Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Trong lịch sử tư tưởng về giáo dục của nhân loại, vấn đề quan hệ giữa giáo dục cái đẹp, giáo dục nghệ thuật mỹ học hiện đại gọi là giáo dục thẩm m
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS Lê Đình Lục
TP HỒ CHÍ MINH - 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được ai công bố
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2012
Người cam đoan
Phan Anh Trà
Trang 4MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHÂN CÁCH VÀ VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC THẨM MỸ TRONG SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH 8
1.1 Lý luận chung về nhân cách 8
1.2 Vai trò của giáo dục thẩm mỹ đối với sự hình thành và phát triển nhân cách 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
Chương 2 : PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC THẨM MỸ NHẰM PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 42
2.1 Thực trạng giáo dục thẩm mỹ ở Việt Nam hiện nay và nguyên nhân của nó 42
2.2 Phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của giáo dục thẩm mỹ trong việc phát triển nhân cách con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 50
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 83
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cách mạng khoa học công nghệ đã đưa con người bước vào nền văn minh trí tuệ- nền văn minh tạo ra các biến đổi về chất trong nhiều lĩnh vực hoạt động của xã hội loài người, tạo điều kiện đưa năng suất lao động xã hội lên tới nhịp độ nhanh chưa từng có Đóng vai trò then chốt tạo nên chính nền văn minh đó là con người - nguồn nhân lực
Xuất phát từ tư tưởng con người giữ vị trí trung tâm trong sự phát triển kinh tế- xã hội, là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến phát triển nguồn lực con người, coi đó là yếu tố cơ bản quyết định để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững
Sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã tạo ra những biến đổi sâu sắc trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội Cùng với sự thay đổi đó, nhân cách con người Việt Nam
đã có những biến đổi đáng kể Nó vừa kế thừa những giá trị tốt đẹp của con người truyền thống Việt Nam và phương Đông, vừa hình thành những phẩm chất mới, thể hiện rất rõ sự chuyển dịch của thang giá trị, đòi hỏi chúng ta phải giải quyết hài hòa Vì vậy, hình thành và phát triển nhân cách con người Viêt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới là một vấn đề quan trọng, có ý nghĩa chiến lược
Trong việc thực hiện mục tiêu trên, giáo dục - đào tạo giữ vai trò quan trọng, mang tính quyết định Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều 35 đã qui định: “Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đào tạo người lao động có nghề, năng động và sáng tạo, có niền tự hào dân
Trang 6tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [36, tr.27]
Ở nước ta việc phát triển nguồn nhân lực đang là một vấn đề trung tâm Nguồn nhân lực con người là yếu tố cơ bản để phát tirển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Con người và nguồn các nguồn lực khác
là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ hàng đầu và khâu đột phá của chiến lực phát triển kinh tế- xã hội trong giai đoạn hiện nay
Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước Yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất là con người có trình độ trí tuệ, kỹ năng và phẩm chất nghề nghiệp Muốn phát triển nhanh, bền vững, thực hiện đi tắt đón đầu, không có con đường nào khác là phải dựa vào vốn quí nhất là truyền thống yêu nước, trí thông minh, tiềm năng sáng tạo của con người Việt Nam
Phát triển nguồn nhân lực phải hướng vào việc xây dựng đội ngũ những người lao động có phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị vững vàng, có khả năng làm chủ khoa học và công nghệ hiện đại, có thể lực tốt,
có tinh thần và trách nhiệm cao, biết phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đoàn kết để xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Hướng xây dựng nhân cách con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là làm gia tăng tính tự giác, tự chủ, sức mạnh trong từng cá nhân
để họ phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của mình, tạo nên sự hài hòa giữa
xã hội - con người - tự nhiên
Trong tình hình hiện nay, khi hệ giá trị xã hội đang có sự thay đổi, chuyển dịch, khi mà có một số người đang bị suy thoái về mặt tư tưởng, đạo đức lối sống thì việc xác định vai trò vị trí của giáo dục thẩm mỹ trong quá
Trang 7trình hình thành và phát triển nhân cách là vô cùng quan trọng và cần thiết,
có tác dụng định hướng chuẩn giá trị cho con người Thông qua các hoạt
động thực tiễn mà nhân cách con người được bộc lộ, phát triển và được
định hướng theo các chuẩn mực Chân, Thiện, Mỹ
Giáo dục thẩm mỹ là một hình thức giáo dục quan trọng để thực hiện
được mục tiêu giáo dục nói trên, bởi cùng với các hình thức giáo dục khác,
nó góp phần tạo ra những con người phát triển hoàn thiện, hài hòa
“Trí-Đức-Thể- Mỹ” Hiện nay, hệ thống giáo dục trong nhà trường cũng
như ngoài nhà trường đã bước đầu quan tâm tới giáo dục thẩm mỹ, và đã có
những thành tựu nhất định Tuy nhiên, xét một cách tổng thể thì giáo dục
thẩm mỹ hiện vẫn đang bị xem nhẹ Trong nhà trường phổ thông thì giáo
dục thẩm mỹ chỉ được coi là môn phụ, thường được dạy lồng ghép thông
qua một số môn khác; ở bậc cao đẳng, đại học thì chỉ có một số chuyên
ngành khối xã hội và nhân văn học môn mỹ học đại cương; còn ở ngoài xã
hội thì giáo dục thẩm mỹ có thể nói là đang bị buông lỏng
Xuất phát từ những những lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài
“Giáo dục thẩm mỹ với sự phát triển nhân cách con người Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học triết
học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Trong lịch sử tư tưởng về giáo dục của nhân loại, vấn đề quan hệ
giữa giáo dục cái đẹp, giáo dục nghệ thuật (mỹ học hiện đại gọi là giáo
dục thẩm mỹ) với giáo dục nhằm hoàn thiện con người nói chung đã
được đặt ra từ rất sớm
Vào thời cổ đại, Platôn và Arixtốt (Hy Lạp cổ đại) do nhận thấy ý
nghĩa to lớn của cái đẹp, của nghệ thuật trong việc tác động làm biến đổi
nhân cách con người, nên các ông đã đề xuất ý tưởng về một hệ thống
Trang 8giáo dục thẩm mỹ có tính chất nhà nước – xã hội Arixtốt thậm chí còn khẳng định cụ thể, dứt khoát: “Trong việc giáo dục, cái đẹp phải đóng vai trò quan trọng nhất” [13, tr.213-214]
Giống như Platôn và Arixtốt, Khổng Tử - nhà sáng lập Nho giáo Trung Hoa cổ đại cũng đánh giá rất cao vai trò của nghệ thuật, đặc biệt là Thi và Nhạc, trong việc giáo dưỡng tinh thần cho con người Theo ông, cần phải tích cực học Kinh Thi vì “ Kinh Thi làm cho mình hứng khởi tâm trí; nhờ nó mà mình biết quan sát lấy mình, biết đức hạnh mình tới đâu; nhờ nó
mà mình biết hiệp quần với xã hội; và cũng nhờ nó mà mình biết giận kẻ ác một cách chính đáng…” [13, tr.214]
Thời Trung cổ và thế kỷ XVIII ở phương Tây, nhiều nhà tư tưởng lớn tiếp tục khẳng định ý nghĩa lớn lao của việc giáo dục thẩm mỹ, giáo dục cái đẹp cho con người Chẳng hạn, nhà thần học Tômát Đacanh đã cho rằng con người cần phải được giáo dục về cái đẹp vì nó giúp chế ngự các dục vọng; còn nhà Khai sáng người Đức Sinle thì quả quyết: “giáo dục thẩm mỹ là phương diện không thể thay thế được để hình thành nhân cách toàn vẹn, hài hòa” [13, tr.215]
Thế kỷ XIX, các nhà Dân chủ cách mạng Nga như Sécnưsépxki, Biêlinxki đã xác lập một cách đúng đắn vị trí của giáo dục thẩm mỹ đối với
sự nghiệp xây dựng, phát triển hoàn thiện con người Trong mỹ học của mình, giáo dục thẩm mỹ được các ông đặt ra như một bộ phận hợp thành
“của việc xây dựng bộ mặt tinh thần của những con người mới”, và mục đích của giáo dục thẩm mỹ được khẳng định là “đấu tranh để đến gần với tương lai xán lạn” [13, tr.216]
Những tư tưởng đó, có vai trò là cơ sở, nền móng lý luận về giáo dục thẩm mỹ cho mỹ học hiện đại có được sự phát triển phong phú như hiện tại
Trang 9Xét trong hệ thống mỹ học hiện đại, có thể thấy là khó có hệ thống
nào mà lý luận về giáo dục thẩm mỹ lại được thể hiện phổ biến như trong
mỹ học mác xít Như là điều bắt buộc, hầu hết các giáo trình mỹ học ở các nước từng và đang là xã hội chủ nghĩa đều có sự hiện hữu của chương hoặc mục riêng về giáo dục thẩm mỹ Tuy nhiên, vì là giáo trình nên các nội dung giáo dục thẩm mỹ được trình bày trong đó chủ yếu chỉ dừng ở cấp độ
lý luận chung, mang tính nguyên lý, hiếm khi đi vào những vấn đề cụ thể,
IU.A.Lukin và V.C.Xcacherơsiccốp, Nxb Sách giáo khoa Mác- Lênin,
Hà Nội, 1984 Không phải là giáo trình, nhưng trên thực tế, vấn đề giáo dục thẩm mỹ và các nội dung mỹ học khác được trình bày trong các công trình này cũng không khác biệt nhiều so với ở các giáo trình mỹ học, nghĩa là vẫn thiếu tính thời sự, cụ thể
Ở nước ta, vấn đề giáo dục thẩm mỹ cũng giành được sự quan tâm lớn từ các nhà giáo dục và các nhà nghiên cứu mỹ học Bằng chứng là đã có khá nhiều công trình, bài viết về nội dung này được xuất bản, đăng tải Có
thể kể đến các công trình, bài viết như: Một số vấn đề giáo dục thẩm mỹ cho
thanh niên, của Nguyễn văn Huyên, Tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật, số 4 –
1978; Giáo dục thẩm mỹ và xây dựng con người mới Việt Nam, của Lê Anh Trà, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1982; Mấy vấn đề: Giáo dục thẩm mỹ và sự
nghiệp xây dựng con người mới, của Đỗ Huy, Tạp chí Triết học, số 4 -
1982; Vài khía cạnh phương pháp luận của vấn đề: giáo dục thẩm mỹ với
Trang 10sự hình thành con người mới, của tác giả Tạ Văn Thành, Tạp chí Triết học,
số 3-1983; Giáo dục thẩm mỹ và việc định hướng nhu cầu thẩm mỹ, của Hồng Mai,Tạp chí Triết học, số 3- 1983; Giáo dục thẩm mỹ - một số vấn đề
lý luận và thực tiễn, của Đỗ Huy, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1987; Giáo dục thẩm mỹ thông qua các phạm trù mỹ học, của Lê Quang Vinh,
Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 12–1996; Quan điểm toàn diện của giáo
dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay, của Vĩnh Quang Lê, Tạp chí Văn hoá
Nghệ thuật, số 11 – 1996; Về các con đường tiến hành giáo dục thẩm mỹ, của Nguyễn Hồng Mai, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 8 – 1997; Về giáo
dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay, của TS Vĩnh Quang Lê, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội – 1999; Nghệ thuật với sự phát triển nhân cách người cán
bộ lãnh đạo trong công cuộc đổi mới, của PGS,TS.Nguyễn Văn Huyên và
TS Nguyễn Quốc Tuấn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; Vai trò của
nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ, của Trần Túy, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2005…
Mặc dù hầu hết công trình, bài viết kể trên đều cố gắng gắn kết lý luận giáo dục thẩm mỹ với thực tiễn yêu cầu nhiệm vụ phát triển của đất nước, nhưng hầu như chưa có công trình, bài viết nào đề cập trực diện và cụ thể những vấn đề của giáo dục thẩm mỹ trong nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế, cũng như vai trò của giáo dục thẩm mỹ đối với việc hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Cố nhiên, những nguồn tài liệu kể trên là điều kiện không thể thiếu để chúng tôi thực hiện luận văn của mình
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của đề tài luận văn là làm rõ vai trò của giáo dục thẩm
mỹ đối với sự phát triển nhân cách con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 11Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
Thứ nhất, trình bày khái quát những vấn đề lý luận chung về nhân
cách và giáo dục thẩm mỹ
Thứ hai, làm rõ vai trò của giáo dục thẩm mỹ đối với sự phát triển
nhân cách con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.Thứ ba, đề xuất
phương và giải pháp nhằm phát huy vai trò của giáo dục thẩm mỹ trong sự nghiệp phát triển nhân cách con người Việt Nam giai đoạn hiện nay
4 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Về phương pháp nghiên cứu, chúng tôi sử dụng hệ thống các phương pháp như: Phân tích và tổng hợp, lịch sử và logic để thực hiện luận văn này
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
5.1 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Trên cơ sở trình bày có hệ thống những nội dung cơ bản của giáo dục thẩm mỹ luận văn góp phần làm sâu sắc thêm lý luận về vai trò của giáo dục
thẩm mỹ đối với việc phát triển , hoàn thiện con người
5.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc học tập môn
mỹ học đại cương ở các trường đại học, cao đẳng và trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục thẩm mỹ nói riêng, giáo dục nói chung
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung chính của luận văn gồm có hai chương, 4 tiết
Trang 12Chương 1 NHÂN CÁCH VÀ VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC THẨM MỸ
TRONG SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÂN CÁCH
Các nhà tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại cho rằng con người là con người là “tiểu vũ trụ”, sống chính là nhằm hòa tan cái “tiểu vũ trụ” nhỏ bé vào “đại vũ trụ” rộng lớn như giọt nước hòa vào đại dương mênh mông Kinh Véda cho rằng, cũng giống như mọi vật, con người do một đấng sáng thế tạo ra Kinh Upanishad cho rằng Con người, với tư cách là một Tiểu ngã (Atman) cũng cùng một bản thể với Brahman (thực thể duy nhất, có trước tồn tại vĩnh viễn, tuyệt đối, bất diệt, là cái làm nảy sinh và chi phối mọi cái tồn tại khác) “Linh hồn sống của con người chỉ là sự biểu hiện, là
bộ phận của tinh thần tối cao trong cơ thể con người” [12, tr.90] Vì vậy, về mặt bản chất linh hồn con người là đồng nhất với linh hồn tối cao Triết học phật giáo cho rằng, con người là sự kết hợp giữa danh và sắc (vật chất và tinh thần) Phật giáo quan niệm cuộc sống con người ở trần thế chỉ là tạm
bợ Cuộc sống vĩnh cửu phải là ở cõi Niết bàn, nơi tinh thần con người được giải thoát để trở thành bất diệt Bên cạnh những quan niệm duy tâm nói trên, trường phái triết học Nyaya cho rằng, cái bản nguyên mà từ đó vạn vật và con người được sinh ra do bốn yếu tố vật chất (đất, nước, lửa, không khí) tạo thành Tuy còn mộc mạc thô sơ nhưng quan niệm này chứa đựng tư tưởng tiến bộ về con người Nhưng trường phái Nyaya lại
có quan niệm “trong vũ trụ tồn tại vô số những thực thể linh hồn - những thực thể tinh thần không thể bị tiêu diệt và tồn tại vĩnh viễn, gọi
là Ya” [12, tr.146] Ý thức là thuộc tính của thực thể Ya Điều này thể hiện tính chất nhị nguyên trong triết học của trường phái này
Như vậy, do bị chi phối bởi thế giới quan duy tâm hoặc nhị nguyên,
Trang 13nên xét tới cùng hầu hết các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại, đều phản ánh sai về bản chất con người, hướng con người tới thế gới thần linh
Học thuyết ngũ hành của triết học Trung quốc cổ đại cho rằng năm
yếu tố kim, mộc, thủy, hỏa, thổ Mỗi yếu tố trong ngũ hành có những đặc
điểm và tính chất riêng “Nước thì lạnh và luôn luôn chảy xuống thấp Lửa thì nóng luôn bốc lên cao Gỗ có tính chất uốn cong và thẳng ra Kim thì có tính chất phụ thuộc và thay đổi bởi tác động, ảnh hưởng bên ngoài Đất tiếp nhận hạt giống và làm mùa” [12, tr.309] Ngũ hành tương sinh, tương khắc Chúng là những yếu tố cơ bản của vũ trụ, tính chất của năm vật chất đó qui định nguồn gốc, tính chất của vạn vật trong giới tự nhiên trong đó có cả tính chất, năng lực của con người “Ứng với ngũ hành là ngũ sự: mạo, ngôn, thị, thính, tư Dáng mạo thì phải kính cẩn, lời nói phải theo lẽ phải, nhìn phải sáng suốt, suy nghĩ phải thấu đáo, nghe phải
rõ ràng, nghĩ ngợi phải thấu suốt” [12, tr.310]
Trong lịch sử nhà triết học Trung Quốc cổ đại, vấn đề bản chất con người được nghiên cứu một cách cụ thể bắt đầu từ học thuyết Nho giáo do Khổng Tử (551 – 479) sáng lập Đối với Khổng Tử thì đạo đức là nền tảng của con người Quan niệm đạo đức của Khổng Tử bao gồm ba yếu tố cơ bản:
“Nhân”, “Trí”, “Dũng” “Nhân” trước hết là đạo làm người, thể hiện trong lối sống, hành vi của mình làm sao cho có đức nhân Theo Khổng Tử, người có đức nhân là người “ Nghiêm trang tề chỉnh, rộng lượng khoan dung; có đức, tin lòng thành; siêng năng cần mẫn và biết, bố đức, thi ân” [12, tr.184]
“Nhân” còn là yêu thương người khác Để đạt được đức nhân con người phải
có “Trí‟ và “Dũng”
Là người kế thừa học các quan điểm triết học Khổng Tử Mạnh Tử (372 – 289) khẳng định rằng, bản chất con người là thiện “Tính thiện của con người được thể hiện qua bốn đức lớn: nhân, nghĩa, lễ, trí Tứ đức bắt
Trang 14nguồn tứ đoan: Lòng trắc ẩn ( biết yêu thương), lòng tu ố ( biết thẹn, ghét), lòng từ nhượng (biết cung kính) và long thị phi (biết phân biệt phải trái)” [12,
tr 195] Tứ đoan bắt nguồn từ cái “Tâm” con người, cái tâm do trời phú
“Tâm” là cái chủ thể trong tinh thần con người, là cái thần minh trời phú cho để hiểu biết, ứng xử với vạn vật, để phân biệt phải trái, tốt xấu nhân nghĩa…”[12, tr.196]
Con người ngoài cái tâm, cái tính còn có phần khí Tâm, tính là phần tinh thần, còn khí là phần thể xác Phần tinh thần và thể xác phải điều hòa thì con người mới tồn tại Vì thế, con người cần phải tồn tâm, dưỡng tính và dưỡng khí
Như vậy, các nhà triết học Trung quốc cổ đại cho rằng, nhân cách con người thể hiện ở các đức tính: Nhân, Lễ, nghĩa, Trí, tín trong đó “Nhân”
là gốc của nhân cách và là cái đích tu dưỡng của con người
Ở phương Tây cũng có nhiều học thuyết khác nhau về nhân cách
S Freud (1856- 1939) người sáng lập ra trường phái Phân tâm học
Ông chia kết cấu tâm lý con người thành ba hệ thống cấp độ khác nhau: Ý thức, tiền ý thức và vô thức Hệ thống ý thức chỉ kết cấu tâm lý liên quan tới quá trình cảm nhận trực tiếp, nó hướng ra thế giới bên ngoài, thông qua các giác quan Ý thức là hình thức cao nhất của tâm lý con người
Tiền thức là những cái lưu giữ trong trí nhớ, nó có quan hệ không nhiều với tình huống cụ thể trước mắt
Vô thức là những bản năng sinh vật, các ham muốn của con người Freud nhấn mạnh vô thức, gọi vô thức là “bản năng cơ bản hoặc sức thôi thúc bên trong, lại gọi bản năng cơ bản ấy là tình dục nguyên thủy
Năng lượng của tình dục nguyên thủy thì Freud gọi là libido” [56, tr.654]
Năng lượng nguyên thủy có từ lúc con người mới sinh ra, nó biến lứa tuổi và có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của cá thể
Trang 15Freud đã dùng các giai đoạn phát triển tình dục để giải thích sự hình thành nhân cách Ông cho rằng “rất nhiều khác biệt về phương diện nhân cách của con người đều do tình huống phát triển của các giai đoạn tình dục khác nhau mà ra” [56, tr.654]
S Freud đã khám phá một thế giới vô thức mà trước đây chưa được khám phá, nhưng học thuyết đã quá nhấn mạnh đến mặt vô thức, coi bản năng tình dục là thứ cơ bản nhất trong mọi bản năng và dùng nó để giải thích sự hình thành nhân cách
Carl Jung (1879- 1961) Phản đối Freud quá chú trọng đến tình dục, theo ông “ libido không chỉ đơn thuần là tình dục mà là một thứ sức sống hoặc tâm lực” [56, tr.662] Đối với ông libido không chỉ là tính dục mà còn
là sức mạnh thôi thúc bên trong của nhu cầu dinh dưỡng và trưởng thành
Trong quan niệm về vấn đề vô thức, ông cho rằng “dưới vô thức cá nhân, còn có cấp độ tinh thần sâu hơn, đó là vô thức tập thể” [56, tr.663]
Vô thức tập thể do di truyền để lại, nó là kinh nghiệm nguyên thủy hình thành trong quá trình phát triển của con người, theo ông cấu trúc của nhân cách bao gồm ý thức, vô thức cá nhân và vô thức tập thể Như vậy Carl Jung đã lấy vô thức tập thể bổ sung cho vô thức cá nhân của Freud, quy sự hình thành nhân cách là nhờ ý thức nguyên thủy đã làm cho quan niệm của ông mang màu sắc thần bí
Nhà tâm lý học người Áo Alfred Adler (1870- 1937) cho rằng con người từ lúc sinh ra đã có “cảm giác tự ti” như “ nhu nhược, do dự, e thẹn, phục tùng người khác” [56, tr.661] Cảm giác tự ti là do con người có những trở ngại về thể chất, về tinh thần hoặc xã hội Nhưng con người tìm cách bù đắp những trở ngại đó bằng nỗ lực của mình Quá trình khắc phục “cảm giác
tự ti” thực hiện sự đền bù đều bị tác động của môi trường Ông đã thấy được vai trò của môi trường, đặc biệt là vai trò của gia đình đối với quá trình hình
Trang 16thành, phát triển nhân cách Ông cho rằng “môi trường, đặt biệt là gia đình quyết định sự hình thành nhân cách một cá nhân từ tuổi nhỏ” [56, tr.662]
Erich Fromm (1900-1980) là nhà triết học, tâm lý học sinh ra ở Đức, là nhà lý luận của “chủ nghĩa nhân đạo mới” Ông cho rằng “tính người không phải tổng hòa các nhu cầu sinh lý, mà nó còn bao hàm nhu cầu mang tính xã hội” [56, tr.666]
Nhu cầu xã hội ở đây chính là quan hệ với người khác, nhu cầu xã hội phụ thuộc vào điều kiện lịch kinh tế -xã hội của từng giai đoạn lịch sử Chính các nhu cầu này tạo ra là thành phần tạo nên nhân cách, như vậy Froom đã thấy được vai trò của nhân tố kinh tế xã hội đối với sự phát triển nhân cách con người
Trường phái tâm lý học nhân văn hình thành ở Mỹ như là một
khuynh hướng đối lập với tâm lý học hành vi và phân tâm học Nếu tâm lý học hành vi lấy điều kiện bên ngoài quyết định tâm lý con người, phân tâm học lấy điều kiện bên trong làm nguyên tắc quyết định, thì tâm lý học nhân văn là sự tổng hợp nhiều hướng mới và nhiều trường phái tư tưởng khác nhau Nhưng những nhà tâm lý học nhân văn đều có chung tư tưởng là tôn trọng con người, tôn trọng phẩm giá cá nhân Họ cho rằng, con người bẩm sinh là tốt và đề cao vai trò của hoài bão, khát vọng tự do cũng như khả năng vươn tới cái tốt đẹp của con người Động cơ chính trong cuộc đời là khuynh hướng tự thể hiện mình, khuynh hướng này là bẩm sinh và không ngừng thôi thúc con người hướng đến các hoạt động giúp họ tự thể hiện mình
Từ những quan điểm trên có thể thấy trường phái tâm lý học nhân văn đã thấy được bản chất tốt đẹp trong con người, đề cao hoài bão và nỗ lực vươn lên của con người Tuy vậy, do dựa vào những kinh nghiệm chủ quan để phân tích nhân cách con người, quay về với truyền thống tôn giáo nên trường phái này đã rơi vào quan điểm duy tâm
Trang 17Người đầu tiên có công xây dựng nền tâm lý học nhân văn là Abraham H.Maslow (1908- 1970) nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ Về nhân cách, ông đưa ra hệ thống nhu cầu, quá trình nhận thức, triệu chứng nhân cách và năng lực Tất cả các yếu tố này tạo nên động lực thúc đẩy hành vi con người Đông cơ thúc đẩy mạnh mẽ nhất là nhu cầu.Theo ông
có năm loại nhu cầu sau:
“- Nhu cầu sinh lý: Nhu cầu này có tính bản năng
- Nhu cầu an toàn: đó là sự yên ổn, trật tự , an ninh
- Nhu cầu yêu thương: nhu cầu lệ thuộc
- Nhu cầu được thừa nhận: thành đạt, kết quả, niềm tin
- Nhu cầu tự thực hiện: sáng tạo, hiểu biết, tri thức” [6, tr.77] Trong
đó nhu cầu sinh lý là mạnh nhất, và nhu cầu thực hiện là yếu nhất
Như vậy, H.Maslow cho rằng tính xã hội nằm trong bản năng của con người Những nhu cầu như giao tiếp, tình yêu, lòng kính trọng đều có tính chất bản năng đặc trưng cho giống người Các nhu cầu trên đều dựa trên cơ
sở di truyền nhất định Chính vì vậy, học thuyết nhu cầu của H.Maslow có điểm giống học thuyết S.Freud
Khi nghiên cứu đến vấn đề nhân cách, không thể không đề cập tới nhà tâm lý học lỗi lạc của thế kỷ XX là Jean Piaget (người Thụy Sĩ) Ông chủ yếu nghiên cứu tâm lý học trẻ em, sự hình thành và phát triển trí tuệ, mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể Ông cho rằng phải nghiên cứu cá nhân con người, đó là chủ thể của mối quan hệ xã hội Khái niệm “cân bằng” là trung tâm trong học huyết của J Piaget, và theo ông, để có sự cân bằng tâm lý cần có hoạt động bù trừ Con người khi bị tác động của các lực
từ bên ngoài vào tạo ra sự mất cân bằng trong chỗ khác, có cảm giác này không có cảm giác kia, có hoạt động này không có hoạt động kia Con người phải hoạt động để ứng xử đạt mục đích nào đó Con người phải dùng
Trang 18lực để điều chỉnh từ chỗ này sang chỗ khác Và như vậy, có sự hoạt động bù trừ Nhờ hoạt động này đã đưa lại sự cân bằng trong tâm lý con người Đó cũng là sự cân bằng trong nhân cách Bởi vì cân bằng nhằm tạo dựng cuộc sống và sáng tạo ra giá trị
Theo J.Piaget, giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nhân cách trọn vẹn Bên cạnh đó cần phải tôn trọng con người và quyền tự
do cơ bản thì mới có thể đào tạo con người tự chủ về trí tuệ và đạo đức trên
cơ sở những quy luật tác động tương hỗ
A.N.Leonchiev (1903-1979) là nhà tâm lý học Nga kiệt xuất, ông coi nhân cách như một cấu tạo tâm lý mới được hình thành trong các quan hệ sống của cá nhân do kết quả hoạt động cải tạo của người đó Ông cũng phân biệt rõ ràng khái niệm cá nhân và nhân cách
Khái niệm cá nhân thể hiện tính chất chỉnh thể, không thể chia nhỏ về những đặc điểm của chủ thể Nó là sản phẩm của sự phát triển tiến hóa chủng loài và tiến hóa cá thể
Khái niệm nhân cách thể hiện tính chỉnh thể của chủ thể cuộc sống Nhân cách là một cấu tạo đặc biệt có tính trọn vẹn Nhân cách là sản phẩm tương đối muộn của sự phát triển xã hội lịch sử và của sự tiến hóa cá thể của con người Nó là kết quả của quá trình chín muồi bẩm sinh dưới sự tác động của môi trường xã hội Sự hình thành nhân cách là một quá trình riêng không trùng khớp với quá trình biến đổi các thuộc tính tự nhiên của cá thể Điều này có nghĩa là ở mỗi cá nhân, có một kiểu hệ thần kinh, một khí chất, các nhu cầu sinh vật, cảm xúc… Trong quá trình phát triển cá thể các yếu
tố này thay đổi Tuy nhiên, không phải sự thay đổi các thuộc tính bẩm sinh này của con người sẽ sản sinh ra nhân cách, mà sự thay đổi đó là điều kiện
để phát triển nhân cách
Hoạt động là cơ sở của nhân cách A.N.Leonchiev cho rằng
Trang 19muốn hiểu nhân cách phải dựa vào hoạt động của chủ thể để phân tích Một mặt, hoạt động làm nảy sinh nhân cách, mặt khác, nhân cách bộc
lộ qua quá trình hoạt động việc nghiên cứu nhân cách phải xuất phát
từ sự phát triển của hoạt động, những loại hình cụ thể của hoạt động và mối liên hệ của nhân cách đó với những người khác đó là con đường
để hiểu nhân cách một cách cụ thể Quá trình phát triển nhân cách là quá trình mở rộng hoạt động và giao tiếp của cá nhân, nền tảng của nhân cách là sự phong phú của mối quan hệ giữa cá nhân và thế giới Trong mối quan hệ này con người phải hoạt động bao gồm cả hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn
Theo A.N.Leonchiev, có ba thông số của nhân cách: “chiều rộng của mối quan hệ giữa con người với thế giới, mức độ thứ bậc các hoạt động và các động cơ hoạt động của chúng và cơ cấu tổng quát của nhân cách Các tiểu cấu trúc của nhân cách bao gồm: khí chất, nhu cầu, ý hướng, rung cảm
và hứng thú, tâm thế, kỹ xảo, thói quen, phẩm chất đạo đức.” [1, tr.263-264]
Như vậy trong quan niệm của A.N.Leonchiev về nhân cách thì hoạt động là cơ sở của nhân cách Vì vậy phải lấy hoạt động để phân tích, lý giải hiện tượng nhân cách Khi nghiên cứu nhân cách phải chú ý tới các vấn đề động cơ, nhu cầu, mục đích và hành động của cá nhân trong hoạt động Có như vậy, mới có thể tách bạch được những cấp độ khác nhau: cấp độ sinh vật, cấp độ tâm lý với tư cách là chủ thể và cấp độ xã hội, ở đó con người thực hiện những quan hệ xã hội trong nghiên cứu
Quan điểm này của ông là một đóng góp lớn cho sự nghiên cứu nhân cách Nhưng vẫn còn một vấn đề đặt ra là nghiên cứu các hoạt động của cá nhân thì các giá trị xã hội của nhân cách lại không chỉ phụ thuộc vào các hoạt động của cá nhân mà còn phụ thuộc vào các khách thể đánh giá cá nhân đó Trong nhiều trường hợp bản thân hoạt động của nhân cách là tốt
Trang 20nhưng sự đánh giá xã hội lại là một nhân cách không tốt Như vậy, chỉ dựa vào hoạt động thì chưa nói hết được bản chất của nhân cách
Quan niệm của triết học Mác- Lênin về bản chất con người: Triết học
Mác cho rằng con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật và mặt xã hội Con người là sản phẩm của thế giới tự nhiên, mang bản tính sinh học, tính loài Yếu tố sinh học là điều kiện đầu tiên qui định sự tồn tại của con người như Ph Ăngghen nhận xét “Bản thân chúng ta với cả xương thịt, máu mủ và đầu óc của chúng ta là thuộc về giới tự nhiên” [71, tr.318] Vì vậy, con người có những nhu cầu tự nhiên và chịu sự tác động của cá quy luật tự nhiên để bảo đảm sự tồn tại của mình Nhưng cơ thể con người khác về chất so với các vật thể tự nhiên khác ở chỗ: cơ thể con người là một cấu trúc sinh học ở trình độ cao với bộ óc và hệ thần kinh hoàn thiện, một cái khác nữa là cơ thể con người tồn tại cùng cùng cới sự tồn tại và phát triển của xã hội Vì vậy con người không chỉ có những nhu cầu và các quy luật sinh học, mà còn những nhu cầu quy luật sinh – tâm lý, tình cảm, xã hội Hơn thế nữa, ngay cả những nhu cầu tự nhiên của con người cũng đã được xã hội hóa ngày càng cao
Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động lao động sản xuất, thong qua hoạt động lao động ngôn ngữ và tư duy của con người được hình thành và phát triển, và từ đó các mối quan hệ xã hội cũng được xác lập
Như vậy, con người luôn bị sự tác động của bởi ba hệ thống nhu cầu (nhu cầu sinh học, nhu cầu xã hội, nhu cầu tinh thần) và ba hệ thống quy luật khác nhau, đó là: Hệ thống quy luật tự nhiên, quy định phương diện sinh học của con người Hệ thống quy luật tâm lý, ý thức hình thành trên nền tảng sinh học con người như tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí Hệ thống các quy luật xã hội qui định mối quan hệ giữa người với người
Trang 21Mỗi hệ thống nhu cầu và quy luật đều có vị trí, vai trò, tác dụng của mình trong sự tồn tại và phát triển của con người, chúng tham gia vào việc qui định bản chất của con người trong đó hệ thống nhu cầu xã hội và quy luật
xã hội giữ vai trò quyết định
Để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã từng nói
“Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan
hệ xã hội” [10, tr.11] Những quan hệ xã hội ấy thể hiện trong toàn bộ
hoạt động cụ thể của con người (con người sống trong một điều kiện lịch
sử cụ thể), và chỉ trong toàn bộ những quan hệ xã hội cụ thể đó con người mới bộc và thực hiện bản chất xã hội của mình
Từ quan niệm của triết học mác về bản chất con người, chúng ta thấy
sự hình thành và phát triển nhân cách là sự thống nhất các yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội, trong đó quan hệ xã hội có vai trò quyết định Vì vậy, mỗi
cá nhân cần phải tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội thì nhân cách mới được hình thành và phát triển
Như vậy, chúng ta có thể nói rằng luận điểm cơ bản để giải quyết vấn
đề nhân cách mà Mác nêu ra là các quan hệ xã hội trong đó cá nhân tham gia một cách tích cực nhằm lĩnh hội và cải tạo mối quan hệ hiện thực đó Mỗi nhân cách xuất phát từ mức độ của tính “hiện thực con người” này mà xác định mức độ, nhu cầu, nguyện vọng, thể hiện sự phát triển của mình Mỗi cá nhân biến tiềm năng của bản thân, tiềm năng của mối quan hệ xã hội thành nhân cách thông qua hoạt động học tập, giáo dục trong điều kiện lịch
sử cụ thể của đời sống cá nhân
Quan niệm của triết học Mác – Lênin về bản chất con người là cơ sở phương pháp luận cho việc giải quyết vấn đề nhân cách Muốn nghiên cứu nhân cách phải đặt nó trong các mối quan hệ xã hội, sự hoạt động của con người trong xã hội đó
Trang 22Hồ Chí Minh hòa quyện nhiều phẩm chất cao đẹp: Anh hùng và nhà văn hóa, nhà quân sự và nhà thơ Qua nghiên cứu Hồ Chí Minh chúng ta có thể thấy được những tư tưởng của người về nhân cách được thể hiện ở những nội dung sau:
Nhân cách có cấu trúc là đức và tài, trong đó đức là nền tảng Đức bao gồm các thành tố chủ yếu là cần, kiệm, liêm, chính Tài là các năng lực
Đạo đức cách mạng là cái gốc của nhân cách Trong nhiều bài viết của Hồ Chí Minh đều thể hiện đạo đức là gốc, nếu không có đạo đức thì tài cũng vô dụng Người viết “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [85, tr.40]
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh được hình thành và phát triển cùng với sự nghiệp cách mạng, nó khác với đạo đức cũ bởi tính cách mạng của
nó Nội dung của đạo đức cách mạng là: Yêu nước, yêu nhân dân, yêu lao
động, yêu chủ nghĩa xã hội; quyết tâm thực hiện những nhiệm vụ có ích cho cách mạng, cho xã hội; đạo đức không tách rời tài năng
Nhân cách theo tư tưởng của Hồ Chí Minh còn là tư cách làm người Nói
về tư cách người cách mạng, trong tác phẩm Đường kách mệnh, Người viết:
“Tự mình phải:
Cần kiệm
Hòa mà không tư
Quả quyết sửa lỗi mình
Trang 23Không hiếu danh, không kiêu ngạo
Đối với người phải:
Với từng người phải khoan thứ
Với đoàn thể thì phải nghiêm
Có lòng bày vẽ cho người
Trực mà không táo bạo
Hay xem xét người
hệ xã hội của cá nhân (chủ yếu là động cơ xã hội của cá nhân) Ba thành phần trên có quan hệ chặt chẽ tạo thành một chỉnh thể nhân cách trọn ven Nhân cách có cấu trúc như trên, vì vậy muốn hình thành và phát triển nhân cách, thì cá nhân phải có năng lực làm chủ bản thân, làm chủ tự nhiên và xã hội
Trước hết là quá trình tự chủ bản thân Muốn làm chủ bản thân trước hết phải coi bản thân là đối tượng của nhận thức, tự bản thân phải khám phá
Trang 24ra mình, điều chỉnh nhận thức, tình cảm và hành động của mình sao cho phù hợp với chuẩn mực xã hội Để làm chủ bản thân thì cá nhân phải có năng lực về thể chất , năng lực, năng lực chuyên môn… và đây cũng là quá trình
tự giáo dục để hoàn thiện bản thân mình
Thứ đến là làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên Muốn làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên con người phải có ý thức xã hội, có động cơ và mục đích xã hội mà phấn đấu Có thái độ sẵn sàng tham gia vào các hoạt động nhằm cải tạo xã hội, cải tạo tự nhiên Muốn làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên phải có những phẩm chất và năng lực làm chủ Phải có tri thức, khoa học, sáng tạo, có năng lực điều khiển quản lí xã hội, phải có khả năng hành động để thực hiện quyền tự chủ đó Trong mối quan hệ xă hội cũng phải tính đến mối quan hệ của môi trường vi mô cũng như vĩ mô “gia đình, bạn bè, hàng xóm, láng giềng, nhóm bạn, tập thể, nhà trường, cơ quan đến mối quan hệ Tổ quốc và quốc tế Trong các mối quan hệ đó không chỉ có hiện tại mà có cả quá khứ và tương lai Tục ngữ “uống nước nhớ nguồn”,
“con dại cái mang” là nhằm nói lên mối quan hệ hiện tại và quá khứ Hồ Chí Minh nói “vì hạnh phúc trăm năm phải trồng người” là nói lên việc giáo dục hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ ngày nay là vô cùng quan trọng đối với việc xây dựng xã hội tốt đẹp mai sau
Như vậy, phẩm chất cốt lõi của nhân cách theo quan niệm của Hồ Chí Minh là Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm Còn cái “Tâm” là cơ sở của nhân cách, cái “Tâm” được hiểu như toàn bộ những phẩm chất tâm lý từ nhận thức, tình cảm đến ý chí Nó bao trùm toàn bộ các hiện tượng tâm lý của con người
Theo Hồ Chí Minh, cái “Tâm” được thể hiện trước hết trong mối
quan hệ của chính bản thân cá nhân: bản thân mình phải cần, kiệm, liêm,
chính Thể hiện trong mối quan hệ của cá nhân với người khác, với xã hội
Trang 25đó là: với từng người thì khoan thứ, với toàn thể thì nghiêm; trung với nước,
hiếu với dân Cái “Tâm” với công việc là khó mấy cũng phải làm
Đánh giá tư cách, đạo đức của một người phải dựa vào hệ thống mối quan hệ bên trong cá nhân, quan hệ cá nhân với cá nhân khác với xã hội, cá nhân với công việc Nổi lên hàng đầu là động cơ xã hội của cá nhân và hành động để thực hiện động cơ đó Đó cũng là bậc thang giá trị đánh giá nhân cách con người Chúng ta hiểu phẩm giá cá nhân bao gồm những phẩm chất
mà các nhân đã thu được trong quá trình hoạt động, giao tiếp và những giá trị xã hội của những phẩm chất đó Điều đó có nghĩa là những phẩm chất cá nhân đều có ý nghĩa xã hội, thông qua sự đánh giá của xã hội thì những phẩm chất đó mới mang ý nghĩa nhân cách Vì vậy, giữa phẩm chất và giá trị có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thống nhất thành một hệ thống trọn vẹn trong cấu trúc nhân cách
Cách hiểu nhân cách như vậy sẽ giúp chúng ta xác định được đối tượng nghiên cứu nhân cách Đó chính là nghiên cứu hệ thống những phẩm giá xã hội của cá nhân Trước hết, đó là nghiên cứu hệ thống bên trong cá nhân, những yếu tố tâm- sinh lý của nhân cách Thứ hai là hệ thống bên ngoài cá nhân - đó là các quan hệ cá nhân với các nhân, cá nhân với nhóm,
cá nhân với xã hội, trong đó có sự đánh giá xã hội đối với các nhân và cuối cùng là quan hệ của cá nhân với công việc
Những ý kiến của Hồ Chí Minh về tư cách đạo đức là vô cùng quan trọng trong việc đặt nền tảng xây dựng lý luận nhân cách ở Việt Nam Dựa vào quan điểm của Người chúng ta có thể hiểu nhân cách là hệ thống những phẩm giá xã hội của các nhân, thể hiện cả trong cá nhân và bên ngoài cá nhân thông qua hoạt động và giao tiếp của cá nhân ấy
Trong xã hội, mọi người có quan hệ lẫn nhau và con người là chủ thể đồng thời là trung tâm của các mối quan hệ, vì vậy, con người phải được thể
Trang 26hiện như là một nhân cách “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần
có những con người xã hội chủ nghĩa” [60, tr.97] Xây dựng con người xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải gắn liền với việc xây dựng nhân cách phát triển hài hòa Đó là đòi hỏi cấp bách của sự nghiệp xây dựng con người đạo đức -trí tuệ trong điều kiện đổi mới hiện nay
Ở Việt Nam, nhân cách thường được hiểu theo những nghĩa như sau:
- Nhân cách được hiểu là con người có đức và tài hay là tính cách
và năng lực, hoặc là con người có các phẩm chất: đức, trí, thể, mỹ, lao (lao động)
- Nhân cách được hiểu như các phẩm chất và năng lực của con người
- Nhân cách được hiểu như các phẩm chất của con người mới: làm chủ, yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản, tinh thần lao động
- Nhân cách được hiểu như mặt đạo đức, giá trị làm người của con người
Như vậy khái niệm nhân cách thường gắn liền với khái niệm con người (ít nói đến cá nhân) Những phẩm chất nhân cách đó là những phẩm chất đòi hỏi ở mỗi con người cần phải có
Để có một khái niệm nhân cách toàn diện cần phải xuất phát từ những quan điểm của chủ nghĩa Mác về bản chất xã hội của con người:
“Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” hay “bản chất nhân cách là tính xã hội của nó” Cùng nó tư tưởng “đạo đức cách mạng”,
“tư cách con người” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về con người mới và những quan niệm truyền thống của người Việt Nam, chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng một quan niệm nhân cách phù hợp hiện nay, đó là:
“Nhân cách là toàn bộ những năng lực và phẩm chất xã hội - sinh lý -tâm lý của cá nhân tạo thành chỉnh thể đóng vai trò chủ thể
Trang 27tự ý thức, tự đánh giá, tự khẳng định và tự điểu chỉnh mọi hoạt động của mình” [4, tr.476].
Định nghĩa này vạch ra được những nét bản chất mà C.Mác và Lênin
đã nêu: bản chất xã hội của nhân cách, mối quan hệ của cá nhân và xã hội, đồng thời nêu được tính chất cấu trúc hệ thống của nhân cách và cơ chế phát triển nhân cách với tư cách là tự chủ trong tự nhiên, tự chủ trong xã hội
và tự chủ trong bản thân mình
Nhân cách không chỉ là hệ thống những phẩm chất xã hội của cá nhân mà còn còn bao hàm những giá trị đạo đức của cá nhân được sự đánh giá của xã hội, của cá nhân khác, của thế hệ hiện tại và thế hệ mai sau Điều này thể hiện quan niệm “đạo đức cách mạng”, “tư cách của mỗi người” khi đánh giá một con người mà Hồ Chí Minh đã nêu
Định nghĩa này còn giúp ta hình dung được hệ thống cấu trúc của việc phát triển nhân cách hài hòa và toàn diện của cá nhân con người Muốn phát triển nhân cách cá nhân phải phát triển những thể chất và tâm lí - xã hội của cá nhân, những mối quan hệ của cá nhân với thế giới xung quanh, với xã hội, với nhiệm vụ của cá nhân Năng lực chung và năng lực chuyên môn của cá nhân được hình thành trên cơ sở những nhiệm vụ này Nhân cách với tư cách là cái chuẩn đánh giá của xã hội đối với con người, song
nó gắn chặt với con người cụ thể như là những phẩm chất xã hội của cá nhân Vì vậy, có sự phân biệt khái niệm nhân cách, cá nhân, con người qua định nghĩa này, tránh được sinh vật hóa, tâm lí hóa, xã hội hóa nhân cách
Vì vậy, định nghĩa trên có thể sử dụng chung cho các khoa học xã hội
1.2 VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC THẨM MỸ ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH
VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
Vấn đề giáo dục thẩm mỹ đã được các nhà lý luận từ rất xưa trong nền triết học cổ đại Hy Lạp chú ý Platon đã đề xuất vấn đề giáo dục thẩm
Trang 28mỹ mang tính nhà nước; Aristot quan tâm đặc biệt đến vấn đề giáo dục thẩm mỹ trên cơ sở khái quát những kinh ngiệm nghệ thuật đương thời Ông cho rằng “hình tượng nghệ thuật phải đẹp bao nhiêu thì đồng thời cũng phải cao cả và trong sạch bấy nhiêu”; việc cảm thụ tác phẩm nghệ thuật sẽ tạo ra hàng loạt cảm xúc có khả năng làm cho con người cao quí hơn về mặt tâm hồn Vì vậy ông khẳng định: “Trong việc giáo dục, cái đẹp
phải đóng vai trò quan trọng nhất” [13, tr.214]
Các nhà triết học phương Đông cổ đại cũng rất quan tâm đến việc giáo dục thẩm mỹ Khổng Tử - người sáng lập học thuyết Nho giáo, cũng thường khuyên các học trò của mình cần phải tích cực lĩnh hội các loại nghệ thuật để không ngừng bồi bổ tinh thần cho mình Ông đánh giá cao chức năng giáo dục của nghệ thuật, Ông quan niệm “Nghệ thuật, đặc biệt là âm nhạc và thi
ca với tính chất là một sức mạnh xã hội lớn lao, có thể giúp ích thật đáng kể ngay trong việc điếu khiển quốc gia” [82, tr.63] Vai trò tác động của nghệ thuật tới con người về mặt đạo đức là rất lớn, ông khẳng định “Nghệ thuật có thể là một phương tiện tốt để giáo dục đạo đức” [82, tr.63]
Khái niệm giáo dục thẩm mỹ theo quan niệm của mỹ học Mác- Lênin được hiểu theo hai nghĩa “Nghĩa hẹp: Giáo dục thẩm mỹ là giáo dục có tính trường quy về cái đẹp, giáo dục cho con người biết cảm thụ, đánh giá và sáng tạo cái đẹp Nghĩa rộng của khái niệm giáo dục thẩm mỹ là sự giáo dục và tự giáo dục, phát huy mọi năng lực bản chất người theo quy luật của cái đẹp” [45, tr.263] Như vậy, giáo dục thẩm mỹ hiểu theo nghĩa nào thì bản chất thật
sự của nó là nhằm hình thành một chủ thể thẩm mỹ biết hưởng thụ, đánh giá
và sáng tạo trên mọi mặt của cuộc sống theo quy luật của cái đẹp, từ đó hướng tới làm cho con người phát triển hài hòa, toàn diện
Theo quan điểm mỹ học Mác - Lênin, giáo dục thẩm mỹ về bản chất
là một bộ phận hợp thành sự nghiệp giáo dục toàn xã hội, nó gắn bó chặt
Trang 29chẽ với giáo dục lao động, giáo dục đạo đức, giáo dục chủ nghĩa yêu nước, tinh thần quốc tế và giáo dục các quan niệm về sự hài hòa giữa truyền thống
và hiện đại, cá nhân và xã hội, dân tộc và quốc tế Vì thế, giáo dục thẩm mĩ
là một thể thống nhất của sự nghiệp giáo dục nói chung, vừa là điều kiện tất yếu tạo dựng sự phát triển những nhân cách toàn diện
Cũng như các hoạt động giáo dục khác, giáo dục thẩm mỹ vừa là một thể thống nhất giữa những hình thức hoạt động khác nhau của con người, chịu sự tác động của toàn bộ quan hệ xã hội, lại vừa có mục tiêu, phương tiện, nội dung riêng
Giáo dục thẩm mỹ được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của xã hội và con người, nó thống nhất với giáo dục nói chung Giáo dục thẩm mỹ được bắt đầu từ việc nâng cao năng lực cảm thụ cái đẹp trong cuộc sống, trong tự nhiên, từ đó nâng cao tính tích cực sáng tạo trong mọi hoạt động, hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng xã hội phát triển theo quy luật của cái đẹp
Giáo dục thẩm mỹ bao gồm hai mặt trong một quá trình thống nhất sau đây:
Giáo dục thẩm mỹ là sự xã hội hóa cá nhân về mặt thẩm mỹ, mục đích của sự giáo dục này nhằm hình thành con người phát triển toàn diện, hài hòa Sự xã hội hóa cá nhân về mặt thẩm mỹ được thông qua mối quan
hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực, giáo dục thẩm mỹ cũng thực hiện chức năng xã hội hóa cá nhân trên nhiều bình diện: thế giới quan, nhân sinh quan, chính trị, đạo đức, lý tưởng…
Giáo dục thẩm mỹ là quá trình hình thành và phát triển ở con người năng lực đồng hóa thẩm mỹ đối với thế giới
Xét về mặt cấu trúc, một hệ thống giáo dục thẩm mỹ bao gồm ba bộ phận có liên hệ qua lại và quy định lẫn nhau Đó là chủ thể giáo dục, những
Trang 30phương tiện, những hình thức giáo dục và đối tượng của giáo dục
Trong hệ thống giáo dục thẩm mỹ, chủ thể giáo dục thẩm mỹ bao giờ cũng đại diện cho lợi ích của một tầng lớp, một giai cấp nhất định Chính những yêu cầu thẩm mỹ này quy định việc chủ thể giáo dục chú ý đến những đối tượng nào trong xã hội và sử dụng những chuẩn mực, những quan điểm thẩm mỹ nào, lựa chọn những phương tiện, những hình thức giáo dục nào
Giáo dục thẩm mỹ có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành lối sống, văn hóa nói riêng và hoàn thiện nhân cách con người nói chung theo chiều hướng tiến bộ, nhân văn và vận động theo quy luật của cái đẹp Mỗi con người, mỗi thời đại, có thể chịu tác động của nhiều phương thức, nhiều yếu tố tác động khác nhau, song nhất thiết phải xây dựng và trang bị cho con người những nhu cầu, động cơ và thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh, trong sáng và khoa học để mọi người tự mình có thể tồn tại, thích ứng và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội và thời đại
Giáo dục thẩm mỹ có nội dung xã hội sâu sắc, trước hết nó phải gắn với tính dân tộc: các chủ thể thẩm mỹ hưởng thụ, đánh giá và sáng tạo cái đẹp thường trên cơ sở các điều kiện kinh tế, tâm lý, văn hóa…của một dân tộc nhất định Mỗi một người sinh ra, tồn tại và phát triển đều gắn kết với lợi ích của dân tộc nhất định, không ai lại không có dân tộc của mình Vì vậy giáo dục cái đẹp của dân tộc, tình cảm thẩm mỹ, tư tưởng thẩm mỹ của dân tộc và những thước đo quan hệ thẩm mỹ đã hình thành và phát triển lâu dài ở mỗi dân tộc trở thành nội dung cốt lõi của sự hình thành thẩm mỹ của mỗi cá nhân Trong quá trình giáo dục thẩm mỹ nếu chúng ta xa rời tính dân tộc thì sẽ đánh mất một yếu tố quan trọng trong bản chất xã hội của nó
Hơn thế nữa trong xã hội có giai cấp quan hệ thẩm mỹ cũng tất yếu mang tính giai cấp: các chủ thể thẩm mỹ không thuộc giai cấp này thì
Trang 31cũng thuộc giai cấp khác Do vậy, tình cảm thẩm mỹ, nhu cầu thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ, hành động thẩm mỹ là lý tưởng thẩm mỹ của các chủ thể trong một xã hội có giai cấp đều phụ thuộc vào các mục tiêu giáo dục của các giai cấp đó
Tính xã hội của giáo dục thẩm mỹ đặc biệt phụ thuộc vào tính thời đại Bởi lẽ mỗi thời đại khác nhau có mục tiêu, cách thức, biện pháp giáo dục và xây dựng các chủ thể thẩm mỹ khác nhau Mục tiêu của giáo dục thẩm mỹ phụ thuộc vào các mục tiêu kinh tế, xã hội của mỗi chế độ xã hội nhất định Mỗi chủ thể thẩm mỹ hưởng thụ, thưởng thức, đánh giá và sáng tạo cái đẹp đều gắn với tính tất yếu kinh tế- xã hội
Vì bản chất của giáo dục thẩm mỹ luôn luôn mang nội dung dân tộc, giai cấp và thời đại nên giáo dục cái đẹp và hình thành một chủ thể thẩm
mỹ biết hưởng thụ, thưởng thức, đánh giá và sáng tạo cái đẹp không thể phi dân tộc, giai cấp và thời đại - đây chính là điểm khác biệt của giáo dục thẩm
mỹ của mỹ học Mác- Lênin so với các lý luận trước chủ nghĩa Mác và ngoài macxít về giáo dục thẩm mỹ
Tính đặc thù của giáo dục thẩm mỹ khác với mọi phương diện khác ở bản chất của cái thẩm mỹ Theo quan điểm của mỹ học Mác - Lênin, giáo dục thẩm mỹ là giáo dục tổng hợp: giáo dục trí tuệ không tách rời giáo dục thẩm mỹ, cũng như giáo dục đạo đức có liên hệ mật thiết, bản chất với giáo dục thẩm mỹ Cái đúng phải gắn với cái đẹp, cái tốt cũng phải gắn với cái đẹp, phát triển thể chất cũng phải gắn với cái đẹp Chân- Thiện- Mỹ luôn gắn liền với nhau Do đó giáo dục thẩm mỹ đồng tham gia làm hoàn thiện các lĩnh vực giáo dục khác.Và các hoạt động giáo dục khác cũng thúc đẩy giáo dục thẩm mỹ phát triển
Giáo dục nghệ thuật là một bộ phận hữu cơ của tính tổng hợp trong giáo dục thẩm mỹ, bởi vì nghệ thuật là một hình thái đặc thù trong ý thức xã
Trang 32hội Giáo dục thẩm mỹ với tư cách là làm hình thành một chủ thể thẩm mỹ
có khả năng hưởng thụ, thưởng thức, đánh giá và sáng tạo thẩm mỹ thì không thể tách rời giáo dục nghệ thuật với tư cách sản phẩm sáng tạo của con người thông qua các hình tượng Ngược lại nghệ thuật tạo cho các chủ thể thưởng ngoạn thẩm mỹ niềm vui, sự thích thú và định hướng các nhu cầu, thị hiếu, lý tưởng thẩm mỹ của họ bằng một hình thức tổng hợp là hình tượng nghệ thuật
Giáo dục nghệ thuật sẽ làm cho con người hiểu biết về cuộc sống thẩm mỹ và các mô hình thẩm mỹ đã được sáng tạo, do đó, nó nâng cao năng lực lựa chọn thẩm mỹ của con người Nghệ thuật có sức mạnh hư cấu
to lớn nên nó có khả năng nâng cao năng lực tưởng tượng của con người Nghệ thuật sáng tạo theo quy luật của cái đẹp, của tình cảm, vì thế, giáo dục nghệ thuật có tác dụng nâng cao tình cảm, các khoái cảm, tình yêu, hy vọng, chuẩn bị tích cực cho con người các hoạt động đúng đắn
Theo quan điểm của mỹ học Mác-Lênin, giáo dục thẩm mỹ khi hướng vào xây dựng, phát triển các năng lực thẩm mỹ của con người, thì trước hết
nó làm hình thành các nhu cầu thẩm mỹ lành mạnh cho con người Nhu cầu thẩm mỹ là giai đoạn khởi đầu của hoạt động thẩm mỹ của chủ thể Giáo dục các nhu cầu hưởng thụ, thưởng thức, đánh giá và sáng tạo cái đẹp là nhiệm
vụ rất cơ bản của giáo dục thẩm mỹ theo quan điểm của mỹ học Mác-Lênin
Giáo dục thẩm mỹ theo quan điểm của mỹ học Mác- Lênin là giáo dục con người trong quá trình chiếm lĩnh thế giới, biết nhận thúc, thưởng thức và sáng tạo theo quy luật của cái đẹp Nó giúp con người tự biến mình thành con người xã hội, xóa bỏ con người “phi xã hội” trở thành chủ thể thẩm mỹ góp phần tạo ra cái đẹp cho cuộc sống của mình và cho cả toàn xã hội Quan niệm như vậy chính là sự thể hiện về tư tưởng con người tương lai, con người sáng tạo và hoạt động theo quy luật của cái đẹp Mác đã chỉ rõ:
Trang 33“Súc vật chỉ tái sản xuất ra bản thân mình, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ tự nhiên; sản phẩm của súc vật trực tiếp gắn liền với cơ thể vật chất của nó, còn con người thì đối lập tự do với sản phẩm của mình Súc vật chỉ biết nhào nặn vật chất theo thước đo nhu cầu giống loài của nó còn con người thì có thể sản xuất ra bất kì thước đo của bất cứ giống nòi nào và
ở đâu cũng có thể áp dụng thước đo thích dụng cho đối tượng; do đó con người cũng nhào nặn vật chất theo quy luật của cái đẹp” [11, tr.137]
Tư tưởng về vai trò của lao động, tức nhân tố của xã hội, đối với sự hình thành, hoàn thiện các giác quan của con người có một ý nghĩa đặc biệt đối với lý luận về thẩm mỹ và giáo dục thẩm mỹ
Năng lực thẩm mỹ của con người vốn gắn liền với các giác quan, các khí quan của cơ thể Không thể nói đến năng lực thẩm mỹ nếu ít nhất người
ta không có sự phát triển bình thường của đôi mắt, đôi tay, đôi tai của năng lực cảm nhận, phân biệt những sắc thái, nhưng cung bậc nhất định của màu sắc, đường nét và âm thanh Còn năng khiếu và tài năng trong lĩnh vực thẩm mỹ gắn liền với các tố chất đặc biệt của các khí quan, các giác quan của con người Không phủ nhận vai trò của những nhân tố bẩm sinh, nhưng quan niệm mác xít cho rằng, những năng khiếu bẩm sinh được hình thành trên cơ sở những tố chất đặc biệt về mặt sinh học của con người thực ra mới chỉ là những tiền đề sinh học, những điều kiện ban đầu của một nhân cách thẩm mỹ, của tài năng và thiên tài trong lĩnh vực thẩm mỹ Những điều kiện
xã hội thuận lợi, một nền giáo dục có chất lượng với sự nỗ lực thường xuyên của con người mới hội đủ những điều kiện để phát triển tối đa những năng lực nhân cách nói chung và nhân cách thẩm mỹ nói riêng
Giáo dục thẩm mỹ, về bản chất của mình là bồi dưỡng lòng khát khao đưa cái đẹp vào cuộc sống, tạo nên sự hài hòa giữa xã hội - con người - tự nhiên, nâng cao năng lực thụ cảm và sáng tạo ở con người, làm cho con
Trang 34người được phát triển một cách hài hòa trong mọi hoạt động lao động cũng như nghỉ ngơi, trong quan hệ gia đình cũng như xã hội
Giáo dục thẩm mỹ là hình thành ở con người một quan hệ thẩm mỹ nhất định đối với hiện thực Sự thống nhất giữa giá trị thẩm mỹ và giá trị đạo đức là tiền đề của sự liên kết giáo dục thẩm mỹ với giáo dục đạo đức Hình thành nhân cách theo tinh thần của những giá trị thẩm mỹ đích thực, nghĩa là những giá trị thể hiện sự phát triển của sự tự do và sự tự do phát triển của con người và xã hội
Khi xây dựng nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác và Ăng ghen không chỉ thực hiện một cuộc cách mạng triệt để trong triết học mà cùng với điều đó ông đã đặt nền móng cho việc xây dựng một hệ thống giáo dục thẩm mỹ nhân đạo và khoa học
Nói đến giáo dục thẩm mỹ là nói đến việc làm hình thành và phát triển nhu cầu và năng lực thẩm mỹ của con người Điểm xuất phát hay là cơ sở của lý luận giáo dục thẩm mỹ là việc làm sáng tỏ thực chất, đặc trưng, những nhân tố quy định các nhu cầu và năng lực thẩm mỹ Tuy nhiên điều này chỉ giải quyết trên cơ sở một quan niệm, một cách lí giải đúng đắn và khoa học
về các nhu cầu, các năng lực cấu thành nhân cách con người nói chung
Các hệ thống triết học, mỹ học trước mỹ học mácxit có những cách nhìn khác nhau về nhân cách Quan niệm duy tâm khách quan nhìn nhận nhân cách như là sự thể hiện của những sức mạnh siêu tự nhiên ở bên ngoài con người, bên ngoài xã hội loài người Quan niệm duy tâm chủ quan nhìn nhận năng lực, những nhu cầu của nhân cách như những sức mạnh tiên nghiệm, bẩm sinh “nhất thành bất biến” Quan niệm sinh học xã hội cho rằng năng lực nhân cách chẳng qua chỉ là sự mở rộng, sự tăng trưởng, sự tích lũy những bản năng xã hội ở động vật Thậm chí những hệ thống triết học, mỹ học duy vật trước Mác cũng không thoát khỏi cách lí giải duy tâm về xã hội
Trang 35và con người Vì vậy, bản chất con người, nhân cách con người cũng chỉ là một tập hợp những năng lực trừu tượng, phi xã hội và nhất thành bất biến
Như vậy, giáo dục thẩm mỹ trong hệ thống mỹ học trước mỹ học mácxit chỉ nhằm vào các năng lực thẩm mỹ đặc thù trong sự phân biệt một cách rạch ròi với những năng lực ngoài thẩm mỹ, nghĩa là các năng lực nhận thức, đạo đức và các năng lực thực tiễn khác
Có thể khẳng định rằng các lý luận về giáo dục thẩm mỹ trước mỹ học mácxit đã không thấy được năng lực thẩm mỹ vừa khác biệt vừa thống nhất với các năng lực ngoài thẩm mỹ Nói khác đi, các lý luận về giáo dục thẩm mỹ trước chủ nghĩa Mác không thấy được sự hình thành thẩm mỹ bị quy định không chỉ bởi các nhân tố trực tiếp mà còn bởi các nhân tố gián tiếp Do đó trong lý luận về giáo dục thẩm mỹ của mình họ thường quy giản
về một số hình thức và phương thức giáo dục nhất định chứ không được mở rộng để tiếp nhận tất cả những phương thức, hình thức khác nhằm phát triển tối đa nhân cách thẩm mỹ của con người
Một quan niệm đúng đắn về giáo dục thẩm mỹ như là sự hình thành thẩm mỹ chỉ có được trên sở quan niệm duy vật lịch sử về con người và nhân cách Mác và Ăng ghen là những người đầu tiên nhìn nhận con người
là sự thống nhất giữa bản tính sinh học và bản tính xã hội Nhìn nhận con người có nguồn gốc từ con vật là thành quả của nhận thức về con người trước khi chủ nghĩa Mác ra đời Nhưng các nhà sinh học, triết học trước Mác đã không thấy được cái điều là sự hoàn thiện, sự tiến hóa của con người về mặt thể chất lại chỉ có được nhờ sự tác động của nhân tố xã hội Mác đã từng nói: “sự hình thành năm giác quan là công việc của toàn bộ lịch sử thế giới đã diễn ra từ trước đến nay”
Trong tác phẩm “Vai trò của lao động trong quá trình chuyển biến từ
vượn thành người”, bằng những tài liệu của sinh học, nhân học, khảo cổ
Trang 36học, Ăngghen đã chứng minh một cách thuyết phục về vai trò có tính quyết định của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người
Theo quan điểm mỹ học Mác- Lênin, với tư cách là một lĩnh vực quan trọng trong hệ thống giáo dục của xã hội, giáo dục thẩm mỹ trước hết phải tạo cho người được giáo dục những tri thức thẩm mỹ cần thiết Các tri thức thẩm mỹ này sẽ làm nảy sinh tình cảm thẩm mỹ, trí tưởng tượng, thị hiếu là lý tưởng thẩm mỹ của con người
Giáo dục thẩm mỹ, ngoài việc cung cấp các tri thức thẩm mỹ, nó phải tham gia phát triển lĩnh vực xúc cảm và tình cảm thẩm mỹ của con người, bồi dưỡng xúc cảm lành mạnh, hướng tri giác của các chủ thể thẩm mỹ vào các quan hệ thẩm mỹ đang vận động trong hiện thực Dĩ nhiên, đây là quá trình luôn có sự gắn liền giữa tình cảm với lí trí…
Bản chất của giáo dục thẩm mỹ, theo quan điểm mỹ học Mác- Lênin, còn gắn liền với các hoạt động sáng tạo, nghĩa là con người luôn luôn hướng tới những cái mới Giáo dục thẩm mỹ làm hình thành tính năng động chủ thể thẩm mỹ phát triển mạnh mẽ và tự do trên cơ sở nhân sinh quan và thế giới quan đúng đắn
Giáo dục thẩm mỹ, về bản chất còn là quá trình bồi dưỡng lòng khao khát đưa cái đẹp vào cuộc sống, tạo nên sự hài hòa giữa con người, xã hội
và tự nhiên, nâng cao năng lực cảm thụ và sáng tạo ở con người, làm cho con người được phát triển một cách hài hòa trong mọi hoạt động lao động sáng tạo cũng như nghỉ ngơi, trong quan hệ gia đình cũng như xã hội
Như vậy, bản chất của giáo dục thẩm mỹ xét - đến cùng, là sự tác động tích cực có định hướng, có kế hoạch vào ý thức của con người, nâng cao khả năng nhận thức và hướng dẫn con người hoạt động theo một cương trình, mục tiêu cụ thể xác định
Giáo dục thẩm mỹ còn là nhằm hình thành mặt thẩm mỹ cho con
Trang 37người, hay nói chính xác hơn là quá trình xã hội hóa cá nhân về mặt thẩm
mỹ bằng thể chế Mục tiêu lớn hơn, bao trùm của giáo dục thẩm mỹ là hình thành những năng lực thẩm mỹ của con người trong các khả năng cảm thụ, đánh giá và sáng tạo cái đẹp, góp phần tạo nên một lối sống đẹp, mối quan
hệ đẹp giữa người với người, giữa con người với xã hội và giữa con người với tự nhiên
Các tư tưởng mỹ học của Hồ Chí Minh là một bộ phận hợp thành hữu
cơ của tư tưởng Hồ Chí Minh Các tư tưởng mỹ học của Hồ Chí Minh gắn
bó chặt chẽ với các tư tưởng chính trị, đạo đức của Người
Nếu tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh định hướng đấu tranh của nhân dân ta vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh làm cho cái thiện nảy nở nhiều hơn trong mỗi con người và toàn xã hội, cái
ác dần dần bị loại bỏ, thì tư tưởng mỹ học của Hồ Chí Minh tạo ra những cái đẹp mới cho xã hội Con người có tính người nhất, theo Hồ Chí Minh, đó là con người tự do, được làm chủ thiên nhiên, xã hội và bản thân mình, đó cũng
là con người đẹp ở hình mẫu lý tưởng Quan niệm về cái đẹp của chủ tịch Hồ Chí Minh mang giá trị nhân bản sâu sắc, bởi Người luôn đặt con người ở vị trí trung tâm của cuộc đấu tranh xã hội Muốn xây dựng xã hội tốt đẹp, trước hết phải có con người đẹp Muốn có con người đẹp phải giải phóng nó khỏi
áp bức, phải bồi dưỡng về tài, đức, thể lực, hướng mọi hoạt động của nó vào mục đích độc lập, tự do, hạnh phúc của đồng bào, đồng loại Người cho rằng, nhiệm vụ quan trọng nhất của nhà trường là phải đào tạo ra người lao động phát triển hài hòa, cân bằng giữa lao động chân tay và lao động trí óc Những con người lao động ấy muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, một xã hội mới và tốt đẹp, thì tất nhiên phải là “con người có đạo đức cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng”
Chính vì Hồ Chí Minh hình dung sản phẩm của nhà trường xã hội
Trang 38chủ nghĩa là con người như vậy, nên Người đòi hỏi nhà nước ta phải “chú trọng việc giáo dục thanh niên về đức dục, trí dục và thể dục”
Như vậy, trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, cái đẹp lý tưởng trong diện mạo của con người gắn liền yêu cầu về sự cân bằng, sự hài hòa giữa tinh thần và thể chất, với đòi hỏi về lối sống cao đẹp, về tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ đối với nhân dân, Tổ quốc Không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh đòi hỏi phải đồng thời giáo dục cho nhân dân “thế nào là đời sống mới, thế nào là đạo đức cách mạng” Cũng không phải ngẫu nhiên mỗi khi nói đến đạo đức, Hồ Chí Minh lại dùng thước đo của cái thẩm mỹ hoặc liên
hệ nó với hình ảnh của cái đẹp Theo Người, lòng nhân ái là một trong những truyền thống tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam Khi đề cập đến việc tu dưỡng đạo đức của mỗi cá nhân, Người căn dặn: “Mỗi con người đều có cái thiện và cái ác ở trong lòng Ta phải biết làm cho phần tốt trong con người
nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi” [65, tr.666]
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những chỉ dẫn quý báu về giáo dục những điều hay, điều tốt đẹp cho con người Điều thiện với cái đẹp trong quan niệm của Hồ Chí Minh luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, thống nhất biện chứng với nhau Điều này thể hiện khá rõ trong tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh
Sự thống nhất giữa các giá trị thẩm mỹ và các giá trị đạo đức là tiền
đề của giáo dục thẩm mỹ và giáo dục đạo đức Hình thành nhân cách theo tinh thần của những giá trị thẩm mỹ đích thực (nghĩa là những giá trị thể hiện sự phát triển của tự do và sự tự do phát triển của con người và xã hội) tất sẽ phát triển mọi khả năng tinh thần của con người vốn cần thiết trong các lĩnh vực sáng tạo khác nhau Với tư cách là nhà giáo dục kiệt xuất, chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức được rất rõ điều này và Người đã cố gắng biến
tư tưởng của mình thành hiện thực Dưới con mắt của Người, tuổi trẻ không
Trang 39chỉ đẹp mà còn chứa đựng biết bao nhiêu tiềm năng sáng tạo mạnh mẽ
Như vậy, quan niệm về cái đẹp của chủ tịch Hồ Chí Minh thấm nhuần tư tưởng thẩm mỹ của chủ nghĩa Mác- Lênin, những mặt tích cực của
mỹ học phương Đông và phương Tây, quan niệm mỹ học nhân văn của dân tộc ta, có ý nghĩa soi đường cho sự phát triển văn hóa, văn học nghệ thuật Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, trên cơ sở kế thừa và vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thẩm mỹ, Đảng ta luôn luôn quan tâm giáo dục thẩm mỹ cho nhân dân Bước vào thời kì đổi mới, vấn đề giáo dục thẩm mỹ được Đảng ta đặc biệt chú ý, vì đây là một nội dung rất quan trọng để xây dựng, phát triển con người mới, khắc phục những tiêu cực xã hội do mặt trái của kinh tế thị trường tạo, quá trình hội nhập quốc tế tạo ra
Trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội” được thông qua tại đại hội lần thứ VII của Đảng, khi nói về nhiệm vụ giáo dục thẩm mỹ và xây dựng con người mới, Đảng ta đã viết:
“Xây dựng nền văn hóa mới, tạo ra một đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, có mội dung nhân đạo, dân chủ và tiến bộ Phát huy vai trò văn học nghệ thuật trong việc nuôi dưỡng, nâng cao tâm hồn Việt Nam Khẳng định và biểu dương những giá trị chân chính, bồi dưỡng cái chân, cái thiện, cái mỹ theo quan điểm tiến bộ, phê phán những cái lỗi thời, thấp kém
Để hình thành con người như vậy phải dùng nhiều hình thức sinh động: giáo dục lý tưởng, trau dồi đạo đức, bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn và thẩm mỹ, nâng cao trình độ hiểu biết và hưởng thụ các văn hóa nghệ thuật của nhân dân” [22, tr.73]
Giáo dục thẩm mỹ có vai trò quan trọng đến việc hình thành những
Trang 40phẩm chất cao đẹp, khả năng sáng tạo, đời sống hạnh phúc của con người Vì vậy, Đảng ta không ngừng quan tâm đến việc giáo dục tình cảm thẩm mỹ cho nhân dân nói chung và thế hệ trẻ nói riêng Theo quan điểm của Đảng ta, giáo dục thẩm mỹ cho con người Việt Nam hiện nay trước hết phải quan tâm đến việc làm phong phú tình cảm thẩm mỹ cho nhân dân lao động và các tầng lớp
xã hội khác Tình cảm thẩm mỹ là sức sống, là niềm vui của con người, là hạnh phúc của gia đình và của toàn xã hội Vì vậy, giáo dục thẩm mỹ cho con người ở nước ta cần quan tâm nâng cao tình cảm thẩm mỹ trong sáng, đúng đắn cho mỗi người Tình cảm thẩm mỹ mới, vì thế, trở thành mục tiêu cần thường xuyên được chăm sóc, bồi dưỡng ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là thế hệ trẻ, trong quá trình xây dựng con người mới ở nước ta hiện nay
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhấn mạnh:
“Xây dựng và hoàn thiện giá trị nhân cách con người Việt Nam, bảo
vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kì công nghiệp hóa- hiện đại hóa hội nhập kinh tế quốc tế Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực, trí tuệ
và bản lĩnh văn hóa của con người Việt Nam” [25, tr.33]
Để xây dựng con người mới về mặt tình cảm thẩm mỹ như trên, trước hết phải xây dựng trong mỗi con người những tình cảm chính trị vững vàng của giai cấp công nhân Tình cảm ấy sẽ cải tạo cái xấu, khai sinh cho cái đẹp, làm cho mỗi con người lớn lên vượt bậc Tình cảm ấy giúp con người tăng thêm nghị lực, vượt qua mọi khó khăn thử thách kiên quyết tiến đến mục tiêu cao quý của loài người Có tình cảm chính trị vững vàng, con người trong hoàn cảnh mới sẽ không bị những tình cảm ủy mị cám dỗ, những lời lẽ sướt mướt dụ dỗ, những lối sống thấp hèn kích động, những nghệ thuật hình thức chủ nghĩa mê hoặc
Mục đích khởi đầu của giáo dục thẩm mỹ là xây dựng những tình