Tuy nhiên nếu so với mục tiêu “hạn chế ô nhiễm môi trường từ nước thải, sử dụng tiết kiệm nước sạch và tạo nguồn kinh phí cho Quỹ Bảo vệ môi trường thực hiện việc bảo vệ, khắc phục ô nhi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÁO CÁO TỔNG KẾT KẾT QUẢ
Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan
Thời gian thực hiện: 4/2010 – 4/2011
Thành phố Hồ Chí Minh – Tháng 8/2011
Trang 2Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan i
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH iv
CÁC TỪ VIẾT TẮT v
TÓM TẮT ĐỀ TÀI 1
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1) Lý do chọn đề tài 1
2) Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước: 1
3) Mục tiêu của đề tài 3
4) Phương pháp nghiên cứu 4
5) Kết quả nghiên cứu 4
PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận 5
I.1 Áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường 5
I.2 Bối cảnh ban hành và áp dụng chính sách thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải tại Việt Nam 8
I.2.1 Bối cảnh quốc tế 8
I.2.2 Bối cảnh trong nước 13
CHƯƠNG 2: Thực trạng công tác thu phí BVMT đối với nước thải trên địa bàn TPHCM, giai đoạn 2004 – 2009 18
II.1 Cơ sở pháp lý 18
II.2 Kết quả đạt được 19
II.2.1 Phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt: 19
II.2.2 Phí BVMT đối với nước thải công nghiệp: 21
II.3 Đánh giá chung: 27
Chương 3:Hiệu quả áp dụng chính sách thu phí BVMT đối với nước thải trên địa bàn TPHCM giai đoạn 2004 – 2009 29
III.1 Hiệu quả về khía cạnh môi trường 29
Trang 3Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan ii
III.1.1 Diễn biến chất lượng môi trường nước mặt khu vực TPHCM 29
III.1.2 Diễn biến tình hình xử lý nước thải trên địa bàn TPHCM 38
III.2 Hiệu quả kinh tế 41
III.3 Hiệu quả về khía cạnh nâng cao nhận thức của đối tượng nộp phí 45
III.4 Một số vấn đề ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách thu phí BVMT đối với nước thải tại TPHCM 46
III.5 Một số giải pháp đề xuất 47
PHẦN KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 49
1 Kết luận 49
2 Kiến nghị 50
Tài liệu tham khảo 53
Phụ lục 55
1 Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải 55
2 Các biểu mẫu 60
a) Tờ khai nộp phí 60
b) Thẩm định tờ khai 62
c) Thông báo nộp phí 63
3 Kết quả tọa đàm 64
4 Hợp đồng thực hiện đề tài 67
Trang 4Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan iii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Tiêu chuẩn đánh giá mức độ gây hại của dòng thải trong hệ thống phí xả thải
quốc gia của CHLB Đức 10
Bảng 2: Chất lượng các con sông được khảo sát ở Việt Nam 14
Bảng 3: Mức phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt, áp dụng từ ngày 01/01/2008 20
Bảng 4: Biểu giá thu phí nước thải tại TPHCM (đơn giá: đồng/m3) 20
Bảng 5: Phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt thu được, giai đoạn 2004 - 2009 21
Bảng 6: Mức thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp theo Nghị định 67 22
Bảng 6: Phí BVMT đối với nước thải công nghiệp thu được trong giai đoạn 2004 – 2009 23
Bảng 8: Thống kê số phí BVMT đối với nước thải công nghiệp theo từng đơn vị Quận/Huyện/Khu công nghiệp, giai đoạn 2004 - 2009 23
Bảng 9: Thống kê số doanh nghiệp nộp phí và nợ phí, giai đoạn 2004 – 2009 27
Bảng 11: Ký hiệu các trạm quan trắc nước mặt và thủy văn tại TPHCM 30
Bảng 11: Tình hình xử lý chất thải của doanh nghiệp trong KCX – KCN 39
Bảng 12: Thống kê lưu lượng thải của các doanh nghiệp ngoài KCX-KCN, tính đến tháng 12/2009 40
Bảng 13: Cân đối dự toán thu chi phí nước thải năm 2010 (ĐVT: triệu đồng) 43
Trang 5Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan iv
DANH MỤC HÌNH
Gòn (2000 - 2004) 15 Hình 3: Điểm nóng về môi trường tại Việt Nam 16 Hình 4: Quy trình thu phí đang áp dụng tại TPHCM 25 Hình 5: Bản đồ vị trí các trạm quan trắc chất lượng nước và thủy văn khu vực hạ lưu
hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai 31 Hình 6: Bản đồ vị trí các trạm quan trắc chất lượng nước kênh rạch nội thành TPHCM 32 Hình 7: pH trung bình tại các trạm trên hạ lưu sông Sài Gòn năm 2000 – 2009 33 Hình 8: DO trung bình tại các trạm trên hạ lưu sông Sài Gòn năm 2000 – 2009 33
Hình 10: pH trung bình tại các hệ thống kênh rạch nội thành, giai đoạn 2004 – 2009 35 Hình 11: COD trung bình tại các hệ thống kênh rạch nội thành, giai đoạn 2004 – 2009 36
37
Trang 6Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan v
CÁC TỪ VIẾT TẮT
HTXLNT : Hệ thống xử lý nước thải
KCX-KCN : Khu Chế xuất – Khu Công nghiệp
Nghị định 67 : Nghị định 67/2003/NĐ-CP về thu phí bảo vệ môi trường đối
với nước thải
Trang 7Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 1
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Nghị định 67/2003/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường (BVMT) đối với nước thải được ban hành, đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong quản lý môi trường ở ta và đang được các tỉnh/thành triển khai thực hiện Mặc dù đã đạt được một số hiệu quả nhất định nhưng việc một chính sách mới ra đời và lần đầu được áp dụng sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót và khó khăn Qua 5 năm thực hiện công tác thu phí BVMT đối với nước thải (2004 – 2009), Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) là một trong những địa phương thực hiện tốt nhất và luôn đứng đầu về số phí nộp ngân sách Tuy nhiên nếu so với mục tiêu “hạn chế ô nhiễm môi trường từ nước thải, sử dụng tiết kiệm nước sạch và tạo nguồn kinh phí cho Quỹ Bảo vệ môi trường thực hiện việc bảo vệ, khắc phục ô nhiễm môi trường” thì chính sách thu phí BVMT đối với nước thải tại TPHCM vẫn chưa đạt yêu cầu về 3 khía cạnh môi trường, kinh tế và thay đổi nhận thức của đối tượng nộp phí do một số nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan Các biện pháp có thể áp dụng để khắc phục các hạn chế có thể bao gồm: (i) Mở rộng đối tượng thuộc diện thu phí, (ii) Tăng hoặc thay mức phí phù hợp với điều kiện kinh tế cũng như tương ứng với mức kinh phí đầu tư công trình xử lý và cải tạo môi trường, (iii) Điều chỉnh cách tính phí: phí cố định (phí hành chính) và phí biến đổi, (iv) Tăng cường sự phối hợp giữa các đơn vị có liên quan đến công tác thu phí…
Trang 8Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1) Lý do chọn đề tài
Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải là công cụ quản lý quan trọng nhằm giảm ô nhiễm các nguồn nước và tạo nguồn thu phục vụ công tác bảo vệ môi trường Trên thế giới, loại phí này đã được áp dụng ở từ những năm 70 của thế
kỷ XX
Ở Việt Nam, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải được bắt đầu triển khai thực hiện từ năm 2004 sau khi chính sách thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải thông qua Nghị định 67/2003/NĐ-CP có hiệu lực Tuy nhiên, sau 5 năm thực hiện, việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ở nước ta đã bộc lộ nhiều bất cập Tỷ lệ thu phí chưa cao, đặc biệt là trường hợp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp, dẫn đến chưa đạt được mục tiêu giảm
xả thải chất ô nhiễm vào nguồn nước do các chủ nguồn thải vẫn tiếp tục gia tăng việc xả thải gây ô nhiễm môi trường nước (Thắng, 2010)
Do đó, việc đánh giá hiệu quả áp dụng chính sách thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sau 5 năm thực hiện là một việc làm cần thiết Kết quả đánh giá được thể hiện trên 3 khía cạnh: môi trường, kinh tế và thay đổi nhận thức của đối tượng nộp phí
Sau 5 năm áp dụng, Thành phố Hồ Chí Minh luôn là địa phương dẫn đầu trong
số phí thu được và số doanh nghiệp đóng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp Nếu hiệu quả áp dụng chính sách thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng như những yếu tố làm giảm hiệu quả khi thực hiện chính sách được đánh giá một cách đầy đủ và chi tiết thì đây sẽ là những bài học kinh nghiệm đánh giá đối với những địa phương còn lại
2) Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước:
Chính sách thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ra đời là một bước tiến quan trọng và phù hợp với xu hướng chung của thế giới trong công tác quản lý môi trường Tuy nhiên việc một chính sách mới ra đời và lần đầu được áp dụng thì khó tránh khỏi những thiếu sót và khó khăn nhất định
Trang 9Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 2
Hiện nay đã có một số nghiên cứu về chính sách thu phí bảo vệ môi trường, điển hình như:
- “Đánh giá tác động của quy định môi trường đối với ngành chế biến thực
phẩm tại Việt Nam: trường hợp phí bảo vệ môi trường (Nghị định 67) đối với nước thải công nghiệp” của tác giả Lê Hà Thanh (2006), Trường Đại học
Kinh tế Quốc Dân và Diễn đàn phát triển Việt Nam (Assessing the impacts
of environmental regulations on food processing industry in Vietnam: The case of Environmental Protection Fees (Decree 67) on industrial wastewater, Le Ha Thanh, NEU & Vietnam Development Forum (EEPSEA Research Grant)) Đề tài được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của Nghị
định 67 trong việc nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp chế biến thực phẩm đối với các vấn đề môi trường đồng thời đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả của chính sách nói chung và hệ thống phí bảo vệ môi trường nói riêng
- Báo cáo “Phí nước thải với vấn đề bảo vệ môi trường” của tác giả Trịnh Thị
Long, Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam tại Hội thảo Bảo vệ môi trường nuôi trồng và chế biến thủy sản trong thời kỳ hội nhập Báo cáo hướng tới việc điều chỉnh mức phí nước thải sinh hoạt sao cho phù hợp với chi phí đầu
tư và vận hành hệ thống xử lý nước thải
- “Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp của Việt Nam và
Philippines” của tác giả Nguyễn Mậu Dũng (2010) đã phân tích kinh
nghiệm triển khai phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp tại Philippines, cụ thể tại vùng hồ Laguna, từ đó đề xuất áp dụng các bài học kinh nghiệm này cho công tác thu phí tại Việt Nam ở nội dung thiết kế và triển khai hệ thống thu phí nước thải, nhằm mục đích nâng cao hiệu công tác này và góp phần giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường
- “Nghiên cứu về hệ thống thu phí nước thải tại Cộng hòa Liên bang Đức và
những bài học kinh nghiệm về xây dựng chính sách quản lý môi trường” của
tác giả Lê Thị Kim Oanh và Phạm Hiền Lê đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ (2010) đã cho rằng thu phí bảo vệ môi trường đối với các chất ô nhiễm là một công cụ quản lý được các nhà quản lý môi trường Việt Nam quan tâm nhiều trong những năm gần đây Việc xây dựng một chiến lược thích hợp để triển khai có hiệu quả các chương trình này vì vậy rất cần thiết Bài báo này là một nghiên cứu tổng quan về hệ thống thu phí nước thải đã
Trang 10Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 3
được áp dụng rất thành công tại Cộng hòa Liên bang Đức nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm giúp cho việc nâng cao hiệu quả và hiệu lực của các hệ thống thu phí bảo vệ môi trường đã và sẽ được triển khai ở Việt Nam
- “Kinh nghiệm quốc tế về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công
nghiệp và đề xuất định hướng cho Việt Nam” của tác giả Đỗ Nam Thắng
(2010) Dựa trên kinh nghiệm quốc tế về vấn đề thu phí nước thải công nghiệp, tác giả đã đề xuất một số giải pháp áp dụng cho Việt Nam bao gồm:
o Áp dụng 2 loại phí: phí cố định (phí hành chính) và phí biến đổi
o Tập trung vào một số đối tượng có lượng nước thải, lượng chất ô nhiễm lớn, gây ô nhiễm nghiêm trọng Với các đối tượng có lượng xả thải nhỏ, chỉ áp dụng phí cố định - Đơn giản hóa cách tính phí, có thể chỉ dùng thông số TSS và COD để tính phí
o Giữ nguyên cách tính phí cho tất cả các đơn vị ô nhiễm vượt tiêu chuẩn
và dưới tiêu chuẩn như hiện nay
o Thu phí một năm từ một đến hai lần để giảm chi phí hành chính và đi lại của cán bộ thu phí
o Xử phạt nghiêm các cơ sở không đóng phí nhằm tạo kỷ cương chấp hành pháp luật cũng như tạo công bằng giữa các cơ sở đóng phí và không đóng phí
o Tăng cường áp dụng hệ thống quản lý môi trường doanh nghiệp, theo đó doanh nghiệp phải định kỳ công bố các hoạt động xả thải của đơn vị mình nhằm tăng tính minh bạch và tính chính xác của số liệu khai báo
o Thường xuyên đánh giá, điều chỉnh cách thức thu phí
Trên đây là những kết quả nghiên cứu quan trọng, là nguồn tài liệu phù hợp với mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài
3) Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu chung của đề tài là đánh giá hiệu quả của việc áp dụng chính sách thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn
2004 – 2009, cụ thể xét trên 3 khía cạnh:
- Hiệu quả về môi trường;
Trang 11Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 4
- Hiệu quả về kinh tế; và
- Hiệu quả về thay đổi nhận thức của đối tượng nộp phí
Ngoài ra, đề tài còn phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của việc áp dụng chính sách thu phí nước thải tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả
4) Phương pháp nghiên cứu
Ngoài phương pháp tổng hợp, thống kê và phân tích dữ liệu sẵn có, đề tài sẽ sử dụng phương pháp chuyên gia dưới hình thức tọa đàm
5) Kết quả nghiên cứu
Kết quả của đề tài là báo cáo tổng hợp trong đó đề cập cụ thể đến:
- Hiệu quả về mặt môi trường của chính sách thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, được chứng minh bằng diễn biến chất lượng môi trường nước mặt và lượng nước thải được xử lý giai đoạn 2004 – 2009 tại Thành phố Hồ Chí Minh;
- Hiệu quả về mặt kinh tế của chính sách thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, được chứng minh bằng các khoản thu-chi của ngân sách thành phố cho công tác cải thiện và bảo vệ môi trường;
- Hiệu quả về khía cạnh thay đổi nhận thức của đối tượng nộp phí
Bên cạnh đó, báo cáo cũng đề cập đến những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách cũng như các giải pháp trước mắt và lâu dài nhằm làm giảm các hạn chế và bất cập trong quá trình thực hiện chính sách trong giai đoạn tiếp theo
Trang 12Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 5
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận I.1 Áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các
kỹ năng điều phối thông tin đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người, xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên QLMT được thực hiện bằng tổng hợp các công cụ, các biện pháp luật pháp, chính sách, kinh tế, công nghệ, xã hội, văn hóa, giáo dục… Các biện pháp này có thể đan xen, phối hợp, tích hợp với nhau tùy theo điều kiện cụ thể của vấn đế đặt ra (Hải, 2006)
Một cách tổng quát, có thể phân loại công cụ QLMT thành các nhóm như sau:
- Theo chức năng của công cụ: công cụ điều chỉnh vĩ mô, công cụ hành động
và công cụ phụ trợ;
- Theo bản chất của công cụ: công cụ luật pháp – hành chính, công cụ kinh tế,
công cụ kỹ thuật quản lý và công cụ phụ trợ;
- Theo Tổ chức phát triển và hợp tác kinh tế (OECD): công cụ chỉ huy và
kiểm soát (Command and Control), công cụ dựa vào thị trường (Market Based Instrument) gồm công cụ kinh tế và công cụ tài chính và công cụ khuyến khích giáo dục (Incentive Instrument)
Tại Việt Nam hiện nay, công tác QLMT được thực hiện hầu hết bằng các công
cụ luật pháp – hành chính, mang tính chỉ huy và kiểm soát, vì những ưu điểm: (i) đáp ứng được mục tiêu của pháp luật và chính sách bảo vệ môi trường của quốc gia, (ii) đưa công tác QLMT vào nề nếp và quy cũ, (iii) giải quyết các tranh chấp về môi trường và tài nguyên một cách dễ dàng và (iv) làm cho các đối tượng trong xã hội thấy rõ mục tiêu, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với
sự nghiệp bảo vệ môi trường quốc gia
Tuy nhiên, vẫn tồn tại vài nhược điểm làm cho việc bảo vệ và quản lý môi trường bằng công cụ luật pháp – hành chính chưa đạt được hiệu quả như mong đợi, ví dụ:
Trang 13Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 6
- Công cụ luật pháp – hành chính bản thân thiếu tính mềm dẻo, đôi khi trong một số trường hợp công cụ này chưa thể hiện tính khách quan;
- Công cụ luật pháp – hành chính không phù hợp cho các vấn đề môi trường xuyên quốc gia hoặc khu vực;
- Yêu cầu một lượng lớn nhân viên quản lý nhà nước về môi trường trong điều hành và thực hiện công tác quản lý và bảo vệ môi trường bằng công cụ luật pháp – hành chính;
- Đối với các ngành công nghiệp mới và đa dạng thì không đủ thông tin và tri thức để định ra các tiêu chuẩn môi trường – một dạng của công cụ luật pháp – hành chính phù hợp;
- Đối với chủ thể gây ra ô nhiễm, ví dụ các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, công cụ luật pháp – hành chính không thể phát huy tính chủ động trong bảo vệ môi trường của bản thân các doanh nghiệp;
- Công cụ luật pháp – hành chính không tạo ra khuyến khích vật chất (lợi ích thấy được) đối với các phương án giải quyết ô nhiễm, đồng thời thiếu khuyến khích đổi mới công nghệ một khi doanh nghiệp đã đạt được các tiêu chuẩn môi trường
Với những lý do trên, công cụ kinh tế trong QLMT được đề xuất áp dụng vì tính linh hoạt, khuyến khích sử dụng các phân tích chi phí-hiệu quả để đạt được các mức ô nhiễm có thể chấp nhận được, đồng thời quy định trách nhiệm của đối tượng gây ô nhiễm đối với hành vi gây tổn hại cho môi trường
Theo Thắng (2010), tại Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển năm
1992 ở Rio De Janeiro (Brazil), 178 nước đã thông qua các nguyên tắc Rio
Nguyên tắc Rio 16 chỉ rõ: "Các Chính phủ cần đẩy mạnh áp dụng các chính
sách nhằm nội hóa các yếu tố ngoại ứng môi trường và thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chi trả" Nguyên tắc này nhằm giải quyết một trong
những nguyên nhân sâu xa của ô nhiễm môi trường là các yếu tố ngoại ứng môi trường (Externalities) Ngoại ứng xuất hiện khi một quyết định sản xuất hoặc tiêu dùng của một cá nhân hay một tổ chức làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc sản xuất hay tiêu dùng của những người khác mà không thông qua giá cả thị trường
Vì có ngoại ứng nên tổng chi phí của việc sản xuất một sản phẩm cần bao gồm 2 chi phí: chi phí sản xuất trực tiếp ra sản phẩm và chi phí thiệt hại môi trường do
ô nhiễm gây ra Do vậy, để điều chỉnh hành vi gây ô nhiễm, cần có công cụ thuế
Trang 14Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 7
và phí để hạn chế các yếu tố ngoại ứng này Nhà kinh tế học người Anh Pigou (1877 - 1959) là người đề xuất loại thuế/phí này và vì vậy các loại thuế/phí môi trường còn được gọi là thuế/phí Pigou
Theo lý thuyết về thuế/phí Pigou, để đạt được mức độ tối ưu trong việc hạn chế
ô nhiễm bằng việc áp dụng thuế/phí, cần tuân thủ 2 nguyên tắc sau: Tất cả các
đơn vị của chất gây ô nhiễm (các đơn vị trên và dưới tiêu chuẩn) chịu chung một mức phí; Tất cả đối tượng xả thải trả chung một mức phí đối với một đơn vị xả thải
Theo đó tại Việt Nam, giải pháp đẩy mạnh áp dụng công cụ kinh tế trong QLMT
đã được Chính phủ đề cập trong Chiến lược BVMT Quốc gia đến năm 2010 và
định hướng đến năm 2020 vì “các công cụ kinh tế tiếp cận mục tiêu môi trường
linh hoạt, hiệu quả và kinh tế cho phép các doanh nghiệp lựa chọn phương án tối ưu đáp ứng các yêu cầu về môi trường” Ngoài ra, Nghị quyết 41/NQ-TW
của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã ghi “áp dụng
các biện pháp kinh tế trong BVMT là giải pháp phù hợp bối cảnh kinh tế thị trường, đảm bảo người gây ra thiệt hại và được hưởng lợi từ môi trường phải trả tiền” (Hải, 2006)
Trong quá trình nghiên cứu áp dụng, một số ưu điểm của công cụ kinh tế trong QLMT đã được thừa nhận bao gồm:
- Khuyến khích sử dụng các biện pháp chi phí – hiệu quả để đạt được các mức
- Cung cấp tính linh động trong các công nghệ kiểm soát ô nhiễm;
- Loại bỏ được yêu cầu của chính phủ về một lượng lớn thông tin chi tiết cần thiết để xác định mức độ kiểm soát khả thi và thích hợp đối với mỗi nhà máy
Trang 15Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 8
- Nếu mức thu phí không thỏa đáng sẽ không dẫn đến tình trạng cải thiện chất lượng môi trường;
- Về tác động tới chất lượng môi trường, các kích thích kinh tế không tạo ra được những kết quả đáng kể;
- Không thể dự đoán được chất lượng môi trường như trong phương pháp pháp lý truyền thống, vì những người gây ô nhiễm có thể lựa chọn giải pháp riêng của mình (trong trường hợp mức phí thấp hơn chi phí xử lý biên);
- Đòi hỏi có những thể chế phức tạp để thực hiện và buộc thi hành đối với một
số công cụ kinh tế, ví dụ: mua bán quyền xả thải;
- Không phải lúc nào công cụ kinh tế cũng phát huy hiệu quả, đặc biệt là trong điều kiện quyền sở hữu tài nguyên môi trường không được xác định và nền kinh tế không phải là nền kinh tế thị trường cạnh tranh hoàn hảo;
- Không phải tất cả các loại ô nhiễm đều thích hợp với phương pháp dựa vào kích thích kinh tế, (ví dụ: các chất ô nhiễm có độc tính cao)
Do đó, việc triển khai thực hiện các công cụ kinh tế trong QLMT trên thực tế còn gặp không ít khó khăn, dẫn đến hiệu quả áp dụng không như mong đợi Và công cụ thu phí BVMT – một trong những công cụ kinh tế được áp dụng trong QLMT đầu tiên tại Việt Nam – cũng không tránh khỏi tình trạng chung
I.2 Bối cảnh ban hành và áp dụng chính sách thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải tại Việt Nam
I.2.1 Bối cảnh quốc tế
Phí BVMT đối với nước thải hay phí nước thải nói chung, nước thải công nghiệp nói riêng là một trong những công cụ kinh tế chủ yếu được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường Giống như các loại thuế hay phí môi trường khác, phí nước thải dựa trên nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (Polutter Pays Principle), qua đó tạo động lực để các doanh nghiệp giảm ô nhiễm, đồng thời tạo nguồn thu để chi trả cho các hoạt động BVMT
Phí nước thải đã được áp dụng từ khá lâu ở nhiều nước phát triển (từ năm 1961
ở Phần Lan, năm 1970 ở Thụy Điển, năm 1980 ở Đức) và đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận trong việc quản lý ô nhiễm do nước thải gây ra Phí nước thải cũng được áp dụng ở các nước đang phát triển trong thời gian gần đây: năm
Trang 16Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 9
1978 ở Trung Quốc và Malaysia, năm 1996 ở Phillipines Ở các nước ASEAN, hiện chỉ có Malaysia và Philippines áp dụng phí nước thải ở quy mô cả nước Thái Lan bắt đầu áp dụng ở quy mô thành phố từ 2000 và đang trong quá trình nghiên cứu nhằm áp dụng ở quy mô cả nước Trong đó Trung Quốc và Philippines là 2 quốc gia có nhiều điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên, kinh
tế, xã hội với Việt Nam
a Cộng hòa Liên bang Đức
Theo nghiên cứu của tác giả Oanh & Lê (2010), Cộng hòa Liên bang Đức là quốc gia mạnh nhất trong khu vực Châu Âu về kiểm soát ô nhiễm nước (Andersen, 1994) Nét nổi bật nhất trong chính sách quản lý nước mặt của Đức
là sự kết hợp tinh tế giữa các tiêu chuẩn hướng dẫn và công cụ kinh tế trong thiết
kế chính sách Chính sách kiểm soát môi trường nước của Đức khá độc đáo khi dựa trên nguyên tắc giới hạn ô nhiễm và nhấn mạnh các hướng dẫn thống nhất theo các ngành Hệ thống chính sách này về cơ bản là theo kiểu mệnh lệnh – kiểm soát, trong đó phí nước thải được áp dụng như một công cụ hỗ trợ
Cơ sở pháp lý cho hệ thống phí nước thải là Luật về Phí phát thải của Liên bang (ECL) thông qua vào tháng 9/1976 Luật này cho phép các bang thu phí những
cơ sở có nước thải xả trực tiếp vào môi trường nước (doanh nghiệp và hộ gia đình thải nước vào hệ thống thải của đô thị gọi là người thải gián tiếp và chịu sự chi phối của các địa phương là đối tượng nộp phí nước thải) Sau một thời gian thông báo trước khá dài (gần 5 năm), hệ thống thu phí nước thải bắt đầu được thực thi ở hầu hết các bang chính từ năm 1981, ở các bang còn lại trong hai năm tiếp theo
Hệ thống phí nước thải của Đức được áp dụng kết hợp với các quy định và thủ tục cấp giấy phép Các doanh nghiệp thuộc nhóm đối tượng nộp phí trước hết phải có giấy phép xả thải do chính quyền bang cấp Trong giấy phép này, tất cả các thông tin cần thiết để tính toán phí nước thải đều được ghi rõ Các chất ô nhiễm phải trả phí là COD, SS và một số kim loại nặng như cadimi, thủy ngân
và các chất độc hại cho cá Giấy phép cũng quy định rõ lượng nước thải tối đa cho phép hàng năm, gọi là giới hạn xả thải cho phép
Các bang có trách nhiệm thu phí, còn quy tắc tính phí, mức phí, và các thông số đơn vị gây hại do chính quyền Liên bang quyết định Do vậy, mức phí là thống nhất chung trên toàn quốc dựa theo một đơn vị tính khác riêng biệt của nước này
Trang 17Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 10
gọi là “đơn vị gây hại” được xác định dựa theo lượng và loại chất ô nhiễm (xem bảng 1)
Việc tính phí vì vậy theo cách thức “có chứng lý”, dựa trên lượng thải được cho phép trong giấy phép chứ không phải theo lượng thải thực tế Nếu vượt qua giới hạn cho phép, mức phí sẽ được tăng lên tương ứng Trong trường hợp ngược lại, nếu như người gây ô nhiễm thông báo trước rằng mức thải sẽ thấp hơn mức ghi trong giấy phép ít nhất là 20% trong thời gian tối thiểu là 3 tháng, mức phí
sẽ được xem xét và tính toán lại theo lượng thải giảm bớt như dự kiến
Từ khi áp dụng, mức phí được điều chỉnh tăng dần từ 12 DM (Deutsch Mark – Mác Đức) cho một đơn vị ô nhiễm lên 70 DM năm 1997 và giữ ở mức này cho đến nay Sự tương tác giữa giữa phí xả thải và quy định được thể hiện trong quy định về mức phí xem xét giảm của Luật Phí xả thải Phí phải nộp có thể được xem xét giảm theo một số cách Đối với những cơ sở gây ô nhiễm tuân thủ theo tiêu chuẩn thải tối thiểu của liên bang, cụ thể là sử dụng tiêu chuẩn công nghệ tốt nhất hiện có (Best Availabel Technology – BAT) đối với chất ô nhiễm gây nguy hại và tiêu chuẩn công nghệ được thừa nhận chung đối với các chất phi kim loại, một mức phí miễn giảm khoảng } so với mức phí thông thường sẽ được áp dụng Trong trường hợp các bang có ban hành các tiêu chuẩn nghiêm ngặt hơn so với tiêu chuẩn Liên bang, thì cơ sở gây ô nhiễm phải đạt tiêu chuẩn của bang thì mới được hưởng mức phí ưu đãi này
Bảng 1: Tiêu chuẩn đánh giá mức độ gây hại của dòng thải trong hệ thống phí xả
thải quốc gia của CHLB Đức
(Nguồn: Brown and Johnson, 1984)
Trang 18Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 11
Trong trường hợp người gây ô nhiễm đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải
để cải thiện về mức độ ô nhiễm trong dòng thải, tiền nộp phí sẽ được cân đối lại với chi phí đầu tư, với điều kiện là cơ sở mới đầu tư phải giảm được lượng ô nhiễm ít nhất 20% Nếu hệ thống xử lý chưa được hoàn thành và đưa vào vận hành theo đúng kế hoạch, cơ sở sẽ phải hoàn trả lại lượng phí được giảm Đối với chính quyền địa phương khi mở rộng cơ sở xử lý nước thải đô thị được hưởng chế độ miễn trả phí trong 3 năm, với điều kiện là nhà máy mới sẽ đảm bảo xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn quy định, nếu không toàn bộ tiền phí sẽ phải đóng trả lại Mặc dù các khoản trợ cấp như vậy hỗ trợ cho việc thúc đẩy cơ sở gây ô nhiễm đầu tư xây dựng nhưng mặt khác làm ảnh hưởng tới chức năng giảm thiểu ô nhiễm của phí nước thải, theo phân tích của một số nhà nghiên cứu (Oka, 2002)
Nguồn thu từ phí nước thải sẽ do chính quyền các bang sử dụng, trong đó dành 15% chi phí cho quản lý các chương trình liên quan đến chất lượng nước và hỗ trợ cho các nhà máy xử lý nước thải của địa phương Nguồn thu từ phí nước thải cũng được xem như một nguồn “không thể hiện” để trợ cấp cho các đầu tư vào
hệ thống xử lý nước thải của các cơ sở công nghiệp thông qua sự bù đắp đánh đổi giữa mức tiền phí phải nộp và chi phí đầu tư xử lý ô nhiễm (Brown and Johnson, 1984 và Oka, 2002) Cách thức tính toán bù đắp cũng có sự khác biệt giữa các bang
b Trung Quốc
Phí nước thải được quy định trong Điều 18 Luật Bảo vệ môi trường 1979 Trong những năm 1979 - 1981, phí ô nhiễm được áp dụng trên cơ sở thử nghiệm ở 27 tỉnh/TP, dưới sự giám sát trực tiếp của Chính phủ Từ năm 1982 việc thực hiện được áp dụng trên toàn quốc Có thể chia cách tính phí thành hai giai đoạn
Giai đoạn trước 2003
Trước hết, tất cả các thông số ô nhiễm trong nước thải đều được đo kiểm Sau
đó, các thông số ô nhiễm được xếp theo thứ tự từ mức ô nhiễm cao nhất đến thấp nhất Việc tính phí dựa trên thông số có mức ô nhiễm cao nhất Với thông
số có mức ô nhiễm cao nhất này, phí được tính dựa trên phần nồng độ vượt quá
tiêu chuẩn Ví dụ như nếu như tiêu chuẩn cho phép (TCCP) là 50 mg/l và nồng
độ của chất ô nhiễm là 70mg/l thì chỉ tính phí đối với phần 20 mg/l vượt tiêu chuẩn
Trang 19Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 12
Giai đoạn sau 2003
Việc tính phí nói trên đã bộc lộ một số bất cập Thứ nhất, việc chỉ dựa vào nồng
độ đã khiến các doanh nghiệp đối phó bằng cách pha loãng nước thải Thứ hai,
việc chỉ tính phí dựa trên phần nồng độ vượt quá tiêu chuẩn cũng khiến doanh nghiệp chỉ đối phó sao cho nồng độ chất ô nhiễm đạt tiêu chuẩn chứ không khuyến khích doanh nghiệp đầu tư xử lý để hạn chế ô nhiễm trong điều kiện tối
đa có thể được Hơn nữa, việc chỉ tính phí đối với thông số ô nhiễm có mức vượt tiêu chuẩn cao nhất không tạo động lực để doanh nghiệp hạn chế ô nhiễm với các thông số khác
Để khắc phục những bất cập này, năm 2003, hệ thống tính phí nước thải của
Trung Quốc đã có một số thay đổi: Việc tính phí được dựa trên tải lượng chứ
không chỉ dựa trên nồng độ; Phí được tính với tất cả các đơn vị ô nhiễm (cả đơn
vị trên và dưới TCCP); Phí được tính với hơn 100 thông số ô nhiễm trong nước thải Các tiêu chuẩn do Bộ Môi trường quy định thay đổi tùy thuộc vào từng
ngành công nghiệp và mức phí thay đổi tùy theo loại chất gây ô nhiễm Ngoài
ra, các địa phương có thể đưa ra các tiêu chuẩn chặt chẽ hơn tiêu chuẩn quốc gia
và có thể đưa ra mức phí cao hơn mức phí do Bộ Môi trường quy định
c Philippines
Giai đoạn thí điểm
Philippines bắt đầu thí điểm áp dụng phí nước thải cho hồ Laguna từ năm 1997 Đây là hồ chứa nước ngọt lớn nhất tại Philippines Lưu vực hồ bao gồm 5 tỉnh
và một phần của Thủ đô Manila Hồ cung cấp nước ngọt cho khoảng 13 triệu dân sinh sống trong khu vực và cũng là nơi tiếp nhận nước thải của khoảng 10.000 doanh nghiệp Để giải quyết tình trạng ô nhiễm nước hồ ngày càng gia tăng, tháng 01/1997, Ban quản lý Hồ Laguna đã ban hành quyết định áp dụng phí nước thải
Đầu tiên, phí nước thải được áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp trọng điểm có mức thải trung bình hàng năm từ 4 tấn BOD trở lên
Từ năm 1998, hệ thống phí được mở rộng, bao gồm tất cả các doanh nghiệp thuộc địa phận hành chính của vùng hồ Laguna và có thải nước thải vào hồ Các doanh nghiệp này bao gồm các doanh nghiệp sản xuất, thương mại, các doanh nghiệp công nông nghiệp, các cụm dân cư và các hộ gia đình
Trang 20Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 13
Phí gồm 2 phần: Phí cố định và phí biến đổi Phí cố định phụ thuộc vào lượng
nước thải và số lượng mẫu cần lấy để quan trắc hiện trạng môi trường của doanh nghiệp Các doanh nghiệp càng thải nhiều nước thải thì số lượng mẫu cần lấy để quan trắc càng nhiều và mức phí cố định phải nộp càng cao
Phí biến đổi dựa trên lượng phát thải của BOD hoặc TSS, tùy từng loại hình sản xuất Đối với các cơ sở chế biến thực phẩm, thuộc da, giết mổ, chăn nuôi, thủy sản, mía đường, sản xuất giấy thì tính theo BOD Đối với các cơ sở sản xuất xi măng, phân hóa học, sản xuất kim loại, khai khoáng thì tính theo TSS Mức phí biến đổi tùy thuộc vào nồng độ chất thải trong nước thải Nếu nồng độ chất ô nhiễm (TSS hoặc BOD) nhỏ hơn 50mg/l thì mức phí là 5 Peso/kg Nếu nồng độ chất ô nhiễm lớn hơn 50mg/l thì mức phí là 30 Peso/kg chất ô nhiễm thải ra
Giai đoạn áp dụng toàn quốc từ 2003
Trên cơ sở thành công của giai đoạn thử nghiệm tại hồ Laguna, Chính phủ Philipin đã cho nhân rộng việc áp dụng thu phí nước thải trong phạm vi cả nước
từ năm 2003 Tuy nhiên, việc thu phí trong giai đoạn này có một số điều chỉnh
nhằm tăng hiệu quả của phí Thứ nhất, phần phí cố định phụ thuộc lượng nước thải và việc có chứa kim loại nặng hay không Thứ hai, phần phí biến đổi áp
dụng đồng loạt 5.000 Peso/tấn với tất cả các đơn vị ô nhiễm chứ không phân biệt đơn vị ô nhiễm vượt tiêu chuẩn và dưới tiêu chuẩn
I.2.2 Bối cảnh trong nước
Việt Nam trong giai đoạn trước năm 2004 – mốc thời gian trước khi chính sách thu phí BVMT, cụ thể là Nghị định 67 bắt đầu có hiệu lực – đã đạt được một số thành tựu trong quá trình phát triển như:
- Tăng trưởng kinh tế: tăng từ 6,79% (năm 2001) lên 7,79% (năm 2004) 1,
- Sản xuất công nghiệp: gia tăng về giá trị sản xuất công nghiệp và số lượng
cơ sở sản xuất công nghiệp, các ngành công nghiệp đang chuyển dần sang công nghiệp chế biến – loại hình sản xuất tạo ra nhiều chất thải hơn; Chỉ tính riêng TPHCM, số cơ sở sản xuất công nghiệp tăng từ 28.698 cơ sở (năm 2001) lên 36.236 cơ sở (năm 2005) 2;
Trang 21Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 14
- Tỷ lệ hộ nghèo: giảm từ 17,5% (năm 2001) xuống còn 8,3% (năm 2004)3 Tuy nhiên, ngược lại với sự tăng trưởng trong phát triển kinh tế – xã hội, chất lượng môi trường, đặc biệt là chất lượng môi trường nước mặt – nơi tiếp nhận hầu hết lượng nước thải của các cơ sở sản xuất, ngày càng suy giảm, các chỉ tiêu chất lượng luôn vượt quá tiêu chuẩn cho phép (Tiêu chuẩn loại A, TCVN 5942-1995)
Bảng 2: Chất lượng các con sông được khảo sát ở Việt Nam
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, 2003)
3 Tổng cục Thống kê
Trang 22Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 15
Hình 2: Diễn biến nồng độ BOD5 trung bình tháng ở 3 trạm quan trắc nước sông
Hình 1: Nồng độ NH4+ (a) và BOD5 (b) tại các con sông được quan trắc
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, 2003)
Trang 23Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 16
Hình 3: Điểm nóng về môi trường tại Việt Nam Nhận thấy tầm quan trọng của việc cần thiết phải cải thiện chất lượng môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng, nhà nước đã đầu tư và phát triển ngành môi trường song song với phát triển kinh tế vì mục tiêu BVMT Cụ thể: đầu tư xây dựng và phát triển mạng lưới quan trắc môi trường (tăng về số lượng trạm và tần suất quan trắc), thực hiện báo cáo hiện trạng môi trường định kỳ hàng năm dựa trên số liệu quan trắc thu được, ban hành nhiều văn bản pháp quy liên quan đến công tác bảo vệ môi trường… Trong đó văn bản mang tính bước ngoặc trong nỗ lực áp dụng công cụ kinh tế vào thực tế QLMT là Nghị định số 67/2003/NĐ-CP về phí BVMT đối với nước thải
Dựa trên kinh nghiệm áp dụng phí nước thải của các quốc gia trên Thế giới, cụ
thể đến năm 2003 – 2004, nhằm mục đích “hạn chế ô nhiễm môi trường từ nước
thải, sử dụng tiết kiệm nước sạch và tạo nguồn kinh phí cho Quỹ Bảo vệ môi trường thực hiện việc bảo vệ, khắc phục ô nhiễm môi trường”, Thủ tướng Chính
(Nguồn: Thanh, 2010)
Trang 24Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 17
phủ đã ký quyết định ban hành Nghị định 67/2003/NĐ-CP và có hiệu lực từ ngày 01/01/2004, trong đó bao gồm các quy định về phí BVMT đối với nước thải; chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí BVMT đối với nước thải 4
Đối tượng chịu phí của nghị định này bao gồm nước thải sinh hoạt từ các hộ gia đình và các tổ chức khác không hoạt động sản xuất; nước thải công nghiệp từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, cơ sở chế biến nông sản, lâm sản và thủy sản.5Tuy nhiên, tính đến nay hiệu quả của các chính sách môi trường nói chung và chính sách thu phí BVMT đối với nước thải nói riêng cần phải được nghiên cứu đánh giá hiệu quả thu được so với mục tiêu của chính sách, đồng thời tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu để từ đó có thể có những biện pháp khắc phục phù hợp Sẽ càng có ý nghĩa hơn khi xem xét hiệu quả áp dụng chính sách tại một trong những địa phương dẫn đầu trong việc thực hiện chính sách như Thành phố
Hồ Chí Minh
4 Điều 1, Chương 1: Những quy định chung (Nghị định 67/2003/NĐ-CP)
5 Điều 2, Chương 1: Những quy định chung (Nghị định 67/2003/NĐ-CP)
Trang 25Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 18
CHƯƠNG 2: Thực trạng công tác thu phí BVMT đối với nước thải trên địa bàn TPHCM, giai đoạn 2004 – 2009
- Nghị định số 26/2010/NĐ-CP ban hành ngày 22/3/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 8 Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
- Nghị định số 88/2007/NĐ-CP, ban hành ngày 28/05/2007 của Thủ tướng Chính phủ về thoát nước đô thị và khu công nghiệp
- Thông tư liên tịch số 106/2007/TTLT/BTC-BTNMT ngày 06/9/2007 về sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 125/TTLT – BTC - BTNMT, ngày 18/12/2003 của Bộ Tài chính – Bộ tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 67/2003/NĐ – CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
- Quyết định số 190/2004/QĐ – UB ngày 30/7/2004 của Ủy ban nhân dân thành phố về thực hiện thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
- Quyết định 139/2007/QĐ-UBND ngày 20/12/2007 về điều chỉnh Quyết định
số 190/2004/QĐ – UB ngày 30/7/2004 của Ủy ban nhân dân thành phố về thực hiện thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
- Công văn Liên sở số 5090/CVLS/TC – TNMT ngày 20/8/2004 của Sở Tài chính – Sở Tài nguyên và Môi trường về việc thực hiện Quyết định số
Trang 26Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 19
190/2004/QĐ – UB ngày 20/7/2004 của Ủy ban Nhân dân thành phố về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
- Công văn số 2482/UBND – ĐT ngày 03/5/2007 của UBND thành phố về thực hiện thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp trong các KCX-KCN và Khu Công nghệ cao
- Cam kết với Ngân hàng Thế giới trong Dự án Vệ sinh Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh (Lưu vực Nhiêu Lộc - Thị Nghè) vào năm 2002
II.2 Kết quả đạt được
Phí BVMT đối với nước thải theo Nghị định 67 được chia làm 02 loại: Phí BVMT đối với nước thải công nghiệp và phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt
II.2.1 Phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt:
- Theo công văn Liên sở số 5090/CVLS/TC – TNMT ngày 20/8/2004, nước thải sinh hoạt là nước thải ra môi trường từ các hộ gia đình; cơ quan nhà nước; đơn vị vũ trang nhân dân; các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; các
tổ chức cá nhân khác không thuộc đối tượng chịu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp
- UBND phường-xã chịu trách nhiệm thu phí đối với các đối tượng tự khai thác nước để sử dụng thuộc diện phải nộp phí
- Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn, các doanh nghiệp khai thác cung cấp nước sạch thu trên hóa đơn tiền sử dụng nước hàng tháng của các hộ thuộc đối
tượng nộp phí đối với nước thải sinh hoạt với mức là 250đ/m 3 trong định
mức tiêu thụ nước sạch (4m 3 /người/tháng) và 400đ/m 3 cho lượng nước
vượt định mức tiêu thụ nước sạch và đối với các cơ sở sản xuất là 400đ/m 3
- Công thức tính phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt theo công văn Liên sở
số 5090/CVLS/TC – TNMT như sau:
Trong đó:
Số lượng nước sạch sử dụng của các đối tượng nộp phí BVMT được xác định như sau:
Trang 27Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 20
- Đối với các đối tượng sử dụng nước có gắn đồng hồ đo nước: lượng nước sạch sử dụng, được xác định theo số đo đồng hồ theo qui định Trường hợp chưa lắp đồng hồ
đo lượng nước sạch tiêu thụ thì áp dụng mức khoán thống nhất trên địa bàn thành phố
là 4 m³/người/tháng
- Đối với các đối tượng là hộ gia đình tự khai thác nước ngầm (trừ ở những nơi chưa
có hệ thống cấp nước sạch) để sử dụng cho sinh hoạt (không sản xuất, kinh doanh, dịch vụ): được căn cứ định mức khoán thống nhất trên địa bàn thành phố là 4 m³/người/tháng
- Đối với các đối tượng là cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tự khai thác nước ngầm
để sử dụng thì số lượng nước sử dụng được căn cứ qui mô hoạt động sản xuất, kinh doanh, định mức tiêu hao nước trên đơn vị sản phẩm và do đơn vị tự kê khai, Ủy ban nhân dân phường, xã xem xét xác định.
Bảng 3: Mức phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt, áp dụng từ ngày
(Theo Quyết định 139/2007/QĐ-UBND ngày 20/12/2007 của UBND TP)
Bảng 4: Biểu giá thu phí nước thải tại TPHCM (đơn giá: đồng/m3)
Năm
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Đối tượng
Trang 28Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 21
Bảng 5: Phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt thu được, giai đoạn 2004 - 2009
(Nguồn: SAWACO, 2010 và Trung tâm nước sinh hoạt và VSMT NT, 2010)
II.2.2 Phí BVMT đối với nước thải công nghiệp:
- Theo công văn Liên sở số 5090/CVLS/TC – TNMT ngày 20/8/2004, nước thải công nghiệp là nước thải ra môi trường từ: cơ sở sản xuất công nghiệp;
cơ sở chế biến thực phẩm, nông sản, lâm sản, thủy sản; cơ sở hoạt động giết
mổ gia súc; cơ sở sản xuất rượu, bia, nước giải khát; cơ sở thuộc da, tái chế da; cơ sở sản xuất thủ công nghiệp trong các làng nghề; cơ sở chăn nuôi công nghiệp tập trung; cơ sở cơ khí, sửa chữa ôtô, xe máy tập trung; cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản; cơ sở nuôi tôm công nghiệp; cơ sở sản xuất
và ươm tôm giống; nhà máy cấp nước sạch; hệ thống xử lý nước thải tập trung
- Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố giao cho Chi cục Bảo vệ môi trường chịu trách nhiệm thực hiện Các đơn vị phối hợp cùng Chi cục BVMT gồm: UBND các quận-huyện (giao cho Phòng Tài nguyên và Môi trường), Ban Quản lý Khu Chế xuất-Khu Công nghiệp (HEPZA) và Ban Quản lý Khu Công nghệ cao
- Mức phí được tính theo khối lượng từng chất gây ô nhiễm có trong nước thải nhân với suất phí quy định cho từng loại chất ô nhiễm (BOD, COD, TSS,
Hg, Pb, As, Cd) tương ứng với môi trường tiếp nhận Từ năm 2007 đến nay không thu phí đối với BOD
- Công thức tính phí BVMT đối với nước thải công nghiệp theo công văn Liên
sở số 5090/CVLS/TC – TNMT như sau:
Trang 29Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 22
+ Theo tải lượng từng chất ô nhiễm ứng với từng loại ngành nghề khác nhau.
Bảng 6: Mức thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp theo Nghị định 67
STT
Chất gây ô nhiễm có trong
nước thải
Mức thu (đồng/kg chất gây ô nhiễm )
hiệu
Môi trường tiếp nhận A
Môi trường tiếp nhận B
Trang 30Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 23
Trong đó:
- Môi trường tiếp nhận A bao gồm 19 quận nội thành: quận 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10,
11, 12, Bình Tân, Bình Thạnh, Gò Vấp, Phú Nhuận, Tân Bình, Tân Phú, Thủ Đức
- Môi trường tiếp nhận B bao gồm 5 huyện ngoại thành: huyện Bình Chánh, Cần Giờ,
(Nguồn: Chi cục Bảo vệ môi trường TPHCM, 2010)
Bảng 8: Thống kê số phí BVMT đối với nước thải công nghiệp theo từng đơn vị
Quận/Huyện/Khu công nghiệp, giai đoạn 2004 - 2009
Trang 31Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 24
Trang 32Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 25
- Quy trình thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp tại TPHCM
và gửi thông báo kèm mẫu kê khai nộp phí (xem phụ lục 2a) đến các đối tượng nộp phí (chưa thực hiện việc kê khai)
Bước 2: Các đối tượng nộp phí thực hiện kê khai đầy đủ thông tin trên Tờ khai nộp phí và gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường – Chi cục BVMT (hoặc Phòng Tài nguyên và Môi trường quận - huyện, Ban Quản lý các KCX – KCN, Ban Quản lý Khu công nghệ cao để chuyển đến Chi cục BVMT)
Trang 33Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 26
Bước 3: Sở Tài nguyên và Môi trường – Chi cục BVMT ra thông báo tạm nộp theo kê khai của các đối tượng nộp phí
Bước 4: Sở Tài nguyên và Môi trường – Chi cục BVMT thẩm định tờ khai (xem phụ lục 2b) của các đối tượng nộp phí, sau đó ra thông báo mức kê khai nộp phí thực tế cho các đối tượng để các đối tượng thực hiện việc kê khai lại
Bước 5: Sở Tài nguyên và Môi trường – Chi cục BVMT ra thông báo nộp phí (xem phụ lục 2c) theo mức phát thải thực tế của các đối tượng nộp phí
Bước 6: Sở Tài nguyên và Môi trường – Chi cục BVMT ra biên lai thu phí sau khi các đối tượng đã nộp phí tại Kho bạc Nhà nước
Bước 7: Các đối tượng nộp phí nhận biên lai nộp phí tại Chi cục BVMT hoặc Phòng Tài nguyên và Môi trường quận - huyện, Ban Quản lý các KCX – KCN, Ban Quản lý Khu công nghệ cao
- Cơ sở thời gian để tính phí BVMT đối với nước thải công nghiệp cho từng đối tượng như sau:
+ Đối với các doanh nghiệp ngoài KCX – KCN: Từ 2004 (Theo thời gian hoạt động thực tế)
+ Đối với các doanh nghiệp trong KCX – KCN:
o Trường hợp đã đấu nối vào HT XLNTTT: Từ 2004 đến khi công ty hạ tầng thực hiện kê khai nộp phí cho Chi cục BVMT
o Trường hợp chưa đấu nối: Từ 2004 đến khi thực hiện đấu nối và công
ty hạ tầng kê khai nộp phí đối với nước thải phát sinh từ hệ thống xử
lý nước thải tập trung
+ Đối với các công ty hạ tầng KCX – KCN: Từ 2007 kê khai nộp phí BVMT đối với nước thải phát sinh từ hệ thống xử lý nước thải tập trung
- Số doanh nghiệp thuộc đối tượng nộp phí trên địa bàn TPHCM là 2.891 doanh nghiệp, trong đó 1.783 doanh nghiệp ngoài khu chế xuất – khu công nghiệp (KCX-KCN) và 1.108 doanh nghiệp trong KCX – KCN Tính đến
Trang 34Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 27
năm 2009, có hơn 200 doanh nghiệp chưa nộp phí lần nào kể từ năm 2004 với số tiền nợ phí là 1.622.751.426 đồng
Bảng 9: Thống kê số doanh nghiệp nộp phí và nợ phí, giai đoạn 2004 – 2009
(Nguồn: Chi cục Bảo vệ môi trường TPHCM, 2010)
II.3 Đánh giá chung:
Sau 5 năm triển khai thực hiện Nghị định 67 tại TPHCM có thể rút ra các kết luận sau:
- TPHCM luôn đứng đầu cả nước về việc nộp ngân sách từ phí BVMT đối với nước thải Tính đến năm 2009, tổng số phí TPHCM đã nộp là 536 tỷ đồng, trong đó phí BVMT đối với nước thải công nghiệp chiếm gần 36 tỷ đồng;
- Giống như các tỉnh thành khác, do phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt được tính trực tiếp trong hóa đơn tiền nước hàng tháng của các hộ gia đình nên thường không có thất thoát;
- Tính đến hết năm 2009, số lượng doanh nghiệp thuộc đối tượng phải nộp phí được nhận thông báo nộp phí trên toàn thành phố là khoảng 3.000 doanh nghiệp, trong đó bao gồm 1.108 doanh nghiệp trong KCX – KCN và 1.783 doanh nghiệp ngoài KCX – KCN Tuy nhiên, trên thực tế số doanh nghiệp thuộc đối tượng nộp phí còn lớn hơn nhiều so với con số đang được quản lý tại Chi cục BVMT TPHCM;
- Tỷ lệ doanh nghiệp nợ phí chiếm 43,4%, tương đương 1.301 doanh nghiệp với số tiền nợ phí chiếm gần 16% tổng tiền phí được Chi cục BVMT ra thông báo;
- Các công ty hạ tầng KCX – KCN đã xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống
xử lý nước thải tập trung Phần lớn các doanh nghiệp trong KCX – KCN đã
Trang 35Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 28
đấu nối hoàn chỉnh vào hệ thống xử lý nước thải tập trung mặt dù các doanh nghiệp đã có ý thức hơn nhưng hầu như chưa nhận thức đầy đủ vai trò và trách nhiệm trong việc nộp phí BVMT đối với nước thải công nghiệp;
- Mức phí giữa nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt được đánh giá là không phù hợp cũng như không tương ứng với tính chất ô nhiễm của nước thải Như thực tế hiện nay, nước thải công nghiệp mang nhiều chất ô nhiễm hơn, mức độ nguy hại đến môi trường cao hơn so với nước thải sinh hoạt nhưng tiền phí được thu thấp hơn (100 – 200 đồng/m3 nước thải công nghiệp
so với 300 đồng/m3 nước cấp sinh hoạt trong định mức hoặc 800 đồng/m3nước cấp sinh hoạt ngoài định mức)
Trang 36Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 29
Chương 3:Hiệu quả áp dụng chính sách thu phí BVMT đối với nước thải trên địa bàn TPHCM giai đoạn 2004 – 2009
III.1 Hiệu quả về khía cạnh môi trường
III.1.1 Diễn biến chất lượng môi trường nước mặt khu vực TPHCM
a Hệ thống quan trắc môi trường nước tại khu vực TPHCM
Công tác quan trắc hiện trạng chất lượng môi trường nước ở TPHCM do Chi cục Bảo vệ Môi trường TPHCM thực hiện thông qua hệ thống các trạm quan trắc chất lượng nước mặt và thủy văn và các trạm quan trắc chất lượng nước kênh rạch nội thành
Hệ thống quan trắc chất lượng nước mặt và thủy văn khu vực hạ lưu sông Sài Gòn – Đồng Nai bao gồm 10 trạm:
- Rạch Tra (sông Sài Gòn)
- Thầy Cai (Tân Thái)
- An Hạ
- Nhà máy nước Kênh Đông (Kênh N46 thuộc hệ thống kênh Đông)
Trang 37Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Lan 30
Tần suất lấy mẫu tại trạm quan trắc nước mặt và thủy văn: Tiến hành lấy
mẫu thường kỳ vào các ngày 01-08-15-22 hàng tháng và mẫu được lấy vào hai thời điểm trong ngày ứng với lúc triều cao nhất và triều thấp nhất (đỉnh cao nhất, chân thấp nhất) Đo đạc các thông số chất lượng thủy hoá và thủy lý Các thông
số thủy văn (tốc độ cực đại nước lớn và nước ròng, lưu lượng trung bình) đo mỗi tháng 1 đợt vào một trong hai kỳ nước cường nhất trong tháng tại cùng vị trí thu mẫu nước mặt
Bảng 10: Ký hiệu các trạm quan trắc nước mặt và thủy văn tại TPHCM