Luận văn
Trang 1Hớng nghiên cứu của đề tài phù hợp với những yêu cầu, hớng tiếp cận củangôn ngữ học tri nhận – một trờng phái mới của ngôn ngữ học trên phạm vithế giới và ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung vào địa hạt líluận cũng nh ứng dụng của ngôn ngữ học.
1.2 Thế giới hiện thực nh một bức tranh đợc con ngời nhận thức, tái tạo
lại thông qua ngôn ngữ và bằng ngôn ngữ T duy, văn hóa của các dân tộc nóinhững thứ tiếng khác nhau đợc ánh xạ vào ngôn ngữ: có những chỗ tơng đồng
và có những chỗ khác biệt
Bức tranh ngôn ngữ về thế giới, khác với thế giới thực, do những đặc thù
về tri nhận và văn hóa, đợc phản ánh, đợc biểu hiện ra không hoàn toàn giốngnhau giữa các ngôn ngữ Trong mỗi ngôn ngữ đều tồn tại một “sự quy ớc hóa”giữa những ngời bản ngữ để diễn đạt t tởng, tình cảm theo một cách thức nhất
định Nói theo ngôn ngữ học tri nhận, trong các cấu trúc và quá trình tri nhận,bên cạnh cái phổ quát, cái đồng nhất còn có cái tơng đối, cái đặc thù phản ánhmột cách thức “phân cắt” riêng của cộng đồng bản ngữ về các sự vật và sự tìnhcủa thế giới hiện thực, phản ánh những giới hạn và ràng buộc của văn hóa đốivới cách thức tri nhận
Qua khảo sát, đối chiếu nhóm tính từ chỉ kích thớc trên ngữ liệu tiếng Nga
và tiếng Việt, luận án hớng tới việc tìm ra những sự tơng đồng và khác biệttrong tri nhận không gian nói chung và cách thức cấu trúc hóa các quan hệ vàthuộc tính không gian nói riêng
1.3 Tiếng Nga là ngôn ngữ biến hình, gây cho ngời học không ít khó khăn
ở bình diện ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng Với ngời bản ngữ, việc nắm bắt, lĩnhhội hình thái, ngữ nghĩa từ nói chung, ngữ nghĩa của tính từ chỉ kích thớckhông gian nói riêng là không dễ dàng Với ngời Việt, khi thụ đắc tiếng Nga,trong đó có nhóm tính từ chỉ kích thớc, lại càng gặp nhiều khó khăn hơn
Trang 2Ngày nay yêu cầu dạy – học ngoại ngữ mang tính chuyên sâu, nên việcdạy ngoại ngữ đòi hỏi phải có những nghiên cứu sâu và cặn kẽ các trờng từvựng, trong đó có tiểu trờng chỉ kích thớc không gian Các kết quả nghiên cứucủa luận án có thể giúp rút ra những kết luận về lí luận ngôn ngữ và ứng dụngdạy - học, đa ra những giải pháp nhằm góp phần giúp ngời dạy, ngời học tiếngNga và ngợc lại ngời Nga học tiếng Việt có hiệu quả hơn
Trong gần 20 năm qua, ngôn ngữ học tri nhận dần dần đã xác định đợc đốitợng và phạm vi nghiên cứu của mình, đã xác định đợc các luận điểm t tởng,các khái niệm cơ bản, các nguyên lí và các phơng pháp nghiên cứu chủ đạo, và
đã trở thành một trờng phái mới của ngôn ngữ học hiện đại, tiến hành nghiêncứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh nghiệm, sự tri giác của con ngời về thế giớikhách quan cũng nh những cách thức mà con ngời tri giác, ý niệm hóa và phạmtrù hóa các sự vật và sự tình của thế giới khách quan đó
Trong thời gian này hàng loạt các công trình của các nhà nghiên cứu nhHaiman (1985), Rudzka-Ostyn (1988), Geeraerts (1990), Goldberg (1996),Ungerer và Schmid (1996), Langacker (1999), Dirven (2003), Croft và Cruse(2004), Evans và Green (2006)… đã đ đã đa ra một số quan điểm và nguyên lí cơbản của ngôn ngữ học tri nhận nh sau:
a Ngôn ngữ không phải là một khả năng tri nhận tự trị, có nghĩa rằng khảnăng ngôn ngữ không hoàn toàn độc lập với khả năng tri nhận, cơ chế ngôn ngữchỉ là một phần của cơ chế tri nhận phổ quát Từ nguyên lí này có hai hệ luậnquan trọng: tri thức ngôn ngữ cơ bản là cấu trúc ý niệm và biểu hiện ngữ nghĩacơ bản là biểu hiện ý niệm Quá trình tri nhận, chi phối sự sử dụng ngôn ngữ làgiống nh các khả năng tri nhận khác
b Ngữ nghĩa và ngữ pháp là sự ý niệm hóa Nguyên lí này nói lên cách tiếpcận của ngôn ngữ học tri nhận tới các phơng diện của cấu trúc ý niệm nh cấu
Trang 3trúc phạm trù, tổ chức của các tri thức, vai trò của các biến tố và kết cấu ngữpháp cũng nh quá trình ý niệm hóa ở các hiện tợng ngữ nghĩa từ vựng, nh đanghĩa, ẩn dụ và một số quan hệ từ vựng - ngữ nghĩa khác
c Tri thức ngôn ngữ nảy sinh ra từ sự sử dụng ngôn ngữ Trên cơ sở nguyên
lí này, các nhà nghiên cứu khái quát rằng: Ngôn ngữ học tri nhận là một môhình đầy đủ định hớng vào sự sử dụng và ngời sử dụng ngôn ngữ, bao quát cácbình diện chức năng, dụng học, tơng tác và xã hội - văn hóa của ngôn ngữ trong
sử dụng Các phạm trù và cấu trúc trong ngữ nghĩa, ngữ pháp, từ pháp và âm vịhọc đều đợc xây dựng trên cơ sở tri nhận của con ngời về các phát ngôn riêngbiệt trong khi sử dụng chúng
David W Carroll trong công trình “ Tâm lý học ngôn ngữ ” [142, 2004] đãnghiên cứu và đề cập tới những luận điểm mang tính chất cơ sở về mặt phơngdiện sinh học của ngôn ngữ Ông đã đi sâu phân tích vùng chức năng não Broca(tên nhà phẫu thuật nổi tiếng ngời Pháp) liên quan tới quá trình t duy, suy luận,
điều chỉnh và sáng tạo của con ngời; vùng não Wernicke liên quan tới chứcnăng nghe, nói Carroll đã đa ra mô hình xử lí ngôn ngữ Geschwind Theo môhình này, đầu tiên hình ảnh đợc thu nhận qua cơ quan thị giác và gửi tới vùng
xử lí thị giác của bộ não (gọi là vùng hồi nếp cong), thông tin từ đây đợcchuyển tới khu vực chức năng nghe, nói Wernicke và sau đó tạo thành mộtchuỗi các đơn vị ngôn ngữ có nghĩa Các chuỗi đơn vị ngôn ngữ này qua cácdây âm giữa hai vùng não đến vùng Broca Tại đây, thông tin đợc giải mã cùngnhững yêu cầu khởi động và gửi tới các cơ lời nói, cuối cùng là phát âm thànhlời nói
Vùng Broca
Vùng khởi động
Vùng thu nhận hình ảnh
ban đầuVùng hồi nếp cong
Vùng Wernicka
Trang 4Qua thực nghiệm này, Carroll chỉ ra rằng cấu trúc não của những ngời bìnhthờng cùng có chức năng nh nhau trong quá trình tri nhận thế giới khách quan.Các kĩ năng ngôn ngữ khác nhau liên quan tới các phần khác nhau của bộ não.Các cá nhân bị tổn thơng não thì quá trình tri nhận bị ảnh hởng và dẫn tới sự “thâm thủng ” ở phơng diện nào đó về mặt ngôn ngữ
Ông cũng trình bày và phân tích mối quan hệ, tác động giữa ngôn ngữ,văn hoá và tri nhận Dựa trên giả thuyết của Benjamin Lee Whorf, ông khẳng
định rằng cấu trúc ngôn ngữ là cái xác định cách nhìn đối với thế giới kháchquan của ngời nói Những ngôn ngữ khác nhau dẫn tới những cách nhìn thếgiới khác nhau Ông cho rằng, sự khác nhau về từ vựng, ngữ pháp giữa cácngôn ngữ ảnh hởng tới quá trình tri nhận và các cá nhân có trình độ ngôn ngữ
và văn hoá khác nhau sẽ t duy khác nhau
Sau đây là một ví dụ thực nghiệm tâm lý [85] đợc tiến hành tại Đại họcMichigan (Mỹ) năm 2005:
27 sinh viên du học ngời Trung Quốc (14 nam, 13 nữ) và 25 sinh viên
ng-ời Mỹ và Tây Âu (10 nam, 15 nữ) đợc mng-ời tham gia thí nghiệm: họ đợc mng-ờivào một căn phòng, ngồi cách một màn hình (52,8cm), mắt nhìn thẳng (khôngnhìn sang hai bên), đầu cũng giữ thẳng và đợc đội một chiếc mũ đặc biệt cógắn camera để theo dõi chuyển động của nhãn cầu Họ đợc chiếu cho xem lầnlợt 36 bức ảnh, có hình một con vật hay đồ vật (cái thuyền, máy bay) trên mộtphông nền nào đó, cứ 03 giây một bức Sau khi xem xong, họ đợc mời sangmột phòng khác, nghỉ 10 phút nhng không phải để ăn uống, mà để quên đinhững bức ảnh vừa xem bằng cách là: họ đợc yêu cầu làm tính nhẩm với phéptính trừ đi 7 là phép trừ nhẩm khó nhất, bắt đầu từ 100 cho đến hết, để buộc bộnão của họ phải hoạt động rất tích cực Sau 10 phút đó, họ lại đợc đa đi xemtiếp các bức ảnh, với một cách thức có khác đi nh sau: ngời ta vừa chiếu lại cácbức ảnh cũ 100%, vừa xen vào chiếu 36 bức ảnh không còn hoàn toàn giống
nh cũ mà có chỗ “mới” là thay đổi con vật (hay đồ vật) mới trên phông nền cũhoặc ngợc lại thay đổi phông nền mới trong khi con vật (hay đồ vật) vẫn nh cũ.Nhiệm vụ của các sinh viên-thử nghiệm viên là phải trả lời thật nhanh xem họ
đã nhìn thấy bức ảnh đó ở lần chiếu trớc hay cha? Kết quả rất thú vị, hóa ra làngời phơng Đông và ngời phơng Tây có “cách nhìn thế giới” khác nhau; cụ thểlà: lúc ban đầu họ đều giống nhau là nhìn vào phông (nền) của bức ảnh (mấtkhoảng 4/10 giây), nhng sau đó thì khác - nếu sinh viên Mỹ nhìn vào đối tợngtrung tâm của bức ảnh, thí dụ là một con hổ, và họ bắt đầu nhận dạng nó rất to,mình vằn vện, tai tròn; thì sinh viên Trung Quốc lại chỉ nhìn qua con hổ, còn
Trang 5sau đó họ để ý đến các phần khác của phông nền bức ảnh nh có vũng nớc dớichân con hổ, sau nó là một cây to Do đó, khi đợc xem các bức ảnh lần thứ hai,sinh viên Trung Quốc không nhận ra là bức ảnh cũ nếu ta thay đổi phông nềncủa bức tranh (thí dụ, thay vì máy bay đang bay trên trời, ta lại cho nó đangchạy trên đờng băng) Sinh viên ngời Mỹ và Tây Âu thì ngợc lại, họ dễ dàngnhớ là đã thấy bức ảnh có máy bay này, nhng lại khó nói rõ là nó đang bay trêntrời hay đang đậu ở sân bay Một trong những tác giả của thí nghiệm này, R.Nisbett, cho rằng: “Dờng nh sự khác nhau trong cách tiếp nhận thông tin từ môitrờng xung quanh là hệ quả của những nền văn hóa khác nhau mà con ngời đợcgiáo dục trong đó”
Nh vậy, có thể nói rằng cấu trúc t duy tri nhận trong não ngời của con ngời
là không có sự khác biệt lớn, nhng khi tri nhận kích thớc, hình dáng vật thểkhông gian đợc biểu thị bằng ngôn ngữ thì chịu sự tác động và qui định củathói quen, đặc thù văn hoá dân tộc
Tại Việt Nam, ngôn ngữ học tri nhận với t cách là một xu hớng ngôn ngữhọc mới, xuất hiện và phát triển mạnh trong những năm 90 Nhiều công trìnhnghiên cứu không gian theo hớng tri nhận có quan điểm vợt ra ngoài phạm vicấu trúc luận trong ngôn ngữ học truyền thống, nh Nguyễn Lai (1990) với luận
án tiến sĩ khoa học và chuyên luận về “Nhóm từ chỉ hớng vận động trong tiếng Việt”; D Ngọc Ngân (1996) với luận án tiến sĩ “Từ chỉ không gian – thời gian khái quát trong tiếng Việt (từ thế kỉ 17 đến nay)” và chuyên luận Đặc điểm“
định vị không gian trong tiếng Việt”; Nguyễn Đức Dân (1992) với “Triết lí tiếng Việt - không gian - điểm nhìn và sự chuyển nghĩa của từ”; Trần Quang Hải (2001) với luận án tiến sĩ “Nghiên cứu giới từ định vị theo hớng ngữ dụng” (trên t liệu tiếng Anh và tiếng Việt).
Lý Toàn Thắng [84] với những công trình nghiên cứu về tri nhận không
gian nh luận án tiến sĩ khoa học “Mô hình không gian của thế giới: sự tri nhận, văn hóa và tâm lí học tộc ngời” bảo vệ năm 1993 tại Viện ngôn ngữ học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga, chuyên luận “Ngôn ngữ và sự tri nhận không gian” (1994) và cuốn sách “Ngôn ngữ học tri nhận, từ lí thuyết đại cơng đến thực tiễn tiếng Việt”… đã đ đã có đóng góp rất nhiều cho hớng nghiên cứu này Ông
đã nêu ra một số luận điểm quan trọng của ngôn ngữ học tri nhận nh sau:
- Ngôn ngữ học tri nhận có mục đích nghiên cứu một cách bao quát và toàndiện chức năng tri nhận của ngôn ngữ Ngôn ngữ vừa là sản phẩm của hoạt
động tri nhận vừa là công cụ của hoạt động tri nhận của con ngời Cấu trúc và
Trang 6chức năng của ngôn ngữ đợc coi là kết quả và sự phản ánh của hoạt động trinhận của con ngời
- Ngôn ngữ học tri nhận là cánh cửa để đi vào thế giới tinh thần, trí tuệ củacon ngời, là phơng tiện để đạt tới những bí mật của quá trình t duy Trọng tâmnghiên cứu của ngôn ngữ học tri nhận đợc chuyển từ t duy sang ý thức, quantâm đến các quá trình ý niệm hóa và phạm trù hóa thế giới khách quan
- Sự hình thành cấu trúc ý niệm có quan hệ chặt chẽ với kinh nghiệm và cácchiến lợc tri nhận của con ngời
- ý nghĩa của ngôn ngữ không hạn chế trong nội bộ hệ thống ngôn ngữ mà
có nguồn gốc từ kinh nghiệm đợc hình thành trong quá trình con ngời và thếgiới tơng tác, từ tri thức và hệ thống niềm tin của con ngời Ngữ nghĩa là một
bộ phận của hệ thống ý niệm tổng thể, không mang tính tự trị, độc lập
Lý Toàn Thắng cũng nêu ra ba xu hớng tiếp cận nghiên cứu chính trongngôn ngữ tri nhận
Thứ nhất là tính kinh nghiệm, có nghĩa rằng trong quá trình tạo sinh các
từ và câu, điều gì sẽ xảy ra trong trí não ngời nói và các thuộc tính của sự vật,những liên tởng và ấn tợng của ngời nói đợc miêu tả nh thế nào Cách tiếp cậnnày giúp các nhà ngôn ngữ học tri nhận khảo sát những vấn đề nh các phạm trùtri nhận, sơ đồ hình ảnh, mô hình điển dạng, nội dung và cấu trúc tri nhận củacác ẩn dụ
Thứ hai là mức độ nổi trội “ ” của các cấu trúc ngôn ngữ Cách tiếp cận nàyliên quan chặt chẽ với quá trình tri nhận không gian của con ngời, tiếp nốinguyên lí tách biệt “hình” và “nền” của trờng phái tâm lí học Gestalt : yếu tố
“nổi trội”, hấp dẫn nhất của sự tình đợc tách riêng, ý niệm hóa nh một “hình”nổi bật hơn về phơng diện tri giác so với sự vật đợc ý niệm hóa là “nền”
Thứ ba là mức độ thu hút sự chú ý“ ” của các yếu tố và bình diện khácnhau của một sự tình Đây là cách tiếp cận hớng tới tính phổ quát và sự khácbiệt trong biểu đạt của một ngôn ngữ và các ngôn ngữ trớc một sự tình, sự vật
Về lĩnh vực tri nhận không gian có rất nhiều vấn đề đáng bàn và nghiêncứu Trong các từ loại có ẩn chứa nét nghĩa không gian, trên thế giới và ở ViệtNam, theo ghi nhận của chúng tôi, giới từ định vị không gian đợc nhiều họcgiả, nhà nghiên cứu quan tâm hơn cả Tuy nhiên, riêng mảng tính từ không gian(пространственное прилагательное), đặc biệt là tính từ chỉ kích thớc(пространственное прилагательное размера), trong nhiều ngôn ngữ,trong đó có tiếng Việt, cha đợc quan tâm nhiều và ít có những chuyên luận bànsâu về chúng Trờng hợp duy nhất có lẽ là luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Dự
Trang 7(bảo vệ năm 2004) về “Ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của nhóm tính từ chỉ khônggian (trên ngữ liệu Anh- Việt)” [27] Luận án này chủ yếu phân tích, miêu tả
các tính từ nh: high-low, tall-short, deep-shallow, thick-thin, long-short, wide/broad-narrow Vấn đề ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ kích thớc tiếng
Nga và tiếng Việt dới góc độ tri nhận không gian đang còn là vấn đề mới, cha
đợc ai bàn đến Trong khi đó, đây là một vấn đề có tính lí luận và thực tiễn rất
đáng đợc quan tâm và nghiên cứu Việc tìm hiểu, khảo sát về vấn đề này sẽgiúp ta hiểu rõ hơn tầm quan trọng của khái niệm không gian trong hệ thốngngôn ngữ cũng nh các đặc điểm ngữ nghĩa các tính từ chỉ kích thớc trong tiếngNga và tiếng Việt, và góp phần phát hiện những nét đặc trng t duy và văn hóacủa ngời Nga và ngời Việt đợc phản ánh qua nhóm từ này
3 Đối tợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và nguồn t liệu
Đối tợng nghiên cứu là nhóm tính từ chỉ kích thớc trong tiếng Nga:
высокий – низкий, глубокий – мелкий , толстый – тонкий, длинный – короткий, широкий – узкий, большой – маленький trong sự đối sánh với nhóm tính từ tơng đơng trong tiếng Việt: cao – thấp, sâu –nông, dày – mỏng, dài – ngắn, rộng – hẹp, to – nhỏ Đây là những tính
từ có vai trò biểu thị các ý nghĩa về kích thớc của các vật thể trong không gian Luận án sẽ tập trung vào những vấn đề ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉkích thớc, các cơ chế định vị kích thớc, cơ chế tri nhận kích thớc và cách dùngcủa các tính từ trên
Luận án do đó sẽ không đề cập đến các tính từ biểu đạt các thuộc tínhkhông gian khác chỉ hình dáng “vuông, tròn, méo” hay chỉ t thế “ngang,nghiêng, chéo, chênh vênh”
Nguồn t liệu đợc sử dụng trong luận án là ngữ liệu đợc rút ra từ các từ điển
đối chiếu Nga – Việt, Việt – Nga hoặc các từ điển tờng giải tiếng Nga vàtiếng Việt Nguồn t liệu còn đợc lấy từ các giáo trình, sách giáo khoa, các côngtrình nghiên cứu, luận án tiến sĩ, luận án thạc sỹ, các tác phẩm văn học nghệthuật,… đã đ
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án hớng đến những mục đích chính sau:
a Góp phần làm rõ ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ kích thớc trong tiếngNga và tiếng Việt, đặc biệt là phát hiện những nghĩa, nét nghĩa cha có trong từ
điển, hoặc nếu có thì cha đợc làm sáng tỏ, hoặc đang còn mang tính khái quát
Trang 8cần đợc miêu tả cụ thể hơn của nhóm tính từ chỉ kích thớc trong tiếng Nga vàtiếng Việt
b Góp phần làm rõ cơ chế tri nhận không gian nói chung và kích thớc nóiriêng của ngời Nga và ngời Việt
c ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn dạy và học tiếng Nga ởViệt Nam, đa ra những giải pháp để khắc phục lỗi mà ngời học tiếng Nga thờngmắc phải về các tính từ chỉ kích thớc
4.2 Nhiệm vụ của đề tài
Đề tài thực hiện các nhiệm vụ chính sau:
a Phân tích, miêu tả ngữ nghĩa của các tính từ chỉ kích thớc trong tiếngNga và tiếng Việt trên cơ sở ngữ liệu trong từ điển, làm rõ mối quan hệ có tính
hệ thống giữa từ và ngữ nghĩa của chúng
b Đối chiếu nghĩa và cách thức biểu đạt các thuộc tính không gian củanhóm tính từ chỉ kích thớc trong tiếng Nga và tiếng Việt qua kết hợp của chúngvới các thực thể không gian, nhằm chỉ ra những nét giống và khác nhau về cấutrúc ngữ nghĩa của nhóm tính từ trên
c Phát hiện những điểm giống nhau và khác nhau trong cơ chế, cách thứctri nhận không gian của ngời Nga và ngời Việt qua mối quan hệ giữa t duy, vănhóa và ngôn ngữ
d Chỉ ra những khu vực giao thoa ngôn ngữ và văn hóa, nguyên nhân gây
ra lỗi đối với ngời học tiếng Nga và đề xuất những giải pháp để hạn chế lỗi vàcách sửa lỗi trong quá trình dạy, học tiếng Nga
5.3 Phơng pháp thống kê phân loại
Trang 9Phơng pháp này đợc sử dụng để thống kê phân loại các tính từ chỉ kích
th-ớc, các nghĩa, nét nghĩa trong từ điển và trong cách sử dụng của các tính từ chỉkích thớc
5.4 Phơng pháp khảo sát, thực nghiệm
Chúng tôi lựa chọn những văn bản, soạn thảo những câu dịch tiếng Nga vàtiếng Việt có sử dụng các tính từ chỉ kích thớc để tiến hành khảo sát thựcnghiệm với các đối tợng học sinh, sinh viên chuyên và không chuyên tiếng Nga
ở các trờng trung học phổ thông và đại học
Kết quả khảo sát đợc tổng hợp, phân tích là cơ sở để đa ra những giải pháp
cụ thể trong ứng dụng nghiên cứu của đề tài
6 Đóng góp của luận án
Luận án của chúng tôi có những đóng góp chính nh sau:
- Đây là luận án đầu tiên nghiên cứu tính từ chỉ kích th ớc trong tiếng Nga
và tiếng Việt theo mô thức có tính song ngữ và liên văn hóa Đồng thời, nhómtính từ này đợc nghiên cứu theo hớng tri nhận không gian đặt trong mối quan
hệ bộ ba: t duy, ngôn ngữ, văn hóa
- Luận án có giá trị thực tiễn, không những giúp hiểu biết sâu hơn, có cáinhìn sâu sắc hơn về đặc trng tri nhận không gian của hai dân tộc Nga và Việt,
mà còn góp phần nâng cao chất lợng dạy và học tiếng Nga, công tác dịch thuật
từ tiếng Nga sang tiếng Việt và ngợc lại
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án bao gồm bốn chơng nh sau: Chơng 1: Những khái niệm, tiền đề cơ bản liên quan đến luận án
Chơng này trình bày một số vấn đề lí luận cơ bản liên quan đến luận án:lịch sử nghiên cứu, đối chiếu ngôn ngữ dới góc độ ngôn ngữ, t duy và văn hóa,nghĩa của từ và trờng từ vựng – ngữ nghĩa, đặc điểm của tính từ-tính từ chỉkích thớc, không gian ngôn ngữ
Chơng 2: Đặc trng ngữ nghĩa của các tính từ chỉ kích thớc theo phơngthẳng đứng
Chơng này tập trung miêu tả, đối chiếu ngữ nghĩa, cách sử dụng của cáctính từ chỉ kích thớc theo phơng thẳng đứng, chỉ ra sự tơng đồng và khác biệttrong tri nhận không gian của ngời Nga và ngời Việt
Chơng 3: Đặc trng ngữ nghĩa của các tính từ chỉ kích thớc theo phơng nằmngang
Trang 10Chơng này tập trung miêu tả, đối chiếu ngữ nghĩa, cách sử dụng của cáctính từ chỉ kích thớc theo phơng nằm ngang, chỉ ra sự tơng đồng và khác biệttrong tri nhận không gian của ngời Nga và ngời Việt
Chơng 4: ứng dụng kết quả nghiên cứu của nhóm tính từ chỉ kích thớc dớigóc độ tri nhận không gian vào dạy và học tiếng Nga, tiếng Việt
Trong chơng này, luận án chỉ rõ những sự giống nhau và khác nhau cơ bản
về tri nhận không gian của ngời Nga và ngời Việt; khảo sát và thực nghiệm kếtquả nghiên cứu qua các văn bản dịch trên các đối tợng học sinh, sinh viên; cáckhu vực giao thoa ngôn ngữ và văn hóa, nguyên nhân gây lỗi; những giải pháp,khuyến nghị đối với chơng trình, tài liệu học tập, ngời dạy và ngời học dới góc
độ tri nhận không gian
Trang 11Chơng 1
Những khái niệm, Tiền đề cơ bản liên quan đến luận án
1.1 Đối chiếu ngôn ngữ nhìn từ góc độ ngôn ngữ, t duy và văn hoá
Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của t tởng Ngôn ngữ là phơng tiện, công
cụ diễn đạt t duy, t tởng Với công cụ này ngôn ngữ đã hoàn tất nhiệm vụ quantrọng trong tất cả các phơng diện khác nhau nh những thông tin mang tính xãhội, phản ánh tâm t, tình cảm của từng cá nhân Thế giới khách quan là mộtchuỗi liên tục, nhng khi thế giới khách quan đó đợc phản ánh trong t duy, trong
ý thức thì ở từng ngôn ngữ cụ thể của mỗi dân tộc, thông qua và bằng ngôn ngữ
đó, cái thế giới ấy lại mang những nét đặc thù riêng Tìm hiểu kĩ nét đặc trngnày chúng tôi sẽ rút ra đợc các thông số rất quan trọng về mối quan hệ giữangôn ngữ, t duy và văn hoá làm tiền đề về mặt lý thuyết, trên cơ sở đó, chúngtôi dựa vào để tiến hành nghiên cứu các phần tiếp theo
Thuật ngữ “văn hoá” hiện nay đợc sử dụng rộng rãi, phổ biến Tuy nhiên,
để hiểu một cách chính xác nội dung thuật ngữ này là một vấn đề không đơngiản Cho đến nay đã có khoảng 400 định nghĩa khác nhau về “văn hoá” Tuynhiên, có một thực tế là: mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hoá riêng, vì bất kì cáigì ta hình dung cũng có mặt văn hoá, dù đó là cây cối, khí trời đến phong tục,cách tổ chức xã hội, các hoạt động tổ chức vật chất và tinh thần, các sản phẩmcủa các hoạt động ấy, do vậy khó có thể tìm một định nghĩa thao tác luận chovăn hoá nếu dựa vào xã hội học, kinh tế học, chính trị học… đã đCũng không thểtìm đợc cái gì chung, vì không thể liệt kê hết các mặt khác nhau giữa chúng.Chỉ còn cách tìm ngay ở bản thân con ngời, căn cứ vào sự khác biệt giữa conngời và các động vật khác [62, tr.144 ]
Theo giáo s Phan Ngọc, xét theo nghĩa gốc, văn hoá gắn liền với giáo dục,
đào tạo con ngời, một tập thể ngời để cho họ có đợc những phẩm chất tốt đẹp,cần thiết cho toàn thể cộng đồng Theo ông, khi thuật ngữ “văn hoá” vào ph-
ơng Đông, qua tiếng Hán, nghĩa gốc của “văn” là cái đẹp do màu sắc tạo ra, cónghĩa là hình thức biểu hiện trong lễ, nhạc, cách cai trị và đặc biệt là trongngôn ngữ, cách c xử lịch sự Nó biểu hiện một hệ thống quy tắc ứng xử đợcxem là đẹp đẽ Do đó, “văn” trở thành một yếu tố then chốt của chính trị và lýluận, thu hút những ngời dị tộc theo ngời Hán bằng chính cái Văn của nó Năm 1938 Đào Duy Anh đã viết: “Ngời ta thờng cho rằng văn hoá là chỉnhững học thuật t tởng của loài ngời, nhân thế mà xem văn hoá có vốn tính chấtcao thợng đặc biệt Thực ra không phải nh vậy, học thuật t tởng cố nhiên là ởphạm vi văn hoá, nhng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội
Trang 12cùng hết thảy các phong tục tập quán thờng lại không phải ở trong phạm vi vănhoá hay sao? Hai tiếng văn hoá chẳng qua là chỉ chung tất cả các phơng tiệnsinh hoạt của loài ngời cho nên ta có thể nói rằng: “Văn hoá tức là sinh hoạt”[2, tr 13]
Năm 1949, trong “Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam”, Trờng Chinhviết: “Văn hoá là một vấn đề lớn lao bao gồm cả văn học nghệ thuật, khoa học,triết học, phong tục, tôn giáo, … đã đCó ngời cho rằng văn hoá với văn minh là một.Nhng trong lịch sử đã có nhiều dân tộc cha có văn minh nhng đã có văn hoá.Văn hoá súc tích, phát triển tới mức nào đó mới thành văn minh” Năm 1998,Phan Ngọc định nghĩa: “Văn hoá là mối quan hệ giữa thế giới biểu tợng trong
óc một cá nhân hay một dân tộc ngời với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cánhân này hay tộc ngời này mô hình hoá theo cái mô hình tồn tại trong biểu t-ợng, đó là văn hoá dới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựachọn riêng của cá nhân hay tộc ngời, khác các kiểu lựa chọn của cá nhân haytộc ngời khác… đã đ”[63]
Ngôn ngữ là thành tố cực kỳ quan trọng của văn hoá Dù biểu đạt bằngcách nào thì ngôn ngữ cũng là thành tố của văn hoá, phơng tiện của văn hoá,làm tiền đề cho văn hoá phát triển Nguyễn Lai viết: “Sự hình thành ngôn ngữ
là tiền đề nhiều mặt của hình thành văn hoá, mặc dù theo cách sắp xếp hìnhthức thì ngôn ngữ nằm trong phạm trù văn hoá” [50, tr 5] Trong tác phẩm nổi
tiếng của mình “Ngữ pháp tiếng Đức”, Jacob Grimn nhấn mạnh: “Ngôn ngữ
chúng ta là lịch sử của chúng ta” Tơng tự, F De Saussure viết: “Phong tục củamột dân tộc có tác động đến ngôn ngữ và mặt khác, trong chừng mực khá quantrọng, chính ngôn ngữ làm nên dân tộc” [73, tr 47]
Trong quá trình phát triển, ngôn ngữ dân tộc và văn hoá dân tộc luôn luônnơng tựa lẫn nhau, cái này làm tiền đề cho cái kia và ngợc lại, dẫu biết rằngngôn ngữ chính là phơng tiện tất yếu và cơ sở để cho các thành tố văn hoá khácnhau phát triển Giữa ngôn ngữ và văn hoá, ngôn ngữ dân tộc và văn hoá dântộc có mối quan hệ gắn bó hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau Tuy vậy, ngônngữ vẫn là thành tố độc lập của văn hoá dân tộc, chiếm vị trí đặc biệt trong nềnvăn hoá Ngôn ngữ chính là nơi lu giữ và thể hiện rõ nhất đặc trng của nền vănhoá dân tộc Ngoài ra, ngôn ngữ còn có những vai trò quan trọng khác nh đó làmột trong những tiêu chí để nhận diện, phân biệt dân tộc Đặc biệt, nó còn làphơng tiện kế thừa giữa các thế hệ trong sự phát triển tinh thần của họ, đâychính là chức năng lu trữ (hay tích luỹ) tri thức của ngôn ngữ Vì vậy, E M.Vereshagin và V G Kôxtômarôv đã coi “ngôn ngữ là tấm gơng thực sự của
Trang 13nền văn hoá dân tộc” Những đặc trng văn hoá - dân tộc đều ít nhiều có liênquan trực tiếp hay gián tiếp với đặc trng dân tộc của t duy, ngôn ngữ ở ngời bảnngữ
Nh vậy, ngôn ngữ, t duy (ý thức) và văn hoá có mối quan hệ khăng khít,tựa vào nhau
Khi nghiên cứu đối chiếu, so sánh các ngôn ngữ với nhau ở một lĩnh vựcnào đó nh các từ chỉ màu sắc, chỉ không gian, thời gian v.v để tìm ra những néttơng đồng và dị biệt giữa các ngôn ngữ đó, ngời nghiên cứu sẽ phát hiện ranhững thông tin bổ ích và quí giá cho việc tìm hiểu bản sắc của nền văn hóa và
sự tri nhận của các dân tộc nói những ngôn ngữ khác nhau đó
1.2 Ngữ nghĩa học và trờng từ vựng – ngữ nghĩa
từ vựng và nghĩa ngữ pháp của ngôn ngữ tự nhiên” [155]
Theo Lê Quang Thiêm, “Ngữ nghĩa học là bộ môn, môn học nghiên cứunghĩa của các biểu thức, các đơn vị của ngôn ngữ trong hệ thống cũng nh tronghoạt động hành chức ở diện đồng đại cũng nh trong tiến trình phát triển lịch sửcủa ngôn ngữ” [91, tr 7]
Đã từ rất lâu nghĩa của từ đợc các nhà nghiên cứu quan tâm đến Điều này
đã đợc trình bày trong công trình của Nguyễn Văn Tu [96] Ông đã khái quát
đợc 7 khuynh hớng chính trong nghiên cứu về nghĩa, đó là: nghĩa là đối tợng,nghĩa là biểu tợng, nghĩa từ là khái niệm, nghĩa của từ là quan hệ giữa tín hiệu
và đối tợng, nghĩa là chức năng của tín hiệu – từ, nghĩa của từ là bất biến thểcủa thông tin, các yếu tố tạo ra nghĩa của từ
Đỗ Hữu Châu khi nghiên cứu về ngữ nghĩa, đã phân ra ba loại ý nghĩa từvựng:
- ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật
- ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm
- ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái
Trang 14Khi phân tích ý nghĩa biểu vật, Đỗ Hữu Châu cho rằng sự vật, hiện tợng,
đặc điểm… đã đ ngoài ngôn ngữ, đợc từ biểu thị tạo nên ý nghĩa biểu vật của từ ýnghĩa biểu vật là sự phản ánh sự vật, hiện tợng trong thực tế khách quan vàongôn ngữ và liên quan đến hệ thống cấu tạo từ của từng ngôn ngữ [15]
Nguyễn Thiện Giáp [32] phân ra các loại nghĩa: nghĩa sở chỉ, nghĩa sởbiểu, nghĩa sở dụng và nghĩa kết cấu; và đã dẫn ra hàng loạt ví dụ để minhchứng, lí giải từng kiểu loại nghĩa
1.2.2 Ngữ nghĩa và ngôn ngữ học tri nhận
Trong cuốn “Ngữ nghĩa học” của Lê Quang Thiêm [91], tác giả có trình
bày khái lợc về tiến trình và khuynh hớng ngữ nghĩa học, khuynh hớng ngữnghĩa học hình thức, siêu ngôn ngữ tự nhiên ngữ nghĩa, khuynh hớng ngữ nghĩatri nhận, một số sơ đồ kiến giải nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ thế kỉ XX, hoạt
động chức năng của việc xác định nghĩa trong ngôn ngữ, đờng hớng tiếp cậnnghĩa từ vựng từ nhân tố hoạt động chức năng, tầng nghĩa và kiểu nghĩa chứcnăng từ vựng, v.v
Ông cho rằng, trong ngữ nghĩa học hiện đại có rất nhiều đặc điểm, thuộctính, quan hệ với nhiều ngành khoa học và mang tính liên ngành Trong đó ngữnghĩa học hình thức liên quan đến logic, nhân chủng học, xã hội học và triếthọc; ngữ nghĩa học tri nhận liên quan đến tâm lý học và tri nhận luận
Khi đề cập tới khuynh hớng ngữ nghĩa học tri nhận, Lê Quang Thiêm coi
đây là khuynh hớng lý thuyết mà trong nghiên cứu nghĩa coi trọng sự tri nhận,
đề cao sự tri giác, sự nhận thức là những hình thức của năng lực t duy Đó làquá trình, kết quả phản ánh, tái hiện hiện thực vào t duy, là quá trình con ngờinhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc qui luật t duy cũng nh kết quả củaquá trình đó Coi trọng sự tri nhận là coi trọng mặt nội dung, mặt nghĩa trongphân tích miêu tả nghĩa của ngôn ngữ Ông khẳng định rằng, ngôn ngữ học trinhận coi ngôn ngữ là một năng lực tinh thần và khả năng ngôn ngữ của con ng-
ời đợc xác định nh một hình thức của tri thức, của khả năng tri nhận Tri thứcngôn ngữ là một bộ phận của sự tri nhận nói chung của con ngời Đối tợng của
sự phân tích ngữ nghĩa là khám phá qui luật, khả năng và kết quả tri nhận ngữnghĩa, ngôn ngữ nói chung của cá nhân và cộng đồng ngôn ngữ Ngữ nghĩa họctri nhận coi trọng vai trò của nhân tố chủ thể con ngời trong ngôn ngữ, vai tròngữ nghĩa trong các cấp độ, bình diện phân tích miêu tả, giải thích các hiện t-ợng ngôn ngữ Khi nhận xét, so sánh ngữ nghĩa học tri nhận với ngôn ngữ họctruyền thống và ngữ nghĩa học của ngữ pháp tạo sinh N Chomsky, Lê QuangThiêm cho rằng: ngữ nghĩa học tri nhận ở bình diện tâm lý và sự nhận thức
Trang 15trong xem xét và giải thích sự thay đổi nghĩa là có sự gắn kết với văn cảnh, ngữcảnh và hớng tới các loại đơn vị khác nh câu và lời… đã đ, coi trọng đúng mức đếnhành chức, hoạt động trong xác định miêu tả nghĩa
Theo ông, ngôn ngữ học tri nhận và ngữ nghĩa học tri nhận không chọncon đờng tiếp cận ngôn ngữ hớng ngoại của ngữ pháp tạo sinh (ngời đại diện là
N Chomsky) mà chọn hớng tiếp cận ngôn ngữ hớng nội Đó là coi sự nghiêncứu ngôn ngữ nh là sự khám phá “một cơ thể” của sự hiểu biết, một vốn tri thứcthể hiện trong ý nghĩ, trong trí tuệ của cá nhân và cộng đồng ngời nói; xem sựnghiên cứu những đặc điểm ngôn ngữ và ngữ nghĩa đợc đặc trng hóa trong khảnăng tri nhận của ngời nói; vì vậy việc nghiên cứu, miêu tả ngôn ngữ và ngữnghĩa phải gắn với tâm lí học tri nhận và khoa học tri nhận Đồng ý với R.Jackendoff [149], G Lakoff [151], R Langacker [152], Lê Quang Thiêm nhấnmạnh rằng, ngữ nghĩa nh là công cụ để t duy và tri nhận thế giới, nó thừa nhận
sự tơng tác giữa con ngời và thế giới thông qua cấu trúc thông tin hình thànhtrong trí não con ngời; cấu trúc hình thức của ngôn ngữ đợc nghiên cứu thựcchất là sự phản ánh, ánh xạ của những cấu trúc khái niệm nói chung, của cácnguyên tắc phạm trù hóa, của các cơ chế hoạt động ngôn ngữ trong giao tiếpvới ảnh hởng trực tiếp của bối cảnh môi trờng và kinh nghiệm Từ cách tiếp cậntrên, Lê Quang Thiêm đa ra định hớng nghiên cứu cơ bản, đó là, ngữ nghĩa trinhận hớng trọng tâm vào việc phân tích cơ sở khái niệm và cơ sở qui ớc kinhnghiệm của phạm trù, những nguyên tắc và bình diện chức năng ngôn ngữ cần
đợc chú ý, dành sự quan tâm tới các qui ớc dân gian, tri thức kinh nghiệm, cảmxúc và dụng học và áp dụng luật phối cảnh trong tri nhận thế giới: xác lập tính -
u trội của nghĩa, xác lập từ vựng (từ vựng là hệ thống tín hiệu mở, nơi tiếp nhậnthông tin, lu giữ, tàng trữ thông tin, mã hóa thực tại vào chất liệu ngôn ngữ),
mở rộng ra các bình diện ngữ pháp học, cú học và dụng học
Cũng từ những luận điểm đã trình bày, Lê Quang Thiêm đã đa ra các ớng thực hiện đối với các công trình nghiên cứu ngữ nghĩa tri nhận trong đó đềcập tới hớng nhìn nhận về nghĩa, nhân tố qui định nghĩa Tác giả cho rằng, biểuhiện ngữ nghĩa tri nhận, các tín hiệu ngôn ngữ (từ, ngữ, câu) với hình thức vànội dung không phải tồn tại có sẵn mà đợc hình thành bắt đầu từ ý thức, từ sựhiểu biết, cảm nhận của con ngời Một ý niệm, một cảm xúc xuất hiện đòi hỏimột hình thức biểu hiện của ngôn ngữ Với tri thức ngôn ngữ học, việc thaymột từ, biến một âm, thay đổi trật tự tổ hợp là thay đổi nghĩa Sự việc bắt đầu từnghĩa, từ cái đợc biểu hiện (theo thuật ngữ của Saussure) rồi mới có cái biểuhiện và khi tín hiệu hình thành thì do sử dụng, do sự sáng tạo của ngời nói mà ở
Trang 16h-nhiều từ ngữ, hình thức không thay đổi nhng nghĩa lại thay đổi h-nhiều, nghĩabiến đổi không ngừng, đó là hiện tợng đa nghĩa, là sự chuyển nghĩa, phát triểnnghĩa Trong ngôn ngữ cũng nh lời nói, chúng ta cũng thờng gặp cùng một nộidung, một cái đợc biểu hiện nhng lại có nhiều hình thức biểu hiện, chuyển dịch
từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ khác, có nhiều hình thức biểu hiện khác nhau,
đó là đồng nghĩa và biến thể phiên dịch… đã đ
Đối với ngữ nghĩa học tri nhận, nghĩa từ đợc nhấn mạnh, coi trọng hơnnghĩa câu Nghĩa chân thực của câu không phải là đặc trng quan trọng nhất mà
có thể đợc thay thế bằng sự chấp nhận hoặc niềm tin Các nhà ngữ nghĩa họcchỉ quan tâm đến nghĩa chân thực của câu khi xét tới quan hệ giữa thế giới hiệnthực và cấu trúc tri nhận
Cấu trúc tri nhận gắn kết với các cách thức, cơ chế tri nhận một cách trựctiếp hoặc gián tiếp, do vậy, nghĩa là nền móng, là cơ sở của nhận thức Con ng-
ời có thể nói về những gì họ nghe và thấy đợc, ngợc lại con ngời cũng có thểtạo ra những hình ảnh thực hoặc ảo về những gì họ nghe nói đến hay đọc đợc
Có thể nói não ngời “ lu trữ ” cái nhận thức, cái tri nhận đợc dới dạng nghĩa củatừ
Những quan điểm, luận điểm về ngôn ngữ học tri nhận, ngữ nghĩa tri nhậncủa các nhà nghiên cứu đã trình bày ở trên sẽ là cơ sở quan trọng giúp chúngtôi có đợc hớng tiếp cận đúng để triển khai và thực hiện nghiên cứu đề tài củamình
1.2.3 Về trờng nghĩa
Từ rất lâu, F De Saussure đã chỉ ra những mối quan hệ phức tạp, đa dạng,nhiều cấp độ khác nhau trong hệ thống ngôn ngữ Các yếu tố có giá trị, có ýnghĩa nhờ sự đối lập và nằm trong một hệ thống nhất định Trong hệ thống, theo
F De Saussure có hai loại quan hệ chủ yếu là : quan hệ liên tởng và quan hệ cú
đoạn Quan hệ cú đoạn (quan hệ hình tuyến, quan hệ ngang, quan hệ kế cận) vàquan hệ thay thế (quan hệ dọc, quan hệ liên tởng) có chức năng khác nhau, liênquan tới các trờng nghĩa khác nhau Xác lập tiêu chí cho trờng nghĩa là côngviệc thuần tuý ngôn ngữ học Căn cứ vào những tiêu chí ngôn ngữ học mà có thểquy loại vốn từ vựng thuộc vào trờng từ vựng- ngữ nghĩa này hay trờng từ vựng -ngữ nghĩa khác Ngời đầu tiên đa ra lý thuyết trờng nghĩa là Jos Trier Ông đãnghiên cứu những từ chỉ trí tuệ trong tiếng Đức cổ và chứng minh rằng những từnày làm thành một phạm vi từ vựng phụ thuộc lẫn nhau trong đó nghĩa từ này có
đợc do từ bên cạnh quyết định Theo Jos Trier “Trờng nghĩa là những thực từngôn ngữ tồn tại ở giữa các từ riêng biệt và toàn bộ từ vựng, nó là bộ phận của
Trang 17một toàn thể và làm ta nhớ đến những từ riêng biệt ở chỗ nó kết hợp thành một
đơn vị cao cấp và nó còn làm ta nhớ đến từ vựng ở chỗ nó chỉ ra những đơn vịnhỏ hơn” [dẫn theo Nguyễn Văn Tu, 96, tr 1201]
Trên cơ sở lý thuyết về trục ngang (quan hệ ngang) và trục dọc (quan hệdọc) của F De Saussure, Đỗ Hữu Châu đã lý giải trờng nghĩa biểu vật và trờngnghĩa biểu niệm trên cơ sở phân xuất các loại nghĩa Trờng nghĩa biểu vật làmột tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật Đó là các danh từ phải cótính khái quát cao, nh kiểu ngời, động vật, thực vật, vật thể, chất liệu… đã đ Chẳng
hạn nh trờng biểu vật “ngời”; ngời nói về tuổi tác: trẻ em, thiếu nhi, thanh niên,
cụ già, … đã đ ngời nói chung về nghề nghiệp: thầy giáo, giáo viên, công nhân… đã đ,
ngời nói chung về tổ chức xã hội: hội viên, đội viên, uỷ viên, xã viên…ngời nói chung về chức vụ: giám đốc, hiệu trởng, trởng phòng… đã đ
Quan hệ của các từ ngữ đối với một trờng biểu vật nói riêng và trờngnghĩa nói chung là không ngang nhau Có những từ gắn chặt với trờng (những
từ ngữ điển hình), có những từ ngữ gắn bó lỏng lẻo hơn; “Căn cứ vào tính chấtquan hệ giữa từ ngữ với trờng chúng ta nói các trờng biểu vật có một cái lốitrung tâm quy định những đặc trng ngữ nghĩa của trờng gồm những từ ngữ điểnhình cho nó Ngoài cái lõi của trờng là các lớp từ khác mỗi lúc một đi xa rakhỏi lõi, liên hệ với trờng mờ nhạt đi [15, tr 165] Trên cơ sở ý nghĩa biểuniệm, các trờng nghĩa biểu niệm đợc phân ra Một trờng nghĩa biểu niệm là mộttập các từ có chung một cấu trúc biểu niệm Cũng tơng tự nh trờng nghĩa biểuvật, các trờng nghĩa biểu niệm lớn lại chia ra các trờng nghĩa biểu niệm nhỏ
Đỗ Hữu Châu đã chia ra các trờng biểu niệm: trờng biểu niệm vật thể nhân tạo
nh dụng cụ để chia cắt (dao, ca, … đã đ), dụng cụ để nện, gõ (búa, vồ, dùi cui… đã đ)dụng cụ để xoi, đục (đục, dùi, khoan), trờng biểu niệm hoạt động v v… đã đ
Trong phạm vi không gian, rất đáng chú ý là trờng hợp của trờng từ vựng
chỉ hớng vận động: ra, vào, lên, xuống đợc tác giả Nguyễn Lai [49] lý giải khá
tờng minh Nhóm động từ này phát triển rất phong phú về nghĩa không gian,
thời gian, tâm lý Nghĩa đầu tiên của từ lên là vận động di chuyển từ thấp lên cao trong không gian, và xuống là ngợc lại từ cao xuống thấp Độ thấp gắn với
vị trí biển và hớng Đông, độ cao gắn với vị trí núi và hớng Tây Nghĩa phổ quát
đầu tiên của từ ra là vận động di chuyển từ không gian hẹp đến không gian rộng, và vào là ngợc lại: từ rộng đến hẹp Địa hình Việt Nam rộng nằm ở phía Bắc và hẹp nằm ở phía Nam Do vậy vào có thêm nét nghĩa vận động từ hớng Bắc đến hớng Nam, ra có thêm nét nghĩa di chuyển từ hớng Nam đến hớng Bắc
(trên địa hình Việt Nam) Có thể minh họa nh sau:
Trang 18Thấp Cao Cao Thấp
Biển Núi Núi Biển
Đông Tây Tây Đông
Trờng từ vựng không gian là một trong những trờng từ vựng mang đậmnét đặc trng văn hoá dân tộc trong t duy ngôn ngữ, thể hiện qua các đặc trngcấu trúc không gian
Trang 19Về chức năng định danh, tính từ có chức năng định danh tính chất, địnhdanh sự vật quan trọng sau danh từ và động từ Đỗ Hữu Châu đã khẳng định:
“Không phải chỉ danh từ mới có chức năng định danh Động từ, tính từ, trạng từcũng là những tên gọi của các thuộc tính, các quá trình và các biểu hiện củathuộc tính và quá trình… đã đ nhờ các tính từ chỉ kích thớc mà các đối tợng đợcphân biệt với nhau về mặt kích thớc trong t duy”… đã đ[16, tr 187]
Về mặt ý nghĩa ngữ pháp, tính từ là từ loại chỉ đặc trng nói chung, gồmnhững đặc trng hình thành theo nhận thức chủ quan của con ngời trong quan hệvới đối tợng, quan hệ của trạng thái tình cảm và những liên hệ trừu tợng Ngoàitính chất chỉ đặc trng chung, tất nhiên, tính từ còn có ý nghĩa chỉ về tính chất,
đặc điểm, màu sắc
Trong các ngôn ngữ ấn - Âu, xét về phơng diện từ loại, trên cấp độ ngữ pháp trong mối quan hệ với thực thể hay với vận động, chúng ta thấy rõ có sự khác biệt về mặt ý nghĩa của tính từ ở ngôn ngữ ấn - Âu và tiếng Việt ý nghĩa của tính từ và trạng từ ở các ngôn ngữ châu Âu trong đa số các trờng hợp có chung một biểu vật (thực thể hoặc vận động) nhng có hai hình thức cấu tạo
riêng biệt Chẳng hạn: быстрый ход ходить быстро
Ngợc lại, trong tiếng Việt, không có sự phân biệt giữa đặc trng với thựcthể và đặc trng với vận động Do vậy, trong tiếng Việt vắng mặt từ loại “trạngtừ” nh ở các ngôn ngữ ấn - Âu Chức năng của trạng từ đợc thống nhất với tính
từ vừa là định tố cho danh từ, vừa là định tố cho động từ Ví dụ, Bức tranh đẹp.
Vẽ đẹp
Đỗ Thị Kim Liên khẳng định: "Tính từ có khả năng kết hợp phổ biến vớiphó từ chỉ mức độ còn động từ thờng kết hợp phổ biến với phó từ chỉ thời gian.Tính từ thờng làm định ngữ cho danh từ, động từ kết hợp hạn chế hơn" [52, tr.55]
Về vị trí của tính từ trong câu cũng có sự khác nhau giữa các ngôn ngữ ởcác ngôn ngữ có loại hình trật tự SVO thì tính từ thờng đứng sau Khác vớitiếng Việt khi tính từ mô tả sự vật đợc biểu thị ở danh từ trong các ngôn ngữ ấn
- Âu thì vị trí của tính từ là đứng trớc danh từ Ví dụ so sánh: Cái ô đẹp Это красивый зонт.
Về mối quan hệ giữa tính từ và trạng từ, trong nhiều ngôn ngữ, có một lớptrạng từ miêu tả tính chất của các hoạt động có nhiều nét giống theo cách màtính từ miêu tả tính chất của các sự vật Về mặt hình thái, phần lớn các trạng từ
Trang 20đợc cấu tạo từ những tính từ; Chẳng hạn, trong tiếng Nga trạng từ cách thức đợc
cấu tạo bằng hậu tố - о: хорошо (хороший), быстро (быстрый), медленно (медленный)
Nhng không phải tất cả các tính từ đều có khả năng tạo ra trạng từ; Ví dụ,
trong tiếng Anh có trạng từ liên quan đến tính từ chỉ tính chất nh beautifully, tốc độ nh quickly, … đã đnhng không có các trạng từ liên quan đến tuổi tác nh:
new, old, young
Xét về chức năng cú pháp, hầu hết tính từ tiếng Nga có vai trò là định ngữ
và vị ngữ Bên cạnh đó, tính từ tiếng Nga còn có hai đặc điểm khác: tính từ cóthể kết hợp với phó từ chỉ mức độ очень (очень короткий) và có thể đợc sử
dụng ở dạng so sánh hơn kém và so sánh cao nhất, chẳng hạn: больше, легче, быстрее … самый хороший (человек), самое высокое кресло, самая длинная волна…[128]
Trong tiếng Việt, theo Đinh Văn Đức, tính từ tiếng Việt có hai chức năng:
vị ngữ và định ngữ, ngoài ra có thể đóng vai trò chủ ngữ trong câu, ví dụ, đẹp thì cho ra đẹp [31, tr 23] Tuy vậy, chức năng này của tính từ trong tiếng Việt
là hạn chế và có thể nói mang tính chủ đề hơn là chủ ngữ
1.3.2 Nghĩa của tính từ
Tính từ tiếng Nga, theo D E Rozental [131] có các nghĩa sau:
- Chỉ trạng thái tính chất (tĩnh hoặc động) Tính từ là lớp từ quan trọng đợc
sử dụng để miêu tả các thuộc tính hay tính chất của ngời, sự vật và hiện tợngtrong thế giới khách quan
Ví dụ:
- Chỉ màu sắc: белый, оранжевый, синий … đã đ
- Độ dài không gian, vị trí: широкий, левый…
- Độ dài không gian, diễn tiến theo thời gian: длинный, долгий …
- Tính từ tiếng Nga thờng chỉ mức độ và không mức độ, những tính từ chỉmức độ thờng đợc mở rộng nghĩa bởi một trạng từ để biểu đạt mức độ tăng lên
của trạng thái tính chất: очень медленный, очень хороший…
- Sự biểu đạt mức độ còn bao gồm cả sự so sánh tơng đối và tuyệt đối:
красивее, быстрее, легче ; … самый длинный …
Trang 21- Trong tiếng Nga, tính từ và danh từ hợp dạng về hình thái, do vậy xuấthiện hiện tợng “ thể từ hóa”: Tính từ đợc sử dụng nh danh từ và có đặc điểmphạm trù ngữ pháp của danh từ:
новое, данное
столовая, рабочий
Khi đề cập tới tính từ trong tiếng Việt, các nhà ngôn ngữ học cho rằng các
ý nghĩa ngữ pháp của tính từ tiếng Việt cũng tơng tự nh ở các ngôn ngữ khác,nhng chúng không có hình thái cấu tạo riêng Các ý nghĩa này đợc biểu đạtbằng phơng tiện cú pháp, tức là khả năng kết hợp trong cụm từ và chức năngthành phần câu Tuy vậy, tính từ tiếng Việt cũng có những nét đặc trng riêng.Tiếng Việt không có tính từ chỉ quan hệ và sở thuộc, chúng đợc diễn đạt bằngcác phơng tiện từ vựng [38, tr 15]
Tính từ, ngoài nghĩa miêu tả nh đã đề cập trên, còn một nghĩa nữa đặcbiệt quan trọng, đó là nghĩa dụng học Nghĩa miêu tả kết hợp với nghĩa dụnghọc thì mới tổ hợp thành một ý nghĩa biểu hiện hoàn chỉnh của tính từ [16, tr35-50] Đề cập tới ý nghĩa dụng học của tính từ tức là tính đến yếu tố con ngời,mối quan hệ giữa đơn vị ngôn ngữ - tính từ - với ngời sử dụng Việc nghiên cứucấu trúc ngữ nghĩa của tính từ ở bình diện dụng học, một mặt cho chúng ta thấy
“ toàn cảnh” cấu trúc phức tạp về mặt ý nghĩa của tính từ, mặt khác giúp chúng
ta phân loại tính từ một cách khu biệt, rạch ròi và thuyết phục hơn Trên cơ sởbình diện nghĩa dụng học của tính từ, Đỗ Hữu Châu đã phân loại tính từ tiếngViệt thành các nhóm nh sau (tính từ đơn âm tiết)
a, Các tính từ có tính chất vật lý, độ đo theo các chiều không gian: cao, thấp, to , nhỏ, rộng, hẹp, nông, sâu…
b, Các tính từ có tính chất vật lý, dạng hình học trong không gian:
vuông, tròn, méo, cong … đã đ
c, Các tính từ có tính chất vật lý, có t thế: xiên, ngang, ngay … đã đ
d, Các tính từ có tính chất vật lý, có cảm giác xúc giác: nóng, ấm, lạnh…
e, Các tính từ có tích chất vật lý, có cảm giác vị giác: ngọt, bùi, đắng, cay, ngon …
f, Các tính từ có tính chất vật lý có cảm giác khứu giác: thơm, khét, nồng, khai…
g, Các tính từ có tính chất vật lý có cảm giác thị giác về màu sắc: xanh,
đỏ, tím, vàng…
1.3.3 Tính từ chỉ kích thớc
Trang 22Tính từ chỉ kích thớc không gian cũng có những đặc điểm hình thái, cúpháp và ngữ nghĩa nh những tính từ khác Tuy nhiên, tính từ chỉ kích thớc tựthân chúng là loại tính từ tính chất đặc biệt mà có thể gọi là những tính từ phẩmchất - đánh giá (качественно - оценочные) chỉ những thuộc tính tơng đối(относительные свойства) của sự vật đợc con ngời phân chia trong quátrình định vị đánh giá
Tính từ chỉ kích thớc không gian trong các ngôn ngữ, cũng nh trong tiếngNga, thờng ở trong thế đối lập từng cặp về nghĩa (антонимичные пары).Việc sử dụng các tính từ phần lớn phụ thuộc vào các danh từ chỉ sự vật, hiện t-ợng có những tính chất tơng ứng đợc biểu thị Tính từ chỉ kích thớc thờng lànhững tính từ đa nghĩa và có cấu trúc mở với một số lợng ý nghĩa nhất định Sựkhác nhau giữa các nghĩa của các tính từ đa nghĩa chủ yếu là sự khác nhau vềkhả năng kết hợp từ vựng (лексическая сочетаемость) của chúng vớinhững danh từ nhất định
Nh vậy, khái niệm kích thớc là một khái niệm mang tính phạm trù, nhng làmột thể thống nhất của hai thành phần số lợng và không gian Thành phầnkhông gian bao hàm khái niệm phơng, chiều, điểm, đờng thẳng và mặt phẳng.Các khái niệm đó đều đợc thể hiện đầy đủ và phức tạp trong tính từ chỉ kích th-
ý thức của chúng ta không phải là không gian vật lí khách quan, mà đó làkhông gian đã đợc khúc xạ qua nhận thức của con ngời chịu ảnh hởng của cácyếu tố văn hóa, sự trải nghiệm của cộng đồng và cả cá nhân con ngời Có thểnói rằng, thế giới, không gian mà ngôn ngữ phản ánh là thế giới, không gian đ-
ợc con ngời tri nhận Ngôn ngữ mà con ngời sử dụng không phản ánh thế giới,không gian khách quan
1.4.2 Khái niệm không gian ngôn ngữ
Từ xa xa, con ngời đã hiểu rõ rằng vật chất bất kì thế nào, dù ở dạng vận
động hay không vận động cũng có một vị trí nhất định, ở một khung cảnh nhất
Trang 23định trong tơng quan về mặt kích thớc với các vật thể xung quanh Lênin đãkhẳng định: “Trong thế giới, không có gì ngoài vật chất đang vận động và vậtchất đang vận động không thể ở đâu ngoài không gian và thời gian” (V I.Lênin, tr 189-193)
Nh vậy, vật chất tồn tại với ba phạm trù đặc trng: vận động, không gian
và thời gian
Khái niệm không gian bao gồm không gian vật lý khách quan, khônggian ngôn ngữ và không gian nhận thức Trong luận án này, chúng tôi đề cậptới đề tài không gian tri nhận thể hiện qua ngôn ngữ
Với khái niệm không gian “bao hàm” nh vậy, một vấn đề cần đợc xác định
rõ ràng là không gian trong ngôn ngữ có sự khác biệt với không gian vật lý,không gian nhận thức hay không? Câu trả lời là có Các nhà nghiên cứu khônggian ngôn ngữ đã kết luận rằng không gian ngôn ngữ khác với không gian vật
lý khách quan trong nhận thức khoa học cũng nh không gian đợc phản ánhtrong đầu óc con ngời với t cách là một chủ thể nhận thức Không gian ngônngữ là kết quả của sự phản ánh có chọn lọc của không gian nhận thức, có nghĩarằng không gian trong ngôn ngữ không phản ánh toàn bộ không gian nhậnthức
Trên cơ sở nghiên cứu qua nhiều công trình về không gian, tác giả LýToàn Thắng đã nhận xét và khẳng định: “ Trong các “ bộ phận” của mô hình
“ngây thơ” về thế giới đợc phản ánh trong đầu óc ngời bản ngữ, không gian là
bộ phận mang đậm những nét đặc thù dân tộc, đây cũng là một phạm trù quantrọng bậc nhất của cả ngữ nghĩa, văn hoá và ý thức… đã đ[83, tr 67]
Để khẳng định về tầm quan trọng của không gian đợc thể hiện trong ngônngữ, Nguyễn Đức Dân cũng nhận định: “… đã đKhông gian có vai trò rất quantrọng trong ngôn ngữ Những năm gần đây ngời ta nhận ra rằng không gian cóvai trò cơ bản hơn thời gian trong tổ chức ngôn ngữ Hình ảnh thế giới đợc phản
ánh qua ngôn ngữ trớc hết là phản ánh về nhận thức không gian rồi mới tới thờigian” [23, 24]
Nh đã đề cập ở trên, luận án sẽ tập trung vào khái niệm “ không gian ngônngữ” (лингвистическое пространство) và góp phần lý giải sự chi phối củakhông gian nhận thức đối với không gian ngôn ngữ, hay đúng hơn là sự nhậnthức của con ngời có ảnh hởng nh thế nào tới việc phản ánh, tái tạo thế giớitrong ngôn ngữ
1.4.3 Các thuộc tính chung của không gian ngôn ngữ
Trang 24Nh luận án đã đề cập ở phần trớc, không gian ngôn ngữ khác với kháiniệm “không gian vật lý khách quan” và khái niệm “không gian đợc tri giác”của con ngời (là sự phản ánh của không gian vật lí bên ngoài vào trong tâm lý,
trong ý thức bên trong của con ngời) Không gian ngôn ngữ là không gian đợc biểu đạt trong ngữ nghĩa của các từ chỉ không gian, nó trực tiếp liên quan với không gian đợc tri giác mà H Clark [140, tr.79] gọi là “L Space”.
Theo Lý Toàn Thắng, đến nay vẫn cha có một công trình nào đi sâu vàtoàn diện nghiên cứu về “không gian” và chỉ rõ thực tế “không gian” có nhữngthuộc tính nào và có những mối quan hệ nào?
Tuy vậy, qua các công trình nghiên cứu về ngữ nghĩa của các nhà ngônngữ trên thế giới nh Lyons [155], Leech [153], Talmy [160], Herskovits… đã đ, H.Clark [140]… đã đ và của những nhà ngôn ngữ học Việt Nam nh Nguyễn Đức Dân[24], Nguyễn Thị Dự [27], Nguyễn Đức Tồn [93], Lý Toàn Thắng [81, 82]… đã đchúng ta có thể thấy không gian ngôn ngữ có những thuộc tính và quan hệ sau
đây:
- Hình dáng: đợc biểu đạt trong ngôn ngữ với các từ nh tròn, vuông
- Kích cỡ: đợc biểu đạt bằng các từ nh dài, to, nhỏ
- Khoảng cách: đợc biểu đạt bằng các từ nh: xa, gần
- T thế: đợc biểu đạt bằng các từ nh thẳng đứng, nghiêng
- Nơi chốn: đợc biểu đạt bằng các từ giữa, trong, trên, dới
- Phơng hớng: đợc biểu đạt bằng các từ nh lên, ra
1.4.4 Khái niệm điểm quy chiếu
Thuộc tính nổi bật nhất của các tính từ chỉ kích thớc không gian trong bất
kỳ ngôn ngữ nào, kể cả tiếng Nga, là phải có điểm quy chiếu để định vị các sựvật - sự vật này với sự vật khác; điểm quy chiếu đóng vai trò cơ sở gốc Điểmquy chiếu có thể là (một) điểm (точка), đờng thẳng (линия), mặt phẳng(плоскость)
Trong thực tế, khi nghiên cứu không gian ngôn ngữ, mà cụ thể là ngữnghĩa của các tính từ chỉ kích thớc không gian, chúng ta thấy rằng, khái niệm
điểm quy chiếu của các tính từ chỉ không gian phức tạp hơn nhiều Tính từ chỉkhông gian trong ngôn ngữ thực tế có thể có tới hai điểm quy chiếu, chứ khôngphải chỉ có một điểm quy chiếu của vật thể trong hình học
Xét hai tính từ высокий và низкий (cao – thấp), chúng ta có thể thấy rõvấn đề trên qua ví dụ:
- Один воздушный шар высокий (низкий)
Trang 25ở đây, khi nói quả bóng bay đó “cao” hoặc "thấp”, chúng ta có một “cơsở”, một cái “gốc” hay đúng hơn là một điểm qui chiếu – mặt phẳng là mặt
đất, để ớc định, đo đạc Mặt đất – mặt phẳng - điểm quy chiếu này gọi là điểmquy chiếu gốc - điểm quy chiếu zero
Hai tính từ высосий và низкий ngoài việc đề cập đến chiều cao so vớimặt đất, chúng còn có sự khác nhau về nghĩa nào đó liên quan đến khái niệmchuẩn mẫu (стандарт) высокий có thể biểu đạt khoảng cách vợt quá mộtchuẩn nào đó (chuẩn tiềm ẩn) và низкий biểu đạt khoảng cách cha đạt tới
chuẩn đó; thí dụ nh khi ta nói rằng: quả bóng bay kia lên cao quá rồi (nó sắp
vỡ đến nơi) Nh vậy, chuẩn tiềm ẩn này phụ thuộc vào nhiều yếu tố: là vật thể
đang đợc đo, không gian mà vật thể đang tồn tại và có thể là cả con ngời đang
định vị vật thể đó nữa
Nếu chúng ta đa quả bóng bay (воздушный шар) vào một không giannhỏ hẹp hơn, (ví dụ một căn phòng cao 3 mét) hoặc một không gian rộng lớnhơn (chẳng hạn một nhà hát Opera) ta sẽ dễ dàng hình dung đợc điểm quychiếu gốc và một chuẩn chiều cao nào đó tiềm ẩn Ta có thể gọi chuẩn tiềm ẩnnày là điểm quy chiếu phụ
Qua sự phân tích trên, có thể thấy rằng nghĩa của tính từ chỉ kích thớckhông gian trong ngữ dụng là một vấn đề rất phức tạp
вертикальный
(thẳng đứng)
горизонтальный(nằm ngang)
Запад(phía Tây)
Восток(phía Đông)
Юг(phía Nam)Север(phía Bắc)
Trang 26Trong các ngôn ngữ nói chung, tiếng Nga nói riêng, phơng là một trongsáu thuộc tính quan trọng của “không gian”, các tính từ chỉ không gian trongtiếng Nga đợc biểu thị tơng ứng với các phơng nhất định.
Khảo sát hai tính từ tiếng Nga высокий – низкий; cao – thấp, ta thấy
nghĩa của hai tính từ này ứng với phơng thẳng đứng, phơng thẳng đứng này cómặt phẳng quy chiếu chính là mặt đất Bên cạnh đó, trong sự tri nhận khônggian và thang độ phân giải của tính từ chỉ kích thớc không gian, ta thấy các tính
từ trên còn có một cực hớng tới là cực dơng (lên phía trên) và một cực khác hớngxuống là cực âm
Cũng tơng tự nh vậy, khi chúng ta xét hai tính từ длинный - короткий(dài – ngắn), nghĩa của chúng tơng ứng với phơng nằm ngang Đối với phơng
nằm ngang, trong tri nhận của con ngời có sự phân chia đầu và cuối Đầu có nghĩa là điểm tột cùng của chiều ngang phía trớc, cuối là điểm tột cùng ở phía
Tuy nhiên có một điều rất thú vị là sự nhận thức về phơng chiều không cótính đối xứng nh các bộ phận của cơ thể ngời Ví dụ, đằng trớc là phơng nằmngang con ngời thờng gặp và cảm nhận “tốt ” hơn, do con ngời thờng hớng và dichuyển dễ hơn về phía trớc; con ngời thuận tay phải hơn tay trái do vậy phía bênphải theo phơng thẳng đứng đợc tri nhận “thuận ” và dễ hơn bên trái … đã đ
Có thể nói một cách tổng quát rằng, khái niệm phơng, cụ thể là chiềuthẳng đứng hay nằm ngang là sự nhận thức mang tính logic, phù hợp với cơ cấucơ thể của con ngời ( quy định sự tri nhận không gian), phù hợp với tâm lý ứng
xử của con ngời với thực thể khách quan
Trang 27chiếu, con ngời cần một khái niệm vị trí Có nhiều cách thức biểu thị, miêu tảhay đo đạc vị trí, khoảng cách của vật thể Con ngời xét một vật thể cao baonhiêu, thấp bao nhiêu, sâu bao nhiêu v v phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Chẳng
hạn khi nói: Nhà thì cao mà cửa thì thấp tẹt Nhà cao“ ” miêu tả độ dài theo
phơng thẳng đứng của toà nhà đợc tính từ chân tới nóc (vị trí) còn “cửa thì
thấp tẹt” là khoảng cách “đỉnh” cửa so với mặt phẳng quy chiếu – mặt đất.
Nh vậy chúng ta có thể nói rằng khái niệm vị trí xa hơn so với khái niệm độ dài
và gần hơn với khái niệm khoảng cách
1.4.7 Khái niệm thang độ kích thớc
Khi đề cập tới kích thớc vật thể không gian, tất yếu sẽ liên quan tới đơn
vị đo, độ đo (mang tính định lợng chuẩn vật lý, toán học), độ kích thớc (có tínhqui ớc, qui định) và độ chuẩn (tiềm tàng trong tri nhận của con ngời)
Đơn vị đo có tính định lợng chuẩn vật lý, toán học là những đơn vị đokích thớc nh độ dài, chiều rộng, chiều cao, độ dày, chiều sâu của sự vật Các
đơn vị đo đợc phân chia theo thang độ đo từ nhỏ đến lớn, ví dụ mi- li- mét(mm), xăng- ti- mét (cm), đề- xi- mét (dm), mét (m), ki- lô- mét (km); đo thểtích sự vật hình khối, chẳng hạn mét khối (m3), đề- xi- mét khối (dm3), xăng- ti-mét khối (cm3)… đã đ, đo diện tích không gian của sự vật có đơn vị nh xăng- ti-mét vuông (m2), đề- xi- mét vuông (dm2), ki-lô-mét vuông (km2)… đã đ Các đơn vị
đo kích thớc không gian này là các đơn vị qui ớc, là những đơn vị đo chuẩnchung trên phạm vi toàn thế giới
Trên cơ sở các đơn vị đo lờng toán học và vật lý học phổ quát trên đây,con ngời sử dụng những đơn vị này qui định kích thớc sự vật để thiết kế, sảnxuất, xây dựng những vật thể không gian phục vụ cho lợi ích của mình Có thểgọi những đơn vị này là chuẩn qui định, đơn vị chuẩn nó vừa có tính quốc tế,xuyên quốc gia và cũng có thể bị giới hạn trong một quốc gia hoặc một cộng
đồng
Ví dụ, inche (đơn vị đo chiều dài Anh bằng 2,54 cm) đợc dùng là đơn vị
đo qui định bề rộng màn hình vô tuyến phổ biến trên toàn thế giới
Chẳng hạn, trong xây dựng nhà cao tầng, Bộ xây dựng Việt Nam qui địnhnhững tiêu chuẩn thiết kế không gian cho các căn hộ nhà cao tầng ở Việt Nam
Trang 28+ Chiều cao một đợt thang không lớn hơn 1,8 mét
+ Chiều cao bậc thang không lớn hơn 0,15 mét
+ Chiều rộng bậc thang không nhỏ hơn 0,30 mét
- Công tắc điều khiển, ổ cắm ở độ cao 1,2 mét [215]
Nhng trong ngôn ngữ, cụ thể là đối với ngữ nghĩa của tính từ chỉ kích
th-ớc, một thang độ kích thớc không đồng nghĩa với đơn vị đo vật lý, toán học mà
là một thang độ đo, đơn vị đo có tính chất định tính, ngời nói dựa vào đơn vịchuẩn vật lý, chuẩn qui định làm đối trọng, so sánh các sự vật với nhau hoặc sựvật với bản thân mình Đó có thể gọi là chuẩn tiềm tàng Hoàng Văn Hành đã
định nghĩa: “Thang độ ( tính từ chỉ kích thớc) đợc hình dung nh một trục đơn vịtrên đó có hai đại lợng đối cực và một chuẩn tiềm tàng cũng nh với các bậckhác trên thang độ” [37, tr 21-29]
Một vấn đề đáng quan tâm liên quan tới chuẩn tiềm tàng của thang độkích thớc trong ngôn ngữ, đó là mức độ nổi trội (рельефность) của sự vật, sựtình Khi khảo sát các ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt, chúng ta thấy hàng loạttính từ chỉ kích thớc không gian tạo thành các cặp từ có các thang độ khác
nhau, đối lập nhau; Ví dụ, cao – thấp, nông – sâu, dày – mỏng… đã đ Có một
điều đặc biệt là trong mỗi cặp thang độ, đều có một từ đại diện đặc trng chothang độ đó và tạo nên sự khác biệt trong cấu trúc ngữ nghĩa Ví dụ, với cặp
tính từ cao – thấp, chúng ta có thể nói:
- Minh cao 1 65 m
- Minh cao hơn Bằng.
- Bằng kém hơn Minh về chiều cao.
Nhng chúng ta không thể nói : Minh kém hơn Bằng về chiều thấp
Nh vậy, sự kết hợp của cặp tính từ chỉ kích thớc đối lập là có hạn định
Sự hạn định là do qui định của sự chi phối của một từ “đại diện” trong t duy
tri nhận của con ngời theo chiều thuận nh cao đại diện cho “ cao – thấp ”, dày
đại diện cho “dày – mỏng ”, sâu đại diện cho “sâu – nông” Một lý do nữa
dẫn tới việc lựa chọn từ “đại diện” trong các cặp tính từ trên là mức độ nổi bật,
sự hấp dẫn của sự vật, sự tình đợc miêu tả và đợc chọn làm chủ thể trong cấutrúc nh cái “hình” (фигура)) đối lập với cái “nền” (основание) Nguyên lí
“hình” và “nền” liên quan tới cảm thụ thị giác trong quá trình tri nhận khônggian của con ngời, sự vật đợc tri giác, tách biệt ra và ý niệm hóa nh một “hình”nổi bật
Ví dụ, hai tòa nhà có chiều cao nh nhau, ngôi nhà A bên trái sẽ đợc mô tả
là “to”, còn ngôi nhà B bên phải sẽ là “cao” Ta có thể giải thích vai trò “nổi
Trang 29bật” của chiều ngang đợc tri giác trong thế tơng quan với chiều cao ở mỗi ngôinhà nh trong hình 4 dới đây:
Hình 4 Nhà to, nhà cao
Sự đối lập về nghĩa của các cặp tính từ chỉ kích thớc là sự đối lập giữa haicực tơng đối của thang độ đo và thông thờng đợc qui định cực đại diện gọi làvùng dơng “+” và cực đối lập là vùng âm “-” Khảo sát các thuộc tính của cáccặp tính từ có nghĩa đối lập hai cực này trong ngôn ngữ chúng tôi còn phát hiệnnhững sự vật, hiện tợng đợc biểu đạt bằng ngôn ngữ có vị trí (hoặc chuyển dịch
từ vùng dơng đến vùng âm) ở giữa hoặc lng chừng giữa hai cực Đó có thể gọi
là vùng trung gian của các thuộc tính trên thang độ kích thớc (vùng trung gian
có thể gọi là vùng không) Do vậy, trong ngôn ngữ xuất hiện và tồn tại các từ
chỉ độ đo kích thớc sự vật, hiện tợng nh vừa, vừa phải, lng chừng, tầm thớc, cao cao, trung bình v.v
- Trung ngời tầm thớc
- Nhà mé Num ở lng chừng núi
Nh vậy, chúng ta có thể thấy sự khác biệt trong thang độ đo kích thớc, sựvật, hiện tợng tuy là mang tính chất vật lý nhng cũng có sự liên tởng mang tínhchuẩn tiềm ẩn trong tri nhận không gian của con ngời
1.4.8 Tính chất của vật chuẩn xác định
Trớc hết, vật chuẩn để xác định vị trí, kích thớc của vật thể, hiện tợng thờngmang tính chủ quan của ngời nói, ngời nói thờng lấy kích thớc của mình làm
căn cứ, làm cơ sở để xác định Chẳng hạn trong câu “Bờ tờng này cao thật”… đã đ
có thể tiềm ẩn một điều là khi đó ngời nói đang đứng cạnh bờ tờng, và ngời nói
có thể có vóc dáng đã cao, nhng “bờ tờng” vẫn cao hơn
Bên cạnh đó, vật chuẩn xác định cũng mang tính khách quan Có hai ờng hợp vật chuẩn đợc xác định khách quan
tr-Thứ nhất, là vật chuẩn xác định và những vật đợc xác định, so sánh trongmột loại, loài Ví dụ, “nhà” đợc xác định trong cùng loại với những ngôi nhàkhác, “bút” trong cùng loại với những cái bút khác, “sông” trong cùng loại vớinhững con sông khác v.v
Trang 30Ví dụ: - Sông Cửu Long dài
- Toà nhà Xinh cao, to
Nói sông Cửu Long dài là so với những con sông khác, toà nhà “Xinh”cao, to là so với những toà nhà khác, có thể ở một vùng địa lý hoặc khu vực xác
định nào đó trong ý thức ngời nói
Thứ hai, vật chuẩn xác định đợc sử dụng khi mà ngời nói và ngời nghe hiểungầm và thoả thuận đó cũng chính là vật thể, hiện tợng đợc đem ra so sánh Ví
dụ: Cách đây 20 năm khúc sông này rộng hơn thế này ở đây, ngời nói và ngời
nghe đều đã trải qua quá khứ, biết lịch sử “khúc sông” và do vậy giữa họ cómột chuẩn thống nhất để xác định trạng thái của sự vật và so sánh
1.4.9 Luận thuyết của H Clark
Trong công trình nghiên cứu “Space, time, semantics and the child”
(1973) [140], Herberth Clark, đã đa ra luận thuyết của mình về xác định các vậtthể trong không gian Trớc hết, theo bà, con ngời là trung tâm tri nhận khônggian Con ngời sinh sống trong một thế giới mà ở đó chứa các vật thể, con ngời,không gian và thời gian Do sự cấu tạo về mặt sinh học nên con ngời cảm nhận
đợc các vật thể, con ngời , không gian, thời gian và những mối quan hệ qua lạigiữa chúng Đây chính là những điều kiện mà tất cả những ngời nói bất cứ ngônngữ nào cũng biết nói và mô tả vị trí của các vật khác… đã đ
H Clark đề cập đến những cách nhìn nhận của các nhà địa lý về con ngời
và không gian Các nhà địa lý quan tâm tới vị trí đặc biệt của con ngời và môitrờng xung quanh, vấn đề trọng lực và mặt bằng của trái đất Những nhà tâm lýxã hội học, theo H Clark, lại quan tâm đến việc con ngời nói chuyện, giao tiếpvới ngời khác nh thế nào và vai trò của “ngời khác” đó có ảnh hởng không gian
nh thế nào
Các nhà vật lý học và hình học thì lu tâm đến việc định vị của một vậttrong không gian Một vật phải luôn đợc ở trong sự xem xét với vật thể kháctrong không gian
Đặc biệt, khi đề cập đến tính không tơng xứng trong sự cảm nhận, H.Clark đã xem xét những luận thuyết của các nhà sinh vật học về con ngời, bànhận thấy rằng cơ thể con ngời có sự đối xứng về hai phía Những bộ phận bêntrong của cơ thể con ngời gần nh là đối xứng với nhau về hai phía phải và phíatrái theo đờng thẳng đứng, chạy dọc theo trung tâm của cơ thể Mắt trái đốixứng với mắt phải, tai trái đối xứng với tai phải, tay trái đối xứng với tay phải, không có những đ
… đã đ ờng đối xứng khác của cơ thể Bởi vậy, trong khoảng nhậnthức của con ngời chỉ bao gồm một đờng đối xứng tự nhiên, đờng thẳng đứng
Trang 31chia tách thành bên trái và bên phải Từ đó, con ngời có một cơ cấu nhận thứcphức tạp đối xứng hai bên cho hầu hết các bộ phận, mắt để nhìn, tai để nghe,mũi để ngửi, miệng để nếm và môi, tay, khuôn mặt để cảm giác Bên cạnh đó,
H Clark còn nhận thấy có một đờng đối xứng ở bàn chân, từ đó bà rút ra đợcnhận xét, là những vật ở phía trên mặt đất có đặc điểm là có thể nhìn, nghethấy, ngửi thấy, nếm và sờ thấy, ngợc lại, những vật ở phía dới thì không thể
Có thể tóm tắt sự nhìn nhận của H Clark về cơ cấu nhận thức phức hợp của conngời định ra ba đờng tự nhiên sau:
- Một đờng nhận thức đối xứng (đờng thẳng đứng phân chia thành bên phải
và bên trái)
- Hai đờng giao nhau giữa đờng này với đờng kia Sự cảm nhận mang tínhchất tơng xứng (đờng thẳng đứng phân chia trớc sau)
- Đờng cách ngăn tiếp xúc với mặt đất ở bàn chân
Đặc điểm sinh học của con ngời là thế đứng bằng hai chân Khi con ngờivận động hay ở vào một t thế tốt để tri nhận các vật thể khác T thế “tốt” là t thế
“chuẩn tắc”: thẳng đứng về sinh học phù hợp với thế thẳng đứng về địa lý Kháiniệm t thế “chuẩn tắc” có nhiều kết quả quan trọng trong ngôn ngữ học: xác
định chiều trớc, sau, xác định kích thớc
Các nhà sinh vật học khẳng định rằng, khoảng không của con ngời gồm bamặt phẳng tự nhiên: mặt phẳng đứng chia ra thành phần trái và phải; mặt phẳng
đứng chia ra thành phần trớc và sau; mặt đất chia ra thành phía trên và phía dới
Có thể tóm tắt tính không tơng xứng trong sự cảm nhận sinh vật học, cơ cấunhận thức phức hợp đối xứng hai bên của Herberth Clark bằng hình vẽ sau:
Trang 32Từ những luận thuyết trên, H Clark đa ra khái niệm không gian ngôn ngữ
“L Space” (Linguistic Space), khái niệm điểm quy chiếu Qua đối chiếu các
giới từ, tính từ chỉ không gian nh above/ below, high/ low “above/ below, high/ low… … H Clark xác định
đích của giới từ, tính từ chỉ kích thớc không gian là vị trí quy chiếu: một điểm,
một đờng thẳng, một mặt phẳng để định vị cho các vật thể khác Ví dụ, khinh khí cầu cao (the balloon is high) tức là khinh khí cầu cao so với mặt đất Có thể
hiểu ngầm là từ điểm xuất phát, điểm gốc, điểm quy chiếu mà ngời ta đo kíchthớc “cao”/ thấp có một mặt phẳng quy chiếu cụ thể, đó là mặt bằng của đất Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu H Clark còn phân các cặp tính từ
near / far; long / short; tall / short ; high / low thành nhóm những tính từ chỉ
sự vật một chiều, hai chiều hay ba chiều, ví dụ, near/far (gần/xa), long/short (dài / ngắn) thuộc tính từ chỉ sự vật một chiều - đờng kẻ trong hình học gọi là
Đ ờng nhận thức đối xứng (phân chia bên phải, bên trái)
Hai đ ờng giao nhau
và sự cảm nhận mang tính chất t ơng xứng (phân chia tr ớc sau)
Đ ờng cách ngăn tiếp xúc với mặt đất ở bàn chân (t thế “chuẩn tắc”)
Trang 33Luận thuyết của H Clark mang tính khoa học tổng hợp là tiền đề quantrọng, giúp chúng tôi phân tích hiệu quả hơn nhóm tính từ chỉ kích thớc khônggian
Trong luận án tiến sĩ “Phân tích ngữ nghĩa của các tính từ chỉ không gian trong tiếng Anh (trong sự so sánh với t liệu tiếng Karakalpa”, tác giả I K.
Alikovich [108] cũng trình bày khá rõ cả về khung lý thuyết lẫn t liệu về vấn đề
này Tác giả đã so sánh đối chiếu các tính từ: high (cao), tall(cao lớn)/low (thấp, hạ), long (dài)/short (ngắn); wide (rộng), broad (rộng)/narrow (chật, hẹp), thick (dày)/thin (mỏng), deep (sâu)/shallow (nông, cạn)… đã đTác giả cũngchỉ ra rằng dấu hiệu thẳng đứng đợc coi là tiêu chí đạt hiệu quả để phân chia từcủa nhóm “cao/thấp” Theo ông, có những tiêu chí nh sau:
- Tính thẳng đứng
- Khoảng cách thẳng đứng đợc đo một cách tơng đối
- Chiều thẳng đứng đợc đo từ phía thấp lên cao
- Chiều thẳng đứng của đối tợng có chỗ dựa là mặt phẳng từ phía dới
- Chiều thẳng đứng xác định các đối tợng theo phơng thẳng đứng
- Có số lợng đạt tiêu chuẩn theo phơng thẳng đứng
Có thể tóm tắt nội dung dấu hiệu “ thẳng đứng” bằng hình vẽ sau:
Cao
Thấp
Qua phân tích trên, chúng ta có thể xác định đợc từng cặp tính từ chỉ kíchthớc không gian có quan hệ thẳng đứng Khái niệm độ cao giả định đối tợng cóchỗ dựa là mặt phẳng từ phía dới
Cách tri nhận không gian của ngời bản ngữ nói các thứ tiếng khác nhau là
có chỗ tơng đồng và khác biệt và điều này đợc thể hiện rất rõ về mặt ngôn ngữ.Thí dụ, dựa vào ngữ nghĩa các loại từ có thể đoán biết ngời bản ngữ hình dung
sự vật (đợc nói đến trong danh từ đi sau) nh một thực thể không gian mấy
chiều Chẳng hạn, hễ thấy một sự kết hợp có chứa loại từ lá thì chắc chắn trong kết hợp từ ấy sự vật đã đợc ngời bản ngữ trắc đạc theo hai chiều không gian lá phổi, lá th Về phơng diện này, có một ngôn ngữ rất đặc biệt là tiếng Tarascan
ở Bắc Mỹ, trong nhóm ngữ nghĩa của các loại từ cho thấy, hoa quả thờng đợc ngời bản ngữ tri nhận nh có không gian ba chiều; thế nhng chuối chỉ đợc coi là
một chiều, và loài vật cũng đợc trắc đạc một cách tơng tự (trừ một vài ngoại lệ
Trang 34nh ếch, cóc là đợc xem nh có ba chiều) ( dẫn theo Lý Toàn Thắng, tr 3) Đằng
sau vấn đề cụ thể này là mối quan hệ khăng khít giữa tri nhận - văn học - ngônngữ, trong đó đặc biệt đáng chú ý ở đây là vấn đề cách nhìn, cách nghĩ của conngời về các sự vật, hiện tợng của thế giới khách quan xung quanh Ví dụ:
1 (a): Huân chơng trớc ngực
(b): Ba lô sau lng
2 (a) : Huân chơng trên ngực
(b): Ba lô trên lng
Trong cách nói huân chơng trớc ngực; ba lô sau lng, ngời nói xuất phát từ
logic sự vật: quả nhiên trong thực tế, ngực thì ở phía trớc và lng thì ở phía sau
của cơ thể con ngời – cứ chiếu theo đó mà dùng giới từ trớc hay sau cho phù
hợp Nhng trong cách nói huân chơng trên ngực, ba lô trên lng, ngời nói lựa
chọn một cách nhìn khác: ngực và lng vốn đều có thể đợc quan niệm theo hình
học nh một mặt phẳng và tơng tự nh trong nhiều ngôn ngữ khác, có thể dùnggiới từ “trên” [84, tr 5] Năm 2000, Lý Toàn Thắng [82, tr 194] biện giải sâuhơn: từ “trên” trong tiếng Việt có thể ứng với nhiều giới từ không gian ở ngônngữ khác nh : on, on top of, over, above của tiếng Anh; на, над… đã đ của tiếngNga Hay nói một cách khác, từ “trên” khó có thể miêu tả chính xác những sựkhác biệt về quan hệ định vị không gian giữa hai vật X, Y nh trong tiếng Anhhoặc tiếng Nga Vì thế, tiếng Việt đã áp dụng một biện pháp bổ sung - đó là chỉ
ra đích danh các bộ phận (hay khu vực không gian) hữu quan ở vật định vị Y
Ngữ nghĩa học tri nhận là một khuynh hớng lí thuyết coi trọng sự tri nhận,
đề cao sự tri giác, sự nhận thức của năng lực t duy, có nghĩa rằng, mặt nộidung, mặt nghĩa trong phân tích, miêu tả nghĩa của ngôn ngữ cũng đợc coitrọng, vai trò con ngời trong ngôn ngữ là vai trò nhân tố chủ thể Đối tợng của
sự phân tích ngữ nghĩa là khám phá qui luật, khả năng và kết quả tri nhận ngữ
Trang 35nghĩa và ngôn ngữ nói chung của cá nhân và cộng đồng Dựa trên những luận
điểm lý thuyết của ngữ nghĩa học tri nhận luận án đề ra những định hớng, cáchtiếp cận quan trọng trong triển khai thực hiện đề tài nghiên cứu
Trong chơng 1 chúng tôi cũng trình bày những khái niệm về tính từ, tính từchỉ kích thớc; các khái niệm thuộc không gian ngôn ngữ nh thuộc tính khônggian, thang độ, phơng, vị trí, điểm qui chiếu, vật chuẩn xác định, con ngời làtrung tâm… đã đ ợc xem nh là những tiêu chí, cơ sở có tính lý luận và là công cụđgiúp chúng tôi khảo sát, phân tích, đối chiếu nhóm tính từ chỉ kích thớc trongtiếng Nga và tiếng Việt
Nhóm tính từ không gian, cụ thể là nhóm tính từ chỉ kích thớc trong tiếngNga và tiếng Việt dới góc độ tri nhận không gian là vấn đề mới cha có mộtchuyên luận nào bàn sâu về chúng; ngữ nghĩa của nhóm tính từ này có nhữngnét đặc thù phản ánh những đặc trng văn hóa của ngời Nga và ngời Việt cần đ-
ợc quan tâm nghiên cứu
Chơng 2
Đặc trng ngữ nghĩa của các tính từ chỉ kích thớc theo phơng thẳng đứng (высокий - низкий, глубокий - мелкий ,
толстый – тонкий // cao – thấp, sâu – nông, dày – mỏng) thấp, sâu – thấp, sâu – nông, dày – mỏng) nông, dày – thấp, sâu – nông, dày – mỏng) mỏng)
Trang 362 1 Dẫn nhập
Do giới hạn của đề tài, trong chơng này, chúng tôi sẽ trình bày ngữ nghĩa
và cách sử dụng của các tính từ chỉ kích thớc không gian высокий – низкий,глубокий - мелкий, толстый - тонкий trong tiếng Nga trong sự đối sánh với
các từ cao – thấp, sâu - nông, dày – mỏng của tiếng Việt
Những tính từ trên có thuộc tính chung là cùng phơng thẳng đứng Phơngthẳng đứng là phơng trùng với lực hút của trái đất, vuông góc với mặt phẳngtrái đất Chúng tôi chia những tính từ trên thành hai nhóm nhỏ:
- высокий - низкий (1)
- глубокий - мелкий, толстый –тонкий (2)
Việc phân chia các tính từ trên thành nhóm dựa vào các tiêu chí sau: Nhóm (1) miêu tả kích thớc vật thể theo chiều thẳng đứng
Nhóm (2) miêu tả kích thớc vật thể theo mặt cắt ngang
Khi xem xét ngữ nghĩa của tính từ nói riêng và từ nói chung, chúng takhông thể bỏ qua yếu tố kết hợp của chúng Các tính từ высокий - низкий,глубокий - мелкий, толстый - тонкий đều có khả năng kết hợp với các từloại nh danh từ, giới từ, có các chức năng ngữ nghĩa khác nhau Luận án hạn
định nghiên cứu trong phạm vi nhóm tính từ chỉ kích thớc không gian Có haivấn đề liên quan chúng tôi không xét là:
- Không tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến ý nghĩa ngữ pháp,nghĩa bóng, thành ngữ của chúng, mặc dù giữa các ngôn ngữ luôn tồn tại nhữngkhác biệt liên quan tới ngữ pháp, nh hình thái từ, từ loại, các ý nghĩa về thời-thể- ngôi- số, trật tự từ… đã đ
- Sự phân lập từ theo trờng nghĩa (ví dụ trong tiếng Việt, từ từ “bé”, ta có sự phân lập: nhỏ, tí, xíu, tí hon, nhỏ nhoi, nhỏ nhặt, ; to ta có sự phân lập: lớn,
vĩ đại, đồ sộ, to tát, lớn lao, khổng lồ…)
Hai vấn đề hạn định của phạm vi luận án sẽ đợc trình bày ở những chuyênluận nghiên cứu sau
Trớc khi phân tích, đối chiếu ngữ nghĩa và các ứng dụng của từng cặp tính
từ trong nhóm tính từ chỉ kích thớc theo phơng thẳng đứng, chúng tôi đối chiếutổng quát về số lợng ngữ nghĩa của высокий - низкий, глубокий - мелкий,
толстый - тонкий trong tiếng Nga với cao – thấp, sâu – nông, dày – mỏng trong tiếng Việt T liệu đối chiếu là dựa vào một số từ điển giải thích
tiếng Nga và tiếng Việt thông dụng và một số ngữ liệu của các nhà nghiên cứu
Trang 37Bảng 2.1 Số lợng nghĩa của tính từ chỉ kích thớc tiếng Nga và tiếng Việt
số lợng chênh lệnh lớn nh высокий - cao: 7 – 4; тонкий- mỏng: 5 – 2.
Nhóm từ (1) đợc đề cập thuộc nhóm tính từ chỉ ý niệm cao, высокий
-низкий trong tiếng Nga đối chiếu với các tính từ cao – thấp trong tiếng Việt
Trong tiếng Nga, các cặp tính từ высокий - низкий tồn tại gần nh songhành để diễn đạt ý niệm cao nhng chúng có những khác biệt rõ nét về nghĩa
và không thể thay thế cho nhau trong nhiều ngữ cảnh nhất định
высокий với nghĩa cơ bản là cao, cao lớn, cao quí, cao độ… đã đ
Ví dụ, trong các tập hợp từ:
- высокий человек, высокий дом, высокое направление, высокое звание
Trong tiếng Nga còn có cặp tính từ верхний và нижний tơng ứng thợng hạ (cặp từ Hán - Việt) cùng tồn tại và biểu đạt ý niệm cao, nhng cũng có
-những khác biệt rõ nét và không thể thay thế cho nhau trong ngữ cảnh nhất
định
верхний với nghĩa cơ bản là trên cao, trên cùng, thợng
нижний với nghĩa cơ bản là thấp, trầm, hạ (xuống), thấp kém
нижний với nghĩa cơ bản là dới, dới cùng, hạ… đã đ
Chẳng hạn, qua các tập hợp từ:
Trang 38- верхний этаж - tầng thợng; верхнее течение - thợng nguồn; нижнее течение - hạ nguồn; нижний этаж - tầng dới
2.2 Ngữ nghĩa của các tính từ chỉ kích thớc theo phơng thẳng đứng
2.2.1 Ngữ nghĩa của các tính từ высокий – низкий; cao - thấp
2.2.1.1 Ngữ nghĩa của các tính từ высокий – низкий; cao - thấp trên
ngữ liệu từ điển
Theo Từ điển Ozhêgov S.I [125], tính từ высокий có những nghĩa sau:
(1) Cao hơn mức bình thờng theo hớng từ thấp đến cao: высокий дом nhà cao, высокий рост - vóc dáng cao, комната с высоким потолком
phòng có trần cao, высокая вода con nớc lớn, высокая грудь ngực cao…
(2) Cao vợt trên mức trung bình chuẩn mực: высокий урожай - mùa màng thu hoạch cao, высокие цены - giá cao, высокая производительность - năng suất lao động cao…
(3) Cao về tầm quan trọng, trách nhiệm, danh dự, đạt thành quả có ý nghĩa:
высокая ответственность trách nhiệm cao, высокая награда phần thởng cao quý, высокая честь - vinh dự cao quí,
-(4) Rất có ý nghĩa, rất cao về mặt nội dung: высокая мысль - t tởng cao quí, высокий стиль - văn phong trang trọng,
(5) Có giá trị cao, rất tốt: книга высокого достоинства - quyển sách
(1) Có khoảng cách bao nhiêu đó từ đầu này đến cuối đầu kia, theo chiều
thẳng đứng (gọi là chiều cao) của vật ở trạng thái đứng thẳng: Ngời cao một mét bảy mơi Núi cao trên 3000 mét
(2) Có chiều cao lớn hơn mức bình thờng hoặc lớn hơn so với những vật
khác: ống khói cao vút
Giày cao cổ
(3) Hơn hẳn mức trung bình về số lợng hay chất lợng, trình độ, giá cả:
Trang 39Sản lợng cao
Tuổi cao; cao số
Mu cao; nớc cờ cao
(4) Thuộc về âm thanh có tần số rung động lớn: Nốt nhạc cao
Tính từ низкий trong từ điển Ozhêgov có các nghĩa sau:
(1) Có chiều cao dới mức bình thờng so với mặt đất và một cái nào khác:
низкий забор - hàng rào thấp, низкое кресло - ghế thấp…
(2) Không đạt mức độ trung bình, dới chuẩn mực: низкое давление - áp suất thấp, низкая температура - nhiệt độ thấp …
(3) Không đạt chất lợng, phẩm chất: низкий сорт - loại kém, thấp,
-(6) Ở thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX nói về phong cách khẩu ngữ
(7) Hẹp, thấp (âm thanh): низкая нота nốt nhạc thấp, низкий лоб trán thấp, низкий поклон - cúi chào thấp…
Theo Từ điển tiếng Việt [68] tính từ thấp có các nghĩa sau:
(1) Có chiều cao dới mức bình thờng hoặc nhỏ hơn so với những vật khác,
có khoảng cách gần đối với mặt đất so với những cái khác:
Cây thấp lè tè
Quần ống cao ống thấp
(2) ở dới mức trung bình về số lợng, chất lợng, trình độ, giá cả:
Sản lợng thấp
Nhiệt độ thấp
Trình độ dân trí còn rất thấp Nớc cờ thấp
(3) Âm thanh có tần số rung động nhỏ: nốt nhạc thấp
Nh vậy, qua 2 cặp tính từ высокий - низкий trong tiếng Nga; cao - thấp
trong tiếng Việt trên ngữ liệu từ điển chúng ta thấy rằng số lợng nghĩa của tiếngNga phong phú hơn hẳn trong tiếng Việt Điều đó cho thấy rằng “cách nhìn”,
Trang 40“cách nghĩ” hay nói cách khác, sự ý niệm về thế giới khách quan của hai dântộc Nga và Việt có sự khác nhau
Qua khảo sát trên ngữ liệu từ điển, số lợng nghĩa của высокий – низкий
trong tiếng Nga, cao - thấp trong tiếng Việt có sự khác biệt Số nghĩa của высокий là 6, của cao là 4; của низкий là 7 và của thấp là 3 Sự chênh lệch về
số lợng nghĩa là tơng đối lớn Nghĩa thứ ba (cao về tầm quan trọng, tráchnhiệm, danh dự, đạt thành quả có ý nghĩa), nghĩa thứ 5 (có giá trị cao, rất cao
về mặt nội dung) của высокий không thấy xuất hiện trong tính từ cao của
tiếng Việt Tơng tự nh vậy, đối với các tính từ низкий và thấp các nghĩa, nh
nghĩa thứ hai (không đạt mức độ trung bình, dới chuẩn mực) chỉ tần số có tínhvật lý về nhịp đập, áp suất; nghĩa 4 (quá tầm thờng, h hỏng, đểu cáng) biểu đạttính cách, hành vi xấu của con ngời; nghĩa 5 (không thuộc dòng dõi, giai cấp
thống trị) chỉ địa vị, thứ bậc của con ngời trong xã hội, của низкий không xuất hiện trong số nghĩa của từ thấp trong tiếng Việt
Về số lợng nghĩa biểu đạt các thuộc tính không gian của высокий trong
tiếng Nga và của cao trong tiếng Việt, cũng có sự khác nhau Trong khi
высокий chỉ có một nghĩa, nghĩa thứ nhất (cao hơn mức bình thờng theo hớng
từ thấp đến cao), thì tính từ cao trong tiếng Việt có hai nghĩa: nghĩa thứ nhất
(có khoảng cách bao nhiêu đó từ đầu này đến cuối đầu kia theo chiều thẳng
đứng của vật ở trạng thái thẳng đứng); nghĩa thứ hai (có chiều cao lớn hơn mứcbình thờng hoặc lớn hơn so với những vật khác)
Về vị trí trong thứ tự nghĩa chỉ ý nghĩa không gian cao của các cặp tính từ
trên không có sự khác biệt, chúng đều ở vị trí thứ nhất, và cùng biểu đạt nghĩa
chiều cao theo chiều thẳng đứng (đối với высокий - cao) và nghĩa chiều cao
d-ới mức bình thờng so vd-ới mặt phẳng đất hoặc các sự vật khác
2.2.1.2 Các thuộc tính của tính từ chỉ ý niệm CAO
Khi xem xét các tính từ chỉ kích thớc высокий - низкий, chúng ta thấychúng có số lợng các nghĩa 7 - 5, (xem bảng 2.1) và chúng có khả năng kết hợpvới các danh từ chỉ động vật và bất động vật
Các cặp tính từ này, theo nghiên cứu, thống kê của H K Zubovskaja [120],
có các thuộc tính về độ dài, về vị trí, không gian một đến ba chiều, mặt phẳngqui chiếu, không đánh dấu… đã đ