1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lê quý đôn và giá trị học thuật của lê triều thông sử

108 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lê quý đôn và giá trị học thuật của lê triều thông sử
Tác giả Nguyễn Thị Thiêm
Người hướng dẫn PGS. TS. Trần Thị Mai
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 3,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành tựu nghiên cứu của các học giả hiện đại Việt Nam chủ yếu thể hiện ở ba mảng, đó là, mảng khảo sát, chỉnh lý, dịch thuật văn bản Lê triều thông sử; mảng chuyên nghiên cứu giá trị củ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THIÊM

LÊ QUÝ ĐÔN VÀ GIÁ TRỊ HỌC THUẬT

CỦA LÊ TRIỀU THÔNG SỬ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Mã số: 60.22.54

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THIÊM

LÊ QUÝ ĐÔN VÀ GIÁ TRỊ HỌC THUẬT

CỦA LÊ TRIỀU THÔNG SỬ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Mã số: 60.22.54 Người hướng dẫn khoa học PGS TS TRẦN THỊ MAI

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2012

Trang 3

Đây là luận văn do cá nhân chúng tôi hoàn thành, không sao chép; tư liệu, số liệu, tài liệu là trung thực và có nguồn gốc

Tp Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 4 năm 2012

(ký, ghi rõ họ tên)

Nguyễn Thị Thiêm

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng trân trọng biết ơn tới cô PGS TS Trần Thị Mai – người

đã giúp tôi thực hiện luận văn này với tất cả lòng nhiệt tình và sự chu đáo

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh đã trang bị cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm trong những năm học tại trường

Tôi gửi lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình tôi, bạn bè – những người đã không ngừng động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài này

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 04 năm 2012

Trang 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu

5 Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn

6 Bố cục của Luận văn

LÊ TRIỀU THÔNG SỬ, MỘT SỐ VẤN ĐỀ VĂN BẢN

2.1 Tên sách, thời điểm, nguyên nhân và quá trình biên soạn

2.1.1 Tên sách

2.1.2 Thời điểm và quá trình biên soạn

2.1.3 Nguyên nhân biên soạn

2.2 Thể lệ sách

2.2.1 Tôn chỉ và ý nghĩa trọng yếu của việc soạn sử

2.2.2 Thể thức biên chép và bố cục của Lê triều thông sử

Trang 6

GIÁ TRỊ HỌC THUẬT CỦA LÊ TRIỀU THÔNG SỬ

3.1 Nguồn sử liệu, phương pháp biên chép và giá trị sử dụng

3.1.1 Nguồn sử liệu

3.1.2 Phương pháp sưu tầm và xử lý sử liệu

3.1.3 Phương pháp chép sử

3.1.4 Giá trị sử dụng

3.2 Đóng góp ở phương diện lý luận

3.2.1 Thể lệ chép sử theo lối kỷ truyện ở Trung Quốc

3.2.2 Một số đóng góp ở phương diện lý luận của Lê Quý

Đôn trong Lê triều thông sử

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

A - Tài liệu tiếng Việt

B - Tài liệu tiếng Anh

C - Tài liệu tiếng Hán

Hình ảnh:

Lê Quý Đôn toàn tập (tổng cộng 03 tập), Nxb Khoa học Xã hội, 1978

Hình 1.1: Tượng nhà bác học Lê Quý Đôn

Hình 1.2: Bài minh văn “Thái phó Dĩnh Quận Văn Trung Lê tướng công

bi minh” do Phạm Chi Hương soạn năm Tự Đức thứ 12 (1859)

Hình 1.3: Bài minh văn “Thái Bảo Hà Quận Trung Hiến Lê tướng công

Trang 8

DẪN LUẬN

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Lê triều thông sử còn có tên gọi Đại Việt thông sử, Tiền triều thông sử, Hoàng Việt thông sử của Lê Quý Đôn, là một trong những bộ sử quan trọng nhất

trong suốt tiến trình phát triển của sử học Việt Nam Sách gồm 30 quyển (theo Phan

Huy Chú chép trong thiên Văn tịch chí sách Lịch triều hiến chương loại chí), được

hoàn thành và viết lời tựa vào tháng 10 năm Kỷ tỵ, tức năm thứ 10 niên hiệu Cảnh Hưng (1749), nhưng hiện nay sách đã mất khá nhiều

Lê triều thông sử là bộ sử đầu tiên, cũng là bộ sử duy nhất chép theo thể tài

kỷ truyện trong suốt tiến trình phát triển của sử học Việt Nam Thể thức chép sử

theo lối kỷ truyện ban đầu do sử gia đời Hán là Tư Mã Thiên sáng tạo trong Sử ký, sau đó được Ban Cố hoàn thiện trong Hán thư và trở thành thể lệ bắt buộc của chính

sử Trung Quốc So với các hình thức chép sử khác như thể biên niên, thể kỷ sự bản mạt, thể quốc biệt,… nó thực sự ưu việt trong việc tái hiện bối cảnh rộng lớn với các sự kiện diễn ra cực kỳ phong phú của lịch sử

Đem hình thức chép sử theo lối kỷ truyện ứng dụng vào sử học Việt Nam, Lê Quý Đôn không chỉ muốn tái hiện lịch sử một cách phong phú chân thực hơn, mà còn hướng sử học Việt Nam theo hướng phát triển và hoàn thiện hơn Thông qua lời

tự đề tựa, Tác văn yếu chỉ và Thông sử phàm lệ của Lê Quý Đôn chép ở phần đầu sách Lê triều thông sử, có thể thấy được tâm huyết của nhà sử học lỗi lạc, đồng thời

có thành tựu và cống hiến hàng đầu ở lĩnh vực lý luận sử học cổ trung đại Việt Nam này

Nhìn từ khía cạnh khoa học hiện đại, Lê triều thông sử của Lê Quý Đôn

mang rất nhiều giá trị, đặc biệt là giá trị sử học, được thể hiện rõ nhất ở hai khía cạnh sử liệu và lý luận Nhìn từ khía cạnh sử liệu, đó là sự mẫu mực, thông minh, linh hoạt trong cách sưu tầm, xử lý và biên chép tài liệu; nhìn từ góc độ lý luận, đó

là cách tiếp thu có chọn lọc, hoàn toàn không rập khuôn theo thể lệ của sử học

Trang 9

Trung Quốc

Từ những điều nêu trên, có thể thấy rõ, Lê triều thông sử là một công trình sử

học rất đáng được đi sâu vào nghiên cứu, nhưng thực tế những công trình nghiên cứu liên quan đến đối tượng này thành tựu hiện chưa nhiều, nếu không muốn nói là còn khá nghèo nàn; các công trình có nội dung liên quan đã xuất bản phần nhiều hướng vào khía cạnh giới thiệu và phiên dịch một số tác phẩm thuộc lĩnh vựcvăn sử

triết của Lê Quý Đôn Ở đây, sở dĩ chúng tôi lựa chọn đề tài Lê Quý Đôn và giá trị

học thuật của Lê triều thông sử làm đề tài tốt nghiệp bậc học Thạc sĩ của mình,

chính phát xuất từ tình hình thực tế và yêu cầu bức thiết nêu trên

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Lê Quý Đôn và Lê triều thông sử ngay từ giai đoạn cổ trung đại cho đến thời

kỳ hiện đại đều được khá nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Về thành tựu trong suốt quá trình nghiên cứu hai đối tượng nêu trên, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau đây:

Ở giai đoạn cổ trung đại, học giả sống ở giai đoạn đầu đời Nguyễn là Phan

Huy Chú, trong Lịch triều hiến chương loại chí đã đánh giá Lê triều thông sử rất

cao, thể hiện chủ yếu ở hai khía cạnh: giá trị sử liệu và những đóng góp trên phương diện lý luận sử học Nhưng ở đây cũng cần chú ý rằng, ở thời Phan Huy Chú, khi

ông đưa ra những nhận xét đánh giá của mình, sách Lê triều thông sử vẫn còn

nguyên vẹn

Học giả Vô danh thị trong Công bộ Thượng thư Lê tướng công niên phổ chép trong Nhân vật chí, bản chép tay chữ Hán do Thư viện Viện Viễn Đông Bác Cổ sưu

tầm và lưu giữ, số ký hiệu A.573, đã có những giới thiệu khá căn kẽ về cuộc đời và

sự nghiệp của Lê Quý Đôn

Chắt ngoại của Lê Quý Đôn là Công bộ Hữu tham tri kiêm Sử quán Toản tu

dưới triều Nguyễn là Phạm Chi Hương, trong hai văn bản Thái phó Dĩnh Quận Văn

Trung Lê tướng công bi minh và Thái Bảo Hà Quận Trung Hiến Lê tướng công từ đường bi minh, soạn năm Tự Đức thứ 12 (1859), tài liệu chép trong bản chép tay

Trang 10

chữ Hán Đại gia thi văn tập, do Thư viện Quốc gia Hà Nội điển tàng, số ký hiệu

R.1717, đã giới thiệu và khảo sát khá kỹ về nguyên quán cùng dòng dõi của sử gia

Lê Quý Đôn

Thành tựu nghiên cứu của các học giả hiện đại Việt Nam chủ yếu thể hiện ở

ba mảng, đó là, mảng khảo sát, chỉnh lý, dịch thuật văn bản Lê triều thông sử; mảng chuyên nghiên cứu giá trị của Lê triều thông sử và mảng chuyên nghiên cứu về cuộc

đời và sự nghiệp của Lê Quý Đôn

Ở mảng thành tựu khảo sát, chỉnh lý, dịch thuật văn bản Lê triều thông sử,

thành tựu đáng chú ý nhất phải kể đến hai công trình của hai học giả Ngô Thế Long

và Lê Mạnh Liêu đại diện cho học giả ở hai miền Nam và Bắc Ngoài ra còn có một

số khảo cứu của học giả Trần Văn Giáp về tình hình văn bản của tác phẩm, chép

trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, nguồn tư liệu văn học sử học Việt Nam, tập 1,

do nhà xuất bản Văn hóa xuất bản năm 1984; một số ý kiến của GS Hà Văn Tấn trình bày trong chuyên luận “Về các phạm trù bản thể luận của Lê Quý Đôn” in

trong Một số vấn đề lý luận sử học, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007…

Công trình của học giả Ngô Thế Long hoàn thành vào khoảng những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, đây là bản dịch tốt, có chất lượng học thuật cao, bởi vì trước khi dịch thuật, tác giả đã tiến hành khá kỹ công tác sưu tầm và khảo sát

văn bản Có thể nói, tất cả các nguồn văn bản có liên quan đến Lê triều thông sử lưu

trữ ở miền Bắc, miền Nam và một số thư viện lớn trên thế giới, đặc biệt là các thư viện Pháp, đều đã được tác giả cập nhật (bao gồm cả bản dịch của Trúc Viên Lê Mạnh Liêu) Tiếp đó, trong quá trình dịch thuật, tác giả lại tiến hành cách dịch xét trong sự so sánh đối chiếu giữa các văn bản Thế nên, trong hình trạng hiện nay, khi

mà văn bản gốc của Lê triều thông sử đã thất lạc, đây thật sự là một công trình hữu ích cho việc tham khảo, nghiên cứu của các học giả Bản dịch Đại Việt thông sử của Ngô Thế Long ban đầu được in chung trong Lê Quý Đôn toàn tập, tập 3, do Nhà

xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản năm 1978, sau đó còn được Viện sử học Việt Nam tái bản nhiều lần theo hình thức ấn bản độc lập

Trang 11

Lê Quý Đôn toàn tập (tổng cộng 03 tập), Nxb Khoa học Xã hội, 1978

Cùng với hệ thống văn bản lưu giữ ở miền Bắc và một số thư viện trên thế giới, ở miền Nam, vào năm 1973, Ủy ban dịch thuật thuộc Bộ Văn hóa Giáo dục và

Thanh niên (thuộc chính quyền Ngụy quyền Sài Gòn) đã xuất bản bản dịch Đại Việt

thông sử của Trúc Viên Lê Mạnh Liêu, bản này được tác giả dịch theo nguyên văn

bản chép tay lưu trữ tại Viện Khảo cổ Sài Gòn, ký hiệu VS-15 Bản VS-15 khá giống, hoặc có thể có cùng hệ thống truyền bản với bản chép tay mang ký hiệu A.18, được lưu trữ tại thư viện thuộc Viện Khoa học Xã hội tại Hà Nội Đồng thời theo chúng tôi, có nhiều khả năng, bản chép tay A.18 chính là sao chép từ VS-15, vốn là văn bản do Quốc sử quán thuộc triều đình nhà Nguyễn lưu giữ

Gần đây học giả Nguyễn Khắc Thuần trong Lê Quý Đôn tuyển tập, NXB

Giáo Dục, 2007, đã tiến hành dịch, hiệu đính và chú thích lại bản dịch của Trúc Viên Lê Mạnh Liêu, nhưng vì bản dịch của tác giả chưa bao quát được tình hình

văn bản của Lê triều thông sử, nên giá trị học thuật của bản dịch này không cao hơn

so với bản dịch của Trúc Viên Lê Mạnh Liêu

Ở mảng chuyên nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Lê Quý Đôn, đây

là mảng nghiên cứu có sự tham gia của khá nhiều học giả, thành tựu tiêu biểu ở lĩnh vực này có thể kể đến các bài viết, chuyên luận của các tác giả như Trần Văn Giáp, Đinh Công Vĩ, Bùi Hạnh Cẩn, Phạm Quang Trung, … Các phương diện mà các tác

Trang 12

giả đề cập, nhìn chung đều khá toàn diện, nhưng việc hoàn thành những nghiên cứu

về cuộc đời và sự nghiệp của Lê Quý Đôn trên cở sở thực chứng, hiện nay vẫn là một nhu cầu tất yếu cần phải nêu ra

Ở mảng chuyên nghiên cứu giá trị của Lê triều thông sử, trong số các học giả

hiện đại Việt Nam, có lẽ Trần Văn Giáp và Văn Tân là những người đầu tiên chú ý

nghiên cứu những vấn đề học thuật trong Lê triều thông sử Trần Văn Giáp với tư

cách là một chuyên gia thư tịch học, ông chú ý nhiều đến giá trị nhiều mặt của thiên

Nghệ văn chí trong Lê triều thông sử đối với lịch sử ngành thư tịch học Việt Nam;

riêng học giả Văn Tân, có lẽ ông là người đầu tiên chú ý đến giá trị sử liệu của tác phẩm, nhưng ông lại chưa thấy được giá trị lý luận mà tác phẩm này cống hiến cho

lý luận sử học cổ trung đại Việt Nam (xem phần lời tựa bản dịch Đại Việt thông sử

của Ngô Thế Long, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 1978) Ở khía cạnh này, đáng

chú ý có công trình Phương pháp làm sử của Lê Quý Đôn của học giả Đinh Công

Vĩ, sách do nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản tại Hà Nội vào năm 1994 Đây

là chuyên luận vốn được sửa chữa lại trên cơ sở luận văn Phó tiến sĩ có cùng tên gọi của chính tác giả Học giả Đinh Công Vĩ vốn là cán bộ công tác tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, là chuyên gia ở lĩnh vực Hán Nôm, lại làm việc chính ở nơi tập trung

lưu giữ nhiều văn bản Hán Nôm có liên quan đến Lê triều thông sử nhất, nên ông có

điều kiện tiếp cận khá nhiều văn bản Tuy nhiên, công trình này vẫn tồn tại khá nhiều khiếm khuyết, có thể kể đến hai điểm rõ nhất như sau: Thứ nhất, khi nghiên cứu phương pháp làm sử của Lê Quý Đôn tác giả không đặt vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh rộng lớn của lý luận sử học Đông Á, cụ thể là Trung Quốc, nên có rất nhiều phán đoán phiến diện được nêu ra Thứ hai, tác giả trong quá trình nghiên cứu, chất cảm tính trong phán đoán thể hiện khá rõ, văn viết cũng có phần thiếu tính thực chứng và tính logic Ngoài ra, đặc biệt đáng chú ý là, đối tượng nghiên cứu

trong chuyên luận của tác giả Đinh Công Vĩ hoàn toàn không dừng lại ở Lê triều

thông sử, do tính rộng mở của đề tài, mà thành tựu sử học của Lê Quý Đôn lại quá

lớn, hơn nữa tác giả trong quá trình nghiên cứu lại không lấy Lê triều thông sử làm trọng tâm, nên những vấn đề học thuật liên quan đến Lê Quý Đôn và Lê triều thông

Trang 13

sử, thật sự cho đến nay vẫn còn rất nhiều vấn đề còn là khoảng trống, còn bị bỏ ngỏ,

chờ đợi sự tham gia nghiên cứu của nhiều thế hệ chuyên gia

Ở nước ngoài, tình hình nghiên cứu về Lê Quý Đôn tuy không nhiều, nhưng cũng thu được một số thành tựu nhất định Trong số các bài viết, đáng chú ý nhất có hai chuyên luận của Vu Hướng Đông - chuyên gia chuyên nghiên cứu về sử học cổ

trung đại Việt Nam tại Trung Quốc Đó là, “Phủ biên tạp lục đích nội dung cập sử liệu giá trị” (Nội dung và giá trị sử liệu của Phủ biên tạp lục), do nhà xuất bản Khoa

học Xã hội Việt Nam xuất bản năm 1977 và “Lê Quý Đôn đích trước thuật cập kỳ học thuật tư tưởng” (Lê Quý Đôn, tác phẩm và tư tưởng học thuật), công bố trên tạp

chí Đông Nam Á nghiên cứu, kỳ 03 năm 1991, sau đó lại được tuyển vào Tư liệu

báo chí (Báo chí tư liệu) quyển Lịch sử thế giới (Thế giới sử), kỳ 01 năm 1992

Ngoài ra, học giả Lưu Ngọc Quân có bài viết “Lê Quý Đôn, Vương An Thạch của

Việt Nam” đăng trên tạp chí Cổ điển văn học tri thức, kỳ 2 (số tổng 149) năm 2010

Do tác giả là người chuyên nghiên cứu ở lĩnh vực văn học, nên bài viết chủ yếu khai thác những cống hiến của Lê Quý Đôn ở lĩnh vực văn học

Ở lĩnh vực trước tác, vào tháng 07 năm Dân Quốc thứ 97 (2008), nghiên cứu

sinh Nguyễn Tài Đông đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài Lê Quý Đôn

đích Nho học nghiên cứu (Nghiên cứu về Nho học của Lê Quý Đôn), luận án được

đệ trình tại khoa Triết học, Đại học Thiên chúa giáo Phụ Nhân, Đài Loan, dưới sự hướng dẫn khoa học của hai giáo sư Lý Chấn và Trần Văn Đoàn Xuất phát từ một luận án tốt nghiệp tiến sĩ chuyên ngành Triết, nên đối tượng đề cập của luận văn chỉ xoay quanh mảng tư tưởng triết học của Lê Quý Đôn

Ở lĩnh vực xuất bản, vào ngày 01 tháng 05 năm 2011 vừa qua, Trung tâm xuất bản thuộc Đại học Quốc lập Đài Loan cho chỉnh lý và xuất bản tại Đài Loan 03

đầu sách của Lê Quý Đôn, bao gồm Dịch phu tùng thuyết, Thư kinh diễn nghĩa và

Vân Đài loại ngữ Đây có thể xem là một thành tựu quan trọng trong việc khẳng

định vị thế học thuật của Lê Quý Đôn trong nền học thuật Việt Nam và nền học thuật khu vực, thế giới

Nói tóm lại, việc nghiên cứu Lê Quý Đôn và Lê triều thông sử cho đến nay

Trang 14

vẫn tồn tại khá nhiều khiếm khuyết, thậm chí có thể nói, việc nghiên cứu hai đối tượng nêu trên vẫn chỉ dừng lại ở hai khía cạnh: vấn đề khảo sát văn bản và dịch thuật, công bố tư liệu gốc Đây có thể xem là khó khăn nhưng đồng thời cũng là mặtthuận lợi, để chúng tôi có dịp thử sức trước một vấn đề khoa học và triển khai nghiên cứu đề tài của chính mình

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Giá trị học thuật của Lê triều thông sử chủ yếu bao gồm hai mặt: giá trị sử

liệu và những đóng góp của tác phẩm ở phương diện lý luận sử học cổ trung đại

Việt Nam Thế nhưng với tên của đề tài là Lê Quý Đôn và giá trị học thuật của Lê

triều thông sử, luận văn của chúng tôi cùng lúc phải xoáy vào cả hai đối tượng, tức

cuộc đời và sự nghiệp của Lê Quý Đôn cùng giá trị học thuật của Lê triều thông sử

Trong tương quan so sánh giữa hai đối tượng nghiên cứu, những nghiên cứu của chúng tôi tập trung nhiều hơn cho đối tượng sau, đối tượng trước xét từ một số khía cạnh nhất định, chỉ tạo cơ sở, tiền đề cho những nghiên cứu ở phần sau

Từ hai đối tượng nghiên cứu nêu trên, luận văn của chúng tôi trên cơ sở tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Lê Quý Đôn, khảo sát vấn đề văn bản của tác

phẩm cũng như những vấn đề liên quan đến Lê triều thông sử, tiến đến xoáy sâu vào

tìm hiểu hai khía cạnh: giá trị sử liệu và những đóng góp của tác phẩm ở phương diện lý luận sử học cổ trung đại Việt Nam

4 PHƯƠNG PHÁP VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu

Những phương pháp chủ yếu được sử dụng:

- Phương pháp tiểu sử tác giả: tìm ra mối quan hệ biện chứng giữa ba nhân tố tác giả, bối cảnh xã hội (thời đại) và tác phẩm

- Phương pháp sưu tầm, khảo sát và chỉnh lý văn bản: cốt giải quyết vấn đề văn bản của tác phẩm, cung cấp văn bản tốt nhất cho công đoạn nghiên cứu văn

Trang 15

bản Ở công đoạn sưu tầm và khảo sát, ngoài mục tiêu sưu tầm tất cả truyền bản của

Lê triều thông sử hiện còn, chúng tôi còn hướng tới khảo sát những điểm giống và

khác nhau giữa các truyền bản, chỉ ra quá trình lưu truyền của các truyền bản Ở công đoạn chỉnh lý văn bản, chúng tôi chủ yếu sử dụng ba thao tác của ngành Hiệu khám học (Khảo cứu văn bản) truyền thống Trung Quốc, bao gồm nội hiệu (khảo sát so sánh văn tự trước sau trong cùng một văn bản), đối hiệu (so sánh văn tự của nhiều hệ thống truyền bản khác nhau) và tha hiệu (so sánh văn tự có cùng nội dung ghi chép ở các thư tịch khác nhau) Trong tình huống cả ba thao tác trên đều không thể hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sẽ phải sử dụng đến thao tác lý hiệu, tức dùng lập luận để giải quyết vấn đề

- Phương pháp thống kê phân tích sử liệu: cho thấy được giá trị sử liệu của tác phẩm

- Phương pháp so sánh: so sánh nguồn sử liệu, thể lệ biên chép cùng quan niệm chép sử…của chính Lê Quý Đôn ở các thời kỳ khác nhau trong cuộc đời của tác giả và cả với các tác giả Việt Nam và Trung Quốc khác

- Phương pháp lịch sử: đặt đối tượng nghiên cứu trong bối cảnh lịch sử khi

nó ra đời, và cả trong thế so sánh với trước và sau đó để thấy được giá trị nhiều mặt của tác phẩm

Tư liệu nghiên cứu

Nguồn tư liệu nghiên cứu của luận văn bao gồm:

- Tất cả hệ thống truyền bản (chữ Hán) còn tồn tại của Lê triều thông sử,

trong đó lấy bản ký hiệu A.1389 do thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm điển tàng làm bản tham khảo chính

- Trong ba bản dịch Việt văn của Ngô Thế Long, Trúc Viên Lê Mạnh Liêu

và Nguyễn Khắc Thuần, chúng tôi chỉ tham khảo bản dịch của Ngô Thế Long

- Phần lớn các bộ sử Việt Nam ra đời trước và sau Lê triều thông sử, chúng

tôi chú ý đếncác bộ sử có thể lệ biên chép rõ ràng

- Một số công trình chính sử và lý luận sử học Trung Quốc

Trang 16

- Một số công trình lý luận của sử học phương Tây

- Các công trình nghiên cứu có liên quan đến cuộc đời sự nghiệp của Lê Quý

Đôn và trước tác Lê triều thông sử

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ GIÁ TRỊ THỰC TIỄN

Ý nghĩa khoa học

Làm rõ giá trị to lớn của Lê triều thông sử không chỉ góp phần có cái nhìn

đúng hơn về tác phẩm, cống hiến của tác giả, mà còn góp phần thúc đẩy nghiên cứu mảng tư tưởng, lý luận chi phối sử học Việt Nam giai đoạn cổ trung đại, đây là khía cạnh mà cho đến nay vẫn chưa được chú ý

Giá trị thực tiễn

Ứng dụng vào việc nghiên cứu đánh giá giá trị nhiều mặt của kho tàng sử học cổ trung đại Việt Nam; làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh ở khía cạnh lý luận sử học cổ trung đại Việt Nam

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Luận văn được chia thành 3 phần:

DẪN LUẬN

1 Tính cấp thiết của đề tài

2 Lịch sử vấn đề

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu

5 Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn

6 Bố cục của Luận văn

NỘI DUNG

Chương 1: Lê Quý Đôn, tác giả và tác phẩm

Trang 17

1.1 Tác giả

1.2 Tác phẩm

Chương 2: Lê triều thông sử, một số vấn đề văn bản

2.1 Tên sách, thời điểm, nguyên nhân và quá trình biên soạn 2.2 Thể lệ sách

2.3 Tình hình văn bản

Chương 3: Giá trị học thuật của Lê triều thông sử

3.1 Nguồn sử liệu, phương pháp biên chép và giá trị sử dụng 3.2 Đóng góp ở phương diện lý luận

KẾT LUẬN

Trang 18

CHƯƠNG 1

LÊ QUÝ ĐÔN, TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

1.1 TÁC GIẢ

Hình 1.1: Tượng nhà bác học Lê Quý Đôn

Về tiểu sử Lê Quý Đôn, hiện có khá nhiều sách ghi chép, nhưng đầy đủ và

chi tiết nhất, phải kể đến Công bộ Thượng thư Lê tướng công niên phổ (gọi tắt Niên

phổ) do Vô danh thị chép trong Nhân vật chí, bản chép tay chữ Hán do Thư viện

Viện Viễn Đông Bác Cổ sưu tầm và lưu giữ, số ký hiệu A.573 và Thái phó Dĩnh

Quận Văn Trung Lê tướng công bi minh (gọi tắt Bi minh) do chắt ngoại của Lê Quý

Đôn là Công bộ Hữu tham tri kiêm Sử quán Toản tu Phạm Chi Hương soạn ngày 20

tháng 8 năm Tự Đức thứ 12 (1859), tài liệu chép trong bản chép tay chữ Hán Đại

gia thi văn tập, do Thư viện Quốc gia Hà Nội điển tàng, số ký hiệu R.1717 Kết hợp

hai tài liệu một Niên phổ (Tiểu sử), một Bi minh (Văn khắc trên bia ở nhà tưởng

niệm) và một số tài liệu khác, có thể đem tiểu sử Lê Quý Đôn trình bày tóm lược

như sau:

Trang 19

Hình 1.2: Bài minh văn “Thái phó Dĩnh Quận Văn Trung Lê tướng công bi minh” do

Phạm Chi Hương soạn năm Tự Đức thứ 12 (1859)

Trang 20

Hình 1.3: Bài minh văn “Thái Bảo Hà Quận Trung Hiến Lê tướng công từ đường bi

minh” do Phạm Chi Hương soạn năm Tự Đức thứ 12 (1859)

Lê Quý Đôn thuở nhỏ tên là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, người xã Diên Hà, huyện Diên Hà, phủ Tiên Hưng, trấn Sơn Nam Hạ, nay

là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Niên phổ cho biết,

tổ tiên Lê Quý Đôn vốn họ Lý, người huyện Đông Ngạn, nhưng không nói rõ nguyên do tại sao chuyển đổi sang họ Lê và quá trình di cư từ Đông Ngạn đến Diên

Hà Phạm Chi Hương trong Thái Bảo Hà Quận Trung Hiến Lê tướng công từ đường

bi minh chép: “Tổ tiên ông họ Lý, người huyện Đông Ngạn, trấn Kinh Bắc, đến đời

Trang 21

ông tổ thứ ba là Phúc Thiện công, được tặng chức Công bộ Thượng thư chuyển tới đất Diên Hà, mới chuyển sang họ Lê ①.” Liên quan đến vấn đề này, sách Nhân vật

chí mục Hình bộ Thượng thư tặng Thiếu bảo Hà Quận công Lê tướng công niên phổ chép rõ hơn: “Tổ tiên của ông họ Lý, người huyện Đông Ngạn, trấn Kinh Bắc,

do tránh loạn lạc di cư đến ở xã Vị Dương, huyện Thanh Lan (sau đổi là huyện Thanh Quan, nay là huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình), phủ Sơn Nam Vào những năm thuộc niên hiệu Quang Hưng (1578 - 1599) đời Lê, ông nội là Phúc Thiện công khi ấy mới vừa 6 tuổi, theo cha đến đất Diên Hà; ông được bạn của cha là Lê Trực Tính nhận làm con nuôi, sau chuyển sang dùng họ của cha nuôi và định cư tại đây…, Phước Thiện sau tập ấm, được tặng chức Đông Các đại học sĩ.”

Lê Quý Đôn sinh vào giờ Đinh hợi ngày mùng 5 tháng 7 năm Bính Ngọ, tức năm Bảo Thái thứ bảy đời Lê Dụ tông (2/8/1726) Ông được sinh ra và trưởng thành trong một gia đình giàu truyền thống khoa bảng Ông nội là Lê Phúc Lý, con trai của Lê Phúc Thiện, thuở nhỏ thông minh, từng thi đậu Sinh đồ, sau tập ấm, được tặng chức Binh bộ Hữu thị lang Cha là Tiến sĩ Lê Trọng Thứ, tức Lê Phú Thứ, từng kinh qua các chức Hình bộ Tả thị lang, Công bộ Tả thị lang, Hình bộ Thượng thư, tước Diễn Phái hầu Mẹ là con gái thứ ba của Tiến sĩ Hoàng Phái hầu Trương Minh Lượng

Về ngày sinh của Lê Quý Đôn, sử sách lưu truyền khá nhiều thuyết ly kỳ

Niên phổ chép rằng, mẹ ông Trương phu nhân khi đi lễ chùa Quang Thừa, đất Kim

Bảng từng nằm mộng thấy có người đem tặng kỳ lân; đến khi sắp sinh ông, lại mộng thấy trước kiệu của mình treo quạt lông vũ, đồng thời thấy một viên quan tháp tùng hầu hạ hết sức chu đáo, đoàn tùy tùng cứ thế đi về đến tận cửa nhà, bà vào nhà sau đó sinh ra ông Thuyết này quá ư ly kỳ, không thể tin thật, đây có lẽ chỉ là những phụ họa của kẻ hậu thế mà thôi

Nguyên văn: “Công chi tiên, cố Kinh Bắc Đông Ngạn nhân, tính Lý, tự tam tổ tặng Công bộ

Thượng thư Phúc Thiện công tỷ ư Diên Hà, thủy tính Lê.” Xem Phạm Chi Hương, Thái Bảo Hà

Quận Trung Hiến Lê tướng công từ đường bi minh, tài liệu chép trong bản chép tay chữ Hán Đại gia thi văn tập, do Thư viện Quốc gia Hà Nội điển tàng, số ký hiệu R.1717

Trang 22

Từ nhỏ ở nhà học cùng cha, Lê Quý Đôn đã có tiếng thông minh ham học

Niên phổ chép: Năm hai tuổi, ông đã phân biệt rõ hai chữ “hữu” (có) “vô” (không),

dù có hỏi đến trăm lần, ông đều viết và trả lời không sai Bốn tuổi, học Đường thư,

thấy thúc tổ (em trai ông nội) viết bút lông rất đẹp, ông cũng cầm bút viết theo, cha

ông là Trung Hiến công rất lấy làm lạ về con mình Năm tuổi, học Thi kinh, ông

hoàn toàn không bàng quan, không vui đùa, một chữ nghi ngờ, chỉ cần giảng một lần là nằm lòng, không bao giờ hỏi lại Trong nhà sẵn có giá sách, ngày ngày ông

năng tới đọc những sách như Tả truyện, Quốc ngữ, Chiến Quốc sách, Văn tuyển,…

Sáu tuổi, Lê Quý Đôn đã biết làm thơ viết văn, Trung Hiến công từng đem văn của ông cho người bạn cùng khoa là Tiến sĩ Chu Nguyên Lâm xem, xem xong, Chu công phê rằng: “Thằng bé con này đúng là một cây chương thơm, bây giờ tuy còn nhỏ, nhưng mai mốt rồi sẽ vươn cao nghìn trượng Loại đại bàng non khi đủ lông đủ cánh chắc chắn sẽ tung bay vạn dặm Không ai biết đâu mà lường trước được.” Ngay cả quan Bồi Tụng Lê Hữu Kiều ở phường Bích Câu, Thăng Long, người nổi tiếng văn chương đương thời cũng phải tấm tắc khen: “Hữu thị phụ, tất hữu thị tử” (Có cha ấy tất phải có con ấy) Năm bảy tuổi, Lê Quý Đôn chuyên tâm học sử; tám tuổi đã biết viết phú làm sách luận, mười tuổi đã thông làu các thể ca hành (thơ cổ

bảy chữ), luận, biện, thư, hịch Mười một tuổi, ông học Tống sử, Nguyên sử, mỗi ngày đọc thông đến tám chín mươi trang; lại học Dịch kinh, mỗi ngày đọc thông cả phần Cương lĩnh lẫn Đồ thuyết Trung Hiến công từng thử tài con, yêu cầu trong

một ngày phải làm xong mười bài phú, đến lúc xem thảy đều văn chương tươi đẹp,

ý nghĩa triển khai tận tường chu đáo Năm 14 tuổi, Lê Quý Đôn đã đọc làu tứ thư ngũ kinh, những sách thuộc sử tịch truyện ký, cho đến sách của bách gia chư tử, không sách nào không hiểu, không nhà nào không am tường, người đời dùng hai chữ “túc nho” để gọi ông Riêng việc làm văn, đặt bút là viết, vạn lời thành trong chớp mắt, không cần nghĩ suy cân nhắc; không cần khởi thảo mà học vấn nghị luận, thảy đều chuẩn mực Năm 15 tuổi, đó là năm Canh thân, cũng là năm thứ nhất niên hiệu Cảnh Hưng (1740), Lê Quý Đôn theo cha đến ở Kinh sư, từ đây việc học của ông không ngừng tăng tiến

Trang 23

Năm 17 tuổi, Lê Quý Đôn tham dự kỳ thi ở huyện, thành tích của ông cả hai

kỳ đều xếp hạng ưu Năm 18 tuổi, Lê Quý Đôn tham dự thi hương ở trường thi Sơn Nam, giành danh hiệu Giải nguyên; cũng trong năm này, ông đổi tên thành Quý Đôn, vì hai chữ “Danh Phương” trùng tên với tên của Thủ lĩnh nghĩa quân nông dân Nguyễn Danh Phương

Sau khi đỗ đầu ở trường thi Sơn Nam, Lê Quý Đôn liên tiếp trở lại Kinh đô tham dự thi Hội vào các khoa Quý Hợi (1743), Bính Dần (1746), Mậu Thìn (1748), nhưng đều bị đánh hỏng Ở thời điểm này, ông chủ yếu ở nhà viết sách và dạy học,

sách ông viết có đến hàng trăm thiên, trong đó bao gồm cả Lê triều thông sử, sĩ tử

mộ danh ông tìm đến theo học rất nhiều Tiếng tăm văn chương của Lê Quý Đôn ngày càng vang xa, danh sĩ các nơi tìm đến kết bạn, các quan đại thần trong triều thường xuyên tới lui cùng ông đàm đạo học thuật, văn chương

Tháng 2 năm Nhâm thân (1752), tức năm thứ 13 niên hiệu Cảnh Hưng, Lê Quý Đôn 27 tuổi, lại tham gia thi Hội, ở kỳ thi này, hai môn kinh nghĩa và văn tứ lục của ông giành vị trí thứ hai, thi phú xếp hàng thứ bảy, riêng sách văn xếp hạng nhất; đến khi vào thi Đình, ông lại được xếp đậu hạng hai (Bảng nhãn), nhưng kỳ thi này không có người đỗ đầu, nên tuy đậu Bảng nhãn, nhưng vinh dự thực không kém việc đã chính thức giành danh hiệu Trạng Nguyên

Tài năng của Lê Quý Đôn vốn đã truyền khắp cung vua phủ chúa từ lâu, nay lại đỗ cao, nên sau khi thi đỗ, ông được bổ giữ ngay những chức vụ quan trọng, đồng thời trong suốt cuộc đời làm quan của mình, ông đã kinh qua rất nhiều vị trí quan trọng trong hệ thống quan lại triều đình Lê Trịnh Vào năm thứ 14 niên hiệu Cảnh Hưng (1753), Lê Quý Đôn nhậm chức Hàn lâm viện Thị thư; mùa đông cùng năm, nhậm chức Đề điệu (Chủ khảo) tại trường thi Hương phủ Sơn Tây Năm thứ

15 niên hiệu Cảnh Hưng (1754), ông nhận lệnh tu soạn quốc sử, sách soạn xong lấy

tên Tục biên, bao gồm 12 quyển, chép lịch sử từ niên hiệu Chính Hòa (1680 - 1705)

đời Lê Hy tông đến năm thứ nhất niên hiệu Cảnh Hưng (1740) Tháng 6 năm thứ 17 niên hiệu Cảnh Hưng (1756), ông nhậm chức Thị giảng, chuyên giảng cho Hoàng

đế nghe về kinh sử và đạo trị nước Năm Cảnh Hưng thứ 18 (1757), ông được thăng

Trang 24

chức Hàn lâm viện Thị giảng, trực tiếp tham dự chính sự Mùa đông năm Cảnh Hưng thứ 19 (1758), Lê Quý Đôn được sung chức Phó sứ sang Trung Quốc tiến cống, nhưng không đi Hoàng đế dụ rằng: “Hai cha con ngươi đều là người trung ái,

có thể xem là trung hiếu truyền gia vậy! Trẫm không muốn khanh đi xa, nên đem việc đi sứ giao cho kẻ khác, để khanh có thể ở mãi bên trẫm, ra vào có người cùng luận bàn.” Lê Quý Đôn tâu rằng: “Tuổi thần còn trẻ, nguyện đi sứ thượng quốc, vừa

có thể thăm viếng non sông, vừa có thể tìm hiểu phép trị nước nơi thượng quốc, cốt

mở mang thêm kiến thức.” Hoàng đế cho là phải bèn chấp nhận lời cầu xin của ông Mùa xuân năm thứ 21 niên hiệu Cảnh Hưng (1760), Lê Quý Đôn nhận mệnh đi sứ Trung Quốc, trước ngày ra đi, ban tước Dĩnh Thành bá Mùa xuân năm thứ 23 niên hiệu Cảnh Hưng (1762), ông về nước, thăng chức Hàn lâm viện Thừa chỉ, vẫn giữ nguyên tước bá Vua muốn lấy ông vào chức Nhập thị Bồi Tụng, nhưng có người can, bảo ông việc nhiều, gia sự có nhiều biến cố, không thể đảm đương việc chính

sự, vua bèn thôi Năm thứ 24 niên hiệu Cảnh Hưng (1763), Lê Quý Đôn giúp vua chúa định lại thể chế, hơn 10 điều rường cột của quốc gia cần phải chấn chỉnh, cải cách mà ông tâu lên, đều được chuẩn theo Ông lại xin định vĩnh chế cho khoa cử,

từ nay về sau cứ cách ba năm tổ chức một khoa thi chính (đại thí), thời gian giữa hai khoa thi chính có thể mở thêm ân khoa Mùa xuân năm thứ 25 niên hiệu Cảnh Hưng (1764), do được ân sủng, ông liên tục thay mặt vua chúa đi thanh tra ở khắp mọi nơi Trong quá trình thanh tra, Lê Quý Đôn luôn đặt quyền lợi của nhân dân lên hàng đầu, thế nên cùng với việc được nhân dân tin yêu, có không ít kẻ ghen ghét, tìm trăm phương nghìn kế hòng diệt ông

Năm Cảnh Hưng thứ 26 (1765), ông cáo bệnh xin về quê, từ khi đi sứ trở về, ông luôn nung nấu chí điền viên, nhưng các vị đại thần trong triều không ngừng khuyên can, nay chúa lại điều ông ra nhậm chức Tham chính Hải Dương, ông quyết

từ chối Trong vòng hai năm Lê Quý Đôn về quê, ông chuyên việc giảng dạy viết sách, suy tư kinh thuật, quyết lấy thư tịch, sơn thủy điền viên làm vui, học trò bốn phương mộ danh ông tìm tới theo học rất nhiều Thực ra từ trước khi Lê Quý Đôn bước chân vào con đường quan nghiệp, quyền trị vì đất nước đã không còn nằm

Trang 25

trong tay các vua nhà Lê, mà thực chất mọi quyền hành đã bị thâu tóm trọn trong tay Minh Đô vương Trịnh Doanh (1840-1867) Có thể nói, trong suốt thời kỳ đầu làm quan, Lê Quý Đôn chưa từng có dịp thi thố tài năng ở lĩnh vực chính trị

Năm thứ 28 niên hiệu Cảnh Hưng (1767), sau khi Trịnh Doanh mất, con trai

là Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm lên thay (1767-1782), vua lại cho vời ông ra giúp nước Đứng trước vận hội mới của đất nước, Lê Quý Đôn quyết định kết thúc giai đoạn ẩn cư của mình, ra nhậm chức Hàn lâm viện Thị thư, kiêm chức Quốc tử giám

Tư nghiệp Dưới thời Trịnh Sâm, Lê Quý Đôn được trọng dụng, được cất nhắc giữ rất nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy chính quyền, và đặc biệt có cơ hội để thi triển tài năng ở lĩnh vực chính trị Năm thứ 30 niên hiệu Cảnh Hưng (1769), ông được cử giữ chức Hàn lâm viện Thừa chỉ Tháng 05 năm nhuận thuộc niên hiệu Cảnh Hưng thứ 31 (1770), do có công trong việc dẹp yên loạn Lê Duy Mật, được thăng chức Phó đô ngự sử; tháng 6 cùng năm, lại thăng chức Công bộ Hữu tham tri; tháng 12 cùng năm, do 10 biện pháp ông nêu ra được đưa vào thực thi, đồng thời có lợi không nhỏ cho việc phát triển kinh tế, ổn định trật tự trị an trong nước, ông lại được thăng chức Lại bộ Hữu tham tri Tháng 6 năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771), do

từ chối nhiều lần không được, ông đành phải nhậm chức Công bộ Hữu tham tri Tháng 7 năm Cảnh Hưng thứ 33 (1772), ông nhậm chức Đô ngự sử, kiêm Quốc tử giám Tế tửu Vào năm Cảnh Hưng thứ 34 (1773), thân phụ ông Trung Hiến công lại

ra nhậm chức Hình bộ Thượng thư, như vậy cả hai cha con đều tham dự chính quyền, đồng thời thảy đều giữ những vị trí hết sức trọng yếu Kể từ đây con đường làm quan của Lê Quý Đôn hết sức hanh thông, ông vừa nắm việc quản dân vừa tham dự bàn bạc việc chính sự, ở thời gian này, những chức vụ mà ông nắm giữ không ngừng thay đổi, lên xuống, nhưng ở bất kỳ vị trí nào, ông đều tận tâm cống hiến cho việc củng cố triều đình Lê – Trịnh Cụ thể, tháng 5 năm Cảnh Hưng thứ 35 (1774), Trịnh vương nam chinh, lệnh Lê Quý Đôn lưu thủ kinh thành Thăng Long Tháng 2 năm Cảnh Hưng thứ 36 (1775), ông được thăng chức Hộ bộ Tả thị lang, kiêm Quốc sử tổng tài Mùa xuân năm Cảnh Hưng thứ 37 (1776), ông nhậm chức Hiệp trấn tham tán quân cơ Thuận Quảng Tháng 3 năm Cảnh Hưng thứ 39 (1778),

Trang 26

ông nhậm chức Hữu hiệu điểm quyền phủ sự, cải tước Nghĩa Phái hầu Năm Cảnh Hưng thứ 42 (1781), ông lại lãnh chức Quốc sử quán Tổng tài, soạn lại quốc sử từ niên hiệu Nguyên Hòa (1533 - 1548) đầu đời Lê Trung Hưng đến niên hiệu Đức Nguyên (1674 -1675) đời Lê Gia tông, sách soạn xong gồm 10 quyển, sau đó cho khắc in ban hành Năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783), ông nhậm chức Hiệp trấn Nghệ An; tháng 12 cùng năm, nhậm chức Đô ngự sử Mùa xuân năm Cảnh Hưng thứ 45 (1784), Lê Quý Đôn về kinh sư, thăng chức Công bộ Thượng thư

Ngày 14 tháng 4 năm Cảnh Hưng thứ 45 (1/6/1784), Lê Quý Đôn mất ở quê

mẹ, thôn Nguyễn Xá, xã Nguyễn Xá, huyện Duy Tiên, phủ Lị Nhân, trấn Sơn Nam Thượng, nay là huyện Duy Tiên, tỉnh Nam Hà, hưởng thọ 59 tuổi Nghe tin Lê Quý Đôn mất, Hoàng đế quyết định ngưng thiết triều ba ngày, tặng chức Thiếu bảo, ban tên thụy là Văn Trung, cấp dân hai xã phụ lo việc tang ma, lại ban cấp hơn ba trăm quan tiền, phái chuyên quan tới cúng tế Ngày 19 tháng 6, Lê Quý Đôn được an táng tại cánh đồng Hậu Xá, thôn Nguyễn Xá Nhìn lại toàn bộ cuộc đời Lê Quý Đôn, có thể nói, ông là một nho sĩ luôn cánh cánh bên lòng tâm sự vì dân vì nước, suốt đời ông luôn hướng tới thực hiện hoài bão tiến hành cải cách, thiết định pháp chế nhằm đưa xã hội Lê – Trịnh đạt đến thái bình thịnh trị

Phu nhân của Lê Quý Đôn họ Lê, người làng Liêu Xá đất Đường Hào, là con gái thứ bảy của Tiến sĩ, Hộ bộ Thượng thư, tặng chức Thái tử Thái phó, tước Liêu Quận công Đặng Hữu Kiều, bà được tập ấm, tặng danh hiệu Chánh phu nhân Lê Quý Đôn tổng cộng sinh được sáu người con, bốn trai hai gái Con trai lớn giỏi văn học nhưng mất sớm, con trai thứ tên Thuần, tên Tá và tên Nghi Con gái lớn gả cho Tiến sĩ, Công bộ Hữu thị lang, Hạng Xuyên bá Nguyễn Duy Hoành nhưng mất sớm; con gái út tên Ánh, mất từ khi còn nhỏ

Sinh thời, Lê Quý Đôn là người có khối óc và trí tuệ vượt hẳn người thường, lại ham học, ham hiểu biết, không sách gì nhìn thấy mà ông không đọc, không điều

gì lạ mà không ghi chép Ông ghi chép mọi sự kiện đồng thời ghi lại những nhận xét, quan điểm của riêng mình Trong thời kỳ làm quan, với chuyến đi sứ Trung Quốc quý báu duy nhất trong đời, ông đã có dịp gặp gỡ, trao đổi về thơ văn, bàn

Trang 27

luận về sử học, triết học,… với rất nhiều học giả nổi tiếng Trung Quốc và các sứ thần đến từ nước Triều Tiên xa xôi Không những thế, ông còn có cơ hội tiếp cận, đọc rất nhiều sách vở mới lạ, trong đó không loại trừ những loại sách tiến bộ đến từ phương Tây do người Trung Quốc dịch thuật Thêm vào đó, những chuyến nhậm chức Khâm sai, thay mặt triều đình đến mọi nơi trong nước làm công việc thanh tra,

đo đạc ruộng đất; những chuyến xuất kinh ra trấn ngoài nhậm chức Hiệp trấn, được mắt thấy nhiều, tai nghe nhiều, đã làm giàu thêm kho tri thức, mở rộng tầm nhìn cho chính ông, khiến tiềm năng trước thuật nơi ông là vô cùng vô tận, bao gồm tất cả mọi khía cạnh đời sống, kinh tế, văn hóa, xã hội,…

Người xưa có câu: “Đa thư chân phú quý” (Người có nhiều sách mới thật sự

là người giàu có) Theo chúng tôi, thật không quá khi đưa ra lời khẳng định, Lê Quý Đôn là người giàu có sách vở bậc nhất ở Việt Nam thế kỷ 18 Ông đọc nhiều, nắm được tất cả các tri thức mà một người Việt Nam hồi thế kỷ 18 có thể có được Nhờ đọc sách mà ông trở thành người Việt Nam đầu tiên biết rằng trái đất thực chất là một quả cầu xoay xung quanh mặt trời

Trần Danh Lâm, bạn cùng thời ông cũng nhận xét về ông như sau: “Ông Lê Quế Đường người huyện Diên Hà không sách nào không đọc, không vật gì không xem xét đến cùng Ngày thường ngẫm nghĩ được điều gì đều viết thành sách Sách chứa đầy bàn, đầy tủ kể ra không xiết.” [12, tr.9]

Nhà sử học Phan Huy Chú cũng cho rằng, “ông tư chất khác đời, thông minh hơn người mà giữ tính nết thuần hậu là chăm học không biết mỏi Tuy đỗ đạt vinh hiển mà tay vẫn không rời quyển sách.” [12, tr.9-10]

Việc học tập của Lê Quý Đôn nổi tiếng ở đời, làm kinh ngạc cả giới trí thức Trung Hoa, Triều Tiên cùng thời Quan Đề đốc tỉnh Quảng Tây Trung Quốc là Chu Bội Liên phải trầm trồ rằng, “ông Lê Quế Đường người Nhật Nam tinh thông liệt sử.” Các sứ thần Triều Tiên như Trạng Nguyên Hồng Khải Hy, tiến sĩ Lý Huy Quang thảy đều cảm thấy hết sức ngạc nhiên về lượng kiến thức uyên bác của ông, đồng thời ca ngợi không tiếc lời Riêng học giả Việt Nam hiện đại thảy đều xem ông là bộ bách khoa toàn thư sống của Việt Nam ở thế kỷ 18

Trang 28

1.2 TÁC PHẨM

Về tác phẩm của Lê Quý Đôn, học giả cổ kim từng có rất nhiều người đề

cập Học trò của Lê Quý Đôn là Bùi Huy Bích trong bài văn tế thầy Quế Đường tiên

sinh thành phục lễ môn sinh thiết điện tế văn viết: “Than ôi! tiên sinh thông minh

cái thế, học rộng khắp kinh sử, lại giỏi việc trước thuật văn chương, tác phẩm viết ra

đáng để lưu truyền hậu thế”, “các tác phẩm của ông như Thánh mô hiền phạm cùng các sách thuộc mảng kinh luận như Quần thư khảo biện, Quốc sử tục biên, Toàn

Việt thi lục, Hoàng Việt văn hải, Vân Đài loại ngữ, Bang giao tục tập, Bắc sứ thông lục, Kiến văn tiểu lục, Phủ biên tạp lục và các tác phẩm như Quế Đường văn tập, Quế Đường thi tập, tổng cộng không dưới trăm thiên (bộ) ” (Hoàng Việt văn tuyển,

quyển 4)

Phan Huy Chú, một học giả sống ở giai đoạn đầu đời Nguyễn, trong sách

Lịch triều hiến chương loại chí mục Văn tịch chí tuy chỉ nêu 16 bộ sách của Lê Quý

Đôn, nhưng lại chú rõ số quyển của mỗi sách, cụ thể bao gồm: Âm chất văn chú 02 quyển, Danh thần lục 02 quyển, Dịch kinh phu thuyết 06 quyển, Hoàng Việt văn hải

10 quyển, Kiến văn tiểu lục 03 quyển, Lê triều thông sử 30 quyển, Liên Châu thi tập

04 quyển, Phủ biên tạp lục 07 quyển, Quế Đường thi tập 04 quyển, Quế Đường văn

tập 03 quyển, Quần thư khảo biện 04 quyển, Quốc triều tục biên 08 quyển, Toàn Việt thi lục 20 quyển, Thư kinh diễn nghĩa 03 quyển, Trí sĩ trướng văn tập 04 quyển

và Vân Đài loại ngữ 04 quyển

Sách Niên phổ liệt kê 36 tên sách theo thứ tự như sau:

Dịch kinh phu thuyết, Thư kinh diễn nghĩa, Xuân thu lược luận, Thi thuyết,

Lễ thuyết, Liên Sơn Quy Tàng nhị dịch thuyết, Quần thư khảo biện, Thánh mô hiền phạm lục, Kim kính lục chú, Tồn tâm lục, Tăng bổ chính yếu đại bổn tập, Đại Việt thông sử, Quốc sử tục biên, Hoàng triều trị giám cương mục, Hoàng Việt văn hải, Toàn Việt thi tập, Vân Đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục, Tục ứng đáp bang giao tập, Bắc sứ thông lục, Liên Châu toàn tập, Chinh tây toàn tập, Phủ biên tạp lục, Sư luật

Trang 29

toản yếu, Vũ bị tâm lược, Địa lý tuyển yếu, Tha học tinh ngôn, Thái Ất giản dị lục, Thái Ất quái vận, Lục Nhâm hội thông, Lục Nhâm tuyển túy, Hoạt nhân tâm thư,

Âm chất văn chú, Đạo đức kinh diễn thuyết, Hoằng giáo lục, Kim Cang kinh chú giải

Ngoài 36 tên sách nêu trên, trong Niên phổ còn nhắc đến một số tên sách của

Lê Quý Đôn, nhưng chưa được liệt kê trong danh sách trên, như: Tiêu Tương bách

vịnh tập, Sử biện (có lẽ đây là tên gọi khác của Quần thư khảo biện), Tục biên 12

quyển và Tục biên 10 quyển (có lẽ đều là tên gọi tắt của Quốc sử tục biên)

Học giả Trần Văn Giáp trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm tập II, trong mục

Vân Đài loại ngữ cho rằng, tác phẩm đáng tin cậy của Lê Quý Đôn bao gồm 15 bộ:

“Lê triều thông sử, Quốc sử tục biên, Phủ biên tạp lục, Bắc sứ thông lục, Quế

Đường thi tập, Quế Đường văn tập, Liên Châu thi tập, Quần thư khảo biện, Thánh

mô hiền phạm, Thư kinh diễn nghĩa, Âm chất văn chú, Toàn Việt thi lục, Hoàng Việt văn hải, Kiến văn tiểu lục và Vân Đài loại ngữ.” Ngoài ra ông còn ghi thêm: “Nhiều

tài liệu còn ghi Lê Quý Đôn là tác giả của nhiều sách khác nữa, nhưng không có căn

cứ gì chắc chắn, như Tục ứng đáp bang giao tập, Tây chinh toàn tập, Dịch kinh phu

thuyết, Danh thần lục, Liên Sơn Quy Tàng nhị dịch truyện, Thi thuyết, Lễ thuyết, Xuân Thu lược luận, Thiên văn thư, Địa lý tinh ngôn thư, Tồn tâm lục, Hoàng triều trị giám cương mục, Địa lý tuyển yếu, Thái Ất giản dị lục, Lục Nhâm hội thông, Lục Nhâm tuyển túy, Hoàng giáo lục, Kim Cang kinh chú giải, Đạo đức kinh diễn nghĩa,

một số văn Nôm như những bài: Mẹ ơi con muốn lấy chồng, Gái quá thì, Lấy chồng

cho đáng tấm chồng, Chim khôn đậu nóc nhà quan, v.v… Nói tóm lại, tác phẩm của

Lê Quý Đôn vốn đã có nhiều, nhưng người sau gán thêm tên ông vào nhiều tác phẩm khác nữa, tại đây chúng tôi chưa có điều kiện để giám định những tài liệu đã nêu trên, xin để tồn nghi để tiện tham khảo trong khi nghiên cứu.”

Tóm lại, tổng quan những điều đã trình bày trên đây, có thể thấy rõ, tác phẩm của Lê Quý Đôn bao gồm sách do chính tác giả soạn, sách do tác giả biên soạn hoặc

do tác giả biên tập và hiệu chỉnh có số lượng khá lớn, trong đó bao gồm đủ mọi thể loại, môn loại khác nhau, như văn, thơ, từ, phú, châm, minh, ký, sách, luận, địa lý,

Trang 30

lịch sử, triết học, tôn giáo, văn học, ngôn ngữ, tâm lý,… Dẫu rằng cho đến nay, tác phẩm của ông đã bị thất lạc không ít, nhưng phần còn giữ lại được cũng hết sức đáng kể Ở đây chúng tôi không đi vào khảo cứu cụ thể Lê Quý Đôn trong suốt cuộc đời mình từng viết và biên soạn những sách gì, những sách hiện đề tên Lê Quý Đôn phải chăng đều là của Lê Quý Đôn, vì những việc này theo chúng tôi thật quá khó, không khác việc mò kim đáy bể, công sức bỏ ra nhiều, nhưng những gì thu hoạch được chưa chắc đã đáng tin cậy Ở đây chúng tôi chọn cách thông qua việc mô tả những sách của Lê Quý Đôn hiện còn điển tàng trong hệ thống thư viện trong và ngoài nước, kết hợp khảo cứu thêm những sách của ông đã mất hoặc thất lạc, hiện chỉ còn lưu lại tên sách trong một số văn tịch, trên cơ sở đó, đưa đến cho độc giả cách nhìn, cách nhận định tương đối về thành tựu học thuật, cũng như thành tích trước thuật của Lê Quý Đôn

Những tác phẩm hiện còn:

Bắc sứ thông lục (北使通錄), 4 quyển, bản chép tay chữ Hán, Lê Quý Đôn

soạn và viết tựa năm Cảnh Hưng 41 (1769) Nội dung chủ yếu là những ghi chép về

chuyến đi sứ nhà Thanh năm 1760 của Lê Quý Đôn, cụ thể như: những sự việc xảy

ra trên đường đi của sứ bộ, danh sách nhân viên trong đoàn sứ bộ, danh sách sản vật tiến cống, những lễ nghi vào chầu vua Thanh và các cuộc xúc tiếp với sứ thần Trung Quốc, các văn kiện (khải, biểu, tấu,… ) trao đổi giữa hai bên,… Sách hiện

do thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội điển tàng, ký hiệu A 179, 354 trang Sách đã được dịch ra Việt văn và xuất bản Ngoài ra sách còn được thu vào

tùng thư Việt Nam Hán văn Yên hành văn hiến tập thành (越南汉文燕行文献集成)

do Đại học Phúc Đán Trung Quốc kết hợp cùng Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội biên tập và xuất bản năm 2010

Âm chất văn chú (陰騭文註), sách chữ Hán, không phân quyển, do Lê Quý

Đôn biên tập lại sách của người Trung Quốc, bản khắc in năm Minh Mạng thứ 20 (1839) theo bản gốc của Quế Đường Nội dung chủ yếu là những bài văn giáng bút của Văn Xương Đế Quân khuyên tránh điều ác, cố làm việc thiện, thực hành và phổ

Trang 31

biến rộng rãi tư tưởng của Nho Đạo Phật Sách còn lưu giữ lời tựa của người đời Thanh Thẩm Đức Tiềm viết vào năm Càn Long thứ 26 (1761), ngoài ra còn có bài

Hậu tự của Lê Trọng Thứ viết vào năm Cảnh Hưng 43(1782), Bùi Huy Bích viết lời

bạt năm Cảnh Hưng 42 (1781) Sách hiện do thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Hà Nội điển tàng, ký hiệu AC 30, 358 trang; AC 578, 316 trang

Tứ thư ước giải (四書約解),sách không phân quyển, chữ Hán và chữ Nôm

xen kẽ, do Lê Quý Đôn hiệu đính, bản khắc in năm Minh Mạng thứ 20 (1839) Nội dung sách chủ yếu là những diễn giải bằng chữ Nôm trên cơ sở nội dung của một số đoạn trích tuyển trong Tứ thư Sách hiện do thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội điển tàng, ký hiệu AB 270/1-5, 895 trang

Kiến văn tiểu lục (見聞小錄), bản chép tay chữ Hán, do Lê Quý Đôn biên

soạn năm Đinh Dậu (1777), tức năm thứ 38 niên hiệu Cảnh Hưng Nội dung sách là những ghi chép về chính trị, giáo hóa, tài đức, phẩm hạnh, lễ nghi, luật pháp, khoa mục, quan chế và một số thơ ca, từ, vãn, câu đối, bia, minh, Sách hiện do thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội điển tàng, ký hiệu A 32, 642 trang; VHv 1322/1-2, 426 trang Sách hiện có khá nhiều bản dịch Việt văn đã được xuất bản

Phủ biên tạp lục (撫邊雜錄), 6 quyển, bản chép tay chữ Hán, Lê Quý Đôn

soạn và viết tựa năm Lê Cảnh Hưng 37 (1776) Ngọ Phong Công Ngô Thì Sĩ viết bạt năm Lê Cảnh Hưng 38 (1777) Nội dung sách là những ghi chép về địa lí, lịch

sử, kinh tế, xã hội của xứ Thuận Hóa và Quảng Nam (rộng hơn địa phận tỉnh Quảng Nam ngày nay), cụ thể xoáy sâu vào các khía cạnh như: công việc mở mang hai xứ, các sông, núi, thành lũy, đường sá, cầu cống; các phủ, huyện, tổng, số đinh, các loại thuế ruộng, thuế mỏ, phong tục, thổ sản, nhân tài của hai xứ Sách hiện do thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội điển tàng, ký hiệu VHv 1371/1-2, trong đó quyển 1,2,3, 264 trang; quyển 4,5,6, 222 trang Sách hiện có khá nhiều bản dịch Việt văn đã được xuất bản

Dịch phu tùng thuyết (易膚叢說), 2 quyển, bản viết tay chữ Hán, Lê Quý

Đôn biên tập Nội dung sách bàn về nghĩa lý Dịch kinh, trong đó quyển một, giải thích Dịch kinh bằng các hình thức vấn đáp; quyển hai, sưu tập những chú giải của

Trang 32

tiên nho về Dịch kinh Sách hiện do thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội

điển tàng, ký hiệu AC 189, 238 trang; VHv 2652, 326 trang Vào ngày 01 tháng 05 năm 2011, Trung tâm xuất bản thuộc Đại học Quốc lập Đài Loan cho chỉnh lý xuất bản, nhưng không đề tên Lê Quý Đôn, chỉ ghi “tác giả khuyết danh”

Hình 1.4: Dịch phu tùng thuyết, bản do Đài Loan xuất bản

Quần thư khảo biện (群書考辨), 02 quyển, bản chép tay chữ Hán, do Lê

Quý Đôn soạn và đề tựa năm Đinh sửu (1757) Nội dung sách khảo cứu, bình luận các nhân vật, sự kiện trong sử sách Trung Quốc từ đời Hạ, Thương, Chu đến đời Tống Phần đầu sách còn có ba lời tựa của quan Đề đốc học chính tỉnh Quảng Tây

là Chu Bội Liên, quan Lễ bộ Viên ngoại lang triều Thanh là Tần Triều Vu và quan chánh sứ Triều Tiên là Hồng Khải Hy, cả ba lời tựa đều được viết vào năm Tân tỵ niên hiệu Càn Long (1761) Sách hiện còn ba bản chép tay, do thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội điển tàng, ký hiệu VHv 90/1-2, 351 trang, 30 cm x

18 cm; A 252, 334 trang, 32 cm x 22 cm và A 1872, 404 trang, 25 cm x 24 cm Sách đã được dịch ra Việt văn và xuất bản

Quế Đường thi tập (桂堂詩集), bản chép tay chữ Hán, Lê Quý Đôn soạn

Sách là tổng tập thơ mừng, tiễn tặng, họa đáp, vịnh cảnh của Lê Quý Đôn Sách hiện còn một bản chép tay, do thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội điển

Trang 33

tàng, ký hiệu A 576, 232 trang, 32,5 cm x 22,5 cm

Lê trí sĩ thi tập (黎致仕詩集), bản chép tay chữ Hán, Lê Quý Đôn soạn

Sách thu thập một số thi văn của Lê Quý Đôn sau khi về hưu, ngoài ra còn có câu đối, sắc phong của vua Lê chúa Trịnh; thi văn thù tạc ngâm vịnh của bạn bè, môn sinh cùng mộ chí, văn bia nơi mộ Lê Quý Đôn Trong sách này còn hàm chứa một

thi tập mang tên Ảm Chương công thi tập(黯章公詩集), nội dung chủ yếu gồm

những bài thơ ngâm vịnh, thù tạc của Lê Quý Đôn Sách hiện còn một bản chép tay,

do thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội điển tàng, ký hiệu VHv.1865

Quế Đường thi vựng tuyển toàn tập (桂堂詩彙選全集), bản chép tay chữ

Hán, Lê Quý Đôn soạn Nội dung sách là tổng tập thơ mừng, tiễn tặng, họa đáp, đề vịnh danh thắng, cổ tích,… của Lê Quý Đôn Sách hiện còn một bản chép tay, do thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội điển tàng, ký hiệu VHv 2341, 310

trang, 26 cm x 15 cm Ngoài ra sách còn được thu vào tùng thư Việt Nam Hán văn

Yên hành văn hiến tập thành (越南汉文燕行文献集成) do Đại học Phúc Đán

Trung Quốc kết hợp cùng Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội biên tập và xuất bản năm 2010

Thái Ất dị giản lục (太乙易簡錄), sách chép tay chữ Hán, Lê Quý Đôn soạn

năm 27 niên hiệu Cảnh Hưng (1766) Nội dung chủ yếu giới thiệu bốn phép bói cơ bản dựa vào hành độ và cung độ của sao Thái Ất, cụ thể: Tuế kế (tính năm), bói về chuyện họa phúc của quốc gia, vua quan: Nguyệt kế (tính tháng), bói về sự tài hèn của các bậc khanh tướng; Nhật kế (tính ngày), bói về họa phúc của nhân dân; Thời

kế (tính giờ), bói về việc tốt xấu trong quân ngũ Sách hiện còn ba bản chép tay, do thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội điển tàng, ký hiệu A 919, 228 trang (thiếu 42 trang ở giữa sách), 31 cm x 20 cm; VHv 284, 143 trang, 30 cm x 17 cm; VHv 365, 143 trang, 30 cm x18 cm Sách từng được học giả Việt Nam dịch và xuất bản

Toàn Việt thi lục (全越詩錄), 16 quyển, bản viết tay chữ Hán, do Lê Quý

Đôn tước Dĩnh Thành bá biên định, viết lời tựa và dâng lên vua Lê Hiển tông vào

Trang 34

năm Cảnh Hưng thứ 29 (1768) Sách tập hợp thơ chữ Hán Việt Nam thuộc các triều

Lý, Trần, Hồ, Lê, gồm 2303 bài của 173 tác giả (căn cứ theo bản A.3200/1-4), đề tài chủ yếu là đề vịnh phong cảnh, tiễn tặng, mừng viếng, họa đáp lẫn nhau, rất nhiều bài có kèm theo tiểu dẫn Sách hiện còn 11 bản chép tay, do thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội điển tàng, ký hiệu A 3200/1-4, 815 trang, 29,5 cm x 21 cm;

A 1262, 996 trang, 22 cm x 13 cm; cả hai đều đầy đủ 16 quyển

Vân Đài loại ngữ (雲薹類語), 9 quyển, bản viết tay chữ Hán, do Lê Quý

Đôn soạn và viết lời tựa vào năm 1773 Sách soạn theo hình thức loại thư (có tính

chất bách khoa), bao gồm 9 quyển, xếp theo thứ tự: Lý khí, Hình tượng, Khu vũ,

Điển vựng, Văn nghệ, Âm tự, Thư tịch, Sĩ quy, Phẩm vật Sách hiện còn 08 bản

chép tay, do thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội điển tàng, ký hiệu A 141,

688 trang, 30 cm x 22 cm; A.1338, 344 trang, 31 cm x 17 cm; VHv 1807/1-2, 618 trang, 29 cm x 18 cm; VHv 1168/1-2, 640 trang, 29 cm x 17 cm Sách đã được dịch

ra Việt văn và xuất bản Ngoài ra, vào ngày 01 tháng 05 năm 2011, Trung tâm xuất bản thuộc Đại học Quốc lập Đài Loan cho chỉnh lý xuất bản

Hình 1.5: Vân Đài loại ngữ, bản do Đài Loan xuất bản

Thư kinh diễn nghĩa (書經演義), bản viết tay chữ Hán, Lê Quý Đôn soạn

Trang 35

năm Lê Cảnh Hưng 33 (1772), Lý Trần Quán viết lời bạt năm thứ 39 niên hiệu Cảnh Hưng (1778) Nội dung sách chủ yếu là những dẫn giải, chú thích từng thiên,

từng đoạn, từng câu văn trong sách Thư kinh của Trung Quốc, kèm theo những bình

luận của tác giả đối với 58 thiên của sách Ở đây Lê Quý Đôn hoàn toàn không đặt trọng tâm vào những vấn đề vốn tồn tại giữa hai phái Kim văn và Cổ văn, mà hướng tới giải mã những hàm ý cùng những tư tưởng chính trị của kinh điển Sách hiện còn một bản chép tay, do thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội điển tàng, ký hiệu A 1251, 284 trang, 27 cm x 16 cm Vào ngày 01 tháng 05 năm 2011, Trung tâm xuất bản thuộc Đại học Quốc lập Đài Loan cho chỉnh lý xuất bản

Hình 1.6: Thư kinh diễn nghĩa, bản do Đài Loan xuất bản

Lê Quý Đôn gia lễ (黎貴惇家禮), bản chép tay chữ Hán kèm chữ Nôm, do

Lê Quý Đôn soạn và viết lời tựa Nội dung sách chủ yếu trình bày cách thức để tang cùng những nghi thức đám tang Sách hiện còn 02 bản chép tay, do thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội điển tàng, ký hiệu VHv 271 và MF 1649, cả hai đều

98 trang và cùng có khổ 26 cm x 15 cm Sách đã được dịch ra Việt văn và xuất bản

Lê triều công thần liệt truyện (黎朝功臣列傳), sách không phân quyển, bản

chữ Hán chép tay, do Lê Quý Đôn soạn Nội dung sách là tiểu sử của 19 vị khai quốc công thần triều Lê như: Lê Trạch, Lê Lai, Nguyễn Xí, Trần Nguyên Hãn,…

Trang 36

Ngoài ra còn phụ chép tiểu sử của vua Lê Thái tổ Sách hiện còn một bản chép tay,

do thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội điển tàng, ký hiệu VHv 1295, 102 trang, 26 cm x 15 cm

Đường Cao đô hộ Bột Hải Quận vương thi truyện

(唐高都護渤海郡王詩傳), bản chữ Hán chép tay, mục Kiến văn lục ghi là Dĩnh

Thành hầu Quế Đường tiên sinh Lê Quý Đôn soạn Nội dung sách chép sự tích viên quan đô hộ họ Cao, Bột Hải Quận vương, tức Cao Biền: Biền người Trung Quốc, được triều đình nhà Đường cử sang Việt Nam giữ chức Đô hộ sứ, từng dẹp giặc Nam Chiếu, tổ chức việc cai trị Sách còn phụ thêm một số lời bình của các sử gia Việt Nam như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, Ngô Thì Sĩ và một tập thơ gồm 23 bài của Cao Biền Sách hiện còn một bản chép tay, do thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Hà Nội điển tàng, ký hiệu A 817, 24 trang, 26 cm x 16 cm

Thần tích Bắc Ninh Từ Sơn Phù Lưu xã nội thôn

(神跡北寧慈山芙留社內村), bản chữ Hán chép tay, do Lê Quý Đôn soạn Nội dung chép sự tích vị phúc thần ở thôn Nội, làng Phù Lưu, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, ngài tên thật là Phạm Ngũ Đức, văn võ đều giỏi, đậu Tiến sĩ năm 26 tuổi, có công giúp vua Lê Hiển Tông (1740 – 1786) trấn áp cuộc nổi dậy của Quận He ở Hải Dương, được phong chức Thượng thư, tước Quận công Sách hiện còn một bản chép tay, do thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội điển tàng, ký hiệu A 762,

10 trang, 27 cm x 14 cm

Thánh mô hiền phạm (聖謨賢範), còn có tên gọi Thánh mô hiền phạm lục,

bản chữ Hán chép tay, do Lê Quý Đôn biên tập Nội dung sách chủ yếu gồm những câu cách ngôn rút từ các kinh điển của Nho gia, sắp xếp theo 12 môn loại khác nhau Tác giả tuy không thêm phần bình luận liền sau mỗi câu nhưng chủ trương tuyên truyền đạo “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của Nho gia thể hiện khá

rõ Sách hiện còn hai bản chép tay, do thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội điển tàng, ký hiệu A 846, 646 trang, 32 cm x 21 cm và VHv.275/1-4, 497 trang, 30

cm x 17 cm

Thanh Thận gia lễ đại toàn (清愼家禮大全), bản chữ Hán chép tay, do Lê

Trang 37

Quý Đôn biên tập Nội dung chép những lễ nghi thường dùng trong gia tộc, bao gồm các nghi thức chúc thọ, tế lễ, tang ma,… Sách hiện còn một bản chép tay, do thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội điển tàng, ký hiệu A 1064, 194 trang,

Tiêu Tương bách vịnh tập (潇湘八咏集), tập thơ chữ Hán làm trên đường đi

sứ Trung Quốc ngang qua tỉnh Hồ Nam của Lê Quý Đôn Tập thơ này vốn là một tập thơ riêng, gồm 100 bài thơ tuyệt cú, trong đó vịnh cảnh Vĩnh Châu 23 bài, Hành Dương 14 bài, Chu Châu 06 bài, Tương Đàm 13 bài, Trường Sa 36 bài và Nhạc Dương 08 bài Nội dung chủ yếu vịnh thắng cảnh trên đất Hồ Nam, tác phẩm được các học giả Trung Quốc đánh giá rất cao, từng được chánh sứ Triều Tiên là Trạng nguyên Hồng Khải Hy chính tay đề tựa, nhưng bản đơn này đã mất Gần đây học

giả Hồ Nam Trương Kinh Hoa lại rút chùm thơ vịnh Tiêu Tương từ Quế Đường thi

vựng tuyển toàn tập (桂堂詩彙選全集), sau đó tiến hành hiệu chú và công bố trên

tờ Hồ Nam khoa kỹ học viện học báo, kỳ 10 quyển số 32 năm 2011, tr.41-48

Lê triều thông sử (黎朝通史), sách còn có hai tên gọi khác là Đại Việt thông

sử và Tiền triều thông sử, thông tin liên quan đến tác phẩm này, chúng tôi sẽ tập

trung trình bày ở 02 chương sau

Ngoài trên 20 tên sách nêu trên, tác phẩm của Lê Quý Đôn còn được thu thập

trong rất nhiều sách, như Đăng khoa bi ký lục, A.2105; Dụ tế huân thần, A.547;

Quốc văn tùng ký, AB.383; Quốc âm thi, AB.179;… Ông còn tham gia biên tập và

phê bình trong các sách như Chu dịch, AC.367; Lịch khoa sách lược, VHv.1857;

Tạp sáo tân biên, VHv.2227;…

Trang 38

Quế Đường văn tập (桂堂文集), 03 quyển, học giả Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí mục Văn tịch chí viết: “Lê Quý Đôn soạn Ông học hỏi

rộng, hạ bút thành văn ngay; thi cách thanh cao sáng sủa, đáng ưa; văn chương hồn nhiên do thiên phú, không cần phải nghĩ ngợi tìm kiếm, mà có khí thế mạnh mẽ bao

la, kín đáo như dòng sông dài, không chốn nào không tới, thật là phong cách đại gia, không phải những kẻ chuyên an bài bố trí có thể sánh kịp.” [3, tr.149]

Danh thần lục (名臣录), học giả Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí mục Văn tịch chí viết: “Sách gồm 2 quyển, Lê Quý Đôn soạn; chép công

việc làm của danh thần các triều.” [3, tr.227]

Hoàng Việt văn hải (皇越文海), 10 quyển, học giả Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí mục Văn tịch chí viết: “Lê Quý Đôn biên tập, thâu

góp các bài trong sách Tiền sử cựu tập, hoặc Kim thạch di văn được làm ra từ thời

Lý Trần đến đời Tiền Lê Tất cả các bài chiếu, sách, phú, tụng, tự ký và tạp trứ đều được biên chép.” [3, tr.163]

Trí sĩ trướng văn tập (致仕帳文集), học giả Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí mục Văn tịch chí viết: “Sách gồm 04 quyển, Lê Quý Đôn tập,

chép những bài trướng của triều đình mừng các quan đại khoa về hưu, kể từ thời Trung Hưng trở về sau.” [3, tr.163]

Quốc triều tục biên (国朝续编), còn có tên gọi Quốc sử tục biên, 08 quyển,

học giả Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí mục Văn tịch chí viết:

Trang 39

“Lê Quý Đôn soạn, theo thể biên niên, từ Trang Tông về sau đến Gia Tông tất cả

144 năm, chép việc kỹ lưỡng, bổ sung cho những thiếu sót của sử cũ.” [3, tr.36]

Trong số những tên sách hiện còn và đã thất lạc nêu trên, nếu như học giả

Trần Văn Giáp chủ trương loại Danh thần lục và Dịch kinh phu thuyết ra khỏi danh

mục trước tác của Lê Quý Đôn; Trung tâm xuất bản thuộc Đại học Quốc lập Đài Loan vào ngày 01 tháng 05 năm 2011 khi xuất bản tác phẩm nói trên tại Đài Loan,

do chịu ảnh hưởng từ quan điểm của học giả Trần Văn Giáp, ở mục tác giả đã quyết định dùng hai chữ “dật danh” (khuyết danh), chứ không đề tên Lê Quý Đôn Theo quan điểm của cá nhân chúng tôi, có ba điều sau không phù hợp Thứ nhất, cùng với

Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú là một trong hai học giả đáng tin cậy nhất ở Việt Nam, đặc biệt ở khía cạnh văn bản học Thế nên, nếu nói Phan Huy Chú không cân nhắc

kỹ trước khi đặt bút ký lục, theo chúng tôi có lẽ hơi khó Thứ hai, ở phần lời tựa

thiên Văn tịch chí, Phan Huy Chú đã nêu rõ, những sách mà ông ghi chép thảy đều

đến từ hai nguồn, một là sách đã mất, tác giả qua “kê cứu sử cũ, tham khảo các nhà”, hai là chính mắt ông từng nhìn thấy, hoặc sách ấy hiện hữu trong kho sách của

gia đình ông Thứ ba, cứ cho Danh thần lục không đáng tin cậy như quan điểm của Trần Văn Giáp, nhưng Dịch kinh phu thuyết với những điều Phan Huy Chú ghi chép

và giới thiệu trong Lịch triều hiến chương loại chí mục Văn tịch chí thì không thể

nghi ngờ Khi giới thiệu sách ấy, Phan Huy Chú đã ghi rõ, “sách gồm 06 quyển, Bảng Nhãn Lê Quý Đôn soạn”, sau đó còn chép lại toàn bộ lời tựa của Lê Quý Đôn, trong lời tựa ấy có đoạn viết: “Tôi ngu hèn học kém, kính đọc lời nói của thánh nhân, nghiên cứu nghĩa truyện của họ Trình họ Chu, xét thêm lời chú thích của các tiên nho, có khi cảm xúc phát sinh ý tứ, đặt thêm lời nói mà chép làm sách, tất cả được 5 quyển, chỉ cốt để tu tỉnh tâm thân cho được ít lầm lỗi; còn như đem thi thố

ra sự nghiệp thì đâu dám nói đến Ôi! Sách không chép hết lời, lời không hết ý Vận dụng tinh thần mà hiểu rõ là ở mỗi người; lặng thinh mà nhận thức được, không nói

mà tin, là ở đức hạnh Các bậc sĩ quân tử học Kinh Dịch thì không những chỉ xem

tượng, gẫm lời, xem biến gẫm quẻ bói mà còn phải cẩn trọng đức hạnh để hiểu ngầm ý của thánh nhân ở ngoài lời sách mới được vậy.” [3, tr.42] Như vậy, vấn đề

Trang 40

theo chúng tôi là đã rõ

Ngoài ra, còn một lượng không nhỏ tác phẩm lâu nay vẫn được không ít học giả cho là của Lê Quý Đôn, nhưng nay phần vì văn bản đã thất truyền, phần vì độ tin cậy của những quan điểm ấy không cao, phần nhiều xuất phát từ những truyền thuyết dân gian, những truyện kể mang tính dã sử, nên ở đây chúng tôi tạm không xét những tác phẩm loại này, tạm theo cách xử trí của học giả Trần Văn Giáp quy chúng về loại tồn nghi Về danh mục các sách này, xin xem phần giới thiệu quan điểm của Trần Văn Giáp ở trên

Tóm lại, trải qua thời gian cùng rất nhiều nguyên nhân khác nhau, tác phẩm của Lê Quý Đôn chắc chắn đã thất lạc rất nhiều, nhưng chỉ với số lượng tác phẩm hiện còn, đủ cho thấy cống hiến to lớn của Lê Quý Đôn ở lĩnh vực trước thuật cũng như lĩnh vực văn hóa, khoa học kỹ thuật của nước nhà Từ đây có thể thấy những nhìn nhận, đánh giá của người đời sau về Lê Quý Đôn, như “xét thấy nước nhà trong khoảng một hai trăm năm trước đây chỉ có một người như phu tử”, “Lê Quý Đôn, nhà bác học lớn nhất Việt Nam dưới thời phong kiến”, “các tác phẩm của ông

là những công trình vĩ đại, có giá trị to lớn bậc nhất về lịch sử thiên văn, địa lý, chế

độ điền đất thuế khóa của Việt Nam dưới thời Lê – Trịnh” (Trích lời giới thiệu Lê

Quý Đôn toàn tập, quyển I, Nxb Khoa học Xã hội, HN-1978),…hoàn toàn không

phải là quá

Ngày đăng: 11/05/2021, 23:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Guy Bourdé – Hervé Martin, Người dịch: Phạm Quang Trung, Vũ Huy Phúc (2001), Các trường phái sử học, Viện Sử học Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các trường phái sử học
Tác giả: Guy Bourdé – Hervé Martin, Người dịch: Phạm Quang Trung, Vũ Huy Phúc
Năm: 2001
2. Bùi Hạnh Cẩn (1985), Lê Quý Đôn, Nxb. Văn Hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Quý Đôn
Tác giả: Bùi Hạnh Cẩn
Nhà XB: Nxb. Văn Hóa
Năm: 1985
3. Phan Huy Chú (1974), Nguyễn Thọ Dực dịch, Lịch triều hiến chương loại chí – Văn tịch chí, Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên (Chính quyền Sài Gòn cũ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí – Văn tịch chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Năm: 1974
4. Lê Quý Đôn (1978), Ngô Thế Long dịch, Đại Việt thông sử, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt thông sử
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1978
5. Lê Quý Đôn (1972), Tạ Quang Phát dịch, Vân Đài loại ngữ, Ủy ban dịch thuật Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vân Đài loại ngữ
Tác giả: Lê Quý Đôn
Năm: 1972
6. Lê Quý Đôn (1995), Trần Văn Quyền dịch, Quần thư khảo biện, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quần thư khảo biện
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1995
7. Trần Văn Giáp (1984), Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tập I, Nxb. Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm
Tác giả: Trần Văn Giáp
Nhà XB: Nxb. Văn hóa
Năm: 1984
8. Đinh Thị Minh Hằng (1996), Lê Quý Đôn trên tiến trình ý thức văn học dân tộc, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Quý Đôn trên tiến trình ý thức văn học dân tộc
Tác giả: Đinh Thị Minh Hằng
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1996
9. Hà Thúc Minh (1998), Lê Quý Đôn – Nhà tư tưởng Việt Nam thế kỷ XVIII, Nxb. Giáo Dục, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Quý Đôn – Nhà tư tưởng Việt Nam thế kỷ XVIII
Tác giả: Hà Thúc Minh
Nhà XB: Nxb. Giáo Dục
Năm: 1998
10. Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng (2001), Nhập môn sử học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn sử học
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2001
11. Trần Duy Phương (2000), Lê Quý Đôn - Cuộc đời và giai thoại, Nxb. Văn hóa Dân tộc, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Quý Đôn - Cuộc đời và giai thoại
Tác giả: Trần Duy Phương
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Dân tộc
Năm: 2000
12. Phạm Văn Rính,… biên tập (1995), Lê Quý Đôn, nhà thư viện, thư mục học Việt Nam thế kỷ 18, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội và Sở Văn hóa – Thông tin và Thể thao Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Quý Đôn, nhà thư viện, thư mục học Việt Nam thế kỷ 18
Tác giả: Phạm Văn Rính,… biên tập
Năm: 1995
13. Hà Văn Tấn (2007), Một số vấn đề lý luận sử học, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận sử học
Tác giả: Hà Văn Tấn
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia
Năm: 2007
14. Nguyễn Khắc Thuần (2007), Lê Quý Đôn tuyển tập – Đại Việt thông sử, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Quý Đôn tuyển tập" – "Đại Việt thông sử
Tác giả: Nguyễn Khắc Thuần
Nhà XB: Nxb. Giáo Dục
Năm: 2007
15. Phạm Quang Trung (1994), Văn chương với Lê Quý Đôn, Nxb. Giáo Dục, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn chương với Lê Quý Đôn
Tác giả: Phạm Quang Trung
Nhà XB: Nxb. Giáo Dục
Năm: 1994
16. Đinh Công Vĩ (1994), Phương pháp làm sử của Lê Quý Đôn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.A2. Bài báo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp làm sử của Lê Quý Đôn
Tác giả: Đinh Công Vĩ
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1994
17. Lê Phạm Tú Châu (1976), “Tinh thần thực tế và ý thức dân tộc của Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục”, Tạp chí Văn học, số 6, , tr. 114-122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh thần thực tế và ý thức dân tộc của Lê Quý Đôn trong "Kiến văn tiểu lục"”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Lê Phạm Tú Châu
Năm: 1976
18. Dương Bích Hồng (1994), “Lê Quý Đôn – Nhà thư mục học - người đặt nền tảng cho khoa học về sách đầu tiên ở Việt Nam”, Tập san Thư viện, số 1, tr.11- 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Quý Đôn – Nhà thư mục học - người đặt nền tảng cho khoa học về sách đầu tiên ở Việt Nam”, "Tập san Thư viện
Tác giả: Dương Bích Hồng
Năm: 1994
19. Cao Xuân Huy, “Lê Quý Đôn và học thuyết lý-khí”, Tạp chí Văn học, số 6, tr. 51-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Quý Đôn và học thuyết lý-khí”, "Tạp chí Văn học
20. Đỗ Huy (2004), “Lê Quý Đôn và tư tưởng đạo đức của ông”, Tạp chí Triết học, số 157, tr. 16-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Quý Đôn và tư tưởng đạo đức của ông”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Đỗ Huy
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w