1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn huyện chương mỹ thành phố hà nội

101 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan điểm, chủ trương đó của Đảng được thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và bổ sung, phát triển năm 2011 và nghị quyết của c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Người cam đoan

Hoàng Ngọc Thúy

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi đã nhận được sự động viên, quan tâm và tạo điều kiện giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo, cán bộ tại trường Đại học Lâm nghiệp và khu vực nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới PGS.TS Trần Thị Thu

Hà đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện

luận văn tốt nghiệp

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cán bộ chuyên môn các phòng, ban của huyện Chương Mỹ - Thành phố Hà Nội, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Chương Mỹ, Đảng ủy - UBND - HĐND các xã trên địa bàn nghiên cứu, các hộ gia đình, người dân địa phương trên địa bàn nghiên cứu, các bạn đồng nghiệp đã luôn tạo điều kiện, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tại địa phương để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình

Nhân dịp này tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân và bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận văn

Hoàng Ngọc Thúy

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI 5

1.1 Cơ sở lý luận về thực thi chính sách bảo trợ xã hội 5

1.1.1 Một số khái niệm 5

1.1.2 Nội dung thực thi chính sách bảo trợ xã hội 12

1.1.3 Phân loại đối tượng bảo trợ xã hội 16

1.1.4 Đặc trưng của chính sách BTXH 16

1.1.5 Vai trò của chính sách BTXH 17

1.1.6 Nguyên tắc thực thi chính sách BTXH 20

1.1.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách BTXH 21

1.2 Cơ sở thực tiễn về thực thi chính sách BTXH 22

1.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về BTXH 22

1.2.2 Kinh nghiệm thực thi chính sách BTXH ở một số địa phương 24

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU27 2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội 27

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 27

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 31

2.1.3 Đánh giá chung về đặc đểm tự nhiên – kinh tế xã hội ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách BTXH 35

2.2 Phương pháp nghiên cứu 36

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 36

Trang 5

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 37

2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 38

2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 38

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

3.1 Thực trạng thực thi chính sách BTXH tại huyện Chương Mỹ 39

3.1.1 Công tác tổ chức quản lý đối tượng bảo trợ xã hội 39

3.1.2 Kết quả thực thi chính sách bảo trợ xã hội 48

3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách BTXH 60

3.2.1 Bộ máy tổ chức thực hiện chính sách BTXH 60

3.2.2 Kinh tế, xã hội 61

3.2.3 Thể chế hành chính và thủ tục hồ sơ 62

3.2.4 Kinh phí thực hiện chính sách 63

3.2.5 Thông tin, tuyên truyền 64

3.3 Đánh giá chung về thực thi chính sách BTXH trên địa bàn huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội 66

3.3.1 Các mặt đạt được 66

3.3.2 Hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế 71

3.4 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách BTXH trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội 74

3.4.1 Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của bộ máy tổ chức thực hiện chính sách ở cấp cơ sở 74

3.4.2 Từng bước nâng cao năng lực, đào tạo đội ngũ cán bộ cơ sở 75

3.4.3 Từng bước hoàn thiện quy trình, thủ tục xét duyệt đối tượng và ra quyết định hưởng chính sách 76

3.3.4 Cải cách hành chính trong thực thi chính sách bảo trợ xã hội 77

3.3.5 Từng bước tăng cường công tác kiểm tra, theo dõi, giám sát đánh giá thực hiện chính sách; kiếm tra, tranh tra trong việc chi trả 77

KẾT LUẬN 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT

LĐ-TB và XH: Lao động – Thương binh và Xã hội

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất của huyện 32

Bảng 3.1 Tình hình lao động của phòng LĐ-TB và XH huyện Chương Mỹ 40

Bảng 3.2 Tổng hợp điều tra, rà soát trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn năm 2019 42

Bảng 3.3 Tổng hợp điều tra thông tin người cao tuổi năm 2019 43

Bảng 3.4 Tổng hợp điều tra, rà soát người khuyết tật năm 2019 46

Bảng 3.5 Tổng hợp chi trả cho đối tượng BTXH giai đoạn 2017-2019 49

Bảng 3.6 Tổng hợp số thẻ BHYT đối tượng BTXH từ năm 2017-2019 52

Bảng 3.7 Kết quả hỗ trợ mai táng phí năm 2017-2019 53

Bảng 3.8 Kết quả hỗ trợ đột xuất năm 2017-2019 55

Bảng 3.9 Kết quả hỗ trợ các chính sách khác 56

Bảng 3.10 Tổng hợp đối tượng hưởng theo diện chính sách đặc thù 59

Bảng 3.11 Đánh giá thái độ phục vụ của Cán bộ Lao động – TBXH đối với các đối tượng BTXH 66

Bảng 3.12 Đánh giá hình thức, chất lượng tuyên truyền chính sách BTXH của đối tượng BTXH 68

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Chương Mỹ 27 Hình 3.1 Sơ đồ, cơ cấu bộ máy phòng LĐ-TB và XH Chương Mỹ 40 Hình 3.2 Quy trình ra quyết định hưởng chính sách và quản lý đối tượng 76

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu

Công tác đảm bảo an sinh xã hội luôn được Đảng và Nhà nước ta xác định là một nhiệm vụ trọng tâm trong công cuộc đổi mới đất nước Qua 33 năm đổi mới, đường lối lãnh đạo của Đảng về xây dựng hệ thống chính sách ASXH đã có những bước phát triển cả về tư duy và xây dựng chính sách; quan điểm, mục tiêu, nội dung và phương thức thực thi có nhiều đổi mới theo hướng ngày càng toàn diện và hiệu quả hơn thể hiện rõ trong các văn kiện, văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng qua các kỳ Đại hội

Quan điểm, chủ trương đó của Đảng được thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và

bổ sung, phát triển năm 2011 và nghị quyết của các kỳ đại hội, đặc biệt Nghị Quyết số 15-NQ/TW, ngày 01-6-2012, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, về “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020” đã đặt ra yêu cầu: Chính sách xã hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ ; đồng thời thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm mức sống tối thiểu và hỗ trợ kịp thời người có hoàn cảnh khó khăn; coi bảo đảm an sinh xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản hình thành hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân với các yêu cầu: bảo đảm người dân có việc làm, thu nhập tối thiểu; tham gia bảo hiểm xã hội; bảo đảm hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (trẻ

em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi thu nhập thấp, người khuyết tật nặng, người nghèo,.); bảo đảm cho người dân tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin), góp

phần từng bước nâng cao thu nhập, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân

Trang 10

Từ năm 2000, Chính phủ đã ban hành Nghị định 07/2000/NĐ-CP quy định về chính sách cứu trợ xã hội và qua nhiều lần bổ sung sửa đổi, thay thế bằng các Nghị định 67/2007/NĐ-CP, Nghị định số 13/2010/NĐ-CP và hiện nay thực thi theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng BTXH và Thông tư liên tịch số 29/2014 ngày 24/10/2014 của Bộ LĐ - TB VÀ XH và Bộ Tài

chính về hướng dẫn thực thi một số điều của Nghị định 136/2013/NĐ-CP

Thông tư Liên tịch số 06/2016/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 12/5/2016 về sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 4, Điều 11 Thông tư liên tịch số 29/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 24 tháng 10 năm 2014 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ Thông tư số 01/2019/TT-BLĐTBXH ngày 02 tháng 01 năm 2019 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quy định về việc xác định mức độ khuyết tật do hội đồng xác định mức độ khuyết tật thực hiện Quyết định số 25/2015/QĐ-UBND ngày 31/8/2015 của UBND thành phố Hà Nội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 78/2014/QĐ-UBND ngày 31/10/2014 quy định mức trợ cấp xã hội hàng tháng cho các đối tượng bảo trợ

xã hội sống tại cộng đồng và tại các cơ sở bảo trợ xã hội thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội

Với những nguy cơ, rủi ro kinh tế và xã hội ngày càng có xu hướng tăng như khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu, thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu tiếp tục đặt ra nhiều khó khăn thách thức, tạo áp lực lớn lên hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hộ và các dịch vụ chăm sóc xã hội cho các

cá nhân và tổ chức Điều này đòi hỏi phải có một hệ thống bảo trợ xã hội hiệu

quả hơn, phù hợp hơn với nhu cầu và đặc điểm của xã hội

Tuy hiện nay các quy định của Luật và các văn bản dưới Luật về chính sách BTXH cơ bản đầy đủ, đối tượng thụ hưởng chính sách đã được mở

Trang 11

rộng gắn với phương thức thực thi cũng được đa dạng hóa, nhưng chính sách BTXH vẫn chưa đáp ứng được so với nhu cầu và sự đòi hỏi của xã hội, chưa bao phủ hết các tất cả các đối tượng thật sự cần trợ giúp, một số quy định, quy trình thủ tục thực thi chính sách BTXH chưa phù hợp, chưa đáp ứng yêu cầu

thực tiễn đặt ra

Từ thực tế thực thi chính sách BTXH tại huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, trung bình hàng năm có hơn 12.000 đối tượng được thụ hưởng các giá trị mà chính sách BTXH mang lại với tổng kinh phí trên 68 tỷ đồng/năm đã góp phần cải thiện đời sống của đối tượng liên quan Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực thi đã phát sinh một số vướng mắc đó là: bỏ sót đối tượng đủ điều kiện hưởng, quy trình chưa đảm bảo về thời gian, các thủ tục có lúc còn chậm, văn bản quy định đôi lúc chưa phù hợp với thực tế, xuất

phát từ thực tế đó bản thân chọn đề tài "Thực thi chính sách bảo trợ xã hội

trên địa bàn huyện Chương Mỹ - TP Hà Nội " làm đề tài luận văn tốt nghiệp

cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 12

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường thực thi chính

sách BTXH trên địa bàn huyện Chương Mỹ trong thời gian tới

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc thực thi các chính sách bảo

trợ xã hội trên địa bàn huyện Chương Mỹ

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài

+ Phạm vi về nội dung:

Luận văn tập trung nghiêm cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp liên quan đến việc thực thi chính sách BTXH trên địa bàn huyện Chương Mỹ

- Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu trong phạm vi huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập từ năm 2017 đến 2019,

số liệu sơ cấp thu thập từ tháng 11/2019 – 4/2020

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn chính sách BTXH và thực thi chính sách

BTXH;

- Thực trạng thực thi chính sách BTXH tại huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội;

- Các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách BTXH tại huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội;

- Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thực thi chính sách BTXH tại huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội

5 Kết cấu nội dung của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực thi chính sách BTXH; Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu;

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trang 13

1.1.1.2 An sinh xã hội

Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, con người không ngừng tiến hành lao động sản xuất của cải vật chất nhằm duy trì sự sống và tồn tại của mình Tuy vậy, không phải lúc nào người lao động cũng đảm bảo chắc chắn duy trì được việc làm thường xuyên và thu nhập ổn định Đó là những lúc gặp rủi ro như ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động dẫn đến bị mất hoặc giảm việc làm Hơn nữa, hoạt động lao động sản xuất của con người không phải lúc nào cũng thuận lợi vì còn bị phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, môi trường, xã hội… Vì thế, cần thiết phải có các biện pháp phòng tránh và khắc phục rủi ro đã trở thành một nhu cầu của con người

Đặc biệt trong nền sản xuất công nghiệp, khi mà số lượng người lao động có thu nhập chính từ tiền lương tăng lên thì sự hẫng hụt về thu nhập trong các trường hợp gặp rủi ro hoặc khi không còn khả năng lao động càng trở thành mối đe doạ đối với cuộc sống của họ Chính và thế, một trong những

Trang 14

nhu cầu xã hội hiện đại là bảo vệ sự an toàn cho tất cả các thành viên trong xã hội trước các nguy cơ bị giảm sút hoặc bị mất nguồn thu nhập trước các cú sốc về kinh tế - xã hội hay chính là đảm bảo ASXH cho người dân Tuy nhiên, tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội, tùy theo cách tiếp cận, giải quyết vấn đề mà mỗi quốc gia có quan điểm, thể chế chính sách và thể chế tổ chức cụ thể về hệ thống ASXH nhằm thực hiện chức năng bảo vệ các thành viên trong xã hội của mình

Theo Liên hiệp quốc, ASXH tiếp cận trên quyền của người dân (Điều

25, Hiến chương Liên hiệp quốc năm 1948): “…Mọi người đều có quyền

được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để đảm bảo sức khoẻ và phúc lợi của bản thân và gia đình, về các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, cũng như có quyền được bảo hiểm trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tàn phế, góa bụa, già nua hoặc thiếu phương tiện sinh sống do những hoàn cảnh khách quan vượt quá khả năng đối phó của họ ”

Trong cuốn “Cẩm nang an sinh xã hội" của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho rằng: ASXH là hình thức bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong, cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em

Hiệp hội An sinh quốc tế (ISSA) coi ASXH là thành tố của hệ thống chính sách công liên quan đến sự bảo đảm an toàn cho tất cả các thành viên

xã hội chứ không chỉ có công nhân Những vấn đề mà ISSA quan tâm nhiều trong hệ thống ASXH là chăm sóc sức khoẻ thông qua BHYT; hệ thống BHXH, chăm sóc tuổi già; phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

Ở mỗi nước khác nhau, thuật ngữ an sinh xã hội có những cách tiếp cận

tên gọi khác nhau như bảo đảm xã hội, an toàn xã hội, bảo trợ xã hội hoặc an

Trang 15

sinh xã hội Ở Việt Nam, thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách đã thống nhất sử dụng thuật ngữ “an sinh xã hội” để tiếp cận một cách mới mẻ, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của nước ta

Theo cuốn “Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam” tập I cũng đã thống

nhất khái niệm về an sinh xã hội là: “Sự bảo vệ của xã hội đối với công dân

thông qua các biện pháp công cộng nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn

về kinh tế và xã hội; đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con ”

Cuốn sách “Văn kiện Đảng về an sinh xã hội”, đã tập hợp, tuyển chọn các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, thông tư của Đảng ta về vấn đề chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, công nhân, nhân dân; chính sách tiền lương, chế độ bảo hiểm xã hội, chính sách đối với người có công, trợ giúp khi gặp thiên tai; giải quyết việc nghỉ hưu của cán bộ; sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trước những biến động về kinh tế, xã hội và tự nhiên làm cho họ bị giảm và mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật hoặc tử vong; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những nạn nhân chiến tranh, những người bị thiên tai địch họa… Các văn bản này được sưu tầm, tuyển chọn từ khi Nhà nước ta giành được chính quyền cho đến những năm gần đây

Theo GS.TS Mai Ngọc Cường (Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội) “ để thấy hết được bản chất, an sinh xã hội phải tiếp cận theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp của khái niệm này

Theo nghĩa rộng: ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền để con người được an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội

Theo nghĩa hẹp: ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người khuyết tật, những người yếu thế, người bị thiên tại địch hoạ

Trang 16

Trong "Chiến lược ASXH giai đoạn 2011 - 2020” ghi nhận: “ ASXH là

sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế”

Từ những cách tiếp cận an sinh xã hội phong phú, tác giả đã tiếp thu,

chọn lọc và cho rằng: ASXH là một hệ thống các cơ chế, chính sách, biện

pháp của nhà nước và xã hội nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội để họ vượt qua những khó khăn trong cuộc sống do gặp phải những rủi ro như bị

ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì những nguyên nhân khách quan làm cho họ có nguy cơ bị suy giảm mất nguồn thu nhập rơi vào cảnh nghèo khổ

Khái niệm đã chỉ ra: An sinh xã hội là các chương trình hành động của chính phủ nhằm thúc đẩy phúc lợi của người dân thông qua các biện pháp hỗ trợ đảm bảo quyền tiếp cận các nguồn lực đầy đủ về thực phẩm và nơi trú ẩn

và tăng cường sức khỏe và phúc lợi cho người dân nói chung và các phân đoạn có khả năng dễ bị tổn thương như trẻ em, người già, người bệnh và người thất nghiệp (được luật hóa hoặc quy định)

ASXH là các chính sách do Nhà nước tổ chức thực hiện là chính, ngoài

ra còn có sự tham gia của các tổ chức xã hội, cộng đồng và thị trường trong việc tổ chức thực hiện và cung cấp dịch vụ ASXH Các chính sách này hướng đến mọi thành viên trong xã hội, bảo đảm cho mọi thành viên được bình đẳng

về tiếp cận và chất lượng dịch vụ, tuy nhiên, nhấn mạnh đến nhóm đối tượng yếu thế (lý do chính để có sự tham gia của nhà nước)

ASXH là lưới an toàn cho mọi thành viên trong xã hội Do đó, phạm vi của ASXH là bao phủ toàn dân và toàn diện

* Các nguyên tắc của an sinh xã hội

Thứ nhất: Nhà nước quản lý về an sinh xã hội phải có trách nhiệm tổ

chức thực hiện các biện pháp bảo đảm xã hội đối với các đối tượng bị giảm

Trang 17

hoặc mất thu nhập; ban hành các văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý điều chỉnh các hoạt động của an sinh xã hội; thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động của an sinh xã hội; tăng cường công tác thanh tra, phát hiện và xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật về an sinh xã hội; hỗ trợ một phần kinh phí để thực hiện hoạt động an sinh xã hội trong phạm vi cả nước

Thứ hai: ASXH phải bảo đảm xã hội cho mọi người bị giảm hoặc mất

khả năng lao động dẫn đến giảm hoặc mất thu nhập do bị mất việc làm, do gặp thiên tai, hỏa hoạn hoặc các rủi ro khác

Thứ ba: Thực hiện an sinh xã hội trên cơ sở sự đóng góp của các bên

và sự trợ giúp của xã hội, sự chia sẻ cộng đồng

Thứ tư: An sinh xã hội không nhằm mục đích lợi nhuận mà chủ yếu

thực hiện mục đích xã hội vì cộng đồng

Thứ năm: Mức an sinh xã hội nhằm trợ giúp bảo đảm nhu cầu tối thiểu

cho những người thụ hưởng

Thứ sáu: Hoạt động an sinh xã hội được thực hiện trên cơ sở mức đóng

góp của các bên, sự trợ giúp của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước cũng như là sự bảo trợ của nhà nước

1.1.1.3 Trợ giúp xã hội

Trợ giúp xã hội (TGXH) là sự trợ giúp bằng tiền mặt hoặc hiện vật của nhà nước (lấy từ nguồn thu thuế, không phải đóng góp của người nhận) nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu cho đối tượng được nhận Hầu hết các khoản trợ cấp được dựa trên cơ sở đánh giá gia cảnh hoặc thu nhập nhất định Theo quan điểm hiện đại trợ giúp xã hội bao gồm 3 loại hình: hỗ trợ thu nhập, trợ cấp gia đình, dịch vụ xã hội

TGXH là một trụ cột thể hiện đạo lý, truyền thống “tương thân, tương ái” của dân tộc Việt Nam đối với những người có công trong xã hội và những người bị rơi vào những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Trợ giúp xã hội đó là sự giúp đỡ của Nhà nước và Xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống thiết

Trang 18

yếu khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình

TGXH là đảm bảo ít nhất ở mức sống tối thiếu cho các đối tượng thuộc nhóm xã hội yếu thế cần trợ giúp xã hội có cuộc sống ổn định và có điều kiện hoà nhập tốt hơn vào cộng đồng Việc đảm bảo này thông qua các hoạt động cung cấp tiền bạc, vật phẩm, các điều kiện vật chất khác trong một thời hạn hoặc trong suốt cuộc đời của đối tượng

1.1.1.4 Bảo trợ xã hội

Đề cập đến một tập hợp các lợi ích có sẵn (hoặc không có sẵn) từ nhà nước, thị trường, xã hội dân sự và các hộ gia đình, hoặc thông qua sự kết hợp của các tổ chức này, cho cá nhân/hộ gia đình để giảm thiếu thôn nhiều mặt Thiếu thốn nhiều mặt này có thể ảnh hưởng đến những người nghèo ít linh lợi (như người già, người tàn tật) và những người nghèo linh lợi (ví dụ như thất

nghiệp) (Bách khoa toàn thư mở, vi.wikipedia.org)

“Bảo trợ xã hội là hệ thống các chính sách, chế độ, hoạt động của chính quyền các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm giúp các đối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống có điều kiện tồn tại và có cơ hội hoà nhập với cuộc sống chung của cộng đồng, góp phần bảo đảm ổn định và công bằng xã hội” (Bộ

LĐ - TB VÀ XH, 1999)

“Bảo trợ xã hội được hiểu một cách rộng rãi như là một loạt các chính sách, chương trình công và tư được xã hội thực thi để đáp lại các nhu cầu nảy sinh trong những tình huống khác nhau để cân bằng sự thiếu hụt hoặc suy giảm đáng kể của thu nhập từ công việc; để trợ giúp cho các gia đình có trẻ

em cũng như cung cấp cho mọi người với những sự chăm sóc về sức khỏe và nhà ở”; “BTXH theo nghĩa hẹp là sự trợ giúp của Nhà nước, các tổ chức đoàn thể, cộng đồng xã hội bằng các biện pháp và các hình thức khác nhau cho các

Trang 19

thành viên của cộng đồng khi họ gặp phải những khó khăn, rủi ro, bất hạnh trong cuộc sống do những nguyên nhân khác nhau để họ có thêm điều kiện vượt quan khó khăn tự mình bảo đảm cuộc sống, tiến tới bình đẳng sống trong cộng đồng xã hội” (Nguyễn Bá Ngọc, 2008)

1.1.1.5 Chính sách BTXH (CSBTXH)

CSBTXH bao gồm cả hệ thống chính sách của nhà nước như chính sách trợ cấp xã hội, chính sách cứu đói, chính sách hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, chính sách hỗ trợ giáo dục cho bộ phận dân cư yếu thế Vì vậy BTXH có vai trò và là trách nhiệm của nhà nước, không những thế mà còn là hoạt động có tính chất về công tác xã hội, không dành riêng cho một hoặc một số đối tượng

xã hội, đồng thời BTXH không phải là giải pháp toàn diện về ASXH mà là một phần của ASXH

Chính sách của nhà nước về BTXH là hệ thống các quy định, giải pháp

hỗ trợ của nhà nước đối với các đối tượng BTXH với mục tiệu giúp các đối tượng khắc phục những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài trong cuộc sống Việc bảo đảm này thông qua các hoạt động hỗ trợ tài chính, nhu yếu phẩm và các điều kiện vật chất khác cho các nhóm đối tượng

1.1.1.6 Thực thi chính sách BTXH

Tố chức thực thi chính sách KT- XH là quá trình biến các chính sách thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tố chức trong bộ máy nhà nước, nhằm thực hiện hóa những mục tiêu mà chính sách đã đề ra

(Nguyễn Thị Lệ Thủy và Bùi Thị Hồng Việt, 2012)

Theo tôi Thực thi chính sách BTXH được hiểu là tập hợp các hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương về hoạt động BTXH nhằm triển khai thực hiện chính sách BTXH từ Trung ương đến đối tượng thụ hưởng chính sách Các hoạt động này bao gồm tuyên truyền phổ biến chính sách, xây dựng kế hoạch triển khai, tổ chức triển khai, kiểm tra giám sát và đánh giá thực hiện của địa phương

Trang 20

Về thực thi chính sách ở mỗi địa phương khác nhau do điều kiện kinh

tế tự nhiên xã hội đặc thù mà từ đó cán bộ chính sách có những kế hoạch thực

hiện riêng, cụ thể cho từng đơn vị để chính sách BTXH đạt hiệu quả cao nhất

Công tác tố chức thực thi chính sách nếu không được tiến hành tốt, dễ dẫn đến sự thiếu tin tưởng, thậm chí sự chống đối của nhân dân đối với Nhà nước Điều này hoàn toàn bất lợi về mặt chính trị và xã hội, gây ra những khó

khăn cho Nhà nước trong công tác quản lý

Có những vấn đề trong giai đoạn hoạch định chính sách chưa phát sinh, bộc lộ hoặc đã phát sinh nhưng các nhà hoạch định chưa nhận thấy, đến giai đoạn to chức thực thi mới phát hiện Quá trình thực thi chính sách với những hành động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống Việc đưa chính sách vào thực tiễn không đơn giản, nhanh chóng Đó là quá trình phức tạp, đầy biến động, chịu tác động của một loạt các yếu tố, thúc đẩy hoặc cản trở công

việc thực thi

1.1.2 Nội dung thực thi chính sách bảo trợ xã hội

CSBTXH bao gồm cả hệ thống chính sách của nhà nước như chính sách trợ cấp xã hội, chính sách cứu đói, chính sách hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, chính sách hỗ trợ giáo dục cho bộ phận dân cư yếu thế Vì vậy BTXH có vai trò và là trách nhiệm của nhà nước, không những thế mà còn là hoạt động có tính chất về công tác xã hội, không dành riêng cho một hoặc một số đối tượng

xã hội, đồng thời BTXH không phải là giải pháp toàn diện về ASXH mà là một phần của ASXH

Chính sách của nhà nước về BTXH là hệ thống các quy định, giải pháp

hỗ trợ của nhà nước đối với các đối tượng BTXH với mục tiệu giúp các đối tượng khắc phục những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài trong cuộc sống Việc bảo đảm này thông qua các hoạt động hỗ trợ tài chính, nhu yếu phẩm và các điều kiện vật chất khác cho các nhóm đối tượng

Trang 21

1.1.2.1 Xác định đối tượng chính sách bảo trợ xã hội

a Đối tượng thụ hưởng chính sách:

* Chế độ trợ cấp thường xuyên (TCTX): Các nhóm đối tượng với điều kiện khác nhau được hưởng các mức trợ cấp khác nhau dựa vào theo nguyên tắc bảo đảm không thấp hơn mức chuẩn chung và khó khăn nhiều hỗ trợ nhiều, khó khăn ít hỗ trợ ít Chế độ trợ cấp được điều chỉnh phù hợp với điều kiện phát triển KT-XH của đất nước và khả năng ngân sách Nhà nước, có 4

nhóm sau:

- Nhóm đối tượng là trẻ em;

- Nhóm đối tượng là người cao tuổi;

- Nhóm đối tượng là người tàn tật, tâm thần, HIV/AIDS;

- Nhóm đối tượng là hộ gia đình, cá nhân nhận nhận nuôi dưỡng các đối tượng trên hoặc là người đơn thân thuộc hộ nghèo đang nuôi con nhỏ dưới

16 tuổi; trường hợp con đang đi học văn hoá, học nghề được áp dụng đến

dưới 18 tuổi

* Chế độ cứu trợ đột xuất: Đối tượng được trợ giúp đột xuất (TGĐX)

(một lần) là những người, hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc

những lý do bất khả kháng khác gây ra, bao gồm:

- Đối với hộ gia đình có người chết, mất tích; có người bị thương nặng;

có nhà bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng; bị mất phương tiện sản xuất, lâm vào

cảnh thiếu đói; phải di dời khẩn cấp do nguy cơ sạt lở đất, lũ quét

- Đối với cá nhân: Người bị đói do thiếu lương thực; Người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú dẫn đến bị thương nặng, gia đình không biết để chăm sóc; Người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú

* Chế độ BHYT: Các đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên sẽ được cấp thẻ bảo hiểm y tế hàng năm nhằm phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh khi bị ốm đau, bệnh tật Các chế độ ưu tiên khi đi khám

chữa bệnh cũng được thực hiện tốt và đảm bảo

Trang 22

* Chế độ mai táng phí: Đối tượng BTXH khi chết được hỗ trợ chi phí mai táng bằng 20 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội (theo Điều 11, Nghị định

136/2013/NĐ- CP)

b Đối tượng tổ chức, triển khai thực hiện công tác bảo trợ xã hội:

Theo Điều 32, Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định thì Hội đồng xét duyệt đối tượng bảo trợ xã hội cấp xã do

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thành lập gồm các thành viên sau:

(1) Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã là Chủ tịch Hội

đồng xét duyệt;

(2) Công chức cấp xã phụ trách công tác Lao động - Thương binh và

Xã hội là Phó Chủ tịch Hội đồng xét duyệt;

(3) Các thành viên khác của Hội đồng xét duyệt gồm: Công chức cấp

xã phụ trách công tác tư pháp, hộ tịch; Trạm trưởng Trạm y tế cấp xã; Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã; Bí thư

hoặc Phó Bí thư Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cấp xã; Chủ tịch

hoặc Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cấp xã; Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam cấp xã (nếu có); Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam cấp xã; Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội người cao tuổi cấp xã; Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội Người khuyết tật cấp

xã (nếu có); Thành viên khác theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã

(4) Chuyên viên, cán bộ quản lý phòng LĐ - TB và XH huyện

1.1.2.2 Phổ biến tuyên truyền và xây dựng kế hoạch triển khai, phân công

Trang 23

kết hợp với các ban ngành đoàn thể tuyên truyền trong các cuộc tập huấn chuyên môn để các hộ dân, các đối tượng chính sách tiếp cận, nắm bắt được các thông tin đầy đủ, chính xác và để thuận tiện trong việc rút ngắn thời gian

thực hiện, đẩy nhanh tiến độ thực hiện,

Để làm được việc tuyên truyền này thì chúng ta cần được đầu tư về trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị, trang thiết bị kỹ thuật, vì đây là đòi hỏi của thực tế khách quan Việc tuyên truyền này cần phải thực hiện thường xuyên liên tục, ngay cả khi chính sách đang được thực thi với mọi đối tượng và trong khi tuyên truyền phải sử dụng nhiều hình thức như tiếp xúc

trực tiếp, gián tiếp trao đổi,

Phổ biến chính sách BTXH được thực hiện theo ngành dọc từ Trung ương đến địa phương Khi chính sách được ban hành đối tượng đầu tiên tiếp nhận chính sách là cán bộ chính sách, do đó cán bộ chính sách cần phải nắm

rõ được nội dung chính sách và các thông tư để tham mưu với cấp có thẩm quyền, phối hợp cùng các tổ chức đoàn thể ở địa phương triển khai thực hiện

có hiệu quả

Chính sách BTXH phải được phổ biến rộng rãi đến mọi đối tượng, mọi người dân thông qua hệ thống báo đài, loa truyền thanh, để tất cả các đối tượng thuộc diện BTXH đều nắm bắt thông tin kịp thời về những chính sách đang

được thực hiện, sửa đổi bổ sung ở địa phương một cách đầy đủ nhất

1.1.2.3 Nguồn kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội

Kinh phí để thực hiện chính sách BTXH từ Ngân sách nhà nước, nguồn vận động đóng góp của các doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước, nhưng nguồn ngân sách nhà nước vẫn là nguồn chính để thực hiện chính sách BTXH Ngân sách nhà nước gồm cả 4 cấp: ngân sách trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Ngân sách trung ương phân bổ chi thực hiện chính sách BTXH trong nguồn chi bảo đảm xã hội cho các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ngân sách cấp tỉnh bố trí cho cấp huyện và cấp

Trang 24

huyện bố trí cho cấp xã Do đặc thù phân cấp quản lý tùy từng tỉnh, tại tỉnh Lạng Sơn chỉ bố trí đến cấp tỉnh, huyện, không bố trí cấp xã Xã chỉ là đơn vị

thực hiện chính sách cho các đối tượng cụ thể khi đã được duyệt

Cơ chế tài chính thực hiện chính sách là những quy định về quản lý,

sử dụng và thanh quyết toán, giám sát đánh giá về tài chính và tuân thủ theo nguyên tắc: hướng tới bảo đảm đủ ngân sách cho trợ cấp hàng tháng, một lần; thống nhất quản lý từ trung ương đến địa phương; tạo ra sự linh hoạt về

nguồn và quản lý chặt chẽ, không thất thoát

1.1.3 Phân loại đối tượng bảo trợ xã hội

Tùy theo cách tiếp cận và nghiên cứu mà có các cách phân loại đối

tượng bảo trợ xã hội như sau:

+ Theo đối tượng, bao gồm: (i) Trẻ em mồ côi: cả cha lẫn mẹ, trẻ em

mồ côi cha, mồ côi mẹ, trẻ em bị bỏ rơi ;(ii) Trẻ em khuyết tật, người khuyết tật: Người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng Người khuyết tật nặng là người cao tuổi, người khuyết tật nặng là trẻ em, Người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng đang mang thai hoặc nuôi một con dưới 36 tháng tuổi ;(iii) Người cao tuổi: Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng, người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng ;(iv) Người nhiễm HIV nghèo không có khả năng lao động; (v) Đối tượng khó khăn khác

+ Theo loại hình thực hiện, bao gồm: (i) Trợ giúp xã hội đột xuất; (ii)

Trợ cấp xã hội hàng tháng; (iii) Trợ giúp giáo dục, đào tạo và dạy nghề

1.1.4 Đặc trưng của chính sách BTXH

Người được trợ cấp thông thường không phải trực tiếp đóng góp toàn

bộ chi phí trợ giúp xã hội do nhà nước chi trả và đóng góp từ các tổ chức xã

Trang 25

hội khác thực tế khi đã là đối tượng bảo trợ xã hội thì người dân không còn khả năng tạm thời hoặc vĩnh viễn tự đảm bảo cho cuộc sống bản thân và gia đình Vì vậy, người được trợ cấp xã hội không bị ràng buộc bởi những điều kiện đóng góp, nguồn quỹ trợ cấp thường do các tổ chức, cá nhân hoặc nhà nước gây dựng

Thông thường thì trợ cấp xã hội sẽ góp phần cùng với gia đình và bản thân đối tượng đảm bảo cho mức sống của đối tượng được trợ cấp bằng hoặc cao hơn mức sống tối thiểu của nhân dân cùng khu vực cư trú Vì vậy, hạn mức trợ cấp xã hội thường được nghiên cứu dựa trên nhu cầu thực tế của từng đối tượng cụ thể được trợ giúp, đồng thời đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh

tế, xã hội trong từng giai đoạn cụ thể

Trợ giúp xã hội đột xuất thông thường là hình thức cứu trợ khẩn cấp, chỉ cứu trợ một lần với các hình thức trợ giúp bằng: tiền, lương thực hoặc các hiện vật khác như: nhu yếu phẩm, dụng cụ sinh hoạt, đồ dùng cá nhân

nguyên nhân nẩy sinh mâu thuẫn xã hội, bất ổn của xã hội

Thứ hai, BTXH thực hiện chức năng tái phân phối lại của cải xã hội: Với chức năng này BTXH sẽ điều tiết phân phối thu nhập, cân đối, điều chỉnh

Trang 26

nguồn lực để tăng cường cho các vùng nghèo, vùng chậm phát triển tạo nên

sự phát triển hài hoà và giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng, giữa các nhóm

dân cư

Thứ ba, BTXH có vai trò phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu và khắc phục rủi ro và giải quyết một số vấn đề xã hội nẩy sinh: BTXH trực tiếp giải quyết những vấn đề liên quan đến giảm thiểu rủi ro và khắc phục hậu quả của rủi ro thông qua các chính sách và chương trình cụ thể nhằm giúp cho các thành viên xã hội ổn định cuộc sống, tái hoà nhập cộng đồng, bảo đảm mức sống tối thiểu cho dân cư khó khăn Ngày nay, do khai thác tài nguyên quá mức để phát triển kinh tế, bệnh dịch, tác động khách quan của các quy luật kinh tế, ảnh hưởng chủ quan trong quá trình quyết định của các chủ thể quản lý đã dẫn đến nẩy sinh các vấn đề xã hội và gia tăng người nghèo, người khuyết tật (NKT), TEMC, người cao tuổi (NCT) cô đơn, nhóm những người này thường chịu nguy cơ tổn thương cao, không tự chủ quyết định cuộc sống và phụ thuộc vào sự hỗ trợ của xã hội, Nhà nước Các chính sách TCXH, hỗ trợ

y tế, hỗ trợ giáo dục, đối với NKT, NCT, TEMC, người nghèo, dân tộc thiểu số sẽ giúp cho bộ phận dân cư giảm bớt khó khăn, ổn định an ninh trật

tự xã hội

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, bên cạnh "cơ hội" cũng có nhiều

"thách thức", "rủi ro"; khi nói đến cơ hội, đến sự thuận lợi mang lại từ hội nhập quốc tế thường là cơ hội cho phát triển kinh tế, ngược lại sự thách thức, rủi ro lại là vấn đề xã hội như bất bình đẳng gia tăng, phân hoá giàu nghèo,

phân tầng xã hội, nghèo đói, bần cùng hoá và ô nhiễm môi trường

BTXH tốt sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững;

vì ngay cả các nhà đầu tư không chỉ chú ý đến các yếu tố kinh tế mà còn chú

ý đến các yếu tố của an toàn, ổn định xã hội Một xã hội ổn định giúp các nhà đầu tư yên tâm đầu tư phát triển lâu dài, tạo cho kinh tế tăng trưởng nhanh và

ổn định và ngược lại Mặt khác bản thân sự phát triển BTXH cũng là một lĩnh

Trang 27

vực dịch vụ tạo nguồn tài chính cho phát triển kinh tế Đồng thời tăng trưởng tạo ra nguồn lực để giải quyết các vấn xã hội, góp phần ổn định xã hội và tạo

ra sự phát triển bền vững về kinh tế

+ Vị trí, ý nghĩa của thực thi chính sách

Tổ chức thực thi chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hoá ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt

mục tiêu định hướng

Tổ chức thực thi chính sách có vị trí rất quan trọng, nó là một khâu hợp thành chu trình chính sách, nếu khuyết thiếu công đoạn này thì chu trình chính sách không thể tồn tại vì nó là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống, nhất là với hoạch định chính sách, bước này là bước quan trọng không thể thiếu vì nó là khâu hiện thực hoá chính sách vào đời sống xã hội Như vậy có thể thấy được vai trò quan trọng của thực thi chính sách công là sự biến trải của thái độ ứng xử của Nhà nước đối với các

đối tượng quản lý

Tổ chức thực thi chính sách để từng bước thực hiện các mục tiêu chính sách và mục tiêu chung Mục tiêu của chính sách có liên quan đến nhiều vấn

đề, nhiều lĩnh vực nên không thể cùng một lúc giải quyết hết tất cả mà phải lần lượt, và việc thực thi chính sách công giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ biến chứng với mục tiêu chung do đó nó có thể giải quyết các vấn đề đặt ra Trong thực tế mục tiêu chính sách chỉ có thể đạt được thông qua thực thi chính sách, đồng thời các mục tiêu của chính sách có quan hệ và ảnh

hưởng đến mục tiêu chung

Thực thi chính sách đế khẳng định tính đúng đắn của chính sách có nghĩa là khi chính sách được thực thi triển khai rộng rãi trong đời sống xã hội

và được xã hội chấp nhận thì đã phản ánh tính đúng đắn của chính sách và ngược lại Qua thực thi giúp chính sách ngày càng hoàn chỉnh vì chúng ta đều biết chính sách do một tập thế hoạch định nhưng cũng không tránh khỏi ý

Trang 28

kiến chủ quan làm ảnh hưởng tới hiệu quả của chính sách, đế khắc phục điều này khi chính sách được thực thi thì phải đánh giá rút kinh nghiệm và chỉnh

sửa đế hoàn thiện chính sách

1.1.6 Nguyên tắc thực thi chính sách BTXH

Chính sách BTXH được tổ chức thực hiện trên nguyên tắc tuân thủ quy trình tổ chức thực hiện một hợp phần chính sách của nhà nước vì vậy phải đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả của mục tiêu chính sách đó là trợ giúp có thể là đột xuất hoặc thường xuyên đối với các đối tượng khó khăn trong xã

hội vươn lên thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn

1.1.6.1 Đảm bảo tính hiệu lực

Đảm bảo tính hiệu lực là nhằm đạt được mục tiêu mong muốn của nhà nước Bảo đảm cân đối các nguồn lực và dự lường được các nhân tố ảnh

hưởng trong quá trình thực hiện chính sách

1.1.6.2 Đảm bảo tính hiệu quả

Để đảm bảo tính hiệu quả, việc thực hiện chính sách BTXH cần phải đạt được mục tiêu mà chính sách đề ra với một mức chi phí hợp lý nhất, tiến

độ thực hiện chính sách đảm bảo theo kế hoạch hoặc dao động trong khoảng

thời gian cho phép

1.1.6.3 Đảm bảo tính công bằng

Chính sách BTXH tổ chức thực hiện đã được phân loại theo từng nhóm với từng tiêu chí Tuy nhiên trong từng nhóm đối tượng lại có từng loại đối tượng cụ thể khác nhau Vì vậy, khi xác định từng loại đối tượng cụ thể cần phải xác định đúng, tính đủ đảm bảo công bằng trong thực thi chính sách

1.1.6.4 Đảm bảo tính công khai, minh bạch

Đảm bảo tính công khai, minh bạch là công khai hóa, minh bạch hóa các quá trình trong thực hiện chính sách đến chủ thể thụ hưởng chính sách cũng như chủ thể ban hành chính sách

Trang 29

1.1.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách BTXH

1.1.7.1 Kinh tế, xã hội

Phát triển kinh tế đi đôi với giải quyết các vấn đề xã hội là một trong những yêu cầu bức thiết, đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển, góp phần giữ vững ổn định xã hội, làm nền tảng thúc đẩy quá trình phát triển kinh

tế Ngược lại, nếu không thực hiện song song hai nội dung trên sẽ dẫn đến sự phát triển thiếu đồng bộ, là nhân tố kiềm hãm phát triển trên cả hai lĩnh vực

kinh tế và xã hội

Với nước ta hiện nay, nền kinh tế đang phát triển theo chiều rộng, chưa tiếp cận được nền khoa học công nghệ hiện đại, sử dụng nhiều tài nguyên, đất đai đã dẫn đến tình trạng mất đất sản xuất, ô nhiễm môi trường, dẫn đến tình trạng bệnh tật, suy giảm sức khỏe con người và dẫn đến nguy cơ mất khả

năng lao động, mất khả năng tự phục vụ ở một số nhóm dân cư

Phát triển tiềm lực kinh tế cũng là tiền đề tạo nguồn lực phát triển đất

nước cũng như đảm bảo nguồn lực để thực hiện chính sách BTXH

1.1.7.2 Năng lực của các chủ thể, cán bộ thực hiện chính sách

Hiệu quả của việc thực hiện chính sách BTXH phụ thuộc rất lớn vào năng lực của các chủ thể thực hiện chính sách, ở đây là các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương Nếu mục tiêu và giải pháp thực hiện chính sách tốt nhưng năng lực tổ chức thực hiện hiện chính sách BTXH của các cấp, các ngành chức năng hạn chế sẽ dẫn đến chính sách không đạt được mục tiêu, yêu cầu như mong muốn ban đầu Trong tổ chức bộ máy quản lý nhà nước trên lĩnh vực BTXH thì cấp huyện, cấp xã có vai trò thực hiện trực tiếp công tác BTXH, tác động trực tiếp đến đời sống của các đối tượng được trợ cấp Để thực thi chính sách hiệu quả thì yếu tố năng lực cán bộ có ý nghĩa quan trọng, là yếu tố quyết định trong thực thi chính sách, có ý nghĩa quan

trọng đối với sự thành công hay thất bại của chính sách

Trang 30

1.1.7.3 Nhu cầu trợ giúp của các đối tượng

Khi các cá nhân không tự mình đảm bảo được các nhu cầu cá nhân thì

cần đến nhu cầu trợ giúp xã hội

1.1.7.4 Nguồn lực tài chính

Việc tổ chức thực hiện chính sách BTXH theo định mức chuẩn quy định của nhà nước thì cấp tổ chức thực hiện chính sách cân đối nguồn ngân

sách để có thể thực hiện mức cao hơn so quy định chung

Kính phí phục vụ hoạt động quản lý nhà nước trên lĩnh vực BTXH cũng là một trong những nội dung quan trọng của thể chế tài chính, đặc biệt là

kinh phí tổ chức hoạt động của bộ máy thực hiện thực hiện chính sách, quản

lý chi trả chế độ BTXH

1.2 Cơ sở thực tiễn về thực thi chính sách BTXH

1.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về BTXH

Quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách xã hội

nói chung và chính sách trợ giúp xã hội nói riêng được thể hiện ở Nghị quyết

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định: “Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỉ lệ hộ nghèo, cải thiện điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân” và Nghị quyết số 15- NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về một

số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 cũng nhấn mạnh: “Nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội, tiếp tục mở rộng đối tượng thụ hưởng với hình thức hỗ trợ thích hợp; nâng dần mức trợ cấp xã hội thường xuyên phù hợp với khả năng ngân sách Nhà nước Xây dựng mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội làm căn cứ xác định người thuộc diện được hưởng trợ giúp xã hội Tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội Củng

cố, nâng cấp hệ thống cơ sở trợ giúp xã hội, phát triển mô hình chăm sóc người có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng, khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào triển khai các mô hình chăm sóc người cao tuổi, trẻ em mồ

côi, người khuyết tật, nhất là mô hình nhà dưỡng lão”

Trang 31

Chiến lược an sinh xã hội Việt Nam giai đoạn 2011-2020 nhằm đảm bảo mọi người dân có mức sống trung bình, không rơi vào tình trạng bần cùngkhi phải đối mặt với các rủi ro, bất trắc Với mục tiêu đến năm 2020, hệ thống bảo trợ xã hội sẽ che phủ khắp toàn dân, hướng vào mục tiêu quyền con người, đặc biệt là quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử và bảo vệ các nhóm yếu thế trong xã hội

Cùng với thực hiện các chính sách nói chung, chính sách BTXH cũng được hoàn thiện và đổi mới, đặc biệt từ giai đoạn đổi mới kinh tế năm 1986

Hệ thống văn bản QPPL quy định cụ thể như Pháp lệnh người tàn tật, người cao tuổi, Luật người khuyết tật, Luật người cao tuổi, Nghị định 55/1999, Nghị định 07/2000 về chính sách CTXH, Nghị định 67/2007 ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp đối với đối tượng BTXH, Nghị định 13/2010 sửa đổi bổ sung Nghị định 67/2007, Nghị định 28/2012 quy định chi tiết và hướng dân thi hành Luật người khuyết tật và nay là Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 Quy định chính sách trợ giúp xã hội đối

với đối tượng bảo trợ xã hội

Đến nay, chính sách BTXH đã được quy định trên 30 luật và pháp lệnh liên quan và trên 200 văn bản quy định của Chính phủ, Bộ, ngành

hướng dẫn thực hiện chính sách BTXH Đặc biệt từ năm 2006 đến nay, mức

chuẩn TCXH đã được điều chỉnh 4 lần từ mức 65.000đ/tháng lên mức 120.000đ/tháng và từ mức 120.000đ/tháng lên mức 180.000đ/tháng, hiện nay đang thực hiện mức 270.000đ/tháng, tăng 6 lần so với năm 2000 Mức trợ cấp đối với đối tượng nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội được điều chỉnh tăng từ

2 đến 4 lần mức chuẩn tùy theo từng đối tượng Chính phủ đã thực hiện phân cấp cho các địa phương trong việc quyết định mức trợ cấp xã hội cụ thể cho từng đối tượng cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở từng địa phương trên nguyên tắc không được thấp hơn mức chuẩn trợ cấp tối thiểu do Nhà

nước quy định

Trang 32

Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ - TB và XH), tính đến cuối năm 2015, cả nước đã giải quyết trợ cấp xã hội hàng tháng cho trên 2,643 triệu đối tượng Trong đó: người cao tuổi trên 80 tuổi không có lương hưu 1.454 ngàn người; người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo 85 ngàn người; người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng 896 ngàn người; trẻ em mồ côi không

có nguồn nuôi dưỡng 45 ngàn trẻ; người đơn thân nuôi con thuộc hộ nghèo

113 ngàn người; ngoài ra, còn khoảng 50 ngàn đối tượng khác Kinh phí chi trợ cấp xã hội hàng tháng, cấp thẻ bảo hiểm y tế và hỗ trợ chi phí mai táng cho các đối tượng khoảng 13 nghìn tỷ đồng/năm

1.2.2 Kinh nghiệm thực thi chính sách BTXH ở một số địa phương

1.2.2.1 Kinh nghiệm thực thi chính sách BTXH ở một số địa phương

a Quận Hoàng Mai - TP Hà Nội

Quận Hoàng Mai là quận thuộc thành phố Hà Nội - trung tâm phát triển kinh tế - văn hóa và xã hội, là một trong những quận được thành lập sau nên

quận đã có những lợi thế, điều kiện về phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội

Lĩnh vực BTXH được Thành phố Hà Nội quan tâm đặt lên hàng đầu trong

chính sách ASXH, gồm chính sách trợ cấp hàng tháng, đột xuất, chăm sóc y

tế, chăm sóc giáo dục, hỗ trợ tạo việc làm, hỗ trợ cho vay vốn và đã có rất nhiều chính sách ưu đãi đặc thù như nâng mức trợ cấp theo hệ số, hỗ trợ mai

táng phí khi chết,

Thực hiện các văn bản QPPL như NKT, NCT, trẻ em, Thành phố Hà Nội đã nâng mức TCXH hàng tháng đối với các đối tượng tại cộng đồng theo nghị định 136/NĐ-CP từ 270.000đ/hệ số 1,0 lên 350.000đ/hệ số 1,0 và trích

từ nguồn ngân của thành phố, từ đó cho thấy ngân sách của Thành phố khá

dồi dào, nhiều nguồn hỗ trợ

Trụ sở hành chính của Quận được bố trí hợp lý, rộng rãi và là quận thực hiện mô hình điểm cơ chế một cửa liên thông nên chính sách BTXH được đánh giá là quận thực hiện tương đối tốt từ cách tuyên truyền phổ biến triển

Trang 33

khai, thực hiện, tiếp nhận và trả kết quả Tất cả các thủ tục hành chính đều được thực hiện qua một cửa, mọi chính sách liên quan đến BTXH đều được

phối kết hợp giữa các cơ quan, ban ngành, đoàn thể một cách hợp lý,

Từ đó cho thấy để đảm bảo thực thi tốt chính sách BTXH, Quận Hoàng Mai đã bố trí đủ số lượng đội ngũ cán bộ trực tiếp làm chính từ cơ sở đến phòng chuyên môn, cán bộ tiếp nhận một cửa, sự phối kết hợp giữa các cơ

quan ban ngành, đoàn thể, ngân sách, cơ chế,

b Thành phố Hạ Long - tỉnh Quảng Ninh

Hạ Long là thành phố có nhiều lợi thể từ phát triển du lịch, dịch vụ nên

có điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội lớn mạnh Thành phố Hạ Long quan tâm đến vấn đề xã hội và đặc biệt quan tâm chính sách BTXH Từ đó đã

có những ưu đãi đặc thù như nâng mức trợ cấp theo hệ số, MTP theo quy định tại nghị định 136 từ 270.000đ/hệ số 1,0 lên 300.000đ/hệ số 1,0 và MTP từ 3 triệu đồng lên 4 triệu đồng, trích lệ phí chi trả theo tỷ lệ trên tổng số tiền trợ cấp hàng tháng, kinh phí từ nguồn ngân của thành phố Các chính sách BTXH được thực hiện như: trợ cấp hàng tháng, đột xuất, chăm sóc y tế, chăm

sóc giáo dục, hỗ trợ tạo việc làm, hỗ trợ cho vay vốn,

Các cơ quan hành chính được tập trung tại khu hành chính công của thành phố Chính sách BTXH được đánh giá là thành phố thực hiện tốt từ cách tuyên truyền phổ biến rộng rãi đến các tổ dân phố; triển khai, thực hiện,

tiếp nhận và trả kết quả Từ đó cho thấy thành phố Hạ Long bố trí đủ số lượng

đội ngũ cán bộ trực tiếp làm chính sách BTXH từ cơ sở đến phòng chuyên môn, cán bộ tiếp nhận một cửa, sự phối kết hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan ban ngành, đoàn thể; ngân sách của thành phố dồi dào, cơ chế chính sách của

thành phố thông thoáng,

1.2.2.2 Bài học đối với huyện Chương Mỹ trong việc thực thi chính sách BTXH

Từ 2 mô hình của quận Hoàng Mai - TP Hà Nội và Thành phố Hạ Long - tỉnh Quảng Ninh cùng với việc nghiên cứu công tác thực thi chính sách cho đối

Trang 34

tượng BTXH của huyện Chương Mỹ có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác

đảm bảo ASXH nói chung và việc thực thi chính sách BTXH nói riêng cho đối tượng chính sách của huyện

Các cấp ủy Đảng huyện Chương Mỹ đã xác định việc bảo đảm ASXH, đặc biệt là các đối tượng BTXH trên địa bàn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn dân, trong đó trước hết là của các cấp bộ Đảng, chính quyền các cấp Vì vậy, các cấp bộ Đảng đã thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác này Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục

để mọi tổ chức chính trị - xã hội và người dân nhận thức đúng đắn vị trí, ý nghĩa của công tác thực thi chính sách BTXH cho các đối tượng thụ hưởng, qua đó xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong thực hiện vấn đề này

Hai là, Đảm bảo bố trí đủ số lượng biên chế theo đầu công việc để đảm

bảo khối lượng công việc; bố trí khu hành chính công tập trung để thuận lợi

trong cơ chế liên thông một cửa

Ba là, Thường xuyên tổ chức tuyên truyền, triển khai sâu rộng từ các

phòng ban chuyên môn, các tổ chức hội, đoàn thể cấp huyện đến các thôn tổ,

các hội, đoàn thể cấp cơ sở Tổ chức tuyên truyền bằng nhiều hình thức đa

dạng, phong phú; xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử về chính sách BTXH

Bốn là, Thông báo niêm yết công khai danh sách chi trả trợ cấp hàng

tháng tại trụ sở UBND xã hoặc tại nhà văn hóa thôn

Năm là, Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra giám sát, kịp thời phát

hiện, xử lí những thiếu sót, những tiêu cực trong công tác bảo trợ xã hội

Trang 35

Chương 2

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình

Huyện Chương Mỹ nằm ở phía Tây Nam thủ đô Hà Nội, có diện tích 237,38 km2 cách trung tâm thành phố Hà Nội 20km

- Phía Bắc giáp huyện Quốc Oai

- Phía Nam giáp huyện Ứng Hòa, Mỹ Đức

- Phía Đông giáp quận Hà Đông và huyện Thanh Oai (thành phố Hà Nội)

- Phía Tây giáp huyện Lương Sơn (tỉnh Hòa Bình)

Trang 36

hội, các khu công nghiệp và đô thị được xây dựng sẽ thu hút đầu tư trong và ngoài nước tạo thuận lợi trong việc tiếp cận các thị trường thuộc nhiều lĩnh vực hàng tiêu dùng, chế biến nông sản, dệt kim thủ công mỹ nghệ, khả năng hợp tác, liện kết để đẩy mạnh phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh du lịch

Địa hình tự nhiên của huyện được phân thành 03 vùng miền chính:

- Vùng bán sơn địa chiếm hơn 40% diện tich có tiềm năng phát triển kinh tế trang trại, thương mại, dịch vụ du lịch sinh thái, các khu vui chơi giải trí

- Vùng đồi gò và ven sông Đáy chiếm hơn 20% diện tích là lợi thế để phát triển loại hình Nông nghiệp và giống cây hoa màu

- Vùng đồng bằng chiếm gần 40% diện tích có tiềm năng phát triển nông nghiệp, các điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp…

Trên địa bàn huyện có gần 100 cơ quan, đơn vị nhà nước của Trung ương, Thành phố đóng trên địa bàn, có 01 khu công nghiệp, 09 cụm công nghiệp, gần 1000 doanh nghiệp trong và ngoài nước đang tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh, góp phần chuyển dịch mạnh về cơ cấu kinh tế của huyện theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp

2.1.1.2 Khí hậu

Chương Mỹ nằm trong vùng đồng bằng Sông Hồng, chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết hình thành hai mùa rõ rệt:

Mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10): nóng ẩm và mưa nhiều

Mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau): khô, lạnh, ít mưa

Nhiệt độ trung bình năm 23 – 240C, lượng mưa trung bình 1.700mm – 1.800mm, hàng năm thường có 5-7 cơn bão trong đó khoảng 2-3 cơn có tác động đáng kể đến huyện

Lượng mưa tập trung lớn vào mùa mưa, có những trận mưa lớn trên 300mm nên thường gây ra lũ và ngập úng vào khoảng tháng 7 đến tháng 10

Trang 37

nhưng mùa khô thường bị hạn vào khoảng tháng 12 đến tháng 3 năm sau, ảnh hưởng thậm chí gây tác hại rất lớn đến kinh tế xã hội của huyện, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp

Với đặc điểm khí hậu trên, huyện Chương Mỹ có điều kiện để phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi khác nhau để phát triển nền kinh tế nông nghiệp đa dạng, có điều kiện phát triển du lịch sinh thái Tuy nhiên ở phía Tây của huyện thường thiếu nước vào mùa khô, ngược lại khi có mưa lớn những vùng ruộng trũng thường bị úng lụt Nếu lượng mưa trên 200mm kéo dài sẽ bị úng lụt côc bộ nhiều khu vực, gây khó khăn cho quá trình sản xuất nông nghiệp Đây cũng là hạn chế lớn nhất của huyện Chương Mỹ trong việc thủy lợi hóa và thu hút vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước

2.1.1.3 Điều kiện thuỷ văn

Sông Bùi chảy qua 13 xã trong huyện, sông Đáy chảy qua 9 xã Hai con sông này bao bọc từ phía Đông Bắc đến Tây Nam tạo nên nguồn nước tưới dồi dào cho nông nghiệp

Chương Mỹ còn có sông Tích chảy qua bắt nguồn từ phía Tây Bắc chảy về; hệ thống hồ nằm ở khu vực đồi gò phía Tây đường Hồ Chí Minh với trữ lượng khoảng 17 triệu khối là nguồn nước tưới chính cho các xã Tân Tiến, Nam Phương Tiến, Hoàng Văn Thụ, Hữu Văn, Mỹ Lương, Trần Phú, Đồng Lạc Các xã khác đều có hệ thống ao hồ, đầm, kênh, rạch có thể cung cấp nước cho ngành trồng trọt và nuôi trồng thủy sản Một số Hồ có mặt nước lớn như: hồ Văn Sơn, hồ Đồng sương, hồ Đập miễu, hồ Hạnh Tiên (Tân Tiến), Vực Ninh, hồ Phương Bản (xã Phụng Châu)

Bên cạnh nguồn nước mặt huyện Chương Mỹ còn có nguồn nước ngầm khá phong phú để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp

2.1.1.4 Đất đai tài nguyên

Theo số liệu thống kê đất đai năm 2016, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Chương Mỹ là 237,98km2 (23.798 ha), trong đó diện tích đất

Trang 38

nông nghiệp là 16491,31ha chiếm 69,47%; đất phi nông nghiệp là 6872,00ha chiếm 28,57% và đất chưa sử dụng còn lại 464,67 ha chiếm 1,96% tổng diện tích tự nhiên

Quỹ đất tự nhiên của huyện phân bố không đồng đều theo đơn vị hành chính các xã và thị trấn Huyện Chương Mỹ là vùng đất cổ, hình thành và phát triển sớm trong lịch sử nước ta Các nguồn tài nguyên góp phần phát triển sinh thái, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, phát triển du lịch

Chương Mỹ có nguồn núi đá để sản xuất vật liệu xây dựng cho giao thông và đá ốp lát phục vụ trang trí, xuất khẩu Ngoài ra còn có cao lanh ở Xuân Mai, than bùn ở Phụng Châu đất làm gạch công nghiệp

Khoáng sản có trữ lượng để khai thác là đá vôi, sét, cát, than bùn, trong

đó tại khu vực núi Thoong (Tân Tiến, Nam Phương Tiến) có loại đá vân đẹp

có thể sản xuất đá xẻ trang trí, tại khu vực Tư Trầm Sơn ( Núi Trầm xã Phụng Châu ) có đá vôi độ tinh khiết cao có thể dùng sản xuất sản phẩm mỹ nghệ và CaCO3 (bột nhẹ) dùng cho ngành công nghiệp cao su, NaHCO3 (thuốc muối) dùng cho ngành y tế

Đất sét ở nhiều khu vực có thể sản xuất vật liêu xây dựng, cát ở Lam Điền có thể khai thác Than bùn có ở nhiều xã Tuy nhiên do để bảo vệ cảnh quan và sử dụng cho mốc giới Quốc phòng việc khai thác đá đã chấm dứt; để bảo vệ môi trường nhiều khu vực cũng đã cấm khai thác đất sản xuất VLXD;

để chống sói lở đất và bảo vệ đê huyện cũng không cho phép khai thác cát

Tuy có điều kiện thuận lợi về quy mô khai thác công nghiệp, song việc

sử dụng khai thác còn chậm, trình độ tiếp thị còn yếu, đầu ra tiêu thô chậm, ảnh hưởng đến sản xuất Nhìn chung tiềm năng vùng này còn rất lớn, nhưng còn thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm, chưa có quy hoạch tổng thể nên chưa thu hút được các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào huyện

Bên cạnh những tài nguyên thiên nhiên, Chương Mỹ có nhiều tiềm năng về cảnh quan, di tích lịch sử văn hóa, lễ hội để phát triển du lịch

Trang 39

Trên địa bàn huyện có tổng số 374 di tích lịch sử, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng được đưa vào danh mục quản lý theo Quyết định của UBND thành phố Hà Nội, trong đó có: 134 ngôi đình; 16 ngôi đền; 134 ngôi chùa; 52 quán;

15 ngôi miếu; 03 lăng mộ; 07 văn chỉ đàn tế; 13 nhà thờ họ, danh nhân Số di tích được xếp hạng là 160/374 trong đó xếp hạng cấp quốc gia: 32 di tích; xếp hạng cấp tỉnh, thành phố: 128 di tích Đặc biệt có các di tích nổi tiếng như: Di tích lich sử Cách mạng kháng chiến Chùa Trầm (hang Tử Trầm Sơn) nơi đài tiếng nói Việt Nam phát vang lời kêu gọi toàn Quốc kháng chiến tháng 12 năm 1946; chùa Trăm gian, Đô đốc Đặng Tiến Đông; Thám hoa Đặng; Danh nhân nhà sử học Ngô Sỹ Liên với Đại việt sử ký toàn thư; Danh nhân Lê Ngô Cát với Đại Nam Quốc sử diễn ca

Lễ hội: Trên địa bàn huyện có 88 lễ hội với nhiều quy mô lớn nhỏ khác nhau diễn ra tập trung vào mùa xuân (từ tháng giêng đến tháng 3 Âm lịch) nhiều lễ hội đã khôi phục được truyền thống văn hóa có giá trị vào lễ hội đảm bảo phần lễ và phần hội long trọng, trang nghiêm phát huy được giá trị văn hóa truyền thống của quê hương đất nước và phù hợp với giai đoạn hiện nay

- Nhiều lễ hội tổ chức phần lễ gắn với các trò chơi dân gian như: chọi

gà, tổ tôm điếm, bịt mắt bắt dê, cờ người, cờ bỏi… tổ chức các hoạt động văn nghệ như: hát chèo, quan họ, múa rồng, lân, sư tử, màn trống hội, các môn thể thao trước, trong và sau lễ hội

Huyện Chương Mỹ nằm ở vùng bán sơn địa nên có một địa hình tương đối đa dạng, điều này tạo cho huyện những cảnh quan thiên nhiên với sông,

hồ, núi, đồi tạo nên vẻ đẹp tự nhiên có nhiều tiềm năng cho phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và du lịch tâm linh

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Đặc điểm về kinh tế

Với thế mạnh là huyện ngoại thành, nằm trên tuyến đường huyết mạch nối với vung Tây Bắc, Chương Mỹ có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế

Trang 40

Bảng 2.1 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất của huyện

TT Chi tiêu ĐVT Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019

I Tổng giá trị SX Tỷ.đ 18.641 20.821 23.240

1 Nông – lâm – thủy sản Tỷ.đ 3.671 3.856 3.995

2 Công nghiệp – XD Tỷ.đ 10.640 11.870 13.235

3 Thương mại – dịch vụ Tỷ.đ 4.330 5.095 6.010

II Cơ cấu giá trị SX % 100 100 100

1 Nông – lâm – thủy sản % 19,7 18,5 17,2

2 Công nghiệp – XD % 57,1 57,0 56,9

3 Thương mại – dịch vụ % 23,2 24,5 25,9

(Nguồn: Chi cục thống kê huyện Chương Mỹ, 2019)

Qua bảng 2.1 ta thấy rằng nền kinh tế của huyện đang dần chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng giá trị giá tăng các khối ngành thương mại, dịch vụ

và ngành công nghiệp xây dựng trong khi ngành nông lâm ngư nghiệp có chiều hướng giảm dần tỷ trọng

Tỷ trọng giá trị gia tăng ngành thương mại dịch vụ tăng từ 23,2% năm

2017 lên 25,9% năm 2019 Tỷ trọng ngành công nghiệp xây dựng tăng từ 57,1% năm 2017 lên 56,9% năm 2019 và tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm từ

19,7% năm 2017 xuống còn 17,2%

Như vậy, sự chuyển dịch cơ cấu của huyện đã đi đúng hướng, phù hợp với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tuy nhiên, quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế còn chậm

Cùng với sự phát triển về kinh tế, thu nhập bình quân đầu người của huyện Chương Mỹ đạt khá: năm 2017 là 34,5triệu đồng/người/năm, năm

2018 đạt 36triệu đồng/người/năm và đến năm 2019 đạt 46 triệu đồng/người/năm Trên cơ sở đó huyện đã giảm tỷ lệ hộ nghèo cuối năm 2019 xuống còn 1,02% Thu nhập bình quân đầu người qua các năm tuy có tăng

Ngày đăng: 11/05/2021, 22:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w