1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ quận 9 tp hồ chí minh lãnh đạo thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục (1997 2010)

145 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 25,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan điểm xã hội hoá giáo dục của Đảng và Nhà nước được triển khai rộng khắp trong cả nước, góp phần từng bước xây dựng một xã hội học tập, toàn dân tham gia các hoạt động giáo dục, đưa

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Việt Hùng, đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Các thầy, cô giáo trong chuyên ngành Lịch sử Đảng, Ban chủ nhiệm khoa Lịch sử, Phòng tư liệu khoa Lịch sử…., đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi trong quá trình hoàn thành khoá học

Cảm ơn Đảng uỷ, UBND, Phòng Thống kê, Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận 9 đã giúp đỡ tư liệu để tôi có thể hoàn thành được luận văn

Cảm ơn sự động viên của các bạn trong khóa học và gia đình đã giúp tôi hoàn thành luận văn này

Xin cảm ơn!

TP Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 12 năm 2011

Tác giả

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các tư liệu, tài liệu và kết quả nêu ra trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan và có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hằng

Trang 5

Trang

Phần mở đầu 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2.Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Những đóng góp của đề tài 6

7 Bố cục kết cấu đề tài 7

Chương 1: Tổng quan về Quận 9 và một số vấn đề về xã hội hoá giáo dục 1.1 Vài nét về đặc điểm chung Quận 9 8

1.1.1 Điều kiện tự nhiên và lịch sử của Quận 9 8

1.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 11

1.1.3 Thực trạng phát triển giáo dục của Quận 9 16

1.2 Một số vấn đề về xã hội hoá giáo dục 18

1.2.1 Một số khái niệm liên quan đến công tác xã hội hội hoá giáo dục 18

1.2.2 Bản chất, nội dung và ý nghĩa của công tác xã hội hoá giáo dục 22

Chương 2: Quá trình lãnh đạo thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục của Đảng bộ Quận 9 (1997 - 2010) 2.1 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và chính sách của Nhà nước về công tác xã hội hoá giáo dục 29

2.2 Quan điểm của Đảng bộ và UBND TP Hồ Chí Minh về công tác xã hội hoá giáo dục 41

Trang 6

công tác xã hội hoá giáo dục từ năm 1997 – 2010 45

2.3.1 Chủ trương chính sách của Đảng bộ và UBND Quận 9 về công tác xã hội hoá giáo dục 45

2.3.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục ở Quận 9 từ năm 1997 – 2010 49

2.3.3 Một số thành tựu thực hiện công tác XHHGD Quận 9 – TP Hồ Chí Minh 61

Chương 3: Một số nhận xét, bài học kinh nghiệm về công tác xã hội hoá giáo dục tại Quận 9 – TP Hồ Chí Minh 3.1 Một số nhận xét chung về công tác xã hội hoá giáo dục 78

3.2 Bài học kinh nghiệm về chỉ đạo thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục Quận 9-TP Hồ Chí Minh 84

3.3 Một số kiến nghị và đề xuất giải pháp thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục tại quận 9 – TP Hồ Chí Minh 89

3.3.1 Một số vấn đề đặt ra cho công tác xã hội hoá giáo dục Quận 9– TP Hồ Chí Minh 89

3.3.2 Đề xuất một số giải pháp 90

Kết luận 95

Tài liệu tham khảo 98 Phụ lục

Trang 8

BGD&ĐT Bộ giáo dục và đào tạo

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Giáo dục và đào tạo là một vấn đề hết sức quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội của mỗi nước, là biểu hiện trình độ phát triển của một quốc gia, dân tộc Vì vậy, ngay từ khi giành được chính quyền, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” [24, tr.157] Do đó, Đảng và Nhà nước xác định giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam

Giáo dục luôn là vấn đề trung tâm của đời sống xã hội vì nó quyết định tương lai của mỗi người, là điều kiện cơ bản và là động lực quan trọng bậc nhất thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Ngày nay, chúng ta đang bước vào thời đại của công nghệ thông tin, toàn cầu hóa, đặc biệt kinh tế tri thức có vai trò càng quan trọng trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Trong bối cảnh đó, các vấn đề giáo dục, văn hóa và con người có vị trí nổi bật Các nước trên thế giới, kể cả những nước đang phát triển, đều coi giáo dục là nhân tố hàng đầu quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia

Kinh nghiệm ở các nước tiên tiến cho thấy để có thể phát triển “đi tắt, đón đầu” trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, phải có nhân tố con người Đó là những con người có tri thức, có năng lực, có trình độ khoa học

kỹ thuật để làm chủ được xã hội Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển của đất nước Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta phát triển theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, CNH – HĐH đất nước, nền kinh tế tri thức – công nghệ cao, khoa học dần trở thành lực lượng sản xuất chính Đảng và Nhà nước đã giành cho giáo dục sự quan tâm đặc biệt

để phát triển nguồn nhân lực phù hợp với nền kinh tế mới Công tác XHHGD được coi là một trong những nội dung quan trọng và là một nhu cầu khách quan trong quy luật phát triển xã hội, đồng thời là một chủ

Trang 10

trương lớn của Đảng và Nhà nước Cương lĩnh xây dựng đất nước trong

thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Đảng ta xác định: “Giáo dục

và đào tạo gắn liền với sự nghiệp phát triển kinh tế, phát triển khoa học kỹ thuật, xây dựng nền văn hoá mới và con người mới Nhà nước có chính sách toàn diện thực hiện giáo dục phổ cập phù hợp với yêu cầu và khả năng của nền kinh tế, phát triển năng khiếu, bồi dưỡng nhân tài Khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu” [4, tr.139] Quan điểm xã hội hoá giáo dục của Đảng và Nhà nước được triển khai rộng khắp trong cả nước, góp phần từng bước xây dựng một xã hội học tập, toàn dân tham gia các hoạt động giáo dục, đưa Việt Nam hội nhập với nền giáo dục tiến tiến trên thế giới

TP Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế, văn hóa – xã hội lớn của cả nước, có vai trò chính trị quan trọng sau thủ đô Hà Nội Vị trí chiến lược đã tạo cho thành phố Hồ Chí Minh một khả năng phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục ngang tầm với các nước trong khu vực Từ vai trò đó, TP Hồ Chí Minh đã đi đầu trong cả nước trên lĩnh vực xã hội hoá giáo dục Mọi địa phương tại TP Hồ Chí Minh đều tham gia tích cực vào công tác xã hội hoá giáo dục, trong đó có các quận vùng ven

Quận 9 là một quận ven của TP Hồ Chí Minh được thành lập năm

1997, đang trong quá trình phát triển Giáo dục đóng vai trò quan trọng nâng cao mặt bằng dân trí, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao nhằm

để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Đảng bộ và UBND Quận 9

đã xác định giáo dục là vấn đề trung tâm của đời sống xã hội và là mũi đột phá để phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Với tinh thần “tất cả vì tương lai con em chúng ta”, thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, Đảng bộ, Chính quyền và các tầng lớp nhân dân Quận 9 nỗ lực vượt lên khó khăn, đóng góp to lớn cho sự nghiệp xây dựng và phát triển giáo dục tại địa phương

Trang 11

Để thực hiện chiến lược ưu tiên đầu tư phát triển cho ngành giáo dục, Đảng bộ và UBND Quận 9 đã đề ra những giải pháp cải thiện thực tế ngành giáo dục của quận nhà, nơi có học sinh phần lớn là dân nhập cư, tình trạng

cơ sở vật chất phục vụ ngành giáo dục hết sức thiếu thốn, xuống cấp nghiêm trọng Đến nay, ngành giáo dục Quận 9 đã trở thành địa bàn có số lượng trường đạt chuẩn quốc gia nhiều nhất TP Hồ Chí Minh Thành quả này là công sức của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Quận 9, trong đó có

sự nỗ lực trực tiếp tập thể ngành giáo dục

Trên cơ sở những thay đổi to lớn, từ không đến có của ngành giáo dục

Quận 9, tác giả chọn đề tài “Đảng bộ Quận 9 – TP Hồ Chí Minh lãnh

đạo thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục (1997 - 2010)” để nghiên

cứu Qua đó, tìm hiểu rõ hơn về quá trình xã hội hoá giáo dục tại một quận vùng ven đang trong quá trình đô thị hoá Tác giả hy vọng góp phần thúc đẩy phát triển công tác xã hội hoá giáo dục để đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Giáo dục được coi là chìa khoá thành công đối với sự phát triển của quốc gia, nghiên cứu giáo dục là tiền đề quan trọng cung cấp những thông tin cho các cấp quản lý, từ đó Đảng và Nhà nước đề ra các chính sách phát triển giáo dục phù hợp với tình hình và bắt kịp với nền giáo dục tiến tiến thế giới

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam (1986), đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có giáo dục Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước chính là điều kiện thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển Trên cơ sở đó, các đề tài về giáo dục, đặc biệt là công tác xã hội hoá giáo dục được nghiên cứu, góp phần tìm hiểu và định hướng phát triển giáo dục nước ta Có thể kể đến một số công trình, nhà nghiên cứu với các tác phẩm sau:

Trang 12

- Phạm Minh Hạc (1996), Mười năm đổi mới giáo dục, Nxb Giáo

dục Hà Nội Trong công trình nghiên cứu này, tác giả phân tích chủ trương đổi mới giáo dục của Đảng và Nhà nước, đồng thời tác giả cũng đưa ra định hướng cho sự phát triển giáo dục của đất nước và những kinh nghiệm của các địa phương trong việc thực hiện xã hội hoá giáo dục

- Phạm Minh Hạc (1999), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế

kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Qua công trình nghiên cứu này, tác

giả đưa những nội dung đổi mới giáo dục theo yêu cầu phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

- Phạm Minh Hạc (chủ biên) 1997, Xã hội hoá công tác giáo dục, Nxb Giáo dục Hà Nội và Võ Tấn Quang (chủ biên) 2001, Xã hội hoá giáo dục,

Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Đây là hai công trình nghiên cứu ở góc độ lý luận, một bước hoàn thiện về nhận thức và hướng dẫn thực tiễn thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục

- Nguyễn Thế Long (2006), Đổi mới tư duy phát triển giáo dục Việt

Nam trong kinh tế thị trường, Nxb Lao động Tác giả nhấn mạnh đến sự đổi

mới tư duy trong tổ chức và quản lý giáo dục trong cơ chế thị trường và sự hội nhập quốc tế, phân tích những hạn chế trong công cuộc đổi mới giáo dục ở nước ta

- Sở Giáo dục – Đào tạo và Báo giáo dục TP Hồ Chí Minh (2005), 30

năm giáo dục và đào tạo TP Hồ Chí Minh (1975 - 2005), Nxb Tổng hợp

TP Hồ Chí Minh Đây là tập hợp báo cáo của Sở Giáo dục – đào tạo TP

Hồ Chí Minh, giới thiệu các hoạt động giáo dục của thành phố, các thành tích mà ngành đã đạt được trong 30 năm và những hạn chế cần khắc phục Đồng thời tài liệu này cũng đưa ra định hướng cho việc phát triển giáo dục trong tương lai Các hoạt động giáo dục ở các trường, quận – huyện thuộc thành phố được trình bày rất cô đọng, mang tính tổng hợp, không phản ánh được hết các hoạt động cơ sở

Trang 13

Ngoài ra, một loạt các tác phẩm văn kiện đại hội Đảng, Nhà nước, văn kiện đại hội Đảng bộ TP Hồ Chí Minh, các nghị quyết của Đảng bộ và UBND Quận 9 đề cập đến sự lãnh đạo, đường lối phát triển giáo dục và công tác xã hội hóa giáo dục qua từng giai đoạn

Các bài viết đăng trên tạp chí Nghiên cứu giáo dục, tạp chí Cộng sản, báo Giáo dục… bàn về vấn đề xã hội hoá giáo dục

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích nghiên cứu đề tài

- Làm sáng tỏ bản chất về xã hội hoá giáo dục trong điều kiện phát triển của TP Hồ Chí Minh nói chung và ở Quận 9 nói riêng Trên cơ sở đó thấy được vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Quận 9 trong việc thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục

- Tìm hiểu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ và UBND Quận 9 thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục trong những năm đầu thành lập quận, qua

đó thấy được thành tựu và khó khăn trong công tác phát triển giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của quận, góp phần khẳng định vai trò của công tác xã hội hoá giáo dục trong bối cảnh hiện nay

- Thông qua quá trình nghiên cứu đề tài xã hội hoá giáo dục của Quận

9, rút ra một số kinh nghiệm trong công tác xã hội hoá giáo dục tại địa phương, góp phần khẳng định vai trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ Quận

9 trong quá trình thực hiện công cuộc xã hội hoá giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Trình bày quan điểm của Đảng, Nhà nước và của Đảng bộ TP Hồ

Chí Minh về công tác xã hội hoá giáo dục trong thời kỳ đổi mới

- Trên cơ sở những quan điểm chiến lược của Đảng bộ và UBND TP

Hồ Chí Minh, Đảng bộ và UBND Quận 9 đã chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục Qua đó thấy được những kết quả đạt được và

Trang 14

những hạn chế trong công tác xã hội hoá giáo dục trong những thời kỳ đổi mới, đồng thời đưa ra một số giải pháp cụ thể để hoàn thiện công tác xã hội hoá giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội và sự phát triển kinh tế của quận

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu chủ trương, chính sách,

quá trình chỉ đạo và thực hiện của Đảng bộ, chính quyền và các cơ quan chức năng Quận 9 trong việc vận dụng chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và Đảng bộ - UBND TP Hồ Chí Minh trong việc phát triển phong trào xã hội hoá giáo dục, kết quả và ý nghĩa của phong trào này đối với sự nghiệp giáo dục và nhu cầu phát triển kinh tế của Quận 9

Phạm vị nghiên cứu:

Thời gian nghiên cứu của đề tài về công tác xã hội hoá giáo dục Quận

9 từ khi có quyết định thành lập Quận 9 (1997) đến năm 2010

Không gian nghiên cứu của đề tài là phong trào xã hội hoá giáo dục

tại Quận 9 – TP Hồ Chí Minh ở các cấp học mầm non, tiểu học và trung học phổ thông

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

Phương pháp nghiên cứu

Dựa vào cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu, điền dã…

Nguồn tài liệu nghiên cứu

- Các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam, các văn bản của Nhà nước Nhà nước và các nghị quyết của Đảng bộ TP Hồ Chí Minh…

- Các tài liệu nghiên cứu về giáo dục, xã hội giáo dục của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước

Trang 15

- Các tài liệu về giáo dục, xã hội hoá giáo dục của TP Hồ Chí Minh nói chung và Quận 9 nói riêng

- Các tài liệu thu được qua những đợt khảo sát thực tế tại Quận 9

6 Những đóng góp của đề tài

- Đề tài nghiên cứu khái quát lại toàn cảnh bức tranh xã hội hoá giáo

dục ở Quận 9 từ năm 1997 đến 2010 Trên cơ sở đó cung cấp một số thông tin cần thiết cho các cấp quản lý có thẩm quyền, đặc biệt là ngành giáo dục

để có những chính sách giải quyết vấn đề phát triển giáo dục

- Đúc rút kinh nghiệm, đưa ra những kiến nghị để phát triển công tác

xã hội hoá giáo dục của quận, giúp cho Đảng bộ Quận 9 có những quyết sách đúng đắn, giải pháp phù hợp từng bước đưa ngành giáo dục quận phát triển vững chắc Đồng thời đưa ra những định hướng về công tác xã hội hoá giáo dục cho những năm tiếp theo

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUẬN 9 VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC

1.1 Vài nét về đặc điểm chung Quận 9

1.1.1 Điều kiện tự nhiên và lịch sử của Quận 9

Quận 9 nằm về hướng Đông của TP Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố 7km theo đường Hà Nội, diện tích tự nhiên là 11.362ha Phía Đông giáp huyện Nhơn Trạch và huyện Long Thành (Đồng Nai); phía Tây giáp quận Thủ Đức; phía Nam giáp Quận 2 và sông Đồng Nai; phía Bắc giáp TP Biên Hòa (Đồng Nai)

Về địa hình: Quận 9 nằm trong vùng chuyển tiếp giữa Đông Nam

Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, thấp dần từ Bắc xuống Nam Địa hình của Quận 9 có hai dạng chính:

 Địa hình bóc mòn, cấu tạo chủ yếu bởi các phun trào Jura muộn – Kreta, được đặc trưng bởi dạng bát úp đỉnh tròn, sườn thoải, độ cao từ 20 đến 25m, phân bố ở khu vực Long Bửu

 Địa hình đồng bằng thềm bậc III, cấu tạo bởi trầm tích pleistocene gồm cuội sỏi, cát sét và tầng trên cùng là tầng đất xám, với địa hình dạng sóng có độ cao 25m Bên cạnh vùng đất cao, địa hình quận 9 còn có vùng đất trũng như vùng bưng

6 xã có độ cao 1m đến 2m

Ngoài ra, Quận 9 có hệ thống kênh rạch dày đặc như sông Đồng Nai, sông Tắc, hệ thống Rạch Chiếc – Trao Trảo, rạch Bà Cua – Ông Cày, thuận lợi phát triển giao thông đường thuỷ và phát triển nông nghiệp

Về khí hậu: TP Hồ Chí Minh nói chung và Quận 9 nói riêng mang

đặc trưng chung của khí hậu phía Nam, có hai mùa: mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4, những tháng còn lại là mùa mưa Với độ cao trung bình từ 1 –

Trang 17

25m, lượng nhiệt trung bình là 370C, lượng mưa trung bình hàng năm từ

1800 – 1900mm

Về lịch sử: địa bàn Nam Bộ vào đầu kỷ nguyên là vùng đất hoang

rừng rậm và sình lầy, thú rừng sống thành từng đàn, dân cư thưa thớt, cư trú trên vùng cao chuyên các nghề nương rẫy, chăn nuôi và săn bắt

Từ năm 1623, với ý đồ mở bờ cõi có thêm đất đai cho dân chúng sinh sống, các chúa Nguyễn đã dùng tài ngoại giao khôn khéo, tạo mối thiện cảm đối với Chân Lạp, để đưa dân cư từ vùng Thuận Quảng vào lập nghiệp Đến năm 1698, số dân toàn vùng đã lên đến hơn 40 vạn hộ, với ruộng đất khai phá rộng lớn, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào đây kinh lý, lấy đất Đồng Nai lập ra phủ Gia Định, lấy đất Đông Phố lập huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, đất Sài Gòn lập huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, đặt quan chức cai trị hành chính, quân lính trông coi về quốc phòng

Khi thực dân Pháp chiếm được sáu tỉnh Nam Kì, Pháp tiến hành thiết lập bộ máy cai trị để quản lý, theo đó tỉnh Gia Định được chia làm 4 quận: Thủ Đức, Hóc Môn, Gò Vấp và Nhà Bè1

Sau Hiệp định Genève được kí kết, tại Miền Nam chính quyền Sài Gòn bắt đầu thực hiện việc sắp xếp lại các đơn vị hành chính Theo đó, hai tổng An Thủy và Long Vĩnh Hạ của huyện Thủ Đức được tách ra hợp với tổng Chánh Mỹ Thượng của quận Châu Thành, Biên Hòa lập thành quận mới Dĩ An thuộc tỉnh Biên Hòa Ngày 10.10.1965, tổng Long Vĩnh Hạ được tách khỏi quận Dĩ An, nhập trở lại quận Thủ Đức Năm 1965, quận Thủ Đức có 15 xã là An Khánh, An Phú, Bình Trưng, Hiệp Bình, Linh Đông, Linh Xuân, Long Bình, Long Phước, Long Thạnh Mỹ, Long Trường, Phú Hữu, Phước Long, Tam Bình, Tăng Nhơn Phú và Thạnh Mỹ Lợi

1

Quận Thủ Đức gồm có 5 tổng và 19 xã

Trang 18

Năm 1967, xã An Khánh được tách khỏi quận Thủ Đức, nhập vào thành phố Sài Gòn và Quận 9 được thành lập với hai phường là An Khánh

và Thủ Thiêm Năm 1972, trên địa bàn Thủ Đức lập thêm xã mới Phước Bình Sau ngày 30.4.1975, chính quyền cách mạng sắp xếp lại các đơn vị hành chính trong thành phố, quận Thủ Đức được gọi là huyện ngoại thành Một số xã quá rộng được chia ra làm các xã mới, Quận 9 bị giải thể Hai phường An Khánh và Thủ Thiêm được sáp nhập vào huyện Thủ Đức, đưa tổng số đơn vị hành chính của huyện lên 23 gồm Thị trấn Thủ Đức và 22 xã

là An Khánh, An Phú, Bình Trưng, Hiệp Bình Chánh, hiệp Bình Phước, Hiệp Phước, Linh Đông, Linh Trung, Linh Xuân, Long Bình, Long Phước, Long Thạnh Mỹ, Long Trường, Phước Bình, Phú Hữu, Phước Long, Tam Bình, Tăng Nhơn Phú, Thạnh Mỹ Lợi, Thủ Thiêm, Tam Phú, Tân Phú [18, tr.11 -14]

Nghị định số 03-CP ngày 06/01/1997 của Thủ tướng Chính phủ, thành lập Quận 9 trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số các xã Long Bình, Long Thạnh Mỹ, Long Phước, Long Trường, Phú Hữu, Phước Bình, Tăng Nhơn Phú, cộng thêm 484 ha diện tích tự nhiên và 15.794 nhân khẩu trích

từ xã Tân Phú, 891 ha diện tích tự nhiên và 16.868 nhân khẩu trích từ xã Phước Long, 172 ha diện tích tự nhiên và 13.493 nhân khẩu được trích từ

xã Hiệp Phú, 140 ha diện tích tự nhiên của xã Bình Trưng Tổng số diện tích tự nhiên và dân số trên được chia làm 13 phường với tên gọi như sau:

Trang 19

Với vị trí là cửa ngõ Đông Bắc TP Hồ Chí Minh, có hệ thống giao thông tuyến quốc gia đi qua như xa lộ Hà Nội, tuyến giao thông xa lộ vành đai ngoài nối khu công nghiệp Nhơn Trạch – Đồng Nai, xa lộ vành đai trong nối khu công nghiệp Cát Lái – Quận 2, đường cao tốc TP Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây nối cảng sân bay quốc tế… thuận lợi cho

sự phát triển kinh tế, xã hội của Quận

Kinh tế của Quận phát triển nhanh, ổn định và toàn diện Quy mô kinh tế được mở rộng, năng lực sản xuất và kinh doanh ngày càng khởi sắc

2

Theo quyết định số 1196/QĐ-UB-NC của UBND TP Hồ Chí Minh, huyện Thủ Đức được tách ra để thành lập ba quận mới là Quận 9, Quận Thủ Đức và Quận 2

Trang 20

Quận 9 được thành phố triển khai nhiều dự án đầu tư như khu công nghệ cao SHTP, khu công nghiệp Phú Hữu, khu công nghiệp Long Sơn và một

số khu di tích lịch sử văn hoá (khu du lịch Suối Tiên, khu công viên lịch sử văn hoá dân tộc) Từ năm 1997, thực hiện chủ trương đô thị hóa các quận huyện ven, Quận 9 đã nhanh chóng đẩy mạnh tốc độ xây dựng, phát triển

cơ sở hạ tầng kỹ thuật, một số khu dân cư mới tập trung được hình thành: Khu dân cư Nam Long, Kiến Á, Gia Hoà (phường Phước Long B); khu đô thị mới Đông Tăng Long, khu trung tâm hành chính Quận (phường Trường Thạnh); khu dân cư Phú Nhuận, khu Đại học Quốc gia (phường Phú Hữu)…

Cơ cấu kinh tế theo ngành đã có sự chuyển dịch theo hướng “thương

mại – dịch vụ - du lịch – công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – nông nghiệp”, với sự tăng nhanh về tỷ trọng của nhóm ngành công nghiệp – dịch

vụ và giảm dần tỷ trọng các ngành nông – lâm – ngư nghiệp

Về sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp: trên địa bàn có 1059

cơ sở sản xuất đang hoạt động, đa số là các cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh Giá trị tổng sản lượng tăng bình quân hàng năm 26,22% (2005 -2010)

Về thương mại – dịch vụ: cuối năm 2008, toàn quận có 5.147 hộ đăng kí kinh doanh hoạt động, doanh thu thương mại tăng trưởng nhanh, bình quân hàng năm đạt 30,14%, chiếm 94,43% doanh thu cơ cấu ngành

Về sản xuất nông nghiệp: trong giai đoạn 2000 – 2004, giá trị sản xuất nông nghiệp giảm 4,77% Năm 2005, Quận 9 có sự thay đổi về mục đích sử dụng đất đai, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp Tuy nhiên, ngành nông nghiệp của quận đã chuyển dịch phát triển theo chiều sâu, áp dụng khoa học sản xuất, nên giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn tăng Tốc độ tăng bình quân hàng năm của ngành nông nghiệp là 0,22%

Trang 21

Tổng số vốn đầu tư trên địa bàn quận năm 2005 là 493,9 tỷ đồng, trong đó, vốn đầu tư cho giao thông hạ tầng 40,6%, giáo dục là 37%, y tế 8,84%, văn hoá – thể thao 9,5%, các đầu tư khác là 4,06%

Bảng 1.1 Giá trị sản xuất chia theo khu vực kinh tế trên địa bàn

Quận 9 giai đoạn 2005 – 2010

Đơn vị: %

bình quân hàng năm

Nguồn: Phòng Thống kê Quận 9

Về dân cư và chất lượng nguồn nhân lực, là một quận mới được thành lập, dân cư chủ yếu là người Việt Tính đến thời điểm 01/4/2010 dân

số toàn quận có 269.150 người, trong đó tỉ lệ dân nhập cư chiếm 39,3%; mật độ dân số 2.237 người/km2 Số người trong độ tuổi lao động có xu hướng tăng từ 130.432 người năm 2003 lên 186.503 người năm 2008, trong

đó số dân nhập cư chiếm 85% số người trong độ tuổi lao động Điều này thể hiện Quận 9 có một nguồn nhân lực dồi dào, là một lợi thế trong việc phát triển kinh tế - xã hội của Quận

Sự thay đổi về cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ cho phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của TP Hồ Chí Minh, dẫn đến sự thay đổi cơ cấu lao động Nguồn lao động của Quận có sự chuyển dịch rõ nét, số người làm việc trên lĩnh vực nông nghiệp có xu hướng giảm từ 7.766 người năm 2001 xuống còn

Trang 22

6.279 người năm 2005 Số lao động trong ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và xây dựng có sự gia tăng đột biến, từ 28.158 người năm

2001 lên 41.964 người năm 2004 và tăng mạnh năm 2005 với 54.275 lao động Trên lĩnh vực thương mại – dịch vụ, số người lao động tăng dần qua các năm, từ 34.854 người năm 2001 thì năm 2005 là 45.868 người

Bảng 1.2 Dân số trong độ tuổi lao động của Quận 9 qua các năm

Năm

Nguồn: Phòng Thống kê Quận 9

Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động so với tổng dân số của Quận là khá cao, tuy nhiên có sự biến động Năm 2001, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động là 69,19% trong tổng số dân; năm 2004 tăng đột ngột lên 77,54% và năm 2008 chiếm 81,87% trên tổng số dân Sự gia tăng này là do dân nhập

số người có bằng cấp cao đẳng, đại học và trên đại học là 5,84% Tỷ lệ này

Trang 23

thấp hơn nhiều so với TP Hồ Chí Minh, số lao động có bằng cấp là 16,63%, trong đó số người có bằng cao đẳng, đại học và trên đại học là 8,68% Sự chênh lệch về trình độ trong cơ cấu lao động ở Quận 9 là một thách thức lớn đối với các cấp chính quyền địa phương, của ngành giáo dục trong việc đào tạo, giải quyết việc làm theo nhu cầu của xã hội và sự phát triển kinh tế

Bảng 1.3 Dân số từ 13 tuổi trở lên đang làm việc chia theo trình độ chuyên

môn của Quận 9 so với TP Hồ Chí Minh năm 1999

Nguồn: Phòng Thống kê Quận 9

Biểu đồ: Trình độ chuyên môn của dân số 13 tuổi trở lên đang làm việc

giữa Quận 9 và TP Hồ Chí Minh

Không bằng cấp

Quận 9

TP Hồ Chí Minh

%

Trang 24

Về y tế: trên địa bàn quận đã xây dựng được một bệnh viện và các

trạm y tế phường, được đầu tư trang thiết bị máy móc, thuốc men khá đầy

đủ, đã khám chữa bệnh cho 754.000 bệnh nhân, thực hiện khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi, tiêm các loại văcxin cho trẻ em Tất cả các trạm y tế phường đều có bác sỹ, y sỹ đảm trách công tác chuyên môn

Về văn hoá - thông tin: trong quận có 29.300 hộ được công nhận là

gia đình chuẩn văn hoá, 30 khu phố văn hoá, 1 phường văn hoá và 4 đơn vị công sở đạt chuẩn văn minh – sạch đẹp – an toàn cấp thành phố Trên địa bàn quận có một thư viện đáp ứng yêu cầu đọc sách, giải trí của người dân; ngoài ra ở các phường hình thành các điểm đọc sách công cộng để người dân có cơ hội tiếp cận thông tin Các phương tiện thông tin đại chúng, như phát thanh, truyền hình, internet… từng bước được nâng cấp và đầu tư hiện đại giúp nhân dân nâng cao dân trí và tiến bộ xã hội

Sự đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế làm cho đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện và ngày càng phát triển Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của Quận 9 vẫn còn nhiều hạn chế Kết cấu hạ tầng còn nhiều yếu kém so với yêu cầu phát triển, chưa phát huy hết tiềm năng về vị trí, tài nguyên, nguồn nhân lực của quận, đời sống nhân dân vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn Các vấn đề của xã hội vẫn còn khá gay gắt như việc làm, các tệ nạn xã hội, những bất ổn về an ninh chính trị… Áp lực dân số, tỷ lệ tăng dân số cơ học tăng cao do tình trạng dân nhập cư tự do và dân ở các nơi bị bị giải tỏa di dời về đây là gánh nặng đối với chính quyền, với nền kinh tế - xã hội của quận , những khó khăn này đã có tác động không nhỏ đến sự nghiệp giáo dục đào tạo của quận nhà

1.1.3 Thực trạng phát triển giáo dục của Quận 9

Năm 1997, khi mới thành lập quận, cơ sở vật chất trường học còn rất khó khăn, thiếu thốn Toàn quận có 3 trường phổ thông cơ sở, 10 trường

Trang 25

mầm non, 9 trường tiểu học, 1 trường cấp II - III với 20.775 học sinh, chưa

có trường PTTH, học sinh cấp III còn phải chuyển qua Quận Thủ Đức để học Toàn quận có 391 phòng học mà hầu hết là phòng bán kiên cố, phòng học tạm bợ và đã xuống cấp nghiêm trọng, một số phường không có trường học, học sinh phải qua phường khác để học tập… Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng học ba ca trên địa bàn quận, ở một vài phường còn diễn ra trong nhiều năm liền, không dễ khắc phục một sớm một chiều Hệ thống, loại hình trường lớp còn đơn điệu, chủ yếu là trường phổ thông cơ sở Ở một quận có nhiều học sinh ở khu vực sản xuất nông nghiệp là chủ yếu nhưng chưa có trường phổ thông tư thục dân lập Đội ngũ giáo vừa yếu lại vừa thiếu (mới có hơn 684 người), lại được đào tạo ở nhiều hệ và phần đông từ các quận trong thành phố đến công tác gây khó khăn trong công tác giảng dạy theo chương trình giáo dục mới …

Bảng 1.4 Quy mô học sinh Quận 9 từ 1997 đến 2000

HS

Nguồn: Phòng Thống kê Quận 9

Thực tiễn cuộc sống luôn đòi hỏi ngành giáo dục không những đáp ứng cơ sở vật chất trường học ngày càng hoàn thiện hơn mà còn phải không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân địa phương trong công cuộc công nghiệp

Trang 26

hóa – hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế thế giới Quận 9 còn là một quận nghèo, đời sống nhân dân vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn Áp lực dân số, nhất là dân số tăng cơ học do tình trạng dân nhập cư tự do và dân ở các nơi bị bị giải tỏa di dời, nên khó có thể nắm bắt được trình độ học vấn của người dân Điều này đã tác động không nhỏ đến sự nghiệp giáo dục của quận nhà

Tình hình Giáo dục quận còn một số mặt hạn chế như hiệu quả đào tạo thấp, chất lượng học sinh ở vùng sâu chưa cao, tình trạng bỏ học của học sinh THCS còn nhiều Bên cạnh đó, một bộ phận cán bộ quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ, một bộ phận giáo viên chưa theo kịp được yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông Cơ sở vật chất của nhiều trường mầm non chưa đáp ứng được yêu cầu giảng dạy Nhiều trường Tiểu học, THCS còn thiếu trang thiết bị, phòng chức năng … Một số trường đã xây dựng từ lâu nên thiết kế không còn phù hợp và đang xuống cấp nhanh

Nhằm khắc phục khó khăn của ngành giáo dục, Đảng bộ Quận 9 đã chỉ đạo các ban ngành có liên quan, phối hợp và đầu tư có hiệu quả để phát triển sự nghiệp giáo dục trên địa bàn, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của quận và nhu cầu học tập của người dân Chú trọng thực hiện tốt công tác XHHGD, huy động mọi nguồn lực đầu tư, tham gia phát triển giáo dục

1.2 Một số vấn đề về xã hội hoá giáo dục

1.2.1 Một số khái niệm liên quan đến công tác xã hội hội hoá giáo dục

Xã hội hoá là một thuật ngữ khoa học của nhiều ngành khoa học khác nhau như giáo dục học, tâm lý học, xã hội học… Tuỳ từng ngành cụ thể mà xã hội hoá được hiểu theo những khái niệm và nội dung khác nhau

Theo PGS Võ Tấn Quang, xã hội hoá tức là làm cho nó mang bản

chất xã hội Nội hàm của khái niệm xã hội hoá nhấn mạnh hai mặt:

- Làm cho xã hội có được nội dung của sự vật hiện tượng đó

- Làm cho sự vật hiện tượng đó trở thành của chung của xã hội

Trang 27

Theo Nguyễn Khắc Viện thì “xã hội hoá là một quá trình tương tác

giữa cá nhân và xã hội, trong đó cá nhân học hỏi và thực hành những tri thức cần thiết để hội nhập với xã hội” [69, tr.311]

Trong Từ điển Xã hội học do Thanh Lê biên soạn thì Xã hội hoá

được định nghĩa như một quá trình, trong đó cá nhân con người học hỏi và biến thành của mình những yếu tố xã hội – văn hoá của môi trường của mình, thu nhận chúng vào cơ cấu nhân cách của mình dưới ảnh hưởng của những kinh nghiệm và những tác nhân xã hội quan trọng, do đó mà thích nghi với môi trường xã hội mà mình phải sống ở đó 3

Với chức năng là hình thành và phát triển nhân cách con người, nên

có nhiều ý kiến khác nhau về thước đo về xã hội hoá giáo dục Công cuộc đổi mới của đất nước từ năm 1986, với chủ trương khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã tiến hành huy động tiềm lực của toàn xã hội tham gia vào công tác giáo dục Thuật ngữ “xã hội hoá ” bắt đầu xuất hiện trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước

Trong báo cáo chính trị của Đại hội đại biểu toàn quốc lần VIII của

Đảng cộng sản Việt Nam, đã nhấn mạnh: “các vấn đề chính sách xã hội

đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong

xã hội, các cá nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội” [5, tr.114] Như vậy, xã hội hoá đã trở thành quan

điểm hoạch định các chính sách xã hội trong sự nghiệp CNH – HĐH đất nước

Từ sau Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII,

xã hội hóa giáo dục là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam Theo định nghĩa tại Văn kiện hội nghị lần 4 Ban chấp hành trung ương khóa VII,

xã hội hóa giáo dục là “Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các

3

Thanh Lê, Từ điển Xã hội học, Nxb Khoa học xã hội, tr.356

Trang 28

tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản

lý của Nhà nước” Công tác XHHGD là một tư tưởng chiến lược, coi sức

mạnh tổng hợp của toàn dân, của xã hội tham gia vào công tác giáo dục, là điều kiện để phát triển nền giáo dục toàn diện có hiệu quả cao, nhằm tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế của đất nước

Thực hiện XHHGD tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội tiếp cận với giáo dục, lựa chọn các hình thức giáo dục phù hợp với hoàn cảnh sống của mình Trình độ học vấn của người dân được tính theo số năm đến trường nhất định, vì vậy các thành viên trong xã hội phải có nghĩa vụ, trách nhiệm xây dựng và phát triển nền giáo dục quốc dân

Theo nghị quyết số 90/CP, ngày 21/08/1997 của Chính phủ về

phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa:

“Xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá là vận động và tổ

chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục, y

tế, văn hoá và sự phát triển về thể chất và tinh thần của nhân dân Xã hội hoá là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá Ở mỗi địa phương, đây là cộng đồng trách nhiệm của Đảng bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, các

cơ quan nhà nước, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp đóng tại địa phương và của từng người dân” [31]

Như vậy, nghị quyết số 90/CP năm 1997 đã xác định khái niệm XHHGD như sau:

 XHHGD là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển sự nghiệp giáo dục;

 XHHGD xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân và đảng bộ, các cơ quan nhà nước, các đoàn thể quần chúng, các

Trang 29

tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp đóng tại địa phương và của từng người dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế xã hội lành mạnh thuận lợi cho hoạt động giáo dục;

 XHHGD là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội; phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực này

Về nội dung hoạt động: xã hội hoá là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội Phát huy và

sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn là chính sách lâu dài, là phương châm thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, không phải là biện pháp tạm thời, chỉ có ý nghĩa tình thế trước mắt do Nhà nước thiếu kinh phí cho các hoạt động này Khi nhân dân ta có mức thu nhập cao, ngân sách nhà nước dồi dào vẫn phải thực hiện xã hội hoá, bởi vì giáo dục, y tế, văn hoá là sự nghiệp lâu dài của nhân dân, sẽ phát triển không ngừng với nguồn lực to lớn của toàn dân

[31]

Về hình thức hoạt động: Xã hội hoá và đa dạng hoá các hình thức hoạt

động giáo dục, y tế, văn hoá có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Bên cạnh việc củng cố các tổ chức của Nhà nước, cần phát triển rộng rãi các hình thức hoạt động do các tập thể hoặc các cá nhân tiến hành trong khuôn khổ chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Đa dạng hoá chính là mở rộng các cơ hội cho các tầng lớp nhân dân tham gia chủ động và bình đẳng vào các hoạt động trên [31]

Để hiểu rõ hơn về khái niệm XHHGD, một số nhà nghiên cứu đã căn

cứ vào Nghị quyết 90/CP của Chính phủ để xác định khái niệm và nội dung của XHHGD

Trang 30

Trong tác phẩm Xã hội hoá giáo dục do Phạm Minh Hạc chủ biên năm

1997 đã khẳng định: “Xã hội hoá công tác giáo dục là một tư tưởng chiến lược của một bộ phận đường lối giáo dục, một con đường phát triển giáo dục của nước ta” [53, tr.16] Điều này đã được ông khẳng định thêm “sự nghiệp giáo dục không phải chỉ là của nhà nước mà là của toàn xã hội, mọi người cùng làm giáo dục, Nhà nước và xã hội, trung ương và địa phương cùng làm giáo dục, tạo nên một cao trào giáo dục trong toàn dân” [54,

tr.330] Theo giáo sư Phạm Minh Hạc cần hiểu khái niệm XHHGD theo nội hàm sau:

- Trước hết làm cho xã hội nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò, thực trạng giáo dục địa phương, nhận thức rõ trách nhiệm của xã hội đối với giáo dục

- Làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã hội phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương

- XHHGD là tạo ra nhiều nguồn lực để làm cho giáo dục mở ra một con đường ở trong nhà trường phá thế đơn độc của nhà trường, thực hiện việc kết hợp của nhà trường và ngoài nhà trường, kết hợp các lực lượng giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội, tạo ra môi trường giáo dục thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục

Như vậy, XHHGD là cuộc vận động lớn trong xã hội có sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và vai trò nòng cốt của ngành giáo dục Khi triển khai công tác XHHGD cần phải hiểu rõ khái niệm, bản chất và nội dung của nó; đồng thời phải đề cao dân chủ hoá giáo dục và đa dạng hoá giáo dục với tư cách là giải pháp, là động lực thúc đẩy XHHGD

1.2.2 Bản chất, nội dung và ý nghĩa của công tác xã hội hoá giáo dục

Về bản chất của XHHGD

Xã hội học tập là một xã hội, trong đó, mọi người dân đều có nhu cầu và nghĩa vụ học tập, được tạo cơ hội và điều kiện học tập Nhà nước

Trang 31

đảm bảo cho ai cũng được học hành, học thường xuyên, học suốt đời, trong

đó ý thức tự học, học một cách tự giác là yếu tố quyết định nhất

Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về XHHGD, trong đó có quan điểm cho rằng: XHHGD là huy động sự đóng góp bằng tiền của dân vào sự nghiệp giáo dục để giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước Điều này đã khiến cho nhiều cuộc vận động góp sức cho sự nghiệp giáo dục đã bị lệch hướng Vì vậy, cần phải hiểu đúng về bản chất và nội dung của công tác XHHGD

Nghị quyết số 04/NQ-HNTW của Ban chấp hành Trung ương Đảng

cộng sản Việt Nam khoá VII, ngày 14/1/1993 về Tiếp tục đổi mới sự

nghiệp giáo dục và đào tạo với nội dung là đa dạng hoá hình thức đào tạo, thực hiện công bằng trong giáo dục, Nhà nước có chính sách bảo đảm cho người nghèo và các đối tượng chính sách đều được đi học Nghị quyết số

04/NQ-HNTW đã xác định bản chất XHHGD, huy động toàn xã hội làm

giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước; Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, mọi gia đình và mọi người cùng ngành giáo dục và đào tạo chăm lo xây dựng sự nghiệp giáo dục theo phương châm

“nhà nước và nhân dân cùng làm”, xây dựng môi trường giáo dục Nhà trường – gia đình và xã hội [2, tr.61]

Việc huy động toàn xã hội làm giáo dục, khuyến khích nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước không phải là một khái niệm mới Nguyên lý giáo dục của chế độ xã hội chủ nghĩa được vận dụng vào nước ta trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong những giai đoạn phát triển khác nhau, Đảng và Nhà nước có những cách thức khác nhau để động viên nhân dân đóng góp và phát triển ngành giáo dục; nhà nước phải tạo ra không gian xã hội, luật pháp và chính trị cho việc hình thành một khu vực giáo dục mà ở đấy ai cũng có quyền đóng góp

Trang 32

vì sự nghiệp giáo dục, thực hiện cạnh tranh về chất lượng giáo dục, tức là giáo dục phải thuộc về xã hội

Thực hiện nền giáo dục cho mọi người, thực chất là mở rộng cho mọi người cơ hội chọn các hình thức giáo dục thích hợp với hoàn cảnh sống của mình, không áp dụng một thiết chế nhà trường đồng nhất

Ngày nay, nước ta đang trong thời kỳ xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước khôi phục và phát triển đất nước Đảng và Nhà nước vẫn thực hiện chính sách huy động sức mạnh của toàn xã hội tham gia vào công tác XHHGD, đưa sự nghiệp giáo dục phát triển toàn diện và hiệu quả hơn

Trong quá trình triển khai nghị quyết 04/NQ-HNTW, nhận thức về công tác XHHGD có sự khác nhau, nhưng có thể khái quát như sau:

Công tác XHHGD được thể hiện bằng sự phối hợp của nhiều ngành chức năng khác nhau trong xã hội như giáo dục, y tế, văn hoá… Sự phối hợp chức năng liên ngành không chỉ đơn thuần là sự hỗ trợ tạm thời, mà đây là sự hỗ trợ chiến lược mang tính lâu dài được xây dựng trên cơ sở chiến lược xây dựng nguồn nhân lực cho sự phát triển đất nước và mục tiêu của ngành giáo dục nói riêng trên địa bàn dân cư nhất định

Bên cạnh đó, công tác XHHGD còn là một quá trình huy động các lực lượng trong xã hội tham gia vào các chương trình giáo dục: Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ, Hội nông dân, Hội Cựu chiến binh… và nhiều tổ chức, đoàn thể xã hội khác Huy động các lực lượng xã hội sẽ tạo ra một môi trường cần thiết cho công tác XHHGD gắn với cộng đồng xã hội, do cộng đồng thực hiện và vì lợi ích của con người sống trong cộng đồng đó Đồng thời, công tác XHHGD còn là sự huy động vốn đầu tư trong xã hội vào sự nghiệp phát triển giáo dục Sự đầu tư từ nguồn kinh phí của Nhà nước phải thoả đáng, nhưng cũng cần có sự đóng góp từ phía địa phương Ngoài ra, cần huy động được nhiều nguồn vốn cho sự nghiệp giáo dục bằng sự vận động các lực lượng xã hội, các tổ chức phi chính phủ và

Trang 33

mỗi người dân đóng góp xây dựng trường lớp…, khẩu hiệu “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, đây là một yếu tố quan trọng của cuộc vận động xã hội đóng góp các nguồn lực xây dựng xã hội

XHHGD không phải là một giải pháp nhất thời khi đất nước còn khó khăn về kinh tế, ngân sách đầu tư cho giáo dục còn hạn chế, công tác XHHGD là một quan điểm chỉ đạo của Đảng nhằm phát triển giáo dục một cách lâu dài, xuyên suốt trong toàn bộ quá trình giáo dục nhằm làm cho hoạt động giáo dục gắn với sự nghiệp của nhân dân, do dân, vì dân và vì tiến bộ xã hội Trong hoàn cảnh đất nước còn gặp khó khăn về kinh tế - xã hội như hiện nay, thì cần thiết phát triển giáo dục theo tinh thần xã hội hoá XHHGD không có nghĩa là giảm ngân sách và trách nhiệm của Nhà nước; ngược lại vai trò lãnh đạo của Nhà nước lại càng được tăng cường thông qua việc thường xuyên tìm thêm các nguồn thu để tăng tỉ lệ ngân sách cho các hoạt động giáo dục, thực hiện quản lý tốt để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn đầu tư cho giáo dục

Về nội dung XHHGD

Theo nghị quyết số 90/CP, ngày 21/08/1997 của Chính phủ về Phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thì nội dung của cuộc vận động toàn dân tham gia sự nghiệp giáo dục bao gồm:

- Tạo ra phong trào học tập sâu rộng trong toàn xã hội theo nhiều hình thức; vận động toàn dân, trước hết là những người trong độ tuổi lao động, thực hiện học tập suốt đời để làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn và

có cuộc sống tốt đẹp hơn, làm cho xã hội ta trở thành một xã hội học tập

- Vận động toàn dân chăm sóc thế hệ trẻ, tạo ra môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục trong nhà trường với giáo dục

ở gia đình và giáo dục ngoài xã hội; tăng cường trách nhiệm của cấp uỷ Đảng, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, các đoàn thể quần chúng, các doanh nghiệp đối với sự nghiệp giáo dục

Trang 34

- Nâng cao ý thức trách nhiệm và sự tham gia của toàn dân đối với giáo dục nhằm củng cố, tăng cường hiệu quả của hệ thống giáo dục để phục

vụ tốt việc học tập của nhân dân

Trên cơ sở nội dung XHHGD của nghị quyết 90/CP thì XHHGD thực chất là việc huy động toàn xã hội làm giáo dục ở nhiều góc độ khác nhau, tùy vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, có thể xác định nội dung XHHGD như sau:

Giáo dục hoá giáo dục: nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của đất nước, tạo ra phong trào học tập cho toàn xã hội, đáp ứng yêu cầu giáo dục của mọi người và xã hội

Đa dạng hoá các hình thức thức học tập và các loại hình nhà trường: các lực lượng xã hội tham gia vào quá trình giáo dục bằng cách thành lập các cơ sở giáo dục như các trường dân lập, tư thục ở các cấp học khác nhau Bên cạnh đó, cần phải chú trọng củng cố phát triển trường công lập

để tạo cơ hội học tập bình đẳng cho mọi tầng lớp trong xã hội

Đa phương hoá các nguồn lực cho giáo dục: bao gồm nhân lực – vật lực – tài lực Đảng ta khẳng định giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, vì vậy phải huy động các đoàn thể, các tổ chức, cá nhân, các cấp chính quyền tham gia công tác giáo dục Đồng thời, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để phát triển giáo dục, khắc phục được mâu thuẫn giữa yêu cầu về số lượng và chất lượng trong giáo dục

Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh: huy động xã hội tham gia vào việc xây dựng nề nếp, kỷ cương và cảnh quan của nhà trường tạo không khí lành mạnh cho học tập Phối hợp chặt chẽ giữa Nhà trường – gia đình – xã hội, coi trọng giáo dục đạo đức lối sống và giáo dục hướng nghiệp cho học sinh

Dân chủ hoá quản lý hoạt động giáo dục: việc dân chủ hoá quản lý giáo dục nhằm biến hệ thống giáo dục và nhà trường từ một hệ thống hành chính thành thiết chế thực sự của dân Qua đó, có sự trao đổi thông tin một

Trang 35

cách thường xuyên giữa phụ huynh học sinh với giáo viên, nhà trường Góp

ý vào những vấn đề nhạy cảm từ các khoản thu phí, sử dụng nguồn kinh phí

từ nhân dân đóng góp vào việc phát triển hệ thống giáo dục

Ý nghĩa

Nghị quyết số 04/NQ-HNTW của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá VII và nghị quyết 90/CP ngày 21/8/1997 của

Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo

dục, y tế, văn hóa đã mở ra hướng đi thích hợp cho sự phát triển giáo dục

trong tình hình mới Xã hội hóa giáo dục là chủ trương hết sức đúng đắn, vì giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, thực hiện xã hội hóa thu hút được sự tham gia đóng góp của toàn dân theo khả năng và nhu cầu cho sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo

Nghị quyết 90/CP của Chính phủ đã khẳng định: Xã hội hoá là mở

rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn là chính sách lâu dài, là phương châm thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, không phải là biện pháp tạm thời, chỉ có ý nghĩa tình thế trước mắt do Nhà nước thiếu kinh phí cho các hoạt động này Khi nhân dân ta có mức thu nhập cao, ngân sách nhà nước dồi dào vẫn phải thực hiện xã hội hoá, bởi vì giáo dục, y tế, văn hoá là sự nghiệp lâu dài của nhân dân, sẽ phát triển không ngừng với nguồn lực to lớn của toàn dân [31]

Công tác XHHGD đã giải quyết được một số vấn đề sau:

 Công tác xã hội hóa giáo dục đã huy động được mọi nguồn lực trong

xã hội cho sự nghiệp phát triển của giáo dục và đào tạo Đáp ứng nhu cầu phát triển đa dạng của giáo dục, phù hợp với yêu cầu của xã hội

Trang 36

 Nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các loại hình, các cơ sở giáo dục trong việc nâng cao hiệu quả giảng dạy

 Giải quyết được thu nhập hợp lý cho cán bộ, giáo viên để họ an tâm gắn bó với nghề

 Thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục đã giảm nhẹ gánh nặng ngân sách cho Nhà nước

Thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục không chỉ là giải pháp tình thế trong giai đoạn Nhà nước chưa đủ sức đầu tư cho giáo dục và đào tạo

mà là một giải pháp chiến lược trong giai đoạn xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với nhiều thành phần kinh tế có mức thu nhập khác nhau nhưng cần được đảm bảo sự công bằng trong hưởng thụ về giáo dục và đào tạo Xây dựng phong trào học tập trong toàn dân đã gắn liền với cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, nâng cao nhận thức của mỗi cá nhân, tập thể trong việc học tập thường xuyên, học tập suốt đời và tham gia xây dựng xã hội học tập để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của địa phương

Trang 37

Chương 2 QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ

GIÁO DỤC CỦA ĐẢNG BỘ QUẬN 9 (1997 - 2010)

2.1 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và chính sách của Nhà nước về công tác xã hội hoá giáo dục

XHHGD là quá trình làm cho xã hội nhận thức về giáo dục, cộng đồng trách nhiệm với giáo dục, làm cho giáo dục phát triển theo mục tiêu của Đảng và Nhà nước quy định

Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập cơ quan Bình dân học vụ (8/9/1945), kêu gọi toàn dân tham gia phong trào xoá nạn mù chữ, mở đầu cho việc xây dựng nền giáo dục của dân, do dân và vì dân Người khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, vì vậy Người kêu gọi toàn dân tham gia diệt giặc dốt theo phương châm “người biết chữ dạy người không biết chữ”….[24, tr.157]

Đề án cải cách giáo dục lần thứ I được Hội đồng Chính phủ thông qua tháng 7/1950 đã khẳng định: tính chất của nền giáo dục là một nền giáo dục của dân, do dân và vì dân, xây dựng trên nguyên tắc: Dân tộc, khoa học, đại chúng

Nghị quyết số 14/NQ-TW ngày 11/1/1979 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục đã chỉ rõ: phối hợp những cố gắng đầu tư của Nhà nước với

sự đóng góp của nhân dân, của các ngành, các cơ sở sản xuất và sức lao động của thầy trò trong việc xây dựng trường, sở…

Ngày 19/3/1981, Hội đồng Chính phủ đã ra quyết định thành lập Hội đồng giáo dục các cấp với nhiệm vụ: động viên, tổ chức, phối hợp, sử dụng hợp lý các lực lượng xã hội và huy động đúng khả năng của địa phương để phát triển sự nghiệp giáo dục của địa phương để phát triển sự nghiệp giáo dục ở địa phương theo hướng cải cách giáo dục; phản ánh ý kiến của nhân dân với các cấp uỷ Đảng và chính quyền về công tác giáo dục; … tích cực

Trang 38

tham gia vận động các tổ chức xã hội, nhân dân đóng góp xây dựng và bảo

vệ cơ sở vật chất của nhà trường

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam (12/1986) đánh dấu công cuộc đổi mới đất nước, đặc biệt là sự đổi mới về

tư duy của Đảng Trong lĩnh vực giáo dục, Đảng ta xác định: kế hoạch giáo dục phải gắn bó với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương

và trong cả nước Đầu tư đúng mức cho sự nghiệp giáo dục nhằm trước hết đảm bảo đủ sách giáo khoa và cơ sở cần thiết cho dạy và học Ngoài ngân sách của Nhà nước, cần quy định rõ sự đóng góp của các ngành và các địa phương, các tổ chức kinh tế, xã hội và các gia đình cho sự nghiệp giáo dục [3, tr.191]

Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta phát triển theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, CNH – HĐH đất nước, nền kinh tế tri thức – công nghệ cao, khoa học dần trở thành lực lượng sản xuất chính Đảng và Nhà nước đã giành cho giáo dục sự quan tâm đặc biệt để phát triển nguồn nhân lực phù hợp với nền kinh tế mới Công tác XHHGD được coi

là một trong những nội dung quan trọng và là một nhu cầu khách quan trong quy luật phát triển xã hội, đồng thời là một chủ trương lớn của Đảng

và Nhà nước dần được hoàn thiện trong quá trình đổi mới đất nước

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần VII của Đảng cộng sản Việt Nam (4/1991), trong lĩnh vực giáo dục được khẳng định: khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ

tổ quốc; là một động lực đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới; Đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ, coi đó là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển; … một mặt Nhà nước tăng đầu tư, mặt khác có chính sách để toàn dân, các thành phần kinh tế cùng làm và đóng góp vào sự nghiệp này

Trang 39

Nghị quyết số 04/NQ-HNTW của Ban chấp hành Trung ương Đảng

cộng sản Việt Nam lần 4 khoá VII, ngày 14/1/1993 về Tiếp tục đổi mới sự

nghiệp giáo dục và đào tạo đã nhấn mạnh: Nhà nước cần đầu tư nhiều hơn cho giáo dục, nhưng vấn đề quan trọng là phải quán triệt sâu sắc và tiến hành tốt việc xã hội hoá các nguồn đầu tư, mở rộng phong trào xây dựng, phát triển giáo dục trong nhân dân, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội [2, tr.11] XHHGD được xác định như một tư tưởng chiến lược chỉ đạo

quá trình phát triển giáo dục một cách lâu dài nhằm làm cho giáo dục thực

sự là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân

Nghị quyết số 04/NQ-HNTW đã xác định các giải pháp chủ yếu để đa dạng hoá các hình thức đào tạo:

- Củng cố trường công, chuyển một số trường công sang bán công, khuyến khích mở trường dân lập, cho phép mở trường tư thục ở bậc giáo dục mầm non, giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục đại học Khuyến khích tự học, bảo đảm cho mọi công dân quyền được học, được thi, được chọn trường, chọn thầy, chọn nghề, được học tập trong nước và đi học nước ngoài

- Đa dạng hoá sự phân luồng học sinh trong các hình thức đào tạo

- Mở rộng các hình thức dạy nghề, đa dạng hoá trình độ tay nghề, phát triển các loại trung tâm hướng nghiệp, trung tâm dạy nghề, khuyến khích mở các trường, lớp dạy nghề dân lập, tư thục, khuyến khích dạy các nghề truyền thống…

Việc thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII và Nghị quyết số 04/NQ-HNTW, sự nghiệp giáo dục – đào tạo đã có nhiều

thành tựu to lớn: “tỉ lệ người biết chữ trong dân đã nâng lên đạt mức 90%;

tỉ lệ trẻ em đi học trong độ tuổi phổ cập tiểu học và số học sinh phổ thông các cấp học đều tăng lên; tỉ lệ lưu ban, bỏ học giảm Mạng lưới trường phổ thông mở rộng đến khắp các xã, phường; cơ sở vật chất được cải thiện…

Trang 40

Nhiều trường bán công và dân lập ra đời, hoạt động có hiệu quả” [5,

tr.161]

Bên cạnh những thành tựu đạt được, giáo dục nước ta vần còn trong tình trạng yếu kém về chất lượng và hiệu quả Nội dung chương trình, phương thức đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển xã hội, chi phí học tập lớn ảnh hưởng đến việc học tập của nhân dân; chất lượng giáo dục, đào tạo, y tế ở nhiều nơi rất thấp Người nghèo không có đủ tiền để chữa bệnh và cho con em đi học Để khắc phục tình trạng đó, Nghị quyết Đại hội

đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định: Các vấn đề chính sách xã

hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các cá nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn

đề xã hội [5, tr.114]

Về giáo dục – đào tạo, Đại hội đại biểu toàn quốc lần VIII đã chỉ rõ:

Cụ thể hoá chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục – đào tạo, trước hết là vấn đề đầu tư phát triển và bảo đảm kinh phí hoạt động Ngoài việc ngân sách giành một tỉ lệ thích đáng cho sự phát triển giáo dục-đào tạo, cần thu hút thêm các nguồn đầu tư từ các cộng đồng, các thành phần kinh tế, các giới kinh doanh trong và ngoài nước, đi đôi với việc sử dụng có hiệu quả nguồn đầu tư cho giáo dục và đào tạo Những doanh nghiệp sử dụng lao động được đào tạo có nghĩa vụ đóng góp vào ngân sách giáo dục - đào tạo Đổi mới chế độ học phí phù hợp với sự phân tầng thu nhập trong xã hội, loại bỏ những đóng góp không hợp lý nhằm đảm bảo tốt hơn kinh phí giáo dục, đồng thời cải thiện điều kiện học tập cho học sinh nghèo [5, tr.202]

Nghị quyết Trung ương 2 của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá VIII, ngày 24/12/1996 về Định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ CNH, HĐH và nhiệm vụ đến năm

2000, khẳng định: giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của

Ngày đăng: 11/05/2021, 23:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ 2, khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ 2, khóa VIII
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
2. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 2/1993), Văn kiện hội nghị lần thứ 4, khóa VII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ 4, khóa VII
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
3. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhà XB: Nxb Sự thật - Hà Nội
4. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật - Hà Nội
Năm: 1991
5. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
6. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội
Năm: 2001
7. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội
8. Ban khoa giáo Trung ương (1995), Một số văn kiện của trung ương Đảng và Chính phủ về công tác khoa giáo, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn kiện của trung ương Đảng và Chính phủ về công tác khoa giáo
Tác giả: Ban khoa giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
9. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX) về văn hoá, xã hội, khoa học kỹ thuật, giáo dục đào tạo, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX) về văn hoá, xã hội, khoa học kỹ thuật, giáo dục đào tạo
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
10. Bộ GD & ĐT (2002), Ngành GD & ĐT thực hiện nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và nghị quyết ĐH Đảng lần thứ IX, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành GD & ĐT thực hiện nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và nghị quyết ĐH Đảng lần thứ IX
Tác giả: Bộ GD & ĐT
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2002
11. Bộ GD & ĐT – Viện Nghiên cứu phát triển Giáo dục (2002), Chiến lược phát triển giáo dục thế kỉ XXI - kinh nghiệm của các quốc gia, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục thế kỉ XXI - kinh nghiệm của các quốc gia
Tác giả: Bộ GD & ĐT – Viện Nghiên cứu phát triển Giáo dục
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
12. Bộ GD & ĐT (1/3/2000), Nghị quyết ban chấp hành quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường, Số 04/2000/QĐ – Bộ GD & ĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết ban chấp hành quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường
13. Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010, Nxb giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010
Nhà XB: Nxb giáo dục Hà Nội
19. Đảng bộ Quận 9 (2007), Lịch sử Đảng bộ Quận 9, Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Quận 9
Tác giả: Đảng bộ Quận 9
Nhà XB: Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2007
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng Đất nước trong thời kì quá độ lên CHXH, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng Đất nước trong thời kì quá độ lên CHXH
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1991
25. Hồ Chí Minh phát huy cầu học tiến bộ (1960), Nxb Sự thật 26. Luật giáo dục 1998, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giáo dục 1998
Tác giả: Hồ Chí Minh phát huy cầu học tiến bộ
Nhà XB: Nxb Sự thật 26. "Luật giáo dục 1998"
Năm: 1960
27. Luật giáo dục 2005, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giáo dục 2005
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
48. Đinh Văn Ân và Hoàng Thu Hoa, 2008, Giáo dục – Đào tạo chìa khoá của sự phát triển, Nxb Tài Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục – Đào tạo chìa khoá của sự phát triển
Nhà XB: Nxb Tài Chính
51. Nguyên Văn Đản (1994), XHHGD và vấn đề bán công, dân lập. Tạp chí nghiên cứu giáo dục, số 2/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: XHHGD và vấn đề bán công, dân lập
Tác giả: Nguyên Văn Đản
Năm: 1994
52. Phạm Minh Hạc (1996), Mười năm đổi mới giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mười năm đổi mới giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w