Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng các chính sách xã hội vì mục tiêu làm cho “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, trong thời gian qua Nhà nước ta đã ban hành
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRỊNH QUANG THOẠI
Hà Nội, 2020
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực, của tôi, không vi phạm bất cứ điều gì trong luật sở hữu trí tuệ và pháp luật Việt Nam Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Người cam đoan
Lò Thị Hà
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập, nghiên cứu Để hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới:
Thầy giáo hướng dẫn: TS Trịnh Quang Thọai
Các thầy, cô giáo trong Trường Đại học Lâm nghiệp chất đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tận tình trong quá trình tôi thực hiện luận văn này
Sự giúp đỡ của Lãnh đạo, đồng nghiệp cơ quan và gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Học viên
Lò Thị Hà
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 5
1.1 Cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội 5
1.1.1 Một số khái niệm 5
1.1.2 Vai trò của chính sách an sinh xã hội 13
1.1.3 Sự cần thiết của thực hiện chính sách an sinh xã hội 14
1.1.4 Nội dung của công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội 15 1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội 19
1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội 22 1.2.1 Một số nghiên cứu có liên quan đến hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội 22
1.2.2 Kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách sách an sinh xã hội của một số địa phương tại Việt Nam 24
1.2.3 Bài học rút ra cho huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La trong công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện 29
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31 2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La 31
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 31
2.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội 37 2.1.3 Những thuận lợi, khó khăn về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội 42
Trang 52.2 Phương pháp nghiên cứu 43
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 43
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 44
2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 44
2.2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 45
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
3.1 Thực trạng công tác tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La 46
3.1.1 Chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 46
3.1.2 Chính sách giảm nghèo 48
3.1.3 Chính sách đối với người có công với cách mạng 49
3.1.4 Thực trạng xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách 51
3.1.5 Thực trạng phổ biến, tuyên truyền chính sách 52
3.1.6 Thực trạng phân công, phối hợp thực hiện chính sách 53
3.1.7 Thực trạng kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách 56
3.1.8 Thực trạng tổng kết, đánh giá thực hiện chính sách 58
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La 59
3.2.1 Nhận thức về công tác ASXH 59
3.2.2 Hệ thống văn bản chính sách về công tác ASXH 59
3.2.3 Khả năng của ngân sách 60
3.2.4 Trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác ASXH 60
3.3 Đánh giá chung về công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Sốp Cộp 61
3.3.1 Kết quả đạt được 61
3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 62
3.4 Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội của huyện Sốp Cộp trong thời gian tới 67
Trang 63.4.1 Quan điểm chỉ đạo hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội của huyện Sốp Cộp trong thời gian tới 67 3.4.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách
an sinh xã hội của huyện Sốp Cộp trong thời gian tới 70
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 82TÀI LIỆU THAM KHẢO 84PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Viết tắt Viết đầy đủ
ASXH An sinh xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
BHXH Bảo hiểm xã hội CSXH Chăm sóc xã hội UBMTTQ Mặt trận tổ quốc UBND Ủy ban nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Sốp Cộp (năm 2019) 35
Bảng 2.2 Cơ cấu kinh tế ngành của huyện Sốp Cộp 37
Bảng 2.3 Dân số và lao động của huyện Sốp Cộp năm 2019 40
Bảng 3.1 Số người tham gia BHXH 46
Bảng 3.2 Số người tham gia bảo hiểm y tế huyện Sốp Cộp 47
Bảng 3.3 Tình hình thực hiện Chương trình mục tiêu giảm nghèo trên địa bàn huyện từ năm 2017 đến năm 2019 49
Bảng 3.4 Tình hình chính sách ưu đãi người có công trên địa bàn huyện năm 2019 51
Bảng 3.5 Kết quả phổ biến, tuyên truyền chính sách 52
Bảng 3.6 Đánh giá của người dân về công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách (n = 100) 53
Bảng 3.7 Đánh giá của cán bộ về phân công, phối hợp thực hiện chính sách (n = 30) 55
Bảng 3.8 Đánh giá của cán bộ về kiểm tra, giám sát (n = 30) 57
Bảng 3.9 Tổng hợp ý kiến của đối tượng thụ hưởng về sự cần thiết của công tác kiểm tra, giám sát ASXH 58
Bảng 3.10 Đánh giá của các đối tượng về sự cần thiết của tổ chức thực hiện chính sách ASXH 59
Bảng 3.11 Ngân sách dành cho công tác ASXH huyện Sốp Cộp 60
Bảng 3.12 Trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác ASXH 61
Trang 9
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
An sinh xã hội là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhằm góp phần thực hiện mục tiêu phát triển con người, đảm bảo công bằng và tiến bộ
xã hội An sinh xã hội là trách nhiệm của xã hội trong việc bảo vệ đối với các thành viên của mình Bảo đảm an sinh xã hội là chủ trương nhất quán và xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta, là chính sách để giảm nghèo, bảo đảm đời sống của nhân dân, thực hiện công bằng, tạo sự đồng thuận xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninh Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng các chính sách xã hội vì mục tiêu làm cho “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, trong thời gian qua Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản để thực hiện các chính sách an sinh xã hội, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, nâng cao chất lượng
Tuy vậy, thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Sốp Cộp vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế như: Một số quy định của pháp luật về BHXH, BHYT chưa đồng bộ, chưa chặt chẽ, chế tài xử lý vi phạm cũng bất cập, ý thức chấp hành của một số doanh nghiệp còn hạn chế, vì vậy việc thực hiện chỉ tiêu kế hoạch thu, giảm nợ đọng và phát triển đối tượng hết sức khó khăn Cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên dùng của một số trạm y tế đã được đầu tư nhưng còn thiếu; trình độ chuyên môn của một số cán bộ y tế còn hạn chế, việc cấp thẻ BHYT chưa kịp thời do thủ tục còn rườm rà, những người nghèo đa phần ở nông thôn và ở nơi xa xôi, nên dịch vụ y tế ở tuyến cơ sở còn hạn chế, trang thiết bị và nguồn nhân lực tay nghề chưa cao, vì vậy mà chất lượng khám chữa bệnh còn hạn chế Bên cạnh đó, tình trạng nợ đọng và trốn tránh tham gia BHXH của các đơn vị sử dụng lao động còn lớn
Việc điều hành kế hoạch và lồng ghép các chương trình kinh tế - xã hội với giảm nghèo còn lúng túng; số hộ thoát nghèo nhanh nhưng chưa bền vững,
Trang 10giải pháp hỗ trợ trực tiếp đối với hộ nghèo chỉ mang tính ngắn hạn, trước mắt, chưa mang tính lâu dài Do các thành viên của Ban chỉ đạo giảm nghèo cấp huyện và xã đều là thực hiện nhiệm vụ kiêm nhiệm nên việc kiểm tra, giám sát chương trình chưa chặt chẽ; sơ kết, tổng kết, đánh giá, khen thưởng chưa kịp thời; trong quá trình kiểm tra, đánh giá công nhận hộ nghèo mới, hộ nghèo phát sinh và hộ thoát nghèo, một số địa phương vẫn còn làm chưa đúng quy trình, còn cả nể, sợ va chạm, chưa kiên quyết xử lý đối tượng nghèo lười lao động, ỷ lại chính sách của nhà nước
Một số cơ chế, chính sách giảm nghèo vẫn còn chồng chéo; một số cán
bộ làm công tác giảm nghèo thường xuyên thay đổi, chính sách đãi ngộ, kinh phí hoạt động của Ban chỉ đạo giảm nghèo còn hạn hẹp Các quy định, hướng dẫn cụ thể trong việc thực hiện giám định thương tật, giám định sức khỏe đối với thương binh, bệnh binh; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học để công nhận được hưởng chế độ ưu đãi người có công còn một số vấn đề chưa thống nhất, chưa đủ cơ sở khoa học và chưa rõ ràng
Việc chọn đối tượng để xây dựng, sữa chữa nhà chính sách, do chưa có
sự phối hợp chặt chẽ giữa Phòng LĐ-TB&XH huyện với UBMTTQ Việt Nam huyện, nên một vài trường hợp còn trùng lắp Một số trường hợp chọn đối tượng đề nghị hỗ trợ sửa chữa nhà xuống cấp chưa thực sự khách quan đã gây khó khăn cho công tác phúc tra, xét chọn
Xuất phát từ thực trạng nêu trên, việc thực hiện luận văn thạc sĩ với
tiêu đề “Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên
địa bàn huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La” có ý nghĩa về cả lý luận và thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La để đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thực thi chính sách này của huyện trong thời gian tới
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 124 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội
- Thực trạng công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La
- Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội tại huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La
- Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội tại huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La trong thời gian tới
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng, sơ đồ, phụ lục, nội dung
chính của luận văn được thể hiện trong 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội;
Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu;
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 1.1 Cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 An sinh xã hội
An sinh xã hội là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam trong những năm gần đây Tuy nhiên khái niệm, bản chất và nội dung của nó vẫn còn nhiều quan điểm nhận thức khác nhau
Vì vậy, tổ chức hệ thống an sinh xã hội ở các nước vẫn chưa có sự thống nhất
- Trong cuốn Cẩm nang an sinh xã hội của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho rằng: ASXH là hình thức bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong, cung cấp, cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em
- Theo Ngân hàng Thế giới (WB): ASXH là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập
- Hiệp hội An sinh quốc tế (ISSA) coi ASXH là thành tố của hệ thống chính sách công liên quan đến sự bảo đảm bảo an toàn cho tất cả các thành viên trong xã hội chứ không chỉ có công nhân Những vấn đề mà ISSA quan tâm nhiều trong hệ thống ASXH là chăm sóc sức khỏe thông qua BHYT; hệ thống BHXH, chăm sóc tuổi già; phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ giúp xã hội
Trang 14Ở Việt Nam, mặc dù lĩnh vực ASXH còn nhiều mới mẻ nhưng cũng đã dành được sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà quản lý nghiên cứu về vấn đề này
- Theo tác giả Hoàng Chí Bảo: ASXH là sự an toàn của cuộc sống con người, từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực phát triển con người
và xã hội ASXH là những đảm bảo cho con người tồn tại (sống) như một con người và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách
- Tác giả Mai Ngọc Cường lại cho rằng, để thấy hết được bản chất của ASXH, chúng ta cần phải tiếp cận theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp của khái niệm này
+ Theo nghĩa rộng: ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền để con người được an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội
+ Theo nghĩa hẹp: ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai địch họa
- Trong “Chiến lược an sinh xã hội giai đoạn 2011 - 2020” ghi nhận:
“An sinh xã hội là sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong
xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế”
Trên cơ sở nghiên cứu những quan điểm của các tổ chức, các nhà khoa học trong và ngoài nước, theo tác giả: “An sinh xã hội là mạng lưới các chương trình, hệ thống chính sách cụ thể từ nhà nước hoặc các tổ chức xã hội nhằm trợ giúp, hỗ trợ, bảo vệ cá nhân và toàn xã hội, đặc biệt là các cá nhân gặp phải rủi ro hay khó khăn trong cuộc sống, bảo đảm mức sống tối
Trang 15thiểu và góp phần nâng cao đời sống của họ, từ đó, thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội”
1.1.1.2 Chính sách
Theo Từ điển tiếng Việt “chính sách” được hiểu là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách…” chính sách cần được hiểu
ở những góc nhìn nhất định: xem xét nó một cách độc lập hay trong mối quan hệ với các phạm trù khác, chẳng hạn như chính trị hay pháp quyền như nói ở trên
Nếu nhìn nhận chính sách như một hiện tượng tĩnh và tương đối độc lập, chính sách được hiểu là những tư tưởng, những định hướng, những mong muốn cần hướng tới, cần đạt được Còn chiến lược hay kế hoạch, thậm chí pháp luật chẳng qua chỉ là hình thức, là phương tiện để chuyển tải, để thể hiện chính sách mà thôi
Chính vì vậy, so với khái niệm pháp luật, chính sách được hiểu rộng hơn nhiều Nếu xét nội hàm của khái niệm này trong mối quan hệ với chính trị và pháp quyền thì khái niệm chính sách cần được tìm hiểu ở một số khía cạnh sau đây:
- Chính sách là sự thể hiện cụ thể của đường lối chính trị chung Dựa vào đường lối chính trị chung, cương lĩnh chính trị của đảng cầm quyền mà người ta định ra chính sách;
- Chính sách là cơ sở nền tảng để chế định nên pháp luật Hay nói cách khác, pháp luật là kết quả của sự thể chế hóa chính sách Có thể có chính sách chưa được luật pháp hóa (thể chế hóa), hoặc cũng có thể không bao giờ được luật pháp hóa vì nó không được lựa chọn để luật pháp hóa khi không còn phù hợp với tư tưởng mới hay sự thay đổi của thực tiễn Nhưng sẽ không có pháp luật phi chính sách hay pháp luật ngoài chính sách Theo nghĩa đó, chính sách chính là linh hồn, là nội dung của pháp luật, còn pháp luật là hình thức, là
Trang 16phương tiện thể hiện của chính sách khi nó được thừa nhận, được “nhào nặn” bởi “bàn tay công quyền”, tức là được ban hành bởi nhà nước theo một trình
tự luật định
Như vậy, chính sách luôn gắn liền với quyền lực chính trị, với đảng cầm quyền và với bộ máy quyền lực công - nhà nước Chúng ta vẫn thường nói đến một nguyên tắc của tổ chức thực thi quyền lực chính trị là “Đảng đề
ra đường lối, chính sách, Nhà nước thể hóa đường lối, chính sách của Đảng thành pháp luật” Tuy nhiên, cũng không nên tuyệt đối hóa vai trò hoạch định chính sách của đảng cầm quyền Có ý kiến cho rằng, việc xây dựng chính sách là nhiệm vụ của Đảng, Đảng là người duy nhất có quyền đưa ra chính sách Đúng Đảng đề ra đường lối chính sách để Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật nhưng việc xây dựng và ban hành pháp luật của Nhà nước cũng chính là Nhà nước xây dựng và ban hành chính sách (Điều này được phản ánh rất rõ trong thực tiễn tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam hiện nay, khi người của Đảng được giao nắm các trọng trách và vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước (trong thành phần của Quốc hội Khóa XII hiện nay số lượng đảng viên chiếm tới 93%; đối với Chính phủ thì 100% thành viên Chính phủ
là đảng viên) Đường lối, chính sách của Đảng có thể được copy, được cụ thể hóa trong pháp luật nhưng nó cũng có thể được điều chỉnh, được hoàn thiện trong quá trình thể chế hóa để phù hợp với tư tưởng mới hay đáp ứng yêu cầu mới của thực tiễn xã hội Nhà nước xây dựng và ban hành pháp luật là thể chế hóa chính sách của Đảng thành pháp luật nhưng cũng là một bước xây dựng
và hoàn thiện chính sách Và vì vậy, chính sách và pháp luật là hai phạm trù rất gần gũi và có những điểm giao nhau, là cơ sở tồn tại của nhau trong một chế độ nhà nước pháp quyền
1.1.1.3 Chính sách an sinh xã hội
a Khái niệm
Chính sách an sinh xã hội là hệ thống các chính sách can thiệp của nhà nước (bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội, và sự hỗ trợ của tổ chức hay tư nhân
Trang 17(các chế độ không theo luật định) nhằm giảm mức độ nghèo đói và tổn thương, nâng cao năng lực tự bảo vệ của người dân và cộng đồng trước những rủi ro hay nguy cơ giảm hoặc mất thu nhập, bảo đảm ổn định, phát triển và công bằng xã hội
Chính sách an sinh xã hội là văn bản quy định pháp quy cụ thể của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được ra quyết định này, trong đó quy định bảo đảm an sinh xã hội cho từng đối tượng, hoặc từng nhóm đối tượng cụ thể: (chính sách đối với người có công, thương binh, liệt sỹ, người tham gia kháng chiến, người nhiễm chất độc da cam), hoặc chính sách về hỗ trợ bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội đối với người nghèo, hộ nghèo, hộ cận nghèo, trẻ
An sinh xã hội được tất cả các nước trên thế giới cũng như Liên Hợp quốc thừa nhận một trong những quyền của con người trong mọi thời đại và mọi chế độ xã hội vì nó có mục tiêu và bản chất rất tốt đẹp Mục tiêu của ASXH là tạo ra một lưới an toàn cho mọi thành viên trong cộng đồng xã hội, khi bất kỳ một cá nhân trong cộng đồng không may gặp rủi ro hoặc lâm vào tình cảnh yếu thế Bản chất của an sinh xã hội thể hiện ở chỗ:
Trang 18An sinh xã hội là là một chính sách xã hội có mục tiêu cụ thể Và chính sách này thường được cụ thể hóa bởi luật pháp, chương trình Quốc gia và nó còn tồn tại nay trong tiềm thức của mỗi con người, mỗi cộng đồng dân tộc Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đã có rất nhiều bởi luật và rất nhiều chương trình kinh tế - xã hội để cụ thể hóa chính sách ASXH, như: Luật BHXH; Luật trợ giúp pháp lý; luật phòng chống ma túy và tệ nạn xã hội, Chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình xóa nhà dột nát…
Ngoài ra do mục tiêu cao đẹp mà mọi người đều hướng tới, cho nên ASXH đã từ lâu ít nhiều tồn tại ngay trong tiềm thức của mọi người Chẳng hạn” Tinh thần tương thân tương ái”, truyền thống” lá lành đùm lá rách” hay
“thương người như thể thương thân” đã có từ khi loài người sinh ra và loài người coi đó là đạo lý, là truyền thống của mỗi dân tộc, mỗi nước.Thế nhưng ASXH là một hệ thống các chính sách, các chương trình… cho nên để cụ thể hóa và tổ chức thực hiện ASXH, tùy theo điều kiện và hoàn cảnh của từng nước mà người ta xây dựng thành từng chế độ an sinh xã hội hoặc xây dựng một hệ thống ASXH cụ thể và độc lập Chẳng hạn, xây dựng các chế độ ASXH để cụ thể hóa chính sách BHXH hay tổ chức một cụm chính sách để xây dựng hệ thống ASXH như; Chính sách BHXH; chính sách ưu đãi xã hội, chính sách cứu trợ xã hội…
An sinh xã hội là một cơ chế, là công cụ để thực hiện phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng xã hội Cơ chế phân phối lại thu nhập vừa chặt chẽ, cụ thể theo đúng pháp luật có liên quan, lại vừa năng động linh hoạt để phát huy tối đa sức mạnh của cộng đồng Trong đó, phân phối lại theo luật pháp có liên quan đóng vai trò chủ đạo Theo pháp luật, phân phối lại được thực hiện theo cả chiều ngang lẫn chiều dọc Theo chiều ngành có nghĩa là, phân phối lại giữa những người khỏe mạnh với những việc không may bị ốm đau, tai nạn giữa nam với nữ, giữa những gia đình không có con hoặc ít con với những gia đình đông con… Còn theo chiều rộng có nghĩa là
Trang 19phân phối lại giữa những người giàu có thu nhập cao với những người nghèo
có thu nhập thấp thậm chí mất thu nhập Kinh nghiệm của các nước kinh tế phát triển cho thấy, tiến hành phân phối lại theo chiều dọc thường có hiệu quả nhiều hơn và diện được phân phối sẽ rộng hơn Bởi vì, thông qua các chính sách thuế thu nhập , giá cả chính sách chi tiêu công cộng sẽ góp phần làm cho
số thu ngân sách ngày càng tăng, đồng thời lại tiết kiệm được chi tiêu ngân sách Từ đó, ngân sách nhà nước và ngân sách địa phương mới có cơ sở vững chắc và đủ lớn để tiến hành phân phối lại nhằm đảm bảo an sinh xã hội
An sinh xã hội là sự che chắn, bảo vệ cho các thành viên trong xã hội trước các rủi ro và những biến cố bất lợi xảy ra
Tuy nhiên, cứu trợ và diện được che chắn và bảo vệ lại không giống nhau ở mỗi nước và ngay trong một nước cũng luôn có sự khác nhau giữa các thời kỳ bởi vì, tất cả còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội và thể chế chính trị của từng nước Chẳng hạn, trong thời kỳ bao cấp ở nước ta cũng như nhiều nước XHCN, tuy ngân sách nhà nước có hạn, song người dân đi khám chữa bệnh không phải trả tiền, người lao động không bị thất nghiệp và tính ưu việt thể hiện khá rõ trong các chính sách xã hội tuy nhiên do điều kiện kinh tế yếu kém nên không thể thực hiện và duy trì được lâu dài cho dù mục tiêu là hết sức tốt đẹp vì thế, khi bước vào cơ chế thị trường, Chính phủ các nước XHCN đã buộc phải thay đổi lại chính sách Và trong hoàn cảnh đó bảo hiểm
y tế, bảo hiểm thất nghiệp đã lần lượt ra đời ở mỗi nước trên cơ sở đóng góp của cộng đồng để hình thành quỹ bảo hiểm, đồng thời có sự bảo trợ của nhà nước Cũng do điều kiện kinh tế - xã hội chi phối mà diện được bảo vệ và che chắn trong hệ thống ASXH của các nước thường được chia ra thành các
Trang 20Việc chia ra các lưới ASXH là rất cần thiết, vì nó liên quan đến rất nhiều vấn đề khi ban hành chính sách cũng như tổ chức thực hiện chính sách Theo quy luật chung thì lưới thứ nhất có đối tượng ngày càng được mở rộng
và lưới thứ ba có đối tượng ngày càng thu hẹp, từ đó làm cho hệ thống ASXH
ro, bất hạnh xã hội phải tạo cho họ những lực đẩy cần thiết để học khắc phục
và vươn lên Từ đó kích thích tính tích cực của họ, giúp họ phấn đấu hướng tới những chuẩn mực của chân - thiện - mỹ Chủ nghĩa nhân đạo và nhân văn
ở đây không chỉ thể hiện trong bản thân mỗi con người, mỗi cộng đồng người,
mà còn thể hiện ở cộng đồng nhân loại Nó không chỉ thể hiện ở trong phạm
vi Quốc gia mà còn thể hiện rất rõ trên phạm vi toàn thế giới
b Nội dung của chính sách an sinh xã hội
Về cấu trúc của an sinh xã hội: Có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau, theo quan điểm phổ biến của các tổ chức Quốc tế, thì một hệ thống
an sinh xã hội phải có tối thiểu 3 phần cơ bản tương ứng với 3 chức năng chính của an sinh xã hội gồm:
Thứ nhất, những chính sách, chương trình phòng ngừa rủi ro Đây là tầng trên của hệ thống an sinh xã hội Chức năng của những chính sách này là hướng tới can thiệp và bao phủ toàn bộ dân cư; giúp cho mọi tầng lớp dân cư
có được việc làm, thu nhập, có được năng lực vật chất cần thiết để đối phó tốt nhất với rủi ro Trụ cột cơ bản của tầng này là những chương trình về thị trường lao động tích cực như đào tạo nghề, hỗ trợ người tìm việc, tự tạo hoặc đào tạo nâng cao kỹ năng cho người lao động
Trang 21Thứ hai, những chính sách, những chương trình giảm thiểu rủi ro Đây
là tầng thứ hai, gồm các chiến lược giảm thiểu thiệt hại do rủi ro của hệ thống
an sinh xã hội, có vai trò đặc biệt quan trọng Nội dung quan trọng nhất trong tầng này là các hình thức bảo hiểm, dựa trên các nguyên tắc đóng, hưởng như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, nhóm chính sách này rất nhạy cảm, nếu phù hợp sẽ thúc đẩy sự tham gia tích cực của người dân, tiết kiệm nguồn lực cho nhà nước, tăng độ bao phủ hệ thống Ngược lại, nếu chính sách không phù hợp, người dân sẽ không tham gia hoặc chính sách sẽ bị lạm dụng
Thứ ba, những chính sách, chương trình khắc phục rủi ro, bao gồm các chính sách chương trình về cứu trợ và trợ giúp xã hội Đây là tầng cuối cùng của hệ thống an sinh xã hội với chức năng bảo đảm an toàn cho các thành viên xã hội khi họ gặp phải rủi ro mà bản thân không tự khắc phục được như: thất nghiệp, người thiếu việc làm, người có thu nhập thấp, người già, người tàn tật, trẻ em mồ côi, người nghèo
1.1.2 Vai trò của chính sách an sinh xã hội
Trong xã hội hiện đại, các quốc gia, một mặt hướng vào phát huy mọi nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực cho tăng trưởng kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế tạo ra bước phát triển bền vững và ngày càng phồn vinh cho đất nước; mặt khác không ngừng hoàn thiện hệ thống ASXH để giúp cho con người, nhất là người lao động, có khả năng chống chọi với các rủi ro
xã hội, đặc biệt là rủi ro trong KTTT và rủi ro xã hội khác Ngoài tác động chung như đối với các nước giàu, chính sách ASXH có thể có những đóng góp cho sự nghiệp phát triển KT - XH ở những nước nghèo
Điều này thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, các chính sách ASXH tác động đến quá trình tích lũy vốn con người vì nó cải thiện trình độ giáo dục và sức khỏe của con người, loại bỏ những hình thức tồi tệ nhất của sự bần cùng, nghèo đói
Trang 22Thứ hai, các chính sách ASXH cũng có những tác động tích cực đến khía cạnh cầu vì nó là sự phân phối lại sức mua và có lợi cho nền sản xuất hàng hóa và dịch vụ trong nước
Thứ ba, các chính sách ASXH còn đóng góp lớn trong việc tạo ra điều kiện để xây dựng môi trường CT - XH bền vững Khi lợi ích từ tăng trưởng kinh tế đến được với mọi người dân, gồm cả nhóm xã hội trước kia bị gạt ra ngoài lề, điều này sẽ góp phần làm giảm tình trạng mất trật tự về CT - XH Những tác động này bắt nguồn từ bản chất tái phân phối của hệ thống BHXH
1.1.3 Sự cần thiết của thực hiện chính sách an sinh xã hội
Tổ chức thực hiện chính sách ASXH có ý rất quan trọng, là bước hiện thực hóa chính sách vào thực tiễn đời sống xã hội Tổ chức thực hiện chính sách ASXH là trung tâm kết nối các khâu (các bước) trong chu trình chính sách thành một hệ thống hoàn chỉnh; là cầu nối giữa lý luận và thực tiễn trong thực thi chính sách Việc hoạch định, xây dựng được chính sách đúng, có chất lượng là rất quan trọng, nhưng triển khai, thực hiện một cách đúng đắn chính sách còn quan trọng hơn Có chính sách đúng nếu không được thực hiện sẽ chỉ nằm ở dạng văn bản giấy, trở thành khẩu hiệu suông, không những không thực hiện được mục tiêu, ý định của chủ thể ban hành chính sách, mà còn ảnh hưởng đến uy tín của chủ thể hoạch định và ban hành chính sách Nếu chính sách không được tổ chức thực hiện đến nơi, đến chốn, hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ, không những sẽ không đến trực tiếp được với đối tượng thụ hưởng, mà sẽ dẫn đến sự thiếu tin tưởng và sự phản ứng tiêu cực của nhân dân đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Điều này hoàn toàn bất lợi về mặt chính trị và xã hội, gây những khó khăn, bất ổn cho nhà nước trong công tác quản lý Qua việc tổ chức thực hiện, mới biết được chính sách có đúng, phù hợp và đi vào cuộc sống hay không Quá trình thực hiện với những hoạt động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống Đồng
Trang 23thời, việc phân tích, đánh giá một chính sách (mức độ tốt, xấu) chỉ có cơ sở đầy đủ, sức thuyết phục sau khi được thực hiện Thực tiễn là chân lý, kết quả thực hiện chính sách là thước đo, là cơ sở đánh giá một cách chính xác, khách quan chất lượng và hiệu quả của chính sách Việc đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống là một quá trình khó khăn, phức tạp, chịu sự tác động của nhiều yếu tố giúp các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách có kinh nghiệm để đề ra được các giải pháp hữu hiệu trong thực hiện chính sách
1.1.4 Nội dung của công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội
1.1.4.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách
Để thực hiện một cách hiệu quả chính sách an sinh xã hội, cần phải tiến hành xây dựng kế hoạch thực hiện một cách chi tiết, cụ thể, rõ ràng từ kế hoạch tổ chức điều hành, kế hoạch chuẩn bị các nguồn lực để thực hiện, kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách phù hợp với tình hình thực tế của địa phương; nhưng phải đảm bảo tuân thủ theo đúng quan điểm, mục tiêu, yêu cầu của chủ thể ban hành Khi xây dựng kế hoạch thực hiện, phải quy định cụ thể thời gian, lộ trình triển khai thực hiện; đồng thời xác định rõ các bên tham gia, có sự phân công, phân định rõ trách nhiệm cho từng cơ quan, tổ chức, từng cán bộ, công chức, tránh chồng chéo nhiệm vụ giữa cơ quan này với cơ quan khác; đặc biệt là phải đảm bảo cung cấp đủ nguồn lực tài chính, con người, cơ sở vật chất, các công cụ, phương tiện thực hiện, đảm bảo việc triển khai thực hiện diễn ra thuận lợi, mang lại hiệu quả cao
1.1.4.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách
Phổ biến, tuyên truyền chính sách ASXH là hoạt động mang tính thông tin, là hình thức công khai chính thống chính sách cho các cơ quan có thẩm quyền, các đối tượng chính sách và các bên tham gia hiểu rõ về mục đích, yêu cầu, về tính đầy đủ, tính đúng đắn của chính sách để các bên có liên quan tự giác tham gia thực hiện Ngoài hoạt động mang tính thông tin, công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách còn giúp cho cán bộ, công chức tổ chức thực
Trang 24hiện chính sách nhận thức được đầy đủ tính chất, mức độ, quy mô, tầm quan trọng của chính sách đối với đời sống xã hội, để họ chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực hiện có hiệu quả kế hoạch chính sách
Phổ biến, tuyên truyền chính sách ASXH được thực hiện bằng nhiều hình thức như thông qua báo chí, truyền thanh, truyền hình, tổ chức Hội nghị, hình thức lan truyền cộng đồng (thông tin từ người này sang người khác), hoặc lồng ghép các hình thức tuyên truyền khác Công tác phổ biến, tuyên truyền đóng vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức thực hiện chính sách Nếu việc phổ biến, tuyên truyền chính sách tiến hành một cách kịp thời và hiệu quả, các đối tượng chính sách dễ dàng tiếp cận, kê khai, thụ hưởng chính sách nhanh; giúp cho các cơ quan và cán bộ, công chức thực thi chính sách tiết kiệm được thời gian, công sức, giúp cho chính sách được thực hiện một cách trọn vẹn, triệt để; còn ngược lại, nếu đối tượng thụ hưởng không có thông tin, không tiếp cận được chính sách sẽ kéo dài thời gian, bổ sung nhiều lần, nhiều đợt không những gây khó khăn, phiền hà cho các tổ chức, cá nhân và các cơ quan trực tiếp tổ chức thực hiện chính sách; mà còn gây khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc tổng kết, đánh giá thực hiện chính sách
1.1.4.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách
Phân công, phối hợp thực hiện chính sách ASXH là việc cơ quan tổ chức thực hiện chính sách xem xét chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức chức, cá nhân có liên quan để phân công, phân nhiệm một cách cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ, khoa học và hợp lý, xác định cơ quan nào đóng vai trò chủ trì, cơ quan nào có chức năng phối hợp, tránh trường hợp nêu chung chung chung, nhằm đảm bảo trong suốt quá trình thực hiện chính sách diễn ra suôn sẻ, thuận lợi, không bị chồng chéo, thiếu sót hoặc bị tắc nghẽn
Việc phân công, phối hợp trong thực hiện chính sách là một trong những vấn đề vướng mắc và yếu ở nước ta hiện nay Có những chính sách khi
Trang 25ban hành xong không thể triển khai thực hiện do sự phân công, phân nhiệm cho các cơ quan chủ quản và cơ quan phối hợp thực hiện không rõ ràng hoặc chồng chéo, không có sự thống nhất giữa các cơ quan chủ quản và cơ quan phối hợp nên xảy ra tình trạng đùn đẩy, né tránh hoặc ôm đồm dẫn đến không
ai làm hoặc làm nửa vời không đến nơi, đến chốn Vì vậy, để việc tổ chức thực hiện chính sách ASXH thực sự có hiệu quả, trước tiên phải có sự thống nhất cao về quan điểm, về mục tiêu, về chương trình, kế hoạch thực hiện và
sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, từ công tác lãnh đạo, chỉ đạo đến công tác tuyên truyền, vận động, công tác cung ứng nguồn lực tài chính, trang thiết
bị, cơ sở vật chất đảm bảo cho việc thực hiện chính sách Tuy nhiên, chịu trách nhiệm chính và chủ công trong việc triển khai thực hiện là ngành Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ- TB&XH), Bảo hiểm xã hội (BHXH) và UBND các cấp
1.1.4.4 Kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách
Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách ASXH là hoạt động diễn ra thường xuyên, liên tục của hệ thống các cơ quan Nhà nước từ cơ quan có thẩm quyền ban hành chính sách, đến các cơ quan và cán bộ, công chức được phân công thực hiện chính sách; kể cả đối tượng chính sách nhằm xem xét chính sách đã được triển khai tổ chức thực hiện chưa, tiến độ thực hiện đến đâu, việc tổ chức thực hiện có đảm bảo đúng nguyên tắc, đúng theo quy trình, kế hoạch đã ban hành hoặc đã đến tận được với các đối tượng chính sách không Bên cạnh đó, tiến hành kiểm tra việc thực hiện chính sách để phát hiện các trường hợp đối tượng khai man, giả mạo hồ sơ, giấy tờ để được hưởng chính sách không đúng đối tượng theo quy định; cũng như phát hiện các trường hợp các cơ quan, cán bộ công chức lợi dụng chức vụ quyền hạn để thông đồng, móc nối với các đối tượng chính sách khai khống, xác nhận không đúng đối tượng cho người thân để trục lợi cho cá nhân từ chính sách để chấn chỉnh, xử lý kịp thời Kiểm tra, theo dõi sát việc thực hiện chính sách
Trang 26ASXH góp phần kịp thời bổ sung, hoàn thiện chính sách và chấn chỉnh công tác tổ chức thực hiện chính sách, giúp nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách ASXH
1.1.4.5 Tổng kết, đánh giá thực hiện chính sách
Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách ASXH là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo điều hành và chấp hành chính sách của các cơ quan và cá nhân liên quan được phân công thực hiện chính sách, cũng như hiệu quả, lợi ích mang lại cho xã hội, cho đối tượng hưởng lợi
từ chính sách
Tùy theo tính chất, mức độ, quy mô và chu kỳ, niên hạn của chính sách
có thể tiến hành đánh giá, tổng kết Đối với việc thực hiện chính sách ASXH được xác định là chính sách thường xuyên và lâu dài Việc đánh giá, tổng kết được thực hiện theo trình tự từ cơ sở đến Trung ương Trong đánh giá, tổng kết thực hiện chính sách ASXH phải đánh giá một cách toàn diện tất cả các mặt, các bước từ việc xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai, quán triệt; công tác phổ biến tuyên truyền; công tác phối hợp tổ chức thực hiện để biểu dương, phát huy những ưu điểm; đồng thời xem xét, đánh giá một cách khách quan những tồn tại, hạn chế, thiếu sót ở mặt nào, bước nào đề ra các biện pháp sát đúng nhất để khắc phục
tổ chức thực hiện tốt hơn; đồng thời phát hiện những vấn đề bất cập, hạn chế, thiếu sót hoặc những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn; cũng có thể là những vấn đề phù hợp khi mới ban hành chính sách, nhưng nay không còn phù hợp để tập hợp, kiến nghị cấp có thẩm quyền điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp điều kiện thực tiễn đảm bảo quyền lợi cho đối tượng thụ hưởng
Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay việc đánh giá, tổng kết, nhất là ở cấp Trung ương vẫn còn mang tình hình thức, chung chung số liệu, thông tin chủ yếu được thực hiện bằng phép cộng dồn từ các báo cáo từ cơ sở, chứ chưa có những cuộc khảo sát, đánh giá từ thực tiễn để đối chiếu, so sánh, để mắt thấy
Trang 27tai nghe những bất cập, vướng mắc để có những điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp Thậm chí, một số kiến nghị, đề xuất ở cơ sở mang tính thực tiễn cao, bức xúc cần được sửa đổi, bổ sung vẫn không được ghi nhận
Thước đo đánh giá kết quả thực hiện chính sách là: Tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách; ý thức chấp hành các quy định về cơ chế, biện pháp thực hiện các mục tiêu chính sách và hiệu quả chính sách trong từng điều kiện về không gian và thời gian
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội
1.1.5.1 Quan điểm và nhận thức chính sách
Hệ thống chính trị (thể chế chính trị) chi phối và ảnh hưởng rất lớn đến nội dung, hình thức của chính sách ASXH, bao gồm các yếu tố về văn hóa, chính trị, Hiến pháp, thể chế chính trị, quan điểm, quyết tâm của Đảng và Nhà nước Các quy định, hướng dẫn thực hiện chính sách phải tuân thủ và căn cứ vào Hiến pháp và thể chế, là cơ sở pháp lý cao nhất mà tất cả mọi tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện chính sách phải tuân theo Vì chính sách ASXH trước hết phải thực hiện cho được mục tiêu của Đảng và Nhà nước đó
là phục vụ vì lợi ích của cộng đồng, người dân và toàn xã hội
Việc thực hiện chính sách ASXH còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu
tố bên trong của chính sách như: Vai trò của các cơ quan tuyên truyền, hệ thống giá trị xã hội, điều kiện, khả năng kinh tế của Nhà nước, các quan hệ bên trong của hệ thống các cơ quan thực thi chính sách; cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện chính sách
Thực hiện chính sách ASXH cần phải có được sự nhận thức đúng đắn
và đầy đủ về quan điểm, mục đích của Đảng và Nhà nước trong cả hệ thống chính trị, phải nhận thức rằng đây là chính sách ưu đãi đặc biệt, là chính sách bắt buộc, chứ không phải là một sự ban ơn thuần túy Việc thực hiện chính sách là trách nhiệm, nghĩa vụ của cả hệ thống chính trị, của các cá nhân, tổ chức và của toàn xã hội
Trang 28Do đặc điểm về chính sách ASXH có sự khác biệt so với các đối tượng chính sách khác, đó là những người bản thân họ đã chịu nhiều mất mát, thiệt thòi so với những người khác, nên họ rất dễ bị tổn thương; do vậy những người trực tiếp tham gia thực hiện chính sách ngoài việc phải nhận thức đúng đắn về chủ trương về quan điểm của Đảng và Nhà nước, họ phải thấu hiểu và thực sự trân trọng, không được có thái độ quan liêu, thờ ơ đối với các đối tượng này; thường xuyên chia sẻ, động viên họ, làm cho họ hiểu rõ về chính sách để hưởng ứng và hợp tác trong quá trình thực hiện chính sách Đồng thời phải tuyên truyền vận động nhân dân không nên so bì, mà cùng nhau hợp tác, tạo được sự thống nhất cao trong Nhân dân, tham gia đóng góp, hỗ trợ để họ
có điều kiện vươn lên trong cuộc sống
1.1.5.2 Các điều kiện để hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách
Nếu như nói rằng, việc ban hành, triển khai thực hiện chính sách ASXH là điều kiện cần, thì các yếu tố về nguồn lực: con người, tài chính, cơ
sở vật chất là điều kiện đủ để đảm bảo thực hiện được chính sách ASXH
Để chính sách được triển khai thực hiện thì từ các bước từ xây dựng kế hoạch, đến công tác tuyên truyền, tổ chức triển khai, kiểm tra, đôn đốc thực hiện… đều phải có đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện Việc phân công cán
bộ, công chức thực hiện chính sách người có công phải những người có năng lực, tâm huyết, đạo đức đảm bảo chính sách được triển khai thực hiện đến đúng đối tượng và đúng theo mục tiêu của Đảng và Nhà nước
Bên cạnh yếu tố về con người, thì trong quá trình triển khai thực hiện phải phân bổ nguồn tài chính thường xuyên cần thiết để mua sắm trang thiết
bị, máy móc, phương tiện làm việc cho đội ngũ cán bộ, công chức; cơ sở chăm sóc, phụng dưỡng người có công; nguồn ngân sách ổn định hằng năm
để chi trả lương cho bộ máy và đội ngũ cán bộ công chức thực hiện chính sách và chi trả chế độ trợ cấp cho các đối tượng Nếu chính sách ban hành
Trang 29đúng, nhưng không đảm bảo cơ sở vật chất và nguồn tài chính ổn định để duy trì thực hiện, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến đến chính sách và uy tín của Đảng và Nhà nước; cũng như làm tổn thương, ảnh hưởng đến cuộc sống của các đối tượng chính sách
1.1.5.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng thực thi chính sách
Yếu tố kinh tế, xã hội có tác động rất lớn trong việc thực hiện chính sách ASXH Một đất nước phát triển mạnh về kinh tế, trong môi trường xã hội ổn định và hài hòa sẽ là điều kiện rất thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện các chính sách Kinh tế và xã hội có mối quan hệ hữu cơ, mật thiết với nhau Kinh tế phát triển, Nhà nước có nguồn thu ngân sách cao, ổn định để phân bổ
ổn định nguồn ngân sách hàng năm cho việc thực hiện các chính sách an sinh
xã hội, tạo điều kiện cho người dân và các đối tượng chính sách có điều kiện thụ hưởng chính sách, góp phần nâng cao thu nhập, ổn định đời sống, góp phần ổn định xã hội Một đất nước hòa bình, ổn định về an ninh chính trị, người dân phấn khởi tin tưởng, ủng hộ Đảng, Nhà nước, hăng say lao động sản xuất là cơ sở quan trọng để thu hút các nhà đầu tư yên tâm đầu tư phát triển sản xuất tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, giúp cho việc tích lũy phúc lợi lớn hơn để tiếp tục duy trì, thực hiện chính sách Ngược lại, một xã hội bất ổn về an ninh chính trị, luôn luôn biến động sẽ tác động tiêu cực đến nền kinh tế đất nước, sẽ kéo nền kinh tế phát triển chậm, ảnh hưởng đến nguồn lực để duy trì thực hiện chính sách
Trong những năm gần đây, đất nước ta đã duy trì được sự ổn định về mặt xã hội; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; kinh tế đã dần phục hồi và có những bước phát triển ổn định, tạo điều kiện cho Đảng và Nhà nước ta tiếp tục duy trì, và từng bước mở rộng, nâng cao các chế độ chính sách đối với người có công cách mạng, giúp cho các đối tượng phấn khởi, yên tâm và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
Trang 301.2 Cơ sở thực tiễn về công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội
1.2.1 Một số nghiên cứu có liên quan đến hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội
An sinh xã hội là vấn đề đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học
Do đó, nhiều công trình đã được công bố, đề cập những khía cạnh khác nhau, với nội dung và cách tiếp cận phong phú, đa dạng Trong đó có những công trình tiêu biểu như:
- “Luận cứ khoa học cho việc đổi mới và hoàn thiện các chính sách bảo đảm xã hội trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Công trình nghiên cứu cấp nhà nước mang mã số KX 04.05 do Viện Khoa học lao động và các vấn đề xã hội thuộc
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội làm chủ đề tài Kết quả nghiên cứu của
đề tài đề cập đến một cách khá hệ thống vấn đề đổi mới, hoàn thiện các chính sách bảo đảm xã hội như: đã làm rõ khái niệm về đảm bảo xã hội; mối quan
hệ giữa bảo đảm xã hội với các chính sách xã hội, vị trí, vai trò và sự cần thiết khách quan của bảo đảm xã hội trong nền kinh tế thị trường, khẳng định bảo đảm xã hội vừa là nhân tố ổn định, vừa là động lực cho phát triển kinh tế xã hội; đề tài đã nghiên cứu làm rõ các bộ phận cấu thành của bảo đảm xã hội là BHXH, trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội; đã đánh giá thực trạng của các bộ phận cấu thành này, chỉ ra những thành tựu, hạn chế của nó và chỉ ra quan điểm, phương hướng và giải pháp phát triển trong tương lai của hệ thống bảo đảm
xã hội ở nước ta;
- “An sinh xã hội đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” Luận văn Tiến sỹ của tác giả Mai Ngọc Anh - Chuyên ngành quản lý kinh tế, trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sơn La Tác giả đã nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường; tổng kết kinh nghiệm về xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân ở
Trang 31một số nước trên thế giới, rút ra những kinh nghiệm có thể vận dụng vào việc xây dựng hệ thống ASXH đối với nông dân ở nước ta; khái quát thực trạng hệ thống ASXH ở nước ta hiện nay, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế của hệ thống ASXH hiện hành đối với nông dân;
- "Ảnh hưởng của hệ thống ASXH tới vấn đề nghèo đói của hộ nông dân huyện Văn Chấn - tỉnh Yên Bái" Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Chương Phát, Trường đại học Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên Tác giả đã làm rõ quan niệm, đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên nhân và đề xuất những giải pháp tăng cường sự ảnh hưởng của hệ thống ASXH tới vấn đề nghèo đói của hộ nông dân huyện Văn Chấn - tỉnh Yên Bái";
- “Phát triển hệ thống ASXH ở Việt Nam đến năm 2020” Sách chuyên khảo do Viện khoa học Lao động và xã hội thuộc Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội Việt Nam biên soạn Cuốn sách đã đề cập và làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn cũng như những nội dung, chính sách chủ yếu và thực trạng của hệ thống ASXH ở Việt Nam hiện nay; định hướng phát triển chính sách ASXH đến năm 2020;
- Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Chiêu, Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Sơn La “An sinh xã hội và định hướng nghiên cứu nhằm nâng cao vai trò của khoa học xã hội vào quá trình hoạch định chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam” Bài viết
đã chỉ ra vai trò của hệ thống ASXH đối với sự phát triển kinh tế xã hội hiện nay, đồng thời đề ra những định hướng nghiên cứu nhằm phát huy vai trò của khoa học xã hội vào quá trình hoạch định chính sách ASXH ở Việt Nam;
- Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Mai Ngọc Anh, trường Đại học Kinh tế Quốc dân với đề tài “An sinh xã hội đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” Trong phạm vi luận án này, tác giả chủ yếu
đề cập đến các nhân tố, điều kiện xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH hiện đại đối với nông dân Từ đó làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn trong
Trang 32việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường;
- Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Chương Phát, trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh với đề tài “Ảnh hưởng của hệ thống An sinh xã hội tới vấn đề nghèo đói hộ nông dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái” Trong đề tài này trên cơ sở đánh giá ảnh hưởng hệ thống ASXH tới nghèo đói của hộ nông dân huyện Văn Chấn, tác giả đã đưa ra các kiến nghị, giải pháp toàn diện nhằm xây dựng hệ thống ASXH đảm bảo giữa tăng trưởng kinh tế với xóa đói giảm nghèo
Các nghiên cứu trên tuy đã góp phần cung cấp cơ sở khoa học, lý luận thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH nói chung ở nước
ta những năm qua Tuy nhiên, việc nghiên cứu thực hiện ASXH ở huyện Sốp Cộp vẫn chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu, giải quyết thấu đáo những vấn đề đang đặt ra trong thực hiện chính sách ASXH
1.2.2 Kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách sách an sinh xã hội của một số địa phương tại Việt Nam
1.2.2.1 Kinh nghiệm của huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
Thời gian qua, các chính sách đảm bảo an sinh xã hội luôn được các cấp, ngành, địa phương trên địa bàn huyện Thăng Bình quan tâm thực hiện; xem đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc Bằng cách đẩy mạnh tuyên truyền, vận động và những mô hình hiệu quả triển khai tới cơ sở, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội trong huyện cũng góp phần huy động mọi nguồn lực cho an sinh xã hội, từng bước nâng cao đời sống của nhân dân
Trong những năm qua, hoạt động chăm lo cho người nghèo đã trở thành hoạt động thường niên của huyện với mục tiêu là hỗ trợ, cứu trợ cho các đối tượng yếu thế, góp phần đảm bảo an sinh xã hội Với vai trò là cơ quan thường trực của Ban Vận động Quỹ “Vì người nghèo”, hằng năm, Ủy ban
Trang 33MTTQ huyện đã xây dựng kế hoạch vận động ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo”, triển khai chương trình an sinh xã hội và công tác cứu trợ trong năm Hình thức vận động Quỹ “Vì người nghèo” cũng được triển khai đồng bộ xuống các địa bàn dân cư Tùy điều kiện cụ thể ở từng địa phương, các hình thức vận động quỹ, các mô hình giúp nhau giảm nghèo có nhiều nội dung phong phú,
đa dạng như: Giúp nhau bằng ngày công lao động, vật liệu xây dựng, bằng kinh nghiệm, truyền nghề, phổ biến khoa học kỹ thuật, tín chấp vay vốn đầu
tư phát triển sản xuất Trong đó việc đóng góp, ủng hộ bằng tiền là một nội dung quan trọng để huy động các nguồn lực hỗ trợ xóa nhà tạm, xây nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo Ban Vận động Quỹ “Vì người nghèo” các cấp đã tăng cường tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cộng đồng chung tay hỗ trợ người nghèo; kêu gọi các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tích cực tham gia, đóng góp, ủng hộ xây dựng quỹ Đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát để đảm bảo mọi khoản tiền hỗ trợ gửi tới đều được tiếp nhận, quản
lý và sử dụng đúng mục đích, công khai, minh bạch
Đến nay, Quỹ “Vì người nghèo” toàn huyện đạt trên 6,8 tỷ đồng (trong
đó huyện huy động được trên 3 tỷ đồng, cấp xã huy động được trên 3,8 tỷ đồng); đã hỗ trợ, giúp đỡ xây mới 64 ngôi nhà Đại đoàn kết với số tiền trên 2,5 tỷ đồng, hỗ trợ sửa chữa 165 ngôi nhà với số tiền trên 2,5 tỷ đồng Giúp
đỡ gia đình hộ nghèo nghèo, cận nghèo phát triển kinh tế với số tiền trên 200 triệu đồng Ban vận động đã hỗ trợ chi phí chữa bệnh cho nhiều trường hợp gia đình nghèo, khó khăn; hỗ trợ chi phí cho hàng trăm học sinh nghèo, cận nghèo vượt khó vươn lên trong học tập với số tiền hàng trăm triệu đồng Hỗ trợ trên 600 xuất quà tết cho hộ nghèo vui xuân đón Tết cổ truyền của dân tộc
và trong ngày hội đại đoàn kết ở khu dân cư với số tiền trên 350 triệu đồng Ban Vận động Quỹ “Vì người nghèo” các xã, thị trấn, Ban công tác Mặt trận thôn đã lồng ghép nội dung hưởng ứng tuyên truyền Tháng cao điểm trong sinh hoạt ngày hội tại khu dân cư, biểu dương các tập thể, cá nhân có nhiều
Trang 34đóng góp cho hoạt động vì người nghèo tại địa phương; đồng thời hỗ trợ sửa chữa cho hàng chục gia đình có nhà ở xuống cấp, tạm bợ, trao hỗ trợ sinh kế cho 11 trường hợp hộ nghèo, hộ khó khăn, trao 1.200 xuất quà cho hộ nghèo, khó khăn và học sinh nghèo vượt khó học giỏi Ngoài việc huy động bằng tiền mặt; Ban Thường trực UBMTTQ Việt Nam và Ban vận động Quỹ “Vì người nghèo” các cấp cũng đã đa dạng hóa các hình thức vận động khác như đóng góp ngày công, vật liệu, xây dựng nhà ở; hỗ trợ cây giống, con vật nuôi… cho
hộ nghèo ở từng địa bàn khu dân cư Bên cạnh đó, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công tác giảm nghèo, chỉ đạo các cơ
sở Hội rà soát các đối tượng nghèo, tuyên truyền vận động các hộ đăng ký thoát nghèo bền vững
Bên cạnh vận động quỹ “Vì người nghèo”; công tác vận động, quản lý,
sử dụng Quỹ “Cứu trợ” đạt được kết quả tích cực, năm 2018 đã tiếp nhận gần 1,4 tỷ đồng và đã giải ngân kịp thời đến các hộ dân bị thiệt hại trên địa bàn Đặc biệt, để khắc phục hậu quả các đợt bão lụt, Ban Cứu trợ huyện cũng đã tiếp nhận và phân bổ trực tiếp đến với nhân dân hàng ngàn xuất quà và tiền mặt để hỗ trợ kịp thời các trường hợp khó khăn sớm ổn định cuộc sống
Với những kết quả đạt được trong công tác vận động Quỹ “Vì Người nghèo” và Quỹ “Cứu trợ” và công tác hỗ trợ, giúp đỡ hộ nghèo, trường hợp khó khăn đột xuất đã góp phần cho công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện đạt được nhiều kết quả, tỷ lệ hộ nghèo năm 2018 giảm xuống còn 4,78% (hiện còn 2.555 hộ nghèo, giảm 784 hộ so với năm 2017, nghị quyết đề ra giảm từ
350 - 400 hộ); tỷ lệ hộ cận nghèo còn 3,36% (giảm 501 hộ so với năm 2017)
Mặt trận Tổ quốc từ huyện đến cơ sở xác định việc triển khai huy động Quỹ “Vì người nghèo” để có nguồn lực hỗ trợ cho hộ nghèo trên địa bàn huyện là một nhiệm vụ quan trọng Thời gian tới, bám sát các văn bản chỉ đạo của Trung ương, tỉnh về việc tiếp tục đẩy mạnh vận động ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo”, Ủy ban MTTQ huyện chủ động phối hợp với các đoàn thể
Trang 35tuyên truyền, vận động để nhân dân tích cực tham gia và thực hiện có hiệu quả Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, gắn với thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; hăng hái thi đua lao động, sản xuất; tăng cường áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững
Tích cực tuyên truyền, vận động các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, doanh nhân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và các tầng lớp nhân dân trong và ngoài huyện tiếp tục thực hiện Chương trình “Chung tay vì người nghèo” do Ủy ban trung ương MTTQ Việt Nam phát động Tích cực tham gia ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo” tạo thêm nguồn lực thực hiện lộ trình
hỗ trợ hộ nghèo cải thiện về nhà ở và thực hiện các chương trình an sinh xã hội khác của huyện
Những hoạt động thiết thực chăm lo đời sống cho người nghèo của MTTQ và các đoàn thể chính trị xã hội trên địa bàn huyện đã tạo sự lan tỏa sâu rộng và phát huy được tinh thần tương thân tương ái trong cộng đồng Qua đó, góp phần cùng các cấp, ngành thực hiện chính sách an sinh xã hội, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc
1.2.2.2 Kinh nghiệm của thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa
Xác định công tác an sinh xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh trật tự,
an toàn xã hội ở địa phương Trong những năm qua, thị xã Ninh Hòa đã triển khai đồng bộ các giải pháp đảm bảo an sinh xã hội trên nhiều phương diện như: Hỗ trợ người dân phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, giúp người dân tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, văn hóa, rà soát, giải quyết các chế độ chính sách cho người nghèo, hộ cận nghèo, chăm
lo, giải quyết các chế độ chính sách với người có công, đối tượng trợ cấp xã hội, qua đó đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân
Trang 36Về lao động và việc làm, thực hiện công tác giảm nghèo và giải quyết việc làm cho lao động, nhất là lao động nông thôn, Thị xã đã chọn đào tạo các nghề có nhiều cơ hội việc làm, sản phẩm tiêu thụ tốt, phù hợp với nhu cầu của địa phương như: nghề trồng cây lương thực, thực phẩm, chăn nuôi gia súc, gia cầm, đan mây tre lá, nấu ăn, may công nghiệp Chỉ tính riêng trong năm 2019, Thị xã đã mở 67 lớp dạy nghề cho 1.930 lao động nông thôn theo Đề án 1956, trong đó, có 36 lớp dạy nghề phi nông nghiệp, 17 lớp dạy nghề nông nghiệp Ngoài việc chủ động đào tạo nghề sát với nhu cầu và phù hợp với thực tiễn của địa phương, thị xã đã vận động các đơn vị, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh ưu tiên tuyển lao động địa phương vào làm việc Tỉ lệ lao động có việc làm sau đào tạo nghề đạt trên 90% Công tác xuất khẩu lao động là nhiệm vụ quan trọng trong giải quyết việc làm, là kênh thoát nghèo bền vững Vì vậy, trong 5 năm qua, thị xã đã tư vấn tạo nguồn, giới thiệu xuất khẩu 178 lao động đi làm việc nước ngoài
Về chính sách an sinh xã hội, nhằm sẻ chia những khó khăn với các đối tượng hộ nghèo, cận nghèo, có hoàn cảnh khó khăn, đối tượng bảo trợ xã hội, trong 5 năm qua, Thị xã đã trợ cấp xã hội cho gần 10 nghìn trường hợp Vào dịp Tết Nguyên đán hàng năm, Thị xã đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho các gia đình thuộc diện hộ nghèo, hộ neo đơn đặc biệt khó khăn, hỗ trợ gạo cứu đói trong dịp Tết Nguyên đán cho hàng nghìn hộ nghèo, cận nghèo, với mức
hỗ trợ là 15 kg/khẩu Phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, "Đền
ơn đáp nghĩa", Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân thị xã Ninh Hòa đã tích cực chăm lo tốt đời sống vật chất và tinh thần cho các đối tượng chính sách, thực hiện chi trả đúng, đủ, kịp thời các chế độ đối với người có công, cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế cho đối tượng chính sách, người có công cách mạng Mỗi năm, nhân các ngày lễ, Tết, thị xã đã thăm và tặng hơn 30 nghìn suất quà với tổng giá trị hơn 6 tỷ đồng Trong 3 năm, từ 2017 đến 2019, thị xã Ninh Hòa đã vận động Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” được hơn 3,1 tỉ đồng, đã xây
Trang 37mới và sửa chữa 110 nhà tình nghĩa với tổng trị giá 3,2 tỉ đồng cho các gia đình chính sách khó khăn về nhà ở
Bên cạnh thực hiện tốt công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, các chương trình chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em cũng được các cấp, các ngành thị xã Ninh Hòa thực hiện có hiệu quả, đúng quy định của pháp luật Trong 5 năm qua, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Ninh Hòa phối hợp với Trung tâm Phục hồi chức năng - Giáo dục trẻ em khuyết tật tỉnh Khánh Hòa
đã tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho trẻ em khuyết tật và kiểm tra phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho hơn 500 em tại các xã, phường, cơ sở Mái
ấm Anh Đào, Trung tâm Bảo trợ xã hội và Công tác xã hội thị xã Ninh Hòa, nhân dịp này, Thị xã đã trao 197 suất học bổng cho học sinh nghèo vượt khó
từ nguồn Quỹ “Bảo trợ trẻ em”, mỗi suất 1 triệu đồng Tổ chức thành công
“Diễn đàn trẻ em thị xã Ninh Hòa” theo chủ đề hàng năm và tham gia Diễn đàn trẻ em cấp tỉnh đạt thành tích cao
Có thể nói, với sự nỗ lực của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự vào cuộc của các ngành, các Hội, đoàn thể và hưởng ứng tích cực của người dân trong việc triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp an sinh xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của người dân Ninh Hòa, nhất là các đối tượng hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng chính sách, bảo trợ xã hội từng bước được cải thiện Đến cuối năm 2019, thị xã Ninh Hòa còn 1.184 hộ nghèo theo chuẩn đa chiều, chiếm tỉ lệ 1,91% dân số
1.2.3 Bài học rút ra cho huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La trong công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện
- Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, phát huy truyền thống tốt đẹp, tương thân, tương ái trong tổ chức thực hiện chính sách an sinh
xã hội Có chủ trương phù hợp trong lãnh đạo, quản lý, điều hành các chương trình, đề án, cơ chế, chính sách an sinh xã hội Phát huy vai trò của Mặt trận
Trang 38Tổ quốc và các hội, đoàn thể, sự tham gia của người dân trong công tác tuyên truyền, vận động thực hiện các chính sách an sinh xã hội
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, đoàn thể và nhân dân về các chính sách an sinh xã hội; tổ chức tuyên truyền bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú; xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử về chính sách ưu đãi người có công và an sinh xã hội
- Kiện toàn và hiện đại hóa bộ máy quản lý thực hiện chính sách xã hội
ở các cấp; đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức công tác xã hội cho cán bộ lãnh đạo quản lý và trực tiếp thực hiện các chính sách xã hội; đồng thời, có sự quy hoạch sử dụng, bố trí, sắp xếp hợp lý, chú trọng đến cán bộ, cộng tác viên, tình nguyện viên ở cơ sở; tăng cường năng lực làm việc và hiệu suất công tác thông qua ứng dụng công nghệ thông tin
- Đẩy mạnh xã hội hóa huy động nguồn lực; thực hiện lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình quốc gia để tăng nguồn lực thực hiện các chính sách an sinh xã hội
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn lực, kinh nghiệm; vận động và tạo cơ hội cho sự tham gia tích cực của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước, các tổ chức phi chính phủ trong thực hiện các chính sách an sinh
xã hội
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, trong đó tập trung ở những lĩnh vực nhạy cảm dễ nảy sinh tiêu cực như: các ưu đãi người có công, giảm nghèo, dạy nghề, xuất khẩu lao động, BHXH ; tổ chức đánh giá việc thực hiện chế độ, chính sách tại cơ sở để kịp thời rút ra những bài học kinh nghiệm, giải pháp thực hiện trong thời gian tới
Trang 39Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Sốp Cộp là huyện vùng cao biên giới được thành lập tháng 12/2003, có tổng diện tích tự nhiên là 148.088 ha, trong đó đất chưa sử dụng còn trên 81.700 ha, có thể sử dụng vào sản xuất nông nghiệp trên 7.000 ha và sản xuất lâm nghiệp 62.000 ha Đất đai ở Sốp Cộp màu mỡ, rất phù hợp cho trồng cây lương thực, cây công nghiệp và chăn nuôi gia súc như trâu, bò, lợn, dê Đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho phát triển công nghiệp chế biến nông lâm sản như sản xuất song mây, ngô, sán, măng tre xuất khẩu Huyện cũng có
kế hoạch phát triển công nghiệp khai thác tài nguyên khoáng sản và vật liệu xây dựng Bên cạnh đó huyện Sốp Cộp còn duy trì các ngành nghề truyền thống như thêu, dệt thổ cẩm, đan lát nhằm thu hút lao động nông nhàn và tăng thu nhập cho người dân Cách Thành phố Sơn La 130 km về hướng Đông Bắc
có hơn 124 km đường biên giới giáp với Lào Toàn huyện được chia làm 08 đơn vị hành chính là cấp xã, trong đó có 126 bản, 3 cụm dân cư và là huyện đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135 giai đoạn II của Chính phủ
Tọa độ địa lý trong khoảng từ 20056’21”B đến 103035’49”Đ Địa giới hành chính của huyện được xác định như sau:
- Phía Nam giáp nước CHDCND Lào;
- Phía Tây giáp huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điên Biên;
- Phía Bắc giáp huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La;
- Phía Đông giáp CHDCND Lào
Là huyện giáp với Lào nên huyện Sốp Cộp có vị trí đặc biệt quan trọng
về an ninh quốc phòng và bảo vệ chủ quyền Quốc gia đặc biệt khó khăn, nằm
xa các trung tâm kinh tế, văn hóa, xa tỉnh lỵ, với đường biên giới dài 124 km
Trang 40giáp với huyện Viêng Khăm (tỉnh Luông Pha Băng) huyện Mường Ét và huyện Viêng Thoong (tỉnh Hua Phăn) nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào,
đã tạo cho Sốp Cộp có vị trí đặc biệt về an ninh quốc phòng và đối ngoại và bảo vệ chủ quyền Quốc gia Mặt khác, huyện có nhiều đường tiểu ngạch qua lại trên tuyến biên giới Việt Lào vì vậy huyện có điều kiện giao lưu kinh tế trực tiếp với Lào, tạo cơ hội để phát triển dịch vụ, thương mại, xuất nhập khẩu
* Địa hình, địa mạo
Huyện Sốp Cộp có địa hình núi cao bị chia cắt mạnh, khá phức tạp Các dãy núi cao nằm ở các xã: Sam Kha, Mường Lèo, Nậm Lạnh, vùng núi thấp ở các xã: Sốp Cộp, Dồm Cang, Púng Bánh và Mường Lạn Độ cao trung bình từ
900 - 1.000 m so với mặt nước biển, đỉnh cao nhất 1.925 m ở Pu Sâng xã Mường Lèo, thấp nhất ở suối Nậm Công xã Sốp Cộp trên 700 m so với mực nước biển Các dãy núi dài và đứt gãy chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam tạo ra các tiểu vùng có đặc điểm địa hình, khí hậu, đất đai, nguồn nước tương đối đa dạng phù hợp để phát triển kinh tế hàng hóa thoả mãn yêu cầu của thị trường Căn cứ vào địa hình, huyện chia thành 2 tiểu vùng sinh thái nông - lâm nghiệp:
- Tiểu vùng 1: Gồm các xã vùng thấp: Sốp Cộp, Mường Và, Dồm Cang, Púng Bánh, Mường Lạn, vùng thuộc dạng địa hình núi thấp, độ cao 700 - 900
m, độ dốc nhỏ, là vùng sản xuất lương thực chủ yếu, đây là vùng động lực phát triển của huyện Đây là vùng phù hợp với việc trồng cây lương thực, cây
ăn quả, cây dược liệu, măng tre, chăn nuôi đại gia súc, gia cầm, phát triển công nghiệp chế biến, dịch vụ;
- Tiểu vùng 2: Bao gồm các xã vùng cao như: Sam Kha, Mường Lèo, Nậm Lạnh Vùng thuộc dạng địa hình núi, độ cao trung bình từ 1.000 - 1.800
m, độ dốc dọc lớn nhất, chia cắt mạnh, phù hợp với phát triển lúa nương, cây màu ngô, sắn kết hợp phát triển mạnh khai hoang ruộng nước nhằm đảm bảo
an ninh lương thực, trồng rừng phòng hộ và rừng sản xuất và chăn nuôi đại gia súc