Công chức văn hóa-xã hội cấp xã Công chức văn hoá- xã hội xã là người trực tiếp tham mưu cho cấp ủy, chính quyền thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển sự ng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN VĂN DŨNG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC VĂN HÓA XÃ HỘI CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức văn hóa xã hội cấp xã trên địa bàn huyện Quốc Oai, TP Hà Nội” là nghiên
cứu do tôi thực hiện, không sao chép của ai Nội dung đề tài có tham khảo và
sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các giáo trình, tác phẩm, tạp chí và các trang web đều có trích dẫn trong tài liệu tham khảo của đề tài Các
số liệu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa được công bố ở bất
kỳ một công trình nghiên cứu nào trước đây
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Người cam đoan
Nguyễn Văn Dũng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với những tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể các thầy giáo, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, trang bị cho tôi hệ thống tri thức về kinh tế nói chung cũng như kiến thức về chuyên ngành quản
lý kinh tế nói riêng
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp, phòng Đào tạo sau Đại học, đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu để hoàn thành được luận văn đúng kế hoạch
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn TS
Phạm Thị Tân đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin cảm ơn các banh ngành đoàn throng suốt quá trình bè đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian tôi tìm hiểu tình hình thực tế và cung cấp tài liệu, số liệu để tôi hoàn thành luận văn
Mặc dù tôi đã cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song do hạn chế về thời gian nghiên cứu nên luận văn có thể còn nhiều thiếu sót Kính mong được sự góp ý của quý Thầy, Cô giáo và các bạn để bài luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Nguyễn Văn Dũng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC VĂN HÓA – XÃ HỘI CẤP XÃ 6
1.1 Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng công chức văn hóa – xã hội cấp xã 6
1.1.1 Khái niệm công chức, công chức cấp xã, công chức văn hóa-xã hội cấp xã 6
1.1.2 Khái niệm chất lượng, chất lượng công chức, chất lượng công chức văn hóa – xã hội cấp xã 10
1.1.3 Vị trí, vai trò của công chức văn hóa - xã hội cấp xã trong bộ máy chính quyền cấp xã 13
1.1.4 Các tiêu chí đánh chất lượng công chức văn hóa - xã hội cấp xã 15
1.1.5 Nội dung nâng cao chất lượng công chức văn hóa - xã hội cấp xã 20
1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng tới nâng cao chất lượng công chức văn hóa - xã hội cấp xã 26
1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng công chức văn hóa - xã hội cấp xã 29
1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng công chức văn hóa - xã hội cấp xã của một số địa phương 29
1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho huyện Quốc Oai 34
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Tổng quan về huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 36
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 36
2.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội của huyện Quốc Oai 42
Trang 52.1.3 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tới chất lượng
công chức văn hóa - xã hội cấp xã tại huyện Quốc Oai 49
2.2 Phương pháp nghiên cứu 50
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu thứ cấp 50
2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 52
2.2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 52
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 54
3.1 Thực trạng chất lượng công chức văn hóa - xã hội cấp xã tại huyện Quốc Oai 54
3.1.1 Cơ cấu công chức văn hóa - xã hội cấp xã 54
3.1.2 Thực trạng về chất lượng công chức văn hóa - xã hội cấp xã huyện Quốc Oai 56
về vai trò của cán bộ công văn hóa – xã hội 68
3.2 Các hoạt động nâng cao chất lượng công chức văn hóa - xã hội cấp xã tại huyện Quốc Oai 69
3.2.1 Tuyển dụng công chức văn hóa - xã hội cấp xã 69
3.2.2 Đào tạo và bồi dưỡng công chức văn hóa - xã hội cấp xã 71
3.2.3 Quy hoạch công chức văn hóa - xã hội cấp xã 72
3.2.4 Sử dụng, sắp xếp công chức văn hóa - xã hội cấp xã 73
3.2.5 Đánh giá công chức văn hóa - xã hội cấp xã trên địa bàn huyện 75 3.3 Đánh giá chung về nâng cao chất lượng công chức văn hóa - xã hội xã tại huyện Quốc Oai 76
3.3.1 Ưu điểm 76
3.3.2 Tồn tại 77
3.3.3.Nguyên nhân của yếu kém 79
3.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng công chức văn hóa - xã hội cấp xã tại huyện Quốc Oai 81
3.4.1.Cơ cấu giới tính 81
Trang 63.4.2.Tinh thần, thái độ làm việc 81
3.4.3 Các nhân tố khách quan 81
3.4.4 Khen thưởng, kỷ luật công chức 884
3.5 Giải pháp nâng cao chất lƣợng công chức văn hóa xã hội cấp xã tại huyện Quốc
Oai, thành phố Hà Nội 84
3.5.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu nâng cao chất lượng công chức văn hóa - xã hội cấp xã của huyện 84 3.5.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng công chức văn hóa - xã hội cấp xã tại huyện Quốc Oai 86
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96 TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Dân số, lao động huyện Quốc Oai năm 2016 và 2018 42
Bảng 2.2: Tình hình sử dụng đất đai của Huyện Quốc Oai năm 2018 44
Bảng 2.3 Tốc độ tăng tổng giá trị sản xuất 45
Bảng 2.4 Cơ cấu tổng giá trị sản xuất huyện Quốc Oai (2016-2018) 46
Bảng 2.5 Tổng giá trị sản xuất huyện Quốc Oai (giá thực tế) 47
Bảng 3.1 Số lượng, cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã của huyện giai đoạn 2016 – 2018 54
Bảng 3.2 Cơ cấu độ tuổi của CBCC cấp xã tính đến 12/2018 55
Bảng 3.3 Số lượng, cơ cấu cán bộ, công chức cấp văn hóa – xã hội cấp xã của huyện giai đoạn 2016 – 2018 56
Bảng 3.4 Trình độ đào tạo chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức văn hóa xã hội cấp xã của huyện Quốc Oai 57
Bảng 3.5 Trình độ lý luận chính trị đội ngũ CBCC văn hóa – xã hội cấp xã huyện Quốc Oai 59
Bảng 3.6 Trình độ quản lý nhà nước, ngoại ngữ và tin học của CBCC văn hóa – xã hội cấp xã huyện Quốc Oai 61
Bảng 3.7 Kết quả khám sức khỏe của đội ngũ Cán bộ công chức văn hóa xã hội cấp xã huyện Quốc Oai 64
Bảng 3.8 Thực trạng công chức là đảng viên 66
Bảng 3.9 Đánh giá của người dân về năng lực trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức văn hóa - xã hội cấp xã huyện Quốc Oai 69
Bảng 3.10 Kết quả công tác tuyển dụng CBCC văn hóa – xã hội cấp xã của huyện Quốc Oai giai đoạn 2016 – 2018 70
Bảng 3.11 Công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC văn hóa – xã hội cấp xã huyện Quốc Oai giai đoạn 2016 - 2018 71
Bảng 3.12 Đánh giá của cán bộ quản lý về sự phù hợp giữa trình độ, năng lực của CBCC văn hóa – xã hội xã đối với các vị trí đang đảm nhận 74
Bảng 3.13 Đánh giá xếp loại cán bộ công chức văn hóa – xã hội cấp xã 75
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Bản đồ Huyện Quốc Oai, Thành Phố Hà Nội 36 Biểu đồ 3.2 Ý kiến đánh giá của công dân 68 Biểu đồ 3.1 ý kiến tự đánh giá của cán bộ công chức văn hóa – xã hội về năng lực thực hiện nhiệm vụ 67
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chính quyền cấp xã, phường, thị trấn (hay còn gọi là chính quyền cấp xã) có vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống chính trị - hành chính Là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân, thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh trật
tự, an toàn xã hội ở địa phương theo thẩm quyền được phân cấp, đảm bảo cho các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, được triển khai thực hiện trong cuộc sống
Xây dựng và phát triển văn hóa trở thành nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong tiến trình đổi mới toàn diện và phát triển đất nước, trong đó cán bộ, công chức văn hóa cơ sở là nhân tố quan trọng trong công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, quyết định sự phát triển của văn hóa dân tộc Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức văn hóa cơ sở, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đang đặt ra yêu cầu cấp thiết cần được thực hiện bằng những giải pháp phù hợp
Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở giữ vị trí hết sức quan trọng, có tác động trực tiếp tới tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống, của mỗi người dân và cộng đồng dân cư ở địa bàn cơ sở Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là tiến hành củng cố và phát huy những thành tựu văn hóa hiện có, nâng cao những giá trị tốt đẹp của tổ tiên truyền lại, từ đó tiếp tục xây dựng đời sống văn hóa tiến bộ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống, làm cho văn hóa ngày càng trở thành yếu tố khăng khít của đời sống xã hội và mọi hoạt động của nhân dân, thành một lực lượng sản xuất quan trọng
Công chức văn hóa – xã hội cơ sở là lực lượng quản lý nắm bắt phần lớn công tác xây dựng đời sống văn hoá cơ sở như: Xây dựng gia đình văn hoá; thôn, khu phố, xã văn hoá, xây dựng gia đình Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; xây dựng nếp sống văn minh trong
Trang 11việc cưới, việc tang, lễ hội, tổ chức các hoạt động văn hoá, thể thao đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí lành mạnh của người dân, tổ chức tuyên truyền giáo dục pháp luật, đảm bảo thực hiện các chế độ chính sách cho đối tượng khó khăn Đảm bảo quyền được hưởng các chế độ của Nhà nước đến mọi đối tượng, và quan trọng hơn nữa đó là hoạt động văn hoá thông tin cơ sở góp phần nâng cao dân trí gắn với việc ngăn chặn gieo rắc ấn phẩm văn hoá độc hại, tà đạo xâm nhập trái phép, đẩy lùi tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan, đồng thời tạo sự bình đẳng về hưởng thụ và tham gia vào các hoạt động văn hoá của đồng bào các dân tộc Hiệu quả của công tác này tuỳ thuộc rất nhiều vào công tác lựa chọn về trình độ chuyên môn của người dự tuyển, năng khiếu, sự nhiệt tình và tính năng động của mỗi công chức
Đối với huyện Quốc Oai, sau hơn 10 năm được sáp nhập về Hà Nội với
nỗ lực của các cấp, ngành và nhân dân địa phương huyện đã có được hệ thống
cơ sở vật chất hạ tầng cơ bản đáp ứng được nhu cầu phát triển xã hội Các hoạt động văn hoá thông tin, tuyên truyền phát triển đi vào chiều sâu, các phong trào xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá, xây dựng nông thôn mới, chính sách xã hội được triển khai có hiệu quả Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở và yêu cầu ngày càng cao trong lãnh đạo, quản lý, điều hành quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế - xã hội, quản lý đô thị, xây dựng nông thôn mới…
ở cấp xã hiện nay, cán bộ, công chức cấp xã nói chung, công chức văn hóa xã hội cấp xã nói riêng tại địa phương còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém cả về
số lượng và chất lượng Một bộ phận công chức chưa thực sự có trình độ chuyên môn đúng theo yêu cầu cụ thể, năng lực chuyên môn chưa cao và hơn hết là chưa tận tụy với nghề Điều này đặt ra cho lãnh đạo huyện cần phải có biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng đội ngũ công chức văn hóa –xã hội cấp xã trên địa bàn, đảm bảo cho hoạt động văn hóa – xã hội thực sự phát huy hết vai trò, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân trên địa bàn, góp phần vào công cuộc xây dựng quê hương phát triển bền vững Để góp phần giải quyết những tồn tại trong công tác xây dựng văn hóa xã hội địa
Trang 12phương, cũng như nâng cao chất lượng công chức làm công tác văn hóa –xã
hội, tác giả chọn đề tài “Nâng cao chất lượng công chức văn hóa – xã hội cấp
xã trên địa bàn huyện Quốc Oai thành phố Hà Nội” làm luận văn Thạc sĩ
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu về đội ngũ CBCC cấp xã dưới nhiều góc độ khác nhau Các công trình được nghiên cứu ở nhiều địa phương khác nhau:
- Nguyễn Kim Diện (2006): “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức
hành chính tỉnh Hải Dương”, Luận án tiến sỹ Trường Đại học Kinh tế quốc
dân Luận án đã hệ thống được những lý luận cơ bản về nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính nhà nước nói chung và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính nhà nước của tỉnh Hải Dương nói riêng Đồng thời
đã phân tích và rút ra những đánh giá thực trạng đó một cách khách quan, chính xác về một số ưu điểm và hạn chế về chất lượng đội ngũ công chức hành chính sự nghiệp nhà nước tỉnh Hải Dương trong thời kỳ mới Luận án cũng đã đưa ra những quan điểm, mục tiêu và một số giải pháp quan trọng, phù hợp, nêu lên những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính nhà nước tỉnh Hải Dương trong thời kỳ đổi mới
- Nguyễn Thị Thảo (2014), Nâng cao chất đội ngũ CBCC cấp xã huyện
Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, Luận văn thạc sĩ trường Đại học lao động – Xã
Hội Luận văn cũng đã làm rõ được thực trạng chất lượng đội ngũ CBCC cấp
xã huyện Yên Định, từ đó đưa ra các nhóm giải pháp về tuyển dụng, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật phù hợp để nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã của Huyện
- Trần Thị Quỳnh (2015), Nâng cao chất đội ngũ CBCC cấp xã huyện
Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng, Luận văn thạc sĩ trường Đại học lao động – Xã Hội
Luận văn đã đi đánh giá chất lượng đội ngũ CBCC về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học Luận văn cũng thông
Trang 13qua việc thiết kế điều tra đánh giá của người dân về mức độ đáp ứng công việc của CBCC, thái độ làm việc của CBCC cấp xã tại huyện Vĩnh Bảo
Thông qua phân tích, luận văn đưa ra các nhóm giải pháp về đổi mới công tác đào tạo cán bộ, Công tác sắp xếp, bố trí CBCC, Công tác quy hoạch, tuyển dụng cán bộ, việc thực hiện các chế độ khuyến khích CBCC cấp xã của Huyện
Như vậy, qua các nghiên cứu trên cho thấy, vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã có vị trí quan trọng trong góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương, đáp ứng nhu cầu đổi mới trong quản lý ở chính quyền cơ
sở Các nghiên cứu đánh giá với các tiêu chí khá đồng nhất, gồm: tiêu chí về thể lực, chuyên môn, nghiệp vụ, thái độ và trách nhiệm công việc với các phương pháp tổng hợp phân tích và điều tra bảng hỏi ý kiến người dân
Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ đánh giá về CBCC nói chung chứ chưa
có đề tài nào nghiên cứu về nâng cao chất lượng đội ngũ công chức văn hóa -
xã hội cấp xã trên địa bàn huyện, do vậy mà việc thực hiện đề tài này có ý nghĩa cả lý luận và thực tiễn
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận về chất lượng công chức cấp xã
và đánh giá thực trạng chất lượng công chức văn hóa - xã hội cấp xã trong những năm qua tại huyện Quốc Oai, TP Hà Nội, luận văn đưa ra những quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công chức văn hóa –
xã hội cấp xã của huyện Quốc Oai trong giai đoạn hiện nay
Trang 14những vấn đề cần quan tâm giải quyết
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, năng lực thực thi công vụ của công chức văn hóa -xã hội cấp xã, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở huyện Quốc Oai trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu hoạt động và chất lượng hoạt động của công chức văn hóa-xã hội cấp xã thuộc huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Phạm vi về nội dung nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề liên quan đến chất lượng công chức văn hóa - xã hội cấp xã và giải pháp nâng cao chất lượng công chức văn hóa
xã hội cấp xã trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng công chức văn hóa-xã hội cấp xã
Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÔNG CHỨC VĂN HÓA – XÃ HỘI CẤP XÃ
1.1 Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng công chức văn hóa – xã hội cấp xã
1.1.1 Khái niệm công chức, công chức cấp xã, công chức văn hóa-xã hội cấp xã
1.1.1.1 Khái niệm công chức
Công chức là một khái niệm chung được sử dụng phổ biến nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong cơ quan nhà nước, do tính chất đặc thù của mỗi quốc gia, khái niệm công chức của các nước cũng không hoàn toàn đồng nhất Có nước chỉ giới hạn công chức trong phạm vi những người hoạt động quản lý nhà nước Một số nước khác có quan niệm rộng hơn, công chức không chỉ bao gồm những người thực hiện trực tiếp các hoạt động quản lý nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc trong các cơ quan có tính chất công cộng
Điều 4, Khoản 2 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, xác định: “Công chức là công dân Việt nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, thuộc đơn
vị Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt nam, Nhà nước, tổ chức Chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị công lập) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm
từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” (Luật cán bộ công chức 2008)
Để hướng dẫn thi hành Luật cán bộ công chức, Chính phủ và các bộ
Trang 16ngành đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới như Nghị định số 06/2010/NĐ- CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 quy định công chức là "Công dân Việt nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”
Như vậy công chức ở Việt Nam không chỉ là những người làm việc trong các cơ quan Hành chính nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc ở các Phòng Ban của Đảng, Mặt trận tổ quốc (MTTQ) Việt nam; các tổ chức Chính trị xã hội như: Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam, các cơ quan đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân từ cấp Trung ương đến cấp huyện (Luật cán bộ công chức 2008)
1.1.1.2 Khái niệm công chức xã
Hiện nay thuật ngữ CBCC cấp cơ sở hay gọi chung là CBCC cấp xã được hiểu theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rheo Công chhĩa rheo haiCBCC cp ccơ sở hay gọi chung là
CBCC cấp xã trong các cơ quan Hành chính nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc ở các Phòng Ban của Đảng, Mặt trậc
Theo nghĩa hẹp, đó là thuật ngữ để chỉ những người làm việc cho các cơ
quan quản lí nhà nước ở cấp xã Theo quy định của Nghị định 92/2009/NQ-CP, đối tượng này được quy định không quá 21- 25 người tùy từng loại cấp xã
Theo Khoản 3, Điều 61 của Luật cán bộ, công chức 2008, công chức cấp xã có các chức danh sau đây:
Trang 17đ) Tài chính - kế toán;
e) Tư pháp - hộ tịch;
g) Văn hóa - xã hội
Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý
Ngoài các chức danh theo quy định trên, công chức cấp xã còn bao gồm
cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã
- Số lượng công chức cấp xã
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 4 của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định: Số lượng cán bộ, công chức cấp xã được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã: cấp xã loại 1 không quá 25 người, cấp xã loại 2 không quá 23 người, cấp xã loại 3 không quá 21 người (bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã)
Việc xếp loại đơn vị hành chính cấp xã thực hiện theo quy định tại Nghị định số 159/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về việc phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn
1.1.1.3 Công chức văn hóa-xã hội cấp xã
Công chức văn hoá- xã hội xã là người trực tiếp tham mưu cho cấp ủy, chính quyền thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển sự nghiệp văn hoá, gia đình, thể thao và du lịch ở địa phương
Nhiệm vụ của công chức Văn hóa - xã hội cấp xã, phường, thị trấn được quy định tại Điều 9 Thông tư 06/2012/TT-BNV hướng dẫn chức trách tiêu chuẩn nhiệm vụ công chức xã, cụ thể như sau:
- Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã trong các lĩnh vực: Văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, thông tin, truyền thông, lao động, thương binh, xã hội, y tế, giáo dục theo quy định của pháp luật
- Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau:
+ Tổ chức, theo dõi và báo cáo về các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, du lịch, y tế và giáo dục trên địa bàn; tổ chức thực hiện việc xây dựng đời sống văn hóa ở cộng đồng dân cư và xây dựng gia đình văn hóa trên địa
Trang 18bàn cấp xã;
+ Thực hiện các nhiệm vụ thông tin, truyền thông về tình hình kinh tế -
xã hội ở địa phương;
+ Thống kê dân số, lao động, việc làm, ngành nghề trên địa bàn; theo dõi, tổng hợp, báo cáo về số lượng và tình hình biến động các đối tượng chính sách lao động, thương binh và xã hội; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện và chi trả các chế độ đối với người hưởng chính sách xã hội và người có công; quản
lý nghĩa trang liệt sĩ và các công trình ghi công liệt sĩ; thực hiện các hoạt động bảo trợ xã hội và chương trình xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn cấp xã;
+ Chủ trì, phối hợp với công chức khác và trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố xây dựng hương ước, quy ước ở thôn, tổ dân phố và thực hiện công tác giáo dục tại địa bàn cấp xã
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành và do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao
Trên cơ sở phân tích ở trên, khái niệm: “Công chức văn hóa – xã hội
cấp xã là công chức cấp xã, làm việc tại UBND cấp xã, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và sử dụng quyền lực nhà nước để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền trong các lĩnh vực: Văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, thông tin, truyền thông, lao động, thương binh, xã hội, y tế, giáo dục theo quy định của pháp luật
* Yêu cầu cơ bản đối với tiêu chuẩn công chức văn hoá thông tin cấp
xã, phường, thị trấn
- Độ tuổi không quá 35 khi được tuyển dụng lần đầu đầu
- Học vấn : Tốt nghiệp Trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng
và đô thị, tốt nghiệp Trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi
- Được bồi dưỡng lý luận chính trị
- Đạt Trung cấp về văn hoá nghệ thuật
- Được đào tạo, bồi dưỡng để có trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất định về tổ chức quản lý và hoạt động thông tin cơ sở
- Có lập trường quan điểm chính trị rõ ràng, bám sát các chủ trương của
Trang 19Đảng và Nhà nước về công tác văn hoá
- Có nhiệt tình với phong trào, có khả năng tổ chức các hoạt động văn hoá thông tin ở địa bàn trong đó có phong trào văn hoá văn nghệ quần chúng
- Hiểu biết và nắm vững hệ thống văn bản pháp quy của ngành văn hoá thông tin, nắm vững những nhiệm vụ chính trị, kinh tế xã hội của địa phương
để kịp thời tổ chức các hoạt động văn hoá thông tin Đồng thời cần am hiểu sâu truyền thống văn hoá, phong tục tập quán ở địa phương
- Tham mưu cho lãnh đạo UBND cấp xã để kịp thời ra các quyết định phù hợp với việc quản lý, hướng dẫn tổ chức xây dựng đời sống văn hoá ở địa phương, đặc biệt là thực hiện phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá"
- Người làm công tác văn hoá thông tin ở cấp xã, phường còn cần phải biết xây dựng và lập kế hoạch hoạt động văn hoá thông tin ở cơ sở gắn với các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước cũng như các Bộ, ngành, đoàn thể
có liên quan như : Y tế, Giáo dục, Lao động Thương binh - xã hội, Dân số KHHGĐ, Vì những nội dung hoạt động văn hoá thông tin cơ sở phải gắn với các nhiệm vụ chính trị- kinh tế - xã hội cụ thể
1.1.2 Khái niệm chất lượng, chất lượng công chức, chất lượng công chức văn hóa – xã hội cấp xã
1.1.2.1 Khái niệm chất lượng
"Chất lượng" là một phạm trù phức tạp và có nhiều định nghĩa khác nhau Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng Hiện nay có một số định nghĩa về chất lượng đã được các chuyên gia chất lượng đưa ra như sau:
"Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu" (Theo Juran - một Giáo sư người Mỹ)
"Chất lượng là sự phù hợp với các yêu cầu hay đặc tính nhất định" (Theo Giáo sư người Mỹ - Philip Crosby)
"Chất lượng là sự sự thoả mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất" (Theo Giáo sư người Nhật - Ishikawa)
Qua những phân tích trên đây, tác giả quan niệm về chất lượng như sau:
Trang 20“Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ
thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”
1.1.2.2 Chất lượng cán bộ công chức cấp xã
Hiệu quả công việc phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng CBCC Có chủ trương, chính sách đúng nhưng phải có đội ngũ cán bộ có đầy đủ khả năng
để triển khai thực hiện thì chủ trương, chính sách đó mới đi vào cuộc sống
Trước hết, chất lượng CBCC được xác định trong mối tương quan giữa số lượng với vị trí, vai trò và nhiệm vụ được giao Chất lượng cán bộ trong thời kỳ mới đòi hỏi số lượng, cơ cấu hợp lý với yêu cầu, nhiệm vụ đặt
ra Tính hợp lý được biểu hiện sự tinh giản tối ưu, gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả, trong đó mỗi cá nhân phát huy được hết năng lực, sở trường của mình, có thể đảm đương tốt công việc được giao, đảm bảo cho bộ máy vận hành thông suốt và hiệu quả cao nhất Một đội ngũ quá đông sẽ gây ra sự trì trệ trong công việc, trong điều hành, gây dư thừa, lãng phí nhân lực và thiếu
sự thúc đẩy tích cực của mỗi cá nhân Tính hợp lý về số lượng biểu hiện ở sự cân đối và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế - xã hội của đất nước, phù hợp với yêu cầu của công việc, nhiệm vụ đặt ra Cơ cấu hợp lý, đó là sự cân đối giữa các thành phần giai cấp, độ tuổi, giới tính, thế hệ, Sự hợp lý trong cơ cấu cán bộ sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả đội ngũ, sẽ tạo nên tính năng động, sự phối hợp nhịp nhàng và hài hoà trong hoạt động, tạo ra hiệu quả, năng suất lao động cao
Thứ hai, chất lượng CBCC được thể hiện ở hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy cấp xã Có thể nói, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cấp xã phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, tính tổ chức khoa học, tính hợp lý trong tổ chức bộ máy trong đó, chất lượng hoạt động của CBCC là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công việc
Thứ ba, chất lượng của đội ngũ cán bộ là sự tổng hợp chất lượng của từng cán bộ và có thể đánh giá qua các giác độ sau:
+ Phẩm chất chính trị, đạo đức: đó là quan điểm, lập trường, tư tưởng, đạo
Trang 21đức, lối sống của CBCC cấp xã; sự tín nhiệm của nhân dân và uy tín của họ trước tập thể
+ Trình độ, năng lực: bao gồm trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, quản lý nhà nước, quản lý kinh tế; sự am hiểu về đường lối, chủ trương của đảng, pháp luật của Nhà nước
+ Khả năng hoàn thành nhiệm vụ: đó là một tập hợp khả năng của CBCC như: khả năng quản lý điều hành, khả năng giao tiếp, khả năng thích ứng và xử lý đối với từng công việc cụ thể được giao Cùng với các yếu tố: sức khoẻ, thâm niên công tác, thành phần, dân tộc, giới tính,
Từ những đặc điểm trên, có thể khái niệm: Chất lượng CBCC cấp xã
là sự tổng hợp chất lượng của từng CBCC xã, được đánh giá thông qua các tiêu chí về phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như khả năng thích ứng, đáp ứng yêu cầu thực hiện có hiệu quả nhiệm
vụ được giao trong các mặt lĩnh vực công tác ở cơ sở
1.1.2.3 Khái niệm chất lượng công chức văn hóa xã hội cấp xã
Cán bộ, công chức văn hóa cơ sở phải có phẩm chất đạo đức, bảo đảm những tiêu chí về số lượng và trình độ chuyên môn đòi hỏi cán bộ văn hóa cơ
sở phải có năng lực thực tiễn, vì hoạt động đời sống văn hóa cơ sở đa dạng, nhạy cảm nên cán bộ phải thẩm thấu và am hiểu về nếp sống, lối sống của từng cộng đồng dân cư cũng như từng tộc người mới tham mưu giải quyết được những vấn đề luôn phát sinh trong đời sống thực tiễn
“Chất lượng công chức văn hóa – xã hội là tổng hợp các giá trị của người công chức với những kết quả công việc được thể hiện thông qua trình
độ chuyên môn, năng lực phương pháp làm việc; phẩm chất, đạo đức; văn hóa ứng xử và sức khỏe của mỗi công chức”
1.1.2.4 Nâng cao chất lượng cán bộ công chức văn hóa xã hội cấp xã
Nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã là tổng thể các biện pháp
có tổ chức, có định hướng tác động lên tập hợp tất cả các thuộc tính và sự phối hợp hoạt động của đội ngũ CBCC cấp xã làm cho thay đổi về chất cao
Trang 22hơn so với thời điểm chưa tác động
Nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã là sự tăng cường sức mạnh
và kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của lực lượng lao động lên đến một trình độ nhất định để lực lượng này có thể hoàn thành được nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định của một quốc gia, một tổ chức (Nguyễn Thị Thảo, 2014)
Nâng cao chất lượng công chức văn hóa - xã hội cấp xã chính là việc hoàn thiện những điểm còn thiếu sót, chưa hợp lý trong số lượng, cơ cấu lao động của đội ngũ CBCC cấp xã, đồng thời cải thiện những mặt còn yếu kém trong năng lực, phẩm chất của đội ngũ CBCC sao cho quy mô, tỷ trọng CBCC vừa đủ, tận dụng tối đa năng suất lao động, không thừa, không thiếu
và trình độ của người CBCC thì đáp ứng tốt yêu cầu của từng vị trí, kết hợp với đó là việc cải thiện môi trường làm việc, đảm bảo cho sức khỏe, tinh thần của người CBCC luôn được duy trì ở trạng thái tốt nhất, để họ có thể phục vụ hết mình vì công việc
1.1.3 Vị trí, vai trò của công chức văn hóa - xã hội cấp xã trong bộ máy chính quyền cấp xã
1.1.3.1 Vị trí của công chức văn hóa-xã hội cấp xã
Công chức văn hóa - xã hội cấp xã có vị trí và tầm quan trọng rất to lớn đối công tác quản lý các hoạt động văn hoá - xã hội ở cơ sở Nổi bật là những công việc trọng tâm sau đây:
- Giúp UBND cấp xã trong việc tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, văn hoá văn nghệ quần chúng, các câu lạc bộ, lễ hội truyền thống Xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, ngăn chặn việc truyền bá tư tưởng phản động, đồi trụy dưới hình thức văn hoá, nghệ thuật và các tệ nạn xã hội khác ở địa phương
- Giúp UBND cấp xã trong việc tổ chức vận động để xã hội hoá các nguồn lực nhằm xây dựng, phát triển sự nghiệp văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, bảo vệ các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, các điểm vui chơi giải trí
ở địa phương
Trang 23- Hướng dẫn, kiểm tra đối với tổ chức và công dân chấp hành pháp luật trong hoạt động văn hoá thông tin, thể dục thể thao
- Lập chương trình, kế hoạch công tác văn hoá, văn nghệ, thông tin tuyên truyền, thể dục thể thao, công tác lao động, thương binh và xã hội trình UBND cấp xã và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch được phê duyệt
- Thống kê dân số, lao động, tình hình việc làm, ngành nghề trên địa bàn; nắm số lượng và tình hình các đối tượng chính sách lao động, thương binh và
xã hội
- Hướng dẫn và nhận hồ sơ của người xin học nghề, tìm việc làm, người được hưởng chính sách ưu đãi, chính sách xã hội trình UBND xã giải quyết theo thẩm quyền
Với vị trí và tầm quan trọng to lớn như vậy nhưng trên thực tế các chế
độ tiền lương, bảo hiểm xã hội đối với đội ngũ công chức văn hoá - xã hội cấp xã hiện còn nhiều bất cập Chế độ chính sách cho công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng tuy đã được điều chỉnh, bổ sung, nâng cao hơn so với trước, song vẫn còn thấp và chưa phù hợp với giá cả của thị trường hiện nay
Do vậy Nhà nước cần phải có một cơ chế chính sách đãi ngộ thoả đáng đối với đội ngũ công chức văn hoá - xã hội cấp xã, Đồng thời các cấp uỷ Đảng và các cấp Chính quyền địa phương cũng phải quan tâm đến đời sống của cán bộ công chức văn hoá - xã hội cấp xã tại địa phương mình đang quản lý, tạo điều kiện cho họ yên tâm công tác và phát triển
1.1.3.2 Vai trò của công chức văn hóa – xã hội cấp xã trong bộ máy chính quyền xã
Công chức văn hoá - xã hội xã có vai trò hết sức quan trọng, không chỉ
là người tuyên truyền, giải thích mà còn là người trực tiếp cùng nhân dân triển khai thực hiện, cụ thể hoá quan điểm, đường lối của Đảng về văn hoá tại địa phương
Nhờ nguồn lực cán bộ văn hóa cơ sở, hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở đã góp phần quan trọng nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển Thông qua các hoạt động tuyên
Trang 24truyền, giáo dục văn hóa, nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, các ngành, đoàn thể các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội về văn hóa, về trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa trong giai đoạn mới được nâng lên Nhiều giá trị văn hóa; các quy định pháp luật và quy chế, quy tắc ứng xử văn hóa ngày càng thâm nhập sâu rộng vào đời sống đã góp phần quan trọng tạo dựng môi trường sống lành mạnh cho cộng đồng dân cư, cho mỗi gia đình và
cá nhân, đóng góp to lớn vào xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng kinh tế - xã hội, các thiết chế và hoạt động văn hóa, thể thao ở cơ sở; mô hình, điển hình tiên tiến về xã hội hóa văn hóa xuất hiện ngày càng nhiều, tạo nên sự đa dạng về nội dung và phương thức tổ chức xây dựng đời sống văn hóa và phát huy sức sáng tạo văn hóa của nhân dân trên các địa bàn cơ sở
1.1.3.3 Mối tương quan giữa chất lượng công chức văn hóa - xã hội cấp
xã với hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã và phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội ở địa phương
Công chức văn hoá - xã hội cấp xã chính là người trực tiếp tham mưu cho cấp ủy, chính quyền thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển sự nghiệp văn hoá, gia đình, thể thao và du lịch, chính sách xã hội ở địa phương Xây dựng và phát triển đội ngũ công chức cấp xã nói chung và công chức văn hóa - xã hội nói riêng chính là nhiệm vụ trọng tâm mà toàn Đảng, toàn dân ta đang ngày ngày ra sức thực hiện Tạo mọi điều kiện cần thiết để thu hút, tuyển dụng nguồn công chức có chất lượng,
có trình độ chuyên môn cao sẽ giúp cho quá trình xây dựng chính quyền và kinh tế địa phương có những bước tiến thuận lợi Đây sẽ là nội lực quan trọng để đưa địa phương phát triển một cách toàn diện
1.1.4 Các tiêu chí đánh chất lượng công chức văn hóa - xã hội cấp xã
Đánh giá CBCC là một nội dung quan trọng trong công tác cán bộ Đội ngũ CBCC cấp xã phải được đánh giá một cách khoa học và khách quan trên cơ sở đó đưa gia các giải pháp để nâng cao chất lượng cán bộ Công tác đánh giá cán bộ dựa trên một số tiêu chí sau:
Trang 25*Về phẩm chất đạo đức
Bác Hồ đã nói "có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà
không có tài thì làm việc gì cũng khó" Người cán bộ ngoài việc không ngừng
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn phải trau rồi đạo đức lối sống ðạo đức là nền tảng, là gốc của con người Có đạo đức cách mạng, có lối sống giản dị, trong sạch, lành mạnh người CBCC sẽ có uy tín, tạo điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ
CBCC cấp xã luôn phải tiếp xúc với dân, phẩm chất đạo đức là yếu tố cực kỳ quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công việc, đến khả năng tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của ðảng, pháp luật của Nhà nước
CBCC cấp xã, hàng ngày, trong công việc họ phải tiếp xúc với dân, đòi hỏi người CBCC cấp xã phải khiêm tốn, giản dị, trung thực Có như vậy
họ mới tạo lập được lòng tin từ phía nhân dân Trên thực tế đã có những cán
bộ có thái độ quan liêu, hách dịch, do vậy, trở nên xa lánh nhân dân và không được nhân dân tín nhiệm Cũng chính từ đó mà trong thực thi nhiệm
vụ gặp rất nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến hiệu quả công việc
Đảng lãnh đạo không chỉ bằng việc ra các chủ trương, đường lối, chính sách mà còn lãnh đạo bằng phương pháp là phát huy tính gương mẫu của người ðảng viên Có chủ trương, đường lối đúng nhưng người truyền đạt, người triển khai thực hiện phải là người được nhân dân tin yêu và tín nhiệm,
có như vậy người dân mới nghe và làm theo Muốn thế, trước hết, họ phải là những người mẫu mực trong công tác, lời nói phải đi đôi với việc làm, có lối sống lành mạnh, trong sáng, giản dị và luôn đi đầu trong phong trào ở cơ sở
*Về phẩm chất chính trị
Đây là tiêu chuẩn vô cùng quan trọng đối với người CBCC nói chung
và CBCC văn hóa xã hội nói riêng ðể trở thành những nhà tổ chức, những người có năng lực trước hết phải là những người có phẩm chất chính trị
Phẩm chất chính trị của người CBCC được biểu hiện trước hết là tin tưởng tuyệt đối với lý tưởng cách mạng, kiên định với mục tiêu độc lập dân
Trang 26tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Phẩm chất chính trị tốt không phải chỉ thể hiện bằng lời nói, tuyên bố hứa hẹn mà quan trọng hơn là việc nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước Kiên quyết chống lại mọi lệch lạc, biểu hiện sai trái trong đời sống xã hội đi trái với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Phẩm chất chính trị của người cán bộ còn được thể hiện trong thực tiễn cách mạng Trong mọi hoàn cảnh dù thuận lợi, khó khăn người CBCC phải luôn giữ vững lập trường quan điểm
*Về trình độ năng lực
Một người cán bộ để hoàn thành tốt công việc phải có năng lực Năng lực của người CBCC là khả năng hiện thực hoá chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật vào trong cuộc sống Năng lực được thể hiện trong hiệu quả công việc được giao
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh "năng lực của con người không phải hoàn
toàn tự nhiên mà có, mà phần lớn do công tác, do luyện tập mà có" Năng
lực theo Người nó là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động thực tiễn của con người Năng lực được phát triển trong quá tình hoạt động thực tiễn Người lười biếng, trốn tránh lao động thì năng lực không thể phát triển (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000)
Đối với CBCC cấp xã năng lực thường bao gồm những tố chất cơ bản
về đạo đức cách mạng, về tinh thần phục vụ nhân dân, về trình độ kiến thức pháp luật, kinh tế, văn hoá, xã hội sự am hiểu đường lối, chính sách của ðảng, của nhà nước, tạo thành chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng xử lý thông tin
để giải quyết các vấn đề đặt ra trong công tác lãnh đạo, quản lý một cách khôn khéo, minh bạch, hợp lòng dân và phù hợp với pháp luật Năng lực bao gồm:
Năng lực tư duy lý luận: đó là tổng hợp các phẩm chất trí tuệ của người CBCC đáp ứng yêu cầu phát hiện, nhận biết nhanh nhạy, đúng đắn các vấn đề thực tiễn ở cơ sở góc độ lý luận, quản lý Đồng thời có những đề xuất sắc bén, khả năng vận dụng sáng tạo, linh hoạt nhằm nâng cao hiệu quả công tác cơ sở
Trang 27Năng lực tư duy lý luận có giá trị định hướng đúng đắn nhận thức và hoạt động của đội ngũ CBCC cấp xã
Năng lực tổ chức thực tiễn được biểu hiện ở các khả năng sau:
+ Có khả năng thu nhận và xử lý thông tin liên quan đến công tác ở cơ
sở một cách nhanh chóng và có hiệu quả, cụ thể, thiết thực
+ Có khả năng đề ra những quyết định có tính chất tình huống cụ thể, chính xác và có tính khả thi cao Nghĩa là, quyết định được đưa ra phải phù hợp với điều kiện hiện có, phù hợp với nhu cầu, lợi ích của xã hội
+ Có khả năng tổ chức thực hiện quyết định, tổ chức bộ máy, khả năng thu hút nhân dân thực hiện nhiệm vụ do thực tiễn đặt ra Đó là khả năng xử
lý nhanh nhạy, chính xác những nhiệm vụ cơ bản, trọng tâm trước mắt và lâu dài, biết cách thay đổi biện pháp phù hợp với sự biến đổi tình hình
+ Biết tổ chức công tác kiểm tra thực hiện các quyết định để duy trì, điều chỉnh tiến độ thực hiện quyết định, phát hiện những vấn đề mới nảy sinh để giải quyết, tìm ra những lệch lạc, sai sót để sửa chữa, đảm bảo quyết định được thực hiện chính xác, có hiệu quả
Năng lực sáng tạo, tính quyết đoán
+ Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần, đặc biệt là tìm ra được con đường mới, cách giải quyết vấn
đề mới trong những tình huống luôn luôn biến đổi ở cơ sở mà không bị gò
bó, không bị phụ thuộc vào cái đã có CBCC cấp xã là gần gũi, làm việc trực tiếp với nhân dân, giải quyết hàng ngày những vấn đề phức tạp nảy sinh, do vậy năng lực sáng tạo đối với đội ngũ CBCC cấp xã là rất cần thiết ðồng thời đó cũng là sự vận dụng đường lối, chính sách của ðảng, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống Đó chính là khả năng tìm ra "lối đi" mới trên con đường quen thuộc, phát hiện ra những cách làm hay khơi dậy mọi nguồn lực sẵn có để tập trung phát triển kinh tế-xã hội
+ Tính quyết đoán là khả năng phán đoán một cách quả quyết, có những quyết định nhanh chóng và dứt khoát, không do dự, không rụt rè, không đùn đẩy, không thoái thác trách nhiệm Tính quyết đoán khác hẳn với
Trang 28tính hách dịch, cửa quyền, liều lĩnh phiêu lưu Nó là sản phẩm của tính kiên quyết, tính chủ động, sự thận trọng, niềm tin vào khoa học và có cơ sở
Yêu cầu của năng lực làm việc với con người của CBCC xã là phải biết thu hút mọi người tham gia vào công việc chung Biết đặt mình vào vị trí của người khác, biết khiêu gợi tính tích cực của đồng sự, của nhân dân; cư
sử lịch sự, tế nhị, nhã nhặn với nhân dân; tôn trọng, khiêm tốn khi tiếp xúc với nhân dân; biết lắng nghe tâm tư nguyện vọng của nhân dân, biết thông cảm và chia sẻ với hoàn cảnh của họ
Từ sự phân tích trên, có thể hiểu năng lực của đội ngũ CBCC cấp xã là tổng hợp các phẩm chất tâm lý mà nhờ nó người CBCC biết tiếp thu dễ dàng các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, tiến hành các hoạt động có hiệu quả và tuỳ thuộc vào môi trường, nhiệm vụ, vị thế của mỗi CBCC trong điều kiện cụ thể để xác định các tiêu chí, phẩm chất tâm lý cần có
Với xu thế hiện, nay tri thức hoá các mặt đời sống xã hội, thông tin và tri thức đang trở thành nguồn lực cơ bản để phát triển thì đòi hỏi đội ngũ CBCC cấp xã, những người thay mặt Nhà nước thực hiện nhiệm vụ chính trị - văn hoá - xã hội ở cơ sở là phải có trình độ nhất định
+ Trình độ lý luận chính trị: là những người triển khai, tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách đòi hỏi đội ngũ CBCC cấp xã phải có trình độ lý luận nhất định ðồng thời, có trình độ lý luận sẽ giúp CBCC xã có bản lĩnh chính trị vững vàng, có khả năng nhận thức các quy luật vận động của kinh tế, từ đó áp dụng vào việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở
+ Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: là những người luôn giải quyết những tình huống rất cụ thể trong cuộc sống, tại địa bàn dân cư đòi hỏi người CBCC xã phải có trình độ chuyên môn phù hợp với công việc được giao Muốn đảm đương và hoàn thành tốt nhiệm vụ, ngoài việc phải nắm vững chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở, đội ngũ CBCC xã phải có trình độ chuyên môn nhất định, phù hợp với nhiệm vụ công tác của mình Ngoài ra, để hoàn thành tốt
Trang 29công việc người CBCC cấp xã còn phải có thêm trình độ, kiến thức nhất định trong một số lĩnh vực như: kiến thức quản lý nhà nước, kiến thức quản lý kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội
1.1.5 Quy trình quản lý chất lượng công chức văn hóa – xã hội
1.1.5.1 Tuyển dụng công chức văn hóa - xã hội cấp xã
Tuyển dụng là quá trình tìm kiếm, thu hút, lựa chọn và bổ sung những người đủ tiêu chuẩn vào đội ngũ cán bộ, công chức Đây là quá trình thường xuyên, cần thiết để xây dựng và phát triển chất lượng đội ngũ Thực tiễn cho thấy tuyển dụng là một khâu đầu tiên trong chu trình quản lý cán bộ, công chức, nhưng có vai trò quan trọng mang tính chất quyết định đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi công vụ cũng như sự phát triển của
cơ quan, tổ chức, đơn vị
Mục đích của công tác tuyển dụng cán bộ, công chức xã là tuyển chọn được những người có phẩm chất đạo đức, trình độ lý luận chính trị, trình độ năng lực, có kiến thức về quản lý, kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và trình
độ hiểu biết về pháp luật theo những tiêu chuẩn nhất định để bổ sung vào đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, từ đó bố trí, sử dụng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra Nếu công tác tuyển dụng không được quan tâm đúng mức, thì sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng cả đội ngũ, hậu quả để lại đối với tổ chức là vô cùng to lớn, làm giảm hiệu lực hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước của bộ máy chính quyền cấp xã
Việc tuyển dụng cán bộ, công chức xã hiện nay được thực hiện thông qua các hình thức: bầu cử, thi tuyển, xét tuyển Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện tổ chức tuyển dụng công chức cấp xã theo quy định của Chính phủ ( Luật cán bộ công chức năm 2008)
Thực tiễn cho thấy, việc tuyển dụng cán bộ, công chức xã còn nhiều bất cập: Đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vẫn thực hiện chủ yếu theo cơ chế Đảng cử, dân bầu, mang tính hình thức sắp đặt, không theo những yêu cầu cụ thể về phẩm chất và năng lực của mỗi chức danh, chưa gắn với đào tạo, quy hoạch, việc tuyển dụng nhiều nơi chưa gắn với thi tuyển, chưa thực
Trang 30hiện công khai, dân chủ, chưa đúng lúc, đúng người, đúng việc Nên không tránh khỏi hiện tượng tuyển dụng những người kém về năng lực, phẩm chất trong đội ngũ cán bộ, công chức xã
1.1.5.2 Đào tạo và bồi dưỡng công chức văn hóa - xã hội cấp xã
Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học Còn bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc Nếu đào tạo là quá trình làm cho con người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định thì bồi dưỡng làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất đó Mặc dù trình độ học vấn của CBCC cấp xã ngày nay đã được nâng lên nhưng những kiến thức, kỹ năng học tập được trong nhà trường còn tràn lan, có những thứ chưa thể áp dụng trong thực tiễn làm việc Do đó, trong công tác đào tạo bồi dưỡng CBCC cấp xã đòi hỏi phải biết chọn lựa nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng, phù hợp với chuyên ngành, với chức danh công việc cụ thể của mỗi CBCC Đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã đạt về số lượng, tránh tình trạng đào tạo, bồi dưỡng tràn lan, hình thức Nội dung đào tạo xuất phát từ sự cần thiết thực tế, yếu khâu nào đào tạo, bồi dưỡng khâu đó Tuy nhiên, hiện nay, nội dung đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã vẫn mang nặng về lý luận chính trị, ít chuyên sâu vào khoa học hành chính, các kỹ năng, nghiệp vụ quản
lý nhà nước cần thiết của CBCC
Như vậy, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC có ý nghĩa quyết định đến chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã Địa phương nào chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC thì địa phương đó sẽ xây dựng được nền tảng vững chắc của đội ngũ CBCC cấp cơ sở, hoàn thành những mục tiêu, nhiệm vụ mà cấp trên giao phó và Đảng bộ địa phương đặt ra
1.1.5.3 Quy hoạch công chức văn hóa - xã hội cấp xã
Xây dựng quy hoạch và kế hoạch biên chế để phát triển đội ngũ công chức nói chung và đội ngũ công chức cấp xã nói riêng là một công việc thường xuyên và quan trọng, đây là quy trình quen thuộc được thực hiện hàng năm Quy hoạch tốt, đảm bảo tính khoa học và phù hợp với thực tế khách
Trang 31quan thì góp phần cho sự phát triển, ngược lại sẽ gây lãng phí
Quy hoạch cán bộ, công chức là quá trình thực hiện đồng bộ các chủ trương, biện pháp tạo nguồn để xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, là việc
bố trí, lập kế hoạch trong dài hạn, là sự sắp xếp đội ngũ cán bộ, công chức đang làm trong các cơ quan hành chính hoặc nguồn dự bị nhằm đảm bảo chủ động nguồn nhân lực cho chất lượng, lấp chỗ trống trong các cơ quan hành chính hay thay thế đội ngũ cán bộ, công chức đương nhiệm nhằm bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ trong thời gian nhất định
Quy hoạch đội ngũ công chức là việc lập dự án, thiết kế xây dựng tổng hợp đội ngũ công chức; dự kiến bố trí, sắp xếp tổng thể đội ngũ công chức theo một ý đồ rõ rệt với một trình tự hợp lý trong một thời gian nhất định làm
cơ sở cho việc lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, đề bạt hoặc giới thiệu công chức ứng cử các chức danh lãnh đạo, quản lý
1.1.5.4 Sử dụng, sắp xếp công chức văn hóa - xã hội cấp xã
Việc sử dụng đội ngũ công chức cấp xã phải xuất phát từ nhiều yếu tố, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, công việc của từng cơ quan, đơn vị
Đối với đội ngũ công chức xã, hai căn cứ quan trọng để bố trí, sử dụng
là yêu cầu của công vụ và điều kiện nhân lực hiện có của tổ chức, cơ quan, đơn vị Sử dụng công chức xã phải dựa vào những định hướng có tính nguyên tắc sau:
- Sử dụng công chức phải có tiền đề và quy hoạch
- Sử dụng phải căn cứ vào mục tiêu Mục tiêu của hoạt động quản lý đến mục tiêu sử dụng công chức
- Tuân thủ nguyên tắc khách quan, nguyên tắc vô tư và công bằng khi thực hiện chính sách của Nhà nước Đây là căn cứ quan trọng để thực hiện chính sách sử dụng cán bộ
- Xây dựng chế độ phụ cấp công vụ phù hợp, thống nhất đối với công chức khối đảng, đoàn thể và công chức khối cơ quan nhà nước Có chế độ phụ cấp và chính sách thu hút đối với cán bộ, công chức công tác ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo có nhiều khó khăn và vùng có đông
Trang 32đồng bào dân tộc thiểu số Tiến hành thực hiện đúng và kịp thời các chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, như thu hút, đãi ngộ nhân tài; khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng; thu hút, bố trí, sử dụng sinh viên tốt nghiệp đại học về công tác tại xã Qua đây, động viên sự nhiệt tình công tác, gắn bó với địa phương, củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, ngăn chặn những tiêu cực của cán bộ, công chức và thực hiện công bằng xã hội
- Bổ nhiệm phải trên cơ sở xây dựng cơ cấu nhân lực của tổ chức Quá trình đề bạt, bổ nhiệm phải chú ý coi trọng việc lấy phiếu tín nhiệm để đề bạt theo hướng mở rộng đối tượng tham gia, bảo đảm những người tham gia bỏ phiếu phải là những người biết việc, hiểu người, tránh bè phái, cục bộ, định kiến, hẹp hòi, thiếu tính xây dựng Trước khi bỏ phiếu tín nhiệm để đề bạt, bổ nhiệm, cán bộ được dự kiến đề bạt, bổ nhiệm phải trình bày đề án hoặc chương trình hành động của mình Nên thực hiện thí điểm việc thi tuyển, tiến
cử, chế độ tập sự đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý Nếu làm tốt sẽ là khâu đột phá thúc đẩy quá trình đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Người đứng đầu phải có ý thức trách nhiệm, công tâm, khách quan, phải vì lợi ích chung và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, coi trọng ý kiến của tập thể Có quy chế phối hợp giữa người đứng đầu với cấp uỷ, lãnh đạo cơ quan đơn vị Nếu không chỉ đạo thực hiện tốt, sẽ dẫn đến cục bộ, bè phái, gia trưởng, độc đoán, mất dân chủ, chạy quyền, chạy chức trong đề bạt và bổ nhiệm cán bộ Bổ nhiệm trên cơ sở đòi hỏi của công vụ và nguồn nhân lực hiện có đúng người, đúng việc
- Cơ chế bố trí, phân công công tác
Trong quá trình xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức xã việc bố trí, sử dụng đúng cán bộ luôn là vấn đề được đặc biệt quan tâm và có thể nói đây là một trong những nhân tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ công chức xã Quá trình bố trí, phân công và sử dụng công chức là một chuỗi các mắt xích công việc quan trọng liên quan đến người công chức từ khâu tuyển dụng đầu vào, hướng dẫn tập sự, bổ nhiệm vào
Trang 33ngạch công chức, phân công công tác phù hợp với tiêu chuẩn ngạch, bậc và vị trí công tác phù hợp với ngạch được bổ nhiệm Việc sắp xếp đúng chỗ, đúng việc sẽ tạo điều kiện phát huy tin thần hăng say làm việc, phát huy được năng lực, sở trường, rèn luyện kỹ năng thành thạo công việc khuyến khích tinh thần học tập và rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, góp phần chủ yếu đảm bảo cho việc hoàn thành công vụ của cơ quan Vì vậy, công tác phân công, bố trí công chức có ảnh hưởng rất lớn đối với chất lượng của đội ngũ công chức xã
1.1.5.5 Đánh giá thực hiện công việc đối với công chức văn hóa - xã hội cấp xã
Đánh giá công chức là hoạt động công vụ được thực hiện từ phía cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng công chức, tập thể lao động nhằm xem xét chất lượng công chức dựa trên cơ sở thực tiễn công tác của người công chức và yêu cầu nhiệm vụ được cơ quan, đơn vị, tổ chức đề ra đối với công chức
Đánh giá đúng công chức thì toàn bộ quy trình công tác cán bộ sẽ chính xác, hiệu quả trong chọn người xếp việc được chính xác, tạo điều kiện cho công chức phát huy được sở trường, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đồng thời không bỏ sót nhân lực chất lượng, chọn nhầm nhân lực kém chất lượng Ngược lại, đánh giá công chức không đúng thì không những bố trí, sử dụng công chức không đúng mà quan trọng hơn là mai một dần động lực phát triển,
có khi làm thui chột những tài năng, “vàng thau lẫn lộn”, xói mòn niềm tin của đảng viên, quần chúng ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị
Đánh giá công chức để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện được giao Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng,
kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức
Là tiêu chí cơ bản để đánh giá đúng đắn nhất những gì mà mỗi CBCC
cấp xã đã làm được trong thời gian nhất định Khả năng hoàn thành nhiệm vụ được phản ánh thông qua mức độ thực hiện nhiệm vụ được giao trong năm: thể hiện ở khối lượng công việc được giao, chất lượng công việc được hoàn thành, tiến độ triển khai thực hiện, và hiệu quả của công việc đó trong từng vị
Trang 34trí, từng giai đoạn, bao gồm cả những nhiệm vụ thường xuyên và những
nhiệm vụ đột xuất
Dựa trên kết quả đánh giá về khả năng hoàn thành nhiệm vụ của đội ngũ CBCC cấp xã có thể đánh giá được chất lượng hoạt động của đội ngũ đó trong thực tiễn công tác Một CBCC cấp xã đạt chất lượng tốt thì phải thường xuyên được đánh giá là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và hoàn thành tốt nhiệm vụ Có những CBCC đạt trình độ chuyên môn nhưng chỉ được đánh giá
là hoàn thành nhiệm vụ hoặc chưa hoàn thành nhiệm vụ, người quản lý cần xem xét những khía cạnh khác của CBCC đó Kết quả đánh giá này cũng là
cơ sở để thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng và sắp xếp nhân sự tại cơ quan, đơn vị
Theo Luật cán bộ công chức năm 2008 thì đánh giá công chức dựa vào các nội dung sau:
- Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước;
- Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc;
- Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;
- Tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ;
- Tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ;
- Thái độ phục vụ nhân dân
Ngoài ra đối với công chức lãnh đạo, quản lý còn được đánh giá theo các nội dung sau đây:
- Kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý;
- Năng lực lãnh đạo, quản lý;
- Năng lực tập hợp, đoàn kết công chức
Việc đánh giá công chức được thực hiện hàng năm, trước khi bổ nhiệm, quy hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, khi kết thúc thời gian luân chuyển, biệt phái
Khi đánh giá phải bảo đảm tính khách quan, toàn diện, tính lịch sử - cụ
Trang 35thể; trên cơ sở thực hiện tự phê bình và phê bình; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; công khai đối với cán bộ, công chức được đánh giá Phát huy
đầy đủ trách nhiệm của tập thể và cá nhân, lấy kết quả, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu trong đánh giá công chức
Đánh giá công chức được coi là tiền đề quan trọng nhất nhưng vẫn là khâu khó và yếu nhất, khó nhất là đánh giá cái “tâm” và cái “tầm” và bản lĩnh chính trị của người công chức
1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng tới nâng cao chất lượng công chức văn hóa - xã hội cấp xã
1.1.6.1 Các nhân tố khách quan
* Các nhân tố thuộc về bản thân người CBCC văn hóa –xã hội
Đó là các nhân tố về nhận thức và ý chí phấn đấu của công chức văn hóa –
xã hội
Thứ nhất, về nhận thức của công chức văn hóa – xã hội
Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan trong ý thức của con người, nhận thức bao gồm: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau và cơ sở, mục đích và tiêu chuẩn của nhận thức là thực tiễn xã hội Nhận thức của đội ngũ CBCC văn hóa – xã hội cũng không nằm ngoài những nhận thức chung đó Có thể nói chất lượng đội ngũ CBCC văn hóa – xã hội còn phụ thuộc vào tinh thần ham học hỏi, ham hiểu biết của cán bộ
Thứ hai, ý chí phấn đấu của CBCC văn hóa – xã hội
CBCC văn hóa – xã hội phải thực sự là người “yêu nghề” có sở thích và hăng say hoạt động văn hóa – xã hội, có ý chí nỗ lực vươn lên nhằm chinh phục những đỉnh cao của khoa học, trong đó có khoa học về tổ chức hoạt động văn hóa – xã hội Thực tế kiến thức về chuyên môn, về văn hóa – xã hội là rất lớn, việc nâng cao chất lượng CBCC văn hóa – xã hội thông qua trường học, hoặc các đợt tập huấn thì không thể đáp ứng được công việc hàng ngày Xã hội, cuộc sống luôn luôn biến đổi không ngừng, cho nên tự học, tự rèn luyện (trong
đó có cả rèn luyện về thể chất) là phương pháp tốt nhất để nâng cao năng lực cho mỗi người
Trang 36* Cơ chế tuyển dụng công chức văn hóa - xã hội cấp xã
Tuyển dụng công chức là một hoạt động công, do cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền thực hiện và chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật thuộc ngành Thông qua tuyển dụng để tạo nguồn công chức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, tổ chức “Việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế” Nói đến cơ chế tuyển dụng là nói đến cách thức, phương pháp để lựa chọn cán bộ sao cho đúng người, đúng việc nhằm phát huy năng lực và sở trường của họ để đạt kết quả cao trong công tác Để có được đội ngũ công chức xã nói chung, công chức văn hóa xã hội nói riêng có chất lượng cao thì việc tuyển dụng phải được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ nhằm hạn chế những tiêu cực nảy sinh trong quá trình tuyển chọn
* Chính sách về đào tạo bồi dưỡng công chức văn hóa - xã hội cấp xã
Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học Còn bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc Nếu đào tạo là quá trình làm cho con người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định thì bồi dưỡng làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất đó Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã đạt về số lượng, tránh tình trạng đào tạo, bồi dưỡng tràn lan, hình thức, đào tạo không phải để trang bị những kỹ năng cần thiết mà chỉ lấy chứng chỉ, bằng cấp bổ sung vào sơ yếu lý lịch Trong khi đó, người có nhu cầu thực sự không được cử đi
* Yếu tố văn hóa địa phương
Đối với công chức văn hóa - xã hội cấp xã họ mang trên mình vai trò của người làm công tác văn hóa, người hướng dẫn, chỉ đạo người dân hoạt động theo quy định của pháp luật, sống và làm việc theo khuynh hướng tích cực nhất, hướng tới xây dựng nền văn hóa đặc trưng của địa phương Khơi gợi tinh thần dân tộc, đoàn kết của người dân, tổ chức các hoạt động ngoại khóa, vui chơi nâng cao đời sống tinh thần của người dân Do đó, chính người công chức phải là người am hiểu văn hóa địa phương nhất, tích cực tiếp xúc
Trang 37với người dân để hiểu hơn tâm tư nguyện vọng, nhu cầu tinh thần của người dân để từ đó phát huy những truyền thống tốt đẹp, khơi gợi tinh thần đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau
1.1.6.2 Các nhân tố chủ quan
(1) Công tác đánh giá, xếp loại đội ngũ CBCC cấp xã
Đánh giá đúng cán bộ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã Thông qua hệ thống các chỉ tiêu đánh giá CBCC do Nhà nước quy định, công tác đánh giá, xếp loại đưa ra kết luận xác đáng về đức và tài,
về trình độ năng lực, khả năng phát triển của CBCC Vì vậy, nếu khen đúng người, kỷ luật đúng tội, đánh giá đúng về CBCC cấp xã sẽ là động lực thúc đẩy tinh thần và trách nhiệm đối với công việc của họ Ngược lại nếu đánh giá chưa đầy đủ, chưa chính xác về CBCC sẽ nảy sinh những bất mãn, ý nghĩ tiêu cực trong CBCC, ảnh hưởng đến kết quả làm việc
Làm tốt công tác đánh giá, xếp loại đội ngũ CBCC cấp xã còn là căn cứ
để tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, xác định nhu cầu và nội dung đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chế
độ, chính sách đối với cán bộ: nâng lương trước thời hạn, xem xét ưu tiên, động viên CBCC tham dự các kỳ thi nâng ngạch, bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo và hưởng thêm các chế độ khác
Tuy nhiên trong thực tế, công tác này còn bị coi nhẹ, chỉ mang tính hình thức, đánh giá thiên về tình cảm, làm qua loa Công tác đánh giá, xếp loại CBCC không chỉ giúp cơ quan quản lý cán bộ nắm và hiểu được cán bộ của mình mà đồng thời còn giúp cho bản thân người CBCC cấp xã hiểu đúng hơn về mình, nhằm phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm (nếu có), góp phần xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp đổi mới
(2) Công tác kiểm tra, giám sát đội ngũ CBCC cấp xã
Trong công tác kiểm tra, giám sát, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Khi có chính sách đúng thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách
đó là do cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra Nếu
Trang 38ba điểm ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích" và “có kiểm tra… mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời” Điều đó cho thấy những tác động mạnh mẽ của công tác kiểm tra giám sát đến chất lượng đội ngũ CBCC Nó là căn cứ chính xác nhất để đánh giá, nhận xét về mức độ hoàn thành công việc của đội ngũ CBCC cấp xã Vì vậy cần nghiêm túc triển khai công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đội ngũ CBCC cấp xã Thông qua đó, nắm bắt được hệ thống những tư tưởng trong từng giai đoạn và thực trạng hoạt động của đội ngũ CBCC nhằm kịp thời ngăn chặn những tư tưởng tiêu cực, lệch lạc, hạn chế những khuyết điểm, thiếu sót, phát huy những mặt tích cực trong thực thi công vụ Nếu địa phương nào làm tốt, chặt chẽ và thường xuyên công tác quản lý, kiểm tra, giám sát CBCC thì địa phương đó có đội ngũ CBCC cấp xã giàu tinh thần trách nhiệm với công việc,
tư tưởng, phẩm chất chính trị, đạo đức của người CBCC được nâng cao
(3) Trang thiết bị và điều kiện làm việc
Trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật bao gồm: bàn ghế, tủ tài liệu, máy tính, hệ thống mạng Internet, máy scan, máy in… là những điều kiện làm việc thiết yếu cho đội ngũ CBCC cấp xã nhằm phục vụ tốt nhất cho công tác quản lý chỉ đạo, tìm hiểu thông tin Cơ sở vật chất đầy đủ giúp cho đội ngũ CBCC đổi mới phương pháp làm việc; thúc đẩy và nâng cao chất lượng làm việc, đảm bảo giải quyết công việc nhanh chóng, chính xác, hiệu quả, giúp lưu trữ văn bản, báo cáo, thuận tiện cho những lần sử dụng tiếp theo
Việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, trang bị máy móc hiện đại sẽ đáp ứng tốt hơn các hoạt động thực thi công vụ của đội ngũ CBCC cấp
xã Bởi vậy, trang thiết bị và điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác và chất lượng đội ngũ CBCC nói chung và đối với CBCC cấp xã nói riêng
1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng công chức văn hóa - xã hội cấp xã
1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng công chức văn hóa - xã hội cấp xã của một số địa phương
Trang 391.2.1.1 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC văn hóa – xã hội của Lạng Sơn
“Trong thời kỳ hội nhập, để tiếp tục xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đội ngũ những người làm công tác văn hóa
cơ sở đóng một vai trò vô cùng quan trọng Vì vậy, những năm qua, ngành Văn hóa - Thể thao và Du lịch (VH - TT&DL) tỉnh luôn quan tâm thực hiện nhiều giải pháp để phát huy hiệu quả vai trò của đội ngũ cán bộ này”- Ông Nguyễn Phúc Hà, Giám đốc Sở VH - TT&DL cho biết
Cán bộ văn hoá là một trong 7 chức danh cán bộ chuyên môn, nghiệp
vụ cấp xã, phường, thị trấn Theo thống kê của Sở VH-TT&DL, hiện nay, toàn tỉnh có 404 cán bộ, công chức làm công tác văn hóa ở các xã, phường, thị trấn Trong đó, gần 50% cán bộ làm công tác văn hóa có trình độ đại học, cao đẳng theo đúng chuyên ngành (baolangson.vn)
Để phát huy hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở (CBVHCS), hằng năm, Sở VH-TT&DL đều xây dựng và triển khai kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ CBVHCS Các huyện, thành phố thường xuyên đánh giá chất lượng và thực trạng hoạt động của CBVHCS Trên cơ sở đó, Sở VH-TT&DL xây dựng kế hoạch và triển khai các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp
vụ cho cán bộ văn hóa tại các xã, phường, thị trấn; tạo điều kiện cho CBVHCS tham gia học tập nâng cao trình độ; tích cực động viên, khuyến khích các CBVHCS phát huy năng lực để đẩy mạnh các hoạt động văn hóa tại các địa phương…
Bắc Sơn, Hữu Lũng, Tràng Định, Chi Lăng… là các huyện làm tốt công tác văn hóa bởi đã phát huy được vai trò của đội ngũ CBVHCS Cùng với việc bám sát các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, các cán bộ văn hóa căn
cứ tình hình thực tế của địa phương, tích cực lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân tham mưu cho chính quyền các giải pháp đẩy mạnh phong trào văn hóa trong quần chúng nhân dân Các hoạt động bề nổi như: liên hoan thông tin lưu động, hội diễn văn nghệ quần chúng, lễ hội hoặc tổ chức các
Trang 40hoạt động văn hoá – nghệ thuật nở rộ, đáp ứng nhu cầu giao lưu, hội nhập trong thời kỳ đổi mới của đất nước
Khác với Chi Lăng, Bắc Sơn là huyện có tiềm năng du lịch lớn Tại đây CBVHCS đã phát huy tích cực vai trò của mình trong bảo tồn các giá trị văn hóa bản địa, khơi gợi, thúc đẩy những phong trào văn hóa, thể thao, du lịch do ngành và địa phương phát động, tạo nhiều chuyển biến tích cực trong sự phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương Năm 2017, huyện Bắc Sơn đã tổ chức thành công đại hội thể dục thể thao và ngày hội quýt vàng Bắc Sơn…, thu hút hơn 30 ngàn lượt khách du lịch Với thành tích xuất sắc, phòng Văn hóa- Thông tin huyện Bắc Sơn đã được nhận cờ thi đua của Bộ VHTT&DL
Đảm nhiệm công tác văn hóa gần chục năm nay, chị Hoàng Thị Luận, cán bộ văn hóa xã Hữu Liên, Hữu Lũng chia sẻ: “Xã Hữu Liên có trên 90% dân số là đồng bào các dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Dao… nếu không phải là người bản địa, tôi sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong công việc Được sự quan tâm, giúp đỡ của các cấp chính quyền và ngành VH-TT&DL; sự phối hợp tích cực của các ban, ngành, đoàn thể, tôi có điều kiện để phát huy năng lực, tuyên truyền, vận động bà con nâng cao nhận thức và tích cực hưởng ứng các phong trào văn hóa tại cơ sở Đến nay, 12/12 thôn đã có nhà văn hóa, trên 85 % số
hộ gia đình trong xã đạt danh hiệu gia đình văn hóa…”
1.2.1.2 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC văn hóa – xã hội của Nghệ An
Hiện nay, tỉnh Nghệ An có tổng số cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn là trên 10.500 người, trong đó: nam chiếm 72%, nữ là 28%, người dân tộc thiểu số chiếm 23,4%, tôn giáo chiếm 0,6% Về trình độ chuyên môn: đại học trở lên: chiếm 43,9%, trình độ CĐ, trung cấp chiếm 48,8%, sơ cấp chiếm 0,8%, chưa qua đào tạo là chiếm 6,5% Trình độ chính trị: Cao cấp, cử nhân chiếm 1,1%; trung cấp chiếm 45,5%; sơ cấp là 28,0% Riêng 6 chức danh chủ chốt bí thư, phó bí thư, chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND, phó chủ tịch HĐHD,