Dự án đã phối hợp với các ban ngành của tỉnh Chi cục Kiểm lâm, chi cục Lâm nghiệp và chính quyền địa phương cấp huyện, xã trong việc tiến hành giao quyền sử dụng rừng và đất rừng cho hộ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN TRỌNG VIỆT
THU HÚT SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG
TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Hà Nội, ngày 16 tháng 10 năm 2019
Người cam đoan
Nguyễn Trọng Việt
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ cho tôi trong quá trình học tập
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Hợp đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng, nỗ lực, tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp tận tình của quý thầy cô
HỌC VIÊN CAO HỌC
Nguyễn Trọng Việt
Trang 4
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG 4
1.1 Cơ sở lý luận về sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý bảo vệ rừng 4
1.1.1 Khái niệm về rừng, phân loại rừng và vai trò của rừng đối với cộng đồng 4
1.1.1.3 Vai trò của rừng đối với cộng đồng 9
1.1.2 Sự tham gia của cộng đồng và các cấp độ tham gia 10
1.1.3 Nội dung tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng 13
1.1.4 Yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý bảo vệ rừng 17
1.2 Cơ sở thực tiễn về sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng 19
1.2.1 Kinh nghiệm một số địa phương 19
1.2.2 Bài học cho Vườn Quốc gia Ba Vì 22
1.3 Tổng quan nghiên cứu 26
1.3.1 Trên thế giới 26
1.3.2 Ở Việt Nam 29
Trang 5Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Đặc điểm cơ bản của VQG Ba Vì 34
2.1.1 Lịch sử hình thành 34
2.1.2 Vị trí địa lý 34
2.1.3 Đặc điểm tài nguyên rừng 35
2.1.4 Đặc điểm dân cư và kinh tế xã hội 37
2.1.5 Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, chức năng của VQG Ba Vì 38
2.2 Phương pháp nghiên cứu 42
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 42
2.2.2 Xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu 43
2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu của luận văn 44
2.3.1 Chỉ tiêu đánh giá sự tham gia của cộng đồng 44
2.3.2 Chỉ tiêu về kết quả, hiệu quả cộng đồng tham gia quản lý rừng 44
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
3.1 Thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng tại VQG Ba Vì 45
3.1.1 Hiện trạng rừng và đất rừng 45
3.1.2 Các chính sách liên quan đến quản lý bảo vệ rừng 46
3.1.3 Công tác quản lý bảo vệ rừng tại Vườn Quốc gia Ba Vì 47
3.1.4 Các bên liên quan trong công tác quản lý bảo vệ rừng tại VQG Ba Vì 56
3.2 Thực trạng tham gia của cộng đồng với công tác quản lý bảo vệ rừng tại VQG Ba Vì 59
3.2.1 Diện tích và số hộ tham gia quản lý rừng tại địa bàn nghiên cứu 59
3.2.2 Nội dung tham gia của cộng đồng đối với công tác quản lý bảo vệ rừng tại Vườn Quốc gia Ba Vì 65
3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng tại Vườn Quốc gia Ba Vì 78
3.3.1 Các yếu tố bên ngoài 78
Trang 63.3.2 Các yếu tố bên trong 80
3.4 Nhận xét chung về sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý rừng tại Vườn quốc gia Ba Vì 82
3.4.1 Những kết quả đã đạt được 82
3.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 83
3.5 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự tham gia của người dân địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng tại khu vực nghiên cứu 83
3.5.1 Quan điểm về sự tham gia của cộng đồng vào quản lý và bảo vệ rừng 83
3.5.2 Định hướng sự tham gia của cộng đồng vào quản lý và phát triển rừng 84
3.5.3 Một số giải pháp thu hút sự tham gia của cộng đồng trong quản lý và bảo vệ rừng tại Vườn Quốc gia Ba Vì 85
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả nghiên cứu động vận tại Vườn Quốc gia Ba Vì 37
Bảng 3.1 Diện tích đất, rừng và biến động trong 3 năm 2016-2018 45
Bảng 3.2 Số hộ tham gia quản lý bảo vệ rừng tại vườn quốc gia Ba Vì 59
Bảng 3.3 Số thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và bảo vệ rừng tại địa bàn nghiên cứu 60
Bảng 3.4 Diện tích rừng được giao khoán cho các hộ gia đình 61
Bảng 3.5 Diện tích rừng cộng động tham gia quản lý năm 2018 64
Bảng 3.6 Số tiền chi trả khoán bảo vệ rừng tại địa bàn nghiên cứu 65
Bảng 3.7 Sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng 66
Bảng 3.8 Cộng đồng tham gia vào công tác tuần tra bảo vệ rừng 69
Bảng 3.9 Số vụ vi phạm bảo vệ rừng 70
Bảng 3.10 Kết quả cộng đồng tham gia trồng rừng trên địa bàn 71
Bảng 3.11 Cộng động tham gia kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện bảo vệ rừng 75
Bảng 3.12 Sự tham gia BVPTR của người dân địa phương 76
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Các cấp độ tham gia của cộng đồng 12 Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy VQG Ba Vì 42 Hình 3.1 Sơ đồ mô hình tổ chức quản lý bảo vệ rừng của xã 54
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Rừng là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên sinh vật vô cùng phong phú
và đa dạng Tuy nhiên, trong những năm gần đây diện tích rừng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng bị suy giảm một cách nhanh chóng làm mất
đi môi trường sống của nhiều loài động thực vật
Trong nhiều năm qua, đã có rất nhiều nhà khoa học quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả của các VQG và Khu BTTN theo quan điểm bảo tồn - phát triển Đó là việc dung hoà mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội của người dân địa phương
Các tác giả Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên (1997) , đã đề cập đến các sản phẩm từ rừng và sức ép của người dân địa phương vào rừng Nhóm tác giả đã chỉ ra rằng: Diện tích rừng già ở miền núi phía Bắc Việt Nam đã giảm sút nghiêm trọng do việc khai thác gỗ, củi và các lâm sản khác như: tre nứa, nấm, cây dược liệu, động vật hoang dã và được xem như là nguồn sinh kế chủ yếu của người dân miền núi Để thực hiện việc bảo tồn diện tích rừng, Nhà nước đã chủ trưởng xây dựng các khu bảo tồn và khu vườn quốc gia, trong đó Vườn Quốc gia Ba Vì
Từ khi thành lập đến nay, vườn quốc gia nói chung và Vườn Quốc gia
Ba Vì nói riêng đã phát huy được vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển rừng, là nơi để duy trì hệ sinh thái đa dạng … Ngoài ra, Vườn Quốc gia đã xây dựng nên các mô hình quản lý rừng cộng đồng Dự án đã phối hợp với các ban ngành của tỉnh (Chi cục Kiểm lâm, chi cục Lâm nghiệp và chính quyền địa phương cấp huyện, xã) trong việc tiến hành giao quyền sử dụng rừng và đất rừng cho hộ gia đình, cá nhân, các đoàn thể và cộng đồng, hỗ trợ quy hoạch sử dụng đất, xây dựng các quy ước quản lý bảo vệ rừng thôn bản Tiếp sau đó, một bước đột phá trong hoạt động quản lý rừng cộng đồng là dự
án đã tiến hành xây dựng và áp dụng “Phương pháp đánh giá tài nguyên rừng
Trang 11có sự tham gia và lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng” cho các thôn bản trong vùng dự án Đây là phương pháp được các nhà khoa học đầu ngành đánh giá là rất tốt cho việc quản lý sử dụng rừng trên các diện tích đã giao
quyền sử dụng cho các hộ, các tổ chức và cộng đồng
Tuy nhiên, việc chia sẻ kinh nghiệm, chia sẻ những bào học thành công hay thất bại trong các nước và khu vực là rất cần thiết trong bối cảnh Nhà nước đang có những chính sách thúc đẩy công tác quản lý, bảo vệ rừng, nâng cao hiệu suất về kinh tế rừng thông qua bảo vệ rừng, trồng rừng, khai thác chế biến lâm sản Vấn đề đặt ra trong bối cảnh hiện nay là Vườn Quốc gia Ba Vì cần làm gì để giải quyết các khó khăn như phát huy vai trò của cộng đồng, thu hút hơn nữa cộng đồng tham gia bảo vệ và phát triển rừng nhằm gia tăng mức
độ đa dạng sinh học, tạo ra hệ sinh thái rừng bền vững Xuất phát từ những lý
do trên, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Thu hút Sự tham gia của cộng đồng
trong công tác quản lý, bảo vệ rừng tại Vườn Quốc gia Ba Vì”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá thực trạng công tác quản lý, bảo vệ rừng khi có sự tham gia của cộng đồng, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng tại Vườn Quốc gia Ba Vì
Trang 123 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự tham gia của cộng đồng người dân địa phương và công tác QLBVR ở Vườn Quốc gia Ba Vì, thành phố Hà Nội
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản
lý, bảo vệ rừngđối với Vườn Quốc gia Ba Vì
- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu tại khu Vườn Quốc gia Ba
Vì, thành phố Hà Nội;
- Phạm vi về thời gian: Đề tài thu thập tài liệu thứ cấp giai đoạn
2014-2018 Số liệu sơ cấp đươc thu thập trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2019
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tham gia của cộng đồng trong công
tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng;
- Thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) tại Vườn Quốc gia Ba Vì;
- Những nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý bảo vệ rừng tại Vườn Quốc gia Ba Vì
- Một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng hiệu quả dựa vào cộng đồng cho khu vực nghiên cứu
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần đặt vấn đề và kết luận luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý bảo vệ rừng
Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG
ĐỒNG TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG
1.1 Cơ sở lý luận về sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý bảo vệ rừng
1.1.1 Khái niệm về rừng, phân loại rừng và vai trò của rừng đối với cộng đồng
1.1.1.1 Khái niệm về rừng
Ngay từ thuở sơ khai, con người đã có những khái niệm cơ bản nhất về rừng Rừng là nơi cung cấp mọi thứ để phục vụ cho cuộc sống của con người Khi lịch sử càng phát triển thì những khái niệm về rừng càng được tích luỹ, hoàn thiện thành những học thuyết về rừng Nhưng ở mỗi quốc gia lại đưa ra những khái niệm khác nhau về rừng
Năm 1930, Morozov đưa ra khái niệm: Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất
và trong khí quyển Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý
Năm 1952, M.E.Tcachenco phát biểu: Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài
Năm 1974, I.S.Mê lê khốp cho rằng: Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu
Ở Úc rừng được định nghĩa là một nơi có cây cao hơn 10mét và tán cây phải bao phủ hơn 30% diện tích rừng
Trang 14Theo khoản 1 điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam năm
2004 thì rừng được định nghĩa như sau: “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên”
Theo Luật Lâm Nghiệp số: 16/2017/QH14: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên
Về mặt câu chữ các khái niệm tuy không hoàn toàn giống nhau song về
cơ bản thì các khái niệm trên đều chứa đựng những phần nội dung là giống nhau
Rừng là tài nguyên có thể tái tạo và là một bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái Hệ sinh thái rừng chiếm khoảng 40% diện tích mặt đất, tương đương với 53 triệu km2 và tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau, tuỳ theo điều kiện khí hậu, đất đai cũng như cách thức sử dụng, biến cải của con người Việt Nam là một quốc gia có hệ sinh thái rừng tương đối đa dạng, phong phú
1.1.1.2 Phân loại rừng
Phân loại rừng là một công tác rất quan trọng trong quản lý tài nguyên rừng của mỗi quốc gia Tại Việt Nam, công tác phân loại rừng gắn liền với lịch sử phát triển sử dụng rừng từ xa xưa.Hiện nay ở Việt Nam phân loại rừng được tiến hành dựa vào nhiều tiêu chí: phân loại rừng theo quan điểm sinh thái học, phân loại theo chức năng sử dụng, theo trữ lượng, theo tuổi, hay dựa
Trang 15vào tác động của con người, Nhưng có ba tiêu chí được sử dụng nhiều nhất
đó là:
Phân loại rừng theo chức năng sử dụng
Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu và đặc điểm sinh thái, hệ sinh thái rừng Việt Nam được phân làm ba loại Đó là rừng đặc dụng, rừng phòng
hộ và rừng sản xuất
a) Rừng phòng hộ
Rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hoá, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường Rừng phòng hộ lại được phân thành:
Rừng phòng hộ đầu nguồn Đây là những diện tích rừng thường tập trung ở thượng nguồn các dòng sông Nó có tác dụng điều tiết nguồn nước để hạn chế lũ lụt, cung cấp nước cho các dòng chảy và hồ trong mùa khô, hạn chế xói mòn, bảo vệ đất, hạn chế bồi lấp các lòng sông, hồ
Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay Loại rừng này có tác dụng chủ yếu là phòng hộ nông nghiệp, bảo vệ các khu dân cư, các khu đô thị, các vùng sản xuất và các công trình khác Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay thường tập trung ở ven biển
Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển Đây là loại rừng mọc tự nhiên hoặc được gây trồng ở cửa các dòng sông và được sử dụng chủ yếu để ngăn sóng, bảo vệ các công trình ven biển, cố định bùn cát lắng động để hình thành các vùng đất mới
Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường Đây là các dải rừng đã và đang được trồng xung quanh các khu dân cư, các khu công nghiệp, các đô thị lớn với chức năng là điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường sinh thái ở những khu vực đó và phục vụ cho việc nghỉ ngơi, du lịch
Trang 16b) Rừng đặc dụng
Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch kết hợp với phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường Rừng đặc dụng bao gồm: vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn cảnh quan, khu rừng nghiên cứu thực nghiệm
- Vườn quốc gia: Vườn quốc gia là vùng đất tự nhiên được thành lập để bảo vệ lâu dài một hay nhiều hệ sinh thái và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau:
Là vùng đất tự nhiên bao gồm mẫu chuẩn hệ sinh thái cơ bản; các nét đặc trưng
về sinh cảnh của các loài động, thực vật; các khu rừng có giá trị cao về khoa học, giáo dục và du lịch Đồng thời đây cũng là vùng đất tự nhiên đủ rộng để chứa đựng được một hay nhiều hệ sinh thái và không bị thay đổi bởi những tác động xấu của con người; có tỷ lệ diện tích hệ sinh thái tự nhiên cần phải bảo tồn phải đạt 70% trở lên; có điều kiện về giao thông tương đối thuận lợi
- Khu bảo tồn thiên nhiên: Đây là khu vực gồm khu dự trữ thiên nhiên
và khu bảo tồn loài - sinh cảnh
Khu dự trữ thiên nhiên: Đây là vùng đất tự nhiên có dự trữ tài nguyên thiên nhiên và tính đa dạng sinh học cao và được thành lập với mục đích chủ yếu là bảo đảm diễn thế tự nhiên, phục vụ nghiên cứu khoa học.Một vùng đất chỉ được xác định là khu dự trữ tự nhiên khi thoả mãn các điều kiện sau: Có
hệ sinh thái tự nhiên tiêu biểu, còn giữ các đặc trưng cơ bản của tự nhiên, ít bị tác động có hại của con người; có hệ động thực vật đa dạng hoặc có các loài đặc hữu đang sinh sống; có tỷ lệ diện tích hệ sinh thái tự nhiên cần bảo tồn đạt
từ 70% trở lên và đảm bảo tránh được sự tác động trực tiếp của con người
Khu bảo tồn các loài – sinh cảnh: Đây là vùng đất tự nhiên được quản
lý bảo vệ nhằm bảo đảm môi trường sống cho một hoặc nhiều loài động, thực
Trang 17vật đặc hữu, quý hiếm Vùng đất này phải đảm bảo là nơi đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn thiên nhiên, duy trì cuộc sống và sự phát triển của các loài; là nơi cư trú hoặc nơi có các loài động vật hoang dã quý hiếm
- Khu bảo vệ cảnh quan: Là khu vực bao gồm một hay nhiều cảnh quan
có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu và có giá trị văn hoá, lịch sử nhằm phục vụ cho các hoạt động văn hoá du lịch hoặc để nghiên cứu – thí nghiệm, bao gồm:
Khu vực có các thắng cảnh trên đất liền, ven biển hay hải đảo
Khu vực có các di tích lịch sử đã được xếp hạng hoặc có các cảnh quan như hang động, nham thạch và khu vực riêng mang tính lịch sử truyền thống của nhân dân địa phương
- Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học: Đây là khu vực dành riêng cho các hoạt động nghiên cứu khoa học hoặc dành riêng cho nghiên cứu thí nghiệm
c) Rừng sản xuất
Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ
và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường Rừng sản xuất bao gồm:
Rừng sản xuất là rừng tự nhiên Loại rừng này bao gồm: rừng gỗ, rừng tre nứa và rừng đặc sản khác ( quế, sa nhân, cá loại dược liệu )
Rừng sản xuất là rừng trồng Căn cứ vào chức năng sản xuất kinh doanh chủ yếu, loại rừng này có thể là rừng đặc sản hay rừng kinh doanh gỗ
và các lâm sản khác
Rừng giống Đây là loại rừng sản xuất chuyên về sản xuất, kinh doanh các loại giống động, thực vật rừng mà chủ yếu là giống thực vật rừng Rừng giống bao gồm rừng trồng và rừng tự nhiên
Như vậy, có thể thấy dưới góc độ pháp lý, hệ sinh thái rừng Việt Nam được phân chia thành ba loại chính là: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất
Trang 18Phân loại theo trữ lượng
Theo trữ lượng thì rừng được phân thành bốn loại sau:
Rừng giàu: Trữ lượng rừng trên 150m3/ha
Rừng trung bình: Trữ lượng rừng nằm trong khoảng (100-150)m3/ha Rừng nghèo: Trữ lượng nằm trong khoảng (80-100)m3/ha
Rừng kiệt: Trữ lượng thấp hơn 50m3/ha
Phân loại rừng dựa vào tác động của con người
Dựa vào tác động của con người rừng được phân thành hai loại: Rừng
tự nhiên và rừng nhân tạo
Rừng tự nhiên là những khu rừng vẫn còn nguyên vẹn hoặc ít bị tác động của con người
Rừng nhân tạo là những khu rừng do con người trồng nên
1.1.1.3 Vai trò của rừng đối với cộng đồng
Vài trò của rừng đối với hệ sinh thái
Rừng có tác dụng phòng hộ đầu nguồn, giữ đất, giữ nước, điều hòa dòng chảy, chống xói mòn rửa trôi, thoái hóa đất, chống bồi đắp sông ngòi, hồ đập, giảm thiểu lũ lụt, hạn chế hạn hán, giữ gìn nguồn thuỷ năng lớn cho các nhà máy điện
Vai trò phòng hộ ven biển, chắn sóng, chắn gió, chống cát bay, chống
sự xâm nhập của nước mặn, làm sạch không khí, tăng dưỡng khí, giảm thiểu tiếng ồn, điều hoà khí hậu
Vai trò phòng hộ khu công nghiệp và khu đô thị, bảo vệ đồng ruộng và khu dân cư ven biển, bảo vệ khu di tích, nâng cao giá trị cảnh quan và du lịch
Rừng còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học, đặc biệt là nơi dự trữ sinh quyển bảo tồn các nguồn gen quý hiếm
Trang 19Vai trò với xã hội
Là nguồn thu nhập chính của đồng bào các dân tộc miền núi, là cơ sở quan trọng để phân bố dân cư, điều tiết lao động xã hội, góp phần xoá đói giảm nghèo cho xã hội
Vai trò đối với cuộc sống cộng đồng
Rừng là thảm thực vật của những cây thân gỗ trên bề mặt Trái Đất, giữ vai trò to lớn đối với con người như: cung cấp lâm sản, động vật, thực vật, nguyên liệu, dược liệu,lương thực phục vụ cho nhu cầu của xã hội
Ngoài ra, rừng còn có giá trị tinh thần đối với con người như tạo ra các khu vui chơi giải trí, các khu tham quan,
1.1.2 Sự tham gia của cộng đồng và các cấp độ tham gia
1.1.2.1 Khái niệm về cộng đồng
Theo Luật Lâm nghiệp 2017 định nghĩa:“Cộng đồng dân cư bao gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc, tổ dân phố, điểm dân cư tương tự và có cùng phong tục, tập quán”
Như vậy, có thể thấy Cộng đồng là một tập hợp những người sống thành một xã hội, có những điểm giống nhau và gắn bó với nhau thành một khối
1.1.2.2 Sự tham gia của cộng đồng
Mỗi người và trong những điều kiện khác nhau hiểu khỏi niệm sự tham gia theo những cách khác nhau
Một định nghĩa chung về sự tham gia là: “Tham gia vào một hoạt động nghĩa là có một vai trò trong hoạt động đó” [Đại học Nông nghiệp – Giáo trình phát triển cộng đồng]
Sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động: Trước đây các tổ chức phát triển (Chính phủ và phi chính phủ) thường đóng vai trò quyết định bởi
Trang 20vậy họ có ảnh hưởng rất lớn trong dự án Tuy nhiên, dự án lại có rất ít ảnh hưởng tới đời sống của những bên liên quan này Có nghĩa là dự án có thành công hay không thì cán bộ của các tổ chức phát triển vẫn giữ được việc làm
Trong những năm gần đây, sự tham gia của người dân địa phương nhận
dự án phát triển được khuyến khích, đẩy mạnh vì một số lý do:
- Người dân biết rõ dự án nào, tiến hành ra sao là tốt nhất cho họ
- Phát triển năng lực cộng đồng là yếu tố quan trọng đảm bảo bền vững
và thực thi các chính sách liên quan đến quản lý và bảo vệ rừng được khung pháp luật Quốc tế ủng hộ và được luật pháp của Việt Nam thừa nhận
1.1.2.3 Các cấp độ tham gia của cộng đồng
Sự tham gia hay sự tham gia của cộng đồng có thể được phân ra ở 3 mức độ, gồm: không tham gia, tham gia hình thức, và tham gia thực sự Khi tham gia thực sự thì sẽ các bên sẽ được đảm bảo về quyền, có được tiếng nói trong các quyết định Chi tiết hơn, sự tham gia có thể được chia thành 8 nấc được thể hiện trong Sơ đồ sau đây
Trang 21Hình 1.1 Các cấp độ tham gia của cộng đồng
(Nguồn: Theo Sherry R Arstein, 1969)
Nấc 1 - Lôi kéo và Nấc 2 - Trị liệu: 2 nấc này nằm trong mức độ không tham gia Theo đó, quyết định chỉ được đưa ra bởi một số hạn chế các bên liên quan, những thành phần khác chỉ được thông báo
Nấc 3 - Thông báo, Nấc 4 - Tham vấn và Nấc 5 - Xoa dịu: nằm trong mức độ tham gia một cách hình thức Các bên tham gia chỉ được thông báo về các quyết định, hình thức tham vấn có thể được thực hiện nhưng ý kiến đóng góp không được đưa vào hoặc lấy cơ sở cho các quá trình ra quyết định Bên quyết định không bắt buộc phải quan tâm đến những nhu cầu của các bên liên quan khác
Nấc 6 - Đối tác, Nấc 7 - Quyền lực đại diện và Nấc 8 - Kiểm soát/tự huy động: Các nấc thang này nằm trong mức độ tham gia một cách thực sự,
Trang 22cần đạt được trong quá trình ra quyết định Ở các Nấc 6 và 7, các cá nhân và cộng đồng được trở thành đối tác và có đại diện tham gia vào ban quản lý, họ ảnh hưởng lớn đến quá trình ra quyết định Nấc 8 là nấc cao nhất, khi các nhóm yếu thế (ngoài nhà nước) được nhà nước trao quyền quyết định về các vấn đề của họ Thêm vào đó, các nhóm này phải được hỗ trợ cả về mặt tăng cường năng lực và tài chính để tự thực thi được các quyết định của họ
1.1.3 Nội dung tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng
1.1.3.1 Tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng
Cộng đồng là những chủ thể quản lý rừng: Cộng đồng tham gia quản lý rừng nơi mà người dân đóng góp vai trò vừa là người quản lý vừa là chủ của khu rừng Để đạt được nội dung như vậy một cách tốt nhất thì một cơ quan ở cấp xã
là địa diện cho cộng đồng, vai trò của cơ quan này thể hiện ở sự hỗ trợ và giúp
đỡ người dân trong quản lý, bảo vệ rừng một cách hiệu quả và bền vững
Cộng đồng tham gia quản lý và bảo vệ rừng là một mô hình có thể áp dụng cho tất cả các loại rừng – từ những khu rừng có độ đa dạng sinh học cao hay thấp, rừng nguyên sinh hay rừng đã bị suy kiệt, những khu rừng rộng lớn tới những khu rừng nhỏ … và nó đặc biệt quan trọng đối với những khu vực bảo tồn của địa phương hay quốc gia, điều quan trọng nhất là ta cần hiểu được rằng việc tham gia của cộng đồng được áp dụng cho những khu vừng và đất rừng phải gắn với quyền lợi của người dân và cộng đồng bản địa
Người dân là mục tiêu tổng quát của hoạt động và giữ rừng là mục tiêu
cụ thể của hoạt động Người dân địa phương là những người sống trong hoặc sống ngay bên cạnh những khu rừng được bảo vệ, mối quan hệ lâu đời giữa người dân và những khu rừng, sự gần gũi của họ với rừng khiến họ trở thành những người tốt nhất để tham gia công tác quản lý và bảo vệ rừng
Trang 23Cộng đồng không chỉ là người tham gia bảo vệ rừng một cách thụ động
mà họ còn cần được tham gia vào việc ra quyết định Người dân được thực hiện quyền của mình dựa trên các chính sách quản lý của nhà nước trong việc cho phép cộng đồng cùng tham gia quản lý và bảo vệ rừng Điều này giúp cho các hoạt động tập trung vào việc bảo tồn những khu rừng không chỉ thông qua việc phân chia quyền kiểm soát và quản lý chúng mà còn liên quan đến việc hưởng lợi từ chúng Vì vậy, cộng đồng không chỉ là người được hưởng lợi một cách thụ động mà còn gắn với trách nhiệm và sự tham gia của cộng đồng
1.1.3.2 Cộng đồng tham gia quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng Xây dựng hương ước, quy ước của cộng đồng về quản lý rừng
* Xây dựng quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng
Xuất phát từ nội dung của bản quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng có thể tham gia vào các nội dung:
Nghiên cứu, tổng hợp, phân tích tình hình về điều kiện tự nhiên, kinh
tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quy hoạch sử dụng đất, hiện trạng tài nguyên rừng;
Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng kỳ trước, dự báo các nhu cầu về rừng và lâm sản;
Xác định phương hướng, mục tiêu bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng trong kỳ quy hoạch;
Xác định diện tích và sự phân bố các loại rừng trong kỳ quy hoạch; Xác định các biện pháp quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển các loại rừng; Xác định các giải pháp thực hiện quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng;
Dự báo hiệu quả của quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng quản lý rừng cộng đồng
* Xây dựng kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng:
Căn cứ vào nội dung của bản kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng
Trang 24Phân tích, đánh giá việc thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng
- Đánh giá tài nguyên rừng;
- Xây dựng mục tiêu quản lý cho từng khu rừng cộng đồng;
- Thiết lập các giải pháp kỹ thuật quản lý và phát triển rừng;
- Xây dựng quy chế quản lý rừng dựa vào cộng đồng;
- Xây dựng cơ chế về nghĩa vụ và quyền hưởng lợi;
- Lập kế hoạch thực hiện, giám sát và đánh giá
1.1.3.3 Cộng đồng tham gia bảo vệ, chăm sóc rừng
Trong việc tuần tra: Tổ chức, luân phiên nhau và phối hợp với các tổ chức khác trong việc tuần tra rừng
Cộng đồng tham gia bảo vệ và phát triển rừng: phát dây leo, bụi rậm, chặt tỉa cây phi mục đích, tiến hành khoanh mới, xúc tiến tái sinh
Tham gia trong công tác phòng chống cháy rừng: hàng năm cộng đồng được tham gia tập huấn các lớp về kỹ năng phòng cháy, chữa cháy rừng Chính cộng đồng cũng là những tuyên truyền viên cho công tác này
1.1.3.4 Cộng đồng tham gia khai thác, hưởng lợi từ rừng
Hành động của con người sẽ được thúc đẩy thực hiện thông qua động lực Người ta cũng thường nói khi thực hiện các hoạt động đó nhằm mang lại lợi ích Lợi ích lợi ích chính là cái đáp ứng nhu cầu Nếu trước kia nhà nước
ta với cách thức nhà nước trực tiếp quản lý rừng, mọi lợi ích đều thuộc về nhà
Trang 25nước Vai trò của cộng đồng, của người dân sống ven rừng, sống gần rừng chỉ tham gia với tinh thần trách nhiệm mà không được hưởng lợi ích nào từ rừng thì đã để lại hậu quả vô cùng lớn; hàng trăm ha rừng bị chặt phá, các loại động vật có nguy cơ tuyệt chủng Đứng trước vấn đề lớn như vậy Nhà nước
đã có chính sách về khai thác và hưởng lợi ích từ rừng cho cộng đồng khi tham gia quản lý rừng theo quy định của pháp luật Chỉ khi họ có quyền như một chủ rừng thực sự, được khai thác, được hưởng lợi ích từ rừng mang lại thì mới tạo động lực cho họ quản lý rừng Mặt khác khi thai thác rừng cũng trong một quy củ, một quy trình mà không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của rừng, để rừng vẫn giữ được vai trò của mình trong vấn đề kinh tế, môi trường
và xã hội Khi cộng đồng tham gia quản lý rừng thì họ có các quyền lợi từ chính các khu rừng đó mang lại
Cộng đồng được phép khai thác gỗ, được phép khai thác lâm sản ngoài
gỗ, được phép khai thác củi đun, được phép trồng rừng trên diện tích đất chưa
có rừng Tuy nhiên các quyền lợi trên phải đúng pháp luật và theo căn cứ của bản hương ước, quy ước mà cộng đồng đã xây dựng
Ngoài hưởng lợi từ việc khai thác trên cộng đồng còn được tham gia dự án: Trong trường hợp khu rừng của cộng đồng được tham gia vào các chương trình, dự án về lâm nghiệp thì cộng đồng được nhận tiền, lương thực, vật tư theo quy định của các chương trình, dự án đó
1.1.4.5 Cộng đồng tham gia kiểm tra, giám sát, đánh giá công tác quản lý rừng hàng năm
Các quy định hương ước, quy ước về quản lý rừng đã thể hiện rõ quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ và hưởng lợi của cộng đồng trong quản lý rừng Cộng đồng có trách nhiệm thực thi, và mỗi cộng đồng cũng có trách nhiệm giám sát, kiểm tra việc thực hiện
Trang 26Hằng năm, có các buổi tổ chức với mục đích đánh giá công tác quản lý rừng Cộng đồng được tham gia nhằm đánh giá hiệu quả của việc quản lý rừng Từ đó có những ý kiến để hoàn thiện công tác quản lý rừng
1.1.4 Yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý bảo vệ rừng
1.1.4.1 Các yếu tố bên ngoài
Điều kiện tự nhiên: Nhóm yếu tố tự nhiên bao gồm các yếu tố: đất đai, khí hậu, địa hình, các nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào sẵn có tác động tích cực đến việc huy động người dân tham gia vào các hoạt động lâm nghiệp; điều kiện sản xuất khó khăn, môi trường suy thoái…cản trở sự tham gia của người dân
Các chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước về quản lý rừng: Nhóm yếu tố kinh tế thị trường bao gồm các yếu tố: Cơ cấu ngành nghề, mức sống của người dân, nhu cầu lâm sản, cơ sở hạ tầng, hệ thống sản xuất, giao lưu kinh tế, thị trường sản phẩm… Nhóm yếu tố này tạo ra các điều kiện và
sự hỗ trợ cho người dân tham gia vào các hoạt động của cộng đồng có thể thực hiện thông qua các hình thức sau:
- Can thiệp thông qua hệ thống pháp luật và chính sách
- Can thiệp thông qua hệ thống hỗ trợ, khuyến khích và dịch vụ
- Can thiệp thông qua việc nâng cao dân trí và nhận thức cho người dân Nhóm yếu tố văn hoá - xã hội bao gồm các yếu tố: Tập quán sản xuất truyền thống lâu đời như du canh, du cư, luật lệ cổ truyền, phương thức sử dụng sản phẩm rừng, cấu trúc và chức năng của gia đình, trình độ văn hoá, sự nghèo khổ, thiếu việc làm; thể chế chính trị, quyền tự do dân chủ, bình đẳng nam nữ, dân tộc…tác động đến ý thức và sự tự giác của người dân vào các hoạt động lâm nghiệp
Trang 271.1.4.2 Các yếu tố bên trong cộng đồng
Đặc điểm của cộng đồng: Tập quán quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên của dân tộc như các tập tục canh tác truyền thống lâu đời, các kỹ thuật canh tác truyền thống, những luật lệ cổ truyền, phương thức sử dụng sản phẩm rừng Lịch sử và hoàn cảnh hình thành nơi cư trú của cộng đồng: Nhiều cộng đồng sống trong và gần rừng đã có truyền thống quản lý rừng cộng đồng từ lâu đời, cuộc sống của họ dựa vào rừng là chủ yếu, nguồn thu từ rừng không thể thiếu được đối với họ hàng ngày Vấn đề này đã tác động không nhỏ tới việc bảo vệ và phát triển rừng Người dân và cộng đồng địa phương đó có thể trở thành nhân tố tích cực trong việc quản lý rừng cộng đồng nếu có các chính sách hợp lòng dân ngược lại họ có thể là nhân tố tác động xấu tới rừng
Năng lực của cộng đồng: Các kinh nghiệm quản lý của cộng đồng, sự hiểu biết về các chính sách của cộng đồng cũng tác động đến sự tham gia của cộng đồng Nếu như những yếu tố trên cộng đồng có thì sẽ làm cho năng lực quản lý của cộng đồng tốt hơn Khi cộng đồng có năng lực quản lý tốt thì sẽ thúc đẩy họ tham gia vào quản lý rừng
Nhận thức và cách làm của chính quyền địa phương: Đây chính là nhân
tố quan trọng Bởi lẽ khi chính quyền địa phương nhận thức được tầm quan trong của rừng và bảo vệ rừng là một việc làm cần thiết, cấp bách và liên tục Ngoài ra các cấp chính quyền địa phương còn phải nhận thức được vai trò to lớn của cộng đồng trong việc quản lý rừng Không chỉ nhận thức được những vấn đề trên mà chính quyền còn có những hành động và cách làm đúng đắn và phù hợp với lòng dân Như vậy nếu chính quyền địa phương nhận thức đúng và
có cách làm phù hợp thì sẽ giúp cộng đồng tích cực tham gia vào quản lý rừng
Nhận thức và ý thức của cộng đồng về quản lý và bảo vệ rừng: Đây chính là yếu tố quan trọng quyết định đến sự tham gia của cộng đồng không
Trang 28những quản lý rừng mà còn trong quản lý các nội dung khác Nếu như cộng đồng nhận thức hay ý thức đúng về việc quản lý và bảo vệ rừng là một việc làm cần thiết và quan trọng Chính sự tham gia của họ không những giúp họ phần nào tạo thêm thu nhập, ổn định về kinh tế, mang lại hiệu quả về mặt môi trường không chỉ cho cộng đồng họ mà cho toàn xã hội Không những thế sự tham gia đó còn góp phần gìn giữ những phong tục tập quán từ lâu đời trải qua bao thế hệ đã gắn bó với từng tấc đất, từng khu rừng Vậy nên cộng đồng nhận thức được điều này thì họ sẽ tích cực tham gia và ngược lại
1.2 Cơ sở thực tiễn về sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng
1.2.1 Kinh nghiệm một số địa phương
Kinh nghiệm về cộng đồng tổ chức quản lý rừng rất đa dạng và phong phú Mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc có những kinh nghiệm riêng, phù hợp với truyền thống, văn hoá của cộng đồng Sau đây là một số thực tiễn đã thực hiện tốt ở Việt Nam
* Cộng đồng quản lý rừng truyền thống: Ví dụ cộng đồng người Mông
ở bản Huổi Cáy, xã Mựn Chung, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên, tự tổ chức quản lý 310 ha rừng già có từ lâu đời, 170 ha rừng được phục hồi từ các diện tích nương rẫy cũ được cộng đồng thu lại, tiến hành khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên thành rừng nhằm mục đích giữ nguồn nước Cả hai loại rừng này đều do cộng đồng thôn bản tự công nhận được bảo vệ tốt và sử dụng vào mục đích chung như cung cấp gỗ làm nhà, giữ nguồn nước, khai thác củi, măng và các lâm sản phụ khác Việc bảo vệ và sử dụng rừng được người dân quy định bằng hương ước Từ thực tế đó, chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý lâm nghiệp đó thừa nhận quyền quản lý, sử dụng các diện tích rừng này của cộng đồng
Trang 29* Cộng đồng quản lý rừng theo nhóm đồng sử dụng:
Tại xã Chiềng Hặc, huyện Sơn Châu, tỉnh Sơn La, mô hình nhóm hộ đồng sử dụng rừng của người Thái được hình thành.UBND huyện giao đất giao rừng cho nhóm hộ đồng sử dụng bằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp (bìa đỏ), có sổ mục kê ghi thửa rừng của các hộ gia đình đồng
sử dụng Đồng sử dụng ở đây được hiểu là: từng thửa rừng giao cho nhóm hộ, mỗi hộ có quyền quản lý, sử dụng, đầu tư và khai thác như nhau, cùng chịu trách nhiệm trong việc gây ra cháy rừng, giám sát các thành viên trong hộ Mỗi hộ có quyền nhận một diện tích đều nhau để sản xuất nông lâm kết hợp hoặc thu hồi củi, lâm sản phụ và có trách nhiệm bảo vệ rừng Sản phẩm khai thác chính, sản phẩm tận thu và tỉa thưa được chia đều cho các hộ gia đình Việc thừa kế, chuyển nhượng của mỗi hộ gia đình phải được nhóm đồng ý
*Cộng đồng quản lý rừng thông qua cơ chế hưởng lợi theo lượng tăng trưởng:
Tại thôn Thuỷ Yên Thượng, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, cộng đồng người kinh nhận 404,5 ha rừng phòng hộ xung yếu Được sự hỗ trợ của Hạt Kiểm lâm Phú Lộc, người dân tiến hành đánh giá rừng bằng phương pháp đơn giản cho thấy rừng có trữ lượng trung bình 75,5m3/ha, tổng trữ lượng 31.829m3 lượng tăng trưởng bình quân: 1,5m3/ha/năm, tổng lượng tăng trưởng toàn khu rừng: 606m3/năm, mật độ cây tái sinh bình quân: 3000cây/ha Cơ chế hưởng lợi được xây dựng dựa vào lượng tăng trưởng của rừng như sau:
- Nếu lượng tăng trưởng của rừng ≥2%/năm, tương đương
≥1,5m3/ha/năm thôn được quyền hưởng 50% lượng gỗ tăng trưởng của rừng;
- Nếu lượng tăng trưởng > 1m3/ha/ năm, thôn được hưởng 30%;
Trang 30- Nếu lượng tăng trưởng > 0,5m3/ha/năm, thôn được hưởng 20% lượng tăng trưởng;
- Nếu lượng tăng trưởng ≤0,5m3/ha/năm, thôn được hưởng 10% lượng tăng trưởng;
- Nếu không tăng trưởng thôn không được hưởng và thu hồi lại rừng;
Để giải quyết nhu cầu gỗ trước mắt, cộng đồng xây dựng phương án
“Tạm ứng gỗ” của rừng 10 năm đầu tiên, thôn được tạm ứng khai thác tối đa 50m3gỗ/năm theo phương thức chặt chọn để giải quyết những nhu cầu thiết yếu cho cộng đồng Sau 3 năm nhận rừng tự nhiên, rừng được bảo vệ và phát triển tốt, thôn Thuỷ Sơn Thượng đó có hưởng lợi từ rừng tự nhiên Năm 2002
và 2003, UBND tỉnh đó cho phép thôn khai thác 92m3 gỗ tạm ứng, đây là thành quả đầu tiên về áp dụng cơ chế hưởng lợi dựa trên lượng tăng trưởng của rừng;
- Đào tạo và phổ cập trong lâm nghiệp cộng đồng:
Dự án Hỗ trợ Đào tạo và Phổ cập Vùng cao (ETSP) của tổ chức Helvetas (Thụy Sĩ) tại Việt Nam đang triển khai chu trình đào tạo Tập huấn viên (TOT) cho 3 tỉnh Đắk Nông, Thừa Thiên Huế và Hoà Bình, đến nay, 2 trong 3 modul đào tạo đó thực hiện thành công Những người tham gia ở các tỉnh, thông qua các mô hình thí điểm về quản lý rừng cộng đồng để thực hiện chu trình đào tạo cả về lý thuyết và thực tiễn trên hiện trường Đào tạo TOT
đó góp phần đảm bảo tính bền vững của quản lý rừng cộng đồng mà thông qua đó quy trình kỹ thuật, cơ chế hưởng lợi từ rừng đó được cộng đồng đánh giá, thử nghiệm Kinh nghiệm hay ở đây là để khắc phục tính phức tạp về tiến trình quản lý rừng cộng đồng, khó khăn trong việc thu hút các bên liên quan
và cộng đồng phải cùng tham gia xây dựng một khung quản lý đơn giản, tiến trình thực hiện dễ dàng, quy chế và trách nhiệm rõ ràng để cộng đồng có khả
Trang 31năng tự thực hiện, giám sát và nhân rộng Mặt khác cần phải có sự đối thoại giữa cộng đồng với cán bộ ra chính sách ở các cấp địa phương và Trung ương
để cùng tìm ra các giải pháp cùng cam kết thực hiện
1.2.2 Bài học cho Vườn Quốc gia Ba Vì
Căn cứ vào báo cáo kết quả nghiên cứu ở các địa phương có thể khái quát một số kinh nghiệm quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng như sau:
Tạo khuôn khổ pháp lý cho việc thực hiện quản lý rừng cộng đồng:
Thứ nhất: Một số tỉnh đã có văn bản mang tính pháp lý (như quyết
định, chỉ thị…) về việc triển khai giao đất, giao rừng cho cộng đồng thuộc địa phương mình, thừa nhận cộng đồng dân cư thôn là một đối tượng được giao đất, giao rừng và là một chủ rừng thực sự Uỷ ban Nhân dân (UBND) tỉnh đã trực tiếp hoặc giao quyền cho UBND huyện chỉ đạo thực hiện thí điểm việc giao đất, giao rừng cho cộng đồng, nhóm hộ hay các tổ chức mang tính cộng đồng cấp thôn (xã), như: Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, v.v Chủ tịch UBND tỉnh uỷ quyền cho Chủ tịch UBND huyện ra quyết định giao đất, giao rừng cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Có nơi đã có chủ trương hợp pháp hoá quyền làm chủ những diện tích rừng làng, rừng bản được quản lý theo truyền thống từ nhiều năm trước (rừng đầu nguồn nước, rừng thiêng, rừng ma v.v.)
Thứ hai: Các tổ chức lâm nghiệp Nhà nước (ban quản lý rừng đặc
dụng, ban quản lý rừng phòng hộ, lâm trường quốc doanh) đã thực hiện giao khoán rừng và đất lâm nghiệp cho cộng đồng quản lý, bảo vệ và phát triển rừng thông qua hợp đồng khoán ngắn hạn hoặc dài hạn Cộng đồng với tư cách là bên nhận khoán có trách nhiệm tổ chức lực lượng bảo vệ rừng và chịu trách nhiệm về kết quả thu được Cộng đồng được hưởng các quyền lợi do
Trang 32bên giao khoán chi trả (tiền hoặc hiện vật) và được phép thu hoạch các loại lâm sản phụ trong rừng theo quy định
Thứ ba: UBND tỉnh đã ban hành các văn bản hướng dẫn xây dựng quy
ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư theo Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 07 tháng 07 năm 2003 của Chính phủ về thực hiện quy chế dân chủ ở cấp xã Đồng thời, quy định các hoạt động phối hợp giữa cộng đồng với chính quyền cấp xã và các tổ chức Nhà nước có liên quan để hình thành sự liên kết trong quản lý, bảo vệ và xây dựng rừng
Thứ tư: Có tỉnh đã ban hành văn bản mang tính pháp lý công nhận cộng
đồng có thể được vay vốn đầu tư, được hưởng ưu đãi vay tín dụng đầu tư khi tham gia vào các hoạt động bảo vệ, khoanh nuôi, tái sinh và trồng rừng như các tổ chức Nhà nước khác
Thứ năm: Có tỉnh đã mạnh dạn thử nghiệm ban hành chính sách quy
định quyền hưởng lợi từ rừng đối với các cộng đồng và hộ giá đình tham gia quản lý, bảo vệ và xây dựng rừng
Thứ sáu: Một số tỉnh đã chỉ đạo xây dựng thử nghiệm mô hình cộng
đồng tham gia bảo vệ và xây dựng rừng làm cơ sở cho việc triển khai mở rộng giao rừng cho cộng đồng và xây dựng các chính sách liên quan đến quản lý rừng cộng đồng
Việc các tỉnh vận dụng chính sách của Nhà nước cho phù hợp với điều kiện của mỗi nơi như đã trình bày ở trên đã tạo cơ sở pháp lý để hình thành và
mở rộng các mô hình quản lý rừng cộng đồng Tuy nhiên, sự vận dụng các chính sách nói trên mới chỉ được thực thi ở phạm vi hẹp Trong thực tiễn quản
lý rừng, vai trò tham gia của cộng đồng dân cư địa phương ngày càng trở nên quan trọng và cấp thiết nhưng nhiều yêu cầu bức xúc từ phía cộng đồng dân
cư chưa được thực hiện (được giao đất, được hưởng chính sách đầu tư hay
Trang 33được hưởng quyền thu hoạch sản phẩm từ rừng ) do cấp tỉnh sợ làm sai với chính sách của Trung ương
Bài học kinh nghiệm cộng đồng tham gia quản lý rừng của một số điạ phương:
Yếu tố quyết định sự thành công của hệ thống cộng đồng tham gia quản
lý rừng là Nhà nước cần thừa nhận quyền sử dụng đất lâu dài của cộng đồng; cộng đồng cần có các hình thức tổ chức quản lý rừng thích hợp với điều kiện đặc thù; cộng đồng được tổ chức chặt chẽ và có cơ chế phân chia quyền lợi về các sản phẩm thu được từ rừng trên cơ sở bình đẳng giữa các thành viên trong cộng đồng
Điều kiện để có thể tiến hành giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư làng (bản) quản lý, sử dụng lâu dài là:
- Cộng đồng có truyền thống luật tục quản lý rừng và sự tham gia tích cực của các thành viện;
- Cuộc sống của các thành viên trong cộng đồng trực tiếp gắn bó với rừng và sản phẩm rừng;
- Cộng đồng có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, các quy định của cộng đồng được mọi người tôn trọng;
- Trưởng thôn (bản) có tinh thần trách nhiệm cao, cộng đồng được chính quyền địa phương quan tâm giúp đỡ;
- Phải thực hiện xây dựng quy ước quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của người dân thôn (bản) và sự nhất trí, ủng hộ của chính quyền địa phương Hình thức quản lý rừng cộng đồng đa dạng như hình thức quản lý rừng theo cộng đồng thôn (bản), theo dòng họ, theo nhóm hộ.vv và trong thời gian gần đây, hình thức quản lý rừng dựa vào các tổ chức đoàn thể cấp làng, xã đang phát triển, như: Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn thanh
Trang 34niên… Tuy nhiên, hình thức quản lý rừng theo thôn (bản), nhóm hộ là hình thức quản lý rừng đang được các tỉnh quan tâm nhất
Có thể xây dựng các hình thức phối hợp quản lý rừng giữa các cộng đồng địa phương, các tổ chức Nhà nước và cấp chính quyền xã trong bảo vệ
và xây dựng rừng Điều đó sẽ chuyển dần một số trách nhiệm và quyền hạn trong quản lý rừng cho các nhóm cộng đồng, chính sách của Nhà nước được thực thi, các nhu cầu cho sự phát triển cộng đồng được đáp ứng, dẫn đến tài nguyên rừng được bảo vệ và phát triển tốt
Quản lý rừng bởi các cộng đồng với các đặc trưng chủ yếu là không có tính chất tập trung, cộng đồng là người ra quyết định và các quy định đưa ra
có sự tham gia của người dân, hoạt động của các thành viên chủ yếu dựa trên cam kết với các hình thức tự nguyện, hình thức quản lý đa dạng và chi phí quản lý thấp
Quản lý rừng cộng đồng, hiện đang áp dụng ở một vài địa phương có nguồn gốc từ các tập quán truyền thống và nhu cầu khách quan của các dân tộc miền núi, phù hợp với hệ thống sản xuất và kiến thức văn hoá xã hội của
họ Hàng nghìn cộng đồng thôn đã, đang trực tiếp quản lý và sử dụng rừng đáng kể ở các vùng miền núi Việc quản lý các diện tích rừng nói trên của cộng đồng đã có những tác động tích cực tới quản lý rừng nói chung
Các cộng đồng có thể bảo vệ rừng hiệu quả hơn và tiết kiệm chi tiêu của Nhà nước trong việc bảo vệ rừng Rừng cộng đồng đáp ứng một phần nhu cầu gỗ sử dụng cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng cũng như cung cấp lâm sản ngoài gỗ, góp phần nâng cao đời sống người dân
Từ kinh nghiệm thực tế ở các tỉnh đã chỉ ra rằng, những diện tích rừng và đất rừng sau đây có thể giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài:
Trang 35- Diện tích rừng phân bố xa khu dân cư, vùng sâu, vùng xa, điều kiện địa hình phức tạp mà các tổ chức Nhà nước hay hộ gia đình không có khả năng quản lý hoặc quản lý không có hiệu quả
- Các khu rừng có tác dụng giữ nguồn nước phục vụ trực tiếp cho cộng đồng; rừng phòng hộ đầu nguồn diện tích nhỏ, phân tán chỉ có ý nghĩa trong phạm vi làng, xã; rừng thiêng, rừng ma, rừng cung cấp lâm sản truyền thống cho cộng đồng (săn bắt, lấy măng ), rừng núi đá
- Các khu rừng nằm giáp ranh giữa các thôn, xã, huyện; các khu rừng giàu nhưng diện tích ít không thể chia riêng cho các hộ mà cần sử dụng chung cho cộng đồng
1.3 Tổng quan nghiên cứu
1.3.1 Trên thế giới
Trong nhiều thập kỷ qua, cộng đồng quốc tế đã có những công trình nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay đổi chiến lược bảo tồn Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý KBTTN và VQG với các hoạt động sinh kế của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định
Nhìn chung các Khu bảo tồn (KBT) đều được thiết lập vì mục đích chung của các Quốc gia, mà ít nghĩ đến các nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương Phương thức quản lý của nhiều VQG và KBT chủ yếu bao gồm việc ngăn cấm người dân địa phương xâm nhập vào KBT và khai thác tài nguyên rừng (TNR) Tại các nước Đông Nam Á, phương thức này tỏ ra không thích hợp vì để duy trì sự đa dạng sinh học thì người dân địa phương bị mất quyền tiếp cận với nguồn TNR, trong khi sự phụ thuộc của họ vào TNR là rất lớn
Trang 36Các kết quả nghiên cứu trên thế giới của các KBT và VQG khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắn bảo tồn
đa dạng sinh học với bảo tồn văn hoá của người dân địa phương Ở VQG Kakadu (Australia), những người dân địa phương chẳng những được chung sống với VQG một cách hợp pháp mà họ còn được thừa nhận là chủ hợp pháp của VQG và được tham gia quản lý VQG thông qua các đại diện của họ trong ban quản lý
Các tác giả Dorji, D.C Chavada, B Thinley và Wangchuks 2005, cho rằng: Rừng chủ yếu là nguồn cung cấp gỗ xây dựng và làm hàng rào, cung cấp củi, nơi chăn thả và chuồng trại cho gia súc Chúng cũng cung cấp một phần lớn những yêu cầu về thức ăn gia súc, lợi tức, công ăn việc làm và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất và nước trên vùng đất dốc
Theo Gadgil và VP Vartok , người dân địa phương ở Ấn Độ đã bảo vệ được các diện tích rừng từ dưới 0,5 ha đến 10 ha dưới dạng lùm cây thiêng để thờ các vị thần của lùm cây Việc lấy ra bất cứ sản phẩm nào đều bị cấm kỵ Với nạn phá rừng ngày càng tăng, những lùm cây đó đã trở thành những di sản còn lại của rừng tự nhiên và do đó đã trở nên quan trọng trong việc thu lượm một số sản phẩm như: Cây thuốc, lá rụng, gỗ khô…Việc khai thác gỗ đã
bị cấm nhưng đôi khi vẫn xảy ra tình trạng khai thác gỗ trộm
Các tác giả Apple Gate, G.B và Gilmour, D.A 1987, khi nghiên cứu kinh nghiệm tác nghiệp trong việc quản lý phát triển rừng tại vùng đồi Nêpan
đã nhận thấy có mối quan hệ giữa rừng và các hệ canh tác hỗn hợp ở trung du miền núi Tác giả cho rằng các hệ canh tác phụ thuộc nhiều vào rừng đang bị suy thoái nhanh Sự bền vững lâu dài của các hệ canh tác phụ thuộc vào việc gia tăng về diện tích dưới bất cứ các dạng che phủ thực vật nào
Sự tham gia của người dân địa phương tại một số nước khu vực Đông Nam Á vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học là một biện pháp cần thiết và
Trang 37thường có hiệu quả Nỗ lực của các cơ quan chính phủ nhằm đưa dân chúng
ra khỏi các KBT đã không mang lại kết quả như mong muốn trên cả phương diện quản lý TNR và kinh tế xã hội Việc đưa người dân vốn quen sống trên địa bàn của họ đến một nơi mới và khi đó lực lượng khác có thể xâm lấn và khai thác TNR mà không có người bảo vệ Người dân địa phương có nhiều kiến thức cổ truyền về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng
đã tỏ ra có hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này
Thái Lan là một nước được các nước trong khu vực và trên thế giới đánh giá cao về những thành tựu trong công tác xây dựng các chương trình bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng Ở đây, sử dụng đất đai được thông qua chương trình làng rừng, hộ nông dân được giao đất nông nghiệp, đất thổ cư, đất để trồng rừng Người nông dân được Chính phủ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có trách nhiệm quản lý đất, không được chặt hoặc sử dụng cây rừng Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đã làm gia tăng mức độ an toàn cho người được nhận đất Do vậy đã ảnh hưởng tích cực đến việc khuyến khích đầu tư và tăng sức sản xuất của đất
Trong chiến lược Quốc gia của Philippines về bảo tồn đa dạng sinh học chỉ ra rằng: "Điều chủ chốt dẫn đến thắng lợi cho bảo tồn đa dạng sinh học là phải bảo đảm rằng các cộng đồng địa phương, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi mọi quyết định về chính sách liên quan đến môi trường,
sẽ tham gia vào quá trình lập kế hoạch và quản lý đối với bảo tồn đa dạng
sinh học"
Tác giả Peluso (1986) tại Indonesia, đã cho rằng“ Các ảnh hưởng qua lại giữa đất và rừng của nhà nước như: Rừng sản xuất, rừng trồng, rừng tự nhiên đều đã được nghiên cứu Sản phẩm là những mặt hàng sinh lời được và khó quản lý đối với các cơ quan Lâm nghiệp nhưng có giá trị to lớn đối với nhân dân địa phương Kế hoạch hành động đa dạng sinh học ở Indonesia cũng
Trang 38ghi nhận rằng: "Việc tăng cường sự tham gia của công chúng, đặc biệt là cộng đồng sinh sống bên trong và phụ thuộc vào các vùng có tính đa dạng sinh học cao, là mục tiêu chính của kế hoạch hành động và là điều kiện tiên quyết đối với việc thực hiện kế hoạch
Bink Man W.1988 trong tài liệu giới thiệu nghiên cứu định hình chi tiết
về làng Ban Pong tỉnh S Risaket (Thái Lan) chỉ ra rằng các tầng lớp nghèo phải phụ thuộc vào rừng để chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm sản như: củi đun và hoa quả trong rừng Đây là một minh hoạ rất cần thiết của người dân địa phương tham gia vào việc lập kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển
Năm 1980, Conklin, H.C trong tập ATLAT, cung cấp một mô tả chi tiết về các mối tương quan giữa rừng, lương thực và nước, giữa những người xây dựng ruộng bậc thang làm lúa nước và những người canh tác nương rẫy
Các nghiên cứu trên thế giới mới chỉ có những phân tích định tính về
sự phụ thuộc của các cộng động dân cư vào tài nguyên và khẳng định cần thiết phải có sự tham gia của người dân vào các hoạt động quản lý phát triển rừng Tuy nhiên, chưa có các nghiên cứu định lượng xác định những tác động của cộng đồng vào quản lý rừng và những nguyên nhân cụ thể dẫn tới những tác động đó vào quản lý rừng
1.3.2 Ở Việt Nam
So với nhiều nước trên thế giới và khu vực thì lịch sử thành lập các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam tương đối sớm Tháng 7/1962, Quyết định số 72/TTg của thủ tướng chính phủ thành lập khu rừng cấm Cúc Phương rộng 25.000 ha, sau này trở thành VQG đầu tiên của nước ta Bên cạnh đó, Chính phủ còn ra các quyết định thành lập các khu rừng đặc dụng khác Từ đó đến nay, Việt Nam đã có 128 khu rừng đặc dụng được thành lập
Trang 39Trước hết để công tác bảo tồn đạt hiệu quả thì các quy định phải được thể chế hóa Trong đó bao gồm luật và các văn bản dưới luật Đó là các điều khoản được ghi trong Luật bảo vệ và phát triển rừng ban hành ngày 12/08/1991, Luật bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi ban hành ngày 03/12/2004; Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ quy định về
tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng; Quyết định số 08/2001/QĐ - TTg ban hành ngày 11/01/2001 đã đề cập đến việc Ban quản lý các khu bảo vệ được xây dựng các quy định về phạm vi sử dụng rừng đối với người dân địa phương sinh sống trong các KBT; Thông tư số 78/2011/TT-BNNPTNT ngày 11/11/2011 của Bộ NN và PTNT về hướng dẫn việc thi hành Nghị định số 117/2010/NĐ-CP Gần đây nhất, Thủ tướng chính phủ có Quyết định số 186/2006/QĐ - TTg ban hành ngày 14/08/2006 (Quyết định số 34/2011/QĐ-TTg ngày 24/6/2011 sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định số 186/2006/QĐ - TTg ban hành ngày 14/08/2006) về quy chế quản lý rừng, thay thế Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg; Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01/6/2012 của Thủ tướng chính phủ về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020 Trong đó, quản lý rừng đặc dụng được quy định rất
cụ thể
Trong nhiều năm qua, đã có rất nhiều nhà khoa học quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả của các KBTTN và VQG theo quan điểm bảo tồn - phát triển Đó là việc dung hoà mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội của người dân địa phương
Các tác giả Donovan D., Rambo A.T, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên (1997) , đã đề cập đến các sản phẩm từ rừng và sức ép của người dân địa phương vào rừng Nhóm tác giả đã chỉ ra rằng: Diện tích rừng già ở miền núi phía Bắc Việt Nam đã giảm sút nghiêm trọng do việc khai thác gỗ, củi và các lâm sản khác như: tre nứa, nấm, cây dược liệu, động vật hoang dã và được xem như là nguồn sinh kế chủ yếu của người dân miền núi
Trang 40Qua kết quả nghiên cứu của Trần Ngọc Lân (1999) và các cộng sự, đã đưa ra kết luận: Các nông hộ trong vùng đệm Pù Mát có sự gắn bó chặt chẽ với rừng, nguồn thu nhập từ khai thác lâm sản và canh tác nương rẫy đóng vai trò quan trọng trong tổng thu nhập của mỗi nông hộ Hiện nay, các nông hộ đang có sự chuyển đổi về sinh kế, song mới chỉ có rất ít ở các hộ có hiểu biết
và có vốn đầu tư
Nguyễn Huy Dũng cùng cộng sự (1999), đã nghiên cứu các hình thức quản lý rừng cộng đồng ở xã Phúc Sen, huyện Quảng Hoà tỉnh Cao Bằng Tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu về quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức và lợi ích của quản lý mang lại cho cộng đồng người dân trong thôn bản Nghiên cứu này
đã chỉ ra: quản lý rừng cộng đồng ở đây được hình thành tự phát bởi cộng đồng dân bản trước thực tế và nhu cầu cuộc sống về lâm sản và sử dụng lâm sản Đây là một mô hình, một hình thức quản lý dựa trên các luật tục của cộng đồng
đã cho hiệu quả tốt trong phát triển kinh tế và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên rừng
Một số địa phương ở Sơn La và Lai Châu, thuộc vùng hoạt động của dự
án Lâm nghiệp xã hội Sông Đà (Chương trình hợp tác kỹ thuật Việt Nam - Cộng hoà Liên bang Đức) đã xây dựng nên các mô hình quản lý rừng cộng đồng Dự án đã phối hợp với các ban ngành của tỉnh (Chi cục Kiểm lâm, chi cục Lâm nghiệp và chính quyền địa phương cấp huyện, xã) trong việc tiến hành giao quyền sử dụng rừng và đất rừng cho hộ gia đình, cá nhân, các đoàn thể và cộng đồng, hỗ trợ quy hoạch sử dụng đất, xây dựng các quy ước quản
lý bảo vệ rừng thôn bản Tiếp sau đó, một bước đột phá trong hoạt động quản
lý rừng cộng đồng là dự án đã tiến hành xây dựng và áp dụng “Phương pháp đánh giá tài nguyên rừng có sự tham gia và lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng” cho các thôn bản trong vùng dự án Đây là phương pháp được các nhà