1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa kinh doanh hoa kỳ và bài học kinh nghiệm đối với việt nam

166 690 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn hóa kinh doanh hoa kỳ và bài học kinh nghiệm đối với việt nam
Tác giả Nguyễn Tuấn Minh
Người hướng dẫn GS.TS. Nguyễn Xuân Thắng, PGS. TS. Nguyễn Thị Hồng Nhung
Trường học Học viện Khoa học Xã hội
Chuyên ngành Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

VIỆN hàn lâm KHOA HỌC Xã HỘI VIỆT NAM

Học VIỆN khoa học xã hội

Nguyễn Tuấn Minh

văn hóa kinh doanh hoa kỳ

và bài học kinh nghiệm đối với việt nam

luận án tiến sĩ kinh tế

Trang 2

Hµ néi - 2013

Trang 3

VIỆN hàn lâm KHOA HỌC Xã HỘI VIỆT NAM

Học VIỆN khoa học xã hội

Nguyễn Tuấn Minh

văn hóa kinh doanh hoa kỳ

và bài học kinh nghiệm đối với việt nam

Chuyên ngành : Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết quả khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận án

NGUYỄN TUẤN MINH

Trang 5

MỤC LỤC

Trang bìa … .…… 2

Lời cam đoan ……… 3

Danh mục các chữ viết tắt 6

Danh mục các bảng 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 8

DANH MỤC CÁC BẢNG 10

MỞ ĐẦU 11

CHƯƠNG I 25

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VĂN HÓA KINH DOANH 25

1.1 Khái quát về văn hóa kinh doanh 26

1.1.1 Định nghĩa văn hóa kinh doanh 26

1.1.2 Các lớp cấu thành của văn hóa kinh doanh 29

(Nguồn: Fons Trompenaars & Charles Hampden-Tuner (2000), “Building Cross Cultural Competence”, Yale University Press) 30

1.1.2.1 Lớp bên ngoài: các sản phẩm bề ngoài của văn hóa kinh doanh 30

1.1.2.2 Lớp giữa: các chuẩn mực và các giá trị cơ bản 31

1.1.2.3 Lớp lõi: các giả định cơ bản (hàm ý) hay giá trị mặc nhiên công nhận 31

1.1.3 Các đặc trưng của văn hóa kinh doanh 33

1.2 Tầm quan trọng của văn hóa kinh doanh trong hoạt động kinh doanh quốc tế 37

1.3 Hai xu hướng nghiên cứu văn hóa kinh doanh 42

1.3.1 Văn hóa công ty: Lý thuyết và mô hình của Edgar H Schien 43

1.3.2 VHKD quốc tế: Lý thuyết và mô hình so sánh của Richard Lewis 49 Văn hóa Đơn tuyến 50

Văn hóa Đa tuyến 50

Văn hóa Phản hồi 51

CHƯƠNG II 59

Trang 6

VĂN HÓA KINH DOANH HOA KỲ

VÀ TÍNH CÁCH CỦA NGƯỜI MỸ TRONG KINH DOANH

59

2.1 Về văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ 59

2.2 Những nhân tố tác động đến việc hình thành và phát triển VHKD Hoa Kỳ 61

2.3 Thực tiễn VHKD Hoa Kỳ và so sánh qua một số mô hình 83

2.3.1 Mô hình của Edward T Hall 84

Văn hóa giao tiếp bối cảnh thấp / cao 85

Văn hóa thời gian đơn tuyến / đa tuyến 86

2.3.2 Mô hình của Geert Hofstede 88

Định hướng dài hạn / ngắn hạn (LTO) 91

2.3.3 Mô hình của Fons Trompenaars 93

Chủ nghĩa phổ quát/ Chủ nghĩa đặc trưng 93

Chủ nghĩa cá nhân/Chủ nghĩa cộng đồng 94

Xu hướng tách biệt / tổng thể 95

Định hướng trung lập/ cảm xúc 95

Định hướng tự tạo lập/ mặc nhiên 95

Định hướng quản lý thời gian (Tính trình tự/ tính đồng bộ) 96

Tự nhiên (kiểm soát tự nhiên/ thuận theo tự nhiên) 97

2.4 Các đặc trưng tiêu biểu của VHKD Hoa Kỳ 98

CHƯƠNG III 104

VĂN HÓA KINH DOANH VIỆT NAM- HOA KỲ: SO SÁNH VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 104

3.1 Văn hóa trong kinh doanh Việt Nam và Hoa Kỳ: góc nhìn lịch sử, kinh tế và xã hội 104

3.2 Văn hóa kinh doanh Việt Nam – Hoa Kỳ: góc nhìn từ các mô hình nghiên cứu so sánh thực tiễn VHKD quốc tế 111

3.3 Văn hóa kinh doanh Việt Nam và Hoa Kỳ: Góc nhìn từ một số doanh nghiệp Hoa Kỳ tại Việt Nam 123

3.4 Một số bài học kinh nghiệm đối với doanh nhân Việt Nam 127

3.4.1 Thích nghi với văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ 128

3.4.2 Nâng cao tố chất của doanh nhân Việt Nam 141

Trang 7

KẾT LUẬN 146

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA T 150

ÁC GIẢ 150

TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

PHỤ LỤC 160

Trang 8

Trách nhiệm xã hội của công ty

EXIMBANK Export and Import Bank

Ngân hàng xuất nhập khẩu Mỹ

Đạo luật về tham nhũng của Hoa Kỳ

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Chỉ số so sánh chủ nghĩa cá nhân/ chủ nghĩa tập thể

Định hướng dài hạn

M &A Merger and Acquisition

Sáp nhập và thôn tính

Công ty đa quốc gia

Chỉ số so sánh Nam tính/ Nữ tính

Thời gian đơn tuyến

Chỉ số khoảng cách quyền lực

R & D Research and Development

Nghiên cứu và phát triển

Hệ thống phân loại giá trị

Trang 9

TNC Transnational Corporation

Công ty xuyên quốc gia

Thời gian đa tuyến

Trang 10

Đặc tính doanh nhân trong ba loại hình văn hóa (Đơn tuyến – Đa tuyến –

Bảng 2.1

So sánh của Hall về đặc tính doanh nhân Hoa Kỳ (Văn hóa đơn tuyến)/ Châu

Khác biệt đặc tính văn hóa kinh doanh Việt Nam và Hoa Kỳ

(Dựa trên mô hình của Hall, Hofstede, Trompenaars ,và Lewis) 120

Trang 11

MỞ ĐẦU

I Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, với tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang phát triểnmạnh mẽ, quan hệ kinh tế và kinh doanh quốc tế ngày một được mở rộng và đưa lạirất nhiều lợi ích cho các quốc gia trên thế giới

Mặc dù vậy, dường như chúng còn có nhiều mặt trái và tạo nên những “cú sốcvăn hóa”, những “va chạm giữa các nền văn minh”, đã làm cho một số nước khôngthể phát triển nhanh và bền vững được, và lợi ích của toàn cầu hóa và hội nhập quốc

tế đối với những nước này hầu như rất hạn hẹp

Từ giác độ lý luận văn hóa kinh doanh, có thể cho rằng, đó là do những biểuhiện của cái chung và cái riêng, của những đặc tính chung và những đặc trưng riêngcủa văn hóa kinh doanh quốc tế Mỗi một quốc gia đều có cách thức, tập quán kinhdoanh riêng của mình; điều hiển nhiên đó là do mỗi quốc gia đều có nền văn hóa vớinhững đặc tính riêng biệt, không giống nhau Đồng thời khi giao lưu hội nhập quốc tếtrong tiến trình toàn cầu hóa của nhân loại, những đặc tính chung, giống nhau sẽ pháthuy tác dụng Sự dung hòa những đặc tính chung và riêng trong văn hóa kinh doanhcủa quốc gia dân tộc với thế giới, sẽ tạo nên những điều kiện, cơ hội to lớn cho cácnước thu được lợi ích trong kinh doanh toàn cầu; ngược lại, cũng sẽ gây nên nhiềuthách thức to lớn, nếu không biết vượt qua, nhiều nước sẽ không thể vượt qua bẫynghèo nàn và lạc hậu

Với mục tiêu đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp, Việt Nam đangkhông ngừng nỗ lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, mở rộnghợp tác kinh tế quốc tế, nhất là với các đối tác lớn

Trong các thị trường kinh tế chiến lược của Việt Nam hiện nay, Mỹ là thị trườngquan trọng bậc nhất Kim ngạch thương mại Việt Nam và Mỹ tăng nhanh, từ gần 1,6

tỉ đô-la năm 2001 lên hơn 21,5 tỉ đô-la năm 2011 [102] Đầu tư của Mỹ vào ViệtNam cũng khá lớn, với 480 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký là 12,8 tỉ đô la, xếp thứ 7

Trang 12

trong số các nhà đầu tư nước ngoài [42, tr.24] (Theo số liệu của phía Mỹ, đầu tư của

Mỹ là 15,4 tỷ, đứng thứ 5 trong danh sách các nhà đầu tư [103])

Những số liệu này cho thấy, Hoa Kỳ có một vai trò rất quan trọng trên conđường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam(Tham khảo thêm phụ lục 1, phụ lục 2)

Việt Nam đã có thể xuất nhập khẩu nhiều hơn, hiệu quả hơn, hợp tác kinh doanhvới Hoa Kỳ tốt hơn, nhưng sự hợp tác kinh tế của Việt Nam với Hoa Kỳ vẫn chưatương xứng với tiềm năng của hai nước Có nhiều nguyên nhân hạn chế tiềm lực hợptác phát triển kinh tế giữa hai bên, và một trong những nguyên nhân này chính là ràocản về văn hóa kinh doanh Rất nhiều nhà lãnh đạo kinh doanh Việt Nam, nhiềudoanh nghiệp Việt Nam vào thị trường Kỳ với vốn liếng văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ

ít ỏi, chưa thực sự hiểu các nhà quản lý, các doanh nhân Hoa Kỳ, cũng như người tiêudùng Hoa Kỳ, suy nghĩ gì, tập quán kinh doanh, và cách thức làm việc của họ ra sao.Việt Nam đã ký kết và đang thực thi Hiệp định Thương mại song phương vớiHoa Kỳ, và hiện nay, có một sự kiện hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế,cũng như hội nhập quốc tế của Việt Nam là Việt Nam đang đàm phán với Mỹ và một

số nước khác để thành lập Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược Xuyên Thái BìnhDương (TPP), một hiệp định thương mại tự do kiểu mới Chúng tôi cho rằng, để thuđược nhiều lợi ích trong một tổ chức to lớn này, bên cạnh những vấn đề khác, việchiểu biết về văn hóa kinh doanh, tập quán kinh doanh của Hoa Kỳ (và các nước khác)

sẽ tránh được những “cú sốc”, những “đụng độ”, giảm nhẹ những thiệt hại kinh tế,

mở rộng đường cho hàng hóa và doanh nhân Việt Nam làm ăn thành công với các đốitác Hoa Kỳ là hết sức cần thiết và cấp bách

Chính vì vậy, có thể cho rằng, việc nghiên cứu văn hóa kinh doanh của Hoa Kỳhiện nay là vô cùng cấp thiết và quan trọng

2 Tình hình nghiên cứu

Văn hóa kinh doanh đã hình thành từ lâu tại Việt Nam, tuy nhiên các công trìnhnghiên cứu có tính tổng quát và hệ thống chưa nhiều, thường trình bày theo hướngvấn đề đơn tuyến, do vậy trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu của các học giả

Trang 13

trong nước, luận án sẽ tổng quan lại theo cách trình bày các hướng nghiên cứu chính

mà các học giả trong nước viết về chủ đề văn hóa kinh doanh, và những vấn đề liênquan đến văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ, từ đó đưa ra cái nhìn tổng quát trong việcnghiên cứu văn hóa kinh doanh của các học giả Việt Nam

Trong khi đó, các công nghiên cứu về văn hóa kinh doanh quốc tế nói chung, vàvăn hóa kinh doanh Hoa Kỳ nói riêng, đã được nghiên cứu sâu và có tính khái quátcao ở nước ngoài Do vậy, luận án trước hết sẽ trình bày tổng quan các công trìnhnghiên cứu cụ thể về văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ, thực tiễn biểu hiện của văn hóakinh doanh Hoa Kỳ; và các công trình nghiên cứu có tính khái quát hóa cao về mặt lýthuyết và mô hình trong nghiên cứu văn hóa kinh doanh quốc tế, trong đó có Hoa Kỳ.Việc khái quát như vậy sẽ giúp cho việc đánh giá, đối chiếu, so sánh sự khác biệttrong văn hóa kinh doanh giữa Việt Nam và Hoa Kỳ phù hợp hơn Từ đó mở rahướng nghiên cứu và cách tiếp cận mang tính thực tiễn cho luận án

2.1 Nghiên cứu trong nước

Văn hóa kinh doanh luôn được xem là một nhân tố quan trọng trong kinh doanh,cũng như trong sự nghiệp phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Chính vì vậy, việcnghiên cứu văn hóa kinh doanh (VHKD) đã được các nhà khoa học, các nhà quản lý

và các doanh nhân đặc biệt quan tâm Tại Việt Nam đã có nhiều công trình khoa họcnghiên cứu về vấn đề văn hóa kinh doanh, tuy nhiên chưa có nhiều công trình mangtính nghiên cứu chuyên sâu và có hê ̣ thống về văn hóa kinh doanh quốc tế, nhất là sosánh văn hóa kinh doanh của Viê ̣t Nam với các quốc gia khác, trong đó có Hoa Kỳ.Các công trình khoa học tâ ̣p trung chủ yếu vào nghiên cứu văn hóa kinh doanhcủa Viê ̣t Nam, đặc biệt liên quan đến ba vấn đề sau: (1) Nghiên cứu cơ sở lý luận củaVHKD; (2) Phân tích hiện trạng VHKD Việt Nam và (3) Phân tích ảnh hưởng của cơchế chính sách, môi trường văn hóa xã hội đối với doanh nhân, doanh nghiệp ViệtNam, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm khai thác các nhân tố văn hóa trong hoạtđộng kinh tế, kinh doanh của Việt Nam Ngoài ra, trong các tài liệu về nghiên cứuvăn hóa kinh doanh Việt Nam cũng có một số bài nghiên cứu khoa học và một số

Trang 14

sách dịch đề cập tới văn hóa Hoa Kỳ, cũng như một số khía cạnh của văn hóa kinhdoanh Hoa Kỳ Ba vấn đề nghiên cứu VHKD được trình bày như sau:

Về cơ sở lý luận của VHKD

Đáng chú ý là các nghiên cứu của Phạm Xuân Nam (1996); Đỗ Minh Cương(2001); Nguyễn Hoàng Ánh (2002); Đinh Sơn Hùng, Lê Vinh Danh (2004); Hồ SỹQuý (2006), Dương Thị Liễu (2006), Nguyễn Mạnh Quân (2009) Các tác giả đãnghiên cứu khá sâu sắc về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, kinh doanh; tổngquan khá đầy đủ các quan niệm về triết lý kinh doanh, đạo đức kinh doanh, văn hóadoanh nghiệp, văn hóa doanh nhân, các nhân tố cấu thành, các nhân tố ảnh hưởng tớichúng; đồng thời cũng phác thảo những phương hướng, cách thức cơ bản để tạo lậpcác nhân tố đó Đây là những vấn đề rất cơ bản về lý luận văn hóa kinh doanh Cáccông trình của những tác giả nêu trên rất có giá trị về khoa học, tạo điều kiện quantrọng để tiếp tục nghiên cứu vấn đề

Một vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng của văn hóa kinh doanh đã đượctrình bày gần đây trong nghiên cứu của Phùng Xuân Nhạ và các cộng sự (2010),trong đó đã bước đầu xây dựng được mô hình cấu trúc phân tầng với các bảng thanggiá trị chi tiết của VHKD Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế (xem thêmbảng 1), góp phần hình thành nên một khung phân tích cơ bản về VHKD Việt Nam,giúp cho việc nghiên cứu VHKD tại Việt Nam ngày càng có hệ thống hơn

Về phân tích hiện trạng VHKD Việt Nam

Một số tác giả đã bước đầu tiến hành điều tra, khảo sát một số doanh nghiệp ởcác thành phố lớn, như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (Phùng Xuân Nhạ và cộng

sự (2010); Dương Thị Liễu và cộng sự (2004); Trần Quốc Dân (2003) Kết quả củacác cuộc nghiên cứu điều tra này là quan trọng và rất đáng chú ý Các điều tra tậptrung vào việc xem xét hiện trạng VHKD Việt Nam và cho rằng, ở Việt Nam đã bắtđầu hình thành tính cách cộng đồng doanh nhân Việt Nam; các tác giả đã xác lậpđược các tiêu chí văn hóa cho doanh nhân Việt Nam; phân tích mối quan hệ biệnchứng giữa tinh thần doanh nghiệp với VHKD…, đồng thời đã phác họa nên một bứctranh chung về VHKD Việt Nam Tuy nhiên, để đánh giá được những xu hướng biến

Trang 15

đổi của VHKD Việt Nam trong tương lai sẽ tiếp tục cần phải có những điều tra qui

mô hơn, hệ thống hơn, và tập trung hơn

Bảng 1 Cấu trúc VHKD Việt Nam

Trang 16

Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế

Trang 17

Nguồn: Phùng Xuân Nhạ (2011) “Nhân cách doanh nhân và văn hóa kinh doanh ở Việt Nam

trong thời kỳ đổi mới và hội nhập” NXB ĐHQG Hà Nội

Về phân tích ảnh hưởng của cơ chế, chính sách, môi trường văn hóa xã hội tới doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam và đề xuất các biện pháp nhằm khai thác các nhân tố văn hóa trong hoạt động kinh tế, kinh doanh của Việt Nam

Hướng nghiên cứu này cũng được khá nhiều tác giả tập trung chú ý, trong đó nổibật là các nghiên cứu của Phùng Xuân Nhạ (2006, 2010); Nguyễn Mạnh Quân

Trang 18

(2009); Đỗ Minh Cương (2009); Lê Quý Đức (2005); Nguyễn Quang Vinh (2002);

Vũ Quốc Tuấn (2001); Nguyễn Anh Dũng (2000); Đỗ Huy (1996) Các nghiên cứucủa các tác giả này đã giới thiệu và đề xuất được một số cách thức, phương pháp cảithiện môi trường kinh doanh, phát huy vai trò các nhân tố của VHKD Việt Nam,cũng như bước đầu chỉ ra những hướng và giải pháp cụ thể để phát triển VHKD ViệtNam

Về nghiên cứu về VHKD Hoa Kỳ, so sánh VHKD Hoa Kỳ với VHKD Viê ̣t Nam

Hiện nay ở Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu theo hướng này, cómột số công trình nêu vấn đề, nhưng cũng chỉ đề cập ở một số khía cạnh và mangtính giới thiệu, được đăng tải trong một số tạp chí nghiên cứu chuyên ngành, cũngnhư trong một số công trình nghiên cứu tại các trường đại học và viện nghiên cứu,tiêu biểu là một số nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Ánh (2007), Phùng Xuân Nhạ(2010), v.v

Ngoài ra, cũng đã có một số công trình nghiên cứu về văn hóa Mỹ, phần lớn tậptrung vào phân tích và trình bày về đặc điểm xã hội, con người và cuộc sống, trong

đó có trình bày giản lược về văn hóa kinh doanh; tiêu biểu có cuốn “Văn hóa Bắc Mỹ trong toàn cầu hóa” của Lương Văn Kế (NXB Giáo dục Việt Nam, 2011) Về lĩnh vực văn hóa xã hội Hoa Kỳ, cho đến nay cuốn “Hồ sơ văn hóa Mỹ” của nhà nghiên

cứu văn hóa Hữu Ngọc (NXB Thế giới, 1995) vẫn được coi là một công trình tư liệu

mang tính bao quát về xã hội và văn hóa Mỹ Về sách dịch, có cuốn sách “Cuộc sống

và các thiết chế ở Mỹ”(NXB Chính trị Quốc gia, 2000), tác giả Doughlas K.Steveson,

và cuốn “Phong cách Mỹ”, của Gary Althen (NXB Văn Nghệ, 2006) đã đề cập khá

toàn diện nhiều lĩnh vực liên quan đến xã hội, văn hóa, kinh doanh và con người Mỹ

Liên quan đến lý luận về đặc điểm xã hội - văn hóa Mỹ có cuốn “Văn minh Hoa Kỳ”

(NXB Thế Giới, 1998) của Jean - Pierre Fichou Những công trình nghiên cứu trên có

đề cập, nhưng không nhiều, đến văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ

Như vậy, có thể thấy các tác giả đã nghiên cứu khá sâu sắc về tổng quan mốiquan hê ̣ giữa văn hóa với kinh tế, kinh doanh Tuy nhiên, vẫn còn những khoảng

Trang 19

trống cho các nghiên cứu mang tính hệ thống, với qui mô điều tra đủ lớn, để đưa rađược những đánh giá chính xác hơn về các đặc tính, các giá trị của VHKD Việt Nam.Ngoài ra, tại Việt Nam còn thiếu các công trình nghiên cứu chuyên sâu về VHKD củacác quốc gia khác, so sánh văn hóa kinh doanh của các quốc gia khác với Việt Nam,đặc biệt là nghiên cứu về VHKD Hoa Kỳ, quốc gia số một về phát triển kinh tế hiệnnay trên thế giới

2.1 Nghiên cứu ở nước ngoài

Cùng với các công trình nghiên cứu trong nước, có thể thấy có khá nhiều côngtrình nghiên cứu của nước ngoài về văn hóa kinh doanh quốc tế nói chung, và vănhóa kinh doanh Hoa Kỳ nói riêng Các công trình này có tính chuyên sâu, và kháiquát rất cao Phần dưới đây sẽ tổng quan lại các công trình nghiên cứu nước ngoài vềvăn hóa kinh doanh Hoa Kỳ theo các hướng sau: (1) Nghiên cứu thực tiễn biểu hiệncủa văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ; (2) Về xây dựng các cơ sở lý thuyết và mô hìnhnghiên cứu văn hóa kinh doanh quốc tế, trong đó có Hoa Kỳ; (3) Văn hóa kinh doanhHoa Kỳ - Việt Nam

Hướng nghiên cứu về thực tiễn biểu hiện văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ

Các công trình nghiên cứu theo hướng này, như cuốn “Working With Americans: How to Build Profitable Business Relationships” của Allyson Stewart- Allen and Lanie Dansnow (2002) (NXB Prentice Hall), cuốn “Americans at Work: A Guide to the Can-Do People” của Craig Storti (2004) (NXB Nicholas Brealey Publishing), cuốn “Trust and Honesty: America's Business Culture at a Crossroad” của Tamar Frankel (2008) (NXB Oxford University Press), hay cuốn “When we are the foreigners: What Chinese think about working with Americans”, của Orlando R.

Kelm, John N Doggett, Haiping Tang (2011), NXB CreateSpace v.v., đã đưa ranhững minh chứng cho sự khác biệt giữa tính cách của người Mỹ, văn hóa kinhdoanh Mỹ, với văn hóa kinh doanh của các quốc gia khác Các nghiên cứu trên đãtrình bày một cách khái quát những đặc tính biểu hiện chung trong văn hóa kinhdoanh của Hoa Kỳ, như các giá trị, niềm tin, nghi thức, thậm chí là “ngôn ngữ” trongkinh doanh của người Mỹ v.v Từ việc nêu lên thực tiễn biểu hiện của văn hóa kinh

Trang 20

doanh Hoa Kỳ, các tác giả đã đưa ra những gợi ý trong việc làm thế nào để xây dựngcác mối quan hệ và làm ăn giao dịch với người Mỹ Sự hiểu biết, đánh giá đúng cáchành vi, cách cư xử trong kinh doanh của người Mỹ là rất quan trọng cho sự thànhcông khi làm việc với người Mỹ Các nghiên cứu này có thể được xem như là nhữnghướng dẫn để người nước ngoài có được những hiểu biết tổng quan về kinh doanh,văn hóa, và suy nghĩ của người Mỹ.

Hướng nghiên cứu về lý thuyết và mô hình nghiên cứu văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ, văn hóa kinh doanh quốc tế

Tại Hoa Kỳ, vấn đề quản lý, kinh doanh xuyên quốc gia, cũng như giao lưu đavăn hóa đã trở thành một chủ đề rất nóng bỏng, được các nhà nghiên cứu, các nhàquản lý, các doanh nhân hết sức quan tâm Dựa trên những mô hình xuyên văn hóacủa các học giả nổi tiếng như Hall, E.T and M.R Hall (1966, 1976, 1987); GeertHofstede (1980, 2001, 2005, 2010); Charles M Hampden-Tuner and FonsTrompenaars (1997, 2000, 2004) và của Richard D.Lewis (1996, 1999, 2006), ngànhquản lý xuyên văn hóa được hệ thống hóa và nhiều phương pháp ứng dụng được đưa

ra nhằm đối phó và thích ứng với những khác biệt văn hóa trong kinh doanh Cáccông trình nghiên cứu trên mang đặc tính văn hóa kinh doanh của Hoa Kỳ rất cao, bởicác tác giả phần lớn là người Mỹ và các nghiên cứu gắn với thực tiễn kinh doanh củaHoa Kỳ Do có tính thực tiễn cao đối với người Mỹ, hiện nay các công trình nàyđược nhiều công ty hàng đầu của Hoa Kỳ và trên thế giới như IBM, GE, Coca-cola,Wall Mart , áp dụng và tham khảo, khi tiến hành các công việc kinh doanh mangtính toàn cầu của mình, như lên kế hoạch chiến lược phát triển kinh doanh quốc tế,thiết lập cơ cấu tổ chức quốc tế, bố trí nhân sự, điều phối công việc quốc tế, kiểmsoát công việc trên bình diện quốc tế Ngoài ra, hầu hết các giáo trình giảng dạy vềquản trị kinh doanh quốc tế, quản lý xuyên văn hóa tại các trường đại học kinh doanhHoa Kỳ, đều đang sử dụng các tài liệu liên quan đến các công trình nghiên cứu củacác tác giả trên cho công tác nghiên cứu và giảng dạy của mình

Hướng nghiên cứu về văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ - Việt Nam

Trang 21

Về việc nghiên cứu văn hóa kinh doanh Mỹ và Việt Nam nhằm thúc đẩy kinhdoanh giữa hai nước, vẫn còn ít về số lượng công trình nghiên cứu của các học giảnước ngoài, có thể lý giải do Việt Nam tham gia vào toàn cầu hóa và hội nhập quốc tếchưa lâu Mặc dù vậy, đã có một số cuốn sách viết về kinh doanh tại Việt Nam, có sosánh phần nào văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ và Việt Nam, nhưng chủ yếu mang tính

giới thiệu khái quát Như cuốn“Vietnam: The New Asian Dragon" (1st edition, Castlebury Press, 2007) của Kenneth Pounds; “Doing Business in Vietnam” (Prima Publishing, 1995) của Robinson; “Doing business in the New Vietnam” (Prentice

Hall, 1995) của Engholm v.v

Kết quả nghiên cứu của các tác giả nước ngoài có ý nghĩa tham khảo, đối chiếu,

so sánh hết sức cần thiết cho đề tài Các công trình kể trên cũng đã góp phần quantrọng cho việc gợi ý suy nghĩ, nêu phương pháp tiếp cận, và thôi thúc tác giả cần phải

đi sâu tìm hiểu văn hóa kinh doanh của Mỹ, có so sánh với văn hóa kinh doanh củaViệt Nam, trên cơ sở đó, đưa ra những đề xuất thiết thực cải thiện nhận thức về vănhóa kinh doanh, tạo thêm điều kiện cho các doanh nhân, các tổ chức kinh doanh củaViệt Nam có thể giao thoa với hoạt động kinh tế Mỹ, giảm thiểu những rủi ro kinhdoanh do thiếu hiểu biết về văn hóa Mỹ, cũng như cách thức làm ăn của người Mỹ,trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu và thực hiện đẩy nhanh công nghiệp hóa,

hiện đại hóa của Việt Nam Đây chính là sự khác biệt của đề tài so với các công trình

đã được công bố về văn hóa kinh doanh Mỹ và khả năng gợi mở đối với Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nói trên, luận án có nhiệm vụ cụ thể sau:

Trang 22

- Nghiên cứu cơ sở hình thành và phát triển những đặc tính tiêu biểu của vănhóa kinh doanh Hoa Kỳ.

- Phân tích và lý giải những tương đồng và khác biệt trong đặc tính văn hóakinh doanh giữa Hoa Kỳ và Việt Nam

- Nêu một số bài học kinh nghiệm, góp phần tạo cơ sở lý luận và thực tiễn gợi ýcho các doanh nhân Hoa Kỳ và Việt Nam có thể làm việc, kinh doanh với nhau mộtcách hiệu quả, từ đó thúc đẩy hơn nữa quan hệ kinh tế giữa Hoa Kỳ và Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là VHKD Hoa Kỳ Tuy nhiên, cũng như vănhóa nói chung và văn hóa kinh doanh nói riêng, văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ là mộtkhái niệm rất rộng, mở và chưa có được sự nhất trí giữa các nhà nghiên cứu

Chính vì vậy, luận án đã xác định và giới hạn đối tượng nghiên cứu của luận án

là nghiên cứu VHKD Hoa Kỳ dưới góc độ đặc tính kinh doanh của người Mỹ (tínhcách đặc trưng trong kinh doanh của người Mỹ), cụ thể là nghiên cứu đặc tính vănhóa kinh doanh tiêu biểu của người Mỹ trong các hoạt động kinh doanh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

-Về mặt thời gian: nghiên cứu những vấn đề văn hóa kinh doanh hiện nay (thậpniên đầu thế kỷ XXI) của Hoa Kỳ, cụ thể các tính cách kinh doanh tiêu biểu củangười Mỹ hiện nay Tuy nhiên, văn hóa, hay văn hóa kinh doanh luôn là dòng chảymang tính kế thừa và phát triển, do vậy luận án cũng sẽ phải tiến hành nghiên cứu cótính lịch sử văn hóa kinh doanh ở một số nơi cần thiết

- Về mặt không gian: Phạm vi nghiên cứu của luận án là Hoa Kỳ và Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

- Trong việc nghiên cứu luận án, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duyvật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê Nin được sử dụng làm cơ sở phương pháp luậnnghiên cứu

- Phương pháp lôgic, phân tích, tổng hợp, và so sánh được sử dụng trong luận án

để phân tích, đánh giá các hệ thống lý thuyết và thực tiễn VHKD Hoa Kỳ của các học

Trang 23

giả hàng đầu về văn hóa kinh doanh, qua các tiêu chí và hệ thống đánh giá VHKD, xuhướng phát triển của chúng.

- Phương pháp thống kê được sử dụng để phân tích, tổng hợp các dữ liệu liênquan đến VHKD của các học giả được nêu và kết quả điều tra

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành như khoa học quản lý, kinh tế, lịch sử, xãhội học, văn hóa kinh doanh, được sử dụng để làm sáng tỏ các vấn đề cần nghiêncứu

- Phương pháp điều tra: được thực hiện bằng bảng hỏi với một định hướng và sốlượng nhất định để làm rõ hơn vấn đề VHKD Hoa Kỳ, có so sánh với VHKD ViệtNam

- Phương pháp phỏng vấn sâu: trong quá trình thực hiện luận án, tác giả kết hợpviệc thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, với việc trao đổi lấy ý kiến các chuyêngia, các nhà quản lý, các doanh nhân am hiểu về VHKD Hoa Kỳ để kiểm nghiệm kếtquả nghiên cứu của mình

- Thứ hai, chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt giữa văn hóa kinh doanhgiữa doanh nhân Hoa Kỳ và doanh nhân Việt Nam Đưa ra một số đề xuất khả thigiúp cho doanh nhân Việt Nam có thể làm việc, kinh doanh với doanh nhân Hoa Kỳmột cách hiệu quả, từ đó thúc đẩy hơn nữa quan hệ kinh tế giữa Hoa Kỳ và ViệtNam

- Thứ ba, tập hợp nguồn tư liệu phong phú về văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ, thựctiễn hoạt động kinh doanh của Hoa Kỳ Đây là nguồn tư liệu quan trọng làm cơ sởtiếp tục nghiên cứu, giảng dạy về văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ hiện nay ở nước ta

Trang 24

7 Kết cấu của đề tài

Luận án gồm phần mở đầu, 3 chương, phần kết luận và tài liệu tham khảo 3chương của luận án có nội dung chủ yếu sau:

Chương I: Tập trung làm sáng tỏ một số vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn văn

hóa kinh doanh hiện nay

Chương II: Xem xét nhân tố tác động, cũng như tiến trình hình thành và phát

triển của VHKD Hoa Kỳ dưới góc độ lịch sử xã hội, và kết hợp với các kết quảnghiên cứu thực tiễn từ các mô hình VHKDHK để làm sáng tỏ VHKD Hoa Kỳ dướigóc độ đặc tính dân tộc Hoa Kỳ, thông qua việc chỉ ra những đặc tính tiêu biểu củangười Mỹ trong kinh doanh

Chương III: Tập trung làm sáng tỏ những nét tương đồng và khác biệt giữa

Văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ và văn hóa kinh doanh Việt Nam Đưa ra những bài họckinh nghiệm giúp cho doanh nhân Việt Nam có thể làm việc, kinh doanh với doanhnhân Hoa Kỳ một cách hiệu quả hơn, từ đó thúc đẩy hơn nữa quan hệ kinh tế giữaHoa Kỳ và Việt Nam

Trang 25

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ VĂN HÓA KINH DOANH

Với tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang phát triển mạnh mẽ,các mối quan hệ kinh tế và kinh doanh quốc tế ngày một được mở rộng và đưa lạinhiều lợi ích to lớn cho các bên tham gia

Mặc dù vậy, thực tế phát triển kinh doanh và trao đổi thương mại quốc tế cũngcho thấy, nhiều cơ hội hợp tác kinh doanh còn bị hạn chế do các nước chưa vượt quađược những khác biệt về văn hóa dẫn đến những “cú sốc văn hóa”, những “va chạmgiữa các nền văn minh” trong tiến trình hội nhập quốc tế của mình

Có thể cho rằng, mỗi một quốc gia với lịch sử hình thành và phát triển của mìnhđều có kinh nghiệm, tập quán kinh doanh riêng, do mỗi quốc gia đều có nền văn hóa,văn hóa kinh doanh với những đặc tính riêng biệt, không giống nhau Nhưng các nềnvăn hóa đó cũng có những nét chung, phổ quát; sự dung hòa những đặc tính chung vàriêng trong văn hóa và văn hóa kinh doanh của quốc gia dân tộc với thế giới, sẽ tạonên những điều kiện, cơ hội cho các nước thu được lợi ích trong kinh doanh toàn cầu;ngược lại, nếu không có được sự dung hòa sẽ gây nên nhiều thách thức và cản trở tolớn

Do vậy, càng hội nhập kinh doanh quôc tế, càng phải có nhiều tri thức hơn vềvăn hóa kinh doanh của những nơi chúng ta muốn mở rộng hợp tác kinh doanh.Chính vì vậy, việc nghiên cứu văn hóa kinh doanh và so sánh văn hóa kinh doanh, để

có thể hội nhập thuận lợi có ý nghĩa hết sức quan trọng Tìm được sự dung hợp vănhóa trong kinh doanh chính là tìm ra những hệ qui chiếu giúp cho các doanh nhân,

Trang 26

các tổ chức, các quốc gia, thấu hiểu hơn đối tác làm ăn của mình, từ đó có thể giảmthiểu những bất đồng, và gia tăng những tương đồng khi đàm phán, đối thoại, haytiến hành kinh doanh với nhau.

Chương này sẽ tập trung làm sáng tỏ một số vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễnvăn hóa kinh doanh quốc tế hiện nay

1.1 Khái quát về văn hóa kinh doanh

1.1.1 Định nghĩa văn hóa kinh doanh

Định nghĩa văn hóa

Văn hóa là một phạm trù đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và trongnước đề cập Cùng với tiến trình phát triển của xã hội loài người, phạm trù này luônđược làm phong phú thêm bởi những nội dung mới, cũng như được nghiên cứu tiếpcận trên nhiều phương diện, nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, do vậyphạm trù văn hóa có rất nhiều định nghĩa

Theo định nghĩa của từ điển bách khoa The New Webster’s Dictionary andThesaurus of the English Language (1993): “Văn hóa là những cấu trúc về tôn giáo,

xã hội, và những biểu hiện tri thức đặc trưng cho một xã hội” Có thể cho rằng, là đặctrưng hoạt động của xã hội loại người, văn hoá là một khái niệm rất rộng và phức tạp,

có nội hàm rất phong phú Trước đây, Kroeber và Kluckolm (1952) đã sưu tầm đượckhoảng trên 160 định nghĩa khác nhau về văn hoá [74] Đến năm 2002, tại Hội nghị

về văn hóa do UNESCO tổ chức tại Mêhicô, người ta đã thống kê được trên 200 địnhnghĩa và dến nay, con số đó vẫn tiếp tục tăng lên

Xét trên phương diện ngôn ngữ, thuật ngữ văn hóa bắt nguồn từ Châu Âu, tiếngAnh, tiếng Pháp gọi là “Culture”, tiếng Đức gọi “Kultur”…, và cùng có gốc từ tiếng

La Tinh là “Cultus”, có nghĩa là trồng trọt Người ta dùng thuật ngữ “Cultus” để biểuđạt khái niệm văn hóa, nó thể hiện tri thức của loài người luôn luôn tăng lên, phongphú hơn, giống như nuôi trồng chăm bón cây trái, vật nuôi, nuôi nấng, giáo dục vàđào luyện con người, từ bé lên lớn, từ thế hệ này sang thế hệ khác, và cứ thế liên tụcphát triển đi lên Trong khi đó, ở phương Đông, trong tiếng Hán cổ, từ văn hóa bàogồm hai từ “văn” và “hóa” “Văn” để chỉ cái đẹp của con người về mặt nhân cách, trí

Trang 27

tuệ, tri thức Còn “hóa” để chỉ việc cảm hóa, giáo dục con người trong đời sống xãhội thông qua cái “văn” (cái đẹp, cái tốt, cái đúng) Như vậy, từ gốc văn hóa của cảphương Tây và phương Đông đều có nghĩa chung căn bản là sự vun trồng, giáo hóanhân cách con người ngày càng phát triển và thích nghi với môi trường sống.

Tuy nhiên, trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, từ cái gốc chungquan niệm về văn hóa này, đã xuất hiện rất nhiều cách diễn giải và cách hiểu khácnhau Đây chính là nguồn gốc của những khó khăn khi cần có một định nghĩa thốngnhất về văn hóa, khi thuật ngữ là thống nhất (“Cultus”), nhưng định nghĩa (định rõ,chính xác, không khó hiểu về nội dung của thuật ngữ) lại rất khó thống nhất, do nộihàm phức tạp của bản thân “văn hóa”

Trong rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, có một định nghĩa kinh điểnđược nhiều người chấp nhận và phát triển thêm, đó là của Edward Tylor (1871):

"Văn hoá là tổng thể phức hợp bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, thói quen và bất kỳ năng lực, hay hành vi nào khác mà mỗi một cá nhân với tư cách là thành viên của xã hội đạt được".

Chủ tịch Hồ Chí Minh (1943) cũng đã xem xét văn hóa với nghĩa rất rộng của

nó Người cho rằng, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài

người tạo ra trong tiến trình lịch sử phát triển của mình: “Vì lẽ sinh tồn, cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra những ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [27, tr.431].

Tổ chức UNESCO (2002) cũng đã bổ sung thêm vào định nghĩa về văn hóa của

riêng mình Theo Unesco: “Văn hóa được xem là một tập hợp của những đặc trưng

về tinh thần, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội, hay một nhóm người trong

xã hội Nó không chỉ bao gồm văn học và nghệ thuật, mà cả các mô thức sống, những quyền căn bản của loài người, các hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”.

Trang 28

Từ những định nghĩa quan trọng về văn hóa nêu trên, để thuận tiện cho việc

nghiên cứu, luận án khái quát lại: văn hóa là tất cả những thứ mà các thành viên

trong một xã hội có, suy nghĩ và hành động

Ba từ “có”, “suy nghĩ” và “hành động” trong khái quát về văn hóa nêu trên củachúng tôi, có thể giúp chúng ta xác định được 3 thành phần cốt lõi khi đề cập về văn

hóa Thứ nhất, để con người ta “có” một cái gì đó dưới giác độ văn hóa, thì chúng

phải được xuất hiện như là các đối tượng vật chất cụ thể Thứ hai, khi con người ta

“suy nghĩ” thì các ý tưởng, các giá trị, các quan niệm và niềm tin sẽ xuất hiện Thứ

ba, khi con người ta “hành động”, thì thường hành động theo những cách thức nhất

định mà xã hội qui định Như vậy, văn hóa được tạo ra bởi (1) các vật chất biểu trưng

cụ thể, (2) các ý tưởng, các giá trị, và các quan niệm; và (3) các khuôn mẫu qui địnhcho các hành vi ứng xử được mong đợi của các thành viên trong xã hội Cũng cầnphải lưu ý rằng, văn hóa luôn là của một nhóm người trong một xã hội nào đó, chứkhông phải của một cá nhân, như vậy văn hóa được chia sẻ giữa các thành viên trong

xã hội

Khái quát trên chính là cách hiểu về văn hóa mà luận án dùng làm cơ sở để phântích những vấn đề tiếp theo liên quan đến văn hóa kinh doanh của luận án

Định nghĩa văn hóa kinh doanh

Cũng như văn hóa, văn hóa kinh doanh là một phạm trù rất rộng và mở, có rấtnhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa kinh doanh, và chưa có một định nghĩa thốngnhất nào về văn hóa kinh doanh

Từ đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX, đã bắt đầu xuất hiện các nghiên cứu về vănhóa kinh doanh, như của Harrison (1972), hay Handy (1978) v.v Các nghiên cứunày gắn hoạt động kinh doanh với doanh nghiệp, và xem xét VHKD dưới lăng kínhvăn hóa doanh nghiệp hay văn hóa tổ chức, do vậy đã hình thành nên một xu hướngnghiên cứu VHKD đơn thuần dưới góc độ là văn hóa doanh nghiệp Tuy nhiên từcuối những năm 1980 trở lại đây, các nghiên cứu về VHKD, như của Geert Hofstede(1980, 2001, 2005, 2010); Charles M Hampden-Tuner and Fons Trompenaars (1997,

2000, 2004) và của Richard D.Lewis (1996, 1999, 2006)…, đã nhìn nhận kinh doanh

Trang 29

không chỉ là hoạt động liên quan đến doanh nghiệp, mà còn liên quan tới mọi thànhviên trong xã hội, do vậy VHKD đã được xem xét trên bình diện rộng hơn, mang tầmquốc gia, còn văn hóa doanh nghiệp chỉ là một bộ phận trong VHKD Xu hướng này

đã trở thành xu hướng chủ đạo trong nghiên cứu VHKD hiện nay

Với cách tiếp cận về VHKD theo hướng nghiên cứu phổ biến hiện nay, cũng

như dựa trên định nghĩa khái quát về văn hóa ở phần trước, chúng tôi cho rằng: Văn

hoá kinh doanh là một hệ thống các biểu trưng cụ thể về vật chất, các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và các khuôn mẫu qui định hành vi, hay cách ứng xử trong hoạt động kinh doanh của các thành viên trong một cộng đồng, hay một xã hội nhất định

Hệ thống này được chia sẻ và phổ biến rộng rãi giữa các thế hệ thành viên trongmột quốc gia, một khu vực, hay một doanh nghiệp, như một chuẩn mực để nhận thức,

tư duy, cảm nhận và hành động trong mối quan hệ với các vần đề sản xuất kinhdoanh mà các thành viên phải đối mặt Văn hoá kinh doanh không chỉ tạo ra tiêu chícho cách thức kinh doanh hàng ngày, mà còn tạo ra những khuôn mẫu chung về quanđiểm và động cơ trong kinh doanh

Trên đây chưa phải là một định nghĩa chính xác nhất về văn hóa kinh doanh,chúng tôi chỉ mong muốn nêu lên, như là một sự hiểu biết về văn hóa kinh doanh phổbiến trên thế giới, trên cơ sở đó thấy rõ được cơ bản nội hàm của hệ thống văn hóakinh doanh, và từ đó có thể tìm hiểu đối tượng cần nghiên cứu, thực hiện đúng mụcđích nghiên cứu và hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án

1.1.2 Các lớp cấu thành của văn hóa kinh doanh

Harris và Moran (1999) hay Trompenaars (2000) đã chia văn hóa kinh doanhthành ba lớp cắt chính: (1) lớp bên ngoài: các sản phẩm cụ thể; (2) lớp giữa: cácchuẩn mực và giá trị cơ bản; và (3) lớp lõi:các giả định cơ bản (hàm ý) hay các giá trịmặc nhiên Để có thể hiểu được văn hóa kinh doanh, chúng ta cần phải làm sáng tỏcác lớp cắt này Trước hết, lớp bên ngoài cùng của văn hóa kinh doanh, chính nhữngsản phẩm cụ thể, dễ dàng nhận thấy được của văn hóa kinh doanh, như cách thứcgiao tiếp trong kinh doanh, đàm phán, cách thức ăn mặc trong giới kinh doanh, cách

Trang 30

thức ứng xử trong kinh doanh v.v…, sau đó chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu các lớp vănhóa kinh doanh bên trong, đó chính là các giá trị, các chuẩn mực, các thông lệ ẩn sâutrong lòng mỗi một quốc gia, chúng không hiển thị một cách trực tiếp, và khó xácđịnh hơn nhiều so với lớp văn hóa kinh doanh bên ngoài

Hình 1.1: Các lớp cấu thành của Văn hóa kinh doanh

(Nguồn: Fons Trompenaars & Charles Hampden-Tuner (2000), “Building Cross Cultural

Competence”, Yale University Press) 1.1.2.1 Lớp bên ngoài: các sản phẩm bề ngoài của văn hóa kinh doanh

Lớp văn hóa kinh doanh bề ngoài là những gì có thể quan sát được, như ngônngữ trong giao tiếp kinh doanh, cách thức ăn mặc, danh thiếp kinh doanh, quà tặng,phong thái làm việc v.v Chúng là những biểu tượng bề ngoài của một cấp độ sâuhơn về văn hóa kinh doanh Các định kiến hầu hết xuất phát từ cấp độ biểu tượng vàquan sát được này

Nếu chúng ta thấy một nhóm các giám đốc người Nhật khom mình cúi chào,hiển nhiên là chúng ta đang thấy văn hóa kinh doanh bề ngoài, là hành động cúingười đơn thuần Tuy nhiên, để hiểu được tại sao họ lại khom mình? Chúng ta sẽphải tiến vào lớp tiếp theo của văn hóa kinh doanh

Trang 31

1.1.2.2 Lớp giữa: các chuẩn mực và các giá trị cơ bản

Lớp văn hóa kinh doanh bề ngoài phản ánh các lớp sâu hơn của văn hóa kinhdoanh, như các chuẩn mực và giá trị của một nhóm người trong kinh doanh Chuẩnmực là cảm nhận chung có được của một nhóm về cái gì là “đúng” và “sai” Cácchuẩn mực có thể phát triển trên một cấp độ chính thức, như các văn bản luật, và trênmột cấp độ không chính thức, như sự kiểm soát của xã hội Trong khi, giá trị lạiquyết định “tốt và xấu” có nghĩa là gì, và từ đó liên quan chặt chẽ đến các ý tưởngchung của nhóm

Một nền văn hóa kinh doanh tương đối ổn định khi các chuẩn mực phản ánhđúng các giá trị của nhóm Các chuẩn mực, dù vô tình hay hữu ý, cho chúng ta mộtcảm giác “đây là cách tôi nên hành xử”, còn các giá trị lại cho chúng ta cảm giác

“đây là cách tôi mong muốn và ao ước hành xử” Giá trị đáp ứng cho tiêu chuẩn xácđịnh sự lựa chọn từ những khả năng có sẵn Nó là một khái niệm thể hiện một cánhân hay một nhóm đánh giá sự mong muốn

Một số nhà quản lý Nhật Bản có thể nói rằng, họ khom mình vì họ thích chàođón người khác, đó là chuẩn mực của văn hóa kinh doanh Nhật Bản Những ngườikhác lại có thể nói rằng, họ không biết lý do vì sao, ngoại trừ việc họ làm như thế vìngười khác cũng làm như họ Ở đây, chúng ra đang nói về chuẩn mực, trong một môitrường nhất định, chẳng hạn ở Nhật Bản, nếu làm khác đi, có thể dẫn đến giảm súthiệu quả kinh doanh

Vậy tại sao, những nhóm người khác nhau, vô tình hay hữu ý, lại chọn nhữngđịnh nghĩa khác nhau về cái tốt và cái xấu, cái đúng và cái sai trong văn hóa kinhdoanh?

1.1.2.3 Lớp lõi: các giả định cơ bản (hàm ý) hay giá trị mặc nhiên công nhận

Để trả lời các câu hỏi về những sự khác biệt cơ bản trong giá trị giữa văn hóakinh doanh của các quốc gia, chúng ta cần phải quay trở về nguồn gốc tồn tại của traođổi, kinh doanh của con người, bao gồm không chỉ các doanh nhân, tại từng quốc gia.Giá trị cơ bản nhất là con người đó phải đấu tranh để sinh tồn, hay phải hòa hợp đểthích nghi với môi trường sống, môi trường kinh doanh Mỗi dân tộc, mỗi một quốc

Trang 32

gia, đã tự tổ chức các thành viên lại với nhau để tìm ra các phương thức đối phó hữuhiệu nhất với môi trường (môi trường sống, môi trường tự nhiên, môi trường kinhdoanh), dựa trên những nguồn lực sẵn có của họ Những vấn đề của cuộc sống kinhdoanh liên tục diễn ra, liên tục được giải quyết, và dần trở thành những giá trị đượcmặc nhiên thừa nhận, đến nỗi các phương thức giải quyết không còn xuất hiện trongtiềm thức của con người

Các quốc gia khác nhau, các nhóm người khác nhau, sinh sống và phát triển tạinhững vùng địa lý khác nhau, nên họ cũng hình thành những hệ giả định lô-gíc khácnhau trong kinh doanh

Các mối quan hệ cơ bản giữa con người với môi trường kinh doanh, giữa conngười trong cộng đồng với nhau, cũng như giữa các cộng động với nhau đã xác định

ý nghĩa cốt lõi của cuộc sống Ý nghĩa sâu xa nhất này đã thoát khỏi những vấn đềtiềm thức và trở thành hiển nhiên, bởi nó là kết quả của những phản ứng thườngxuyên với môi trường Theo nghĩa này, văn hóa kinh doanh của một quốc gia đượcxem là không gì khác ngoài sự chấp nhận các giá trị cơ bản một cách tự nhiên, hay hệthống giá trị mặc nhiên trong con người tại quốc gia đó, với tư cách là một chủ thểkinh doanh

Cách tốt nhất để kiểm tra đâu là một giá trị cơ bản hay giá trị mặc nhiên đượccông nhận, đó là khi ta đưa ra câu hỏi liên quan đến giá trị này sẽ gây ra phản ứngnhư thế nào, sự bối rối hay tức giận Ví dụ, khi thấy các nhà quản lý người Nhật cúichào thấp hơn những người khác Một lần nữa ta lại hỏi vì sao họ làm như vậy, thìcâu trả lời sẽ là họ không biết tại sao, chỉ biết những người khác trong xã hội, họcũng làm như vậy (chuẩn mực qui định), hoặc họ muốn thể hiện sự tôn trọng quyền

uy (giá trị) Nếu ta hỏi tiếp, tại sao bạn lại tôn trọng quyền uy? Gần như chắc chắnphản ứng của doanh nhân người Nhật Bản sẽ là bối rối, hay nở một nụ cười (che dấu

sự bực mình của họ) Khi hỏi về các giá trị mặc nhiên cơ bản, chúng ta đang hỏinhững câu hỏi chưa bao giờ được hỏi trước đó Nó có thể dẫn đến những cái nhìn sâuhơn vào bên trong, nhưng nó cũng có thể gây ra sự khó chịu Hãy thử hỏi vì sao ở Mỹquan hệ giữa người quản lý và người làm thuê lại bình đẳng hơn? hay vì sao các

Trang 33

doanh nhân Trung Quốc lại đề cao thể diện? đề cao thứ bậc? cứ tiếp tục như vậy,chúng ta sẽ dần hiểu ra các giá trị tồn tại trong các hệ thống kinh doanh ở mỗi quốcgia là gì.

1.1.3 Các đặc trưng của văn hóa kinh doanh

Theo nghiên cứu của Dương Thị Liễu [24] và của Phùng Xuân Nhạ và cộng sự[32], văn hóa kinh doanh là văn hóa của một lĩnh vực đặc thù trong xã hội, là một bộphận trong nền văn hóa dân tộc, văn hóa xã hội Vì vậy, yếu tố này cũng mang nhữngđặc điểm chung tương đồng với văn hóa như tính tập quán, tính cộng đồng, tính dântộc, tính chủ quan, tính khách quan, tính kế thừa, tính học hỏi và tính tiến hóa

Tính tập quán: Hệ thống các giá trị của văn hóa kinh doanh sẽ qui định những

hành vi được chấp nhận, hay không được chấp nhận, trong một hoạt động, hay môitrường kinh doanh cụ thể Có những tập quán kinh doanh đẹp tồn tại như một sựkhẳng định nét độc đáo, chẳng hạn như tập quán chăm lo đến đời sống riêng tư củangười lao động trong các doanh nghiệp Nhật Bản, tập quán cung cấp dịch vụ hậu mãicho khách hàng của các doanh nghiệp hiện đại Tuy nhiên, cũng có những tập quán

dễ nảy sinh nhiều tiêu cực như tập quán đàm phán và ký kết hợp đồng trên bàn tiệccủa nhiều doanh nghiệp Việt Nam

Tính cộng đồng: Kinh doanh bao gồm một hệ thống các hoạt động có tính chất

đặc trưng với những mục tiêu là chủ thể kinh doanh thu được lợi nhuận và kháchhàng được đáp ứng nhu cầu Kinh doanh không thể tự thân tồn tại, mà phải dựa vào

sự tạo dựng, tác động qua lại và củng cố của mọi thành viên tham gia trong quá trìnhhoạt động kinh doanh Do đó, văn hóa kinh doanh sẽ là sự quy ước chung cho cácthành viên trong cộng đồng kinh doanh Nó bao gồm những giá trị, lề thói, tập tục …

mà các thành viên trong cộng đồng cùng tuân theo một cách tự nhiên, không cần phải

ép buộc Nếu một người nào đó làm khác đi, sẽ bị cộng đồng lên án, hoặc xa lánh, tuyrằng về mặt pháp lý có thể những việc làm đó không vi phạm pháp luật

Tính dân tộc: Tính dân tộc là một đặc trưng tất yếu của văn hóa kinh doanh, vì

bản thân văn hóa kinh doanh là một bộ phận nhỏ, hay một tiểu văn hóa, nằm trongvăn hóa dân tộc và mỗi chủ thể kinh doanh thuộc về một dân tộc cụ thể, với một phần

Trang 34

nhân cách tuân theo các giá trị của văn hóa dân tộc Khi các giá trị của văn hóa dântộc thẩm thấu vào tất cả các hoạt động kinh doanh, sẽ tạo nên nếp suy nghĩ và cảmnghĩ chung của những người làm kinh doanh trong cùng một dân tộc Ví dụ, xã hộiNhật Bản đề cao thứ bậc, tôn ti trật tự, nên hoạt động giao tiếp trong kinh doanhthường bị chi phối bởi quan hệ tuổi tác, địa vị.

Tính chủ quan: Văn hóa kinh doanh là sự thể hiện quan điểm, phương hướng,

chiến lược và cách thức tiến hành kinh doanh của một chủ thể kinh doanh cụ thể Dovậy, tính chủ quan của nó được thể hiện thông qua việc các chủ thể khác nhau sẽ cónhững suy nghĩ, đánh giá khác nhau về cùng một sự việc, hiện tượng kinh doanh.Chẳng hạn, cùng một hành động khai man để trốn thuế, những người có quan điểm vịlợi sẽ đánh giá hành vi này là có thể chấp nhận được, vì nó đem lại lợi nhuận cho chủthể kinh doanh, nhưng những người có quan điểm đạo đức công lý lại không thể chấpnhận, vì nó là hành vi lừa lọc và gian trá

Tính khách quan: Mặc dù văn hóa kinh doanh là sự thể hiện quan điểm chủ

quan của từng chủ thể kinh doanh, nhưng do được hình thành trong một quá trình lâudài, với sự tác động của rất nhiều nhân tố bên ngoài như xã hội, lịch sử, hội nhập …nên khái niệm này tồn tại khách quan ngay với chính chủ thể kinh doanh Đối vớimột số giá trị nhất định của văn hóa kinh doanh, chủ thể kinh doanh phải chấp nhậnchứ không thể biến đổi chúng theo ý muốn chủ quan của mình Chẳng hạn, tâm lý coitrọng khoa bảng từ thời phong kiến vẫn ảnh hưởng nặng nề tới cơ chế sử dụng laođộng ở Việt Nam hiện nay Rất nhiều doanh nghiệp chỉ dựa vào bằng cấp, bảng điểm

để tuyển dụng lao động Thực trạng này khiến tâm lý học cao hơn để lấy bằng, để giatăng mức thu nhập trở nên rất phổ biến trong xã hội

Tính kế thừa: Cũng giống như văn hóa, văn hóa kinh doanh là sự tích tụ của tất

cả các hoàn cảnh Trong quá trình kinh doanh, mỗi thế hệ sẽ bổ sung các đặc trưngriêng biệt của mình vào hệ thống văn hóa kinh doanh trước khi truyền lại cho thế hệsau Theo thời gian, những cái cũ không còn phù hợp nữa sẽ bị loại trừ, nhưng sựsàng lọc và tích tụ sẽ làm cho các giá trị của văn hóa kinh doanh trở nên phong phú

và tinh lọc hơn

Trang 35

Tính học hỏi: Một số giá trị của văn hóa kinh doanh không thuộc về văn hóa

dân tộc, hay văn hóa xã hội và cũng không phải do các nhà lãnh đạo sáng tạo ra Cácgiá trị đó có thể được hình thành từ kinh nghiêm giải quyết các vấn đề, từ kết quả củaquá trình nghiên cứu thị trường, nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, hoặc được tiếp nhậntrong quá trình giao lưu với nền văn hóa khác…Tất cả các giá trị đó được tạo nên làbởi tính học hỏi của văn hóa kinh doanh Như vậy, ngoài những giá trị được kế thừa

từ văn hóa dân tộc và văn hóa xã hội, tính học hỏi sẽ giúp văn hóa dân tộc và văn hóa

xã hội, giúp văn hóa kinh doanh thâu nhận những giá trị tốt đẹp từ các chủ thể và cácnền văn hóa khác Ví dụ, trào lưu máy tính hóa và sử dụng thư điện tử hiện nay đãtạo nên phong cách làm việc mới tại nhiều doanh nghiệp Các nhân viên có thể traođổi mọi công việc với đồng nghiệp và đối tác qua thư điện tử, biện pháp này vừanhanh gọn lại vừa tiết kiệm chi phí Và kết quả của quá trình đó là nền “văn hóa điệntử” đang dần hình thành, kỹ năng về máy tính và internet trở thành một trong nhữngyêu cầu bắt buộc đối với nhà kinh doanh

Tính tiến hóa: Thế giới kinh doanh hết sức sôi động và luôn luôn thay đổi, do

đó, văn hóa kinh doanh với tư cách là bản sắc của chủ thể kinh doanh cũng luôn tựđiều chỉnh để phù hơp với trình độ kinh doanh và tình hình mới Đặc biệt, trong thờiđại hội nhập quốc tế, việc giao thoa với các sắc thái kinh doanh của các chủ thể khác

để trao đổi và tiếp thu những giá trị tiến bộ là điều tất yếu Ví dụ, tinh thần tập thểcủa người Việt Nam trong nền kinh tế bao cấp trước đây chịu ảnh hưởng mạnh mẽbởi tính địa phương cục bộ, do vậy sự đề bạt, hoặc hợp tác kinh tế nhiều khi khôngchỉ dựa trên năng lực, phẩm chất, mà ít nhiều bị tính địa phương chi phối Tuy nhiên,khi được chuyến đổi sang nền kinh tế thị trường, khi lợi ích bền vững của các chủ thểkinh doanh phụ thuộc vào những quyết định và hành động của họ, thì tính địaphương cục bộ sẽ dần được hạn chế, và thay vào đó, hiệu quả, năng lực và phẩm chất

sẽ là những tiêu chí để đánh giá và lựa chọn nhân lực

Như vậy, tính tập quán, tính cộng đồng, tính dân tộc, tính chủ quan, tính kháchquan, tính kế thừa, tính học hỏi và tính tiến hóa là tám đặc trưng của văn hóa kinhdoanh, với tư cách là một bộ phận của văn hóa dân tộc và văn hóa xã hội Tuy nhiên,

Trang 36

kinh doanh cũng là một hoạt động có những nét khác biệt so với các hoạt động khác,như chính trị, pháp luật, gia đình …nên ngoài tám đặc trưng trên, văn hóa kinh doanhcòn có những nét đặc trưng riêng phân biệt với văn hóa trên các lĩnh vực khác Điềunày được thể hiện rõ nét ở hai đặc trưng sau:

Thứ nhất, văn hóa kinh doanh xuất hiện cùng với sự xuất hiện của thị trường.Nếu như văn hóa nói chung (văn hóa xã hội) ra đời ngay từ thủa bình minh của xã hộiloài người, thì văn hóa kinh doanh xuất hiện muộn hơn nhiều Khái niệm này chỉ rađời khi nền sản xuất hàng hóa phát triển đến mức độ kinh doanh trở thành một hoạtđộng phổ biến, và chính thức trở thành một nghề, khi đó xã hội sẽ sản sinh ra mộttầng lớp mới, đó là giới doanh nhân Chính vì vậy, bất kỳ một xã hội nào có hoạtđộng kinh doanh, thì đều có văn hóa kinh doanh, dù các thành viên của xã hội đó ýthức được hay không Nó được hình thành như một hệ thống các giá trị và cách cư xửđặc trưng cho các thành viên trong lĩnh vực kinh doanh

Thứ hai, văn hóa kinh doanh phải phù hợp với trình độ kinh doanh của chủ thểkinh doanh Nó là sự thể hiện tài năng, phong cách và thói quen của nhà kinh doanh,

vì vậy nó phải phù hợp với trình độ kinh doanh của nhà kinh doanh đó Ví dụ, quanđiểm , thái độ, phong cách làm việc của doanh nhân Việt Nam thời kỳ kinh tế nôngnghiệp, tự cung tự cấp không thể có đủ độ nhanh nhạy, và sắc bén, nhưng khi đãchuyến sang nền kinh tế thị trường thì tác phong chậm chạp và lề mề của họ lạikhông thể tồn tại lâu được

Chúng ta không thể nhận xét nền văn hóa của một quốc gia là tốt hay xấu, cũngnhư không thể khen chê văn hóa kinh doanh của một chủ thể kinh doanh là hay hoặc

dở, bởi thực chất yếu tố này luôn phù hợp với trình độ phát triển kinh doanh của họ

Do đó, cần học cách chấp nhận và học hỏi văn hóa hóa kinh doanh của các chủ thểkhác nhau trên thị trường để có thể hợp tác, hội nhập và phát triển, đặc biệt trong môitrường toàn cầu hóa hiện nay

Trang 37

1.2 Tầm quan trọng của văn hóa kinh doanh trong hoạt động kinh doanh quốc tế

Thế kỷ XXI đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của tiến trình toàn cầu hóa vềkinh tế Sự phát triển của xu hướng kinh tế này đã tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt, cũngnhư mang lại những cơ hội to lớn cho các chủ thể kinh doanh trong phạm vi toàn cầu.Điều này cũng có nghĩa rằng, các công ty ngày nay, trong đó có cả các công ty củaViệt Nam, sẽ phải sẵn sàng đối phó với những thách thức vô cùng to lớn trong quátrình quản lý kinh doanh, khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh mang tầm toàncầu Lãnh đạo của các công ty sẽ phải có năng lực quản lý hoạt động kinh doanhxuyên quốc gia, trong môi trường đa văn hóa Những kỹ năng quản lý đơn thuầntrong phạm vi một quốc gia sẽ không còn thích hợp và hiệu quả Phần dưới đây sẽtrình bày cụ thể tầm quan trọng của VHKD đối với hoạt động quản lý kinh doanh đavăn hóa hiện nay và trong thời gian 10 năm tới

Tầm quan trọng của VHKD trong việc lên kế hoạch kinh doanh trên bình diện quốc tế

Việc lên kế hoạch kinh doanh đòi hỏi một tổ chức kinh tế phải xác định rõ sứmệnh và xây dựng các mục tiêu và có một chiến lược tổng thể để đạt được các mụctiêu đó Điều này có nghĩa cần phải có cách tư duy chủ động hơn là thụ động Thay vìphản ứng tức thì với từng tình huống đơn lẻ, việc lên kế hoạch cho phép một tổ chứckinh tế chủ động tạo ra môi trường kinh doanh của chính mình và gây ảnh hưởng trựctiếp lên môi trường đó, và như vậy tổ chức đó trong một chừng mực nào đó, có thể tựkiểm soát được số phận, hay tương lai kinh doanh của mình Quan điểm lên kế hoạchkinh doanh mang tính quốc tế được hình thành dựa trên những quan điểm mà trên đó,các khái niệm văn hóa kinh doanh, các quy phạm được tạo nên, bao gồm quan điểmlàm chủ số phận, quan điểm định mệnh, và quan điểm đòi hỏi phát triển không ngừngtrong hoạt động kinh doanh quy mô quốc tế

Quan điểm làm chủ số phận trong kinh doanh rất phổ biến trong nhiều nền vănhóa, bao gồm ở Châu Mỹ, Anh, và Úc Mỗi cá nhân trong các nền văn hóa này tinrằng, họ có thể tác động đáng kể đối với tương lai, rằng họ có thể điều khiển số phận

Trang 38

của họ, và rằng thông qua công việc kinh doanh, họ có thể đạt được điều đó Thói

quen lên kế hoạch kinh doanh ở những nền văn hóa này là có thể thực hiện được, bởicác cá nhân đều sẵn lòng làm việc để đạt được các mục tiêu [108] hoạt động kinhdoanh quốc tế của mình

Trái lại, ở nhiều xã hội khác, trong đó có các nền văn hóa Trung Đông, hoặc cácnền văn hóa Hồi giáo ở Malaysia và Indonesia, thuyết định mệnh là một phần của cơcấu văn hóa, trong đó có văn hóa kinh doanh Những người theo thuyết định mệnh tinrằng, họ không thể điều khiển số phận của mình, rằng Chúa Trời đã ấn định trước sựtồn tại, cũng như những việc họ phải làm trong cuộc đời của mình [77] Các nhà quản

lý kinh doanh quốc tế, do vậy sẽ có khả năng gặp nhiều khó khăn hơn trong việc thựchiện các kế hoạch kinh doanh của mình trong những nền văn hóa tin vào định mệnh,hơn là khi ở trong những nền văn hóa mà con người tin tưởng vào khả năng làm chủđịnh mệnh của bản thân mình

Việc lên kế hoạch kinh doanh còn bị ảnh hưởng bởi quan niệm đòi hỏi phát triểnkhông ngừng Các nhà quản lý ở một số nền văn hóa, như Mỹ, trung thành với quanđiểm này: họ cho rằng, thay đổi là bình thường và cần thiết, và không một khía cạnhnào của một doanh nghiệp lại không phát triển được Do vậy, hoạt động hiện tại củamột tổ chức luôn được đánh giá thường xuyên, với hy vọng tổ chức đã đạt được tiến

bộ ở mức nào đó Ngược lại, ở một số nền văn hóa khác, quyền lực của các nhà quản

lý gia tăng không phải dựa trên sự thay đổi, mà là sự duy trì tính ổn định của hiệntrạng Những nhà quản lý này sẽ coi bất kỳ một gợi ý nào về sự cải tổ là mối đe dọatiềm tàng với ẩn ý rằng, họ như vậy là đã thất bại Những sự thay đổi trong kinhdoanh mang tính kế hoạch ở những nền văn hóa này vì vậy cũng khó khả thi

Tầm quan trọng của VHKD trong thiết lập cơ cấu tổ chức kinh doanh quốc tế

Thiết lập cơ cấu tổ chức nghĩa là việc thiết lập một cơ cấu tổ chức tốt nhất saocho doanh nghiệp có thể dễ dàng đạt được các mục tiêu của mình “Tổ chức” baogồm việc xác định các nhiệm vụ cần phải hoàn thành, ai thực hiện, các nhiệm vụđược tổ chức theo nhóm như thế nào, ai chịu trách nhiệm về cái gì, và phân quyền cụthể như thế nào Ở các nước, cách thức tổ chức một doanh nghiệp được quyết định

Trang 39

bởi những quan điểm văn hóa của xã hội nước đó, trong đó chẳng hạn như quan điểmcoi một doanh nghiệp độc lập như là một công cụ hoạt động xã hội

Quan niệm coi một doanh nghiệp độc lập như là một công cụ hoạt động xã hộiđược chấp nhận rộng rãi ở nhiều xã hội, chẳng hạn như Mỹ Ở đây một doanh nghiệpđược coi là một thực thể có luật lệ và tồn tại lâu dài liên tục, một thể chế xã hội quantrọng và riêng biệt cần được bảo vệ và phát triển Kết quả là, mỗi cá nhân đều có ýthức cam kết mạnh mẽ để phục vụ tổ chức, và họ có thể đặt ưu tiên đối với tổ chứclên trên ưu tiên đối với những vấn đề cá nhân, hoặc trách nhiệm xã hội, bao gồm giađình, bè bạn, và các hoạt động khác Ví dụ như, các nhà quản lý Mỹ mặc nhiên chorằng, mỗi thành viên của tổ chức (kinh doanh) cần phải đặc biệt nỗ lực thực hiện cácnhiệm vụ được giao vì lợi ích của doanh nghiệp, và họ sẽ trung thành và tuân thủtheo các hệ thống quản lý của doanh nghiệp Ngược lại, các cá nhân trong nhiều nềnvăn hóa khác, chẳng hạn như Nam Mỹ, coi những quan hệ cá nhân của họ quan trọnghơn doanh nghiệp [123] Vì vậy, phương thức tổ chức áp dụng cho hai nền văn hóanày phải khác nhau - chẳng hạn như, cần phải phân quyền ít hơn trong các nền vănhóa coi trọng quan hệ cá nhân, hơn là trong nền văn hóa doanh nghiệp độc lập

Tầm quan trọng của VHKD trong bố trí nhân sự trên bình diện quốc tế

Bố trí nhân sự có nghĩa là tìm kiếm, đào tạo, và phát triển những người cần thiếtcho công ty để thực hiện các nhiệm vụ nhất định (được bố trí vào các vị trí thíchhợp) Các quan điểm về văn hóa của một xã hội có ảnh hưởng rất lớn đối với chiếnlược và chính sách bố trí nhân sự Một trong số đó là quan điểm lựa chọn nhân lựcdựa trên thành tựu, hay thành tích làm việc

Quan điểm lựa chọn nhân sự dựa trên thành tựu là quan điểm quản lý kinhdoanh nổi bật trong một số nền văn hóa, trong đó có Hoa Kỳ Những nhà quản lý cóquan điểm này lựa chọn, hoặc tiến cử những người xuất sắc nhất cho các vị trí côngviệc và giữ họ cho đến chừng nào cách thể hiện trong công việc của họ đáp ứng được

kỳ vọng của công ty, và cất nhắc họ lên những vị trí cao hơn Trái lại, trong nhiềunền văn hóa, trong đó có châu Á, bạn bè và gia đình được coi là quan trọng hơn sựsống còn của công ty; các tổ chức (công ty) ở đây phát triển là để đáp ứng có được số

Trang 40

lượng tối đa các bạn bè và thành viên gia đình Ví dụ như, ưu tiên hàng đầu củangười châu Á là gia đình, và vì các nhà quản lý cho rằng, họ phải có nghĩa vụ quantâm đến những người làm việc cho họ, chủ nghĩa ưu ái người thân là một phần tựnhiên của thế giới việc làm ở châu Á Ở nhiều nước châu Á, nhiều công ty là công tygia đình và các quyết định được đưa ra chủ yếu là để làm hài lòng các thành viêntrong gia đình, hơn là để tăng năng suất Những cá nhân không phải là thành viên giađình, hoặc trong giới bạn bè, vì vậy ít có động lực để làm việc chăm chỉ, hoặc chămchỉ hơn để trở thành không thể thiếu đối với tổ chức, trong khi các thành viên giađình thì có thể làm việc không chăm chỉ vì công việc của họ đã được đảm bảo [90].Việc bố trí nhân sự cũng bị ảnh hưởng bởi các quan điểm cá nhân về sự giàu có.

Ở hầu hết các nền văn hóa, chẳng hạn như ở Australia, nói chung sự giàu có là đáng

mơ ước, và triển vọng của những lợi ích hữu hình là một động lực thúc đẩy quantrọng Tuy nhiên, ở một số nền văn hóa khác như Malaysia, người ta cho rằng, chỉlàm việc để kiếm một khoản tiền nhất định mà họ mong muốn và sau đó không quaytrở lại làm việc cho đến khi tiêu hết khoản tiền đó Như vậy, việc đưa ra phần thưởngkhuyến khích ở các nền văn hóa này không phải là cách để dành được sự cam kết củacác cá nhân đối với mục tiêu của tổ chức, doanh nghiệp

Tầm quan trọng của VHKD trong điều phối công việc mang tầm quốc tế

“Điều phối” ở đây có nghĩa là chức năng chỉ đạo mọi người trong một tổ chức.Chức năng này bao gồm việc giao, bố trí công việc, và không chỉ công việc, nó cònliên quan đến việc truyền cảm hứng, thúc đẩy động lực phấn đấu của từng cá nhân,truyền đạt thông tin và giải quyết công việc và mâu thuẫn nẫy sinh Trong vai trò lãnhđạo của mình, một số nhà quản lý tự mình đưa ra toàn bộ các quyết định, trong khimột số nhà quản lý khác cho phép các phụ tá đưa ra quyết định Văn hóa cũng có ảnhhưởng đối với kỹ năng quản lý này Ví dụ như, quan điểm chia sẻ việc ra quyết định

có ảnh hưởng đến việc điều phối các tổ chức trong nhiều nền văn hóa khác nhau Trong một số nền văn hóa, chẳng hạn như Mỹ, các nhà quản lý luôn giữ quanđiểm chia sẻ trong việc ra quyết định Họ tin rằng, đội ngũ nhân sự trong một tổ chức

Ngày đăng: 04/12/2013, 10:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alan Phan (2011). “42 năm làm ăn tại Mỹ và Trung Quốc”. NXB Lao Động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 42 năm làm ăn tại Mỹ và Trung Quốc
Tác giả: Alan Phan
Nhà XB: NXB Lao Động –Xã hội
Năm: 2011
2. Athur M. Schlesinger, Jr (2004). “ Niên giám lịch sử Hoa Kỳ”. Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám lịch sử Hoa Kỳ
Tác giả: Athur M. Schlesinger, Jr
Nhà XB: Nxb Khoa họcxã hội
Năm: 2004
3. Nguyễn Hoàng Ánh, “Hiê ̣p đi ̣nh Thương ma ̣i Viê ̣t nam - Hoa Kỳ: nhìn la ̣i vànghĩ về kỹ năng đàm phán của doanh nhân”, Sô 777, 2007. Ta ̣p chí Cô ̣ng sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiê ̣p đi ̣nh Thương ma ̣i Viê ̣t nam - Hoa Kỳ: nhìn la ̣i vànghĩ về kỹ năng đàm phán của doanh nhân
4. Nguyễn Hoàng Ánh, “Impact of Culture on Business relationship between Vietnam and Scandinavian”, Kỷ yếu khoa ho ̣c Diễn đàn kinh doanh quốc tế lần thứ 3, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of Culture on Business relationship betweenVietnam and Scandinavian
5. Nguyễn Hoàng Ánh “Vietnamese Business Culture in Globlization Process”, Kỷ yếu hô ̣i thảo môi trường kinh doanh ở Viê ̣t Nam 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnamese Business Culture in Globlization Process
6. Clack George (2007). “Khái quát về lịch sử nước Mỹ”. Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái quát về lịch sử nước Mỹ
Tác giả: Clack George
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2007
7. Đỗ Minh Cương (2001), “Giáo trình văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh”. NXB Chính tri ̣ Quốc gia Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình văn hóa kinh doanh và triết lý kinhdoanh
Tác giả: Đỗ Minh Cương
Nhà XB: NXB Chính tri ̣ Quốc gia Hà Nô ̣i
Năm: 2001
8. Đỗ Minh Cương (2000), “Văn hóa kinh doanh và triết lý công ty”, NXB Chính tri ̣ Quốc gia Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa kinh doanh và triết lý công ty
Tác giả: Đỗ Minh Cương
Nhà XB: NXB Chínhtri ̣ Quốc gia Hà Nô ̣i
Năm: 2000
9. Đỗ Minh Cương, “Văn hóa doanh nhân: nhâ ̣n diê ̣n và đánh giá” 2009. Ta ̣p chíNghiên cứu Con người Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa doanh nhân: nhâ ̣n diê ̣n và đánh giá
10. Đỗ Minh Cương, “Văn hóa doanh nghiê ̣p: mô ̣t số vấn đề và giải pháp” 2009.Ta ̣p chí Lý luâ ̣n Chính tri ̣ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa doanh nghiê ̣p: mô ̣t số vấn đề và giải pháp
11. Trần Quốc Dân (2008), “ Doanh nghiệp, Doanh Nhân và Văn Hóa”, NXB Chính Trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp, Doanh Nhân và Văn Hóa
Tác giả: Trần Quốc Dân
Nhà XB: NXBChính Trị Quốc Gia
Năm: 2008
12. David S. Landes (2001). “Sự giàu và nghèo của các dân tộc”. Nxb Thống kê 13. Edward N Kearny, “Các giá trị Mỹ tại thời điểm bước ngoặt: Nước Mỹ trong thế kỷ XXI”, số 7/2007, Tạp chí Châu Mỹ Ngày Nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự giàu và nghèo của các dân tộc”. Nxb Thống kê13. Edward N Kearny, “Các giá trị Mỹ tại thời điểm bước ngoặt: Nước Mỹ trongthế kỷ XXI
Tác giả: David S. Landes
Nhà XB: Nxb Thống kê13. Edward N Kearny
Năm: 2001
14. Phạm Đức Dương (1994), “Tiếp xúc, giao lưu và phát triển văn hóa: Quan hệ văn hóa Việt Nam và thể giới”, Chương trình KX 06-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp xúc, giao lưu và phát triển văn hóa: Quanhệ văn hóa Việt Nam và thể giới
Tác giả: Phạm Đức Dương
Năm: 1994
15. Fonts Trompenaars & Charles Hampden-Tuner (2006), “Chinh phục các làn sóng văn hóa”, NXB Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chinh phục các lànsóng văn hóa
Tác giả: Fonts Trompenaars & Charles Hampden-Tuner
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2006
16. Gary Althen (2006). “Phong cách Mỹ”. NXB Văn Nghệ, TP. Hồ Chí Minh 17. Geert. Hofstede, “Văn hóa kinh doanh”, số 4, 1994, Ta ̣p chí Người đưa tin UNESCO Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách Mỹ”. NXB Văn Nghệ, TP. Hồ Chí Minh17. Geert. Hofstede, “Văn hóa kinh doanh
Tác giả: Gary Althen
Nhà XB: NXB Văn Nghệ
Năm: 2006
18. Howard Cincotta (2000), “Khái quát về lịch sử nước Mỹ”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái quát về lịch sử nước Mỹ
Tác giả: Howard Cincotta
Nhà XB: NXB Chính trịQuốc gia
Năm: 2000
19. Nguyễn Thái Yên Hương (2005), “ Liên bang Mỹ: đặc điểm xã hội, văn hóa”, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên bang Mỹ: đặc điểm xã hội, vănhóa
Tác giả: Nguyễn Thái Yên Hương
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2005
20. Lương Văn Kế (2011), “Văn hóa Bắc Mỹ trong toàn cầu hóa”, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Bắc Mỹ trong toàn cầu hóa
Tác giả: Lương Văn Kế
Nhà XB: NXB Giáodục Việt Nam
Năm: 2011
21. Trần Trọng Kim (1973). “Việt Nam sử lược”. Tập I, II. Trung Tâm học liệu BGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam sử lược
Tác giả: Trần Trọng Kim
Năm: 1973
22. Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1991). “Lịch sử Việt Nam”. NXB Đại học & GDCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịchsử Việt Nam
Tác giả: Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh
Nhà XB: NXB Đại học & GDCN
Năm: 1991

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Các lớp cấu thành của Văn hóa kinh doanh - Văn hóa kinh doanh hoa kỳ và bài học kinh nghiệm đối với việt nam
Hình 1.1 Các lớp cấu thành của Văn hóa kinh doanh (Trang 30)
Hình 1.2. Mô hình của Edgard H. Shien - Văn hóa kinh doanh hoa kỳ và bài học kinh nghiệm đối với việt nam
Hình 1.2. Mô hình của Edgard H. Shien (Trang 45)
Hình 1.3. Mô hình của Richard Lewis - Văn hóa kinh doanh hoa kỳ và bài học kinh nghiệm đối với việt nam
Hình 1.3. Mô hình của Richard Lewis (Trang 51)
Bảng 1.1. Đặc tính doanh nhân trong ba loại hình văn hóa  (Đơn tuyến – Đa tuyến – Phản hồi) của Lewis - Văn hóa kinh doanh hoa kỳ và bài học kinh nghiệm đối với việt nam
Bảng 1.1. Đặc tính doanh nhân trong ba loại hình văn hóa (Đơn tuyến – Đa tuyến – Phản hồi) của Lewis (Trang 52)
Bảng 2.2. So sánh của Hofstede về đặc tính doanh nhân  Hoa Kỳ và một số quốc gia châu Á - Văn hóa kinh doanh hoa kỳ và bài học kinh nghiệm đối với việt nam
Bảng 2.2. So sánh của Hofstede về đặc tính doanh nhân Hoa Kỳ và một số quốc gia châu Á (Trang 92)
Bảng 3.1. Các chiều so sánh đặc tính doanh nhân  Hoa Kỳ và Việt Nam - Văn hóa kinh doanh hoa kỳ và bài học kinh nghiệm đối với việt nam
Bảng 3.1. Các chiều so sánh đặc tính doanh nhân Hoa Kỳ và Việt Nam (Trang 112)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w