thuộc diện di dời họ không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập dựa chủ yếu vào nông lâm nghiệp, do đó khi có dự án, người dân bị thu hồi đất, họ không có tư liệu sản xuất, ảnh hưởng nhiều đ
Trang 1LƯU HỒNG THÁI
PHÁT TRIỂN SINH KẾ CỦA CÁC NÔNG HỘ BỊ THU HỒI ĐẤT CHO DỰ ÁN CẢNG HÀNG KHÔNG QUỐC TẾ
VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ NGÀNH: 8310110
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN VĂN TUẤN
Hà Nội, 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Phát triển sinh kế của các nông hộ bị thu hồi đất cho Dự án Cảng hàng khôngquốc tế Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh ”
là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập, nghiêm túc của bản thân tôi Luận văn này chưa từng được công bố trên bất kể phương tiện truyền thông nào Các số liệu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy và được xử lý khách quan, trung thực Trong quá trình nghiên cứu tôi có tham khảo một số tài liệu đã được liệt kê ở phần sau Các giải pháp nêu trong luận văn được rút ra từ những cơ sở lý luận và quá trình nghiên cứu thực tiễn
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Quảng Ninh, ngày 19 tháng 5 năm 2020
Tác giả luận văn
Lưu Hồng Thái
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Quá trình học tập, nghiên cứu chương trình đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của trường Đại học Lâm nghiệp, kết hợp với thực tiễn
công tác tại địa phương; Kết thúc khóa học, tôi lựa chọn đề tài “Phát triển
sinh kế của các nông hộ bị thu hồi đất cho Dự án Cảng hàng không quốc tế
Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh”
Trong chương trình thực hiện đề tài, tôi nhận được rất nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình của: các thầy, cô trường Đại học Lâm nghiệp; các đồng chí trong
Ủy ban nhân dân huyện Vân Đồn, phòng Kế hoạch đầu tư; và sự hợp tác của người dân trên địa bàn huyện Vân Đồn, đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô của trường Đại học Lâm nghiệp; cảm ơn PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn; cảm ơn tất cả các cơ quan UBND huyện Vân Đồn, cùng với người dân trên địa bàn huyện đã giúp tôi hoàn thành luận văn này
Do thời gian hạn hẹp, vừa công tác vừa học tập; nội dung nghiên cứu sẽ
có những hạn chế nhất định Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp đối với đề tài luận văn để bài viết hoàn thiện hơn
Ngày 29 tháng 04 năm 2020
Tác giả luận văn
Lưu Hồng Thái
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận về sinh kế của nông hộ bị thu hồi đât 4
1.1.1 Vấn đề thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ trong thu hồi đất 4
1.1.2 Sinh kế của nông hộ 5
1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển sinh kế cho nông hộ bị thu hồi đất 21
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 21
1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương của Việt nam 24
1.2.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan 29
1.2.4 Bài học cho huyện Vân Đồn 29
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh 32
2.1.1 Các đặc điểm tự nhiên của huyện Vân Đồn 32
2.1.2 Các đặc điểm kinh tế xã hội huyện Vân Đồn 33
2.2 Đặc điểm cơ bản của vùng quy hoạch cho sân bay Vân Đồn 36
2.1.1 Giới thiệu chung về Dự án sân bay Vân Đồn 36
2.1.2 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội vùng quy hoạch dự án trước khi XD sân bay 40
Trang 62.2 Phương pháp nghiên cứu 41
2.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 41
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 41
2.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 42
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu sử dụng trong đề tài 43
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44
3.1 Tình hình thu hồi đất và thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ trong giải phóng mặt bằng của dự án sân bay Vân Đồn 44
3.1.1 Tình hình và kết quả thu hồi đất cho xây dựng sân bay Vân Đồn 44 3.1.2 Tình hình và kết quả thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ trong thu hồi đất tại dự án sân bay Vân Đồn 47
3.2 Thực trạng sinh kế của nông hộ bị thu hồi đất cho dự án sân bay Vân Đồn 55
3.2.1 Thông tin cơ bản về các hộ điều tra 55
3.2.2 Sự thay đổi về nguồn lực sinh kế của các hộ điều tra 56
3.2.3 Sự thay đối về hoạt động sinh kế của các hộ điều tra 59
3.2.4 Sự thay đổi về thu nhập của các hộ điều tra 60
3.2.5 Sự thay đổi về điều kiện sống của các hộ điều tra 62
3.2.6 Những khó khăn trong sản xuất và đời sống của các hộ điều tra 63 3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh kế của các nông hộ bị thu hồi đất 65
3.3.1 Hệ thống chính sách Nhà nước về hỗ trợ ổn định sản xuất và đời sống cho các hộ bị thu hồi đất 65
3.3.2 Cách thức sử dụng các khoản bồi thường, hỗ trợ của các hộ bị thu hồi đất 67
3.3.3 Sự quan tâm tạo điều kiện của chính quyền địa phương 68
3.4 Đánh giá chung về phát triển sinh kế của các nông hộ bị thu hồi đất cho sân bay Vân Đồn 75
3.4.1 Những thành công 75
Trang 73.4.2 Những tồn tại, vướng mắc 76 3.4.3 Nguyên nhân 76
3.5 Giải pháp phát triển sinh kế cho các nông hộ bị thu hồi đất cho sân bay Vân Đồn 77
3.5.1 Đẩy nhanh tiến độ xây dựng dự án khu tái định cư để ổn định nơi sinh sống cho các hộ bị thu hồi đất 77 3.5.2 Tăng cường công tác đào tạo nghề cho lao động thuộc các hộ bị thu hồi đất 78 3.5.3 Tạo điều kiện thuận lợi để các hộ có thể tiếp cận các nguồn vốn tín dụng cho phát triển sản xuất kinh doanh 79 3.5.4 Chú trọng công tác xúc tiến việc làm cho lao động của các hộ bị thu hồi đất 80 3.5.5 Tăng cường chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, tập trung phát triển các sản phẩm chủ lực 81
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Đặc điểm dân số và lao động huyện Vân Đồn (2019) 34
Bảng 2.2 Một số chỉ tiêu kinh tế -xã hội huyện Vân Đồn 35
Bảng 3.1 Diện tích đất thu hồi cho dự án Cảng Hàng không Vân Đồn 45
Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất cho dự án sân bay Vân Đồn 47
Bảng 3.3 Kết quả bồi thường về đất giai đoạn 1 tại dự án sân bay Vân Đồn 48
Bảng 3.4 Kết quả bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất giai đoạn 1 52
của dự án sân bay Vân Đồn 52
Bảng 3.5 Kết quả thực hiện công tác hỗ trợ của dự án sân bay Vân Đồn 54
Bảng 3.6 Thông tin chung về mẫu điều tra 56
Bảng 3.7 Sự thay đổi các nguồn lực sinh kế chính của các hộ điều tra 57
Bảng 3.8 Sự thay đổi về hoạt động sinh kế của các hộ điều tra 59
Bảng 3.9 Sự thay đổi về thu nhập của các hộ điều tra 61
Bảng 3.10 Sự thay đổi về các điều kiện sống của các hộ điều tra 62
Bảng 3.11 Những khó khăn trong sản xuất và đời sống của các hộ điều tra 63
Bảng 3.12 Cách thức sử dụng các khoản bồi thường, hỗ trợ của các hộ 67
Bảng 3.13 Tình hình sử dụng tiền hỗ trợ để đi học nghề của các hộ điều tra 68
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Khung sinh kế bền vững DFID 15Hình 3.1 Bản đồ huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh 32Hình 3.2 Hình ảnh sân bay quốc tế Vân Đồn 40
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Đất đai là tài sản quốc gia có giá trị lớn, có vị trí đặc biệt quan trọng đối với đời sống của từng hộ gia đình, cá nhân, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế, thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là điều kiện tối thiểu đảm bảo cho quá trình tái sản xuất giúp xã hội không ngừng phát triển, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng; trong thời kỳ hiện nay, đất đai thêm những chức năng có ý nghĩa quan trọng là tạo nguồn vốn và thu hút đầu tư phát triển
Trong quá trình đổi mới nền kinh tế - xã hội ở nước ta, cơ chế kinh tế thị trường đã từng bước được hình thành, các thành phần kinh tế phát triển mạnh mẽ và một xu hướng tất yếu về nguồn lực đầu vào cho sản xuất và sản phẩm đầu ra đều phải trở thành hàng hoá, trong đó đất đai cũng không phải là ngoại lệ
Trong điều kiện quỹ đất có hạn, giá đất ngày càng cao và nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì lợi ích của người sử dụng đất, cuộc sống an sinh xã hội sau khi nhà nước giao đất, thu hồi đất vẫn đang là một vấn đề hết sức nóng bỏng, cấp bách và phức tạp, tác động đến mọi mặt của đời sống kinh
an sinh bền vững, sinh động và chất lượng cao cho người dân trong vùng
Khu dự án sân bay Vân Đồn có 293 hộ phải di dời, đa phần những hộ
Trang 11thuộc diện di dời họ không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập dựa chủ yếu vào nông lâm nghiệp, do đó khi có dự án, người dân bị thu hồi đất, họ không có tư liệu sản xuất, ảnh hưởng nhiều đến sinh kế, có những hộ chuyển sang nghề mới là nuôi trồng thủy sản, có những hộ làm thuê, và một số hộ chưa có định hướng về ngành nghề, do đó đặt ra thách thức trong việc ổn định sinh kế cho những nông hộ bị thu hồi đất
Công tác thu hồi đất để thực hiện dự án sẽ ảnh hưởng lớn đến đời sống
xã hội của các hộ gia đình có đất bị thu hồi, vấn đề tạo công ăn việc làm, ổn định thu nhập cho người dân bị thu hồi đất hiện là một thách thức đối với các
ngành chức năng Trước những vấn đề trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: Phát triển sinh kế của các nông hộ bị thu hồi đất cho Dự án Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh để thực hiện luận văn tốt nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng sinh kế và các các yếu tố ảnh hưởng tới sinh kế của các nông hộ bị thu hồi đất để xây dựng Dự án Cảng hàng không huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh, Luận văn đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sinh kế cho các hộ này trong thời gian tới
2.2 Mục tiêu cụ thể
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về sinh kế của nông hộ + Phân tích thực trạng sinh kế của các nông hộ bị thu hồi đất cho dự án xây dựng sân bay Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh
+ Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của các nông hộ sau thu hồi đất
+ Đề xuất giải pháp phát triển sinh kế cho các nông hộ bị thu hồi đất cho dự
án sân bay Vân Đồn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Trang 12Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sinh kế và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của các nông hộ bị hồi đất cho công trình sân bay Vân Đồn
Đối tượng khảo sát là các nông hộ bị thu hồi đất để xây dựng Dự án Cảng hàng không tại xã Đoàn Kết, huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
+ Phạm vi về nội dung:
Sinh kế của nông hộ được nghiên cứu chủ yếu trên các khía cạnh:
- Các nguồn lực sinh kế (gồm: Nguồn lực tự nhiên, nguồn lực vật chất, nguôn lực tài chính, nguồn lực con người, nguồn lực xã hội)
- Số liệu sơ cấp thu thập trong tháng 1 đến 4/2020
- Giải pháp được đề xuất cho giai đoạn 2020-2025
4 Nội dung nghiên cứu
+ Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về sinh kế của nông hộ
+ Thực trạng sinh kế của các nông hộ bị thu hồi đất cho dự án xây dựng sân bay Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của các nông hộ sau thu hồi đất + Giải pháp phát triển sinh kế cho các nông hộ bị thu hồi đất cho dự án sân bay Vân Đồn
Trang 132013 như sau:
Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh;
Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng;
Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai;
Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, việc thu hồi đất được coi là yêu cầu tất yếu khách quan để phục vụ cho các mục tiêu phát triển của đất nước
1.1.1.2 Bồi thường, hỗ trợ trong thu hồi đất
Bồi thường và hỗ trợ là biện pháp kinh tế của nhà nước sử dụng trong thu hồi đất
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất + Bồi thường hoặc hỗ trợ đối với toàn bộ diện tích đất Nhà nước thu hồi
+ Bồi thường hoặc hỗ trợ tài sản hiện có gắn liền với đất và các chi phí đầu tư vào đất bị Nhà nước thu hồi
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới, ổn định đời sống, sản xuất và một số khoản hỗ trợ khác Các khoản hỗ trợ bao gồm:
Trang 14+ Hỗ trợ đất là khoản hỗ trợ đối với đất không đủ điều kiện được bồi thường thì được xem xét hỗ trợ cho người đang sử dụng
+ Hỗ trợ tài sản: Tài sản, vật kiện trúc hợp pháp không đủ điều kiện được bồi thường thì được xem xét hỗ trợ cho người có tài sản
Các khoản hỗ trợ cho người bị thu hồi đất: Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm, hỗ trợ ổn định sản xuất và đời sống tại nơi tái định cư, hỗ trợ khác
1.1.1.3 Tái định cư
Tái định cư được hiểu là quá trình bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản, các khoản hỗ trợ để người bị thu hồi đất di chuyển đến một nơi ở mới để sinh sống và làm ăn và bàn giao lại đất cho dự án Khu tái định cư phải được xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ đảm bảo đủ điều kiện cho người sử dụng tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ
Tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với trường hợp phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức:
- Bồi thường bằng việc giao đất ở hoặc nhà ở tái định cư;
- Bồi thường bằng tiền để người bị thu hồi đất tự tìm đất tái định cư;
1.1.2 Sinh kế của nông hộ
1.1.2.1 Nông hộ và kinh tế nông hộ
Khái niệm về nông hộ
Nông hộ là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp
và phát triển nông thôn, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp Các hoạt động sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện qua các nông hộ
Theo tác giả Frank Ellis (1988), nông hộ là các hộ làm nông nghiệp, tự kiếm tiền sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng
Trang 15hoạt đọn với mức độ không hoàn hảo cao [4]
Ở nước ta, tác giả Lê Đình Thắng (1993) cho rằng nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp nông thôn [12]
Tác giả Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng Nông hộ là những hộ chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp ở nông thôn [15]
Từ những khái niệm trên tác giả cho rằng nông hộ là các hộ làm nông nghiệp, dựa vào canh tác nông nghiệp là nguồn thu nhập chính
Frank Ellis (1988) cho rằng các nông hộ có những đặc điểm chính, thể hiện sự khác biệt với các chủ thể kinh tế khac bao gồm:
Thứ nhất, về đất đai: Người nông dân với ruộng đất chính là một yếu tố hơn hẳn các yếu tố sản xuất khác vì giá trị của nó; nó là nguồn đảm bảo lâu dài đời sống của gia đình nông dân trước những thiên tai
Thứ hai, về lao động: Sự tín nhiệm đối với lao động của gia đình là một đặc tính kinh tế nổi bật của người nông dân Người “lao động gia đình” là cơ
sở của các nông trại, là yếu tố phân biệt chúng với các xí nghiệp tư bản
Thứ ba, về tiền vốn và sự tiêu dùng: Người ta cho rằng người nông dân làm công việc của gia đình chứ không phải làm công việc kinh doanh thuần túy, nó khác với đặc điểm chủ yếu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm chủ vốn đầu tư vào tích lũy cũng như khái niệm hoàn vốn đầu tư dưới dạng lợi nhuận
Từ những đặc trưng trên có thể xem hộ gia đình nông dân là một loại hình cơ sở kinh tế có đất đai, các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất và thường là nằm trong một hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu được đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao [4]
Kinh tế hộ gia đình nông dân
Kể từ khi nước ta chính thức chuyển sang cơ chế đổi mới trong quản lý
Trang 16kinh tế, với mục đích giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn, chuyển giao đất đai và các tư liệu sản xuất khác cho nông hộ quản lý và sử dụng lâu dài, thì các nông hộ đã trở thành những đơn vị tự chủ trong sản xuất nông nghiệp Nước ta chính thức thừa nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế cơ
sở, gọi là kinh tế hộ gia đình
Từ đó, các hộ gia đình được tự chủ trong sản xuất kinh doanh, được toàn quyền trong điều hành sản xuất, sử dụng lao động, mua sắm vật tư kỹ thuật, hợp tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm do họ làm ra
Như vậy, có thể hiểu kinh tế hộ gia đình là một tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu của hộ gia đình, trong đó các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định
Sự tồn tại của kinh tế hộ chủ yếu dựa vào lao động gia đình để khai thác đất đai và tài nguyên khác nhằm phát triển sản xuất, thoát nghèo bền vững và vươn lên làm giàu chính đáng [12]
Đặc điểm kinh tế hộ gia đình nông dân
Kinh tế nông hộ ở nước ta có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Kinh tế hộ gia đình được hình thành theo một cách thức tổ chức riêng trong phạm vi gia đình Các thành viên trong hộ cùng có chung sở hữu các tài sản cũng như kết quả kinh doanh của họ
- Kinh tế hộ gia đình tồn tại chủ yếu ở nông thôn, hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản Một bộ phận khác có hoạt động phi nông nghiệp ở mức độ khác nhau
- Trong kinh tế hộ gia đình, chủ hộ là người sở hữu nhưng cũng là người lao động trực tiếp Tùy điều kiện cụ thể, họ có thuê mướn thêm lao động
- Quy mô sản xuất của kinh tế hộ gia đình thường nhỏ, vốn đầu tư ít Sản xuất của kinh tế hộ còn mang nặng tính tự cung tự cấp, hướng tới mục
Trang 17đích đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của hộ là chủ yếu
- Quá trình sản xuất chủ yếu dựa vào sức lao động thủ công và công cụ truyền thống, do đó năng suất lao động thấp Do vậy, tích lũy của hộ chủ yếu chỉ dựa vào lao động gia đình là chính
- Trình độ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ của chủ hộ rất hạn chế, chủ yếu là theo kinh nghiệm từ đời trước truyền lại cho đời sau Vì vậy, nhận thức của chủ hộ về luật pháp, về kinh doanh, cũng như về kinh tế thị trường rất hạn chế
Tại Việt Nam, kinh tế hộ chủ yếu là kinh tế của các hộ gia đình nông dân tại khu vực nông thôn Xét theo cơ cấu ngành nghề, kinh tế hộ được phân chia thành các loại: hộ thuần nông (hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp); hộ kiêm nghề (vừa làm nông nghiệp, vừa hoạt động tiểu thủ công nghiệp); hộ chuyên nghề (hoạt động trong các lĩnh vực ngành nghề và dịch vụ); và hộ kinh doanh tổng hợp (hoạt động cả trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ) Đến nay, kinh tế hộ gia đình đã trở thành một
bộ phận quan trọng trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta [12]
1.1.2.2 Khái niệm về sinh kế và khung sinh kế của nông hộ
Sinh kế của nông hộ
Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế
Chambers và Conway cho rằng sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực
và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người [3]
F.Ellis cho rằng một sinh kế bao gồm những tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và
cơ hội được tiếp cận đến các tài sản và hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi nông hộ [4]
Theo Ủy ban Phát triển Quốc tế Anh DFID (1998), sinh kế được hiểu là tập hợp tất cả các nguồn lực và khả năng mà con người có được, kết hợp với
Trang 18những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như
để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ [16]
Cũng theo DFID sinh kế bao gồm 3 thành tố chính: nguồn lực và khả năng con người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế, có quan niệm cho rằng sinh kế không đơn thuần chỉ là vấn đề kiếm sống, kiếm miếng ăn và nơi ở, mà còn đề cập đến vấn đề tiếp cận các quyền sở hữu, thông tin, kỹ năng, các mối quan hệ [16]
Theo tác giả sinh kế, theo cách hiểu đơn giản nhất, là phương thức để kiếm sống, tồn tại và phát triển của con người
Về cơ bản các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay hộ gia đình tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ và đồng thời chịu tác động của các thể chế chính sách và các mối quan hệ xã hội và mỗi cá nhân và hộ gia đình tự thiết lập trong cộng đồng
Nguồn vốn sinh kế được hiểu như là các điều kiện khách quan và chủ quan tác động vào một sự vật hiện tượng làm cho nó thay đổi về chất hoặc lượng Trong phạm vi đề tài này, các yếu tố vè con người, tự nhiên, vật chất, tài chính, xã hội, các thể chế chính sách mà xã hội quy định
Các nguồn vốn sinh kế bao gồm:
+ Vốn con người: Con người là cơ sở nguồn vốn này Vốn con người bao gồm các yếu tố như cơ cấu nhân khẩu của hộ gia đình, kiến thức và giáo dục của các yếu tố như cơ cấu nhân khẩu của hộ gia đình, kiến thức và giáo dục của các thành viên trong gia đình (bao gồm trình độ học vấn, kiến thức truyền được hoặc được kế thừa trong gia đình), những kỹ năng và năng khiếu của từng cá nhân, khả năng lãnh đạo, sức khỏe, tâm sinh lý của các thành viên trong gia đình, quỹ thời gian, hình thức phân công lao động Đây là một yếu
tố được xem như là quan trọng nhất vì nó quyết định khả năng của một cá nhân, một hộ gia đình sử dụng và quản lý các nguồn vốn khác
+ Vốn vật chất: Thể hiện ở các tài sản vật chất đảm bảo cho cuộc sống,
Trang 19sinh hoạt cũng như làm ăn của người dân Nguồn vốn vật chất được phân chia làm hai loại: Tài sản của cộng đồng và tài sản của hộ Tài sản của cộng đồng trong nghiên cứu này xem xét các cơ sở vật chật cơ bản phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt như: điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế, công trình thủy lợi, thông tin liên lạc, thông tin liên lạc Tài sản của hộ trong nghiên cứu này khá phong phú bao gồm cả các tài sản phục vụ sản xuất và các tài sản phục vụ sinh hoạt của hộ
+ Vốn tự nhiên: Nguồn vốn tự nhiên là một yếu tố đặc biệt quan trọng ảnh hưởng tới sinh kế của người nghèo Nó bảo gồm các yếu tố như khả năng cung ứng quỹ đất sản xuất, sông biển ao hồ có thể sử dụng để sản xuất của hộ gia đình cũng như cộng đồng cùng với điều kiện thuận lợi hay khó khăn của việc khai thác các nguồn lực ấy là nguồn vốn tự nhiên
+ Vốn tài chính: Vốn tài chính được thể hiện bằng khả năng tạo ra dòng tiền cho hộ gia đình Những khó khăn về tài chính làm cho khả năng trỗi dậy của kinh tế nông hộ bị giảm sút, muốn cải thiện được kinh tế nông hộ thì việc tăng đầu tư nhằm mở rộng quy mô sản xuất, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm là một nhu cầu tất yếu Trong điều kiện như hiện nay, khi mà khả năng tích lũy của nông hộ rất thấp, sự hỗ trợ của Chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ ngày càng giảm, thì việc vay vốn để đầu tư được coi là hành vi quan trọng nhất để thỏa mãn về tài chính
+ Vốn xã hội: Bao gồm các mạng lưới xã hội, các mối quan hệ với họ hàng, người xung quanh, bảo gồm ngôn ngữ, các giá trị về niềm tin tín ngưỡng, văn hóa, các tổ chức xã hội, các nhóm chính thức cũng như phi chính thức mà con người tham gia để có được những lợi ích và cơ hội khác nhau Việc con người tham gia vào xã hội và sử dụng nguồn vốn này như thế nào cũng tác động không nhỏ đến quá trình tạo dựng sinh kế của họ Vốn xã hội được duy trì, phát triển và tạo ra những lợi ích mà người sở hữu nó mong muốn như khả năng tiếp cận và huy động nguồn lực có từ các mối quan hệ, chia sẻ thông tin, kiến thức hay các giá trị chuẩn mực Vốn xã hội của mỗi cá
Trang 20nhân được tích lũy trong quá trình xã hội hóa của họ thông qua sự tương tác giữa cả các cá nhân
Theo khái niệm sinh kế nêu trên thì chúng ta thấy sinh kế bao gồm toàn
bộ những hoạt động của con người để đạt được mục tiêu dựa trên những nguồn lực sẵn có của con người như các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn vốn, lao động, trình độ phát triển của khoa học công nghệ
Tiếp cận sinh kế là cách tư duy về mục tiêu, phạm vi và những ưu tiên cho phát triển nhằm đẩy nhanh tiến độ xoá nghèo Đây là phương pháp tiếp cận sâu rộng với mục đích nắm giữ và cung cấp các phương tiện để tìm hiểu nguyên nhân và các mặt trọng của đói nghèo với trọng tâm tập trung vào một
số yếu tố (như các vấn đề kinh tế, an ninh lương thực) Nó cũng cố gắng phác hoạ những mối quan hệ giữa các khía cạnh khác nhau của nghèo đói, giúp xác lập ưu tiên tốt hơn cho những hoạt động xoá nghèo
Phương pháp tiếp cận sinh kế có mục đích giúp người dân đạt được thành quả lâu dài trong sinh kế mà những kết quả đó được đo bằng các chỉ số
do bản thân họ tự xác lập và vì thế họ sẽ không bị đặt ra bên ngoài Điều đó thể hiện tính chất lấy người dân làm trung tâm Phương pháp này thừa nhận người dân có những quyền nhất định, cũng như trách nhiệm giữa họ với nhau
và xã hội nói chung
Phương pháp tiếp cận sinh kế được sử dụng để xác định, thiết kế và đánh giá các chương trình, dự án mới, sử dụng cho đánh giá lại các hoạt động hiện có, sử dụng để cung cấp thông tin cho việc hoạch định chiến lược và sử dụng cho nghiên cứu Một trong những điểm nổi trội của tiếp cận sinh kế là khả năng linh hoạt và khả năng áp dụng của chúng đối với nhiều tình huống
Chiến lược sinh kế là quá trình ra quyết định về các vấn đề của hộ gia đình để tồn tại và phát triển Để duy trì hộ, hộ gia đình thường có các chiến lược sinh kế khác nhau và có thể chia làm 3 loại:
Trang 21- Chiến lược tích lũy: là chiến lược dài hạn nhằm hướng tới tăng trưởng
và có thể là kết hợp của nhiều hoạt động hướng tới tích luỹ và giàu có
- Chiến lược tái sản xuất: là chiến lược trung hạn gồm nhiều hoạt động tạo thu nhập, những ưu tiên có thể nhắm tới hoạt động của cộng đồng và an sinh xã hội
- Chiến lược tồn tại: là chiến lược ngắn hạn, gồm cả các hoạt động tạo thu nhập chỉ để tồn tại mà không tích lũy
có lương thực, thu nhập và tài sản của họ Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên,
dự trữ, và tài sản vô hình như dư nợ và cơ hội Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó
có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai [3]
Scoones (1998) định nghĩa sinh kế “bao gồm khả năng, nguồn lực (bao gồm các nguồn lực vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người Một sinh kế được coi là bền vững khi
nó có thể giải quyết được hoặc có khả năng phục hồi từ những căng thẳng; duy trì và tăng cường khả năng và nguồn lực hiện tại mà không làm tổn hại đến tài nguyên thiên nhiên” [10]
Một sinh kế được coi là bền vững về kinh tế khi nó đạt được và duy trì một mức phúc lợi kinh tế cơ bản và mức phúc lợi kinh tế này có thể khác
Trang 22nhau giữa các khu vực
Tính bền vững của sinh kế được thể hiện trên các khía cạnh sau đây:
- Tính bền vững về xã hội của sinh kế đạt được khi sự phân biệt xã hội được giảm thiểu và công bằng xã hội được tối đa
- Tính bền vững về môi trường đề cập đến việc duy trì hoặc tăng cường năng suất của các nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng vì lợi ích của các thế hệ tương lai
- Một sinh kế có tính bền vững về thể chế khi các cấu trúc hoặc qui trình hiện hành có khả năng thực hiện chức năng của chúng một cách liên tục
và ổn định theo thời gian để hỗ trợ cho việc thực hiện các hoạt động sinh kế
Các phương diện này đều có vai trò quan trọng như nhau và cần tìm ra một sự cân bằng tối ưu cho cả 4 phương diện [16]
Cùng trên quan điểm đó, một sinh kế là bền vững khi: (i) có khả năng thích ứng và phục hồi trước những cú sốc hoặc đột biến từ bên ngoài; (ii) không phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ bên ngoài; (iii) duy trì được năng suất trong dài hạn của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, và (iv) không làm phương hại đến các sinh kế khác
Theo tác giả, một sinh kế là bền vững khi sinh kế đó được ổn định lâu dài, có khả năng thích ứng với môi trường thay đổi và không phụ thuộc vào
sự hỗ trợ từ bên ngoài
- Tiêu chí đánh giá tính bền vững của sinh kế
+ Các nghiên cứu của Scoones (1998) và DFID (2001) đều thống nhất đưa ra một số chỉ tiêu đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 4 phương diện: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế
+ Bền vững về kinh tế: được đánh giá chủ yếu bằng chỉ tiêu gia tăng thu nhập
+ Bền vững về xã hội: được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu như: tạo thêm việc làm, giảm nghèo đói, đảm bảo an ninh lương thực, cải thiện
Trang 23phúc lợi
+ Bền vững về môi trường: được đánh giá thông qua việc sử dụng bền vững hơn các nguồn lực tự nhiên (đất, nước, rừng, tài nguyên thủy sản…), không gây hủy hoại môi trường (như ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường)
và có khả năng thích ứng trước những tổn thương và cú sốc từ bên ngoài
Bền vững về thể chế: được đánh giá thông qua một số tiêu chí như: hệ thống pháp lý được xây dựng đầy đủ và đồng bộ, qui trình hoạch định chính sách có sự tham gia của người dân, các cơ quan/tổ chức ở khu vực công và khu vực tư hoạt động có hiệu quả; từ đó tạo ra một môi trường thuận lợi về thể chế và chính sách để giúp các sinh kế được cải thiện một cách liên tục theo thời gian
Khung sinh kế của nông hộ
Khung sinh kế bền vững bao gồm những nhân tố chính ảnh hưởng đến sinh kế của con người, và những mối quan hệ cơ bản giữa chúng Nó có thể
sử dụng để lên kế hoạch cho những hoạt động phát triển mới và đánh giá sự đóng góp vào sự bền vững sinh kế của những hoạt động hiện tại Cụ thể là:
- Cung cấp bảng liệt kê những vấn đề quan trọng nhất và phác hoạ mối liên hệ giữa những thành phần này
- Tập trung sự chú ý vào các tác động và các quy trình quan trọng
- Nhấn mạnh sự tương tác phức tạp giữa các nhân tố khác nhau, làm ảnh hưởng tới sinh kế
Khung sinh kế bền vững có dạng như sau:
Trang 24Hình 1.1 Khung sinh kế bền vững DFID Chú thích:
- N (Natural Capital): Nguồn lực tự nhiên
- H (Human Capital): Nguồn lực con người
- P (Physical Capital): Nguồn lực vật chất
- F (Financial Capital): Nguồn lực tài chính
- S (Social Capital): Nguồn lực xã hội
Đây là khung giúp cho người sử dụng hiểu được các loại hình sinh kế hiện hữu và dùng nó làm cơ sở để lập kế hoạch cho các hoạt động phát triển
và các hoạt động khác Điều này kéo theo việc phân tích và sử dụng nhiều loại công cụ hiện có như phân tích xã hội và phân tích các bên liên quan, các phương pháp đánh giá nhanh và đánh giá kinh tế về:
- Bối cảnh sống của người dân, trong đó bao gồm những ảnh hưởng của các xu hướng bên ngoài với họ (xu hướng về kinh tế, xu hướng phát triển dân số)
Trang 25- Khả năng tiếp cận của người dân đối với các loại tài sản sinh kế và khả năng sử dụng chúng vào sản xuất
- Những thể chế, những chính sách và tổ chức định hình cho các loại hình tài sản sinh kế của người dân
- Các chiến lược mà người dân áp dụng để theo đuổi mục đích của mình Khung sinh kế giúp ta sắp xếp những nhân tố gây cản trở hoặc tăng cường các cơ hội sinh kế, đồng thời cho ta thấy cách thức chúng liên quan với nhau như thế nào Nó không phải là mô hình chính xác trong thực tế mà nó chỉ đưa ra một cách tư duy về sinh kế, nhìn nhận nó trên góc độ phức hợp và sâu rộng nhưng vẫn trong khuôn khổ có thể quản lý được
Khung sinh kế luôn được đặt trong trạng thái động, nó không có điểm đầu, điểm cuối Giá trị của một khung sinh kế giúp cho người sử dụng nhìn nhận một cách bao quát và có hệ thống các tác nhân gây ra nghèo khổ và mối quan hệ giữa chúng Có thể đó là những cú sốc và các xu hướng bất lợi, các chính sách và thể chế hoạt động kém hiệu quả hoặc việc thiếu cơ bản các tài sản sinh kế
Mục đích sử dụng khung sinh kế là để tìm hiểu những cách thức mà con người đã kết hợp và sử dụng các nguồn lực, khả năng nhằm kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ Mà những mục tiêu
và ước nguyện mà con người đạt được nhờ sử dụng và kết hợp các nguồn lực khác nhau có thể gọi là kết quả sinh kế Đây là những thứ mà con người muốn đạt được trong cuộc sống kể cả trước mắt cũng như lâu dài
Nghiên cứu kết quả sinh kế sẽ cho chúng ta hiểu được động lực nào dẫn tới các hoạt động mà họ đang thực hiện và những ưu tiên của họ là gì Đồng thời cũng cho thấy phản ứng của người dân trước những cơ hội và nguy cơ mới
Kết quả sinh kế thể hiện trên chỉ số như cuộc sống hưng thịnh hơn, đời sống được nâng cao, khả năng tổn thương giảm, an ninh lương thực được củng cố và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên Do đó cần phải kết hợp và sử dụng khác nhau như đất đai, vốn, khoa học công nghệ
Trang 26 Phát triển sinh tế của các nông hộ
Phát triển sinh tế là sự gia tăng về cả mặt số lượng và chất lượng của các yếu tố cấu thành sinh kế của các nông hộ
Về cơ bản, phát triển sinh kế của các nông hộ chính là sự gia tăng của các nguồn lực sinh kế của nông hộ, gia tăng các khoản thu nhập từ các hoạt động sinh kế, giảm thiểu các rủi ro và tác động tiêu cực từ bên ngoài đối với các nông hộ
Để phát triển sinh tế cho các nông hộ, cần có nhiều giải pháp, trong đó nhưng giải pháp hết sức cơ bản là:
- Tạo các điều kiện ban đầu để các nông hộ có thể tiếp cận các khả năng tạo dựng các nguồn lực sinh kế cơ bản như: đất đai, nguồn nước, điều kiện hạ tầng kinh tế xã hội (điện đường, trường học, cơ sở y tế….)
- Triển khai các giải pháp để các nông hộ có đủ điều kiện để tự tìm kiếm và thực hiện các hoạt động sinh kế để gia tăng thu nhập, như: đào tạo nghề cho nông hộ, khuyến nông, vay vốn tín dụng ưu đãi…
- Tạo các điều kiện để các nông hộ mở rộng các cơ hội tiếp cận và tham gia vào các quá trình xã hội, như: phát triển hoạt động của cộng đồng, các đoàn thể xã hội, mở rộng sự tham gia của các nông hộ vào việc ra các quyết định của cộng đồng…
Nhìn chung, phát triển sinh kế cho các nông hộ là một quá trình lâu dài,
sử dụng tiếp cận đa chiều, cần có sự tham gia của mọi tác nhân của xã hội, trong đó các nông hộ được coi là yếu tố trung tâm
1.1.2.3 Nội dung nghiên cứu sinh kế của nông hộ
Nghiên cứu về sinh kế của nông hộ được thực hiện trên các nội dung chủ yếu sau đây:
- Các nguồn lực sinh kế là khả năng tiếp cận của con người đối với các nguồn lực sinh kế được coi là yếu tố trọng tâm trong cách tiếp cận về sinh kế bền vững Có 5 loại nguồn lực sinh kế: Tự nhiên, vật chất, tài chính, con người, xã hội
Trang 27- Các hoạt động sinh kế là cách mà hộ gia đình sử dụng các nguồn lực sinh kế sẵn có để kiếm sống và đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống
- Các kết quả sinh kế là những thành quả mà hộ gia đình đạt được khi kết hợp các nguồn lực sinh kế khác nhau để thực hiện các chiến lược sinh kế Các kết quả sinh kế chủ yếu bao gồm: tăng thu nhập, cải thiện phúc lợi, giảm khả năng bị tổn thương, tăng cường an ninh lương thực, sử dụng bền vững hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên Các kết quả sinh kế này phản ánh tính bền vững của sinh kế trên 3 phương diện: kinh tế - xã hội - môi trường
- Các nguồn lực phát triển sinh tế của hộ gia đình
Nguồn lực phát triển sinh tế nông hộ là tất cả các nguồn lực mà một hộ gia đình có thể huy động phát triển kinh tế gia đình Nguồn lực cơ bản của các
hộ gia đình nông thôn gồm có lao động, đất đai, vốn sản xuất, tay nghề kỹ thuật Ngoài ra các mối quan hệ mạng lưới của gia đình hay thành viên gia đình, các chính sách của nhà nước ủng hộ sản xuất kinh doanh cũng là các loại nguồn lực mà hộ gia đình có thể tận dụng Các nguồn lực để phát triển kinh tế hộ gia đình thường đang ở dạng sẵn có hoặc dạng tiềm năng, tức dạng đang khai thác được hoặc sẽ có thể khai thác được trong tương lai Ví dụ một gia đình có con sắp hết hạn nghĩa vụ quân sự thì tiềm năng lao động của hộ gia đình có một người; một khu đất vườn rừng đang trồng cây ăn quả và đang hoặc sắp cho thu hoạch là dạng sẵn có, còn nếu khu vườn đó chưa được sử dụng để nhằm mục đích phát triển kinh tế thì đang ở dạng tiềm năng
Lao động của gia đình là nguồn lực căn bản của hộ gia đình nông thôn
Đó là tất cả những người có khả năng lao động và sẵn sàng tham gia lao động sản xuất Lao động của gia đình gồm những người trong độ tuổi lao động và
cả những người ngoài độ tuổi lao động có thể tham gia lao động khi cần, ví dụ người cao tuổi và trẻ em đủ lớn có thể tham gia làm những công việc phù hợp của gia đình Ngoài ra lao động của gia đình có thể gồm cả lao động đổi công, lao động thuê rất ngắn hạn trong những dịp mùa vụ Có một yếu tố rất quan
Trang 28trọng quyết định chất lượng lao động của hộ gia đình là kiến thức của người lao động: kiến thức về cây trồng vật nuôi, cách thức canh tác, kinh doanh
Đất đai là một nguồn lực quan trọng của hộ gia đình nông thôn Hầu hết các hộ gia đình nông thôn đều có đất sản xuất và mức độ có nhiều hay ít phụ thuộc vào đặc điểm tự nhiên của từng vùng Các loại đất đai gồm có đất ruộng trồng lúa nước, ruộng khô trồng hoa màu và các cây lương thực, đất vườn, đất rừng Thông thường ruộng nước được dùng trồng lúa, ruộng khô và đất vườn được dùng để trồng hoa màu và những cây hàng hóa khác Tùy theo loại đất hiện có, diện tích canh tác được, độ màu mỡ, độ thuận tiện sẽ quyết định nguồn đất đai phục vụ tốt đến mức nào nhu cầu sản xuất của hộ gia đình Ví
dụ một hộ gia đình có nhiều đất rừng, phù hợp trồng trúc nhưng khu đất nằm
xa đường giao thông và để bán được trúc thì cần thuê người chặt và vận chuyển (vác) ra mặt đường để bán Tiền bán trúc chỉ đủ bù chi phí thuê nhân công và phần dôi ra còn rất ít Trong trường hợp này rừng trúc là một tiềm năng và hiện chưa khai thác được
Tiền vốn và trang thiết bị phục vụ sản xuất là một trong 3 nguồn lực quan trọng trong sản xuất kinh doanh của hộ gia đình Tiền vốn có thể là tiền mặt hoặc cây, con giống, hay nguyên liệu phục vụ sản xuất khác (ví dụ giống
gà vịt, giống lợn, tre nguyên liệu để đan lát) Các trang thiết bị cho sản xuất
có thể từ loại đơn giản như dao, cuốc, thuổng cho đến máy bơm, máy tuốt, máy cắt, hay máy chế biến nông sản khác Tiền vốn và giá trị bằng tiền của các trang thiết bị đều có thể tính toán (ước lượng) được và quy thành tổng giá trị bằng tiền Việc tính toán này giúp các hộ gia đình tính toán được lợi nhuận của việc sản xuất kinh doanh do đó giúp định hướng và lập kế hoạch cho các hoạt động sinh kế của gia đình mình
Tay nghề kỹ thuật là sự thành thạo về một công việc sản xuất nào đó, đặc biệt là những công việc đòi hỏi phải có kiến thức và khéo tay, ví dụ các nghề truyền thống như đan lát, dệt, nuôi tằm, canh tác các loại cây trồng vật
Trang 29nuôi có yêu cầu cao về kỹ thuật Tay nghề kỹ thuật có thể được hoàn thiện qua đào tạo chính thức hoặc học nghề không chính thức và đều phải được rèn luyện không ngừng
Các mối quan hệ, sự quen biết của gia đình hay người trong nhà mà qua
đó hộ gia đình biết được mặt hàng nào đang bán được giá, hay ai đang cần mua bán loại hàng hóa nào, hoặc các mối làm ăn do người quen giới thiệu, đều có thể được tận dụng để hộ gia đình phát triển kinh tế
Các chính sách của nhà nước hỗ trợ cho việc sản xuất kinh doanh, ví dụ trợ giá thu mua nông sản, hỗ trợ kỹ thuật canh tác, hỗ trợ giống cây trồng vật nuôi, cũng là một loại nguồn lực mà hộ gia đình có thể tận dụng để phát triển kinh tế
1.1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh kế của nông hộ
* Hệ thống chính sách Nhà nước về hỗ trợ ổn định sản xuất và đời sống cho các hộ bị thu hồi đất
Chính sách và thể chế không những tạo ra cơ hội nhằm giúp cho mỗi người dân và cả cộng đồng thực hiện các mục tiêu đã xác định để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống trong sinh kế mà còn là cơ hội, là cứu cánh cho người dân và cộng đồng giảm thiểu các tổn thương và sử dụng hợp lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên
Đối với những nông hộ dựa chủ yếu vào nông nghiệp, khi bị thu hồi đất, họ không còn tư liệu sản xuất, vốn quen với sản xuất nông nghiệp thì lúc này chính sách tạo việc làm của địa phương, chính sách đào tạo nghề, cho vay vốn sản xuất kinh doanh là rất quan trọng để người dân ổn định sinh kế
* Cách thức sử dụng các khoản bồi thường, hỗ trợ của các hộ bị thu hồi đất Các nguồn lực của nông hộ trước đây là đất đai, vốn sản xuất, kinh nghiệm trồng trọt chăn nuôi, thì hiện nay sau khi bị thu hồi đất và được bồi thường thì nguồn lực duy nhất của họ là một phần vốn dành cho đầu tư ổn định sinh kế
Trang 30Để chuyển sang một nghề mới họ cần phải có kiến thức về nghề, kinh nghiệm,về lĩnh vực mà gia đình chuyển sang Nếu không có kiến thức về ngành nghề mới, những nguồn lực như vốn, kiến thức, kinh nghiệm, các hộ có thể gặp những rủi ro về sinh kế như phá sản hoặc mất nguồn thu nhập, thu nhập không ổn định
* Sự quan tâm tạo điều kiện của chính quyền địa phương
Để ổn định sinh kế cho người dân rất cần những sự hỗ trợ từ bên ngoài như chính quyền địa phương, các doanh nghiệp địa phương trong đào tạo bồi dưỡng kiến thức nghề mới, định hướng ngành nghề mới cho người dân Đồng thời phối hợp với các doanh nghiệp trên địa bàn tạo điều kiện tuyển dụng những lao động vẫn còn trong độ tuổi lao động vào những vị trí thích hợp
+ Bố trí đất tái định cư và đảm bảo các điều kiện hạ tầng
+ Hỗ trợ các nông hộ vay vốn phát triển sản xuất
+ Tổ chức và định hướng các hoạt động sản xuất
+ Công tác hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động
+ Tổ chức các hoạt động xã hội
1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển sinh kế cho nông hộ bị thu hồi đất
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
Kinh nghiệm của Singapore
Ở Singapore, nhà nước chịu trách nhiệm thu hồi đất, sau đó cung cấp cho các đơn vị để thực hiện dự án theo quy hoạch (bán hoặc cho thuê) Giải pháp này giúp Singapore tránh được tình trạng đối đầu giữa nhà đầu tư và chủ đất trong quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng
Cụ thể, về thu hồi đất, sau khi có quy hoạch chi tiết và có dự án cụ thể, nhà nước tiến hành thu hồi đất để triển khai thực hiện Nhà nước toàn quyền quyết định trong vấn đề thu hồi đất, người dân có nghĩa vụ phải tuân thủ (theo Luật về thu hồi đất – Land Acquisition Act)
Công tác thu hồi đất dựa trên nguyên tắc thu hồi đất bắt buộc phục vụ cho việc phát triển cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội và chỉnh trang đô thị Hạn
Trang 31chế thu hồi đất tư nhân, chỉ thu hồi khi thực sự cần thiết Công tác thu hồi đất phải được sự cho phép bởi Chính phủ và các thành viên trong Nội các Chính phủ, sau khi đã thảo luận và tham khảo ý kiến cộng đồng.Việc thu hồi đất được tiến hành theo từng bước chặt chẽ và có thông báo trước cho người dân
từ 2 – 3 năm Nếu người dân không chịu di dời, Nhà nước sẽ áp dụng cưỡng chế hoặc phạt theo Luật xâm chiếm đất công (State Lands Encroachment Act)
Về chính sách bồi thường, mức bồi thường thiệt hại căn cứ vào giá trị bất động sản của chủ sở hữu và các chi phí tháo dỡ, di chuyển hợp lý… Nếu người dân không tin tưởng Nhà nước, có thể thuê một tổ chức định giá tư nhân để định giá lại và chi phí do Nhà nước chịu Kinh nghiệm xác định giá bồi thường cho thấy: Nhà nước Singapore bồi thường giá thấp hơn giá hiện tại, vì giá bất động sản hiện tại đã bao gồm giá trị gia tăng do nhà nước đầu tư
hạ tầng, do đó nhà nước điều tiết một phần giá trị đã đầu tư Nhà nước không thể đáp ứng yêu cầu bồi thường theo giá trong tương lai
Ngoài ra, các yếu tố sau đây cũng được xem xét khi bồi thường: giá trị bất động sản gia tăng do công trình công cộng đi ngang qua, nhà nước sẽ điềt tiết Ngược lại, công trình công cộng ảnh hưởng xấu đến mảnh đất (như tiếng
ồn, khói bụi, người ngoài có thể nhìn vào nhà…), nhà nước sẽ tăng bồi thường Tuy nhiên, cũng có những yếu tố không chấp nhận khi tính mức bồi thường, đó là: đòi được thưởng để di dời sớm hoặc đầu tư thêm vào căn nhà sau khi đã có quyết định giải tỏa để đòi bồi thường
Phương thức thanh toán khi bồi thường là trả trước 20% khi chủ nhà thực hiện việc tháo dỡ, phần còn lại trả khi hoàn tất việc di dời Nếu hộ gia đình có nhu cầu cấp bách về nhà ở, sẽ thu xếp cho thuê với giá phù hợp Ngoài ra, nhà nước Singapore còn có các chính sách hỗ trợ khác đảm bảo quyền lợi của chủ bất động sản phải di dời Trong quá trình bồi thường, chủ bất động sản có quyền khiếu kiện về giá trị bồi thường Hội đồng bồi thường
sẽ là tổ chức quyết định giá trị bồi thường đối với người khởi kiện Nếu chủ bất động sản vẫn không đồng ý có thể đưa vụ việc lên Tòa Thượng thẩm
Trang 32Vấn đề tái định cư, chính sách tái định cư của Singapore gắn liền với
bố trí nhà ở công – loại nhà do nhà nước xây dựng và cung cấp giá rẻ kèm theo một số điều kiện Đây là một điểm đặc thù và rất độc đáo của thị trường bất động sản tại Singapore Singapore thiết lập một cơ quan tập trung thực hiện việc cung cấp nhà ở công cho người dân trong đó chủ yếu phục vụ tái định cư – Cục Phát triển Nhà (HDB) Được thành lập từ năm 1960, cho đến nay với khoảng 8.000 nhân viên, HDB đã cung cấp nhà cho 85% dân số Singapore, trong đó có 2% thuê căn hộ (năm 2001)
Có 3 bước để chuẩn bị cho công tác tái định cư ở Singapore Bước đầu, các nhân viên của HDB tiến hành điều tra xã hội học kĩ lưỡng về hộ gia đình trước khi triển khai việc tái định cư, trong đó lưu ý các chi tiết về số thành viên trong gia đình, kể cả con cái, nguồn thu nhập Việc điều tra tỉ mỉ, thận trọng sẽ tạo bằng chứng chắc chắn cho việc hỗ trợ tái định cư chính xác, công bằng
Bước tiếp theo là xác định điều kiện tái định cư Điều kiện để được tái định cư tại các căn hộ do HDB cung cấp là được cơ quan quản lý đất Singapore (SLA) bảo lãnh và làm thủ tục giới thiệu Chính sách cung cấp nhà
ở công của HDB cũng có phân biệt các trường hợp cụ thể, trong đó ưu tiên công dân Singapore Nếu không sử dụng nhà do HDB cung cấp sẽ được nhà nước hỗ trợ thêm tiền (khoảng 1.200 đôla Singapore)
Bước cuối là giới thiệu nhiều loại nhà ở để người dân chọn HDB chủ yếu cung cấp các căn hộ trong các tòa nhà cao tầng Có 5 loại căn hộ cơ bản là: Loại căn hộ 1 phòng 26 - 33 đô la singapore/tháng, loại 2 phòng giá 44 -
75 đô la/tháng, loại 3 phòng 85 m2 giá 126.000 đô la, loại 4 phòng 110 - 203.000 đô la và loại 5 phòng 110 m2 - 203.000 đô la Trong đó, chủ yếu các căn hộ có 1 - 2 phòng dành cho những người thu nhập thấp thuê, các căn hộ 4
- 5 phòng chủ yếu để bán Ngoài ra, còn có các căn hộ hạng sang (Executive) hoặc các căn hộ cho người già (Studio Apartment) [12]
Trang 331.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương của Việt nam
1.2.2.1 Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Ngãi
Theo báo cáo giám sát của HĐND tỉnh về việc thực hiện quy định hỗ trợ ổn định cuộc sống, sản xuất, đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho người lao động khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh, từ năm
2014 đến năm 2018, toàn tỉnh có 819 dự án thu hồi đất, với 1.671 phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được UBND các huyện, thành phố lập, phê duyệt và thực hiện
Tổng diện tích đất đã thu hồi hơn 3.434ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp hơn 2.862ha, diện tích đất phi nông nghiệp khoảng 608ha; tổng số hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất khoảng 36.993 trường hợp
Việc chuyển đổi đất sản xuất nông nghiệp, phi nông nghiệp sang mục đích sử dụng khác tại nhiều địa phương trong tỉnh thời gian qua, không chỉ có
ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển KT- XH mà còn góp phần làm cho bộ mặt nông thôn nhiều khởi sắc
Tuy nhiên, việc có nhiều các dự án, công trình mọc lên cũng đồng nghĩa với việc diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp dần, khiến cho không ít nông dân vùng bị thu hồi đất bị ảnh hưởng đến sinh kế và đời sống
Trước thực tế trên, các cấp, ngành và cấp ủy, chính quyền địa phương
đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho người lao động khi Nhà nước thu hồi đất
Giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018, các sở, ban ngành liên quan, UBND các huyện, thành phố đã thực hiện hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho người lao động khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh cho 36.993 đối tượng với tổng số tiền trên 1.822 tỷ đồng
Trang 34Trong đó, hỗ trợ ổn định đời sống cho 30.085 đối tượng với số tiền hỗ trợ 147,71 tỷ đồng; hỗ trợ ổn định sản xuất cho 2.792 đối tượng với số tiền hỗ trợ 33,655 tỷ đồng; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm cho 28.373 đối tượng với số tiền hỗ trợ 1.641 tỷ đồng
Qua đó, đã góp phần tích cực trong giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho nhiều người lao động nông thôn Một số lao động thuộc đối tượng thu hồi đất được tham gia đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm qua các
mô hình sản xuất tại chỗ
Song theo báo cáo giám sát của HĐND tỉnh, bên cạnh những kết quả đạt được thì các sở, ban ngành liên quan, UBND các huyện, TP chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, định hướng việc hỗ trợ chuyển đổi nghề gắn với tạo việc làm mới
Việc hỗ trợ cho các đối tượng bị thu hồi đất chủ yếu dưới hình thức hỗ trợ tiền; chưa có giải pháp hiệu quả để đào tạo việc làm, ổn định đời sống cho người bị thu hồi đất; việc chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm do người dân tự lo; chưa thực hiện được chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho đối tượng bị thu hồi đất trong độ tuổi lao động và có nhu cầu đào tạo nghề, giải quyết việc làm Thực tế, không ít gia đình cầm một khoản tiền bồi thường xong chỉ một vài năm lại rơi vào tình cảnh khó khăn, buộc phải ly hương đi làm ăn xa vì thiếu đất sản xuất
Điều đáng nói, trong 5 năm (2014- 2018), chỉ có một phương án đào tạo, chuyển đổi ngành nghề được lập và phê duyệt là Phương án đào tạo, chuyển đổi ngành nghề cho các hộ dân thuộc diện di dời giải tỏa Dự án nâng cấp, mở rộng Nhà máy lọc dầu Dung Quất do Trung tâm Đào tạo và cung ứng nguồn lao động Dung Quất (thuộc Ban Quản lý KKT Dung Quất và các KCN Quảng Ngãi) lập và UBND huyện Bình Sơn phê duyệt
Trang 35Theo phương án này có 153 người lao động đăng ký học nghề như: Hàn kỹ thuật cao, may công nghiệp, nấu ăn, trồng rau an toàn, thú ý, lái xe với kinh phí đào tạo dự kiến 2,189 tỷ đồng, nhưng đến nay chưa thực hiện
Cùng với đó, các cơ quan chức năng thực hiện việc thu hồi đất, nhất là đất nông nghiệp chưa phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện đánh giá các yếu
tố tác động đến người lao động sau khi bị thu hồi đất, tư vấn định hướng nghề Quy định mức hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm giữa các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh có nơi chưa phù hợp
Nhiều địa phương và các sở, ban ngành liên quan chưa làm tốt công tác dự báo và nắm thông tin của người lao động bị thu hồi đất để kịp thời chuẩn bị nguồn nhân lực cung ứng cho các doanh nghiệp Các doanh nghiệp còn chưa có sự phối hợp tốt với cơ quan quản lý Nhà nước tại địa phương để cung cấp thông tin về tuyển dụng và triển khai cung ứng lao động
Hiệu quả việc phối hợp giữa ngành LĐTB&XH với các sở, ngành liên quan đến công tác tham mưu, hướng dẫn, tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho người bị thu hồi đất chưa tốt [9]
1.2.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Đồng Nai
Theo UBND tỉnh Đồng Nai, dự án cảng hàng không quốc tế Long Thành có diện tích đất thu hồi 5.000 ha, ảnh hưởng đến cuộc sống 4.864 hộ gia đình, cá nhân và 26 tổ chức Tổng số nhân khẩu trong vùng dự án là 15.557 nhân khẩu, với khoảng 9.700 người trong độ tuổi lao động
Do đó, tỉnh Đồng Nai cho rằng cần thiết phải có cơ chế chính sách hỗ trợ về giáo dục đào tạo, dạy nghề và an sinh xã hội trong quá trình giải phóng mặt bằng dự án cảng hàng không quốc tế Long Thành, nhằm bảo đảm cho người dân trong vùng dự án bị giải tỏa, sớm ổn định đời sống sau khi di dời
về nơi ở mới có điều kiện sinh hoạt tốt, có việc làm và ổn định cuộc sống
Dự báo, khi đi vào hoạt động, Sân bay Long Thành cần khoảng 6 ngàn cán bộ, nhân viên để vận hành Số lao động này được các chuyên gia tính toán
Trang 36dựa trên công suất của sân bay cũng như trên thực tế từ các sân bay hiện đại trên thế giới đang hoạt động
Để có được dữ liệu chính xác về nhu cầu việc làm trước mắt cũng như nhu cầu học nghề, đặc biệt là những nghề có thể vào làm việc trong sân bay của người dân bị thu hồi đất cho dự án xây dựng Sân bay Long Thành, Sở Lao động - thương binh và xã hội Long An đã tổ chức điều tra, thu thập thông tin từ 5 ngàn hộ gia đình, hơn 10 ngàn cá nhân có độ tuổi từ 15 trở lên
Ngoài việc lấy thông tin của những người từ 15 tuổi trở lên phục vụ nhu cầu đào tạo nghề để bố trí công việc trước mắt, còn khảo sát cả nhóm dưới 15 tuổi để chuẩn bị phương án đào tạo hướng nghiệp cho lâu dài Phiếu thu thập thông tin được thiết kế chi tiết về nhu cầu đào tạo nghề, nhu cầu công việc Hiện tại, công tác thu thập thông tin đã sắp hoàn tất
Hợp đồng đặt hàng đào tạo với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Từ kết quả điều tra, khảo sát, tới đây, ngành chức năng Đồng Nai sẽ hợp đồng đặt hàng đào tạo với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp gắn với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp hoặc giải quyết việc làm theo nguyện vọng của người dân
Theo quyết định về đề án đào tạo nghề, giải quyết việc làm và tổ chức lại cuộc sống của người dân thuộc dự án thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cảng hàng không quốc tế Long Thành vừa được UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt, sẽ được triển khai từ năm 2018 đến năm 2020 với kinh phí 305
tỷ đồng; trong đó, dự kiến năm 2018 nguồn kinh phí thực hiện khoảng 75 tỷ đồng, năm 2019 là 100 tỷ và năm 2020 khoảng 130 tỷ đồng Kinh phí thực hiện được trích từ nguồn kinh phí dự án thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cảng hàng không quốc tế Long Thành được Quốc hội thông qua ngày 24/11/2017
Theo Đề án đào tạo nghề, giải quyết việc làm và tổ chức lại cuộc sống của người dân thuộc Dự án Sân bay Long Thành, việc bố trí học nghề cho
Trang 37người dân sẽ được thực hiện sau khi có quyết định thu hồi đất Đối tượng được hỗ trợ là những người còn trong độ tuổi lao động, thường trú trong hộ gia đình kể từ ngày có quyết định bị thu hồi đất, phải di chuyển chỗ ở hoặc bị ảnh hưởng đến việc làm và đời sống trong vùng dự án có nhu cầu đào tạo nghề và giải quyết việc làm
Về chính sách hỗ trợ giáo dục nghề nghiệp, những người tham gia đào tạo trình độ trung cấp và cao đẳng sẽ được hỗ trợ học phí cho 1 khóa đào tạo, trường hợp đang theo học thì hỗ trợ học phí cho thời gian còn lại của khóa đào tạo kể từ ngày có quyết định thu hồi đất [7]
1.2.2.3 Kinh nghiệm của một số huyện của thành phố Hà Nội
Theo đó, mới đây, UBND TP Hà Nội ban hành Quyết định số 24/2017/QĐ-UBND về việc hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố
Theo quyết định này, người lao động bị thu hồi đất được ngoài hỗ trợ học nghề, còn được hỗ trợ việc làm
Cụ thể, người lao động có nhu cầu tìm việc làm được tư vấn học nghề,
tư vấn giới thiệu việc làm miễn phí tại Trung tâm dịch vụ việc làm hoặc tại phiên giao dịch việc làm lưu động tại các điểm giao dịch ở các quận, huyện, thị xã trên địa bàn thành phố Hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Ngoài ra, người lao động bị thu hồi đất được hỗ trợ về tín dụng như được vay vốn ưu đãi để học nghề, hoặc người lao động có nhu cầu vay vốn được ưu tiên vay vốn từ nguồn vốn ngân sách ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội: Mức vay tối đa 50.000.000 đồng/1 chỗ việc làm mới được tạo ra
Theo ông Nguyễn Viết Hướng- Phó Chủ tịch UBND xã An Khánh, huyện Hoài Đức (xã có 400/490ha đất với 2.100 hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp), thời gian qua, xã An Khánh phối hợp với Trung tâm dạy nghề huyện khảo sát nhu cầu thực tế và mở nhiều lớp dạy nghề cho người dân Sau khi được học nghề, nhiều hộ gia đình đã vượt qua khó khăn, vươn lên làm
Trang 38giàu Tương tự, xã Di Trạch, huyện Hoài Đức có tới 80% diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi, nhưng cuộc sống của người dân nơi đây vẫn ổn định, phát triển nhờ được học nghề phù hợp [13]
1.2.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan
Nguyễn Diệu Phương và cộng sự trong nghiên cứu Sinh kế của người dân tái định cư ở vùng lòng hồ sông Đà ở huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, đã chỉ
ra được các vấn đề về sinh kế của người dân trước và sau tái định cư, các nguồn lực của người dân trước và sau tái định cư, những yếu tố ảnh hưởng tới sinh kế của người dân sau khi tái định cư, và đề xuất giải pháp ổn định sinh kế cho người dân ở vùng lòng hồ Sông Đà huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La [8]
Nguyễn Văn Thiệu và cộng sự trong công trình nghiên cứu về “Yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế và giải pháp sinh kế bền vững cho người dân vùng lũ tỉnh An Giang” đã chỉ ra được sự thay đổi về sinh kế và thu nhập, cơ cấu thu nhập của người dân, chỉ ra được những mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội và rủi ro của người dân, và đề ra được giải pháp sinh kế bền vững cho người dân vùng
lũ tỉnh An Giang trong bối cảnh mới [14]
Phạm Sỹ Liêm trong công trình nghiên cứu “Cần đổi mới chính sách tái định cư” đã chỉ ra các bất cập về tái định cư trong bối cảnh đô thị và nông thôn, các giải pháp nhằm cải thiện sinh kế và mức sống của người dân, khôi phục lại bằng mức thực tế trước khi tái định cư [6]
Nguyễn Thị Hoàng Hoa trong nghiên cứu “Làm gì để thực hiện tái định
cư đạt hiệu quả kinh tế xã hội” đã chỉ ra được thực trạng công tác tái định cư
ở những dự án thủy lợi, thủy điện trong thời gian qua, đề xuất những giải pháp tái định cư đạt hiệu quả kinh tế xã hội cho các khu tái định cư ở những
dự án thủy lợi, thủy điện [5]
1.2.4 Bài học cho huyện Vân Đồn
Người lao động bị thu hồi đất thu nhập chính của họ là dựa vào nông nghiệp, các nguồn lực chủ yếu là đất đai, kinh nghiệm nghề nghiệp, sức lao
Trang 39động, chính vì vậy, đi đôi với quá trình thu hồi đất, Nhà nước phải thực hiện các giải pháp nhằm tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất, trong đó trọng tâm là hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm theo nhu cầu thực tế, để bảo đảm cuộc sống cho người lao động Tỉnh Quảng Ninh cần thực hiện đúng các chính sách cụ thể đối với người dân bị thu hồi đất, trong đó có Quyết định
số 63/2015/QĐ-TTg ngày 10/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách
hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất
Một là, hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động khi còn trong độ tuổi lao động và có nhu cầu đào tạo nghề, giải quyết việc làm
Phối hợp với các doanh nghiệp trong huyện, hỗ trợ tạo điều kiện đào tạo nghề phù hợp và tuyển dụng những lao động trong diện tái định cư trên để
ổn định thu nhập cho người dân
Hai là, Hỗ trợ người lao động, nông hộ trong vay vốn đầu tư sản xuất kinh doanh, người lao động bị thu hồi đất được hỗ trợ về tín dụng như được vay vốn ưu đãi để học nghề, hoặc người lao động có nhu cầu vay vốn được ưu tiên vay vốn từ nguồn vốn ngân sách ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội
Ba là, định hướng nghề nghiệp cho người lao động, hộ gia đình tái định
cư Xây dựng thành làng nghề truyền thống, áp dụng mô hình làng nghề truyền thống đặc thù của tỉnh Quảng Ninh như làng nghề sản xuất nước mắm, làng nghề nuôi trồng thủy sản, khai thác đánh bắt thủy hải sản
Bốn là, hỗ trợ giải quyết việc làm trong nước thông qua việc được tư vấn học nghề, định hướng nghề nghiệp và giới thiệu việc làm miễn phí tại các Trung tâm dịch vụ việc làm ở địa phương;
Một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng của công tác đào tạo nghề là người lao động sau khi học nghề có việc làm, có thể ứng dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất Trong thời gian qua, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn chưa gắn liền với công tác định hướng nghề nghiệp và giới thiệu việc làm nên nhiều lao động đã qua đào tạo vẫn không có
Trang 40việc làm, hoặc làm việc trái với ngành nghề được đào tạo Để tạo cơ hội việc làm cho lao động nông thôn, các trung tâm đào tạo nghề cần tích cực liên kết với các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh để tìm hiểu nhu cầu nhân sự của họ; từ đó có định hướng về nghề nghiệp cho người lao động khi tham gia đào tạo Hơn nữa, các cơ sở đào tạo nghề cần cấp chứng chỉ nghề nghiệp cho người học, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để lao động nông thôn có thêm cơ hội tìm kiếm việc làm sau khi học nghề
Năm là, hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Hỗ trợ người dân trong đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và ngoại ngữ để có thể đi xuất khẩu lao động
Sáu là, tích cực phối hợp với các đơn vị có liên quan để đào tạo, tìm kiếm việc làm cho người dân Hiệu quả việc phối hợp giữa ngành LĐTB&XH với các sở, ngành liên quan đến công tác tham mưu, hướng dẫn, tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho người bị thu hồi đất