BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP NGUYỄN VĂN CÔNG HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH “MỖI XÃ, PHƯỜNG MỘT SẢN PHẨM - OCOP” TRÊN ĐỊ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN VĂN CÔNG
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH “MỖI XÃ, PHƯỜNG MỘT SẢN PHẨM
- OCOP” TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÂN ĐỒN,
TỈNH QUẢNG NINH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ NGHÀNH: 8310110
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS.TRỊNH QUANG THOẠI
Hà Nội, 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng đuợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, tháng 5 năm 2020
Người cam đoan
Nguyễn Văn Công
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu chương trình Cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế của Trường Đại học Lâm nghiệp, tác giả đã được các Quý Thầy/cô, gia đình, bè bạn và đồng nghiệp giúp đỡ rất nhiều.Tác giả xin chân thành cảm ơn và gửi lời biết ơn sâu sắc đến quý Thầy/Cô của trường Đại học Lâm Nghiệp đã trang bị cho tác giả những kiến thức quý báu
để hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình
Tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn đếnTS Trịnh Quang Thoại đã dành thời gian, công sức để hướng dẫn nghiên cứu và hoàn thành đề tài Luận
văn “Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm - OCOP”trên địa bàn huyện Vân Đồn,tỉnh Quảng
Ninh”
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm còn hạn chế nên không tránh khỏi những khiếm khuyết của luận văn, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các quý Thầy/Cô, bạn bè và đồng nghiệp để đưa ra được một luận văn hoàn thiện và có ý nghĩa hơn nữa
Hà Nội, tháng 5 năm 2020
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Công
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄNVỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH“MỖI XÃ, PHƯỜNG MỘT SẢN PHẨM - OCOP” 4
1.1 Lý luận chung về chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm - OCOP” 4
1.1.1 Khái niệm chung về đề án, chương trình, dự án 4
1.1.2 Chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” (One Comune One Product of Vietnam, gọi tắt: OCOP) 6
1.1.3 Nội dung về công tác tổ chức thực hiện chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm 11
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai chương trình “mỗi xã, phường một sản phẩm” 13
1.2 Cơ sở thực tiễn về Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” 16
1.2.1 Kinh nghiệm của các nước 16
1.2.2 Kinh nghiệm bước đầu thực hiện Chương trình OCOP của một số địa phương 21
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đặc điểm của huyện Vân Đồn- tỉnh Quảng Ninh 28
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 28
Trang 52.1.2 Địa hình 29
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Vân Đồn 32
2.2 Phương pháp nghiên cứu 41
2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu 41
2.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 42
2.2.3 Hệ thống chỉ tiêu phân tích 43
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
3.1 Thực trạng và định hướng phát triển các sản phẩm cấp tỉnh trên địa bàn huyện Vân Đồn tham gia Chương trình OCOP giai đoạn 2017-2020 44
3.1.1 Hiện trạng phát triển sản phẩmchủ lực trên địa bàn huyện giai đoạn 2017 - 2020 44
3.1.2 Định hướng phát triển chuỗi sản phẩm trên địa bàn huyện giai đoạn 2017-2020 46
3.1.3 Đánh giá kết quả thực hiện chương trình OCOP huyện Vân Đồn giai đoạn 2013 - 2016 47
3.2 Thực trạng công tác triển khai chương trình OCOP trên địa bàn huyện Vân Đồn 54
3.2.1 Kế hoạch thực hiện chương trình mỗi xã, phường một sản phẩm - OCOP giai đoạn 2017 - 2020 trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 54
3.2.2 Thực trạng công tác tổ chức thực hiện chương trình “mỗi xã, phường một sản phẩm - OCOP” giai đoạn 2017 - 2020 trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 64
3.2.3 Kết quả công tác tổ chức thực hiện chương trình OCOP giai đoạn 2017 - 2020 trên địa bàn huyện Vân Đồn 80
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức thực hiện chương trình “mỗi xã, phường một sản phẩm” trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 101
Trang 63.3.1 Đặc điểm nền kinh tế xã hội, vị trí địa lý trên địa bàn 101
3.3.2 Cách thức tổ chức thực hiện 101
3.3.3 Các chính sách và thủ tục hành chính tại địa phương 102
3.3.4 Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của lực lượng cán bộ triển khaichương trình 102
3.3.5 Trình độ nhận thức của người làm ra sản phẩm 103
3.3.6 Nguồn lực về tài chính 103
3.3.7 Áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất sản phẩm 104
3.3.8 Chất lượng sản phẩm OCOP 104
3.4 Đánh giá của người tiêu dùng về chương trình và sản phẩm của chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm - OCOP” giai đoạn 2017 - 2020 trên địa bàn huyện Vân Đồn 104
3.4.1 Về chương trình OCOP 104
3.4.2 Về sản phẩm của chương trình 105
3.5 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 107
3.5.1 Đánh giá chung về công tác tổ chức thực hiện chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 107
3.5.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 108
KẾT LUẬN 110 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Cơ cấu đất đai của huyện Vân Đồn năm 2019 31Bảng 2.2 Giá trị và cơ cấu các ngành kinh tế trên địa bàn huyện Vân Đồn 33Bảng 2.3 Dân số và lao động huyện Vân Đồn 37Bảng 3.1 Thực trạng sản xuất các sản phẩm thuộc danh mục sản phẩm OCOP cấp tỉnh trên địa bàn huyện Vân Đồn năm 2017 44Bảng 3.2 Khả năng phát triển về quy mô, khối lượng sản phẩm cấp tỉnh trên địa bàn huyện Vân Đồn đến năm 2020 47Bảng 3.3 Tổng hợp danh sách sản phẩm và đơn vị sản xuất tham gia chương trình OCOP huyện Vân Đồntính đến đầu năm 2017 52Bảng 3.4 Tình hình triển khai các chính sách hỗ trợ về vốn của các tổ chức kinh tế tham gia chương trình OCOP giai đoạn 2017 -2020 huyện Vân Đồn 76Bảng 3.5 Kết quả bố trí nguồn ngân sách tỉnh thực hiện chương trình OCOP huyện Vân Đồn 80Bảng 3.6 Sản phẩm và tổ chức tham gia chương trình OCOP tính đến năm
2019 huyện Vân Đồn 81Bảng 3.7 Tình hình phát triển tổ chức kinh tế tham gia chương trình OCOP giai đoạn 2017 - 2020 trên địa bàn huyện Vân Đồn 90Bảng 3.8 Tình hình sản xuất kinh doanh các đơn vị tham gia OCOP tính đến tháng 6 năm 2018 91Bảng 3.9 Tình hình phát triển sản phẩm tham gia OCOP huyện Vân Đồn 94Bảng 3.10 Kết quả tổng hợp sản phẩm đề nghị cấp lại chứng nhận đạt sao OCOP huyện Vân Đồn năm 2019 95Bảng 3.11 Kết quả tham gia hội chợ OCOP huyện Vân Đồn 96giai đoạn 2017 - 2020 96Bảng 3.12 Kết quả hỗ trợ kinh phí tham gia hội chợ chương trình OCOP năm
2019 của huyện Vân Đồn 98
Trang 9Bảng 3.13 Danh mục sản phẩm đưa vào tiêu thụ tại siêu thị, trung tâm thương mạithuộc chương trình OCOP huyện Vân Đồn năm 2019 99Bảng 3.14 Kết quả điều tra người tiêu dùng về chương trình OCOP huyện Vân Đồn 105Bảng 3.15 Kết quả đánh giá của người tiêu dùng về sản phẩm OCOP huyện Vân Đồn 106
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Chu trình OCOP thường niên 9Hình 3.1 Quy trình đánh giá sản phẩm OCOP tại cấp huyện 72
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia với 70% dân số sản xuất nông nghiệp, trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc nông nghiệp luôn là ngành đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn nói chung, cả nước nói riêng Phát triển nông nghiệp mạnh, bền vững luôn được Đảng, nhà nước đặt ở vị trí trọng tâm trong chiến lược kinh tế - xã hội Mặt khác, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế cũng như quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại vai trò của nông nghiệp (xét mối tương quan dài hạn giữa nông nghiệp và dịch vụ) có xu hướng giảm sút Hơn nữa sản xuất nông nghiệp ở nước ta đang phải đối mặt với việc sử dụng lãng phí kém hiệu quả, những sản phẩm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chưa đủ sức cạnh tranh với thị trường các hàng hóa sản phẩm ngoại nhập ngày càng phong phú, nhiều sản phẩm nông nghiệp có chất lượng vẫn chưa tìm được chỗ đứng trên thị trường
Chính vì vậy, hiện nay chú trọng phát triển các làng nghề đang là một trong những nội dung của Chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới,
và là mối quan tâm chung của nhiều ngành nhiều địa phương trong cả nước nhằm nâng cao đời sống người dân, những sản phẩm hàng hóa Việt Nam tìm được chỗ đứng trên thị trường thế giới Học tập từ phong trào “mỗi làng nghề một sản phẩm” của Nhật Bản được triển khai từ thập kỷ 70 của thế kỷ trước
đã mang lại nhiều lợi ích cho người dân, đến nay đã có hơn 40 quốc gia học theo và đã triển khai rất thành công mang lại hiệu quả cho kinh tế xã hội và người lao động Nhận thức được tầm quan trọng của chương trình này ngày 22 tháng 10 năm 2013 Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Quyết định số 2870/QĐ -UBND phê duyệt đề án “Tỉnh Quảng Ninh
- mỗi xã, phường một sản phẩm” giai đoạn 2013-2016 Đề án này thực chất là giải pháp để phát triển kinh tế từ các sản phẩm nông nghiệp, tiểu
Trang 12thủ công nghiệp, truyền thống văn hóa, danh thắng các địa phương vốn dĩ
là những tiềm năng lợi thế của các vùng miền chưa được phát huy, khai thác để phát triển kinh tế nâng cao thu nhập cho người dân vùng nông thôn, bảo vệ môi trường và giữ gìn ổn định xã hội Tuy nhiên trên thực tế trong quá trình triển khai dự án còn gặp nhiều khó khăn, nhiều nơi vẫn chưa đạt được hiệu quả, trong đó Huyện Vân Đồn cũng là một trong những địa phương trong Tỉnh triển khai ngay đề án này
Để đánh giá được thực trạng triển khai chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”, những tồn tại hạn chế trong triển khai thực hiện chương trình
để từ đó tìm ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả của chương trình này tại huyện Vân Đồn có ý nghĩa thiết thực trong phát triển nông nghiệp, nông thôn
của huyện Xuất phát từ lý do nêu trên đề tài “Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm – OCOP” trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh”là thực sự cần thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu thực trạng triển khai chương trình “mỗi xã, phường một sản phẩm” (OCOP) trên địa bàn huyện Vân Đồn từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chương trình này trên địa bàn huyện
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chương trình
mỗi xã phường một sản phẩm
- Đánh giá thực trạng triển khai và kết quả thực hiện chương trình: Mỗi
xã phường một sản phẩm - OCOP trên địa bàn huyện Vân Đồn
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức thực hiện chương trình “OCOP“ trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chương trình
“Mỗi xã, phường một sản phẩm“ trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực trạng công tác tổ chức thực hiện chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm - OCOP” trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
4 Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng công tác tổ chức thực hiện chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
- Kết quả của việc thực hiện chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
- Yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức thực hiện chương trình “mỗi
xã, phường một sản phẩm” trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
- Giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện đề án “mỗi xã, phường một sản phẩm” trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
5 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về triển khai chương trình “Mỗi
xã, phường một sản phẩm - OCOP”;
Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu;
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 141.1.1 Khái niệm chung về đề án, chương trình, dự án
- Khái niệm về đề án: là loại văn bản, được xẩy dựng để trình cấp
quản lý cao hơn, hoặc gửi cho một cơ quan tài trợ để xin thực hiện một công việc nào đó như: thành lập một tổ chức; tài trợ cho một hoạt động xã hội, Sau khi đề án được phê chuẩn, sẽ hình thành những dự án, chương trình, đề tài theo yêu cầu của đề án
TrongTài liệu Bộ Tư Pháp, hướng dẫn ban hành văn bản của doanh nghiệp Nhà xuất bản Thống kê (2002, tr.265) thì đề án được định nghĩa: “Đề
án, kế hoạch chương trình công tác (sau đây tạm gọi chung là loại văn bản đề án) là loại văn bản trình bày những kế hoạch dự kiến về một nhiệm vụ công tác được cơ quan, tổ chức giao cho trong một thời gian nhất định”
- Khái niệm về dự án: Dự án là một tập hợp các công việc, được thực
hiện bởi một tập thể, nhằm đạt được một kết quả dự kiến, trong một thời gian
dự kiến với một kinh phí dự kiến
Cũng trong Tài liệu Bộ Tư Pháp, hướng dẫn ban hành văn bản của doanh nghiệp Nhà xuất bản Thống kê (2002, tr.279) thì dự án được định nghĩa viết; “Dự án, đề án: Dự án đề án (gọi chung là dự án) là một tập hợp những
hồ sơ, tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống dự kiến các hoạt động
và chi phí theo một kế hoạch của một công việc nhất định trong sản xuất - kinh doanh của một doanh nghiệp nhằm đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu xác định cho một khoảng thời gian dài nào đó”
+ Phải dự kiến đội hình nguồn nhân lực
Trang 15+ Phải có ngày bắt đầu, ngày kết thúc
+ Phải có ít nhất một con số nói lên kinh phí thực hiện
+ Phải mô tả được rõ ràng kết quả của công việc Sau khi kết thúc công việc phải có được cái gì, với những đặc tính, đặc điểm gì, giá trị sử dụng như thế nào, hiệu quả ra làm sao?
+ Phải có một khoản tiền cấp cho Dự án thực hiện Người hoặc đơn vị cấp tiền là chủ đầu tư
+ Phải có một tổ chức chặt chẽ theo dõi và thu thập mọi thông tin phát sinh trong quá trình thực hiện dự án để giúp cho các cấp lãnh đạo và tổ dự án theo dõi sát sao việc thực hiện dự án
Theo giáo trình quản lý dự án,Viện Công nghệ thông tin - Đại học Quốc gia Hà Nội thì các dự án đều có 4 chu trình, giai đoạn: “xác định và xây dựng dự án, lập kế hoạch, quản lý thực hiện, kết thúc dự án” Công việc trong giai đoạn đầu tiên là nghiên cứu khả thi nhằm xác định rõ các mục tiêu của đề
án nhằm xây dựng bản đề xuất dự án Giai đoạn thứ hai của dự án là lập kế hoạch bắt đầu từ mục tiêu và công việc sau cùng là xác định từng nhiệm vụ phải thực hiện, ước tính thời gian cần thiết để hoàn tất, sắp đặt các nhiệm vụ hợp lý cùng bộ máy nhân sự phù hợp với nhiệm vụ đó Giai đoạn triển khai thực hiện đòi hỏi phải vận dụng tất cả những kỹ năng quản lý truyền thống, cũng như cần kiểm tra và giám sát nghiêm ngặt Điều đó đảm bảo cho dự ánluôn luôn đúng lịch trình, ngân sách và các tiêu chuẩn chất lượng nhất định Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của dự án là nó có tuổi thọ nhất định Dự án sẽ kết thúc sau khi đạt được mục tiêu và chuyển giao cho các thành phần liên quan Nhóm dự án cũng chấm dứt hoạt động, nhưng chỉ sau khi các thành viên đã tổng kết và rút ra được bài học kinh nghiệm
- Khái niệm về chương trình: là một nhóm đề tài hoặc dự án được tập
hợp theo một mục đích xác định Giữa chúng có tính độc lập tương đối cao Tiến độ thực hiện đề tài, dự án trong chương trình không nhất thiết phải giống
Trang 16nhau, nhưng nội dung của chương trình thì phải đồng bộ
Một chương trình thường kéo dài trong một khoảng thời gian dài hơn nhiều so với một dự án Bên cạnh đó, việc quản lý một chương trình liên quan đến những chiến lược mang tính lâu dài mà một dự án có thể không cần đến Các tính chất dài hạn của chương trình cũng đồng nghĩa với việc quản
lý các chương trình bao gồm quá trình cải tiến liên tục
1.1.2 Chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” (One Comune One Product of Vietnam, gọi tắt: OCOP)
1.1.2.1 Quan điểm của Nhà nước
Chương trình OCOP là chương trình phát triển kinh tế khu vực nông thôn theo hướng phát triển nội lực và gia tăng giá trị; là giải pháp, nhiệm vụ trong triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
Trọng tâm của chương trình OCOP là phát triển sản phẩm nông nghiệp, phi nông nghiệp, dịch vụ có lợi thế ở mỗi địa phương theo chuỗi giá trị, do các thành phần kinh tế tư nhân (doanh nghiệp, hộ sản xuất) và kinh tế tập thể thực hiện
Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, ban hành khung pháp lý và chính sách
để thực hiện; định hướng quy hoạch các vùng sản xuất hàng hóa, dịch vụ; quản lý và giám sát tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm; hỗ trợ các khâu: Đào tạo, tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm, tín dụng
1.1.2.2 Mục tiêu của Chương trình OCOP
* Mục tiêu tổng quát:
- Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh (ưu tiên phát triển hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa) để sản xuất các sản phẩm truyền thống, dịch vụ có lợi thế đạt tiêu chuẩn, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, góp phần phát triển kinh tế nông thôn
Trang 17- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập, đời sống cho nhân dân và thực hiện hiệu quả nhóm tiêu chí “Kinh tế và tổ chức sản xuất” trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới
- Thông qua việc phát triển sản xuất tại khu vực nông thôn, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn hợp lý (hạn chế dân di cư ra thành phố), bảo vệ môi trường và bảo tồn những giá trị truyền thống tốt đẹp của nông thôn Việt Nam
* Mục tiêu cụ thể:
- Xây dựng hệ thống quản lý, điều hành chương trình OCOP đồng bộ từ trung ương đến địa phương (tỉnh, huyện, xã);
- Ban hành Bộ tiêu chí, quy trình đánh giá, xếp hạng sản phẩm;
- Ban hành và áp dụng chính sách đồng bộ để thực hiện hiệu quả chương trình OCOP trên phạm vi cả nước;
- Tiêu chuẩn hóa ít nhất 50% số sản phẩm hiện có, tương ứng khoảng 2.400 sản phẩm; củng cố, hoàn thiện tổ chức sản xuất theo hướng liên kết giữa hộ sản xuất với hợp tác xã và doanh nghiệp;
- Triển khai thực hiện từ 8 - 10 mô hình Làng văn hóa du lịch;
- Triển khai xây dựng Trung tâm thiết kế sáng tạo phát triển sản phẩm OCOP gắn với quảng bá, giới thiệu sản phẩm ở những vùng có đủ điều kiện;
- Củng cố, kiện toàn 100% doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia chương trình OCOP;
- Phấn đấu phát triển mới khoảng 500 doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã tham gia chương trình OCOP;
- Đẩy mạnh các chương trình xúc tiến thương mại và quảng bá thương hiệu sản phẩm OCOP;
- Đào tạo, tập huấn kiến thức chuyên môn quản lý sản xuất, kinh doanh cho khoảng 1.200 cán bộ quản lý nhà nước (cấp trung ương, tỉnh, huyện) thực
Trang 18hiện chương trình OCOP và 100% lãnh đạo doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ hộ sản xuất có đăng ký kinh doanh tham gia chương trình OCOP
1.1.2.3 Phạm vi, đối tượng, nguyên tắc thực hiện OCOP
* Phạm vi thực hiện:
- Phạm vi không gian: chương trình OCOP được triển khai ở toàn bộ khu vực nông thôn trong toàn quốc; khuyến khích các địa phương tùy vào điều kiện thực tiễn, triển khai phù hợp ở khu vực đô thị
- Phạm vi thời gian: chương trình OCOP được triển khai thực hiện từ năm 2018 đến năm 2020
* Đối tượng thực hiện:
- Sản phẩm: Gồm sản phẩm hàng hóa và sản phẩm dịch vụ có nguồn gốc từ địa phương, hoặc được thuần hóa, đặc biệt là đặc sản vùng, miền, trên
cơ sở khai thác lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái, văn hóa, nguồn gen, tri thức và công nghệ địa phương
- Chủ thể thực hiện: Các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, các hộ sản xuất có đăng ký kinh doanh
* Nguyên tắc thực hiện:
- Sản phẩm hướng tới tiêu chuẩn chất lượng quốc tế;
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
1.1.2.4 Nội dung của Chương trình OCOP:
- Tuyên truyền, hướng dẫn về OCOP;
- Nhận đăng ký ý tưởng sản phẩm;
- Nhận phương án, dự án sản xuất kinh doanh;
- Triển khai phương án, dự án sản xuất kinh doanh;
- Đánh giá và xếp hạng sản phẩm;
- Xúc tiến thương mại
Chu trình OCOP được thực hiện theo 6 bước, trên cơ sở nguyên tắc
“dân biết, dân bàn, dân làm, dân thụ hưởng” (đề xuất nhu cầu từ dưới lên,
Trang 19theo nhu cầu và khả năng của hộ sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp)
Hình 1.1 Chu trình OCOP thường niên
Phát triển sản phẩm, dịch vụ theo 06 nhóm, bao gồm:
- Thực phẩm, gồm: Nông sản tươi sống và nông sản chế biến
- Đồ uống, gồm: Đồ uống có cồn; đồ uống không cồn
- Thảo dược, gồm: Các sản phẩm có thành phần từ cây dược liệu
- Vải và may mặc, gồm: Các sản phẩm làm từ bông, sợi
- Lưu niệm - nội thất - trang trí, gồm: Các sản phẩm từ gỗ, sợi, mây tre, kim loại, gốm sứ, dệt may, làm đồ lưu niệm, đồ gia dụng
- Dịch vụ du lịch nông thôn, bán hàng, gồm: Các sản phẩm dịch vụ phục vụ tham quan, du lịch, nghỉ dưỡng, giải trí, học tập, nghiên cứu,
Hệ thống quản lý và giám sát sản phẩm, bao gồm:
- Đánh giá và xếp hạng sản phẩm, gồm 05 hạng sao:
+ Hạng 5 sao: Sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế; + Hạng 4 sao: Sản phẩm đạt tiêu chuẩn, có thể nâng cấp để đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế;
Trang 20+ Hạng 3 sao: Sản phẩm đạt tiêu chuẩn, có thể phát triển lên hạng 4 sao; + Hạng 2 sao: Sản phẩm chưa đạt đầy đủ tiêu chuẩn, có thể phát triển lên hạng 3 sao;
+ Hạng 1 sao: Sản phẩm yếu, có thể phát triển lên hạng 2 sao
- Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia chương trình OCOP
- Công tác kiểm tra, giám sát
- Công tác đào tạo nguồn nhân lực:
Đối tượng đào tạo: Cán bộ quản lý triển khai thực hiện chương trình
OCOP từ trung ương đến cơ sở; lãnh đạo quản lý, lao động tại các doanh nghiệp, hợp tác xã, tham gia chương trình OCOP
Nội dung đào tạo, tập huấn: Kiến thức chuyên môn quản lý chương
trình OCOP; kiến thức chuyên môn quản trị sản xuất, quản trị kinh doanh theo Khung đào tạo, tập huấn của chương trình OCOP
Hoạt động xúc tiến thương mại:
Hoạt động xúc tiến thương mại của Chương trình OCOP gồm: Hoạt động quảng cáo, tiếp thị sản phẩm; hoạt động thương mại điện tử; tổ chức sự kiện quảng bá sản phẩm OCOP gắn liền với phát triển du lịch, hội chợ, triển lãm sản phẩm OCOP cấp tỉnh, vùng, quốc gia và quốc tế; xây dựng hệ thống Trung tâm thiết kế sáng tạo phát triển sản phẩm OCOP (Trung tâm OCOP) gắn với hỗ trợ khởi nghiệp và thiết kế mẫu mã sản phẩm OCOP, giới thiệu, quảng bá sản phẩm OCOP; điểm giới thiệu và bán sản phẩm tại các khu du lịch, khu dân cư, tại các siêu thị, chợ truyền thống, trung tâm hành chính (cấp huyện, tỉnh, trung ương)
Các dự án thành phần của chương trình OCOP, bao gồm:
Dự án phát triển thương hiệu sản phẩm chương trình OCOP; Dự án mô hình mẫu làng/bản văn hóa du lịch; Dự án một số vùng sản xuất, dịch vụ nông thôn trọng điểm quốc gia (đại diện cho một số khu vực sinh thái - văn hóa có lợi thế trong cả nước); Dự án Trung tâm thiết kế sáng tạo phát triển sản phẩm
Trang 21OCOP gắn với giới thiệu, quảng bá sản phẩm OCOP tại các vùng trọng điểm; các dự án thành phần (dự án số 2, 3, 4) thực hiện theo hình thức PPP, được triển khai khi cấp có thẩm quyền phê duyệt
Nguồn vốn thực hiện Chương trình OCOP:
- Nguồn vốn thực hiện chương trình OCOP chủ yếu là nguồn xã hội hóa từ: Vốn của các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất tự huy động, vốn vay từ các tổ chức tín dụng, các quỹ đầu tư, quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ
và vừa, quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã, tài trợ của các tổ chức quốc tế,
- Ngoài ra, nguồn vốn ngân sách sẽ hỗ trợ một phần, bao gồm: Ngân sách hỗ trợ thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020, vốn sự nghiệp khoa học và công nghệ, nguồn khuyến công, khuyến nông, các nguồn vốn lồng ghép khác của trung ương và địa phương
1.1.3 Nội dung về công tác tổ chức thực hiện chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm
1.1.3.1 Đặc điểm của việc triển khai chương trình “mỗi xã, phường một sản phẩm”
Điểm cốt lõi của việc triển khai OCOP là mỗi địa phương phải chọn cho mình một sản phẩm đặc biệt nổi trội, có tính cạnh tranh cao nhất so với các địa phương khác, trong đó chính quyền các tổ chức hỗ trợ về chính sách, kỹ thuật, vốn và thị trường nhằm mang lại giá trị gia tăng cao nhất cho sản phẩm
Trong đề án này Nhà nước đóng vai trò tạo ra “sân chơi” bằng cách ban hành các cơ chế chính sách hợp lý để hỗ trợ phát triển như: đào tạo nâng cao kiến thức, hỗ trợ lãi suất tín dụng, đề ra các tiêu chuẩn sản phẩm, quảng
bá và định hướng hình thành lên các kênh phân phối sản phẩm còn người dân đóng vai trò chính trong sân chơi này, họ tự quyết định lựa chọn và phát triển các sản phẩm gì có lợi thế cạnh tranh của địa phương mình, đồng thời
Trang 22phải làm sao để các sản phẩm đó có chất lượng tốt nhất theo đúng quy chuẩn đáp ứng nhu cầu của thị trường
1.1.3.2 Vai trò của việc triển khai đề án “mỗi xã, phường một sản phẩm”
Đề án OCOP triển khai nhằm thực hiện việc phát triển hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh các sản phẩm truyền thống, có lợi thế ở khu vực nông thôn góp phần tái cơ cấu vùng nông thôn Quảng Ninh theo hướng phát triển sản xuất, tăng giá trị sản xuất
Thực hiện có hiệu quả nhóm tiêu chí “Kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất” trong Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Thông qua việc phát triển sản xuất tại các địa bàn nông thôn góp phần hạn chế việc giảm dân số nông thôn di cư ra thành phố, bảo vệ môi trường và gìn giữ ổn định xã hội
1.1.3.3 Vai trò và nội dung quản lý nhà nước và chính quyền các cấp đối với việc xây dựng, triển khai, đánh giá kết quả đề án OCOP
Nhà nước có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện đề án, xây dựng quy chế tổ chức và phân công trách nhiệm cho ban điều hành phối hợp với các sở ban ngành để đề án thực hiện hiệu quả
Nghiên cứu ban hành và triển khai các chính sách hỗ trợ triển khai đề
án tại địa phương, phân bổ các nguồn lực thực hiện đề án trong phạm vi của địa phương
Phối hợp tham gia tuyên truyền về đề án qua hệ thống của địa phương,
tổ chức cách thi sản phẩm để qua đó nâng cao được chất lượng sản phẩm
- Thường xuyên kiểm tra, giám sát, đôn đốc các địa phương về công tác thực hiện triển khai đề án
Tổ chức tổng kết, đánh giá thực hiện theo hàng quý, năm để qua đó đúc rút kinh nghiệm có những hướng điều chỉnh cụ thể để thực hiện hiệu quả mục tiêu của đề án
Trang 231.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai chương trình “mỗi xã, phường một sản phẩm”
1.1.4.1 Nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến việc triển khai đề án OCOP
Đặc điểm nền kinh tế - xã hội trên địa bàn
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của từng vùng khi triển khai một dự án nào đó cần chú trọng đến yếu tố kinh tế xã hội của địa bàn nơi triểnkhai dự án, cần đánh giá đúng và đầy đủ tình hình của địa bàn qua đó mới có thể lập kế hoạch triển khai dự án từ vốn, nguồn nhân lực, khoa học kỹ thuật, đến việc phát triển Do vậy, đây chính là một trong những nhân tố bên ngoài tác động trực tiếp đến việc triển khai đề án “mỗi xã, phuờng một sản phẩm”
Đặc điểm về địa hình, vị trí địa lý
Điều kiện về đặc điểm địa hình của địa bàn nghiên cứu là nhân tố bên ngoài và có vai trò ảnh huởng đến việc triển khai các dự án Nếu địa hình thuận lợi thì vì phát triển kinh tế - xã hội cũng gặp nhiều yếu tố thuận lợi, từ
đó các doanh nghiệp cũng nhu nguời nông dân sẽ đuợc tiếp cận với các khoa học kỹ thuật hiện đại việc tìm đầu ra cho các sản phẩm đuợc dễ dàng hơn
1.1.4.2 Các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến việc triển khai đề án
Các chính sách của nhà nước, các thủ tục hành chính tại địa phương Những văn bản chính sách nhà nuớc và các thủ tục hành chính tại địa
phuơng có tác động trực tiếp tới quyền lợi của nguời lao động, các doanh
Trang 24nghiệp trên địa bàn, văn bản chính sách càng quy định rõ ràng, thủ tục hành chính càng nhanh gọn thì việc triển khai đề án tới các hộ nông dân, doanh nghiệp càng thuận lợi và dễ dàng hơn
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của lực lượng cán bộ triển khai đề án Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu đối với nguời làm công tác thực hiện
triển khai các chuơng trình dự án của nhà nuớc với mục tiêu lâu dài phát triển kinh tếxã hội đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn cao nắm bắt tốt nhu cầu của nguời dân, kỹ năng giao tiếp tốt, biết ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác là những yêu cầu cần thiết Đây cũng là nhân tố quan trọng đến chất luợng của chuơng trình, đề án
Trình độ nhận thức của người làm ra sản phẩm
Trình độ nhận thức là một trong những nhân tố quan trọng ảnh huởng đến việc triển khai đề án Nguời lao động cùng các doanh nghiệp cần có trình
độ nhận thức nhất định về chính sách, thủ tục hành chính, biết áp dụng khoa học kỹ thuật thực tế tiếp nhận những tiến bộ của khoa học để nâng cao chất luợng sản phẩm dịch vụ, phối hợp cùng với lực luợng cán bộ chuyên môn để đạt hiệu quả tối đa cho chuơng trình, đề án
Nguồn lực về tài chính
Một yếu tố khác phải kể đến là điều kiện vật chất, tài chính vì nó góp phần hỗ trợ cho hoạt động đuợc tốt hơn Phuơng tiện, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động triển khai các chuơng trình, đề án không tốt không thuận lợi thì
sẽ gặp nhiều khó khăn trong công việc Với nguồn lực về tài chính hạn hẹp thì khi triển khai đề án sẽ gặp khó khăn trong việc nghiên cứu các sản phẩm, áp dụng khoa học kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất, giúp doanh nghiệp cùng các hộ sản xuất sản phẩm tiếp cận và chuyển giao các kỹ thuật sản xuất để phát triển
và tìm đầu ra cho sản phẩm của mình
Ngoài ra với nguồn tài chính giúp xây dựng các chuơng hội thảo, tổ chức hội chợ giới thiệu sản phẩm, địa điểm trung bày mô hình sản phẩm để
Trang 25duy trì và phát triển tốt chuơng trình qua đó xây dựng thuơng hiệu cho các sản phẩm của tỉnh nhà
Áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất sản phẩm
Hiện nay phuơng thức chuyển giao KHCN đến doanh nghiệp và hộ sản xuất đuợc áp dụng phổ biến là tổ chức điều tra mô hình sản xuất có hiệu quả trên địa bàn tỉnh để nhân rộng những mô hình này Đồng thời, xây dựng mô hình trình diễn ứng dụng KHCN để phổ biến cho người dân học hỏi, làm theo Đây cũng chính là con đường ngắn nhất đưa kết quả nghiên cứu từ các cơ sở nghiên cứu đến thực tiễn sản xuất Qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất cả về chất lượng lẫn số lượng, dần dần thay đổi cách sản xuất thủ công, thiếu chuyên nghiệp của người lao động
Chất lượng sản phẩm
Trong hoạt động kinh tế, chất lượng sản phẩm được coi là điểm xuất phát của mọi quá trình sản xuất kinh doanh Chất lượng sản phẩm trở thành mục tiêu quan trọng của mọi thành phần kinh tế và của các quốc gia trên thế giới
Nâng cao chất lượng sản phẩm OCOP giúp cho đơn vị sản xuất có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường, mở rộng thị trường tiêu thụ và chinh phục được khách hàng, tạo ra uy tín, danh tiếng cho đơn vị sản xuất, đó là tài sản
vô hình thu hút khách hàng, tăng doanh thu, phát triển và mở rộng sản xuất
Đối với xã hội thì việc tạo ra sản phẩm OCOP có chất lượng cao đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ làm tăng giá trị sử dụng và lợi ích của xã hội trên một đơn vị chi phí đầu vào, giảm lượng nguyên vật liệu sử dụng, giảm ô nhiễm môi trường, góp phần phát triển sản xuất, đảm bảo việc làm, thu nhập cho người lao động
Tóm lại việc triển khai đề án cần sự hỗ trợ, hợp tác từ hai phía: doanh nghiệp, hộ sản xuất cùng với cán bộ triển khai đề án, chính quyền địa phương
để đề án có thể triển khai thuận lợi và đạt hiệu quả cao
Trang 261.2 Cơ sở thực tiễn về Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm”
1.2.1 Kinh nghiệm của các nước
1.2.1.1 Nhật Bản - Đất nước khởi xướng
Cho đến cuối những năm 70 của thế kỷ 20, Nhật Bản cơ bản đã thực hiện xong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Các ngành công nghiệp được hình thành và phát triển mạnh mẽ ở khu vực thành phố thu hút người lao động từ các vùng nông thôn Lao động trẻ trụ lại tìm việc làm ở các thành phố và trung tâm công nghiệp lớn Khu vực nông thôn: dân số sụt giảm, các căn nhà bị bỏ hoang do không có người ở, nông nghiệp bị đình đốn
do không có người làm
Đứng trước tình hình đó, ngay sau khi đắc cử vào chức vụ người đứng đầu chính quyền tỉnh Oita, ông Morihiko Hiramatsu đã tìm cách khôi phục nền kinh tế của “mảnh đất trù phú” này Ông đã cho thi hành “Kế hoạch chính sách công nghệ”(Technopolis Plan) và “Kế hoạch chính sách biển”(Marinoplis Plan) Tuy nhiên hai kế hoạch này không thành công
Để giải quyết vấn đề cấp bách khi đó là phải cải thiện đời sống của cư dân nông thôn trong điều kiện khó khăn về kinh phí trợ cấp của Trung ương, đồng thời tổng kết thực tiễn phát triển nông thôn ở một số địa bàn trong tỉnh
Từ đó, ông Morihiko Hiramatsu đã đề xuất thực hiện phong trào “Mỗi làng,
một sản phẩm” trên địa bàn tỉnh Mục tiêu ban đầu của phong trào này là
khuyến khích người dân nông thôn làm sống lại các giá trị tốt đẹp của quê hương mình, qua đó làm tăng thu nhập và cải thiện bộ mặt nông thôn Tuy nhiên, mục tiêu sâu xa hơn chính là thông qua các hoạt động này, tạo sức
“quyến rũ” của khu vực nông thôn, hạn chế sự di dân tự do ra các thành phố
và khu công nghiệp lớn trong cả nước, xây dựng nguồn nhân lực đủ mạnh thực hiện công cuộc CNH - HĐH khu vực này trong tương lai, đồng thời tạo
ra sự chuyển dịch để đạt đến sự cân bằng về kinh tế cũng như về xã hội giữa vùng nông thôn của địa phương với các thành phố lớn, giảm sự phụ thuộc về
Trang 27kinh tế và ngân sách vào chính quyền Trung ương
Nhằm thực hiện các mục tiêu này, hàng loạt vấn đề được đề cập và giải quyết một cách triệt để như việc xây dựng các nguyên tắc hoạt động của phong trào, vấn đề về tổ chức sản xuất sản phẩm, tổ chức mạng lưới quảng bá
và tiêu thụ sản phẩm, phân phối lợi ích… Song song với đó là việc tái tạo và làm sống lại các giá trị văn hóa, lịch sử, truyền thống của địa phương Đưa các giá trị này vào giáo dục trong các trường học để nâng cao lòng tự hào đối với quê hương của thế hệ trẻ
Chỉ tính trong hai thập kỷ (từ 1979 - 1999), phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm” của Nhật Bản đã đạt được những thành công vang dội trong quá trình phát triển nông thôn, thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị cả
về kinh tế, văn hóa và lối sống Phong trào này đã gắn kết được các hoạt động sản xuất nông nghiệp với chế biến nông sản, tạo ra nhiều công ăn việc làm, tăng giá trị gia tăng trong các sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, từ đó làm tăng thu nhập cho người dân nông thôn Số lượng sản phẩm thủ công được làm và bán ra tăng từ 143 loại sản phẩm, thu nhập 35,9 tỷ Yên Nhật khi phong trào mới bắt đầu lên 336 loại sản phẩm và cho thu nhập 141 tỷ Yên Nhật vào năm 2001 Nhiều nghề truyền thống tưởng như đã bị mai một được khôi phục lại, nhiều nghề mới được phát triển Nhiều hoạt động ở địa phương
đã được tổ chức để tôn vinh “giá trị của làng” và tiêu thụ sản phẩm như hoạt động “Mỗi làng, một hội chợ”, “Mỗi cửa hàng, một báu vật”… Các mặt hàng nông sản phổ biến của địa phương từ chỗ ít được biết đến ngay trên thị trường nội địa như nấm khô, rượu cất sochu từ lúa mạch, cam, chanh… đã trở nên phổ biến và có giá trị bán khá cao Nấm khô Shiitake từ 1% đã tăng lên 32%; rượu sochu từ 1% tăng lên 30,7% thị phần của thị trường nội địa; chanh Kabosu từ tỉnh Oita (vùng cực Nam của Nhật Bản) đã có mặt hàng ngày ở Hockaido (vùng cực Bắc của Nhật Bản)
Tính riêng Quận Oita, doanh thu từ các loại sản phẩm của Phong
Trang 28trào “Mỗi làng, một sản phẩm” tăng từ 330 triệu USD năm 1980 lên 1.300 triệu USD năm 2001.Thu nhập bình quân đầu người của Quận Oita từ 12.300 USD/người/năm (năm 1979), tăng lên 26.100 USD/người/năm (năm 2000) Thu nhập này tương đương với thu nhập tính theo đầu người của người dân Mỹ Cũng nhờ sự phát triển của Phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm”, nguồn nhân lực của Quận Oita đã được nâng cao, cơ sở hạ tầng và du lịch phát triển mạnh mẽ, tạo điều kiện thu hút đầu tư từ các công ty lớn như Toyota, Canon, Toshiba…
Thành công của Phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm” ở Quận Oita nói riêng và ở Nhật Bản nói chung là phải làm sao cho mỗi người dân ở địa phương đều có thể tham gia một cách tự nguyện vào phong trào này với tư cách là chủ nhân của các hoạt động Chính quyền địa phương chỉ đóng vai trò trợ giúp cho những nỗ lực, cố gắng của người dân chứ không phải là hướng dẫn hoặc ra mệnh lệnh cho họ
1.2.1.2 Thái Lan
Vốn là một nước nông nghiệp truyền thống, Thái Lan thực hiện chương trình Phát triển vùng nông thôn từ 01-10-1962 với mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng người Thái và tạo điều kiện để người dân tự vươn lên giúp chính mình Đến nay, mặc dù công nghiệp và dịch vụ đóng vai trò chính song ngành nông nghiệp đã đạt được những tiến bộ tích cực, là một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới và ngành nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ phát triển dịch vụ và công nghiệp hiện nay
Chìa khóa thành công của Chương trình Phát triển vùng nông thôn trong hơn một thập kỷ gần đây của Thái Lan là Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (One Tambon One Product), gọi tắt là OTOP do nguyên Thủ tướng Thaksin Shinawatra khởi xướng năm 2001 mà ông học từ Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” (One village, One product Movement) của tỉnh Oita (Nhật Bản) nhằm khuyến khích phát triển kinh tế trong nước thông qua
Trang 29nhân tố phát triển con người, phát triển cộng đồng là chính trên nền tảng phát triển nền kinh tế cơ sở (xây dựng, phát triển và tái cấu trúc các hộ, nhóm, cơ
sở sản xuất, doanh nghiệp, hợp tác xã)
Mục tiêu tổng thể của OTOP ở Thái Lan là: Xây dựng xã, cộng đồng vững mạnh; phát triển tự lực của nhân dân; xây dựng gia đình hạnh phúc và
có chất lượng Cụ thể hơn là: Tạo công ăn việc làm cho cộng đồng dân cư; xây dựng xã, cộng đồng vững mạnh; phát triển trí tuệ, truyền thống địa phương; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực và thúc đầy sự sáng tạo của cộng đồng
Để triển khai OTOP, Chính phủ Thái Lan thành lập Ủy ban OTOP Quốc gia do Thủ tướng đứng đầu cùng với các bộ, ngành liên quan Cơ quan điều hành do Phó Thủ tướng phụ trách và Cơ quan thường trực được giao cho Cục phát triển cộng đồng, Bộ Nội vụ đảm nhiệm Hệ thống OTOP cấp Trung ương gồm các Ban (bộ phận): Maketing, thực phẩm và đồ uống, vải và may mặc, nội thất, trang trí và lưu niệm, thảo dược, tiểu ban OTOP vùng và tiểu ban OTOP cấp tỉnh Ở cấp tỉnh và huyện có Ủy ban OTOP do Phó tỉnh, huyện trưởng phụ trách và có bộ phận giúp việc chuyên trách, tham gia ở cấp tỉnh và huyện đóng vai trò quan trọng là các cơ quan nghiên cứu như các trường đại học, viện nghiên cứu… Ngân sách cho OTOP gồm: Ngân sách Chính phủ, các quỹ đầu tư, các tổ chức tài chính và các quỹ của cộng đồng
Để triển khai chương trình, Chính phủ dành thời gian năm đầu tiên (năm 2001) để thống nhất phân công nhiệm vụ các bộ, ngành Năm thứ hai (2002) các bộ, ngành, cơ quan thường trực nghiên cứu, xây dựng quy trình, chu trình, cách thức triển khai OTOP Nhiệm vụ chính của OTOP được đề ra là: Thúc đẩy và hỗ trợ sức mạnh của cộng đồng; phát triển sự hiểu biết và tư duy; xây dựng, tổ chức hệ thống quản lý sự sáng tạo của cộng đồng Trên cơ
sở đó các quy chuẩn, hệ thống của OTOPđược xây dựng gồm:Maketing, hệ
Trang 30thống tiêu chuẩn, logistics, mạng lưới bán hàng, lao động, phát triển sản phẩm, nguyên liệu được thực hiện khép kín và có sự phối hợp chặt chẽ trong chuỗi sản xuất
Nguyên tắc của OTOP được giữ vững theo nguyên tắccủa Phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm” của Nhật Bản, là: Hành động tại địa phương nhưng tư duy hướng đến toàn cầu hóa; tự tin, sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực
Trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc và hệ thống tổ chức đã được xây dựng, chương trình OTOP hàng năm được triển khai thực hiện theo chủ
đề công tác trọng tâm theo chiều hướng phát triển tư duy, trình độ sản xuất và
sự phát triển của chương trình
Các sản phẩm của OTOP khi thi đạt giải được xếp hạng từ 1 đến 5 sao Sản phẩm OTOP được chia làm 4 cấp: Sản phẩm có chất lượng cao (cấp A-Best, 5 sao) phục vụ cho xuất khẩu Sản phẩm có chất lượng (cấp B-Identity) tiêu dùng nội địa Sản phẩm đạt tiêu chuẩn (cấp C-Standrad) tiêu dùng nội địa, hoặc trong vùng, trong tỉnh Sản phẩm chất lượng thấp (cấp D-Develop,
từ 1-2 sao) cần tiếp tục nghiên cứu phát triển Như vậy, nhà sản xuất không đi vào ngõ cụt mà tiếp tục có cơ hội nâng cấp phát triển sản phẩm của mình cho chu kỳ mới tiếp theo
Định vị chính cho Chương trình OTOP là sản phẩm, do vậy mọi hoạt động đều hướng đến phát triển sản phẩm một cách hoàn thiện nhất, như: Nghiên cứu và phát triển sản phẩm, định vị sản phẩm, xây dựng câu chuyện cho sản phẩm, maketing và bao bì đóng gói sản phẩm, đổi mới sản phẩm và xây dựng thương hiệu
Qua hơn 12 năm hoạt động, yếu tố thành công của chương trình OTOP của Thái Lan được rút ra là: Nguồn lực xã hội và trí tuệ nhóm, địa phương; cam kết của Chính phủ được thể hiện bằng chương trình nghị sự, chính sách, ngân sách chính thức; hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan; sự tham gia của nhân dân, cộng đồng; chính sách nhất quán và tập trung cho phát
Trang 31triển kinh tế cơ sở (phát triển HTX và doanh nghiệp, hộ sản xuất); bộ máy thực hiện chương trình đầy đủ và có đủ thẩm quyền; sự hiểu biết cơ bản về phát triển sản phẩm; thương hiệu OTOP
Điều quan trọng nhất là: Coi sản phẩm là trung tâm cốt lõi, trong đó chú trọng việc thiết kế bao bì, đóng gói sản phẩm; chương trình đào tạo cho lãnh đạo và nhân viên của doanh nghiệp, HTX; thiết kế website bán hàng
và ứng dụng công nghệ; ứng dụng KHCN trong nghiên cứu phát triển và tiêu chuẩn hóa sản phẩm
Để có sự thành công của Chương trình OTOP, ngoài vai trò chính về chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhất quán, xuyên suốt của Chính phủ Thái Lan là sự vào cuộc tích cực với tư duy sản xuất hàng hóa hướng đến xuất khẩu, sự chịu khó học hỏi, tiếp cận kinh tế thị trường, hợp tác sản xuất của người dân, của chủ doanh nghiệp, HTX Chương trình OTOP ở Thái Lan đã và đang có vai trò quan trọng, là mấu chốt trong phát triển kinh tế - xã hội vùng nông thôn và đóng góp tích cực cho phát triển ngành dịch vụ, du lịch của Thái Lan hiện nay
1.2.2 Kinh nghiệm bước đầu thực hiện Chương trình OCOP của một số địa phương
1.2.2.1.Tỉnh Hà Tĩnh
Thực hiện Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 07/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình Mỗi xã một sản phẩm, trên cơ sở hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và đúc rút kinh nghiệm ở các nước Nhật Bản, Thái Lan, các địa phương trong nước đã triển khai thực hiện Chương trình (Quảng Ninh, Bắc Giang ), Hà Tĩnh đã ban hành
Đề án “Mỗi xã một sản phẩm” giai đoạn 2018-2020, định hướng đến năm 2030 tại Quyết định số 3292/QĐ-UBND ngày 01/11/2018 Qua hơn 01 năm triển khai thực hiện, Chương trình đã có những thành công bước đầu, tạo sức lan tỏa rộng rãi; các sản phẩm tham gia chương trình phát triển tốt và có nhiều chuyển biến rõ rệt về chất lượng cũng như mẫu mã, hệ thống nhận diện thương hiệu
Trang 32Đến nay, đã có 140 sản phẩm của các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ sản xuất đăng ký tham gia Chương trình và đã có 72 sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP, cao gấp 2,9 lần kế hoạch 2019 (25 sản phẩm), trong đó có 3 sản phẩm đạt tiêu chuẩn 4 sao, 69 sản phẩm đạt tiêu chuẩn 3 sao
Xác định thực hiện Chương trình OCOP là giải pháp quan trọng để thực hiện mục tiêu cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, gia tăng giá trị sản xuất và thực hiện Chương trình nông thôn mới, Tỉnh đã tập trung quán triệt, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc Ban chỉ đạo Chương trình Mỗi xã một sản phẩm các cấp do đồng chí Bí thư cấp ủy làm Trưởng Ban; Văn phòng điều phối nông thôn mới là cơ quan tham mưu điều phối thực hiện Chương trình (đảm bảo khâu nối, phối kết hợp các sở ngành theo các nhóm sản phẩm); thành lập phòng OCOP tại Văn phòng nông thôn mới tỉnh
Công tác tuyên truyền được đẩy mạnh nhằm nâng cao nhận thức cho cộng đồng, cho Cấp ủy, Chính quyền các cấp, đặc biệt là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu để thống nhất trong nhận thức và hành động Đây là vấn đề rất quan trọng, bởi nếu không hiểu, không nhận thức đầy đủ sẽ dễ chệch hướng, nóng vội… dẫn đến rất dễ mất phong trào Bước đầu nhận thức của người dân còn chưa rõ nên cán bộ các cấp và đơn vị tư vấn OCOP tham gia
hỗ trợ trong quá trình thực hiện nhưng đảm bảo luôn bám sát chu trình thường niên và tuyệt đối không được làm thay, áp đặt ý chí chủ quan cho người dân, cộng đồng
Thực hiện theo chu trình thường niên, trên cơ sở đề xuất của các tổ chức, cá nhân đăng ký tham gia Chương trình OCOP, Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh phối với với các địa phương, đơn vị liên quan tổ chức xét chọn các ý tưởng tốt, sản phẩm tiềm năng, đủ điều kiện tham gia Chương trình Các chủ thể có sản phẩm sau khi được lựa chọn tham gia Chương trình OCOP đã được tập huấn về tổ chức sản xuất, quản lý chất lượng sản phẩm,
Trang 33xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại, hạch toán kinh doanh ; được tổ chức tham quan, học tập kinh nghiệm tại các địa phương trong và ngoài tỉnh
Với phương châm “Chất lượng làm nên thương hiệu”, công tác quản lý chất lượng luôn được Hà Tĩnh quan tâm cao trong chỉ đạo thực hiện Chương trình Tỉnh đã ban hành quy chế quản lý, hàng hóa, sản phẩm tham gia Chương trình Mỗi xã một sản phẩm và thường xuyên kiểm tra, giám sát hướng dẫn các chủ thể trong quá trình thực hiện, nhất là các vấn đề về quản lý chất lượng sản phẩm, an toàn vệ sinh thực phảm, quản lý nguyên liệu đầu vào, liên kết sản xuất, Đặc biệt các sản phẩm tham gia chương trình OCOP đều được truy xuất nguồn gốc thông qua quét mã QR ứng dụng trên tất, đảm bảo công khai thông tin về sản phẩm cho người tiêu dùng hiểu rõ về nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm
Bên cạnh đó, tỉnh cũng đã ban hành chính sách thực hiện Chương trình OCOP đồng bộ, hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất Tùy theo tính chất, mức độ yêu cầu của quá trình sản xuất, kinh doanh, các sản phẩm tham gia Chương trình được hỗ trợ từ lập quy hoạch chi tiết; chuyểngiao công nghệ, trang thiết bị; xây dựng thương hiệu, công bố chất lượng, truy xuất nguồn gốc sản phẩm; bảo quản và tiêu thụ sản phẩm; đào tạo nguồn nhân lực; thưởng cho các tổ chức, cá nhân có sản phẩm đạt 3-5 sao Trong năm 2019, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng tỉnh đã bố trí 57 tỷ đồng để thực hiện Chính sách Chương trình OCOP; đã tạo động lực mạnh mẽ, nâng đỡ cho các nỗ lực của cộng đồng, huy động cao, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
Trong công tác đánh giá phân hạng sản phẩm, trên cơ sở Bộ Tiêu chí đánh giá, phân hạng sản phẩm Chương trình OCOP được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 1048/QĐ-TTg ngày 21/8/2019, tỉnh đã xây dựng phần mềm chấm đánh giá, phân hạng sản phẩm hoạt động trên máy tính và smartphone rất dễ sử dụng, thuận lợi, đảm bảo chính xác Các thành viên hội đồng được cấp tài khoản, mật khẩu để chấm điểm độc lập và phần
Trang 34mềm sẽ tổng hợp kết quả chấm điểm sản phẩm thông qua điểm của từng thành viên Sau khi các sản phẩm được Hội đồng đánh giá vòng 1 đạt từ 50 điểm trở lên, tỉnh sẽ tiến hành lấy mẫu sản phẩm để xét nghiệm độc lập trước khi trình UBND tỉnh công nhận đạt tiêu chuẩn OCOP Trong năm
2019, Hội đồng đánh giá cấp tỉnh đã thực hiện chấm điểm, phân hạng 2 đợt; quá trình đánh giá được cộng đồng, các cơ sở sản xuất, các cơ quan báo chí tham dự và được phát trực tiếp thông qua mạng xã hội đảm bảo kết quả được công khai, minh bạch
Bên cạnh những kết quả thành công bước đầu, trong quá trình thực hiện Chương trình vẫn còn có một số tồn tại, hạn chế, như: Quy mô, năng lực quản trị các tổ chức kinh tế tham gia chương trình OCOP còn nhỏ và yếu, thiếu kiến thức về kinh tế thị trường và phát triển sản phẩm theo chuỗi giá trị Sự hiểu biết của cán bộ cấp huyện, xã và chủ thể sản xuất về quản lý chất lượng sản phẩm còn đang hạn chế, nhiều nội dung đang còn phụ thuộc vào tư vấn Một số sản phẩm chủ lực của tỉnh đang còn khó khăn trong công nghệ chế biến, bảo quản để nâng cao giá trị và kéo dài thời gian tiêu thụ nhưng chưa có giải pháp
1.2.2.2 Tỉnh Sơn La
Từ năm 2017, tỉnh Sơn La đã tập trung triển khai chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” gắn với chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Với mục tiêu nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa chất lượng cao mang tính đặc trưng, lợi thế của mỗi vùng miền Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng hiệu quả, bền vững Tuy mới ở giai đoạn đầu triển khai thực hiện chương trình “mỗi xã một sản phẩm” song ở mỗi địa phương đang có những cách làm phù hợp, bước đầu khai thác hiệu quả tiềm năng lợi thế đẩy mạnh phát triển kinh tế vùng nông thôn và nâng cao thu nhập cho người dân
Trang 35Sau 2 năm triển khai chương trình “Mỗi xã một sản phẩm”, đến nay 11/11 huyện, thành phố của Sơn La đã có sản phẩm đặc trưng riêng Qua rà soát của các địa phương có nhiều sản phẩm mang tính đặc trưng vùng miền Hiện cả tỉnh có gần 200 loại sản phẩm lợi thế có giá trị kinh tế; năm 2019 đã
có 28 sản phẩm OCOP (trong đó có 9 sản phẩm đạt 4 sao và 19 sản phẩm đạt
3 sao)như: Cá tép dầu khô ở Quỳnh Nhai; Măng trúc muối ớt, Trà xanh mây ở Bắc Yên; Gạo nếp tan Mường Và ở Sốp Cộp; Xoài sấy dẻo, Chuối sấy giòn Yên Châu; Mận sấy gừng, Mận sấy mật ong, Mận sấy thảo dược, Hồng giòn sấy dẻo, Chuối sấy dẻo, Mận hậu sấy, Xoài sấy dẻo, Rượu trưởng bản, Rượu mận, Rượu mơ, Chè bát tiên đặc biệt, Chè Shan đặc biệt ở Mộc Châu; Long nhãn sấy khô Sông Mã; Tỏi đen, Tỏi khô Phù Yên; Thịt trâu hun khói, Cà phê bột nguyên chất, Trà quả cà phê, Mật ong ở thành phố Sơn La; Tinh dầu xả ở Mường La; Long nhãn sấy khô ở Mai Sơn; Chè Trọng Nguyên ở Thuận Châu Đến nay đã có 18 sản phẩm mang địa danh của tỉnh được cấp văn bằng bảo hộ
và đã có thương hiệu, cụ thể: Có 03 sản phẩm chỉ dẫn địa lý: chè Shan tuyết Mộc Châu, quả xoài tròn Yên Châu, Cà phê Sơn La; 13 nhãn hiệu chứng nhận: Chè Olong Mộc Châu, chè Phổng Lái Thuận Châu, rau an toàn Mộc Châu, Nếp Mường Và Sốp Cộp, Cá tầm Sơn La, Cá sông Đà Sơn La, Cam Phù Yên, Nhãn Sông Mã, Khoai sọ Thuận Châu, Táo Sơn tra Sơn La, Na Mai Sơn, Bơ Mộc Châu, Chuối Yên Châu; 02 nhãn hiệu tập thể: chè Tà Xùa và mật ong Sơn La
Hiện nay, tỉnh Sơn La đang triển khai các quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp tập trung như: Vùng trồng cà phê, vùng sản xuất chè, vùng sản xuất rau an toàn, trồng cây ăn quả sạch, nuôi cá tầm vùng lòng hồ sông Đà… Đồng thời, ban hành các cơ chế chính sách khuyến khích, thu hút các doanh nghiệp, HTX, các hộ gia đình đầu tư sản xuất lĩnh vực nông nghiệp, liên kết sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm, tạo chuỗi giá trị bền vững, phát triển kinh tế khu vực nông thôn, cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp, thực hiện hiệu
Trang 36quả mục tiêu xây dựng nông thôn mới
Ngoài ra, trong bối cảnh Chính phủ đẩy mạnh chương trình Đổi mới sáng tạo, đặt doanh nghiệp, các nhà sản xuất vào vị trí trọng tâm nền kinh
tế thì bằng việc tham gia thực hiện hiệu quả Chương trình khoa học công nghệ phục vụ xây dựng Nông thôn mới đã đóng góp thiết thực cho Chương trình mục tiêu tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phòng, chống giảm nhẹ thiên tai, ổn định đời sống dân cư Có thể nói, thời điểm hiện nay, nền nông nghiệp Sơn La nói chung và Chương trình OCOP nói riêng đang có cơ hội lớn là sự lan tỏa của cuộc “Cách mạng Công nghiệp 4.0” mà Việt Nam chúng ta cũng đang nhận diện rõ “Nông nghiệp 4.0”, “Nông nghiệp bền vững, công nghệ cao”, “Nông nghiệp hữu cơ” và bước đi, giải pháp khoa học thực hiện trong bối cảnh mới
Hội nhập thị trường thế giới trong không gian cuộc “Cách mạng công nghệ 4.0” thì OCOP Sơn La đang có cơ hội để vươn mình mạnh mẽ bay vào thị trường không những trong nước mà cả thế giới Tận dụng thời cơ của 2 yếu tố này mang lại, với những hoạch định vững chắc hiện nay, OCOP Sơn
La có triển vọng làm nên những kết quả vượt hơn mong đợi
Vì vậy trong thời gian tới Tỉnh Sơn La cần đẩy mạnh công tác truyên truyền, truyền thông đến tất cả các cấp, các ngành, các chủ thể kinh tế và nhân dân về tầm quan trọng và ý nghĩa của Chương trình OCOP Tổ chức tập huấn cho cán bộ quản lý, triển khai thực hiện chương trình Xây dựng hệ thống chỉ đạo, thực hiện Chương trình OCOP từ tỉnh đến cơ sở và Văn phòng Điều phối NTM các cấp có bộ phận chuyên trách triển khai Chương trình OCOP Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, chế biến nguyên liệu và quản lý chất lượng sản phẩm; phát triển sản phẩm gắn với tiêu thụ, đào tạo nguồn nhân lực; đặc biệt, phát huy được tính sáng tạo của các tổ chức kinh tế, cộng đồng dân cư trong thực hiện chương trình Huy động có hiệu quả nguồn lực từ cộng đồng, các tổ chức kinh tế để thực hiện chương trình Đẩy mạnh
Trang 37đổi mới và phát triển các HTX nông nghiệp, hỗ trợ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, HTX, cơ sở, làng nghề xây dựng thương hiệu sản phẩm, xây dựng chỉ dẫn địa lý, đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, xây dựng thương hiệu hàng hóa nông sản Sơn La Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm OCOP cấp tỉnh và cấp quốc gia
Có thể khẳng định, Chương trình OCOP tỉnh Sơn La là hướng đi đúnglà một trong những giải pháp góp phần cơ cấu lại ngành nông nghiệp, là chương trình phát triển kinh tế vùng nông thôn gắn với phát triển từ nội lực của mỗi địa phương gắn với điều kiện tự nhiên, văn hóa của từng địa phương
và thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới thành công, nâng cao giá trị gia tăng sản xuất là nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để nâng cao chất lượng Chương trình xây dựng NTM, cũng như thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn theo hướng bền vững
Từ những kết quả ban đầu của chương trình OCOP và hiệu ứng lan tỏa của chương trình trong cả nước hiện nay, tỉnh Sơn La tin tưởng chương trình OCOP sẽ có các bước tiến quan trọng trong thúc đẩy phát triển sản xuất sản phẩm, dịch vụ không chỉ ở khu vực nông thôn mà còn ở khắp các địa bàn trong tỉnh và trở thành thương hiệu riêng trong tiến trình phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh Sơn La và là một địa phương còn nhiều khó khăn, nhưng quyết tâm thực hiện tốt chương trình và luôn mong muốn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của các Bộ, ngành TW nhất là Bộ Nông nghiệp & PTNT, Văn phòng Điều phối NTM Trung ương để Sơn La thực hiện tỉnh chỉ đạo điểm đạt kết quả cao nhất
Trang 38Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm của huyện Vân Đồn- tỉnh Quảng Ninh
-Phía Đông giáp huyện Cô Tô (tỉnh Quảng Ninh) và vịnh Bắc Bộ;
- Phía Tây giáp thành phố Cẩm Phả, thành phố Hạ Long (tỉnh Quảng Ninh) và vùng vịnh Hạ Long
- Phía Nam là vùng biển ngoài khơi vịnh Bắc Bộ
Vân Đồn có 12 đơn vị hành chính gồm: thị trấn Cái Rồng, 11 xã với hơn 80 làng mạc Trong đó, sáu xã trên đảo Cái Bầu là: Đông Xá, Hạ Long, Bình Dân, Đoàn Kết, Đài Xuyên, Vạn Yên Tuyến đảo Vân Hải có 05 xã là: Bản Sen, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng, Thắng Lợi
Vân Đồn cách Thủ đô Hà Nội 175km, cách thành phố Hải Phòng 80km Là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của huyện, Thị trấn Cái Rồng cách thành phố Hạ Long 40km về phía Tây, cách cửa khẩu quốc tế Móng Cái khoảng 100km về phía Đông
Vân Đồn có diện tích đất tự nhiên551,33 km2, gồm 600 hòn đảo lớn nhỏ
nằm trong vịnh Bái Tử Long, nhưng chỉ có hơn 20 đảo đất có người ở, còn các đảo nhỏ là núi đá vôi không có người ở Lớn nhất là đảo Cái Bầu chiếm 55%, trong đó có thị trấn Cái Rồng và 6 xã Vùng đảo phía ngoài chiếm 45% diện tích gồm 5 xã đảo Các đảo đều có địa hình đồi núi, độ cao từ 200 đến 300m (núi Nàng Tiên ở đảo Trà Bản cao 450 m, núi Vạn Hoa ở đảo Cái Bầu cao 397 m)
Trang 39Vân Đồn nằm kề cận và chỉ cách Di sản Văn hóa Thế giới Vịnh Hạ Long 40km Hằng năm, thành phố Hạ Long tiếp nhận 6-8 triệu du khách (2-3 triệu du khách nước ngoài), Vân Đồn có cơ hội cực kỳ lớn trong việc thu hút khách du lịch quốc tế
2.1.2 Địa hình
Khu vực huyện Vân Đồn chủ yếu là đồi núi thấp và đảo đá với diện tích khoảng 41.530ha, chiếm khoảng 70% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Ngoài ra có một phần nhỏ diện tích là đồng bằng ven biển, chiếm khoảng 1,5% tổng diện tích, là những dải nhỏ hẹp ven bờ biển từ bến phà Tài Xá (cũ) tới xã Hạ Long
Địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích trên các xã đảo và ven bờ, địa hình đồng bằng chỉ là những dải nhỏ hẹp ven bờ trải dài từ cầu Vân Đồng tới xã Hạ Long, một số khu vực xã Bình Dân, Đài Xuyên, Quan Lạn
Địa hình đáy biển của khu vực Vân Đồn tương đối đơn giản và bằng phẳng Vật liệu tích tụ chủ yếu là cát bột, sỏi sạn và một phần vụn vỏ sinh vật Một số vùng nước sâu, cửa biển đáy tồn tại các rạn đá
Do địa hình là quần đảo, chủ yếu là các đảo nhỏ, nhiều đảo là núi đá vôi, nên trong diện tích tự nhiên của huyện, diện tích đất chiếm tỷ trọng không lớn, chủ yếu là diện tích mặt biển, thuận lợi cho phát triển kinh tế biển Trên các đảo không có sông ngòi lớn, chỉ có vài con suối nhỏ Có một số sông nối giữa các đảo với nhau và với đất liền như: sông Voi Lớn nằm giữa đảo Cái Bầu, sông Mang ở đảo Quan Lạn
Huyện đảo Vân Đồn, nằm trong vịnh Bái Tử Long, có nhiều đảo đá vôi
và những hang động đẹp, nối liền với vịnh Hạ Long
Trang 40biển Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn Quảng Ninh, Vân Đồn có đặc trưng thời tiết khí hậu như sau:
Nhiệt độ trung bình: không cao, khoảng 23oC cả năm Nhiệt độ cao nhất thường vào tháng 6-7, dao động trong khoảng 26-30oC Thấp nhất vào tháng 1 hàng năm, trung bình khoảng 14-18oC Chênh lệch giữa các tháng liền
kề thường không quá 4oC
Chế độ mưa: Mưa thường tập trung chủ yếu vào các tháng mùa hè với
lượng mưa trên 200mm/tháng Tháng có mưa nhiều nhất là tháng 7 và tháng
8 Tháng mưa ít nhất vào tháng 12 và tháng 1, tháng 2 năm sau Lượng mưa trung bình cả năm dao động từ 14 - 20mm, mùa đông, lượng mưa lớn nhất của một ngày có thể đạt 350 - 450mm
2.1.1.4 Thủy văn, hải văn
Huyện đảo Vân Đồn có địa hình đảo hẹp, núi đồi dốc, có ít sông suối, chỉ có một con sông Voi Lớn (chiều dài 18km) chảy qua địa phận các xã: Đài Xuyên, Bình Dân, Đoàn Kết, Đông Xá, rồi đổ ra biển qua ba con suối có độ dài từ 10 - 25 km, thường cạn vào mùa khô Dòng chảy của sông suối huyện Vân Đồn chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Lượng nước mưa chiếm tới 75 - 85% tổng lượng nước cả năm Mạng lưới sông suối ít và phân bố rải rác, dòng chảy nhỏ đã gây những khó khăn lớn về cung cấp nguồn nước ngọt
Khu vực huyện Vân Đồn có chế độ nhật triều thuần nhất, trong một ngày có một lần nước lớn và một lần nước ròng Các đỉnh triều (nước lớn) thường cách nhau 25 giờ Số ngày có một lần nước lên và một lần nước xuống chiếm 85 - 95% (tức trên 25 ngày) trong tháng Khu vực huyện Vân Đồn có biên độ thủy triều vào loại lớn nhất nước ta, khoảng 3,5 - 4,0m
Sóng biển ở Vân Đồn có cấp độ không cao như ở ngoài khơi do có rất nhiều hòn đảo như bức rào chắn không cho sóng phát triển Sóng cao nhất chỉ xuất hiện ở hướng Nam và Tây Nam với tần suất nhỏ Sóng ở đây chủ yếu là