1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm của triết học mác về giải phóng con người và ý nghĩa của nó đối với sự phát triển con người việt nam hiện nay

107 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 590,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bàn về vấn đề giải phóng con người, C.Mác đã vượt lên trên tất cả các nhà tư tưởng trước đó, trở thành một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của mọi thời đại, người sáng lập học thuyế

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

BÙI LÝ THANH TÂM

QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC VỀ

GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VIỆT NAM

HIỆN NAY

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC

Mã số: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học PGS,TS VŨ VĂN GẦU

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

BÙI LÝ THANH TÂM

QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC VỀ

GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VIỆT NAM

HIỆN NAY

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC

Mã số: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học PGS,TS VŨ VĂN GẦU

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS, TS Vũ Văn Gầu Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của công trình này

Tác giả

Bùi Lý Thanh Tâm

Trang 4

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn 6

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 7

6 Kết cấu luận văn 7

Chương 1: ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC VỀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI 8

1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC VỀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI 8

1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC MÁC 15

Chương 2: NỘI DUNG CỦA TRIẾT HỌC MÁC VỀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY 44

2.1 NỘI DUNG CỦA TRIẾT HỌC MÁC VỀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI 44

2.1.1 Quan điểm của triết học Mác về bản chất và nguyên nhân của tha hóa 44

2.1.2 Quan điểm của triết học Mác về con đường khắc phục tha hóa để phát triển toàn diện con người 52

2.2 Ý NGHĨA CỦA TRIẾT HỌC MÁC VỀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY 61

Trang 5

xem xét thực trạng tha hóa ở Việt Nam hiện nay 61 2.2.2 Một số giải pháp khắc phục tha hóa để phát triển con người Việt Nam hiện nay 74

KẾT LUẬN 92 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Con người từ trước đến nay luôn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học đặc biệt là các ngành khoa học xã hội và nhân văn trong đó

có triết học Vấn đề con người luôn là vấn đề trung tâm của triết học

Tư tưởng giải phóng con người đã có từ rất lâu trong lịch sử triết học

và trải qua một quá trình phát triển để rồi hình thành nên đỉnh cao của tư tưởng giải phóng con người trong triết học Mác Bàn về vấn đề giải phóng con người, C.Mác đã vượt lên trên tất cả các nhà tư tưởng trước đó, trở thành một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của mọi thời đại, người sáng lập học thuyết về sự tự giải phóng của con người và làm cho triết học Mác trở thành hệ thống các quan điểm tiến bộ nhất, trên cơ sở hiểu được vị trí của con người, nắm được vai trò chủ thể đối với lịch sử của con người từ đó đề ra những giải pháp đúng đắn cho công cuộc giải phóng con người

Vấn đề con người và giải phóng con người là một đề tài quen thuộc nhưng cũng không bao giờ cũ bởi tính thực tiễn của nó Thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế đã mang trong bản thân nó cả những ưu điểm lẫn các hạn chế thể hiện trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội Một mặt, kinh tế thị trường đóng vai trò vô cùng quan trọng thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất, kích thích tính năng động, sáng tạo của các chủ thể kinh tế, đẩy mạnh tăng năng suất lao động, tạo nền tảng vật chất cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Mặt khác, trong quá trình vận động và phát triển của kinh tế thị trường, sự đấu tranh giữa các thành phần kinh tế trong nền sản xuất hàng hóa đã khiến cho người lao động trở thành một loại hàng hóa đặc biệt và sự tha hóa lao động trở thành một hiện tượng xã hội trong đó kết quả lao động của con người biến thành một lực lượng

Trang 7

đối lập thống trị và thù địch với con người, từ đây dẫn đến sự thay đổi những giá trị đích thực của con người Tại các xí nghiệp, các cơ sở sản xuất, hiện tượng công nhân đấu tranh, biểu tình đòi quyền con người được giải phóng thông qua các yêu sách như đòi tăng lương, đòi đáp ứng đầy đủ các phúc lợi xã hội đảm bảo đời sống công nhân,…đã không còn xa lạ Dù cho các chủ trương

vì con người, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện vẫn được khẳng định, nhưng thực chất hiệu quả của nó dường như vẫn chưa thể như mong đợi

Kế thừa lý luận của chủ nghĩa Mác về giải phóng con người và tư tưởng

Hồ Chí Minh về giải phóng con người là cơ sở khoa học cho việc giải đáp các vấn đề xã hội liên quan đến giải phóng con người, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện, để con người có được một cuộc sống đích thực cũng như sẽ mang lại một ý nghĩa vô cùng to lớn đối với việc phát triển nhân tố con người trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã

hội Vì những vấn đề lý luận và thực tiễn đã nêu trên, tôi chọn đề tài “Quan điểm

của triết học Mác về giải phóng con người và ý nghĩa của nó đối với sự phát triển con người Việt Nam hiện nay” làm luận văn thạc sĩ triết học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề con người và giải phóng con người trong chủ nghĩa Mác là vấn

đề quan trọng liên quan đến mục tiêu của toàn bộ chủ nghĩa Mác - Lênin Xã hội Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, chuyển giao giữa cái cũ và cái mới Vì vậy, hiện tượng tha hóa sức lao động của con người vẫn còn tồn tại Nó thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học với nhiều công trình tiêu biểu, tổng quan lại có ba hướng chính sau đây:

Thứ nhất, vấn đề quan điểm triết học Mác về con người và bản chất

con người đã có những công trình nghiên cứu sau:

Một số vấn đề về triết học - con người - xã hội của Nguyễn Trọng

Chuẩn (2003), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Tác phẩm gồm bốn phần: phần

Trang 8

thứ nhất nói đến vai trò phương pháp luận của triết học và một số vấn đề chung, phần thứ hai trình bày mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên, phần thứ ba nói đến triết học và vấn đề đào tạo nguồn nhân lực, phần thứ tư đề cấp đến vai trò của triết học trong công cuộc đổi mới đất nước Tác phẩm là một công trình nghiên cứu khá rộng lớn về triết học xã hội, trong đó vấn đề con người, nguồn gốc và bản chất con người được trình bày trên cơ sở những minh chứng khoa học xác đáng, qua đó thấy rõ những giá trị lịch sử và thời đại của chủ nghĩa Mác

Tư tưởng triết học về con người của Vũ Minh Tâm (chủ biên) (1996),

Nxb Giáo dục, Hà Nội Tác phẩm đã trình bày một cách khái quát các quan điểm triết học, những lý luận cơ bản xung quanh vấn đề con người, cấu trúc

và bản chất con người, góp phần chứng minh tính khoa học trong quan niệm

về con người của triết học Mác Tác phẩm thể hiện tính hệ thống cao, là cơ sở cho các nghiên cứu khác về vấn đề liên quan đến con người và xã hội

Vấn đề con người và giáo dục con người nhìn từ góc độ triết học xã hội của Nguyễn Thanh (2007), Nxb Tổng hợp TP HCM Tác phẩm gồm có

ba chương, luận giải khá sâu sắc về tính đặc thù của quan niệm triết học xã hội mácxít về con người, cũng như cơ sở lý luận và thực tiễn của quan niệm

đó, từ đó đề cập đến vai trò của nó đối với giáo dục ở Việt Nam hiện nay Đóng góp mà tác phẩm mang lại là cách xem xét hàng loạt vấn đề gắn liền với sáng tạo lịch sử của con người hiện nay với các con đường tối ưu hóa nó

Thứ hai, vấn đề quan điểm triết học Mác về giải phóng con người đã

có những công trình nghiên cứu sau:

Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về con người và sự nghiệp giải phóng con người của Bùi Bá Linh do Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội phát

hành năm 2003 Tác phẩm gồm ba chương, trong đó tác giả phân tích và trình

bày một cách có hệ thống quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về con người

Trang 9

và bản chất con người, mối quan hệ giữa con người - tự nhiên - xã hội, vai trò của con người và về sự nghiệp giải phóng con người; qua đó khẳng định bản chất cách mạng và nhân văn trong quan niệm của chủ nghĩa Mác cũng như khẳng định sự vận dụng quan niệm triết học Mác về con người của Đảng ta trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội là đúng đắn

Quan niệm của Các Mác về tha hóa và ý nghĩa của quan niệm đó đối

với phát triển con người Việt Nam hiện nay của Nguyễn Thị Thanh Huyền do

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Trong ba chương của tác phẩm, tác giả đã luận giải khá kỹ lưỡng cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề về tha hóa, các biểu hiện của tha hóa, làm rõ nguyên nhân và bản chất của tha hóa dưới quan điểm của triết học Mác Đồng thời, tác giả cũng có đề xuất các biện pháp khắc phục tình trạng tha hóa hướng đến mục tiêu giải phóng và phát triển con người Việt Nam toàn diện trên cơ sở vận dụng quan niệm của triết học Mác về tha hóa Đây là công trình nghiên cứu về tư tưởng giải phóng con người trong triết học Mác với lý luận khá chặt chẽ

Tư tưởng giải phóng con người trong triết học của C.Mác thời kỳ 1844

- 1848 và ý nghĩa của nó của Ngô Thị Huyền (2011), Luận văn thạc sĩ triết học,

Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành Phố Hồ Chí Minh Luận văn này gồm hai chương, trình bày những cơ sở thực tiễn và lý luận hình thành tư tưởng triết học Mác về giải phóng con người trong thời kỳ đầu hình thành học thuyết Mác 1844 - 1848, qua đó rút ra ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu đối với sự nghiệp giải phóng con người ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Thứ ba, vấn đề quan điểm triết học Mác về sự phát triển con người đã

có những công trình nghiên cứu sau:

Con người và phát triển con người trong quan niệm của C.Mác và Ph Ăngghen của Hồ Sỹ Quý do Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội ấn hành năm

2003 Tác phẩm gồm hai phần: phần thứ nhất trình bày những luận điểm về

Trang 10

con người và phát triển con người theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, phần thứ hai gồm các bài viết của nhiều tác giả phân tích, làm rõ quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về vấn đề con người và phát triển con người Đây

là tác phẩm nghiên cứu có tính khái quát cao, luận giải các vấn đề một cách sâu sắc trên cơ sở cập nhật tri thức mới của thời đại

Triết học Mác - Lênin về con người và việc xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa của Vũ Thiện Vương (2001)

do Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội ấn hành Tác phẩm gồm ba chương trình bày những quan điểm của triết học Mác về con người, một số vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa Từ đó, tác giả đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm xây dựng con người Việt Nam đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội Tác phẩm đã đề cập và

lý giải vấn đề con người trong sự vận động và phát triển không ngừng của xã hội đúng theo tinh thần biện chứng của chủ nghĩa Mác

Mấy vấn đề triết học về xã hội và phát triển con người của Nguyễn

Văn Huyên (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Tác phẩm được bố trí làm hai phần: phần thứ nhất trình bày về chủ nghĩa xã hội và sự phát triển xã hội Việt Nam, phần thứ hai đề cập đến lý tưởng xã hội chủ nghĩa và vấn đề phát triển con người Việt Nam Trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người, tác giả đã có những luận giải xác đáng mang tính thời sự đối với việc phát triển con người Việt Nam

Bên cạnh đó, còn có rất nhiều bài viết về vấn đề con người với tư tưởng giải phóng và phát triển con người dưới quan điểm của chủ nghĩa Mác được đăng trên các tạp chí như Tạp chí Triết học, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Khoa học xã hội, Tạp chí phát triển nhân lực,…

Như vậy, vấn đề con người và giải phóng con người rất được quan tâm với nhiều đề tài và công trình nghiên cứu Ở mỗi khía cạnh, các nhà

Trang 11

nghiên cứu có một góc nhìn khác với một cách đặt vấn đề khác Và điều đó làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên phong phú hơn và đa dạng hơn Với tinh thần như thế cùng với sự tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước, luận văn thực hiện sự phân tích có hệ thống toàn bộ tư tưởng về giải phóng con người theo quan điểm của triết học Mác, từ đó rút ra

ý nghĩa cũng như đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi cho vấn đề giải phóng và phát triển con người Việt Nam trong giai đoạn hội nhập hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Mục đích của luận văn: làm rõ quan điểm của triết học Mác về giải

phóng con người và ý nghĩa của nó đối với việc phát triển con người Việt Nam hiện nay

Nhiệm vụ của luận văn:

Để đạt được mục đích trên, luận văn cần tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất: Khái quát điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề lý luận hình thành quan điểm của triết học Mác về giải phóng con người

Thứ hai: Trình bày nội dung quan điểm của triết học Mác về giải phóng con người

Thứ ba: Phân tích ý nghĩa của quan điểm triết học Mác về giải phóng con người đối với việc phát triển con người Việt Nam hiện nay

Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Tư tưởng giải phóng con người trong triết học Mác là một vấn đề khá sâu rộng Trong khuôn khổ một luận văn cao học, học viên không thể phân tích sâu sắc tư tưởng giải phóng con người của triết học Mác qua từng thời kỳ

mà chỉ tìm hiểu khái quát những nét nổi bật, những điểm tiêu biểu làm nên tư tưởng giải phóng con người của triết học Mác

Trang 12

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và hoàn thiện nhiệm vụ trên, luận văn đã thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp như: phương pháp logic, lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp thống kê liệt kê để làm sáng tỏ vấn

đề cần nghiên cứu

Trong luận văn này, tác giả cũng sử dụng một số tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, những thành tựu nghiên cứu của các tác giả đi trước cùng nhiều tạp chí khoa học xã hội có liên quan đến nội dung luận văn

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Về mặt lý luận: Luận văn góp phần nghiên cứu một cách có hệ thống

quan điểm của triết học Mác về giải phóng con người qua đó cho thấy sự phát triển về chất của nó trong lịch sử triết học

Về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần giúp người đọc hiểu được sự

nghiệp giải phóng con người cũng như quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Phát triển nền kinh tế thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa bộc lộ nhiều hạn chế là những hiện tượng tha hóa trên tất cả các lĩnh vực của đời sống Do đó, việc đi sâu nghiên cứu lý luận của triết học Mác

về giải phóng con người là cơ sở tìm ra giải pháp thích hợp thực hiện sự nghiệp giải phóng con người trong thực tiễn Ngoài ra, luận văn cũng đóng góp một phần nào đó trong việc làm tài liệu tham khảo, học tập và nghiên cứu triết học

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 4 tiết

Trang 13

Chương 1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC VỀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI

1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC VỀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI

Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp, làm cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được củng cố vững chắc là đặc điểm nổi bật trong đời sống kinh tế - xã hội ở những nước châu Âu

Cách mạng công nghiệp diễn ra đầu tiên ở nước Anh từ khoảng giữa thế kỉ XVIII sau đó lan rộng sang các nước châu Âu, Bắc Mỹ và có vai trò to lớn quyết định sự thắng lợi của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đối với phương thức sản xuất phong kiến Nội dung của cách mạng công nghiệp là phát minh, sáng chế ra máy móc thay thế cho con người, tiến hành cải tiến công cụ lao động thúc đẩy sản xuất phát triển Sự ra đời của “con thoi bay” (1733), “máy kéo sợi Gienny” (1765), “máy dệt” (1785) ứng dụng trong công nghiệp dệt đã mang lại sự tiến bộ vượt bậc áp đảo hoàn toàn nghề dệt vải thủ công Không dừng lại ở công nghiệp nhẹ, các ngành công nghiệp nặng như luyện kim, cơ khí, máy móc cũng được phát triển với sản lượng tăng lên vô cùng nhanh chóng Máy hơi nước của Giêm Oát (1784) thay thế cho máy chạy bằng sức nước đã tạo điều kiện hình thành các công xưởng lớn với nhiều nhà máy hơn và đông công nhân hơn Và kết quả quan trọng của cách mạng công nghiệp đối với nước Anh là đã tạo ra một “công xưởng của thế giới” cung cấp hàng hóa cho thị trường nhiều hơn bất cứ nước nào, khẳng định vị trí số một về kinh tế tại Châu Âu thời bấy giờ

Mặc dù, cách mạng công nghiệp ở Pháp diễn ra muộn và chậm hơn Anh nhưng cũng thu được nhiều thành tựu đáng kể “hệ thống đường sắt lan

Trang 14

rộng đẩy nhanh sự phát triển của ngành khai mỏ, luyện kim và thương nghiệp

Cơ khí hóa được tăng cường Từ năm 1852 đến 1900, số xí nghiệp dùng máy hơi nước tăng lên 12 lần”[34; tr.215] Tuy nhiên, nông nghiệp Pháp vẫn trong tình trạng lạc hậu, ít sử dụng kỹ thuật mới, khiến sản xuất bị kiềm hãm

và nông dân phải phụ thuộc vào các hãng buôn và bọn chủ nợ Sự tập trung phần lớn nền kinh tế trong các ngân hàng ở Pháp dẫn đến việc hình thành tầng lớp “tư sản ăn bám” không chăm lo sản xuất mà chuyên sống bằng lợi tức cho vay và biến Pháp trở thành đế quốc chuyên cho vay nặng lãi

Là một quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên, lại thực hiện công nghiệp hóa muộn hơn các nước khác, áp dụng được kinh nghiệm và phát minh kỹ thuật mới nhất vào sản xuất nên chỉ trong vòng bốn năm sau chiến tranh Pháp

- Phổ, Đức đã có tốc độ phát triển kinh tế đáng kinh ngạc bằng 1/4 thế kỉ trước đó và trở thành một nước công nghiệp quan trọng của châu Âu “năm

1883, Đức sản xuất 2/3 lượng thuốc nhuộm trên thế giới dùng cho ngành dệt

từ năm 1870 đến năm 1890, sản xuất than tăng 4,4 lần, gang tăng 6 lần Trong khoảng 10 năm, từ năm 1880 đến 1890, sản phẩm công nghiệp của Đức tăng 163%, sản phẩm công nghiệp tăng nhanh kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của ngành ngoại thương nhất là việc xuất cảng các sản phẩm công nghiệp” [34; tr.218] Dù vẫn duy trì quan hệ sản xuất phong kiến nhưng lực lượng sản xuất dưới tác động của cách mạng công nghiệp đã có những phát triển rõ rệt,

là tiền đề cho những đổi thay không thể tránh khỏi

Ngoài ra, cách mạng công nghiệp với sự chuyển đổi từ lao động bằng thủ công sang lao động bằng máy móc, các công trường thủ công được thay bằng những công xưởng có quy mô lớn cũng đã tác động lên nhiều nước khác của châu Âu và châu Mỹ như một tất yếu trong tiến trình “quá độ” từ xã hội phong kiến lên phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

Trang 15

Có thể nói chủ nghĩa tư bản đã khẳng định được vị trí của mình cùng với một nền sản xuất hàng hóa đạt được nhiều thành tựu với năng suất lao động rất cao, “đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại Sự chinh phục những lực lượng thiên nhiên, sự sản xuất bằng máy móc, việc áp dụng hóa học vào công nghiệp và nông nghiệp, việc dùng tàu chạy bằng hơi nước, đường sắt, máy điện báo, việc khai phá từng lục địa nguyên vẹn, việc khai thông các dòng sông cho tàu bè đi lại được, hàng khối dân cư tựa hồ như từ dưới đất trồi lên, có thế kỷ nào trước đây lại ngờ được rằng có những lực lượng sản xuất như thế vẫn nằm tiềm tàng trong lòng lao động xã hội” [46; tr.603]

Mặc dù chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đã thể hiện vai trò vô cùng to lớn của mình trong việc thúc đẩy lịch sử phát triển với việc phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất, xoá bỏ chế độ sở hữu phong kiến lạc hậu nhưng nó cũng bộc lộ những hạn chế không thể khắc phục, những mâu thuẫn không thể điều hòa biểu hiện rõ nét trong đời sống xã hội C.Mác đã nhận định chủ nghĩa tư bản hoàn toàn “không xóa bỏ được những đối kháng giai cấp Nó chỉ đem những giai cấp mới, những điều kiện áp bức mới, những hình thức đấu tranh mới thay thế cho những giai cấp, những điều kiện áp bức, những hình thức đấu tranh cũ mà thôi” [46; tr.597]

Cách mạng công nghiệp không chỉ làm thay đổi bộ mặt nền kinh tế ở các quốc gia nó đi qua mà còn làm biến đổi toàn bộ xã hội thị dân Và điều quan trọng hơn hết là nó sản sinh ra giai cấp vô sản - lực lượng đại biểu cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Sự tích lũy tư bản chủ nghĩa đã khiến cho nông dân mất ruộng đất, thợ thủ công mất việc, không còn tư liệu sản xuất buộc họ phải gia nhập vào giai cấp khác là giai cấp vô sản

Trong khi đó, cách mạng công nghiệp cũng giúp cho giai cấp tư sản có điều kiện bóc lột giai cấp công nhân ngày một nặng nề hơn khi mà “máy móc

Trang 16

càng xóa bỏ mọi sự khác nhau trong lao động và càng rút tiền công ở hầu khắp mọi nơi xuống một mức thấp ngang nhau, thì lợi ích, điều kiện sinh hoạt của vô sản, càng dần dần ngang bằng nhau Vì bọn tư sản ngày càng cạnh tranh với nhau hơn và vì khủng hoảng thương mại

do sự cạnh tranh ấy sinh ra, cho nên dẫn tới tình trạng tiền công của công nhân ngày càng trở nên bấp bênh; việc cải tiến máy móc không ngừng và ngày càng nhanh chóng hơn làm cho tình cảnh của những người vô sản ngày càng bấp bênh”[46; tr.607-608] Tất cả những phương thức bóc lột sức lao động, chiếm đoạt của cải tinh vi nhất, hiện đại nhất và hiệu quả nhất đều được thực hiện

Ngoài ra, điều kiện sinh hoạt và làm việc của công nhân cũng vô cùng tồi tệ Công nhân phải ở trong những khu nhà “ổ chuột” tồi tàn và làm việc trong môi trường thiếu vệ sinh, không đảm bảo sức khỏe với thời gian từ mười hai đến mười sáu tiếng đồng hồ mỗi ngày Để tiết kiệm chi phí, giai cấp

tư sản ở các nước tư bản châu Âu còn thuê cả lao động là phụ nữ và trẻ em làm việc trong các hầm mỏ, công xưởng với thời gian và điều kiện làm việc như nam giới nhưng tiền công thì ít hơn hẳn Dù lao động quần quật, nhận được đồng lương ít ỏi không đủ bù vào chi phí sinh hoạt để tái sản xuất sức lao động nhưng đứng trước nguy cơ thất nghiệp do các cuộc khủng hoảng mang lại và lượng công nhân quá đông đã khiến cho giai cấp công nhân dù không muốn vẫn phải gắn bó với giai cấp tư sản Chính sự bóc lột dã man ấy của giai cấp tư sản đã khiến cho cuộc sống của giai cấp công nhân trở nên nghèo nàn, cơ cực Có thể nói, sự giàu có của nhà tư bản luôn tỉ lệ thuận với

sự bần cùng hóa của giai cấp công nhân

Sức lao động của công nhân đã trở thành một loại hàng hóa đặc biệt khi mà tuyệt đại đa số bị tước hết mọi sở hữu còn toàn bộ tư liệu sản xuất lại tập trung trong tay một số ít nhà tư bản Người công nhân muốn tồn tại phải

Trang 17

bán sức lao động của mình cho nhà tư bản với giá rẻ mạt Cũng từ đây sinh ra hiện tượng tha hóa lao động Lao động đối với người công nhân, một mặt là phương tiện để sinh tồn, mặt khác lại là lực lượng xa lạ và nô dịch họ Lao động tha hóa sản sinh ra một thế giới vật chất và tinh thần thù địch với con người; làm cho con người bị hạ thấp xuống mức sinh tồn thú vật, vì mục đích của nó là duy trì hoạt động sống của mình trong khuôn khổ các nhu cầu thể xác, con người không còn là con người với ý nghĩa và bản chất xã hội nữa Sự tha hóa lao động kéo theo sự tha hóa con người như một xu thế ở các nước tư bản “công nhân càng sản xuất nhiều thì anh ta có thể tiêu dùng càng ít; anh ta tạo ra càng nhiều giá trị thì bản thân anh ta càng bị mất giá trị, càng bị mất phẩm cách; sản phẩm của anh ta tạo ra dáng càng đẹp thì anh ta càng què quặt; vật phẩm do anh ta tạo ra càng văn minh thì bản thân anh ta càng giống với người dã man; lao động càng hùng mạnh thì người công nhân càng ốm yếu; công việc anh ta làm càng phức tạp thì bản thân anh ta càng trống rỗng

về trí tuệ và càng bị nô lệ vào giới tự nhiên” [50; tr.131]

Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản làm cho những mâu thuẫn xã hội càng thêm gay gắt và bộc lộ ngày càng rõ rệt Theo quy luật vận động và phát triển của xã hội, khi lực lượng sản xuất trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ đạt đến trình độ xã hội hoá cao thì những quan hệ sở hữu

tư nhân tư bản chủ nghĩa sẽ trở thành vật cản đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất và nó biểu hiện về mặt xã hội chính là mâu thuẫn giữa giai cấp

tư sản và vô sản Từ đây, các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại sự áp bức, bóc lột của các nhà tư bản đã nổ ra lần lượt ở hầu hết các nước tư bản châu Âu

Cuộc khởi nghĩa của những người thợ dệt ở Lyông (Pháp) năm 1831

là phát pháo đầu tiên bắn vào giai cấp tư sản Sau khi giai cấp công nhân cùng với giai cấp tư sản lật đổ chính quyền phong kiến của dòng họ Buốc - bông

Trang 18

vào tháng 7 năm 1830, giai cấp tư sản đã thâu tóm toàn bộ thành quả cách mạng, ban hành luật thuế mới, cho phép giới chủ tư sản hạ lương công nhân, bóc lột công nhân dã man…Lúc đầu, công nhân dệt Lyông chỉ biểu tình tay không nhưng giai cấp tư sản lại dựa vào chính quyền đàn áp công nhân bằng

vũ trang buộc những người công nhân phải cầm vũ khí chống lại Trong 3 ngày 21, 22 và 23 tháng 11 năm 1831, công nhân được vũ trang đã đánh thắng quân đội của chính quyền phản động Công nhân đã làm chủ Lyông nhưng lại không dựng lên chính quyền của mình mà vẫn thừa nhận chính quyền cũ Điều này khiến giai cấp công nhân phải thất bại sau khi bị chính quyền đã được tăng cường vũ trang quay lại tấn công

Phong trào Hiến chương (Anh) diễn ra sôi nổi vào cuối những năm 30 thế kỷ XIX Đây được xem là phong trào cách mạng vô sản to lớn đầu tiên, thật sự có tính chất quần chúng và có hình thức chính trị đòi nhà nước phải đảm bảo các quyền lợi của giai cấp công nhân như quyền phổ thông đầu phiếu cho đàn ông đủ tuổi bầu cử, tổ chức bầu cử nghị viện hàng năm, phát lương cho các đại biểu,… Vào mùa hè năm 1838, trong các cuộc mít tinh, biểu tình của phong trào hiến chương đã có 250 ngàn người tham gia Đến tháng 9 năm

1838 đã có 500 ngàn người tham gia thư thỉnh nguyện lúc đầu có 1250000 người ký tên đến năm 1842 có hơn 3000000 người ký và đến năm 1847 con

số này tăng lên 5000000 chữ ký Tuy nhiên các thư thỉnh nguyện đều bị chính phủ bác bỏ vì vậy công nhân đã biểu tình, những người biểu tình bị đàn áp, những người lãnh đạo phong trào bị truy nã Cuối cùng phong trào bị thất bại

Ở Đức, lúc này trật tự xã hội nửa phong kiến vẫn tồn tại Dưới hai tầng áp bức của tư sản và phong kiến, đời sống của công nhân hết sức cực khổ Công nhân một mặt bị tầng lớp thương nhân, chủ xí nghiệp bóc lột; mặt khác họ phải đóng thuế cho địa chủ địa phương mới có quyền được dệt vải

Có những người thợ dệt đã chết vì đói Nỗi phẫn uất đã tích tụ từ lâu bùng

Trang 19

phát, tháng 6 năm 1844, một số đông công nhân dệt ở Xi-lê-di đã nổi dậy đập phá nhà xưởng, đốt kho, chiến đấu đánh bại các đơn vị quân đội và cảnh sát Sau khi Chính phủ chi viện, phong trào khởi nghĩa của công nhân bị dập tắt, nhiều người bị bắt và bị tra tấn nhục hình Tuy nhiên, cuộc đấu tranh của những người thợ dệt ở Xi-lê-di đã đưa đến sự ra đời một tổ chức vô sản cách mạng là “Đồng minh những người chính nghĩa” đánh dấu một sự phát triển mới trong phong trào công nhân

Nếu như trong các cuộc cách mạng tư sản, giai cấp tư sản thể hiện vai trò là giai cấp cách mạng trong việc lật đổ rào cản phong kiến chế ngự hàng nghìn năm, mở ra một thời đại mới tiến bộ trong lịch sử thì trong hoàn cảnh lịch sử này, vai trò ấy của giai cấp tư sản không còn nữa mà nhường chỗ cho giai cấp vô sản Giai cấp vô sản xuất hiện trên vũ đài lịch sử không chỉ có sứ mệnh là “kẻ phá hoại” chủ nghĩa tư bản mà còn là lực lượng tiên phong trong cuộc đấu tranh cho nền dân chủ và tiến bộ xã hội Các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân ban đầu chỉ mang tính chất tự phát, hướng tới mục tiêu kinh tế như đòi tăng lương, giảm giờ làm, cải thiện điều kiện làm việc, chống chế độ cúp phạt,…; nhưng sau đó, cùng với sự trưởng thành của giai cấp công nhân, các cuộc đấu tranh đã mang màu sắc chính trị - đó là cuộc đấu tranh giai cấp đòi quyền con người

Thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản đã đặt ra một vấn đề là giai

cấp vô sản muốn đánh bại giai cấp tư sản, giải phóng giai cấp, giành lại quyền làm người thì nhất định phải có lý luận tiến bộ và cách mạng dẫn đường Lý luận đó phải xuất phát từ thực tiễn, có cơ sở khoa học vững chắc, thể hiện thế giới quan cách mạng của giai cấp cách mạng triệt để nhất trong lịch sử Và tư tưởng giải phóng con người của triết học Mác xuất hiện trong bối cảnh như thế Bằng thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng, tư tưởng giải phóng con người đã được những nhà sáng lập triết học Mác trình bày một

Trang 20

cách hệ thống và hết sức rõ ràng, bắt đầu từ việc luận giải nguyên nhân thực

sự gây ra nỗi khổ cho giai cấp công nhân nói riêng và con người nói chung, sau đó vạch ra giải pháp, con đường để giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng con người

1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC MÁC

Triết học Mác nói chung và tư tưởng giải phóng con người trong triết học Mác nói riêng là sự kế thừa có chọn lọc toàn bộ tinh hoa tinh thần của nhân loại, mà chủ yếu là tinh hoa phương Tây, được tích lũy trong các học thuyết triết học từ hàng ngàn năm qua Triết học Mác là một vòng khâu trong chuỗi các vòng khâu nối tiếp nhau qua các thời đại, với sự mở rộng không ngừng tri thức triết học trong mối liên hệ với hoạt động thực tiễn, với khoa học và trình độ nhận thức chung

Triết học Hy Lạp cổ đại được xem như cái nôi sản sinh ra nền văn hóa

và văn minh châu Âu và cũng là điểm bắt đầu của triết học phương Tây Tư tưởng giải phóng con người ở thời kỳ này gắn liền với quá trình giải phóng tư duy khỏi bức tranh huyền thoại về thế giới, gắn liền với sự thay thế tư duy hình tượng - biểu tượng bằng tư duy ở trình độ khái niệm, thay việc sùng bái thần linh bằng sự đề cao lý trí con người

Bên cạnh những nhà triết học vẫn còn chịu sự chi phối của tư duy huyền thoại, Epiquya (khoảng 342 - khoảng 270 TCN) nổi lên như một đại biểu của tư tưởng triết học có xu hướng nhân bản, đi ngược lại xu thế phổ biến đương thời, báo hiệu một xu thế mới trong đó triết học tự nhiên nhường chỗ cho triết học hướng đến con người và vì con người Là đại biểu của nguyên tử luận, Epiquya một mặt bác bỏ sự can thiệp của các lực lượng siêu

nhiên vào thế giới, mặt khác sử dụng nguyên tử luận để giải thích trật tự đã

ổn định của xã hội, khẳng định các giá trị đạo đức bền vững Trong luận án

Trang 21

tiến sỹ của mình “Sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrít và triết

học tự nhiên của Epiquya”, C.Mác đã có ba phát hiện về đặc trưng của

nguyên tử luận Epiquya, đó là: 1) xu hướng nhân bản hóa nguyên tử luận, thông qua dao động tự do, sự đi chệch quỹ đạo của các nguyên tử khẳng định

khát vọng “tự do tự ý thức” của cá nhân, khát vọng phá vỡ các chuẩn mực lỗi thời trói buộc con người; 2) chống lại thói quen tín ngưỡng, sự mê tín và tâm

lý sùng bái thần linh, một mình lên tiếng chống lại cả cộng đồng, ví như Prômêtê thách thức thần Dớt, đem lửa đến cho con người; 3) sự kết hợp nguyên tử luận với duy cảm luận và chủ nghĩa khoái lạc, qua đó đề cao phẩm giá của “con người sống thực” Những đặc trưng ấy mang thông điệp bất khuất của những con người dám thách thức cả một trật tự xã hội, chống lại nền triết học tự nhiên “bỏ quên con người”

Nói về vấn đề con người thì Xôcrát (469 - 399 TCN) là người đầu tiên xem con người như một sinh thể có đạo đức vào trọng tâm của triết học mà người ta còn gọi là “bước ngoặt Xôcrát” Với tuyên bố “Hãy nhận biết chính

mình”, Xôcrát đã kết thúc triết học tự nhiên và mở ra trang sử mới cho triết

học về con người, dưới tên gọi Đạo đức học theo đó triết học như một định

hướng để con người sống tốt đẹp

Nhìn nhận về cuộc đời và về con người với bao niềm băn khoăn “Tại sao hiện trạng của thế giới loài người chao đảo? Tại sao lòng người tràn đầy dục vọng? Tại sao thành phố, quê hương chia rẽ? Tại sao sự giả dối, thù hiềm tràn lan?” [79; tr.63-64] Xôcrát cho rằng đó là do con người ta quá chú trọng đến những sự vật hiện tượng xung quanh bên ngoài mình như những ham muốn, tiền tài, danh vọng, quyền lực, sự tranh giành, kiếm chác,… mà quên mất bản thân con người mình Triết học về con người của Xôcrát đề cao phương pháp tiếp cận chân lý, ngầm hiểu là tri thức chân lý trong đời sống đạo đức, tức cái Thiện phổ quát Theo Xôcrát thì mỗi người đều được tạo hóa

Trang 22

ban tặng cho cái Chí thiện (Le souverain bien), cái Lý trí trong sáng (La raison pure), và Tình yêu thương (l’amour) Ba yếu tố này tạo thành ánh sáng nội tại bên trong con người Ánh sáng nội tại ấy chính là đạo đức luân lý và tinh thần sáng suốt Và một khi con người trở về với ánh sáng tâm linh, trở về với luân lý đạo đức thì xã hội loài người sẽ hòa bình, thịnh vượng, ấm no, con người được sống hạnh phúc Suy nghĩ, nhận thức về đạo đức, luân lý, cái thiện chính là cách mà Xôcrát đề cập trong triết học về con người, để giúp giải phóng con người khỏi những thứ giả tạo của cuộc sống

Khai thác lời dạy của Xôcrát nhưng những học trò của ông lại biến nó thành thứ lý thuyết tuyên bố “thoát về với mình” (thoát ra khỏi trạng thái hiện

có của xã hội, trở về với mình), kêu gọi con người sống theo những lối sống

có phần dị biệt, cá nhân để tự giải phóng mình, đó là phái Khoái lạc và phái Khuyển nho

Phái Khuyển nho (những con chó có học thức, sống lang thang, bất chấp dư luận xã hội, cắn người ta không bằng răng, mà bằng lời) chủ trương trở về với thiên nhiên qua bốn nguyên tắc sống cơ bản: nhấn mạnh ở khía cạnh đạo đức, con người sống hạnh phúc là sống theo lẽ tự nhiên; nhấn mạnh

khổ hạnh như sự giải thoát; đề cao đức hạnh, xem nó như cơ sở vươn đến điều

thiện và nguyên tắc cuối cùng gắn với chủ nghĩa cá nhân đặc thù của phái Khuyển nho đó là đem cá nhân chống lại các chuẩn mực đạo đức xã hội đang

Trang 23

Như vậy có thể thấy Xôcrát chính là người có công điều chỉnh cách

hiểu về đối tượng triết học, đưa nó từ trên trời xuống dưới đất, tạo nên hướng

đi mới hài hòa và bền vững hơn, vì thế giới của con người Và khi con người

là trở thành mối quan tâm hàng đầu thì hàng loạt các vấn đề liên quan đến con người như những chuẩn mực, những giá trị cần thiết cho việc hoàn thiện con người, thiết chế xã hội tốt đẹp, phù hợp với việc phát triển con người,… cần

có lời giải đáp để hướng đến sự giải phóng con người một cách triệt để nhất

Tiếp theo sau Xôcrát, người học trò xuất sắc của ông, Platôn đã phát triển những tư tưởng nhân bản của ông thông qua học thuyết về đạo đức - chính trị Đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy tâm khách quan, Platôn ghi dấu ấn của mình trong lịch sử triết học với học thuyết “ý niệm”, thế giới ý niệm vừa khuôn mẫu, cũng có nghĩa là mục đích, cái tuyệt đối, cái lý tưởng đối với các sự vật Nói về đạo đức và chính trị, Platôn nhấn mạnh đến các đức hạnh cơ bản của con người trong đó “công bằng” là đức hạnh chính trị, vì nó gắn với mục tiêu của nhà nước lý tưởng và vạch ra mục tiêu xây dựng nhà nước lý tưởng

Phê phán nền dân chủ lúc bấy giờ thể hiện tính mâu thuẫn, tính man rợ hóa, tính thiếu quyết đoán và tính cực đoan, chế độ nhà nước đang tồn tại sự bất bình đẳng không phù hợp với sự bất bình đẳng tự nhiên, con người điển hình của nhà nước dân chủ thì “vô sỉ, buông thả, hư đốn, thô tục” nên Platôn hướng đến mô hình nhà nước công bằng như mô hình lý tưởng - sự kết hợp phương thức cai trị kiểu Sparta và những dấu ấn tốt đẹp của thị quốc Athens trong quá khứ Nhà nước ấy là nơi “không có tư hữu, mọi công dân đều ăn chung và sống trong những doanh trại Vàng bạc châu báu không cần thiết Phụ nữ là tài sản chung, trẻ con sinh ra được giáo dục trong môi trường xã hội”[79; tr.126] Bốn nguyên tắc của nhà nước lý tưởng thể hiện ở phân tầng

xã hội, chủ thể quyền lực, tổ chức đời sống và quản lý, giáo dục toàn diện

Trang 24

Nguyên tắc công bằng cũng được lưu ý, khác với cào bằng, mà có tính đến khả năng của từng cá nhân, từng đẳng cấp xã hội, nói khác đi, nó chấp nhận

sự bất bình đẳng tự nhiên theo lẽ công bằng

Mặc dù, xã hội công bằng trong mô hình nhà nước lý tưởng của Platôn chỉ là một dạng chủ nghĩa cộng sản trại lính do những hạn chế không tránh khỏi của giai cấp, của thời đại và của cả tư duy nhưng nó cũng là những tư tưởng đáng trân trọng khi nó hướng đến quyền lợi của con người, hướng đến một xã hội nơi con người được là chính mình

Arixtốt (384 - 322 TCN) vừa là người điều chỉnh, vừa là người tổng kết giai đoạn hưng thịnh của triết học Hy Lạp Ông thực hiện sự tổng kết lịch

sử ở bình diện triết học và khoa học, trong đó nổi bật vấn đề bản chất của triết học nói chung, vấn đề nhận thức và phân loại tri thức, vấn đề đạo đức và chính trị - xã hội, tạo nên chuẩn mực và tiền đề cho triết học phương Tây ở các thời đại sau Khi tổng kết các thời kỳ đã qua của triết học cũng như bàn về bản chất và chức năng của triết học, Arixtốt khẳng định triết học sẽ trở nên vô nghĩa, nếu nó không quan tâm đến việc giáo hóa con người và xác lập không gian xã hội hợp lý cho sự phát triển của cá nhân, cộng đồng Về chính trị, tư tưởng của Arixtốt đã gặp gỡ với Platôn ở một điểm cơ bản: mục đích cao nhất của nhà nước “chân chính” là lợi ích chung Hình thức nhà nước được phân loại thành “chân chính” và “lệch lạc”, trong đó hình thức “chân chính” chỉ những nhà nước hướng đến lợi ích xã hội còn hình thức “lệch lạc” ám chỉ thể chế nhà nước chỉ quan tâm đến quyền lợi cá nhân

Thời trung đại (hay trung cổ) kéo dài khoảng 12 thế kỷ, nằm giữa cổ

đại và cận đại Nó là sự thay thế tất yếu chế độ chiếm hữu nô lệ duy trì suốt hàng ngàn năm, tước bỏ quyền làm người của một bộ phận xã hội đông đảo là giai cấp nô lệ Với sự ra đời của đạo Kytô, nền triết học thời trung cổ trở thành hệ tư tưởng mang màu sắc tôn giáo

Trang 25

Khi mới hình thành, Kytô giáo được xem như hiện tượng có tính cách mạng trong đời sống tinh thần của xã hội bởi nó là tôn giáo của người nghèo, là sức mạnh thu hút quần chúng bị áp bức trong thế giới tàn bạo, phi nhân tính và chết chóc, “tôn giáo - tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không

có tinh thần”[44; tr.570]; đồng thời trong điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, Kytô giáo vừa trở thành liệu pháp tâm lý, tinh thần, an ủi những người nghèo khổ và

bất hạnh “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”[44; tr.570], vừa khơi gợi nơi

họ niềm tin về cuộc sống tốt đẹp tương lai Nhờ giương cao ngọn cờ giải phóng con người (về mặt tinh thần, đạo đức), đứng về phía con người nên Kytô giáo

đã thu hút được đông đảo dân chúng trong suốt nhiều thế kỷ

Tuy nhiên, từ năm 524 - 525 trở đi khi trở thành tôn giáo của nhà nước phong kiến, Kytô giáo quay lại đàn áp các tôn giáo đa thần, tỏ thái độ thù địch đối với các giá trị văn hóa và khoa học cổ đại, nhất là những tư tưởng, học thuyết, những sản phẩm văn hóa trái với giáo lý chính thống Kytô giáo chi phối các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có sinh hoạt học thuật, tư tưởng Triết học liên minh với thần học, lấy việc chú giải, chứng minh cho chân lý sẵn có, tức các tín điều Kytô giáo, làm chức năng cơ bản

Về bản thể luận, Kytô giáo cho rằng tất cả mọi thứ đều do Chúa tạo ra, từ Chúa hoặc thông qua Chúa Về nhận thức luận, niềm tin đóng vai trò định hướng và dẫn dắt đối với lý trí; lý trí là kẻ phụng sự niềm tin Hàng loạt sự kiện và phạm trù đạo đức Kytô giáo trở thành chuẩn mực cho sự phán xét hành vi con người và bản chất xã hội trong các vấn đề thuộc khía cạnh đạo đức, nhân sinh, xã hội

Nói đến triết học thời trung cổ, người ta nhắc đến hai thời kì là thời kỳ giáo phụ học - nghiên cứu tư tưởng của những nhà tư tưởng Kytô giáo khởi thủy, người tiên phong trong việc bảo vệ, truyền bá Kytô giáo trong nhiều thế

Trang 26

kỷ và thời kì triết học kinh viện - là loại triết học chính thống, dùng trong các trường học, theo một chương trình thống nhất, lấy Kinh Thánh làm cơ sở thế giới quan; là những chân lý đã có sẵn trong Kinh thánh và các giáo điều thần học được triết lý hóa, xem như tri thức uyên bác, nhưng mang tính tư biện, xa

rời thực tiễn cuộc sống “Triết học hầu như đã hoàn toàn bị đồng hóa với thần

học tích cực; ngoài khuôn khổ ấy chỉ toàn là sai lầm và tà thuyết”[55; tr.588]

Bàn về con người, triết học thời trung cổ cho rằng Chúa hay Thượng

đế là đấng sáng tạo ra con người Thân xác và linh hồn con người do Thượng

đế ban tặng, chiếm vị thế đặc biệt trong thế giới - con người là khâu trung gian giữa vương quốc của tinh thần và vương quốc của tự nhiên Con người sống ở cả hai thế giới - cõi tạm và cõi vĩnh hằng Chết là rời cõi tạm, nên người Trung cổ luôn có niềm tin sâu sắc vào thế giới bên kia, không nghĩ đến cái chết và cũng không sợ cái chết Đây là thời đại mà triết học bị chi phối gần như hoàn toàn bởi thần học, con người không được tự do về tư tưởng, khoa học và những điều tiến bộ không có tiếng nói trong xã hội Do vậy sự giải phóng đối với con người cũng chỉ dừng lại ở quyền năng của Chúa, nhà thờ và giáo hội trong cả một quãng thời gian đằng đẵng không mong muốn

mà người ta gọi là “đêm trường trung cổ”

Trong khi thời kỳ trung cổ vẫn duy trì quan hệ sản xuất phong kiến thì những mầm mống của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã hình thành trong lòng nó với sự ra đời của các công xưởng thủ công thay thế cho các phường hội khép kín và chật hẹp Trong bối cảnh đó, phong trào Phục Hưng nổi lên như một bước đệm cho sự chuyển giao từ phương thức sản xuất phong kiến sang phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

Thuật ngữ “Phục hưng” dùng để chỉ hoạt động văn hóa khá phổ biến diễn ra tại các nước Tây Âu trong một thời kỳ lịch sử trước khi nổ ra các cuộc cách mạng tư sản, nhằm khôi phục, kế thừa và phát triển các giá trị văn hóa cổ

Trang 27

đại Hy Lạp - La Mã, từng bị lãng quên dưới thời trung cổ do sự phong tỏa của

ý thức hệ phong kiến và nhà thờ Kytô giáo Đây cũng được xem như thời đại

“con người trở về với chính mình”, con người được sáng tạo ra một lần nữa Hay nói cách khác, mục tiêu chung của thời Phục hưng là giải phóng con người, trước hết là con người - cá nhân, khỏi sự ràng buộc của ý thức hệ phong kiến và “nền chuyên chính tinh thần” của nhà thờ, mở đường cho sự sáng tạo văn hóa, khoa học, từng bước hướng đến việc xác lập không gian xã hội lý tưởng dành cho con người Vì lẽ đó tư tưởng nhân văn trở thành nội dung nổi bật và xuyên suốt của văn hóa Phục hưng Con người là điểm xuất phát, giải phóng con người là mục đích cuối cùng Đối với thời Phục hưng, tư tưởng nhân văn đề cao “nhân tính”, ca ngợi những giá trị đích thực của con người, lấy hình ảnh “con người tiến lên tự do” làm trung tâm; hướng đến thiết lập một xã hội tốt đẹp nhất dành cho con người, hay nói như các nhà nhân văn Phục hưng, thay “sự thống trị của Thượng đế” bằng “sự thống trị của con người”, xây dựng một “thiên đường trên mặt đất” bởi con người và cho con người Có thể nói chủ nghĩa nhân văn không chỉ thể hiện tâm trạng và khát vọng của con người trong thời đại đó, mà còn vạch hướng cho sự vận động của lịch sử tiến về phía trước

Tiêu biểu cho tư tưởng hướng đến sự giải phóng con người ở giai đoạn này không thể không kể đến “chủ nghĩa Êpiquya nhân văn” - hệ tư tưởng phục hồi triết lý nhân sinh Êpiquya, trong đó có chủ nghĩa khoái lạc, như sự phản ứng trước chủ nghĩa khắc kỷ và chủ nghĩa khổ hạnh Kytô giáo Nhằm luận chứng cho những giá trị của cuộc sống con người, Lôrendô Valla (1407 - 1457) - đại biểu của “chủ nghĩa Êpiquya nhân văn” cho rằng con người được Thượng đế ban tặng sức mạnh, quyền uy và hạnh phúc, do đó không một thế lực nào có thể tạo ra những cấm đoán phi nhân tính đối với nó, bởi điều đó đơn giản là xuyên tạc ý chí Thượng đế Con người chỉ hạnh phúc

Trang 28

khi có thể nếm trải, hưởng thụ hiện thực thông qua các cơ quan cảm giác Chủ nghĩa khoái lạc, theo Valla, gắn với nhu cầu tự nhiên của con người Mặc dù vẫn có ít nhiều yếu tố vị kỷ cực đoan nhưng những tư tưởng của Valla cũng

đã góp phần lên tiếng bảo vệ những quyền chính đáng của con người cá nhân

Trái với hệ tư tưởng Kytô giáo đặt Chúa vào vị trí trung tâm của vũ trụ, ở thời kỳ Phục hưng, vị trí ấy dành cho con người Tác giả của thuyết con người là trung tâm là Picô đêla Miranđôn (Pico della Mirandola, 1463 - 1494) Theo Picô, Thượng đế đặt con người vào vị trí trung tâm của vũ trụ, và trở thành chủ thể của sự thông thái, sự vĩ đại và cái đẹp của toàn thể vũ trụ do Thượng đế tạo ra Ngoài ra, ông còn nhấn mạnh tự do ý chí, thể hiện qua tự

do lựa chọn như một trong những phẩm giá cơ bản của con người trong hoạt động sống và sáng tạo Thượng đế ban cho con người quyền tự do, còn con người sử dụng nó như quyền lực của mình, với mục đích tạo dựng một thế giới tốt đẹp theo ý chí Thượng đế Xúc phạm tự do của con người đồng nghĩa với xúc phạm ý chí Thượng đế Như vậy sự giải phóng con người không hoàn toàn đi ngược lại ý chí siêu nhiên mà là một sự nhận thức trở lại và làm theo

Các nhà tư tưởng đã xác lập hình ảnh con người cá nhân, sáng tạo đối lập với sự hòa tan cá nhân vào cái “phổ quát”, đối lập năng lực tự do lựa chọn với những chuẩn mực đạo đức giáo điều Không chỉ hướng đến việc xây dựng con người mới mà các nhà nhân văn còn dành sự quan tâm đến việc xây dựng thiết chế xã hội lý tưởng phục vụ con người Các phương án cải cách đời sống

xã hội, dù còn sơ lược, có tác dụng tích cực đến sự hình thành tư tưởng giải phóng con người ở thời đại sau Nhắc đến việc xây dựng xã hội lý tưởng nhằm giải phóng con người không thể không nhắc đến chủ nghĩa xã hội không tưởng nổi lên với các đại biểu là những nhà tư tưởng như Tômát Morơ (1478-1535) và Tômadô Campanella (1568-1639)

Trang 29

Là người có trình độ học thức rộng, đã từng giữ những cương vị cao trong nghị viện nước Anh, Tômát Morơ sớm nhận ra những bất công trong xã hội Năm 1516, ông viết cuốn sách nổi tiếng lấy tên là “Utôpi” (không tưởng)

kể về một xã hội không có thực, nhưng lại là mô hình xã hội mà nhân dân lao động mơ ước Trong tác phẩm này, Tômát Morơ lên án chế độ người bóc lột người, khẳng định nguyên nhân của chế độ này cũng như mọi bất công trong

xã hội là chế độ tư hữu Còn bức tranh khái quát về xã hội lý tưởng mà ông phác họa là một xã hội thống nhất được tổ chức và quản lý chặt chẽ dựa trên chế độ sở hữu tập thể và lao động tập thể Ở đó, mọi người đều có nghĩa vụ tham gia lao động và nhận từ kho chung của xã hội những tư liệu sinh hoạt cần dùng mà không phải trả tiền, và tình trạng áp bức bóc lột cũng không còn nữa

Tômadô Campanella trong tác phẩm “Thành phố mặt trời” cũng có những đề xuất tương tự cho mô hình xã hội lý tưởng, mọi người được sống trong một xã hội tốt đẹp, bình đẳng, dân chủ, không có áp bức, bất công với nền tảng kinh tế là chế độ công hữu

Như vậy, tư tưởng thời Phục hưng với mục tiêu chung là giải phóng con người, trước hết con người - cá nhân, khỏi sự ràng buộc của ý thức hệ phong kiến và “nền chuyên chính tinh thần” của nhà thờ, khai mở con đường cho sự sáng tạo văn hóa, khoa học, từng bước hướng đến việc xác lập không gian xã hội lý tưởng dành cho con người; tôn vinh con người, lấy hình ảnh con người tiến lên tự do làm trung tâm, hướng đến một xã hội tốt đẹp, phụng

sự con người, thay sự thống trị của Thượng đế bằng sự thống trị của con người đã cho thấy một bước tiến vượt bậc trong tư tưởng về con người và sự giải phóng con người của lịch sử triết học

Tiếp theo bước chuyển Phục hưng là thời kỳ cận đại với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên Vào thời ấy khoa học đã trở thành một thiết

Trang 30

chế xã hội đặc trưng, một nhân tố nổi bật của tiến bộ xã hội Khoa học từ bỏ tính sách vở, thực hiện nhiệm vụ khai mở trí tuệ cho con người, giúp con người nâng cao năng lực làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và hoàn thiện chính bản thân mình Nhiều nhà khoa học đã dám đứng lên chống lại hệ tư tưởng thống trị của nhà thờ và giáo hội, thậm chí hy sinh cả tính mạng của mình để bảo vệ khoa học

Đây cũng là giai đoạn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đang dần thay thế phương thức sản xuất phong kiến Giải phóng con người hướng đến cuộc đấu tranh cho quyền tự nhiên của con người, con người phải được tự

do và bình đẳng Tư tưởng này hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của thời đại khi mà quan hệ sản xuất phong kiến đã trở nên chật hẹp, gò bó, không còn phù hợp với sự phát triển vượt bậc của lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa Các cuộc cách mạng tư sản nổ ra ở khắp nơi thời bấy giờ không nằm ngoài mục đích đem lại tự do cho con người Con người phải được tự do về thân thể, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do tín ngưỡng v.v… và được tự do bán sức lao động của mình Giai cấp tư sản lúc này thể hiện vai trò tiến bộ và cách mạng trong cuộc đấu tranh vì tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội

Sự chuyển biến lịch sử ấy đã tác động đến sinh hoạt tư tưởng, văn hóa tinh thần Triết học thời kỳ này thực hiện nhiệm vụ tìm hiểu sâu sắc hơn bản chất của thế giới, khẳng định quyền lực của con người; góp phần định hướng cho hoạt động thực tiễn, cho quá trình xác lập môi trường lành mạnh, nhân văn, thay thế xã hội phong kiến, xã hội mà các nhà Khai sáng Pháp thế

kỷ XVIII gọi là “phi lý” và “phi nhân tính” Ph.Bêcơn, R.Đêcáctơ, T.Hốpxơ, J.Lốccơ,…ở thế kỷ XVII hay như Môngtetxkiơ, Vônte, Rútxô, D Điđrô,…

ở thế kỷ XVIII là những tên tuổi gắn liền với tư tưởng giải phóng con người, mang lại cho con người một cuộc sống tự do, văn minh và tiến bộ trong thời

kỳ này

Trang 31

Ph.Bêcơn - “ông tổ của chủ nghĩa duy vật Anh” đánh giá cao vai trò của tri thức đối với sự phát triển thế giới và con người Muốn nhận thức được giới tự nhiên một cách đúng đắn và khoa học, con người phải từ bỏ ảo tưởng

và áp dụng các phương pháp nhận thức mới như những ngọn đuốc trí tuệ soi đường Ngọn đuốc trí tuệ cụ thể là phương pháp luận kinh nghiệm, quy nạp Con đường quy nạp, nói một cách vắn tắt là con đường đi từ cái riêng lẻ đến cái

chung mà Ph.Bêcơn so sánh với công việc của con ong (cần cù, biết quan sát,

chọn lọc, xử lý và biến cái thô mộc của tự nhiên thành mật ngọt, nghĩa là thành cái tinh túy và có ích) Nhờ có phương pháp khoa học đó mà con người đạt được tri thức hữu dụng, có giá trị thực tiễn, thứ tri thức biến thành sức mạnh, giúp con người khẳng định quyền lực của mình trước tự nhiên, và cả trước các

lực lượng xã hội tự phát Câu cách ngôn “tri thức là sức mạnh” do Ph.Bêcơn

nêu ra đã trở thành tuyên ngôn của thời đại và có giá trị đến ngày nay

J.Lốccơ (1632 - 1704) - một trong những đại biểu lớn của chủ nghĩa kinh nghiệm duy vật Anh thế kỷ XVII là một tên tuổi có ảnh hưởng nhiều nhất đến xã hội Anh và Tây Âu thời đại các cuộc cách mạng tư sản Bằng sự quan tâm đặc biệt của một nhà triết học đối với con người và thời cuộc, chứng kiến những diễn biến phức tạp của cách mạng tư sản Anh, J.Lốccơ cảm nhận

ở đó sự kỳ vọng của con người vào một trật tự chính trị mang tính dung hòa, nhằm duy trì truyền thống trong một “xã hội công dân” Mỗi con người theo quan niệm của J.Lốccơ tồn tại ở hai trạng thái, trạng thái tự nhiên gắn với những quyền tự nhiên của con người như quyền sinh tồn, quyền tự do, bình đẳng, bất khả xâm phạm,…và trạng thái xã hội công dân gắn với sự tồn tại của nhà nước dựa trên khế ước xã hội Nhà nước phải có nghĩa vụ chăm lo cho công dân, bảo vệ các quyền tự nhiên của công dân Công dân thực sự là chủ thể của quyền lực nhà nước khi họ hoàn toàn có thể thay đổi quyền lực đó nếu nhà nước không đáp ứng được nguyện vọng của công dân

Trang 32

Sang thế kỷ XVIII, triết học khai sáng Pháp trở thành vũ khí lý luận quan trọng của giai cấp tư sản trong cuộc chiến chống ý thức hệ phong kiến, đồng thời cũng là tuyên ngôn khẳng định vai trò, vị trí của con người trong tiến trình lịch sử triết học về con người

Môngtetxkiơ là một trong những nhà sáng lập triết học khai sáng Pháp Ông phê phán các quan niệm thần học về con người và xã hội, khẳng định các hiện tượng tự nhiên và xã hội đều tuân theo các quy luật nhất định chứ không phải do yếu tố bên ngoài áp đặt Bên cạnh đó, ông cũng lên án sự bất công trong xã hội và tìm cách khắc phục nó thông qua tư tưởng về xã hội công dân Sự bình đẳng trong xã hội công dân với chính thể dân chủ được Môngtetxkiơ coi là sự bình đẳng chân chính Bình đẳng trong xã hội công dân, theo Môngtetxkiơ, phải thực hiện “sự bình đẳng thực tế” và thiết lập mối quan hệ qua lại giữa lợi ích của xã hội và của cá nhân thông qua chức năng quản lý xã hội

Xã hội công dân đó còn là nơi quyền tự do là quyền tối cao của con người và quyền tự do ấy được đảm bảo trong một hệ thống luật pháp vận hành theo nguyên tắc tam quyền phân lập: quyền lập pháp - gắn với nghị viện (cơ quan do dân bầu ra), quyền hành pháp (gắn với chính phủ - cơ quan đảm bảo cho luật pháp được thực thi) và quyền tư pháp (gắn với tòa án) Một khi ba quyền trên được thực hiện một cách chuẩn xác, hợp lý và đúng đắn thì chính thể đó mới có tự do thật sự và quyền tự do của công dân cũng được đảm bảo

Tư tưởng về xã hội công dân bình đẳng, tự do, dân chủ với nền tảng là một hệ thống pháp luật dân chủ, hiệu quả và tích cực của Môngtetxkiơ là điểm sáng trong tư tưởng giải phóng con người thoát khỏi sự chế ngự của các thế lực phong kiến, hướng đến quyền con người thực sự

Một nhà triết học khai sáng nữa có ảnh hưởng không nhỏ trong quá trình phát triển tư tưởng về con người và giải phóng con người là Rútxô

Trang 33

(1712 - 1778) Rútxô coi lịch sử xã hội là kết quả của hoạt động con người chứ không phải do sự sắp đặt của thượng đế Bản chất con người là tự do nhưng do sự phát triển xã hội từ trước đến giờ, khát vọng tự do của con người luôn bị kìm hãm Quan tâm đến sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội, Rútxô tìm hiểu nguyên nhân và giải pháp cho thực trạng trên để có thể trả lại quyền tự do cho con người Ông hiểu sự phát triển kinh tế và các hình thức sở hữu là nguồn gốc của mọi bất công đồng thời là cơ sở xóa bỏ mọi bất công trong xã hội

Rútxô cũng phân chia lịch sử xã hội ra làm ba trạng thái “Trạng thái tự nhiên” gắn với thời kỳ chưa có sự khác biệt về kinh tế, con người sống trong sự bình đẳng và hạnh phúc Sự phát triển kinh tế cùng với sự ra đời sở hữu tư nhân

đã phá vỡ “trạng thái tự nhiên” và tạo nên “trạng thái công dân” của xã hội Đặc trưng của trạng thái này là “xuất hiện nhà nước, xuất hiện các đạo luật xã hội, xuất hiện sở hữu tư nhân, xuất hiện giàu nghèo, tạo ra xiềng xích trói buộc

kẻ yếu, mang lại sinh lực cho kẻ mạnh, hủy diệt tự do tự nhiên của con người, xuất hiện các cuộc chiến tranh và các tệ nạn xã hội” [5; tr.245] Trạng thái thứ

ba là trạng thái mà xã hội loài người trở về với trạng thái tự nhiên nhưng trên

cơ sở cao hơn, nơi mà tự do bình đẳng được khôi phục trên cơ sở khế ước xã hội đó

Một trật tự chính trị hợp lý được Rútxô phác họa trong tác phẩm “Khế ước xã hội” (1762) có ảnh hưởng rất nhiều đến xã hội phương Tây Theo đó, Rútxô phân tích trạng thái tự nhiên bị tha hóa không còn luật pháp hay đạo đức nên con người cần một thể chế để tồn tại Bên cạnh đó, Rútxô cũng xây dựng mô hình nhà nước và xã hội lý tưởng trên cơ sở công lý và lý tính Đó là chế độ dân chủ cộng hòa trong đó nhân dân đứng ra thực hiện quyền lập pháp

và phục vụ quyền lợi toàn dân

Trang 34

Khi bàn về con người, D.Điđrô - một đại biểu khác của phong trào Khai sáng Pháp đã đặt con người vào vị trí trung tâm trong triết học; phủ nhận tôn giáo sáng tạo ra con người mà khẳng định chính con người tạo ra tôn giáo

“thượng đế chỉ là sự thần thánh hóa các điều kiện sinh sống hiện thực của con người mà thôi”[5; tr.248].Ông cũng coi chính quyền nhà nước là sự thỏa thuận giữa nhân dân với nhau, khẳng định quyền lực của nhân dân và chủ trương xây dựng mô hình nhà nước thông qua đại biểu của dân, trên cơ sở kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội

Trên cơ sở các quan niệm về quyền tự nhiên và “khế ước xã hội”, các nhà triết học thời kỳ này đã tuyên bố quyền đầy đủ cho mỗi cá nhân về sự sống, tự do và khát vọng hạnh phúc, đồng thời tạo nên một trào lưu nhân văn chủ nghĩa trong lịch sử triết học Con người được xem như một cá nhân tự trị

và tính tự chủ của con người trở thành một nguyên tắc tối cao Trong bối cảnh lịch sử xã hội đương thời, các nhà triết học hướng đến tư tưởng cải tạo chế độ phong kiến, phục hồi chủ quyền nhân dân, thiết lập chế độ xã hội với tiêu chí

“tự do, bình đẳng, bác ái” và tư tưởng này đã trở thành ngọn cờ lý luận cho các cuộc cách mạng tư sản ở các nước phương Tây

Một giai đoạn quan trọng nữa trong quá trình phát triển của tư tưởng giải phóng con người mà C.Mác kế thừa và phát triển thuộc về triết học cổ điển Đức Đến nửa đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước Tây Âu như Anh, Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha,…thì ở Đức chế độ phong kiến lạc hậu và mục nát trở thành vật cản đất nước trên con đường tiến lên chủ nghĩa tư bản Do đó, “thể hiện khát vọng của giai cấp tư sản Đức lúc

đó, các nhà triết học cổ điển Đức bày tỏ sự phẫn nộ chống lại sự trì trệ và bất công của xã hội Đức đương thời, đưa ra những mô hình về một nhà nước Đức

lý tưởng theo ước vọng của họ”[5; tr.254].Tư tưởng đó cũng chính là khát vọng cải tạo hiện thực và giải phóng con người

Trang 35

I.Cantơ (1724 - 1824) - nhà triết học đặt nền tảng cho triết học Đức hiện đại, coi con người là đối tượng của triết học và triết học có nhiệm vụ hướng đến con người “toàn bộ các vấn đề triết học phải được hướng vào giải quyết những vấn đề của cuộc sống và hoạt động thực tiễn của con người” [6; tr.257-258].Trong quan điểm về đạo đức học của mình, Cantơ hướng nhân loại tới hòa bình, tới tự do dân chủ, hạn chế những bất công xã hội, thể hiện khát vọng của giai cấp tư sản tiến bộ Đức muốn giải phóng con người khỏi xiềng xích của chế độ phong kiến thời bấy giờ

Để thúc đẩy sự phát triển xã hội, phát triển con người, Cantơ cho rằng cách mạng xã hội thể hiện qua những đối kháng xã hội, xung đột giai cấp là điều cần thiết và hợp quy luật, bởi sự đối kháng xã hội suy cho cùng để thực hiện sự phát triển các tư chất của loài người và là cơ sở thiết lập trật tự hợp lý của họ Trật tự hợp lý ấy chính là một xã hội xã hội công dân pháp quyền, trong đó các thành viên có thể dành được tự do trên cơ sở phải tôn trọng quyền tự do của người khác Nhà nước đóng vai trò liên kết mọi người trong khuôn khổ pháp luật nhằm giám sát đảm bảo bình đẳng cho mọi công dân, giải quyết những đối kháng xã hội theo hướng hoàn thiện hơn nhằm phục vụ lợi ích con người Ở điểm này, Cantơ chịu ảnh hưởng tư tưởng của nhà khai sáng Pháp Rútxô khi thừa nhận vai trò của nhà nước và khế ước xã hội Bên cạnh đó, Cantơ cũng đề xuất xây dựng một thế giới hòa bình và hữu nghị trên

cơ sở đoàn kết các quốc gia, các dân tộc, hướng đến sự phát triển toàn diện con người và cũng là sự phát triển của văn minh nhân loại

Mặc dù còn nhiều hạn chế do chưa đánh giá đúng mức vai trò của kinh tế, của sản xuất vật chất đối với sự phát triển xã hội nhưng những tư tưởng về con người và giải phóng con người của Cantơ là vô cùng quý giá Nhận thấy trình độ giải phóng con người là thước đo sự phát triển của văn minh nhân loại, đề xuất xây dựng một thế giới đại đồng hòa bình, hữu nghị,

Trang 36

hạnh phúc phù hợp với xu thế hội nhập là những tư tưởng nhân văn, tiến bộ đáng trân trọng mà Cantơ đã cống hiến cho tư tưởng giải phóng con người trong triết học nói riêng và lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung

Đại biểu thứ hai của triết học cổ điển Đức không thể không kể đến là Hêghen (1770 - 1831) Người ta thường ví Hêghen như bộ óc bách khoa của thời đại mình, sự sắc sảo tuyệt vời của lý trí, một biểu tượng của tinh thần Đức cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Hêghen là đại biểu kiệt xuất của triết học cổ điển Đức, hệ thống triết học của ông đồ sộ về khối lượng và sâu sắc về

ý nghĩa lịch sử

Tư tưởng của Hêghen cùng với Phoiơbắc được đánh giá là cơ sở lý luận trực tiếp hình thành tư tưởng của C.Mác về giải phóng con người Quan niệm về tha hóa trong triết học Hêghen đặt nền tảng cho quan niệm triết học Mác lý giải về nguyên nhân của những đau khổ mà con người phải gánh chịu,

từ đó có phương thức phù hợp giải phóng và phát triển con người

Mặc dù đã đề cập đến quan niệm “tha hóa” từ trước nhưng chỉ đến khi

tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” ra đời, Hêghen mới sử dụng và diễn đạt

nó một cách khá rõ nét Trong tác phẩm này, Hêghen đã có “những phác thảo

về phép biện chứng của bước chuyển mang tính tha hóa từ chân lý thành sai lầm, từ lý tính thành giác tính, thống trị - bị trị, tự do - lệ thuộc và nô lệ” [38; tr.14] được C.Mác đánh giá rất cao

Hêghen là nhà biện chứng duy tâm, ông nghiên cứu ý niệm, tinh thần tuyệt đối Theo ông, tha hóa chính là quá trình tinh thần trở thành mặt đối lập với nó là giới tự nhiên và trong sự tự vận động của nó, tinh thần sẽ vượt bỏ hình thức tha hóa đó để trở về với chính nó Ông cho rằng ý niệm tuyệt đối tha hóa thành giới tự nhiên, sau đó tinh thần lại tự vượt bỏ hình thức giới tự nhiên và phóng chiếu sự tồn tại của nó trong lịch sử xã hội, trong văn hóa tinh thần và tự kết thúc sự vận động của nó ở giai đoạn ý thức cá nhân, ý thức xã

Trang 37

hội; và giai đoạn cao nhất là lúc ý niệm tuyệt đối kết thúc quá trình tự vận động của nó dưới hình thức tôn giáo, nghệ thuật và triết học Sự tha hóa chính

là sự khách quan hóa của tinh thần Theo đó, mọi quá trình nhận thức luận hay bản thể luận đều diễn ra thông qua mặt đối lập của mình và sau đó tha hóa nhất định sẽ được khắc phục

Trong tác phẩm này, Hêghen cũng bàn đến sự cải biến mang tính tha hóa của “thống trị” thành “bị trị” và ngược lại kẻ tôi tớ thành người làm chủ Quá trình biện chứng của sự tha hóa và vượt bỏ tha hóa luôn diễn ra kế tiếp nhau thông qua cuộc đấu tranh dưới hình thức tranh cãi, đấu tranh giữa các

tự ý thức đối lập nhau làm cho các cá nhân chống lại nhau Cuộc đấu tranh

sẽ diễn ra đến khi nào phân định thắng thua Người thắng sẽ là ông chủ có toàn quyền sai khiến người làm công phục vụ mình Kẻ thất bại sẽ là nô lệ với tư cách cá nhân bị tha hóa, họ chỉ còn mỗi việc là lao động không phải cho mình mà cho kẻ khác Người thống trị, làm chủ và có quyền hưởng thụ những sản phẩm trong quá trình sản xuất Và như vậy, người làm chủ sẽ trở nên phụ thuộc vào người làm công cho mình - người trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất trong khi người tôi tớ gắn với quá trình sản xuất lại hóa ra ngày càng độc lập và tự chủ Lúc này đây, người chủ bị tha hóa còn người làm công lại được giải phóng khỏi tha hóa, quan hệ của họ bị đảo ngược và chuyển hóa thành mặt đối lập

Hêghen cũng đã khảo sát lao động như là quá trình hai mặt Một mặt, tinh thần con người bị trói buộc trong lao động, diễn ra sự tha hóa nó thành lao động và kết quả của lao động Thực chất đây chỉ là tha hóa tinh thần trong lao động Lao động làm đối tượng hóa các sức mạnh bản chất của con người,

ở mức độ này hay mức độ khác làm cho chúng xa rời khỏi tinh thần và thành

xa lạ với nó

Trang 38

Như vậy, tha hóa tinh thần con người thành sản phẩm của lao động theo quan niệm của Hêghen đồng thời là quá trình ngược lại, trong đó tinh thần được hoàn thiện và bắt đầu giải phóng khỏi sự tha hóa hoặc chuẩn bị cho sự giải phóng đó và đồng thời quay trở về giới tự nhiên vô cơ và hữu cơ Lao động thể hiện hai khuynh hướng vừa trói buộc tinh thần bằng tính đối tượng vật chất, vừa làm cho tinh thần trở thành tự nhiên và hóa thân mình thành tự nhiên

Hêghen nhận thấy mặt tiêu cực của lao động cũng như mặt đối lập trong xã hội tư bản chủ nghĩa Khi công nghiệp phát triển, của cải gia tăng dẫn đến sự chia cắt và hạn chế của lao động đặc thù, kéo theo sự phụ thuộc và bần cùng hóa của giai cấp bị buộc chặt vào lao động Mọi khả năng thụ hưởng, cảm nhận về tinh thần đều sẽ vì thế mà tiêu tan

Sự đối lập giữa sự dư thừa xa xỉ và sự bần cùng thiếu thốn không còn

xa lạ trong xã hội ấy được Hêghen nhận định là hậu quả tiêu cực của phân công lao động và tha hóa trong xã hội Hêghen đã không nhận thấy cội nguồn của chúng (bao gồm cả nguồn gốc của tha hóa) là do sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, không phát hiện ra sự tha hóa của chính lao động Đứng trên lập trường duy tâm chủ nghĩa, ông chưa làm rõ được tính tha hóa ở lĩnh vực thực tiễn lao động sản xuất của con người

Hêghen phê phán về các hiện tượng tha hóa trong xã hội phong kiến, trong triết học Khai sáng và trong cả tôn giáo Tất cả các dạng tha hóa đã được ghi nhận và khảo sát theo mức độ quan trọng của chúng tạo thành những thang bậc tha hóa phổ biến của “tinh thần thế giới” Đồng thời, Hêghen cũng gán sự tha hóa cho toàn bộ lịch sử nhân loại với tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người C.Mác viết: “ở Hêghen, những phần viết về “ý thức bất hạnh”,

về “ý thức trung thực”, về đấu tranh của “ý thức cao quý và ý thức thấp hèn”…, “bao gồm trong nó - mặc dầu dưới hình thức bị tha hóa - những yếu

tố có tính chất phê phán của trọn nhiều lĩnh vực như tôn giáo, nhà nước, sinh

Trang 39

hoạt công dân…”[50; tr.225-226] Tuy nhiên, là một nhà duy tâm, Hêghen hoàn toàn không vạch ra được những đặc thù kinh tế - xã hội của từng giai đoạn lịch sử tha hóa Với những luận giải của mình về tha hóa, Hêghen tin tưởng thế giới đang đứng trước ngưỡng cửa xóa bỏ hoàn toàn tha hóa nhưng ông không chỉ ra được phương pháp thực hiện để đạt đến điều đó Mặc dù vậy, từ quan điểm này, về sau C.Mác đã rút ra những hạt nhân hợp lý và phát triển thành công lý luận về giải phóng con người

Như vậy, chúng ta có thể thấy Hêghen nghiên cứu về con người và xã hội thông qua lịch sử vận động và hoàn thiện không ngừng của tinh thần thế giới, hướng tới tự do Sự phân biệt các thời kỳ của lịch sử thế giới cũng căn

cứ trên giá trị này Trong thế giới phương Đông (Trung Quốc, Ấn Độ, Ai Cập,

…) các dân tộc không biết đến tự do, trừ nhà vua Trong thế giới Hy Lạp chỉ

một số người được tự do, mặc dù ai cũng có ý thức về tự do Thế giới La Mã

đã đặt vấn đề tự do vào khuôn khổ luật pháp Chỉ có Dân tộc Đức mới ý thức được trọn vẹn một điều rằng tự do là tính loài cơ bản, quyền bất khả xâm phạm của con người Khi đánh giá về lịch sử, Hêghen coi sự giải phóng con người, sự phát triển ý thức về tự do là chuẩn mực cơ bản đánh giá sự ưu việt của thời đại này so với thời đại khác, của dân tộc này so với dân tộc khác

Hêghen cho rằng bản tính con người vốn là bất bình đẳng nên sự bất công tệ nạn xã hội là hiện tượng tất yếu và phổ biến của sự phát triển xã hội

và nhà nước sẽ thực hiện sự dung hòa những bất bình đẳng đó, nhờ nhà nước

mà “gia đình và xã hội công dân được bảo tồn, đời sống xã hội cũng như những mâu thuẫn giữa các đẳng cấp, tầng lớp xã hội mới được điều hòa” [5; tr.287] Trong quan điểm nhà nước, Hêghen có vận dụng một số tư tưởng tiến bộ của các nhà khai sáng Pháp như tự do, nguyên tắc tự chủ của công dân, bình đẳng trước pháp luật, ; xem hình thức phát triển cao của nhà nước

là ở chế độ quân chủ lập hiến Tư tưởng của Hêghen về nhà nước phản ánh

Trang 40

ước muốn cải cách từ quân chủ sang quân chủ lập hiến, hơn là cách mạng xã hội triệt để, như cách mạng Pháp năm 1789

Hệ thống triết học Hêghen xây dựng dù đứng trên lập trường duy tâm nhưng phép biện chứng vẫn là hạt nhân hợp lý để từ đó các nhà triết học sau

kế thừa và phát triển Tư tưởng về sự tha hóa tinh thần, về giải phóng con người thật sự trở thành một trong những tiền đề lý luận trực tiếp cho tư tưởng triết học Mác về giải phóng con người sau này

Bên cạnh những tên tuổi như Cantơ và Hêghen, tư tưởng con người và giải phóng con người mà C.Mác kế thừa còn nằm trong lý luận của nhà triết

học L.Phoiơbắc (1804 - 1872) Là một nhà triết học duy vật nhân bản,

L.Phoiơbắc coi con người là đối tượng duy nhất, phổ quát, cao nhất của triết học và trở thành trung tâm trong lý luận của mình

Sự kết hợp giữa chủ nghĩa duy vật và thuyết nhân bản, lấy con người làm nền tảng, đối tượng nghiên cứu chủ yếu đã đánh dấu một sự cải cách trong triết học Phoiơbắc Khác với Cantơ và Hêghen, L.Phoiơbắc loại bỏ Thượng đế ra khỏi đối tượng nghiên cứu, chỉ còn lại tự nhiên và con người, cũng có nghĩa là loại bỏ những yếu tố duy tâm chủ nghĩa, từng bước khôi phục triết học tự nhiên của chủ nghĩa duy vật thế kỷ trước Điều này thể hiện

rõ nét trong việc L.Phoiơbắc phê phán triết học Hêghen là tư biện, phê phán Kytô giáo từ thực tế sinh hoạt tôn giáo của thời đại mình, cũng như mối liên

hệ giữa tôn giáo với chủ nghĩa duy tâm Hêghen mà L.Phoiơbắc ví như “chủ nghĩa duy tâm trên trời” với “chủ nghĩa duy tâm dưới mặt đất” Trong quá trình phê phán tôn giáo, L.Phoiơbắc cũng nêu ra ý tưởng về “tôn giáo không

có Chúa”, lấy tình yêu nhân loại làm cứu cánh, đề cao khát vọng tự do và dân chủ, mô hình xã hội công dân và nhà nước pháp quyền

Trong quan niệm về con người, L.Phoiơbắc xem xét con người từ hai góc độ Trước hết con người là đứa trẻ của tự nhiên, chịu sự quy định của

Ngày đăng: 11/05/2021, 21:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w