác phẩm :Theologia mentis et cordis, Lyon 1668 -69) Ngoài những tác phẩm có tính cách đạo lý, trong thời cận đại không thiếu những tác phẩm viết về lòng tôn sùng Đức Maria Tác phẩm nổi tiếng lòng tôn kính chân thực đối với Đức Maria ( Traité de la vraie de1votion à Marie) của Thánh Louis Maria Grignion de Montfort Những vinh quang của Đức Maria (Le glorie di Maria) của Thánh Alphongsô Maria de Liguori

Vào những năm 1930 – 1960 đã nảy ra một hướng canh tân trong những tác phẩm thần học về Đức Maria cũng như những sách viết về lòng sùng kính Người Các tác giả thấy cần trở về nguồn gốc Kinh Thánh hơn là hoàn toàn dựa theo lối diễn dịch luận lý

Một khuynh hướng thứ hai muốn trình bày Đức Maria tương quan với hội thánh thay vì đề cao Người như một vị siêu phàm Do đó cần bàn Đức Maria trong hiến chế về Hội thánh chứ không phải trong văn kiện riêng

Công đồng đã mở ra một chiều hướng mới cho việc canh tân thần học về Đức Maria ở chương VIII về hiến chế của Hội thánh và công đồng cũng muốn dung hòa cả hai khuynh hướng thần học về Đức Maria vừa nhìn trong mối tương quan với Đức Kitô, vừa nhìn trong tương quan với Hội thánh cả hai chiều đó lồng vào trong lịch sử cứu độ

Hiện nay tại Việt Nam có rất nhiều sách do các linh mục, tu sĩ hay các nhà thần học trong nước hay nước ngoài viết về Đức Maria Một số sách tiêu biểu

Trang 9

Tiến Lãng -Kính mừng Maria – Hà Nội : NXB Tôn giáo, 2006 Hoàng Tấn Đắc - Thần học về Đức Maria – Hà Nội : XNB tôn giáo, 2002 Hoàng Đức Toàn - Thánh mẫu học – Hà Nội : NXB tôn giáo, 2009 Nguyễn Thành Thống Đức

trinh nữ Maria – Hà Nội : NXB tôn giáo, 2009 Hoàng Minh Tuấn - Mầu nhiệm Đức Maria, cuốn I và II- Hà Nội : NXB tôn giáo, 1992 Phan Tấn Thành : Vầng trăng tuyệt vời, Đức Maria trong mầu nhiệm cứu độ.- Hà Nội : NXB tôn giáo,

1999 Gariel Roschini OSM - Giáo Lý về Đức Mẹ Tủ sách Regina – Hà Nội : NXB tôn giáo, 2001 Nguyễn Văn Liêm-Giải thích thần học Mầu Nhiệm Thiên

Chúa Thánh Mẫu – Hà Nội : NXB tôn giáo, 1999 Frederick M Jelly - Tôn sùng Đức Mẹ Maria trong Thánh Truyền Công giáo Gioan Baotixita Dũng Lạc Hồng Ân

chuyển ngữ – Hà Nội : NXB tôn giáo, 2000 Karl – Rahner - Maria kẻ đã tin – Hà Nội : XNB tôn giáo, 2005 Recueil Marial Những điều kỳ diệu về Đức Maria

Người dịch Nguyễn Ngọc Phi - Hà Nội : XNB tôn giáo, 1993

Phần lớn các công trình nghiên cứu nói trên đều khắc họa hình ảnh Đức Maria dựa trên Kinh thánh, hoặc trình bày về những tước hiệu, những tín điều có liên quan đến Đức Maria, các hình thức tôn sùng Người và các truyền thống phụng

vụ những ảnh hưởng của Đức Maria đến đời sống tín ngưỡng của giáo dân, việc tôn sùng Đức Maria trong lịch sử Giáo hội cũng như các nhà thờ của người Công

giáo

Trong những nghiên cứu về Đức Maria trong đời sống của giáo dân Việt Nam đáng chú ý là công trình nghiên cứu của tác giả Peter Phan Đức Maria trong lòng mộ mến và thần học của người Việt Nam Một cái nhìn văn hóa và đối thoại tôn giáo Trong công trình tác giả đã đề cập đến lòng sùng mộ Đức Maria của người Việt Nam như là một đặc trưng, lòng tôn sùng Đức Maria của tín hữu Việt Nam đã

có một lịch sử lâu dài và có những nền tảng khác nhau

Đề cập đến hình ảnh Đức Maria trong đời sống người Công giáo Việt Nam còn có tác giả Tiến Lãng với bài viết Đức Mẹ và đất nước Việt Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đều hướng đến một trọng tâm là hình ảnh Mẹ Maria

Trang 10

trong đời sống tâm linh, tinh thần của người Công giáo nói chung và người Công giáo Việt Nam nói riêng Tuy nhiên các công trình trên chưa nghiên cứu sâu một cách triệt để về hình ảnh Đức Mẹ Maria trong đời sống văn hóa người Công giáo Sài Gòn - Thành Phố Hồ Chí Minh

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài Đức Maria trong đời sống văn hóa của cộng đồng Công giáo Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh các phương pháp thực hiện gồm nghiên cứu lịch sử, hệ thống cấu trúc, phương pháp liên ngành, tham dự phỏng vấn sâu, điều tra xã hội học

Phương pháp lịch đại: Là một trong những phương pháp nghiên cứu,

phân tích các dạng thư tịch, tài liệu để tìm hiểu các sự kiện đã diễn ra theo thời gian lịch sử Qua đó nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của Đức Maria trong đời sống văn hóa của các tín hữu Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử của giáo hội công giáo tại Việt Nam

Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Để phân tích ảnh hưởng của Đức

Maria trong đời sống văn hóa của người Công giáo Việt Nam qua những thành tố văn hóa cụ thể

Phương pháp liên ngành: sử dụng kiến thức và phương pháp của nhiều

ngành khoa học khác: lịch sử, văn học, nghệ thuật, thần học, nhân học …và những tài liệu đã được khảo sát, nhằm làm rõ những ảnh hưởng cụ thể của Đức Maria trong đời sống văn hóa của người Công giáo Việt Nam

Phương pháp tham dự phỏng vấn sâu: Là phương pháp thu thập thông tin

từ các thành viên trong cộng đồng bằng các cuộc đối thoại có chủ định Thâm nhập vào đời sống tín ngưỡng của các cộng đoàn Công giáo Thành phố để hiểu rỏ cảm nhận của họ về Đức Maria thông qua các đức tin , những lý tưởng sống, thái độ sống, nghi thức hành lễ Thông tin có được từ các cuộc phỏng vấn có tính khách quan cho đề tài, dùng để phân tích chứng minh cho những nhận định trong đề tài

Trang 11

Phương pháp điều tra xã hội học: Là phương pháp thu thập thông tin

thông qua các bảng câu hỏi điều tra bổ trợ cho phương pháp phỏng vấn sâu

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Về phương diện khoa học, chúng tôi mong muốn thông qua việc tìm hiểu Đức Maria trong đời sống văn hóa của cộng đồng Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh luận văn sẽ góp phần làm rõ một cách có hệ thống cũng như bổ sung và hoàn chỉnh thêm về hình ảnh Đức Maria trong đời sống văn hóa của cộng đồng Công giáo Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, chủ thể là Cộng đồng Công giáo người Việt Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh

Về phương diện thực tiễn, những nghiên cứu ban đầu của luận văn có thể sẽ đem đến cho giáo hội Công giáo Việt Nam và những nhà nghiên cứu văn hóa, tôn giáo có cái nhìn tổng thể về bức tranh sống động trong đời sống văn hóa tôn giáo của các giáo dân Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh đối với Đức Maria

Chương II : ĐỨC MARIA TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO SÀI GÒN- Thành phố Hồ Chí Minh - Biểu tượng Đức Maria trong đời sống văn hóa tinh thần người Công giáo Sài Gòn Thành Phố Hồ Chí Minh Đức Maria hiện thân của sự hiện hữu giúp đỡ và linh thiêng Sự thánh thiện hiền mẫu

Chương III : ĐỨC MARIA TRONG SINH HOẠT CÔNG GIÁO CỘNG ĐỒNG SÀI GÒN- Thành phố Hồ Chí Minh- Biểu tượng của Đức Maria thể hiện

Trang 12

trong âm nhạc, hội họa trong sinh hoạt cộng đồng Công giáo Trong giá trị chuẩn mực đạo đức Trong quan hệ ứng xử xã hội

Trang 13

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Văn hoá và văn hoá Công giáo

1.1.1 Định nghĩa, cấu trúc, chức năng văn hoá

Định nghĩa văn hoá:

Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa về văn hoá, từ định nghĩa đầu tiên được E,Tylor đưa ra 1871 trong cuốn sách văn hoá nguyên thuỷ đến nay (2012) có khoảng 1500 định nghĩa văn hoá Có rất nhiều định nghĩa của các nhà nghiên cứu trong nước và Quốc tế như UNESCO, Alfred Louis Kroeber và Clyde K.M Kluckholn, Federico.Mayor, Lévi – Strauss, Hồ Chí Minh, Đào Duy Anh, Phan Ngọc, Trần Quốc Vượng, Trần Ngọc Thêm Trong luận văn này tác giả sử dụng khung lý thuyết hệ thống cấu trúc của tác giả Trần Ngọc Thêm vì xét thấy phù hợp với mục đích của đề tài

Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình [67, 25]

Cấu trúc văn hoá

Cấu trúc văn hoá là mạng lưới các mối quan hệ giữa các thành phần cấu thành của văn hoá Một đối tượng có thể có nhiều cách cấu tạo, một cách cấu tạo có thể nhìn theo nhiều góc độ khác nhau Do vậy , tồn tại nhiều quan niệm (mô hình) khác nhau về cấu trúc văn hoá Hiện nay chưa có sự thống nhất chung về cấu trúc văn hóa Xét theo số lượng thành tố có những mô hình cấu trúc hai thành phần, ba thành phần, bốn thành phần

Trong tập bài giảng lý luận văn hóa học theo cách nhìn truyền thống, văn hóa có cấu trúc hai phần rất đơn giản: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Cấu trúc này không sai, nhưng nó là cấu trúc cơ sở, rất đơn giản, không thể cho thấy hết được sự phong phú và phức tạp của hệ thống văn hóa

Trang 14

L White phân chia văn hóa thành ba tiểu hệ: công nghệ, xã hội và tư tưởng [68,51] Đào Duy Anh [68,50] dựa theo F Sartiaux mà chia văn hóa thành ba phần: sinh hoạt kinh tế, sinh hoạt xã hội và sinh hoạt trí thức Nhóm Văn Tân thì phân biệt văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần; nhưng văn hóa xã hội (phong tục, tập quán…) đâu có nằm ngoài văn hóa tinh thần? M.S Kagan cũng chia văn hóa ra ba thành tố văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần là văn hóa nghệ thuật [68,50]; nhưng có nghệ thuật nào lại không phục vụ các nhu cầu tinh thần?

Nguyễn tri Nguyên phân biệt văn hoá vật thể, văn hoá phi vật thể và văn hoá tâm linh Cấu trúc này không phải là một cấu trúc phân loại: ba thành tố này không tách biệt nhau mà chồng lên nhau, bao hàm nhau

Một số tác giả khác nói đến bốn thành tố như văn hóa cá nhân, văn hóa cộng đồng, văn hóa lãnh thổ, văn hóa sinh thái [68,54], hoặc hoạt động sinh tồn, hoạt động xã hội, hoạt động tinh thần, hoạt động nghệ thuật [68,54]

Theo quan điểm của mình, tôi xin chia sẽ quan điểm của Trần Ngọc Thêm Khung lý thuyết văn hoá của tác giả Trần Ngọc Thêm, văn hóa gồm ba thành tố chính: văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử Trong mỗi thành tố lại có hai tiểu hệ Cụ thể: văn hóa nhận thức được chia thành nhận thức vũ trụ và nhận thức con người, văn hóa tổ chức được chia thành tổ chức đời sống cá nhân và

tổ chức đời sống tập thể, văn hóa ứng xử được chia thành ứng xử với môi trường tự nhiên và ứng xử với môi trường xã hội

Chức năng văn hóa

Xuất phát từ nhu cầu, văn hóa là những đòi hỏi cần thiết sản sinh ra các giá trị mang tính nhân sinh, tính lịch sử và tính hệ thống cần thiết cho cuộc sống con

người và để đáp ứng những nhu cầu đa dạng đó văn hóa có những chức năng:chức

năng tổ chức xã hội, điều chỉnh xã hội, chức năng giao tiếp, chức năng giáo dục

1.1.2 Định nghĩa, cấu trúc, chức năng văn hoá Công giáo

Văn hóa tôn giáo là gì ?

Trang 15

Hiện nay cách hiểu về văn hóa tôn giáo là khác nhau, có trường phái khẳng định tôn giáo là hạt nhân của văn hóa, là điểm trung tâm trong thiết chế của văn hóa [29,25] M.Weber sử dụng thuật ngữ “tôn giáo văn hóa” (Kulsurreligion) để khẳng định những giá trị văn hóa trong tôn giáo [84, 42] Một trường phái văn hóa khác lại có quan niệm rằng văn hóa và tôn giáo là hai lãnh vực khác nhau, tương đối độc lập với nhau và tác động lẫn nhau nhưng không thể hòa lẫn với nhau hoặc trở thành thiết chế chung Chúng tôi cho rằng tôn giáo là một hiện tượng văn hóa, vì thế tôn giáo phải là một bộ phận của văn hóa Đó là cái quan hệ giữa cái bộ phận (tôn giáo) và cái toàn thể (văn hóa) Tôn giáo luôn chịu sự nhào nặn của văn hóa, song tôn giáo luôn để lại những dấu ấn của nó trong giá trị văn hóa Vì vậy, văn hóa tôn giáo là một hình thức văn hóa đặc thù của văn hóa nói chung

Một mặt, văn hóa tôn giáo phải có những tính chất, đặc trưng của tôn giáo như thần tính, không gian – thời gian siêu việt Mặt khác văn hóa tôn giáo lại tương thích với văn hóa nói chung theo phương thức tồn tại và biểu hiện kết quả hoạt động con người như các thành tố và loại hình văn hóa Có thể xem: “văn hóa tôn giáo là một loại hình văn hóa đặc thù, mang những giá trị vật chất, tâm linh của cộng đồng giáo dân được hình thành trong đời sống tôn giáo” Từ những nhận định trên, có thể xác định

Văn hóa Công giáo là: một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh

thần do cộng đồng Công giáo sáng tạo và tích lũy trong đời sống tôn giáo có liên quan đến niềm tin, lễ nghi, sinh hoạt cộng đồng với Đấng Tối Cao mà cộng đồng tín

đồ tôn thờ, qua thực tiễn tôn giáo

Đạo Công giáo có thể tóm tắt với những nét chính yếu như sau : Kit

Từ đầu Thiên Chúa chỉ tỏ mình ra cho dân Do Thái và chọn dân này làm

dân riêng mà thôi: "Vậy giờ đây, nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao

ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta." [Xh 19,5]

Trang 16

Như thế, trước khi Đức Kitô xuống thế làm Con Người, chỉ có dân Do Thái được biết Thiên Chúa Yahweh là Cha các Tổ Phụ của họ, là Đấng đã giải phóng họ và ban cho họ Mười Điều Răn làm Giao ước mà thôi Ngoài Dân Do Thái

ra, các dân khác đều là dân ngoại vì không biết Thiên Chúa Yahweh của dân Do Thái

Khi Đức Kitô giáng sinh vào đầu Công nguyên:“ khi đã tới hồi viên

mãn, Thiên Chúa đã sai con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới

lề luật, để chuộc những ai sống dưới lề luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” [GL 4, 4-7] Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho các dân ngoại qua ánh sao lạ ở

Phương Đông, mời gọi ba đạo sĩ dân ngoại đầu tiên đến thờ lạy Đức Kitô:”Khi Đức

Giêsu ra đời tại Bethlem, thời vua Herôđê , có các nhà đạo sĩ từ Phương Đông đến Giêrusalem và hỏi Vua dân Do Thái mới sinh ra hiện ở đâu? Vì chúng tôi đã thấy vì sao của ngài bên trời Đông, nên chúng tôi xin đến bái lạy ngài”[Mt 2,1-12] Sự

kiện này đã nói lên nét phổ quát của ơn cứu độ Nghĩa là ơn này không chỉ dành riêng cho dân Do Thái Năm 30 tuổi Đức Kitô bắt đầu truyền, giảng đạo khoảng 3 năm Người rao giảng về nước trời Người đã tuyển chọn 12 người làm môn đệ đầu tiên, tức mười hai tông đồ Phêrô là Thánh tông đồ cả Trong lúc truyền giảng đạo Người lên tiếng bênh vực những người nô lệ nghèo khổ Điều đó làm cho các luật sĩ

và biệt phái đứng đầu Do Thái rất khó chịu và ghen ghét

Theo lịch sử Kitô giáo sau khi Đức Kitô bị kết tội “mưu phản La Mã”, bị đóng đinh chết trên thập tự giá Ba ngày sau Người sống lại , hiện ra với các tông đồ

, Đức Kitô thổi hơi trên các ông và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần, anh em

tha tội cho ai thì người ấy được tha, anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ”

[Ga 20,22-23] và truyền lệnh cho các tông đồ tiếp tục đi rao giảng “anh em hãy đi

và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, rửa tội cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần." [Mt 28,19]

Các tông đồ đã quy tụ những người tin theo Đức Kitô thành một giáo hội

sơ khai tại Jerusalem và những vùng lân cận Không còn giới hạn trong vùng

Trang 17

Palestine, nhưng xa hơn tới các dân ngoại; trung tâm văn hoá Hy Lạp, đến tận kinh thành Roma Năm 312, hoàng đế Constantinus nhờ cầu nguyện với Đức Kitô mà đánh bại Macencio trong trận quyết chiến tại cầu Milvius Từ đó, ông bãi bỏ mọi sắc chỉ cấm Kitô giáo và truyền nhận đây là quốc giáo Đó là động lực lớn khiến Kitô giáo phát triển nhanh chóng

Với tuổi đời hơn hai mươi thế kỷ và tầm hoạt động trên phạm vi toàn thế giới của mình Công giáo đã tạo ra một nền văn hóa Công giáo cùng với bản sắc và đặc thù riêng Văn hóa Công giáo phải hiểu là sự tiếp tục của Văn hóa Kitô giáo thời Đức Kitô Văn hóa Công giáo với khởi nguồn Kitô giáo, hội tụ những yếu tố của văn hóa Hy Lạp, La Mã, Lưỡng Hà, một phần Ai Cập và tính thần bí phương Đông

Do đó, về mặt tư tưởng, văn hóa Công giáo có hội nhập của triết học Hy Lạp và suy

tư duy lý cao

Văn hóa Công giáo không chỉ là 3 thành tố, văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử trong hệ thống cấu trúc song 3 thành tố đó là bộ khung giúp hiểu được giá trị cơ bản của văn hóa Công giáo Đó là bộ khung quan trọng nhất vì

nó liên quan đến toàn bộ lịch sử Công giáo Từ thời trung cổ đến nay bộ khung này không thay đổi

Văn hóa nhận thức của Công giáo : là một bộ phận đặc thù của thành tố văn

hóa nhận thức, đó là toàn bộ những quan niệm về thế giới, xã hội, con người được hình thành trên cơ sở đức tin Công giáo[114,125] Văn hóa nhận thức Công giáo được tích lũy, quy tụ bởi niềm tin Kitô giáo thể hiện ở đức tin của các tín đồ Đức tin của người Công giáo được gom gọn trong kinh Tin Kính Trong truyền thống Kitô giáo có hai Kinh Tin Kính quan trọng: Kinh Tin Kính của các Tông Đồ và Kinh Tin Kính của hai Công Đồng đầu tiên của Giáo hội: Công Đồng Nicée (325)

và Công Đồng Constantinople (385) Cả hai Kinh Tin Kính chứa đựng những tín điều buộc phải tin và phải tuyên xưng

Thiên Chúa là duy nhất, có Ba Ngôi là: Cha và Con và Thánh Thần, đã tạo dựng nên vũ trụ và con người

Trang 18

Đức Kitô là con một Thiên Chúa, nhờ ơn Chúa Thánh Thần, được sinh bởi Đức Maria đồng trinh, đã chịu khổ nạn, chịu chết và sống lại để cứu độ trần gian [78,21].

Chúa Thánh Thần là ngôi ba Thiên Chúa, bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra

Hội thánh Công giáo, các Thánh thông công, phép tha tội, xác chết sẽ sống lại vào ngày sau hết và sự sống vĩnh cửu

Đó là những điều cốt yếu của đức tin mà bất kỳ giáo dân Công giáo nào cũng buộc phải tin Vì thế, Kinh tin kính vừa có một chức năng tuyên xưng (một chứng tá đức tin) vừa có một chức năng giáo thuyết (diễn tả vắn tắt đức tin)

Văn hóa tổ chức Công giáo: Giống một tổ chức xã hội Đứng đầu là nhà

lãnh đạo, tiếp đến là các phòng ban, rồi mới đến tổ chức đại thể quần chúng Nhưng

từ khi được hình thành cho đến nay, giáo hội Công giáo được xây dựng từ các cộng đoàn nhỏ hợp thành “cộng đoàn – giáo xứ - giáo phận – giáo hội” và cơ cấu hàng giáo phẩm

Theo Giáo lý của Giáo hội Công giáo, hàng giáo phẩm có liên quan trực tiếp đến thừa tác vụ nhân danh Đức Kitô để phục vụ dân Chúa, trong việc chăn dắt toàn thể Giáo hội bằng vai trò giảng dạy, thánh hóa và quản trị Người đứng đầu của Giáo hội Công giáo toàn cầu là Đức Giáo hoàng , vị Giám mục Rôma và là vị thừa

kế Thánh Phêrô do các đại biểu Hồng Y đoàn khắp thế giới bầu ra “Bởi vai trò là đại diện của Đức Kitô, làm mục tử chăn dắt toàn thể Giáo hội, Giáo Hoàng Rôma

có toàn quyền, thượng quyền và phổ quyền trên toàn thể Giáo hội, một quyền bính ngài được tùy ý hành sử (Hiến Chế Lumen Gentium, 22; xem Sắc Lệnh Christus Dominus, 2, 9)” Giáo hoàng hiện tại là Benedict XVI, là vị thứ 265 Kế đến xếp ngay dưới Giáo hoàng là Hồng Y là người đứng đầu tất cả các giáo tỉnh của một quốc gia, gọi là giáo hội địa phương Tổng Giám mục là tước hiệu dành cho vị Giám mục cai quản một hay nhiều giáo phận trong một giáo tỉnh Giám mục giáo phận là người được trao nhiệm vụ cai quản một giáo phận thực tế Giám mục là

Trang 19

người đứng đầu các Linh mục đoàn Các Giám mục được quyền bổ nhiệm Linh mục cũng như Phó tế, cử hành bí tích truyền chức Các Giám mục giáo phận và Giám mục đại điện tông toà theo lệ thường buộc phải sang Roma, cứ 5 năm một lần, để viếng hai mộ Thánh Phêrô và Phaolô Tông đồ yết kiết Đức Giáo Hoàng và tham kiến các viên chức Vatican về những vấn đề có liên quan [103,101] Tập hợp tất cả các Giám mục giáo phận và Giám mục đại diện tông tòa gọi là hội đồng Giám mục Ban thường vụ hội đồng Giám mục gồm:

Giám mục chủ tịch

Một hay nhiều Giám Mục phó chủ tịch

Giám Mục tổng thư ký

Một hay nhiều Giám mục phó tổng thư ký

Ban thường vụ hội đồng Giám mục họp thường kỳ một hay hai lần trong năm Khi cần có thể họp bất thường, để phiên họp ban thường vụ có giá trị pháp lý, cần 2/3 số thành viên hiện diện

Các Giám mục thánh hóa Giáo hội bằng việc nguyện cầu và hoạt động, bằng thừa tác vụ rao giảng lời Chúa và ban phát các bí tích Các vị thánh hóa Giáo hội bằng gương mẫu của mình, “không phải bằng việc thống trị những người thuộc quyền mình mà là bằng việc nêu gương cho đàn chiên”.

Tổ chức các giáo xứ: Từ đầu thế kỷ thứ II, người ta dùng từ paroikia Theo

nguyên ngữ Hy-Lạp, paroikia là nơi cư ngụ của những "paroikos”, những kẻ vừa sống bên cạnh nhau, vừa sống nơi xứ lạ, không có quyền công dân trong nước mà

họ đang cư ngụ Vì thế, paroikos được dịch là "khách ngụ cư” Khoảng thế kỷ IV trở về sau , tiếng La Tinh và tiếng Hy Lạp trở thành ngôn ngữ chính của Giáo hội Công giáo paroikia được dịch sang tiếng La tinh là paroecia.[56,245], Trong một thời gian dài (TK IV – XIII ) từ paroecia và dioecesis được dùng lẫn lộn, vừa để chỉ một giáo xứ do Linh mục cai quản, vừa để chỉ một giáo phận do Giám mục coi sóc Xét theo nguyên nghĩa Giáo xứ là cộng đoàn tín hữu cư ngụ trong một địa hạt được

Trang 20

thiết lập cách vững bền trong giáo phận, nhằm tập họp dân Chúa cùng nhau thi hành

sứ vụ Đức Kitô giao phó, là tế tự tôn thờ Thiên Chúa, học hỏi và loan truyền Tin Mừng, thực thi bác ái cộng đồng trong Giáo hội cũng như trong xã hội Việc chăm sóc mục vụ giáo xứ được Giám mục giáo phận uỷ thác cho Linh mục chính xứ (x

SL Tông đồ Giáo dân, số 10, 26; Giáo luật, điều 515, 518)

Theo tổ chức của Giáo hội, giáo dân cũng được quy tụ theo các cấp hành chính là giáo phận, giáo xứ Yếu tố quan trọng để thành lập giáo xứ là phải có một

số bổn đạo cư ngụ gần nhau dù chỉ tới năm mươi người Tên gọi của giáo xứ là tên của vùng miền đó, hay tên của một vị Thánh mà cộng đoàn ấy chọn làm bổn mạng Đứng đầu giáo xứ là Linh mục chánh xứ Trong giáo xứ còn phân chia cấp nhỏ hơn như giáo họ, giáo khu, giáo xóm Đó là những người Công giáo sinh sống với nhau tại một khu vực dân cư (thôn, làng, xóm) Mỗi giáo xứ đều có ban chức việc trong

họ hay gọi là hội đồng mục vụ giáo xứ là cơ chế gồm những giáo dân thuộc giáo xứ được mời gọi và tuyển chọn để hợp lực cộng tác với Linh mục chính xứ trong việc quản trị giáo xứ, tổ chức và điều hành các sinh hoạt mục vụ, xây đắp tình liên đới và

sự hiệp thông, giải quyết những vấn đề, giải toả những bất đồng, nhằm góp phần xây dựng giáo xứ thành một cộng đoàn tư tế phụng thờ Thiên Chúa, sống, làm chứng và loan truyền Tin Mừng, yêu thương và phục vụ cho sự sống và phẩm giá con người trong bối cảnh văn hoá xã hội ngày nay [x Giáo luật, điều 536, 537] Ban chức việc trong họ chính thức được thành lập từ thế kỷ XVII nhưng là chỉ để giúp bổn đạo về phương diện tôn giáo thuần tuý Bởi vì ngày xưa quá ít Linh mục Dần dần trong họ có Cha sở, Thầy giảng thì ban chức việc trong họ lúc đó là trung gian giữa Cha sở và bổn đạo

Các hoạt động chính của giáo xứ: rao giảng và đào tạo: Mở các lớp huấn giáo dạy giáo lý, trường học, giữ gìn truyền thống Công giáo, truyền giáo cho người chưa biết đạo

Trang 21

Phụng tự và cử hành các bí tích thông thường Phụng tự là cử hành các nghi lễ Kitô giáo Cử hành các bí tích thông thường là được thay quyền Giáo hội ban các bí tích như: Rửa tội, thêm sức, thánh lễ, hôn phối, giải tội

Thực hiện các công việc bác ái từ thiện: chăm sóc bệnh nhân, mở các trung tâm từ thiện, chăm sóc người nghèo Cộng tác với xã hội nhằm phát triển cộng đồng: Hợp tác với xã hội, với tôn giáo bạn trong các dự án phúc lợi xã hội

Tổ Chức hội – đoàn: Hội đoàn Công giáo là một trong những hình thức tổ

chức tập hợp quần chúng rộng rãi, đa dạng với các tên gọi khác nhau thu hút tín đồ

ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ tham gia Giáo dân ai cũng có thể gia nhập vào một hay nhiều hội đoàn thích hợp với mình tùy theo tâm, sinh lý lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp Việc gia nhập các hội đoàn Công giáo vừa đáp ứng được nhu cầu sống đạo của mỗi tín đồ, vừa thể hiện được sự liên kết, gắn bó cao trong sinh hoạt tôn giáo, phù hợp với phong tục tập quán và cũng đáp ứng được với đặc điểm của lễ nghi Công giáo là phải được biểu hiện ra ngoài bằng các hình thức phụng tự khác nhau Các hội đoàn được thành lập dựa trên nhiều tiêu chí Có thể kể đến các tiêu chí như sau:

Tiêu chí về tuổi : có các hội đoàn thiếu nhi thánh thể, giới trẻ và giới cao

niên Các giới này tuỳ tính chất sẽ có những sinh hoạt cụ thể và phù hợp Hội đoàn thiếu nhi thánh thể thường sinh hoạt vào ngày Chúa nhật Trong giai đoạn này các

em sẽ được học các lớp giáo lý để lãnh nhận các bí tích: Thánh thể, hoà giải, thêm sức Giới trẻ và cao niên thường sinh hoạt vào một ngày quy định trong tháng, tuỳ theo mỗi giáo xứ Các hội đoàn này đều bình đẳng với nhau, không có quyền hành trên nhau

Tiêu chí về giới : Giới nữ , có các hội đoàn giới trẻ con Đức Mẹ, hiệp hội

Thánh Mẫu, các bà mẹ Công giáo Giới nam, có các hội đoàn liên minh Thánh Tâm, giới gia trưởng Các hội đoàn này được thiết lập nhằm cổ vũ và duy trì đời sống công giáo trong gia đình và giáo xứ

Trang 22

Tiêu chí sở thích: có các hội đoàn như, ca đoàn, hội bác ái, hội cầu

nguyện, lễ sinh.Ca đoàn và lễ sinh là hai hội không thể thiếu trong bất kỳ nhà thờ Công giáo nào Quy tụ những giáo dân thích đem lời ca tiếng hát của mình để phụng vụ cộng đoàn Và các cháu thiếu nhi có ý nguyện muốn giúp Linh mục trong khi cử hành các thánh lễ Hội bác ái quy tụ những người tự nguyện thích làm công việc bác ái xã hội hay giúp đỡ những người bệnh tật, neo đơn, nghèo khổ trong giáo

xứ

Tổ chức gia đình: Gia đình Công giáo cũng như các gia đình khác ở Việt

Nam bao gồm các thành viên gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và huyết tộc Gia đình Công giáo bàn thờ thường được bài trí ngay gian giữa ngay lối cửa ra vào hay ở một phía tường nhà Nhà nghèo thì bàn thờ đơn sơ Nhưng nhà khá giả bàn thờ rất sang trọng, cũng sơn son thiếp vàng, chạm trổ cầu kỳ, tượng ảnh quý giá Có nhà còn làm hang đá hay đặt tượng lớn trước sân hay trên mái thượng Gia đình Công giáo thường đông thành viên hơn các kiểu gia đình khác vì ai cũng có thêm 1 hay 2 bố mẹ đỡ đầu (bố mẹ thiêng liêng) khi Rửa tội hay chịu phép Thêm sức Mà quan hệ này cũng gắn bó, ràng buộc như bố mẹ đẻ Các gia đình Công giáo luôn chọn mô hình “Thánh gia” là hình mẫu lý tưởng sống

Các gia đình Công giáo thường tổ chức đọc kinh chung vào buổi tối Ngay từ thế kỷ XVII, các bổn đạo đã có thói quen đọc kinh sớm tối, mỗi buổi kinh

có thể kéo dài 30 phút Các nghi lễ vòng đời của người Công giáo luôn kết hợp giữa nghi lễ Công giáo và nghi lễ truyền thống Ví dụ ngày mất của cha mẹ, ông bà lại được tổ chức rất trọng thể hàng năm với nhiều thủ tục từ việc xin lễ cầu nguyện, đọc kinh ở nhà thờ đến mời anh em, hàng xóm tới dự tiệc giỗ ở nhà để đọc kinh

Văn hóa ứng xử Công giáo là một loại hình đặc thù của thành tố văn hóa ứng

xử, đó là toàn bộ những giao tiếp, hành vi, thói quen sinh hoạt trong đời sống tôn giáo

Ứng xử với Thiên Chúa và các Thánh :Trong đời sống tâm linh tín đồ Công

giáo Sài Gòn tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất Thờ phượng và kính mến Thiên

Trang 23

Chúa trên hết mọi sự đó là giới răn đầu tiên trong thập giới Vị Thiên Chúa này trong kinh thánh được gọi với nhiều danh xưng khác nhau là Đức Giavê, Đức Chúa, Chúa Cha nhưng danh xưng quen thuộc của người Công giáo Việt Nam là Thiên Chúa Họ lắng nghe và thực hành lời Chúa Chuyên cần cầu nguyện Cầu nguyện chính là cuộc gặp gỡ và đối thoại thân mật với Thiên Chúa

Mỗi gia đình người Công Giáo Sài Gòn thường có giờ cầu nguyện chung, qua từng bữa ăn, họ không chỉ cám ơn Chúa cho của ăn mà còn cầu xin cho những người nghèo khổ cũng có của ăn như họ… cũng như giờ đọc kinh chung buổi tối

Như Đức Kitô đã dạy “Thầy bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh

em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ”[Mt 18,19-

20] Siêng năng lãnh nhận các bí tích Bảy Bí tích đều do Chúa Kitô thiết lập, nói

theo góc nhìn văn hóa, là các nghi lễ mang ý nghĩa “Thần học” với mục đích chuyển thông ơn Chúa cho người nhận, thánh hoá và giáo huấn con người Bảy Bí tích gắn với 7 giai đọan đời người: thứ nhất là phép rửa tội để tha tội tổ tông và tội riêng (người lớn), ban ơn Thánh hoá.Thứ hai là phép thêm sức Thứ ba là phép mình thánh Chúa.Thứ bốn là phép giải tội Thứ năm là phép xức dầu bệnh nhân Thứ sáu

là phép truyền chức thánh Thứ bảy là phép hôn phối Khi em bé sơ sinh lãnh Bí tích Rửa tội, bố mẹ em sẽ chọn một vị thánh bảo trợ cùng với một người cùng giới làm

bố mẹ đỡ đầu Tên vị Thánh bảo trợ sẽ luôn được đặt trước tên của em suốt cuộc đời trong các họat động của Giáo hội

Ngoài việc tôn thờ Thiên Chúa Người Công giáo Sài Gòn còn thờ kính Các Thánh Họ là các nhân vật cụ thể thuộc nhiều thời đại trong lịch sử Giáo hội hoặc một số ít được Thánh kinh nhắc đến Quy trình phong Thánh là một bản sắc văn hóa của Giáo hội Công giáo: khi một người Công giáo sống thánh thiện, công trạng rõ ràng với xã hội và Giáo hội qua đời, Giám mục bản địa sẽ thâu thập chứng cứ về đời sống của vị ấy, lập hồ sơ đề nghị xin phong Chân phước Sau khi tuyên bố mở

án và công bố toàn Giáo hội, cần chờ vị ấy làm ít nhất ba phép lạ, các nhà khoa học độc lập, luật sư sẽ được mời giám định phép lạ, nếu tất cả đồng ý nhận là việc “họ

Trang 24

chưa từng thấy” thì thủ tục đầu tiên hoàn tất Giáo hoàng sẽ quyết định ngày và nơi tuyên phong Chân phước Tiếp theo là một thời gian điều tra thêm, sau đó, Giáo hoàng sẽ long trọng tôn phong vị Chân phước bên hàng Hiển Thánh

Người Công giáo Sài Gòn trong suốt nhiều thế kỷ qua luôn luôn thể hiện việc sùng kính Đức Maria một cách đặc biệt, cả ở hình thức bên ngoài lẫn nội dung bên trong Hình ảnh Đức Maria hiện diện từ trong gia đình đến nhà thờ, đôi khi cả nơi gần nhà thờ có đông người qua lại và dễ thấy (như tượng Nữ Vương Hoà Bình cuối nhà thờ Chính Toà Sài Gòn), phần lớn các gia đình Công giáo Sài Gòn vẫn còn giữ thói quen đọc kinh tối Lúc đó, cả gia đình quây quần trước bàn thờ đọc kinh và lần hạt Trong những kinh thường đọc, có nhiều kinh thuộc về Đức Maria

và hát những bài hát về Đức Maria Người Công giáo Sài Gòn xem Đức Maria như người Mẹ thiêng liêng của mình, là chỗ dựa về tinh thần, là mẫu gương của họ trong cuộc sống hằng ngày

Ứng xử trong sinh hoạt cộng đồng Công giáo: Ứng xử với hàng giáo sĩ :

Hàng giáo phẩm – tu sĩ là những người chăn dắt đoàn chiên Sứ vụ của người chăn chiên đòi hỏi phải là người, hiền hậu, có trái tim nhân từ thương cảm Con chiên nào đau bệnh thì chữa trị, con nào lạc lối tìm đưa về, con nào bước đi yếu ớt, cõng trên vai Những con chiên khoẻ mạnh thì vỗ về Từ những hình ảnh nhân hậu đó, người

chăn chiên còn là biểu tượng của sự bình an cho đàn chiên "Chiên Ta thì nghe tiếng

Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta” [Ga 10, 27-30] Với sứ vụ như vậy các giáo sĩ

có vai trò là “thừa tác viên lời Chúa và là thừa tác viên cử hành các bí tích cho giáo

dân là thầy dạy đức tin cho các bổn đạo” [x Lm, số 4 -6] Giáo dân thường vâng

phục những điều các Linh mục đã quyết định với tư cách là thầy dạy Linh mục được giáo dân gọi là cha xưng con theo một thế ứng xử kính trọng nhưng thân thuộc gần gũi Họ đi lễ hằng ngày và xem Linh mục như người ruột thịt, có những công việc riêng tư họ thường tìm đến Linh mục và xin lời khuyên nhủ từ phía các Linh mục Linh mục thường lắng nghe và lưu tâm đến những tâm tư nguyện vọng của giáo dân Đối với hàng Giám mục thì sự kính trọng được nhân lên rất nhiều lần so với Linh mục

Trang 25

Với các nữ tu, giáo dân thường gọi cách trìu mến là “dì” (dì là em mẹ) vì các nữ tu thường làm những công việc từ thiện hoặc gọi là Soeur

Ứng xử với đồng đạo: Theo nguyên tắc chung là yêu thương nhau như

trong một nhà vì tất cả đều là dân Thiên Chúa có “ Thiên Chúa là Cha, Đức Kitô là

trưởng tử giữa đàn em đông đúc, và có Chúa Thánh Thần là tình yêu hiệp thông”

[TCHĐHDC số 10] Họ hiệp thông với nhau và xem nhau là chi thể của cùng một thân thể trong tinh thần bác ái và yêu thương Người Công Giáo Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh cũng đi theo nguyên tắc này, họ như chất keo gắn kết, hiệp thông với nhau cùng nhau xây dựng xứ đạo – họ đạo Cùng nhau đi lễ sớm chiều Cùng sinh hoạt hội đoàn, là nơi chia sẽ tâm tình, và những cuộc rước kiệu họ cùng nhau đi trong hàng ngũ Trong xứ đạo – họ đạo hễ gia đình nào có việc cưới xin, tang ma thì các tín hữu trong xứ cùng nhau hiệp lực giúp sức

Có người trong giáo xứ qua đời, khi nghe tiếng chuông sầu của nhà xứ, các giáo dân dù đang làm gì cũng dừng lại đọc một kinh Lạy Cha để tỏ lòng thương tiếc một con chiên Chúa mới qua đời Kế đến, các hội đoàn trong giáo xứ đến đọc kinh cầu nguyện, phúng điếu người quá cố Người Công giáo Sài Gòn sống trong một đô thị năng động nhộn nhịp, cuộc sống của đô thị luôn tất bật, bận rộn nhưng họ không sống một cách khu biệt mà luôn mở rộng , giao lưu, học hỏi Họ hay đến các giáo xứ lân cận trong giáo phận tham dự thánh lễ, nếu giáo xứ nào gặp khó khăn trong việc xây, sửa nhà thờ thường kêu gọi sự giúp đỡ của các giáo xứ khác, người Công Giáo Thành phố luôn rộng lòng giúp đỡ

Ứng xử với những người khác đạo: Trước công đồng Vatican II mối quan

hệ giữa giáo dân với người khác đạo có phần nào khép kín hơn Tuy nhiên, cũng có một số giáo dân ở không ít xứ đạo từ trước công đồng Vatican II đã có những mối quan hệ tốt với người ngoại đạo Từ năm 1980 trong thư chung của hội đồng giám

mục Việt Nam với đường hướng mục vụ “ sống phúc âm trong lòng dân tộc để

phục vụ hạnh phúc đồng bào” mối quan hệ giữa giáo dân và lương dân thực sự chan

hòa trong tinh thần đối thoại để tìm ra một phương thức tốt đạo đẹp đời Những

Trang 26

ngày lễ lớn của Công Giáo như lễ giáng sinh, các giáo dân cũng đón tiếp phật tử đến chung vui, ngược lại, giáo dân cũng đến tham dự lễ cưới hoặc tang ma của người ngoại đạo Đến dự đám tang của người ngoại đạo, giáo dân thắp hương, vái ba vái trước linh cửu hoặc bài vị người quá cố Ngoài ra, người Công giáo còn xác định

nguyên tắc thực thi bác ái trong ứng xử với tha nhân “ nếu các con yêu thương nhau

thì thiên hạ cứ thấy dấu ấy mà nhận biết các con là môn đệ của thầy”[Ga 13,35]

Ứng xử trong gia đình: Gia đình Công giáo không nằm ngoài cấu trúc gia

đình người Việt truyền thống Ở đó là sự cư trú của những người cùng huyết tộc Trong gia đình Công giáo con cái phải thảo kính với cha mẹ theo giới răn thứ tư trong thập giới nhưng cũng có điều luật buộc cha mẹ phải giáo dục con cái nên người Công đồng Vatican II trong “Tuyên Ngôn Giáo Dục Kitô Giáo” khoản 226

số 3 đã xác định vai trò quan trọng của các bậc làm cha mẹ trong việc giáo dục con

cái: “vì là người truyền sự sống cho con cái, nên cha mẹ có bổn phận hết sức quan

trọng là giáo dục chúng và vì thế họ được coi là nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu của chúng Vai trò giáo dục này quan trọng đến nỗi nếu thiếu sót thì khó lòng bổ khuyết được” Trong việc giáo dục con cái, yếu tố gia đình bền vững giữ vai trò to

lớn Gia đình Công giáo ít có sự ly dị vợ chồng Hôn nhân được nâng lên hàng bí

tích “điều gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly” [Mt 19.3]

Người Công giáo noi gương gia đình Thánh gia lấy đó làm mẫu mực, các gia đình Công giáo cũng có khuynh hướng chăm lo, giáo dục con cái để trở thành Linh mục, tu sĩ Khi người con gia nhập đại chủng viện để được đào tạo trở thành Linh mục họ được những người thân trong gia đình gọi là thày theo một ý nghĩa trân trọng Khi người con được phong Linh mục, mọi người trong gia đình hay giáo dân bên ngoài gọi là cha Người sinh ra Linh mục được gọi là ông bà cố

Ứng xử với cộng đồng xã hội : Nguyên tắc chung của đạo Công giáo trong

ứng xử với môi trường xã hội là hiếu hòa Khi còn bé đã được học Thánh Kinh, giáo lý Công giáo, đó là nền đạo đức quy định các hành vi sống, cư xử và sinh hoạt tôn giáo của người giáo dân thông qua mười điều răn Thiên Chúa ban là tiêu chuẩn

Trang 27

đạo đức mà Đức Chúa Trời đòi hỏi trong lối sống của con người Các giới răn Thiên Chúa không nhằm việc cấm đoán hay hạn chế sự tự do của giáo dân, nhưng nhằm giúp đỡ, bảo vệ và hướng dẫn giáo dân biết sử dụng sự tự do của mình một cách đúng đắn và hợp lý, để họ có thể sống an vui hạnh phúc, trong đời sống cá nhân, đời sống gia đình và đời sống xã hội và mai hậu được hưởng nguồn hoan lạc bình an bất tận trong cuộc sống mới Cụ thể mười điều răn theo thứ tự: thờ phượng Chúa trên mọi sự Không kêu tên Chúa vô cớ, cấm nói phạm thượng (nói trong lòng hay ngoài miệng những lời oán trách, thách thức, nói xấu Chúa) chửi thề nhắc tới danh Chúa hay để thề thốt gian dối Phải nghỉ ngơi ngày Chủ nhật, ngày Chúa nhật (Ngày của Chúa) được đặt ra để mọi người được nghỉ ngơi và rảnh rỗi để vun trồng đời sống văn hoá, nội tâm cá nhân, gia đình, từ thiện xã hội và Tôn giáo, ngày Chúa nhật cũng là ngày đòi hỏi người Công giáo phải dự lễ Thảo kính cha mẹ, điều răn này dạy phải tôn kính, yêu mến, biết ơn cha mẹ, Ông bà, Tổ tiên; học trò với thầy; công nhân với chủ nhân; cấp dưới với cấp trên; công dân với chính quyền, với quê hương, và ngược lại Không giết người, điều răn này cấm cố ý giết người trực tiếp, cấm tự tử, cấm giận ghét tha nhân Không làm sự dâm dục, Không trộm cướp của người Không làm chứng dối, cấm dối trá trong mọi giao tiếp với tha nhân Không ham muốn vợ chồng người, cấm sự thèm muốn xác thịt Không tham lam của người, cấm ghen tương tha nhân, buồn phiền khi thấy người khác có của cải, và rất ước ao chiếm cho mình bằng cách bất chính

Chức năng văn hoá công giáo

Cho đến nay, chức năng tôn giáo vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, có quan điểm cho rằng, tôn giáo là hiện tượng văn hóa nên tôn giáo cũng có những chức năng văn hóa như: Chức năng giáo dục, chức năng nhận thức, chức năng thẩm

mỹ, chức năng dự báo Song với tư cách là hiện tượng văn hóa đặc thù, tôn giáo có những chức năng chủ yếu sau: chức năng đền bù an ủi.Chức năng thế giới quan.Chức năng liên kết, điều chỉnh

Trang 28

Vì vậy chúng tôi cho rằng chức năng văn hóa công giáo một mặt phải bao

hàm những chức năng chủ yếu của tôn giáo nói chung, mặt khác nó lại mang những

chức năng văn hóa – đó là những chức năng nhận thức (tương ứng với chức năng

thế giới quan) Chức năng giáo dục, thẩm mỹ dự báo (chức năng đền bù an ủi)

Trong luận văn, theo mục đích đề tài, chúng tôi trình bày: Chức năng

nhận thức bao hàm chức năng thế giới quan của văn hóa Công giáo, chức năng giáo

dục, thẩm mỹ (bao hàm chức năng đền bù, an ủi)

1.2 Công giáo và đời sống văn hoá công giáo ở Sài Gòn - Thành phố Hồ

Chí Minh

1.2.1 Khái quát lịch sử du nhập, đặc điểm văn hoá công giáo ở Sài Gòn -

Thành phố Hồ Chí Minh

Khái quát lịch sử du nhập

Năm 1698, chúa Nguyễn cử Chưởng cơ lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh

vào Nam, thiết lập chính quyền, các đơn vị hành chánh, chia đặt tỉnh lỵ v.v., chính

thức xác lập chủ quyền của Đại Việt trên vùng đất mới, lập ra phủ Gia Định thì lưu

dân trên cả vùng đất này có hơn 40.000 người Nguyễn Hữu Cảnh lấy xứ Đồng Nai

làm huyện Phước Long và xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình.Đất Sài Gòn đã có các

gia đình Kitô giáo chạy trốn cuộc bách hại và làm ăn buôn bán tại cù lao phố, khu

chợ Quán, Gia Định [85,92]

Theo Trần Phổ trong cuốn dòng Phanxicô trên đất Việt, ở vùng đất Sài

Gòn vào khoảng năm 1720 có một nhóm lưu dân người Việt Kitô giáo quy tụ với

nhau, chung tiền cất được một nhà nguyện nhỏ Nhóm lưu dân người Việt Kitô giáo

đầu tiên tập trung ở xóm Nhân Giang, gần nơi họp chợ Sau này được gọi là Chợ

Quán [90,434]

Ngày 22/12/1722 linh mục José Garcia dòng Phanxicô ở Quảng Ngãi

được cử xuống miền Nam truyền giáo, năm 1723 linh mục José Garcia đến Sài Gòn

Giai đoạn này linh mục José Garcia bỏ tiền mua một vườn rộng, rồi rời nhà nguyện

Trang 29

về xây cất lại, năm này cũng là năm phát tích họ đạo Sài Gòn đầu tiên Nay là họ Chợ Quán Nơi đây có khoảng 300 giáo dân, đáng chú ý là số người theo đạo kéo tới vùng Sài Gòn mỗi lúc một đông Từ nhu cầu tín ngưỡng của người dân đến năm

1730 linh mục José Garcia đã xây dựng thêm một nhà thờ nữa đó là nhà thờ Chợ Lớn Cha José ghi nhận ngày hôn chân Chúa năm 1739, đã có 2.000 giáo dân (chỉ tính người bỏ tiền) Năm đó Sài Gòn Hạ có 1.500 giáo dân, Chợ Lớn 1.000.[85,93]

Năm 1743 nhân sự giáo phận Đàng Trong gồm 12 linh mục dòng tên, 9 linh mục dòng Phanxicô, 6 thừa sai Paris, 2 linh mục thuộc thánh bộ và một số linh mục Việt Nam Năm 1744 Kitô giáo tại Sài Gòn là khoảng 5.500 tín đồ [90, 435]

Năm 1771 Đức Giám Mục Phêrô Bá Đa Lộc quy tụ giáo dân lập họ Chí Hoà họ nhánh của họ Chợ Quán Năm 1750, Chợ Quán đã trở thành một trung tâm quy tụ người theo đạo Thiên Chúa Số người theo đạo Thiên Chúa kéo tới vùng Sài Gòn mỗi ngày một đông Vào năm 1730 một ngôi nhà thờ khác đã được cất lên tại một trung tâm buôn bán cũng ở trong vùng và không cách xa lắm, tức nhà thờ Chợ Lớn [49,48] Họ Chợ Quán, Chợ Lớn và Họ Chí Hoà là những họ đạo tiên khởi đầu tiên của Sài Gòn Thời đó

Như vậy, người Việt Kitô giáo đầu tiên tại Sài Gòn là những di dân đến khai khẩn vùng đất Nam bộ, cũng như các di dân khác phần đông là những người mất phương kế sinh nhai nơi quê cũ vì rất nhiều lý do ràng buộc họ như bị tước đoạt ruộng đất, những người chống đối lại triều đình, trốn lính, hay những kẻ phải mang những bản án vào thân… Tất cả họ đều muốn tìm một cuộc sống mới trên vùng đất mới , đất rộng người thưa dù biết trước những khó khăn, khắc nghiệt không dễ vượt qua Mặt khác các di dân Kitô giáo này muốn chạy trốn các cuộc bách hại đạo vốn rất gay gắt ở Kinh Đô hay ở các tỉnh lân cận [90,437] Ở Nam Bộ cho đến khi quân Pháp đánh chiếm Sài Gòn lục tỉnh thì việc thi hành mệnh lệnh cấm đạo của triều đình vẫn còn có phần lỏng lẻo không phải vì các quan ở xa có ý kháng chỉ vua nhưng lòng nhân từ và cởi mở, thông thoáng của người Nam Bộ vốn là đặc trưng

Trang 30

tính cách của họ Do vậy, việc định cư của các cư dân Kitô giáo tại Nam Bộ nói chung và Sài Gòn nói riêng vào buổi đầu được ổn định

Kitô giáo tại Sài Gòn dưới thời Nguyễn (1802 – 1884)

Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy hiệu là Gia Long giáo dân tại một

số vùng Sài Gòn được yên ổn giữ đạo Giáo xứ Chợ Quán cũng có phần khởi sắc

Sự có mặt của cố đạo Marchand (cố Du) trong cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi (1833 – 1835) vua Gia Long nghi ngờ và lo sợ trước sự có mặt và ảnh hưởng của các thừa sai nước ngoài, nhưng có lẽ Gia Long bắt đầu đặt lại vấn đề Hoàng tử Cảnh nhất định không đến lạy trước bàn thờ tổ tiên trong một buổi lễ được tổ chức vào cuối tháng 7 – 1789

Sang đời Minh Mạng và Tự Đức việc cấm đạo đã ảnh hưởng mạnh mẽ

đến các họ đạo Kitô giáo Năm 1832, trong dụ cho bộ hình Minh Mạng nói :”Đạo

Gia Tô nguyên từ nước Tây Dương đem vào truyền bá đã lâu, ngu dân phần nhiều

bị mê hoặc mà không biết hối, thử nghĩ cái thuyết thiên đường, tóm lại chỉ là chuyện hoang đường, không có bằng chứng Hơn nữa, không kính thần minh, chẳng thờ tổ tiên, rất trái với chính đạo… những việc trái luân lý, hại phong hoá, điều ấy

kể ra còn nhiều, thực đã phạm đến pháp luật” [3,236] Do vậy Minh Mạng đã tập

trung các giáo sĩ, thừa sai nước ngoài về Huế, cố ý giam lỏng không cho các ngài giảng đạo Nhờ sự bảo trợ của Tả Quân Lê Văn Duyệt, tổng trấn Gia Định, giáo dân miền Nam bớt bị bách hại hơn, nhưng khi Lê Văn Duyệt mất (1832), vua Minh Mạng bãi chức tổng trấn, trấn Gia Định được chia thành 6 tỉnh gọi là Nam Kỳ Lục Tỉnh: Gia Định, Biên Hoà, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên [85,94] Vua Minh Mạng quyết liệt ra sắc dụ cấm đạo Một ít người Công giáo đã tham gia cuộc nổi dậy khiến cho nhà vua và triều đình Huế càng có cớ bách hại đạo Nhiều nhà thờ bị triệt hạ, nhiều giáo sĩ và giáo dân bị bắt, nhà thờ Chợ Quán bị phá thành bình địa năm 1834, bổn đạo tản về các miền Gò Vấp, An Nhơn, Xóm Chiếu hoặc những vùng ở miền Đông như Đất Đỏ, Tân Triều, Lái Thiêu

Trang 31

Ngày 18/02/1859 Pháp kéo binh lấy thành Sài Gòn thời điểm này có khoảng 40 giáo dân chạy trốn từ Rạch Thày Tiêu ( xa Xóm Chiếu chừng 4 giờ) ra Rạch Bàng gần đồn Cá Trê Đức Cha Dominique Lefebre tập trung bổn đạo lại một nơi, lấy nhà kẻ ngoại chạy giặc bỏ không mà ở, lựa một nhà lá rộng rãi làm nhà thờ tạm [55,276] Thời gian ngắn sau đó có vài chục người ngoại trở lại đạo Công giáo Thời điểm này giáo dân ở mấy xứ xa Sài Gòn bị bách hại nặng nề Đức Cha Dominique Lefebre xin quan Pháp cho tàu lớn chạy lên phía Thủ Đức , Lái Thiêu , rước bổn đạo về Sài Gòn Tàu chạy về neo ngay Vàm Bến Nghé, bổn đạo lên Bờ Kẻ qua Thủ Thiêm, người qua Xóm Chiếu Thời điểm này số giáo dân Xóm Chiếu là

2000người Tại Sài Gòn và các vùng lân cận đã trở thành nơi quy tụ mới của các tín

đồ Kitô giáo, nhiều họ đạo mới được thành lập xung quanh Sài Gòn Thánh Gẫm thành lập 1848, Thủ thiêm 1859, Cầu Kho thành lập 1863 Lúc bấy giờ Cầu Kho còn là họ nhánh của giáo xứ Chợ Quán có tên là Bến Nghé, với một ít giáo dân người địa phương

Khi triều đình Huế bắt đạo, có thêm khoảng 200 giáo dân từ miền Trung vào đây lánh nạn Năm 1859 khi binh Langa lấy thành Sài Gòn thì nhiều bổn đạo mấy nơi khác trốn cho khỏi các quan cựu bắt bớ, nên đến Sài Gòn cho gần người Langa hộ vực Vậy có nhiều kẻ tới ở phía Tây Nam thành Sài Gòn cùng làm nên một xóm đạo kêu là họ chợ đũi [55,196]

Năm 1860 có vài gia thất có đạo chừng 30 hay 40 người, trốn cơn bách đạo mà đến Sài Gòn, cất nhà cửa ở gần xung quanh hào vách thành, chỗ kêu là cửa hữu; năm 1861 cùng với nhiều gia thất có đạo ở bên Cầu Bông khoảng chừng 100 người cùng làm nên xóm đạo lấy tên là họ An Hòa [55, 245]

Năm 1862 số bổn đạo tăng thêm nữa vì các nơi khác phải bị bắt bớ, bổn đạo phải trốn tránh nên tới ở lại họ An Hòa ngày càng đông Hơn nữa bên kia Cầu Kiệu có nhiều người ngoại đạo xin học đạo Khi ấy cha Triêm coi họ cầu Bông và Thị Nghè đã hiệp nhất những người theo đạo mới mà lập họ Tân Định [55, 246]

Trang 32

Theo tài liệu Nam Kỳ địa phận năm 1917 trang 677 giáo xứ Hạnh Thông Tây thành lập 1861.Ban đầu chỉ có gia đình ông Đốc phủ Ca và một vài gia đình quyền thế trong ngôi làng nhỏ có tên Hạnh Thông Tây xin gia nhập đạo Sau đó, khoảng 400 người ngoại giáo có của cải trong làng đến xin học đạo, rồi số người càng lúc càng đông Lúc ấy chưa có nơi tụ họp nên một số người khá giả đã ưng thuận hiến tặng ngôi đình thờ làng của họ dựng ngôi nhà nguyện Thế là ngôi giáo đường đầu tiên ra đời Bình Chánh thành lập 1884, Thủ Đức 1879, Tắc Rỗi thành lập 1880, Chợ Cầu thành lập 1869, Bà Điểm thành lập 1863 [54,693], Tân Quy

1880, dòng La San và Phaolô thành Chartres được mời sang Việt Nam để lo việc giáo dục xã hội

Kitô giáo tại Sài Gòn từ 1954 – 1975

Hiệp định Geneve ký kết vào tháng 7 năm 1954, một số đồng bào ở phía Bắc đã di cư vào Nam, trong số này đa phần là người Kitô giáo Theo niên giám giáo hội Công giáo Việt Nam năm 1964 thì có 553.680 người Kitô giáo miền Bắc di

cư vào Nam Đồng bào Kitô giáo di cư được chính quyền Ngô Đình Diệm bố trí định cư khắp miền Nam Quảng Trị, thừa Thiên đến Long Xuyên, Rạch Giá Năm

1954, tại miền nam Việt Nam có 6 giáo phận với tổng số là 460.000 tín đồ chiếm 3,5% dân số miền Nam Sau khi di cư, số Kitô giáo tăng lên hơn 1.000.000 người, chiếm 10% dân số Một số người Kitô giáo di cư được định cư ở Sài Gòn và các vùng xung quanh Sài Gòn Tuy nhiên, họ cũng không có ý định mở rộng không gian tôn giáo cho bằng đi tìm một nơi an toàn để tồn tại Về mặt hành chính, chia mỗi giáo phận di cư thành một trại Mỗi trại có một vị linh mục làm trưởng trại và một uỷ ban định cư Mỗi giáo xứ là một ấp Mỗi ấp có một ban định cư, trong đó vị trưởng ban cũng là trưởng ấp Ban định cư cũng gồm các vị trùm đại diện giáo xứ dưới quyền của cha xứ Theo thông báo của toà Tổng Giám mục Sài Gòn, các giáo

xứ di cư không đủ số giáo dân cần thiết để giữ nguyên tên xứ cũ, thì phải kết hợp với các giáo xứ khác ở lân cận để thành lập giáo xứ mới Khi dân chúng bắt đầu đi vào cuộc sống ổn định, xét thấy với hoàn cảnh hiện tại rất thuận lợi cho việc thành

Trang 33

lập một giáo xứ, các Linh mục lúc đệ trình lên Đức Cha giáo phận Sài Gòn xin thành lập giáo xứ Từ 1954- 1975 Sài Gòn đã lập thêm 150 giáo xứ

Ngày 24-11-1960, qua Tông hiến Venerabilium Nostrorum, Đức Gioan XXIII thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam với 3 giáo tỉnh: Hà Nội, Huế và Sài Gòn Giáo phận Sài Gòn được nâng lên hàng tổng giáo phận Đức Cha PhaoLô Nguyễn Văn Bình làm Tổng Giám mục Sài Gòn Năm 1963, giáo phận Sài Gòn có gần 567.455 giáo dân với 583 linh mục triều, 25 linh mục dòng, 503 nam tu, 1.936

nữ tu trong 263 giáo xứ (họ chính) và 284 giáo họ (họ lẻ) Năm 1965, Toà Thánh tách từ giáo phận Sài Gòn lập hai giáo phận Phú Cường và Xuân Lộc.[85,95]

Ngày 2-7-1976, Quốc hội khoá VI nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã chính thức đổi tên Sài Gòn thành phố Hồ Chí Minh Ngày 23-11-1976, Tòa Thánh cũng đổi tên giáo phận như tên hành chính theo yêu cầu của tổng giáo phận

Đặc điểm văn hoá công giáo ở Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm thành phố Sài Gòn Chợ lớn

và tỉnh Gia Định trước đây Thành phố Hồ Chí Minh ở vào vị trí chiến lược đặc biệt, là nơi hội tụ của nhiều luồng dân cư, dân tộc từ Trung bộ và Bắc Bộ.Nằm ở ngã tư đường quốc tế từ Á sang Âu, từ Bắc xuống Nam, nên đất sài Gòn dung hợp nhiều nền văn minh, văn hóa, nhiều tôn giáo khác nhau Do vậy có thể nói văn hoá

cả thế giới như hội tụ lại dưới vòm trời Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh khiến thành phố này có một bộ mặt văn hoá – tôn giáo đa dạng và nhiều sắc thái Vì vậy

đã tạo cho Công giáo Sài gòn – Thành phố Hồ Chí Minh có những đặc điểm :

Nhận thức trong văn hóa Công giáo Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh Văn hóa Công giáo Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh tìm sự đối thoại với các tôn giáo khác

Sài Gòn là vùng đất hội tụ nhiều luồng di cư từ các vùng đất khác nhau, trên đất Sài Gòn lại có sự phát triển giao thoa văn hoá với các nước khu vực Đông Nam Á Đặc biệt là những mối quan hệ ảnh hưởng văn hóa với hai nước lớn Trung

Trang 34

Hoa và Ấn Độ về hai lĩnh vực triết học và tôn giáo Phong trào di cư 1954 vô tình

đã trở thành một cao trào tạo dịp để văn hoá đồng bằng Bắc Bộ hội nhập mạnh hơn vào đất Sài Gòn đã làm cho bộ mặt Sài Gòn những sắc màu văn hoá mới Những đoàn lưu dân này đã du nhập các tôn giáo Công giáo, Phật giáo, Islam, Tin lành khi vào vùng đất mới, tạo ra cho Sài Gòn một quá trình tiếp nhận các yếu tố tôn giáo khác nhau và có sự giao lưu đối thoại giữa các tôn giáo.

Trước Công đồng Vaticanô II, Giáo hội Công giáo có thái độ tiêu cực đối với các tôn giáo hoặc nếu có nỗ lực tìm hiểu các tôn giáo khác, cũng nhằm chỉ trích hay hạ thấp niềm tin của họ Thế nhưng, sau khi Công đồng Vaticanô II kết thúc, thì lập trường ấy hoàn toàn thay đổi Công đồng xác quyết cách chắc chắn rằng có chân

lý trong các tôn giáo khác: “Giáo hội Công giáo không hề phủ nhận những gì là

chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo Với lòng kính trọng chân thành, Giáo hội xét thấy những phương thức hành động, những lối sống, những huấn giới và giáo thuyết kia, tuy có nhiều điểm khác với chủ trương mà Giáo hội duy trì, nhưng vẫn thường có ánh sáng của chân lý vốn hằng chiếu soi cho hết mọi người” [32,41]

Hiện nay, Giáo hội Công giáo phải nhìn nhận rằng mình chưa hiểu đúng, thậm chí còn hiểu sai, chưa thấu triệt được các tôn giáo khác, nên còn có những phán đoán hẹp hòi khi đối thoại Trong bối cảnh đó, Giáo hội chủ trương phải tìm hiểu, gặp gỡ các tôn giáo khác nhiều hơn, để có những phán đoán đúng về họ:

“Trong thời đại chúng ta, nhân loại càng ngày càng liên kết chặt chẽ với nhau hơn, các mối liên lạc giữa các dân tộc cũng gia tăng, nên Giáo hội đặc biệt chú tâm tới việc liên lạc với các tôn giáo ngoài Kitô giáo Trong nhiệm vụ cổ võ sự hiệp nhất và yêu thương giữa con người và nhất là giữa các dân tộc, Giáo hội đề cập đến những điểm chung cho hết mọi người và những gì dẫn đến cuộc sống cộng đoàn.” [31,42]

Hiện nay, Giáo hội Công giáo nói chung, và Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng luôn tìm sự đối thoại với các tôn giáo bạn, để các tôn giáo gặp gỡ, thương thuyết và tạo cơ duyên nói cho nhau và nghe nhau nói về niềm xác tín – niềm

hy vọng của mình “đối thoại là tên gọi mới của niềm hy vọng“ [97,52] Đối thoại tôn

Trang 35

giáo là một hình thức truyền giáo đặc biệt và quan trọng, trong đó người Kitô hữu gặp gỡ các tín đồ tôn giáo khác để cùng đồng hành đi đến chân lý, và cùng cộng tác với nhau trong những dự án thực hiện những quan tâm chung Trong sự khiêm tốn và kính trọng, tức là đối thoại bằng cuộc sống và bằng con tim Đối thoại về những kinh nghiệm tôn giáo là chia sẻ kinh nghiệm về cầu nguyện, chiêm niệm, đức tin, bổn phận, cách diễn tả Tuyệt đối hay phương thế tìm kiếm Tuyệt đối, nhất là những cảm nghiệm về Tuyệt đối Đây là kiểu đối thoại làm phong phú đời sống tâm linh nơi các tôn giáo, thăng tiến và duy trì những giá trị cao cả nhất và những lý

tưởng tâm linh [106,12]

Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một bộ phận của văn hóa bản địa, tiếp nhận truyền thống văn hóa Nam Bộ, cởi mở và khoan dung

Sài Gòn là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi “mưa thuận gió hòa” Là vùng đất hứa, là niềm hy vọng của các lớp cư dân Vì nhiều lý do khác nhau họ đã đến Sài Gòn lập nghiệp Văn hoá biển đã đồng hành với người Trung Bộ trên con đường Nam tiến hội nhập vào đất Sài Gòn Muộn hơn thời kỳ này một chút còn có một dòng văn hoá Trung Hoa hội nhập vào đất Sài Gòn thông qua những nhóm nghĩa binh "phản Thanh phục Minh" tìm đến nơi này lánh nạn Văn hoá Sài Gòn đã giàu chất văn hoá bản địa: văn hoá đồng bằng Nam Bộ, văn hoá biển Trung Bộ, văn hóa của các cộng đồng dân tộc Khmer, Hoa… Những khu vực tập trung dân cư Bắc

Bộ như: Ngã ba Ông Tạ, Xóm chiếu Khánh Hội, Xóm Mới Gò Vấp, Trung Chánh Hóc Môn… đã làm cho bộ mặt Sài Gòn những sắc màu văn hoá mới Văn hoá đồng bằng Bắc Bộ với cơ cấu tổ chức làng xã chặt chẽ mang đậm tính kỷ cương trật tự xã hội đã góp phần xây dựng và làm phong phú tính cách người Sài Gòn: vừa hào sản phóng khoáng kiểu phương Nam lại vừa điều độ mực thước như người phương Bắc

Có thể nói hơi thở của văn hoá đồng bằng Bắc Bộ quyện chặt và len lỏi vào mọi nếp sinh hoạt và cuộc sống của người dân trên đất Sài Gòn cũng làm cho nhận thức và khả năng thích ứng của người Sài Gòn có những nét uyển chuyển và hài hoà Người Việt Nam nói chung và Công giáo Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng mang tính cách hiếu hoà, chịu thương chịu khó, chất phát, tế nhị và giàu tình cảm với quê

Trang 36

hương đất nước và dân tộc Hơn nữa, luôn tôn trọng và đề cao về tình làng nghĩa xóm, sống gần gũi và thân thiết như tình máu mủ ruột thịt, luôn mở rộng lòng mình

để đón nhận mọi người, mọi điều hay lẽ phải[117, 22-24]

Công giáo Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh hội nhập văn hóa, theo một cách hiểu thông thường, là một quá trình tương tác, đối thoại giữa “niềm tin” và

“văn hóa”, nói rõ hơn là mối tương quan sáng tạo và năng động giữa sứ điệp Kitô giáo và nền văn hóa Việt Nam[103, 82] như lời nhận định của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II: “Hội nhập văn hoá là sự Nhập Thể của Tin Mừng vào các nền văn hoá bản địa; đồng thời cũng là giới thiệu các nền văn hoá ấy vào trong đời sống Hội thánh Hội nhập văn hoá là hình thức cụ thể của giao ước giữa Thiên Chúa và những con người nam cũng như nữ ở đây và bây giờ.”[21,31]

Tinh thần nhập thế của Công giáo Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh

Hiến chế mục vụ của công đồng Vaticano II (vui mừng và hy vọng), trong đó các kitô hữu ( cách riêng là các giáo dân ) được mời gọi là hãy đem tin mừng vào thực tại trần thế - gia đình, nghề nghiệp, kinh tế, chính trị - nhằm kiến tạo một thế giới công bằng hơn, nhân đạo hơn Tuy dù cách phát biểu thay đổi trải qua thời đại, nhưng chân lý nòng cốt vẫn không thay đổi Trọng tâm đời sống đạo không phải chỉ là kính mến Chúa qua việc đọc kinh thờ phượng, nhưng còn bao gồm lòng thương yêu tha nhân, giúp đỡ họ trong những nhu cầu vật chất và tinh thần, giúp cho họ thăng tiến cuộc sống [ 64,296]

Phong trào dấn thân của Công giáo Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh trong các sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, chính trị và xã hội ở khắp mọi nơi, dưới nhiều hình thức khác nhau, khơi nguồn từ những cá nhân hay tập thể cụ thể Ngày 12-6-1975, Đức Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình ra thư luân lưu về bổn phận của

người Công giáo đối với giáo hội và đất nước “tham gia vào việc xây dựng quốc gia

và hợp tác với chính quyền trong mọi công cuộc ích quốc lợi dân ( ) Điều cần là Theo ánh sáng đức tin, mỗi người tùy theo khả năng hãy tích cực tham gia vào các

Trang 37

hoạt động chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa vv để góp phần xây dựng hòa bình, củng cố độc lập, tái thiết quê hương” [5 1,56]

Yếu tố mẫu hệ ( trọng nữ) ở cộng đồng Công giáo Nam Bộ nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng

Người Công giáo Nam Bộ nói chung và Sài Gòn nói riêng thể hiện tính trọng nữ trong tín ngưỡng của mình Thực ra, người Việt Nam rất coi trọng người

mẹ, người phụ nữ, điều này thấm nhuần cả vào tín ngưỡng của họ Khi đạo Công Giáo du nhập vào, tình cảm đó vẫn không mất đi, nó tiếp tục ảnh hưởng Tính trọng

nữ vốn là đặc điểm của cư dân nông nghiệp lúa nước, nó đã tồn tại từ trong môi trường chung của người Việt Tuy nhiên trong quá trình tiếp biến văn hoá, người Việt đã ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa chuyển từ trọng nữ sang trọng nam, các tiêu chí tổ chức lãnh đạo thường nhắm đến nam giới, nữ giới thường đóng khung trong khuôn khổ gia đình gia tộc Khi di cư vào Nam , ảnh hưởng của Nho giáo cũng phai nhạt đi ít nhiều, khiến cho tính trọng nữ lại có cơ hội phát triển trở lại

Tổ Chức Công Giáo Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh

Tổ chức hàng giáo phẩm: Trong hàng giáo phẩm tại địa phận Thành

phố Hồ Chí Minh, tổng Giám mục là người đứng đầu giáo tỉnh cũng có nghĩa là người đứng đầu giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh Đứng đầu tổ chức và điều hành giáo phận hiện nay là Đức Hồng y tổng Giám mục Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn Đức Giám mục phụ tá Phêrô Nguyễn Văn Khảm và một số ban điều hành :Tổng đại diện, tòa án hôn phối

Các ủy ban Giám mục bao gồm: ủy ban giáo sĩ và chủng sinh, ủy ban

tu sĩ, ủy ban giáo dân, ủy ban phụng tự, ủy ban thánh nhạc và nghệ thuật thánh, ủy ban loan báo tin mừng, ủy ban văn hóa, ủy ban giáo lý đức tin, ủy ban bác ái xã hội, phụ trách thông tin

Các ban khác của giáo phận: mục vụ giảng dạy dân Chúa, mục vụ thánh hóa dân Chúa, mục vụ hướng dẫn dân Chúa, mục vụ ơn gọi, mục vụ giới trẻ, mục vụ thiếu nhi

Trang 38

Linh mục thuộc giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm hai bộ phận: linh mục dòng (trực thuộc bề trên dòng trong mọi sự việc và đảm nhận những công tác do bề trên dòng chỉ định)và Linh mục triều (trực thuộc giáo phận, trực tiếp dưới quyền Đức Giám Mục giáo phận, là linh mục coi sóc giáo dân)

Tổ chức giáo phận: Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm 24

quận, huyện thuộc thành phố Hồ Chí Minh bao gồm 15 giáo hạt nằm rải rác trên địa bàn các quận nội thành và các huyện ngoại thành Dưới giáo hạt là các xứ đạo, mỗi giáo hạt thông thường là các giáo xứ cùng chung trên địa bàn một quận Người dân Thành phố quen gọi xứ đạo là họ đạo hoặc giáo xứ Mỗi xứ đạo (hoặc họ đạo) được chia thành một số khu đạo, mỗi khu đạo chia thành một số phân khu đạo Ở Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, mỗi xứ đạo đều có linh mục chính xứ nhiệm sở Một

số xứ đạo có vài Linh mục phó xứ Trong khi đó, hầu hết các xứ đạo miền Bắc không có Linh mục phó xứ, thậm chí, nhiều xứ đạo không có Linh mục nhiệm sở

mà phải kiêm nhiệm có linh mục kiêm nhiệm đến 5 – 6 xứ đạo

Đặc biệt, một số họ đạo nhánh hay xóm đạo ở địa phận Thành phố Hồ Chí Minh cũng có Linh mục phụ trách Bên cạnh đó, một số xứ đạo mang tên gọi gắn với tên Thánh hoặc với một biểu tượng tôn thờ như xứ Mẫu Tâm, xứ Chúa hiển linh…Do một số xứ đạo cùng mang một tên thánh nên để tránh sự nhầm lẫn người

ta gắn thêm vào đó địa danh ví dụ xứ Antôn cầu Ông Lãnh, xứ Phanxicô Đa Kao

Tổ Chức hội đoàn: Tổ chức hội đoàn ở Giáo phận Thành phố Hồ Chí

Minh cũng giống như bất kỳ tổ chức hội đoàn ở các địa phận khác thuộc giáo hội Việt Nam Đó là các hội đoàn phục vụ thánh lễ, hội đoàn mang tính chất giữ gìn cũng cố đức tin hoặc đạo đức xã hội Một thời gian dài, các hội đoàn ở Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh không hoạt động công khai theo tên gọi mà lẩn vào các giới như : giới trẻ, giới ông, giới bà [26, 299] Từ năm 1996 trở lại đây, nhiều xứ đạo các hội đoàn hoạt động trở lại Có thể kể một số hội đoàn như : Hội nghĩa binh thánh thể, Hội các bà mẹ Công giáo, Hội dòng ba Đa Minh, Hội dòng Ba Đa Minh, Hội dòng ba Phanxicô … các hội đoàn có trang phục riêng, dây đeo, ảnh riêng

Trang 39

Ở các xứ đạo di cư người ta đã tái lập các hội đoàn có miền Bắc trước năm 1954 Ở các xứ đạo Nam, hội đoàn phục vụ cho thánh lễ ít và đơn giản hơn các

xứ đạo di cư

Ứng xử Công Giáo Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh Ứng xử trong đối thoại với các tôn giáo khác:Công giáo Thành phố

đối thoại với các tôn giáo khác trên tinh thần: “Các thành viên đối thoại phải ý

thức được giới hạn của mình và khả năng vượt lên giới hạn ấy Đừng ai nghĩ rằng mình nắm được chân lý một cách toàn vẹn Nhưng hãy nghĩ rằng mọi người

có thể cùng đồng hành với nhau để đạt đến mục đích ấy” [91, 49] Như vậy, việc

đối thoại tôn giáo có thể làm cho những kinh nghiệm tôn giáo của mỗi thành viên được tinh luyện và phong phú hơn không chỉ trong những tương đồng, mà còn trong cả những dị biệt Do đó, đối thoại tôn giáo không phải chỉ là một cách để giúp các bên hiểu biết nhau và làm giàu cho nhau Chẳng hạn, khi đối thoại với anh em Phật giáo hay Tin lành, không phải để thuyết phục hầu đưa họ về với Kitô giáo, mà để biểu lộ tình thương yêu gắn bó và quan tâm như con người đối xử với con người Theo thư chung của hội đồng Giám mục Việt Nam, việc đối thoại này trước hết phải diễn tả ngay trong cuộc sống hàng ngày, giữa các tín đồ cùng sống trong thôn xóm, khu phố, qua cách giao tiếp, làm ăn buôn bán với nhau Do đó, tôn giáo phải là nền tảng cho người ta xích lại gần nhau.[92, 252]

Đối thoại bằng việc làm là phương thế mời gọi người khác hợp tác để thực hiện những mục đích mang tính nhân đạo xã hội, nhằm xây dựng cho thiện ích của cộng đồng, ngõ hầu làm cho bộ mặt xã hội tươi đẹp, xoá dần những bất bất công và nghèo khổ cho nhân loại Chẳng hạn, nhóm Hồi giáo và Công giáo cùng tham gia vào những dự án để thăng tiến đời sống dân chúng, họ cùng nhau thành lập

uỷ ban điều hành cơ sở chữa trị cho người mắc bệnh phong cùi Phật giáo và Công giáo cùng nhau giúp đỡ các chị em thiếu nữ đường phố, giúp đỡ những nơi cần về môi trường sinh thái thiên nhiên Bằng chính việc làm thiết thực này, con người mới

có cơ hội xích lại gần nhau, tin tưởng và cộng tác với nhau, nhằm xây dựng một xã

Trang 40

hội công bằng – thịnh vượng, một niềm tin vững mạnh và xác tín, bởi vì đây là ý định mà Đấng Tuyệt Đối muốn thực hiện cho nhân loại

Ứng xử của Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh với văn hóa bản địa:

Công giáo Sài Gòn luôn tiếp thu truyền thống văn hóa bản địa Hình ảnh Đức Mẹ

La Vang áo dài khăn đóng bế Chúa hài đồng, thường được thấy trong các bàn thờ của gia đình người Công giáo Nam Bộ nói chung và Sài Gòn nói riêng Bên cạnh đó người Công giáo Sài Gòn cũng du nhập các phong tục ma chay, cưới hỏi của các cư dân bản địa trong các nghi lễ của mình Ví dụ những bức trướng may cho lễ tiễn đưa người vừa khuất được gắn theo đôi câu đối cùng những biểu tượng trang trí mang tính phương Đông, hay phong tục khâm liệm, đào huyệt đưa ma, tổ chức lễ giỗ định kỳ cho người quá cố theo phong tục của cư dân bản địa như giỗ trăm ngày, giỗ đầu, giỗ 3 năm Ngoài ra, người Công giáo Sài Gòn còn dùngthơ lục bát để diễn

ca Kinh thánh, dùng lá dừa thay lá ôliu trong ngày lễ lá

Các bài thánh kinh hay thánh ca dựa trên nền tảng giáo lý của giáo hội hay lấy ý tưởng từ trong phúc âm nhưng sử dụng các ngôn ngữ bình dân hay các làn điệu dân ca của dân tộc để làm cho việc diễn tả, trình bày, truyền đạt trở thành dễ nghe, dễ nhớ như thơ vè của Trần lục, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Văn Thích,… Văn nghệ đại chúng Công giáo khởi từ những sinh hoạt tôn giáo theo nghi lễ và có tính cách cộng đồng như cung sách, cung kinh qua các hình thức vãn, vè, truyện, tuồng.Ngoài ra, những hình thức như hát ả đào, hát chèo hay dâng hoa cũng được đưa vào trong các buổi lễ hội công giáo, làm cho các buổi cử hành phụng vụ vừa thấm nhuần

ý nghĩa thánh thiêng vừa mang đậm nét văn hoá dân tộc [32,158]

Bên cạnh các nhà thờ kiến trúc kiểu gothic, roman cũng có rất nhiều nhà thờ mang đậm phong cách dân tộc có nhà thờ rất gần với kiến trúc đình chùa nhà thờ nào cũng có kiến trúc phụ như núi đá, hồ ao, cây xanh như vũ trụ thu nhỏ theo triết lý của người phương Đông “thiên địa nhân nhất thể ”

Ngày đăng: 11/05/2021, 23:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w