1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của toàn cầu hóa đối với sự biến đổi của gia đình việt nam hiện nay

132 134 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 836,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN  VÕ VĂN MƯỜI TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐỐI VỚI SỰ BIẾN ĐỔI CỦA GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY Chuyên

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VÕ VĂN MƯỜI

TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐỐI VỚI

SỰ BIẾN ĐỔI CỦA GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VÕ VĂN MƯỜI

TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐỐI VỚI

SỰ BIẾN ĐỔI CỦA GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

Mã số: 60.22.85

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

Tiến sĩ Trần Chí Mỹ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Trần Chí Mỹ

Các số liệu, tài liệu, trích dẫn trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chính xác và có nguồn gốc rõ ràng

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2012

Tác giả

Võ Văn Mười

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài 4

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 9

4 Cơ sở lý luận, phương pháp và phạm vi nghiên cứu của luận văn 10

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 10

6 Kết cấu của luận văn 11

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIA ĐÌNH, TOÀN CẦU HÓA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH 12

1.1 KHÁI NIỆM GIA ĐÌNH, XÃ HỘI VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI 12

1.1.1 Khái niệm gia đình, xã hội 12

1.1.2 Mối quan hệ giữa gia đình và xã hội 18

1.2 TOÀN CẦU HÓA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH 31

1.2.1 Khái niệm toàn cầu hóa và đặc điểm của toàn cầu hóa hiện nay 31

1.2.2 Tác động của toàn cầu hóa đối với gia đình hiện nay 46

Chương 2: XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY 57

2.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA GIA ĐÌNH VIỆT NAM VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ BIẾN ĐỔI CỦA GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY 57

Trang 5

2.1.1 Khái quát đặc điểm của gia đình Việt Nam truyền thống 57

2.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đối với sự biến đổi của gia đình Việt Nam trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay 63

2.2 THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI CỦA GIA ĐÌNH VIỆT NAM DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA TRONG NHỮNG NĂM QUA 70

2.2.1 Những biến đổi tích cực của gia đình Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hóa trong những năm qua 70

2.2.2 Những biến đổi tiêu cực của gia đình Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hóa trong những năm qua 83

2.3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY 101

2.3.1 Phương hướng xây dựng gia đình Việt Nam trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay 101

2.3.2 Một số giải pháp nhằm xây dựng gia đình Việt Nam trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay 106

KẾT LUẬN 117

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Gia đình là tế bào của xã hội Mối quan hệ giữa gia đình và xã hội là mối quan hệ giữa tế bào và cơ thể - dĩ nhiên là tế bào có lành mạnh, khỏe mạnh thì cơ thể xã hội mới lành mạnh và khỏe mạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã khẳng định: “Nhiều gia đình cộng lại thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình Chính

vì muốn xây dựng xã hội chủ nghĩa mà phải chú ý hạt nhân cho tốt”[1,tr.523]

Gia đình là cái nôi của tình thương và trách nhiệm, là nơi an ủi vỗ về cho mỗi thành viên từ những bất trắc của cuộc sống, gia đình là nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng để hình thành, nuôi dưỡng, giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp việc xây dựng và bảo

vệ tổ quốc

Gia đình là nhóm xã hội kiến tạo nên xã hội rộng lớn, do đó sự trường tồn và phát triển của quốc gia, dân tộc phụ thuộc nhiều vào sự phát triển và tiến bộ của mỗi gia đình Gia đình là điểm xuất phát và trở về của mọi chính sách xã hội

Có thể nói gia đình là vấn đề của mọi dân tộc và thời đại Gia đình trên thế giới nói chung và gia đình ở Việt Nam nói riêng đã và đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau

Bước vào thế kỉ XXI, thế kỷ mà ở đó nổi lên hai đặc trưng cơ bản là nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin Sự phát triển như vũ bão của lực lượng sản xuất dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, càng chắp thêm đôi cánh cho loài người đi vào xã hội tương lai với nhiều hứa

Trang 7

hẹn tốt đẹp theo chu trình phát triển bất tận của những nấc thang tiến bộ xã hội Khái quát tình hình phát triển đất nước trong bối cảnh thế giới có những biến đổi to lớn và sâu sắc, Đảng ta trong dự thảo các văn kiện trình đại hội XI của mình đã chỉ ra một số nét chính cần quan tâm “Cuộc cách mạng khoa học

và công nghệ, kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến sự phát triển của nhiều nước…”[2,tr.5], đặc biệt trong đó là quá trình toàn cầu hóa mà đặc điểm của nó ai cũng dễ dàng nhận thấy: mối liên hệ giữa các nền kinh tế hiện nay bao trùm các nước và mang tính toàn cầu; các dòng hàng hóa dịch vụ, vốn, nguồn nhân lực đang dịch chuyển từ nước này sang nước khác mạnh mẽ hơn, tự do hơn; tính chất phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ở tầm quốc tế và hợp tác kinh tế quốc tế đạt đến trình

độ cao hơn Như vậy, toàn cầu hóa là một tất yếu và quá trình đó diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến nhiều nước, ảnh hưởng trên nhiều lĩnh vực, gây nên những biến động nhiều chiều, làm thay đổi mọi ngóc ngách của đời sống xã hội trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng

Rõ ràng trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, với nhiều cơ hội, thách thức, và hàng loạt vấn đề xã hội mới nẩy sinh, tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội, sinh hoạt văn hoá tinh thần, tư tưởng đạo đức lối sống… trong đó gia đình cũng có những biến đổi phức tạp Trước tình hình đó, gia đình ở Việt Nam có vai trò hết sức quan trọng, tiếp tục đảm đương trọng trách giáo dục đạo đức, lối sống, hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ, phát huy các giá trị quí báu của văn hoá của gia đình và của dân tộc và tiếp thu các giá trị của văn hóa gia đình hiện đại và tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng gia đình ấm no,

bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong

thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã nhấn mạnh “Gia đình là tế bào

của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách Các chính sách của Đảng,

Trang 8

Nhà nước phải chú ý tới xây dựng gia đình no ấm, hoà thuận, tiến bộ, nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người”[3,tr.15] Và trên phạm

vi toàn cầu, Đại hội đồng Liên hiệp quốc, tại khoá họp lần 45, đã thông qua Quyết định 45/133 lấy năm 1994 là năm quốc tế về gia đình (IYF) với chủ đề

“Gia đình, các nguồn lực, các trách nhiệm trong thế giới đang đổi thay”, nhằm động viên cộng đồng thế giới quan tâm chú ý hơn nữa đến vấn đề xây dựng gia đình Điều đó cho thấy ngày nay, gia đình không chỉ là vấn đề riêng của quốc gia dân tộc nào mà trở thành vấn đề thực sự được cả nhân loại quan tâm

Nhận thức được tầm quan trọng của gia đình trong việc thúc đẩy xã hội phát triển, tuy nhiên trong bối cảnh thế giới có những biến đổi nhanh chóng, sâu sắc, đặc biệt là quá trình toàn cầu hóa như đã nói ở trên đang tác động mạnh đến các quốc gia trong đó có Việt Nam - một quốc gia đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Những biến chuyển kinh tế - xã hội đó không thể không tác động sâu sắc đến thiết chế gia đình, một thiết chế lâu đời và bền vững song cũng hết sức nhạy cảm với mọi biến đổi xã hội Những biến động của xã hội đang dội vào trên mọi phương diện và đưa đến những hệ quả đa chiều Thiết chế có tính bền vững này cũng đang vận động đổi mới và thích ứng với nhu cầu của thời đại

Trong những năm qua, dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa, gia đình Việt Nam có những biến đổi sâu sắc Một mặt, những thay đổi ấy mang tính tích cực, phù hợp với xu thế chung của sự phát triển gia đình hiện đại Mặt khác, những thay đổi ấy của gia đình Việt Nam cũng mang tính tiêu cực, hạn chế, gây nên những va đập làm tan loãng những giá trị của gia đình truyền thống Làm thế nào để kế thừa những chuẩn mực giá trị tốt đẹp của gia đình Việt Nam như: tinh thần hiếu nghĩa, hiếu học, thủy chung, đùm bọc lẫn nhau, đức tính cần cù sáng tạo trong lao động, buất khuất kiên cường vượt

Trang 9

qua mọi khó khăn thử thách…đã được gia đình Việt Nam gìn giữ, vun đắp và phát huy trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, đồng thời phát triển những giá trị ấy cho phù hợp với hoàn cảnh sống của thời đại có nhiều biến đổi Mặt khác, phải không ngừng lựa chọn, tiếp biến những giá trị, những chuẩn mực của gia đình hiện đại trên thế giới như: tinh thần dân chủ, bình đẳng, tiến bộ, phát huy tính năng động, sáng tạo của từng thành viên trong gia đình… Có như vậy mới xây dựng được gia đình Việt Nam theo hướng tiến bộ, văn minh, hạnh phúc

Xây dựng và triển khai chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam là một yêu cầu khách quan và cấp bách nhằm tăng cường năng lực và phát triển mọi khả năng của gia đình tham gia vào công cuộc xây dựng một nước Việt Nam

xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”

Do đó, nghiên cứu về tác động của toàn cầu hóa đối với sự biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay và giải pháp vận dụng nhằm chủ động xây dựng gia đình ở nước ta thích ứng một cách tích cực với thời đại toàn cầu hóa, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình, tốc độ và kết quả của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, là một nhiệm

vụ rất quan trọng và rất cần thiết, có ý nghĩa vừa cơ bản, vừa cấp bách cả về

lý luận và thực tiễn

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài

Do gia đình có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự phát triển và tiến bộ của xã hội nên từ rất lâu trong lịch sử ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam, vấn đề gia đình đã được các nhà tư tưởng, các lực lượng chính trị của các giai cấp khác nhau quan tâm, nghiên cứu

Ở Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu về gia đình từ nhiều hướng tiếp cận khác nhau đã được công bố

Trang 10

Có thể khái quát một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về gia đình

như: PGS,TS Lê Ngọc Vân với “Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam”,

Nxb Khoa học xã hội, 2011 Thông qua cuốn sách này tác giả đã hệ thống hóa những nội dung quan trọng về gia đình và biến đổi của gia đình, được cập nhật trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang chuyển đổi hiện nay Phần thứ nhất, đề cập những vấn đề lý luận về gia đình và biến đổi gia đình, trong đó nhiều khái niệm then chốt như: gia đình, cấu trúc gia đình, chức năng gia đình, văn hóa gia đình và biến đổi gia đình cùng với những nhân tố và quá trình ảnh hưởng đến sự biến đổi gia đình Phần thứ hai, dành để phân tích sự biến đổi chức năng gia đình và sự biến đổi cấu trúc gia đình, đó là quan điểm

nghiên cứu “động” nó được thể hiện trong tiêu đề “Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam”, đặc biệt trong phần này, tác giả đã phân tích sự biến đổi

của gia đình với nhiều vấn đề và quan hệ cụ thể như quan hệ hôn nhân, quan

hệ vợ chồng…cũng được đề cập như là sự phản ánh một xu hướng hiện đại hóa các khuôn mẫu hôn nhân và gia đình ở Việt Nam hơn hai thập niên vừa

qua; Đặng Cảnh Khanh – Lê Thị Quý với “Gia đình học”, Nxb Lý luận chính

trị, Hà Nội, 2007, nghiên cứu, làm rõ các khái niệm về gia đình và gia đình học, vị trí, chức năng của gia đình, qua đó phác họa những biến đổi của gia đình Việt Nam trước tác động của kinh tế thị trường, hội nhập, mở cửa;

“Cuộc sống và biến động của hôn nhân, gia đình Việt Nam” của GS Lê Thi,

Nxb Khoa học xã hội, 2006, phân tích thực trạng và sự biến động của hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện nay trước những tác động của sự nghiệp đổi

mới; “Gia đình và những vấn đề của gia đình hiện đại”, của Trần Thị Kim

Xuyến, Nxb Thống kê, TP Hồ Chí Minh, 2002, nội dung cuốn sách này đề cập đến những vấn đề như: sự thiếu quan tâm giữa các thành viên trong gia đình, sự mâu thuẫn trong gia đình, vấn đề người già không nơi nương tựa, trẻ

em phải rời gia đình khi tuổi còn thơ, nạn bạo hành trong gia đình, đặc biệt là

Trang 11

phụ nữ được giải phóng khi tham gia vào quá trình lao động xã hội thì họ không còn nhiều thời gian để chăm sóc gia đình làm cho con người không khỏi lo ngại tương lai của gia đình Tuy nhiên, cuốn sách cũng đề cập đến sự thay đổi của gia đình, đem lại nhiều lợi ích cho các cá nhân nhất là phụ nữ;

GS Lê Thị Qúy, “Xã hội học gia đình”, Nxb Chính trị - hành chính, Hà Nội,

2011, cuốn sách này đề cập đến các kiến thức về nhập môn về gia đình và xã hội học gia đình, đồng thời nó cũng hệ thống hóa một số quan điểm cơ bản trên thế giới và Việt Nam trong lĩnh vực gia đình, cuốn sách đặc biệt nhấn mạnh các vấn đề của gia đình và xã hội Việt Nam, cả truyền thống lẫn hiện

đại; Luận án tiến sỹ của Cấn Hữu Hải “Ảnh hưởng của truyền thống gia đình đến định hướng giá trị của lứa tuổi đầu thanh niên”, Đại học sư phạm Hà

Nội, 2002, phân tích những ảnh hưởng truyền thống gia đình đến việc định hướng những giá trị của lứa tuổi đầu thanh niên; Nguyễn Thị Quyên với

“Những khó khăn trong việc giáo dục cho trẻ em trong gia đình ở thành phố hiện nay”, Tạp chí xã hội học, số 3/2009, lý giải những khó khăn của các gia

đình ở các thành phố hiện nay trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ em; Về những công trình nghiên cứu gia đình thuộc giới han ở địa phương như: một

số công trình của Nguyễn Minh Hòa như: “Vấn đề giáo dục ở thành phố Hồ

Chí Minh”, Tạp chí khoa học xã hội, số 31/1997 và “Nhận diện quy mô ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay và dự báo xu hướng phát triển thế kỷ XXI”,

Tạp chí khoa học xã hội, số 35/1998; tập trung mô tả bức tranh tổng thể của gia đình trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh với hai vấn đề cốt lõi là cấu trúc

và chức năng của gia đình trong giai đoạn hiện nay, từ đó đưa ra dự báo tổng quát về sự vận động của gia đình thành phố đến năm 2010

Ngoài ra thì cũng có những nhóm công trình nghiên cứu mà chúng tôi liệt kê theo từng chủ đề dưới nhiều góc độ khác nhau Đáng chú ý nhất là những nghiên cứu về gia đình truyền thống Việt Nam của Mai Huy Bích, Vũ

Trang 12

Khiêu, Nguyễn Từ Chi, Đỗ Thái Đồng, Trịnh Thị Quang…; về dòng họ của Nguyễn Đình Chú, Mai Văn Hai; về hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện đại của Vũ Huy Tuấn, Vũ Mạnh Lợi, Phạm Bích San, Khuất Thu Hồng, Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn, Nguyễn Linh Khiếu…; về gia đình đô thị của Trịnh Duy Luân; về gia đình nông thôn của Đỗ Thanh Hồng, Tô Duy Hợp; về vai trò của người phụ nữ trong gia đình của Lê Quý Đức, Vũ Thy Huệ, Lê Thi…

Ở trên thế giới cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về gia đình đã được công bố, có thể khái quát về một số công trình nghiên cứu liên quan như

sau: Xã hội học về gia đình (sociology of families), David M Newman, Pine

Forge Press, Thousand Oaks, California – London - NewDelhi, 1999 Trong tác phẩm xã hội học này tác giả đã trình bày các định nghĩa về gia đình, hình thức tồn tại của gia đình, vấn đề quyền cá nhân và trách nhiệm của gia đình, ảnh hưởng của vấn đề chủng tộc tới gia đình…Trong cuốn sách này, tác giả cũng đặt ra và phân tích nhiều vấn đề mới mẻ nảy sinh cùng với những điều kiện của xã hội hiện đại như mối quan hệ giữa tình yêu và tình dục, bạo lực

gia đình, đồng tính luyến ái…; Xã hội học về hôn nhân và gia đình - giới tình

yêu và của cải (Sociology of Marriage & Family - Gender, Love And

Property), Scott Coltrane - Randall Collins, Wadsworth - Thomson Learning,

2001 Tác giả đã trình bày các lý thuyết về xã hội học gia đình, các vấn đề giới tính, tình yêu và của cải, lich sử của gia đình: từ hệ thông thân tộc đến hộ gia đình gia trưởng, từ cuộc cách mạng tình yêu đến chủ nghĩa nữ quyền và

đồng thời dự báo về viễn cảnh của gia đình trong tương lai…; Xã hội học về

gia đình (Sociology Of Families- Reading), Cheryl M Albers, Pine Forge

Press, Thousand Oaks, California – London - NewDelhi, 1999 Trong nghiên cứu của mình Albers đã trình bày các vấn đề về tình dục vị thành niên, sự hợp tác và hôn nhân, vấn đề con cái, vấn đề lao động trong gia đình, gia đình và

sự nghèo khổ, bạo lực gia đình, ly dị và tái hôn, sự thay đổi xã hội và các

Trang 13

chính sách gia đình…; Tình yêu với những những người sống sót (love to

suvive), Dee L.R Graham, New York University Press Đây là công trình nghiên cứu hiện đại được xuất bản Nó mang hơi thở rõ rệt của cuộc sống và quan niệm về gia đình của xã hội phương Tây hiện đại Những vấn đề ở đây đặt ra khá mới mới mẻ gắn liền với những hiện tượng thời sự của xã hội hiện tại như hiện tượng khủng bố về tình dục, bạo lực của đàn ông với đàn bà, các dạng thức của đời sống hôn nhân, quan hệ tình dục… tất cả, theo các tác giả

là lời cảnh báo suy giảm đạo lý trong các quan hệ gia đình Cũng thông qua

sự phân tích về bất bình đẳng giới trong gia đình và thân phận của người phụ

nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình và bạo lực xã hội các tác đòi hỏi phải có thay đổi trong cách nhìn nhận để cùng nhau góp sức cũng cố và phát triển quan hệ gia đình tốt đẹp hơn

Nhìn chung, phần lớn những nghiên cứu về gia đình trong và ngoài nước những năm gần đây đã phân tích khá sâu sắc thực trạng của những vấn

đề gia đình trong xã hội hiện đại Nó phản ánh những lo lắng, băn khoăn chung của nhân loại trước những biến đổi mạnh mẽ của gia đình dưới tác động của những điều kiện kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, đặc biệt là của quá trình toàn cầu hóa và phần nào đã chỉ ra được sự biến đổi và các xu hướng biến đổi của gia đình nói chung, của gia đình Việt Nam nói riêng trong quá trình đó Đó là những thay đổi về quy mô của gia đình, về sự tăng độ tuổi kết hôn, xu hướng kết hôn tự nguyện dựa trên cơ sở tình yêu và sự tự do lựa chọn bạn đời của thanh niên thay thế khuôn mẫu hôn nhân truyền thống do cha mẹ xếp đặt, xu hướng gia tăng gia đình hạt nhân, sự thay đổi về mức sống

và lối sống của gia đình, ly hôn với tư cách là vấn đề xã hội ngày càng tác động đến nhiều gia đình và nhiều người, sự chuyển đổi chức năng kinh tế của gia đình, những thay đổi trong phân công lao động theo độ tuổi và giới, những thay đổi trong mối quan hệ giữa các thế hệ và những thay đổi trong chức năng

Trang 14

tái sinh sản của gia đình, di cư và các chiến lược sống của gia đình, những thay đổi trong việc nuôi dưỡng và giáo dục con cái, chăm sóc người già, những thay đổi trong quan hệ dòng họ và giữa gia đình với cộng đồng, những thay đổi trong hệ thống giá trị gia đình, bạo lực gia đình, trẻ em lang thang… những kết quả nghiên cứu nêu trên có giá trị lý luận và thực tiễn đối với việc giải quyết các vấn đề của gia đình trên thế giới nói chung, ở Việt Nam nói riêng trong quá trình toàn cầu hóa những năm qua

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học độc lập nào nào nghiên cứu chuyên biệt trực tiếp và có hệ thống về tác động của toàn cầu hóa đối với sự biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay Do đó, tôi chọn vấn đề

“Tác động của toàn cầu hóa đối với sự biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu và viết công trình luận văn thạc sĩ của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích của luận văn: trên cơ sở phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận về toàn cầu hóa và tác động của quá tình toàn cầu hóa đối với gia đình; thực trạng biến đổi của gia đình Việt Nam dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa những năm qua, luận văn đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm xây dựng gia đình Việt Nam trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay

- Nhiệm vụ của luận văn: để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về gia đình, về toàn

cầu hóa, và tác động của toàn cầu hóa đối với gia đình

Thứ hai, phân tích thực trạng biến đổi của gia đình Việt Nam dưới tác

động của toàn cầu hóa hiên nay

Thứ ba, đề xuất và luận giải một số phương hướng và giải pháp xây

dựng gia đình Việt Nam trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay

Trang 15

4 Cơ sở lý luận, Phương pháp và phạm vi nghiên cứu của

luận văn

- Cơ sở lý luận

Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề gia đình

- Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Để phục vụ tốt hơn cho việc nghiên cứu đề tài, người viết còn sử dụng

hệ thống các phương pháp như: phương pháp thống kê, so sánh - đối chiếu, phương pháp lôgíc và lịch sử tổng kết thực tiễn và khái quát hóa, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp diễn dịch và quy nạp…

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Vấn đề về gia đình và các quan hệ gia đình là rất phức tạp, do đó tác giả luận văn không có tham vọng nghiên cứu, luận giải tất cả những vấn đề thuộc về gia đình mà chỉ tập trung nghiên cứu những biến đổi của gia đình Việt Nam dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa hiện nay, chủ yếu là những biến đổi về quy mô, chức năng và các quan hệ gia đình

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận chung nhất về gia đình, đặc biệt luận giải những tác động của quá trình toàn cầu hóa đối với gia đình Việt Nam hiện nay Thông qua đó góp phần làm phong phú, sâu sắc

lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa xã hội và gia đình

- Ý nghĩa thực tiễn

Trên cơ sở phân tích thực trạng biến đổi của gia đình Việt Nam dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa, luận văn đã đưa ra cơ sở khoa học cho việc xây dựng phương hướng và những giải pháp, góp phần xây dựng gia

Trang 16

đình Việt Nam Việt Nam hiện nay theo hướng ổn định và phát triển Nội dung của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng

để thực hiện các chủ trương, chính sách nhằm phát triển gia đình Việt Nam hiện nay cũng như về lâu dài

Bên cạnh đó luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, học tập môn “Chủ nghĩa xã hội khoa học” và các chuyên đề

có nội dung liên quan

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 2 chương 5 tiết

Trang 17

1.1.1 Khái niệm gia đình, xã hội

* Khái niệm gia đình

Cho đến hiện nay, có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về khái niệm gia đình, tùy theo góc độ tiếp cận của từng người

Hai nhà xã hội học E.W Burgess và H.J Locker đưa ra định nghĩa:

“Gia đình là một nhóm người đoàn kết với nhau bằng những mối liên hệ hôn nhân, huyết thống và những mối quan hệ con nuôi tạo thành một hộ đơn giản, tác động lẫn nhau và thống nhất với nhau trong vai trò tương ứng của họ là người chồng và người vợ, người mẹ và người cha, anh em và chị em, tạo nên một nền văn hóa chung”[4,tr.43]

Kingley Davis thì cho rằng: “Gia đình là một nhóm người mà quan hệ của họ với nhau dựa trên dòng dõi và do đó họ là họ hàng thân thích của nhau” [5.tr.24] Những nhận định này đã đề cập tới nhiều khía cạnh bản chất của gia đình nhưng sự khái quát khá chung chung, không rõ bản chất, chức năng và sự tác động của gia đình đối với xã hội và ngược lại

Ở một góc độ rộng hơn, khi nghiên cứu về gia đình, tác giả Beutler I.E Burs lại cho rằng “Gia đình không chỉ chứa đựng các cá nhân mà là các mối quan hệ, vợ và chồng, cha mẹ và con cái, anh chị em…các mối quan hệ này được sử dụng là sự nối kết, hợp đồng, sự gắn bó và bổn phận giữa con người với nhau và họ có thể kết hợp các hình mẫu của nhóm xã hội Tuy nhiên nhóm xã hội mà chúng ta gọi là gia đình là khác với các nhóm xã hội khác

Trang 18

như là các nhóm bạn bè, câu lạc bộ, nhóm theo tôn giáo…”[6,tr.38] Còn Liên hiệp quốc định nghĩa: “gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng cùng chung sống và có ngân sách chung”[7,tr.204-205] Nhà xã hội học người Nga

T.A-Pha-na-xê-va cho rằng có ba cách định nghĩa gia đình: Một là, Gia đình

là một nhóm xã hội nhỏ, liên kết với nhau bằng một chỗ ở, bằng một ngân

sách chung và bằng các mối quan hệ ruột thịt; Hai là, Gia đình là một nhóm

xã hội nhỏ, liên kết với nhau trong một nhà, bằng một ngân sách chung và bằng các mối quan hệ giúp đỡ lẫn nhau trên cơ sở tình cảm và trách nhiệm;

Ba là, Gia đình hiện đại là một nhóm xã hội bao gồm bố mẹ, con cái của một

vài thế hệ, các thành viên trong gia đình có quan hệ ràng buộc về vật chất và tinh thần, theo những mục đích sống có tính nguyên tắc giống nhau về các vấn đề chủ yếu Jacques Sabran quan niệm “Xã hội vi mô, coi như điểm xuất phát – và do đó cũng coi như là cơ sở - thông thường là gia đình Đó là xã hội

vi mô đầu tiên dạy dỗ những hình thức của đời sống vật chất đồng thời với những mã giao tiếp, bắt đầu từ ngôn ngữ, các biểu hiện, các thái độ thân xác,

và những giá trị tinh thần, trí tuệ, và tư tưởng của môi trường mà gia đình nằm trong nó cũng như lớp xã hội bao quanh nó”[8,tr.7]

Ở Việt Nam, GS Lê Thi cho rằng “Khái niệm gia đình được sử dụng

để chỉ một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở hôn nhân và huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó là cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà,

họ hàng nội ngoại) Gia đình có thể bao gồm một số người được gia đình nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ huyết thống, các thành viên trong gia đình gắn

bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hóa, tình cảm) Giữa họ

có những ràng buộc về pháp lý, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ (được ghi

rõ trong luật hôn nhân và gia đình ở nước ta) Đồng thời trong gia đình có những qui định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan

hệ tình dục giữa các thành viên”[9,tr.90-91] Đại từ điển tiếng Việt định

Trang 19

nghĩa: “Gia đình là tập hợp những người có quan hệ hôn nhân và huyết thống sống trong cùng một nhà”[10,tr.719] Từ điển bách khoa Việt Nam giải thích:

“Gia đình là thiết chế xã hội dựa trên cơ sở kết hợp những thành viên khác giới, thông qua hôn nhân, để thực hiện các chức năng sinh học, kinh tế, văn hoá, xã hội, tín ngưỡng… Khi gia đình có con cái thì các thành viên trong gia đình được liên kết với nhau vừa bằng quan hệ hôn nhân (không cùng huyết thống), vừa bằng quan hệ huyết thống (theo dòng mẹ hoặc dòng bố) Gia đình

là một phạm trù lịch sử, thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội”[11,tr.84]

Nhà nghiên cứu mỹ học Hoàng Thiệu Khang cho rằng: “Gia đình - khái niệm ấy vẫn đang nằm trong vùng bí mật đối với khoa học, cả khoa học

xã hội lẫn khoa học tự nhiên Chỉ có thể đưa ra khái niệm ấy ra ánh sáng khi biết thực thi một cách tổng hòa các khoa học, có nghĩa là thực thi một cách tiếp cận triết học mang tinh thần biện chứng tự nhiên và biện chứng lịch sử”[12,tr.43]

Tác giả Phạm Việt Long trong Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình

định nghĩa: “Gia đình là một thực thể vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính

xã hội, gắn bó với nhau thông qua quan hệ hôn nhân, thân tình và dòng máu

để đáp ứng nhu cầu về tình cảm, bảo tồn nòi giống, giữ gìn và phát huy văn hóa của cộng đồng và tộc người, góp phần nuôi dưỡng nhân cách con người, phát triển kinh tế – xã hội, phản ánh sự vận động của cộng đồng và quốc gia trong tiến trình lịch sử”[13,tr.24]

Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam (Năm 2000, Điều 8) cũng xác

định: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ

và quyền lợi giữa họ với nhau theo luật định” [7,tr.205]

Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau cho khái niệm gia đình đã được đề xuất, trong đó có điểm tương đồng nhưng cũng có không ít những

Trang 20

điểm khác biệt Ở mỗi quốc gia dân tộc khác nhau, với những điều kiện lịch

sử về kinh tế, xã hội, truyền thống văn hóa, các yếu tố sắc tộc, tôn giáo khác nhau có thể có những quan niệm khác nhau về gia đình Sự khác nhau này không chỉ ở các quốc gia, các châu lục mà đôi khi ngay trong một quốc gia, dân tộc đã có rất nhiều điểm khác biệt nhau, thậm chí dị biệt nhau Do vậy, hội đồng Liên hợp quốc đã công nhận “Sự tồn tại đồng thời các khái niệm khác nhau về gia đình trong hệ thống chính trị - xã hội và văn hóa khác nhau” Song, về cơ bản những nét chính của gia đình vẫn thể hiện ở những đặc trưng

cơ bản sau đây:

Thứ nhất, hôn nhân và quan hệ hôn nhân là một quan hệ cơ bản của sự hình

thành gia đình Hôn nhân là hình thức quan hệ tính giao giữa nam và nữ, nhằm thoả mãn nhu cầu tâm sinh lí, tình cảm, đảm bảo tái sản xuất ra con người, mang bản chất nhân văn, nhân đạo và chịu sự chi phối của quan hệ kinh tế, bản chất chế độ chính tri - xã hội mà trên đó nó được hình thành, phát triển Chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định “Không ai bị buộc phải kết hôn nhưng

ai cũng bị buộc phải tuân theo luật hôn nhân một khi người đó kết hôn”[14,tr.63] Cùng với sự phát triển lịch sử, hôn nhân có biến đổi sâu sắc

về hình thức, tính chất sắc thái Bên cạnh sự thừa nhận của cộng đồng, chuẩn mực văn hoá, lối sống, truyền thống cộng đồng, hôn nhân được thừa nhận bằng pháp luật Đồng thời, tình yêu, sự phù hợp về trạng thái tâm lí, tình cảm, lối sống của đôi trai gái trước khi đi đến hôn nhân là cơ sở trực tiếp của hôn

nhân Thứ hai, huyết thống, quan hệ huyết thống là quan hệ cơ bản đặc trưng của

gia đình Huyết thống là quan hệ dòng máu, gắn kết các thành viên trong cộng đồng đặc thù là gia đình Đây là quan hệ giữa cha mẹ và con cái ( quan hệ theo chiều dọc) Trong gia đình, cùng với quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống được coi là một quan hệ cơ bản nhất Do nhu cầu hết sức tự nhiên cần duy trì phát triển nòi giống, con người đã sáng tạo ra gia đình với tính cách một thiết

Trang 21

chế xã hội Quan niệm về quan hệ huyết thống cũng chịu sự chi phối của các điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội đồng thời cũng gia nhập, đan xen vào các quan hệ đó của mỗi thời đại Gia đình theo huyết thống đàng cha (gia đình phụ hệ) được hình thành phát triển cùng chế độ tư hữu, như một sự phủ định đối với gia đình mẫu hệ trong chế độ cộng sản nguyên thủy Nhưng những biểu hiện của bất bình đẳng ngày càng gay gắt, chỉ có thể được khắc phục khi

mà chế độ tư hữu bị xoá bỏ, chế độ công hữu đối với các tư liệu sản xuất được

thiết lập Thứ ba, quan hệ quần tụ trong cùng một không gian sinh tồn Ngay

từ đầu, xuất phát từ yêu cầu trong quan hệ với tự nhiên và với nhau, cộng đồng gia đình luôn cư trú, quần tụ trong một không gian sinh tồn Lúc đầu là trong hang đá, hốc cây… sau là trong một mái nhà Càng ngày, không gian sinh tồn càng mở rộng và chịu sự chi phối của các quan hệ kinh tế - xã hội nhưng nhu cầu quần tụ vẫn luôn được đặt ra Cho tới hiện nay, sự quan tâm chăm sóc giữa các thành viên, thế hệ trong gia đình không mất đi mà luôn được củng cố, thực hiện nhờ những thiết bị, tiện nghi ngày càng hiện đại, đầy

đủ Thứ tư, quan hệ nuôi dưỡng giữa các thành viên và thế hệ thành viên trong

gia đình Nuôi dưỡng là nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền lợi thiêng liêng của các thành viên gia đình Không chỉ đơn thuần là ông bà cha mẹ nuôi dưỡng con cháu mà còn là hoạt động chăm sóc, phụng dưỡng của con cháu đối với ông

bà cha mẹ, giữa các thành viên khoẻ mạnh giúp đỡ các thành viên đau ốm, gặp rủi ro Khi “mẹ già ở túp lều tranh”, phải biết “sớm thăm tối viếng mới đành dạ con” Bởi công lao dưỡng dục của cha mẹ “lớn lao hơn biển hồ lai láng”, “Dù xã hội càng phát triển hiện đại, sự quan tâm của xã hội đối với gia đình và các thành viên gia đình qua các chính sách bảo hiểm, chăm sóc y tế, dưỡng lão… càng cao nhưng nuôi dưỡng gia đình có những đặc thù mà xã hội hiện đại đến đâu cũng không thể thay thế và càng không nên đặt vấn đề thay thế hoàn toàn”[15,tr.250]

Trang 22

Như vậy, gia đình như một nhóm xã hội được cấu trúc theo những chuẩn mực văn hóa nhất định, như một tập hợp những mối quan hệ giữa các

cá nhân (vợ chồng, bố mẹ, con cái và anh chị em ), theo đó có thể quan

niệm: “Gia đình là một trong những hình thức tổ chức cơ bản trong đời sống

cộng đồng của con người, một thiết chế văn hóa - xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục… giữa các thành viên”[15,tr.246]

Trên thế giới ngày nay có hai hình thức gia đình đang tồn tạị phổ biến: 1) gia đình truyền thống, là hình thức gia đình quy mô lớn, trong đó có từ ba thế hệ trở lên sống chung, 2) gia đình hạt nhân, là hình thức gia đình quy mô nhỏ, trong đó có từ hai thế hệ trở xuống sống chung

* Khái niệm xã hội

Xã hội, hiểu theo nghĩa rộng, là toàn bộ các hình thái hoạt động chung của con người, đã hình thành trong lịch sử Người ta thường dùng khái niệm

xã hội để chỉ một tập đoàn người được quan niệm như một hiện thực của các thành viên của nó C Mác từng vạch ra rằng: xã hội “Là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người”[73,tr 657] Khái niệm xã hội còn có thể được dùng để chỉ một môi trường của con người mà cá nhân được hòa nhập vào, môi trường đó được xem như toàn bộ các lực lượng có tổ chức và có hệ thống tôn ti trật tự tác động lên cá nhân C Mác trong tác phẩm Luận cương

về Phoiơbắc đã từng nêu ra rằng: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”[16, tr.11]

Xã hội, hiểu theo nghĩa hẹp, là khái niệm chỉ một loại hệ thống xã hội

cụ thể trong lịch sử, một hình thức nhất định của những quan hệ xã hội, là một

xã hội ở vào một trình độ phát triển lịch sử nhất định đã hình thành trong lịch

Trang 23

sử; ví dụ: xã hội nô lệ, xã hội phong kiến…Theo nghĩa này, khái niệm xã hội đồng nhất với khái niệm hình thái kinh tế - xã hội

Theo cách hiểu truyền thống của người Việt Nam cũng như trong tư tưởng Hồ Chí Minh, xã hội là một cộng đồng, một tập đoàn người xây dựng trên quan hệ về sản xuất, chính trị, văn hóa Tập đoàn đó có thể có cấp độ khác nhau và những quan hệ đặc trưng, nhưng giữa chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, ví dụ: Gia đình (nhà) – Làng xã – Tổ quốc Hồ Chí Minh cũng từng nói “Quan tâm đến gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình Chính vì muốn xây dựng xã hội chủ nghĩa mà phải chú ý hạt nhân cho tốt”[1,tr.523]

Trong Từ điển Từ và ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân, khái niện “xã

cùng gắn bó với nhau trong quan hệ sản xuất và các quan hệ khác”[85,tr 2060]

Như vậy, có thể thấy có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về khái niệm xã hội, tùy theo góc độ tiếp cận của từng người, từng ngành khoa học

Trong luận văn này, chúng tôi tán thành và sử dụng định nghĩa khái niệm xã hội trong Từ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ biên, Nhà xuất bản

Khoa học xã hội – Hà Nội, xuất bản năm 1977, rằng: xã hội là “Tập đoàn người xây dựng trên quan hệ sản xuất, gia đình, chính trị, văn hóa,…”… [86, tr.870]

1.1.2 Mối quan hệ giữa gia đình và xã hội

Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa gia đình và xã hội, C Mác và Ph.Ăngghen lưu ý rằng, cần phải xem xét cả hai mặt: một mặt là sự tác động của môi trường kinh tế - xã hội đến sự hình thành phát triển của gia đình, đến

Trang 24

cấu trúc nội dung, và quan hệ gia đình; mặt khác gia đình có vai trò quan trọng với ý nghĩa là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội

Có thể diễn đạt mối quan hệ giữa gia đình và xã hội theo hai mặt như sau:

Một mặt là, trình độ phát triển và tính chất của xã hội quyết định hình thức và tính chất của quan hệ hôn nhân và gia đình

Sự vận động và phát triển của gia đình có một chiều dài lịch sử, đến nay đã trải qua nhiều hình thức khác nhau Từ gia đình quần hôn ở thời kỳ công xã nguyên thủy sang gia đình một vợ một chồng ở các xã hội tồn tại chế

độ tư hữu và gia đình một vợ một chồng đúng nghĩa trong xã hội xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, việc nghiên cứu lịch sử gia đình mới thực sự bắt đầu từ năm

1861, khi Bắchôphen xuất bản tác phẩm “Mẫu quyền” Đặc biệt khi L.H Moócgan xuất bản tác phẩm “Xã hội cổ đại”, lịch sử nghiên cứu về hôn nhân

và gia đình được coi là bước sang trang mới thông qua những nghiên cứu thực

tế về đời sống của những người da đỏ ở Ha – Oai (hawaii) Công lao của L.H.Moócgan trước hết là ở chỗ, ông là người đầu tiên cho rằng không phải gia đình mà chính là thị tộc mới là một tế bào cơ sở, tế bào nguyên sơ, khởi thủy của xã hội nguyên thủy Trên cơ sở của tác phẩm đó Ph.Ăngghen đã viết

tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” đây

là tác phẩm nổi tiếng của Ph.Ăngghen khi phân tích một cách khoa học những giai đoạn phát triển xã hội loài người Đặc biệt Ph.Ăngghen đã trình bày lịch

sử hình thành và phát triển của gia đình ở các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau và vạch rõ vai trò vị trí của nó trong đời sống xã hội

Vậy chúng ta hãy bắt đầu từ việc làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về sự tác động của xã hội lên gia đình như thế nào? Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, khi bàn

về vấn đề gia đình, C Mác đã chỉ ra rằng: “Tham dự ngay từ đầu quá trình

Trang 25

phát triển lịch sử, hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi, nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng

và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình”[16,tr.41] Ph.Ăngghen nhấn mạnh:

“Những danh hiệu như cha, con, anh em và chị em không phải đơn thuần chỉ

là những danh hiệu tôn kính, mà còn bao hàm những nghĩa vụ hoàn toàn rõ rệt

và rất nghiêm túc của người ta đối với nhau và toàn bộ những nghĩa vụ đó hợp thành một bộ phận trọng yếu trong chế độ xã hội của những người dân đó”[17, tr.56] Như vậy, gia đình là một trong những phạm trù xuất hiện sớm trong lịch sử xã hội loài người, gia đình chỉ mối quan hệ ràng buộc về nghĩa

vụ của các thành viên như cha mẹ, con cái, anh chị em, ông bà, con cháu…

Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định vai trò quyết định của các yếu tố kinh tế, xã hội đối với gia đình và cho rằng “ Nhân tố quyết định trong lịch sử suy đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp” nhưng bản thân

sự sản xuất đó có hai mặt: một mặt là sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt; mặt khác là sản xuất ra bản thân con người Những trật tự xã hội mà trong đó, các cộng đồng người của thời đại lịch sử nhất định, của một quốc gia nhất định đang sinh sống “Là do hai loại sản xuất quy định: một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác do trình độ phát triển của gia đình”[18,tr.44]

Theo sự phân tích của Ph.Ăngghen trong cuốn “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”, trong quá trình tiến hóa của lịch

sử, dưới tác động của nhiều yếu tố, chủ yếu là do trình độ phát triển của xã hội, gia đình đã trải qua các hình thức từ thấp đến cao như sau:

- Gia đình huyết tộc, là hình thức gia đình trong đó tất cả những người đàn ông và đàn bà cùng một thế hệ đều là chồng và vợ chung của nhau Trong hình thức gia đình này, chỉ có giữa những tổ tiên và con cháu, giữa cha mẹ và con cái, là không có quyền và không có nghĩa vụ vợ chồng với nhau”[18,tr.66]

Trang 26

- Gia đình pu-na-lu-an, là hình thức gia đình trong đó một số nhất định chị em gái cùng mẹ đều là vợ chung của những người chồng chung, trừ những anh em trai của họ ra; những người chồng đó không gọi nhau là anh em nữa

mà gọi nhau là “pu-na-lu-an” nghĩa là bạn thân Cũng giống như thế, một số anh em trai cùng mẹ đều lấy chung một số vợ không phải là chị em gái của

họ, và những người vợ ấy đều gọi nhau là pu-na-lu-an[18,tr.69-70] Như vậy, trong gia đình pu-na-lu-an thì quan hệ tình dục giữa anh em, chị em ruột đã bị cấm đoán Từ chỗ cấm đoán quan hệ tình dục giữa cha mẹ và con cái trong gia đình huyết tộc đến cấm đoán quan hệ tình dục giữa anh em trai và chị em gái trong gia đình pu-na-lu-an theo Ph.Ăngghen, là một bước tiến vô cùng quan trọng trong tổ chức gia đình và “Hiệu quả kì diệu của bước tiến ấy là sự nảy sinh ra thiết chế thị tộc, cơ sở của trật tự xã hội, cơ sở của trật tự xã hội của đa số nếu không phải là tất cả các dân tộc dã man trên trái đất, và từ thị tộc, nhân loại đã bước tiếp sang thời đại văn minh”[18,tr.72]

Hai hình thức gia đình nêu trên đều dựa trên cơ sở chế độ quần hôn, quan hệ họ hàng chỉ tính theo dòng mẹ, vì con cái chỉ biết mẹ mà không biết

cha là ai Do đó, chỉ có mẫu hệ là được thừa nhận Đồng thời, người đàn bà

chiếm địa vị thống trị trong gia đình, vì họ giữ vai trò quan trọng trong nền

kinh tế gia đình thời bấy giờ Đó là chế độ mẫu quyền Về sau, hôn nhân giữa

những người cùng huyết thống bị cấm đoán Dần dần thay thế cho chế độ quần hôn là gia đình cặp đôi

- Gia đình cặp đôi, một loại hình thức kết hôn từng cặp, thay thế chế

độ quần hôn và là bước quá độ từ quần hôn sang hôn nhân cá thể Lúc bấy giờ, trong số vợ rất đông của mình, người đàn ông có một vợ chính, và trong

số nhiều người chồng khác, anh ta là người chồng chính của người đàn bà ấy

Về hình thái gia đình này, Ph.Ăngghen viết: “Trong tình trạng cấm kết hôn ngày càng phức tạp ấy, chế độ quần hôn ngày càng không thể thực hiện

Trang 27

được; chế độ ấy bị gia đình cặp đôi thay thế Trong giai đoạn này, một người đàn ông sống với một người đàn bà, song việc có nhiều vợ và việc không chung tình khi có dịp vẫn là quyền của người đàn ông, mặc dù trường hợp nhiều vợ là rất hiếm do những nguyên nhân kinh tế; nhưng thường thì những người phụ nữ là phải triệt để chung tình trong thời gian chung sống với chồng, và tội ngoại tình của họ sẽ bị trừng trị một cách tàn ác Tuy thế, mối liên hệ vợ chồng có thể bị bên này hay bên kia cắt đứt một cách dễ dàng và cũng như trước kia, con cái chỉ thuộc về người mẹ”[18,tr.79-80] Gia đình cặp đôi không hề huỷ bỏ được nền kinh tế cộng sản nguyên thủy do thời trước để lại, vì vậy, người đàn bà vẫn giữ địa vị thống trị trong gia đình

Chế độ mẫu hệ chỉ tồn tại trong giới hạn trên cơ sở một trình độ kinh

tế – xã hội còn thấp kém Sự phát triển cao hơn của nền sản xuất xã hội ở thời đại đồ kim loại đã đem lại những chuyển biến mới trong xã hội và làm thay đổi địa vị của người phụ nữ Từ săn bắt chuyển sang thuần dưỡng súc vật và chăn nuôi các bầy gia súc, công việc vẫn do đàn ông đảm nhiệm, đã làm tăng thêm của cải cho gia đình và thị tộc So với kinh tế chăn nuôi của người đàn ông thì lúc này kinh tế hái lượm của người đàn bà trong gia đình trở nên kém quan trọng Trong kinh tế trồng trọt ở giai đoạn đầu, việc trồng trọt nguyên thuỷ còn do phụ nữ đảm nhiệm Hiện tượng sùng bái phụ nữ xuất hiện ở thời

kỳ này Nhưng nông nghiệp ngày một phát triển đòi hỏi sức lực lao động khoẻ mạnh hơn, nhiều hơn Việc khai phá đất đai, mở rộng diện tích trồng trọt, việc đào nương dẫn nước vào ruộng rẫy, sử dụng sức kéo của động vật trong sản xuất,…phải cần đến sức lao động ngày càng nhiều của người đàn ông Dần dần đàn ông đảm nhiệm những công việc chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp, đàn bà chỉ làm công việc gieo hạt, gặt hái và trông nom nhà cửa

Việc thuần dưỡng, chăn nuôi súc vật và nông nghiệp phát triển, của cải tăng lên, đời sống kinh tế gia đình có sự dư dả tương đối về của cải Sự

Trang 28

tăng lên về của cải mà chủ yếu do lao động của người đàn ông tạo ra thì, một mặt, trong gia đình, của cải đó mang lại cho người chồng có một địa vị quan trọng hơn người vợ và, mặt khác, của cải đó khiến cho người chồng có xu hướng lợi dụng địa vị vững vàng hơn ấy để đảo ngược trật tự kế thừa cổ truyền để có lợi cho con cái mình Nhưng chừng nào mà dòng dõi tính theo

mẹ vẫn còn thịnh hành thì điều đó vẫn không thể thực hiện được Vì vậy, trước hết cần phải xoá bỏ chế độ tính dòng dõi theo mẹ (mẫu hệ) và chế độ đó

đã bị xoá bỏ Quan hệ dòng dõi tính theo đằng cha (phụ hệ) được xác lập Chế

độ mẫu quyền tan rã và chế độ phụ quyền xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện của chế độ hôn nhân và gia đình một vợ một chồng

Gia đình một vợ một chồng, hình thái gia đình này dựa trên quyền

thống trị của người chồng, nhằm chủ đích là làm cho con cái sinh ra phải có cha đẻ rõ ràng, không ai tranh cãi được, và sự rõ ràng về dòng dõi đó là cần thiết, vì những đứa con đó sau này sẽ được hưởng tài sản của cha với tư cách

là những người kế thừa trực tiếp Gia đình một vợ một chồng khác với gia đình cặp đôi ở chỗ là quan hệ vợ chồng chặt chẽ hơn nhiều, hai bên không thể tuỳ ý ly dị nhau được nữa

Như vậy, hình thức gia đình trong lịch sử đã trải qua một loạt những

biến đổi theo hướng làm cho một số người, mà quan hệ hôn nhân chung gắn

bó với nhau, lúc đầu là rất đông, về sau ngày càng thu hẹp lại, cho đến rốt cuộc chỉ còn lại một đôi vợ chồng như chủ yếu thường thấy hiện nay Có nhiều yếu tố chi phối sự biến đổi này chẳng hạn yếu tố đào thải tự nhiên: Ở đâu, khi nào quan hệ tính giao thu hẹp thì ở đó, khi đó con người, với tính cách là thành viên của gia đình, của cộng đồng phát triển tốt hơn Nhưng xét chung và xét đến cùng thì trình độ phát triển của xã hội, của lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử là nhân tố quyết định hình thức của quan hệ hôn nhân gia đình

Trang 29

Chế độ hôn nhân và gia đình một vợ một chồng là một bước tiến lớn trong lịch sử, nhưng như Ph.Ăngghen đã vạch ra, khi nó dựa trên chế độ tư hữu và bóc lột thì nó vẫn không phải là một hình thức cao của hôn nhân Do tính chất của xã hội, của quan hệ sản xuất quy định, hôn nhân và gia đình trong các xã hội dựa trên cơ sở chế độ tư hữu và bóc lột có những tính chất cơ bản như sau:

Thứ nhất, hôn nhân gia đình không dựa trên cơ sở tình yêu nam nữ mà

dựa trên cơ sở lợi ích kinh tế và do những lợi ích đó quyết định Xét theo nguồn gốc xuất hiện của chế độ hôn nhân một vợ một chồng, Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Chế độ đó không phải là kết quả của tình yêu cá nhân giữa trai và gái, nó tuyệt nhiên không dính dáng gì với thứ tình yêu này cả….Chế độ một vợ một chồng là hình thức gia đình đầu tiên không dựa trên những điều kiện tự nhiên,

mà dựa trên những điều kiện kinh tế – tức là thắng lợi của chế độ sở hữu tư nhân đối với sở hữu công cộng nguyên thuỷ và tự phát Sự thống trị của người chồng trong gia đình, sự sinh đẻ đứa con chỉ có thể là con của người chồng và phải được quyền thừa hưởng tài sản của người ấy; đấy là những mục đích đặc biệt của chế độ một vợ một chồng”[18,tr.103-104]

Dõi theo lịch sử hơn 2000 năm tồn tại của chế độ hôn nhân một vợ một chồng, từ thời đại chiếm hữu nô lệ đến thời đại tư bản chủ nghĩa, Ph.Ăngghen khẳng định:“Hôn nhân luôn luôn là hôn nhân có tính toán”[18,tr.112], “Hôn nhân chỉ hoàn toàn phụ thuộc vào những lý do kinh tế

mà thôi”[18,tr.123] Còn “Sự luyến ái qua lại giữa đôi bên phải là lý do cao hơn hết thảy trong việc kết hôn, đó là điều vẫn chưa từng nghe nói đến từ xưa đến nay trong thực tiễn của các giai cấp thống trị”[18,tr.112]

Thứ hai, tính chất bất bình đẳng trong quan hệ giữa vợ và chồng, giữa

đàn ông và đàn bà Tính chất bất bình đẳng ở đây là địa vị thấp kém, địa vị bị

nô dịch của người vợ, người phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội

Trang 30

Nghiên cứu nguồn gốc và điều kiện xuất hiện của chế độ hôn nhân cá thể một vợ một chồng, Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Chế độ hôn nhân cá thể quyết không phải là xuất hiện trong lịch sử như là sự liên kết hoà hợp giữa đàn ông

và đàn bà, và càng không phải là hình thức liên kết cao nhất Trái lại nó thể hiện ra là một sự nô dịch của giới này đối với giới kia, là việc tuyên bố sự xung đột giữa hai giới”[18,tr.104]; rằng: “Sự đối lập giai cấp đầu tiên xuất hiện trong lịch sử là trùng với sự phát triển của sự đối kháng giữa người chồng và người vợ trong hôn nhân cá thể, và sự áp bức giai cấp đầu tiên là trùng với sự nô dịch của đàn ông đối với đàn bà”[18,tr.104] Đó là lý do để Ph.Ăngghen khẳng định: “Chế độ mẫu quyền bị lật đổ là sự thất bại lịch sử có tính chất toàn thế giới của giới nữ Ngay cả ở trong nhà, người đàn ông cũng nắm lấy quyền cai quản, còn người đàn bà thì bị hạ cấp, bị nô dịch, bị biến thành nô lệ cho sự dâm đãng của đàn ông, thành một công cụ sinh đẻ đơn thuần”[18,tr.93], làm cho họ rơi vào địa vị “bị hai tầng nô dịch”[19,tr.228]

Trong nền văn minh tư sản, địa vị của người phụ nữ được cải thiện một bước dài so với phong kiến, nhưng theo Lênin, “Chị em phụ nữ đã ở vào tình trạng khiến cho người ta gọi họ một cách rất đúng là nô lệ gia đình Không một nước tư bản nào dù là cộng hoà tự do nhất cũng vậy, mà ở đó chị

em phụ nữ lại được hưởng quyền bình đẳng hoàn toàn”[20,tr.220] Vì “Ở đâu còn chủ nghĩa tư bản, còn chế độ tư hữu ruộng đất, chế độ tư hữu công xưởng

và nhà máy, ở đâu còn chính quyền của tư bản, thì ở đấy nam giới vẫn có đặc quyền”[19,tr.228] C Mác và Ph Ăngghen cũng đã từng vạch ra rằng: “Đối

với gia đình tư sản, vợ hắn chẳng qua chỉ là một công cụ sản xuất”[17,tr.623]

Thứ ba, về hình thức là một vợ một chồng nhưng trong thực tế là chế

độ nhiều vợ nhiều chồng một cách công khai hoặc che giấu

Thực tế của xã hội nô lệ, như Ph.Ăngghen đã chỉ ra : “Sự tồn tại của chế độ nô lệ bên cạnh chế độ một vợ một chồng, sự có mặt của những nô lệ

Trang 31

trẻ, đẹp, hoàn toàn thuộc về người đàn ông, đó là điều, ngay từ đầu, đã khiến cho chế độ một vợ một chồng có được tính chất đặc biệt là: một vợ một chồng chỉ riêng đối với người đàn bà, chứ không phải đối với người đàn ông”[18,tr.101] “Để đảm bảo sự trung thành của người vợ, do đó, bảo đảm con cái đích thật là do người cha đẻ ra, người vợ buộc phải phục tùng quyền lực tuyệt đối của người chồng” [18,tr.94-95] Trong chế độ phong kiến, hôn nhân thường được tiến hành theo lối “Cha mẹ đặc đâu con ngồi đó”, nhưng

đến thời đại tư sản, Mác và Ăngghen đã vạch ra trong Tuyên ngôn của Đảng

Cộng sản rằng “Hôn nhân của giai cấp tư sản thật ra là chế độ cộng

thê”[17,tr.623]

Trong tác phẩm “Chống Duyrinh” Ph.Ăngghen đã vạch ra rằng: “Nạn

mãi dâm tăng tăng lên đến những quy mô chưa từng có Bản thân, cũng như trước kia, vẫn là hình thức mãi dâm được pháp luật thừa nhận, là tấm bình phong chính thức cho nạn mãi dâm, hơn nữa nó còn được bổ sung thêm bằng

vô số những vụ ngoại tình”[20,tr.357] Về sau trong tác phẩm “Nguồn gốc

của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”, Ph.Ăngghen khẳng định

và bổ sung thêm: “Bên cạnh hôn nhân cá thể và chế độ hê-ta-ia, tệ ngoại tình

đã trở thành một hiện tượng xã hội không thể nào xoá bỏ được…Việc xác định người cha đích thực của người con sinh ra, vẫn như trước kia, nhiều lắm cũng chỉ dựa trên niềm tin tưởng đạo đức”[18,tr.107] Phân tích tình, hôn nhân gia đình trong xã hội tư sản, Ph.Ăngghen đã chỉ rõ, trong xã hội mà tình yêu, hôn nhân còn “Bị chi phối bởi những ảnh hưởng kinh tế” thì không có tình yêu và hôn nhân thật sự, nếu có chăng đó chỉ là những trường hợp ngoại

lệ Tuy nhiên trong xã hội tư bản, trong các giai cấp bị áp bức, trước hết là giai cấp vô sản đang hình thành những cuộc hôn nhân mà trong đó, tình cảm yêu thương và kính trọng lẫn nhau giữ vai trò quyết định Đó là sự liên kết tự nguyện của những con người bình đẳng

Trang 32

Ph.Ăngghen đã dự báo quan hệ tình yêu, hôn nhân gia đình trong xã hội tương lai và khẳng định rằng khi cách mạng vô sản thành công, xã hội mới được thiết lập, đó là cơ sở để xây dựng hôn nhân một vợ một chồng triệt

để nhất trong lịch sử “Thật vậy, các tư liệu sản xuất mà chuyển thành tài sản

xã hội thì chế độ lao động làm thuê sẽ biến mất, và đồng thời cũng không còn một số phụ nữ cần thiết phải bán mình vì đồng tiền nữa Tệ nạn mại dâm sẽ mất đi và chế độ một vợ một chồng không những không suy tàn, mà cuối cùng trở thành hiện thực”[18,tr.118]

Như vậy, có thể khẳng định rằng trong quá khứ, hiện tại cũng như trong tương lai, gia đình luôn biến đổi cùng với sự biến đổi của xã hội: trình

độ phát triển và tính chất của xã hội quyết định hình thức và tính chất của quan hệ hôn nhân và gia đình

Mặt khác là, chế độ hôn nhân và gia đình có ảnh hưởng quan trọng

đế n sự phát triển và tiến bộ của xã hội

Trước hết, gia đình với tư cách là một tế bào xã hội, một thiết chế cơ

sở đầu tiên hình thành xã hội Xã hội hình thành bởi nhiều gia đình tham gia vào mọi quá trình sản xuất xã hội, từ sản xuất vật chất đến sản xuất tinh thần

và qua đó góp phần phát triển nguồn lực con người - với tư cách là nhân tố giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển và tiến bộ xã hội Bởi lẽ, gia đình chính là cái nôi nuôi dưỡng con người, ươm mầm tài năng Gia đình còn là tổ

ấm mang lại hạnh phúc, sự hài hoà trong đời sống mỗi con người Từ thuở lọt lòng, trong gia đình, cá nhân được yêu thương, chăm sóc, đùm bọc về vật chất và giáo dục tâm hồn, khôn lớn, trở thành công dân xã hội, lao động cống hiến, hưởng thụ và đóng góp phát triển xã hội Vai trò quan trọng của gia đình đối với sự phát triển và tiến bộ xã hội được biểu hiện trên một số mặt chủ yếu sau:

Một là, vai trò của gia đình đối với sự phát triển xã hội được thể hiện

ở chỗ gia đình là thiết chế cơ sở đặc thù của xã hội, là cầu nối giữa cá nhân

Trang 33

với xã hội Trong hệ thống cơ cấu tổ chức xã hội, gia đình được coi là thiết chế cơ sở đầu tiên, nhỏ nhất Thông qua các hoạt động tổ chức đời sống trong gia đình và của gia đình, mỗi cá nhân, mỗi gia đình tiếp nhận, chịu sự tác động và phản ứng lại đối với những tác động của xã hội thông qua các tổ chức, các thiết chế, chính sách của xã hội Sự đồng thuận hay không đồng thuận của những tác động từ xã hội, nhà nước với những hình thức tổ chức, sinh hoạt trong thiết chế gia đình sẽ tạo ra kết quả tốt hoặc xấu đối với mỗi một xã hội Sự tác động của gia đình với xã hội còn thể hiện ở chỗ gia đình có tính độc lập tương đối trong quan hệ với xã hội, nó duy trì, bảo tồn nhiều yếu

tố truyền thống trong quan hệ gia đình, trong đó có những yếu tố tiến bộ tích cực và cũng có cả những yếu tố tiêu cực, lạc hậu cản trở sự phát triển và tiến

bộ của xã hội

Hai là, gia đình còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn,

phát huy những giá trị văn hóa dân tộc, những giá trị truyền thống gia đình, dòng họ và truyền thụ cho lớp trẻ từ thế hệ này sang thế hệ khác như sự chung thủy vợ chồng, sự kính trên nhường dưới, sự kính yêu và chăm sóc của con cái đối với cha mẹ, lòng yêu thương và trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái… đã góp phần không ít vào sự ổn định và phát triển xã hội Tuy nhiên, những yếu tố tiêu cực, lạc hậu của gia đình vẫn còn tồn tại dai dẳng đã gây cản trở không ít đối với sự tiến bộ và phát triển của gia đình và xã hội

Ba là, vai trò của gia đình đối với sự phát triển và tiến bộ của xã hội

thể hiện thông qua các chức năng cơ bản của nó Bao gồm:

Thứ nhất, chức năng tái sản xuất ra con người

Con người muốn tồn tại, phát triển phải dựa vào sự sản xuất và tái sản xuất ra của cải vật chất “Nhưng muốn sản xuất, hơn nữa muốn sản xuất ngày càng mở rộng thì phải có sức lao động, phải có con người biết chế tạo, sử dụng công cụ Sức lao động ấy lấy ở đâu nếu không phải do gia đình cung

Trang 34

cấp”[21,tr.9] Theo Ph.Ăngghen đã nhận định “Nhân tố quyết định trong lịch

sử qui đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp Nhưng bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt: thực phẩm, nhà ở, quần áo, và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống Những trật tự xã hội, trong đó những con người của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống, là do hai loại sản xuất quyết định: một mặt là do trình độ phát triển của lao động, mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình”[18,tr.44]

Thứ hai, chức năng tổ chức đời sống gia đình

Gia đình không chỉ tái sản xuất ra con người mà có trách nhiệm đảm bảo các nhu cầu vật chất cũng như nhu cầu văn hoá tình cảm của các thành viên Vì vậy, chức năng tổ chức đời sống gia đình trước sau vẫn là một chức năng cơ bản

Chức năng này tạo điều kiện thoả mãn các nhu cầu tiêu dùng của các thành viên, tạo tiền đề vật chất để các gia đình làm tốt các chức năng khác Bởi vì con người trước tiên là con người tự nhiên, sinh học nên “Cái sự thật hiển nhiên là trước hết con người cần phải ăn, uống, ở mặc nghĩa là phải lao động trước khi có thể đấu tranh để giành quyền thống trị, trước khi có thể hoạt động chính trị, tôn giáo, triết học…” [22,tr.166] Hoạt động kinh tế gồm hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tiêu dùng để thoả mãn các yêu cần ăn, mặc, ở, đi lại của các thành viên và gia đình Ngày nay, gia đình như một tế bào sản xuất tương đối độc lập của xã hội, nó giữ vai trò khá quan trọng trong

hệ thống kinh tế quốc dân Mỗi gia đình nhỏ hoặc lớn đều là một đơn vị kinh

tế độc lập

Có thể thấy, chức năng tổ chức đời sống gia đình rất quan trọng Vì có đảm bảo no ấm thì gia đình mới ổn định, hạnh phúc, xã hội mới phát triển tốt

Trang 35

đẹp Ngược lại nếu gia đình quá nghèo đói, túng thiếu thì cũng hay lục đục, khó hạnh phúc Vì vậy, chức năng kinh tế rất quan trọng nhưng để có gia đình hạnh phúc, bền vững thì không chỉ giàu có là đủ mà phải kết hợp hài hoà chức năng kinh tế với các chức năng khác

Thứ ba, chức năng giáo dục thế hệ trẻ, xây dựng con người mới

Gia đình là cái nôi đầu tiên con người nhận sự giáo dục trước khi nhận được sự giáo dục của xã hội Vì thế chức năng giáo dục, nuôi dạy con cái của gia đình là một chức năng hết sức quan trọng Xã hội muốn phát triển thì phải dựa trên những thế hệ người có kiến thức, sức khỏe, trình độ chuyên môn và đạo đức Muốn vậy, chúng ta phải quan tâm đến việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái ngay từ nhỏ trong gia đình, phải biết kết hợp với nhà trường, các đoàn thể, các tổ chức đoàn thể xã hội khác có như vậy nhân cách của trẻ em mới được hình thành, phát triển phù hợp với lòng mong mõi của gia đình và yêu cầu của xã hội

Thứ tư, chức năng thoả mãn nhu cầu tâm - sinh lí, tình cảm

Gia đình là tổ ấm yêu thương đem lại hạnh phúc cho mỗi cá nhân, nơi

hỗ trợ tốt nhất cho con người cả về thể chất lẫn tinh thần Gia đình không chỉ

là nơi nghỉ ngơi, điểm sum họp đúng với nghĩa của nó, là nơi lấy lại sự cân bằng tình cảm sau những căng thẳng mệt mỏi của cuộc sống thường ngày mà còn là nơi con người được gần gũi những người thân yêu Gia đình là nơi thể hiện tình cảm sâu sắc nhất Đặc biệt hiện nay, đời sống nội tâm có ý nghĩa ngày càng tăng thì chức năng thoả mãn nhu cầu tâm - sinh lí, tình cảm của gia đình càng có ý nghĩa sâu rộng Nếu như trình độ sản xuất kinh doanh, hoạt động kinh tế và tổ chức đời sống gia đình là điều kiện vật chất để xây dựng gia đình thì thoả mãn nhu cầu tâm - sinh lí, tình cảm đựơc coi là chức năng có tính văn hoá xã hội của gia đình Vì con người không chỉ là con người tự nhiên sinh học với những nhu cầu vật chất mà con người là con người xã hội,

Trang 36

nên các thành viên trong gia đình đều có nhu cầu thoả mãn tâm - sinh lí, tình cảm cho nhau Đây là nhu cầu rất tự nhiên chính đáng của mỗi cá nhân trong cuộc sống Chính chức năng thoả mãn nhu cầu tâm - sinh lí, tình cảm của gia đình làm cho mỗi cá nhân trong gia đình được an ủi vỗ về tình cảm, thoả mãn nhu cầu tình yêu hạnh phúc Điều này có ý nghĩa to lớn không chỉ trong gia đình mà còn đối với xã hội, tạo nên sự ổn định, cân bằng về mặt tâm lí tình cảm, vun trồng sự gắn bó giữa các thành viên trong ứng xử, tạo bầu không khí tinh thần ổn định trong gia đình Từ đó các thành viên sống khoẻ mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần và có thái độ sống lạc quan tích cực đóng góp cho gia đình và xã hội

Gia đình là thiết chế đa chức năng và những chức năng trên đây là những chức năng cơ bản nhất Các chức năng này được thực hiện trong sự tác động, thúc đẩy và hổ trợ lẫn nhau Thông qua thực hiện các chức năng này mà gia đình tồn tại và phát triển, đồng thời tác động đến sự phát triển và tiến bộ

* Khái niệm toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa tuy là thuật ngữ rất mới, chỉ xuất hiện cách đây khoảng mấy thập niên, nhưng nó nói đến một quá trình phát triển có nguồn gốc từ lâu trong lịch sử, nhất là khi nền sản xuất hàng hóa đạt đến trình độ cao của sự phân công lao động và tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng Toàn cầu hóa diễn biến phức tạp với những biến cố khôn lường, những bất trắc, những mâu thuẫn, những nghịch lý…biểu hiện với đủ mọi loại hình xu hướng và hệ quả khác nhau, đan xen, thống nhất và đấu tranh lẫn nhau, vì vậy, nhận thức của con

Trang 37

người cũng không thể thống nhất Cùng với những biểu hiện muôn hình, muôn vẻ của toàn cầu hóa, những lợi ích của các quốc gia dân tộc, các giai cấp các tôn giáo…tùy theo từng người, từng nghành khoa học đã và đang làm nẩy sinh nhiều quan niệm khác nhau thậm chí đối lập nhau về toàn cầu hóa,

về nguồn gốc, đặc trưng của toàn cầu hóa, về bản chất của nó đối với các quốc gia dân tộc, các giai cấp, tôn giáo và gia đình…

Vào đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, trong từ điển Oxford xuất hiện thuật ngữ Global thay cho chữ Mundial Nó được định nghĩa là bao gồm tất

cả, là bao trùm Vào thời gian ấy khoa học công nghệ phát triển, đạt nhiều thành tựu vượt bật Công nghệ thông tin, phương tiện truyền thông có tốc độ nhanh chưa từng có, đã làm khoảng không gian thời gian toàn cầu ngày càng hạn hẹp lại, các công ty đa quốc gia mở rộng phạm vi bành trướng của họ và nhân dân thay thế nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh Đến cuối thập niên 70, việc di chuyển tự do tư bản, tiền tệ và thậm chí cả con người, đã trở thành hiện tượng phổ biến và là nhu cầu không thể thiếu của con người trong nền kinh tế - xã hội thế giới phát triển năng động chưa từng có Những tiền đề đó

là cơ sở cho khái niệm toàn cầu hóa mới ra đời

Hiện nay, có nhiều cách lý giải khác nhau về toàn cầu hóa Với các nhà xã hội học thì toàn cầu hóa là quá trình phát triển giao thoa giữa các nền văn minh từ quá khứ đến hiện tại và sự giao thoa kết hợp, chắc lọc những thành tựu tri thức của loài người từ Đông sang Tây và ngược lại Quá trình ấy

là sự kế thừa, phát huy những giá trị mang lại lợi ích cho sự phát triển nhân loại và toàn cầu hóa là nấc thang phát triển tiếp theo của những hình thái xã hội khác nhau do nhu cầu hội nhập, nhu cầu sản xuất làm nền tảng cho xã hội phát triển

Theo quan niệm đó, nhà xã hội học người Anh, Roland Robestson, cho rằng toàn cầu hóa là một quá trình lịch sử tự nhiên, là quá trình hội tụ thế

Trang 38

giới trên phạm vi rộng, phân biệt với quá trình trên phạm vi nhỏ hơn diễn ra trong quốc gia hay địa phương Điều đó có ý nghĩa lịch sử toàn thế giới đi theo một tiến trình hợp nhất, thông qua việc hình thành những thực thể xã hội lớn dần - mà lớn nhất là thực thể toàn cầu Có thể hiểu được điều này theo ý ông ở tầng nấc sâu hơn, toàn cầu hóa được hiểu là một sự thay đổi sâu sắc trong phạm vi toàn cầu nhưng không phải là hiện tượng mới Từ khi chủ nghĩa tư bản Tây Âu bành trướng ra toàn cầu, hình thành phân công quốc tế, thị trường quốc tế, cho đến nay sự lưu thông xuyên biên giới về hàng hóa, dịch vụ, công nghệ, tin tức, nhân tài và phân phối tài nguyên đều là biểu hiện của toàn cầu hóa

Giáo sư Winlkinson và Marshall Horgdson khi nghiên cứu về các nền văn minh trên thế giới cũng tiếp cận cách nhìn toàn cầu hóa mang tính lịch sử

tự nhiên Winlkinson cho rằng “Ngày nay trên trái đất chỉ có một nền văn minh toàn cầu đơn giản nhất Nó bắt nguồn từ Tây Á, Ai Cập và Sumer khoảng 1500 năm trước công nguyên, trung tâm này lan rộng liên tục và bao phủ toàn cầu, trước hết thông qua cầu nối của Châu Phi và Châu

Mỹ”[23,tr.3] Còn Hodgson coi sự phát triển của văn minh nhân loại là sự

phát triển phụ thuộc lẫn nhau và ít nhiều song song giữa bốn hỗn hợp truyền thống văn minh: Trung Quốc, Ấn Độ, Châu Âu và văn minh sông Nile Cả hai ông xem quá trình toàn cầu hóa diễn ra một cách biện chứng, là sự phát triển tất yếu của văn minh nhân loại là mối liên hệ phố biến của quá khứ, hiện tại, kết nối với tương lai

McGren đã xem “Quá trình toàn cầu hóa là quá trình tạo ra vô số mối quan hệ và kết nối giữa các nhà nước, các xã hội đang tạo nên hệ thống thế giới hiện đại Trong các quá trình này, các sự kiện, các quyết định và các hoạt động ở nơi này của trái đất có thể mang lại những hậu quả quan trọng đối với các cá nhân và các cộng đồng ở những nơi xa xôi khác của trái đất!”

Trang 39

[24,tr.123] Cách tiếp cận của McGren cũng chỉ dừng lại ở hiện tượng, những biểu hiện bên ngoài của toàn cầu hóa, đó là những tất yếu khách quan trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất Bản chất vấn đề thực sự ở đây là

gì, ai là chủ thể của các quyết định, chắc chắn nó thuộc về nhân tố chủ quan của những lực lượng xã hội mà rõ ràng là các nước tư bản phát triển, đứng đầu là Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản trong cục diện thế giới hiện nay

Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thì định nghĩa toàn cầu hóa là “Sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng tăng lên của tổng thể các nước trên toàn thế giới, do việc gia tăng khối lượng và sự đa dạng trao đổi xuyên biên giới các sản phẩm và dịch vụ cũng như do luồng vốn quốc tế đồng thời với việc phổ biến công nghệ ngày càng rộng khắp”[24,tr.124]

Ủy ban Châu Âu đưa ra định nghĩa toàn cầu hóa “Là một quá trình mà thông qua đó thị trường và sản xuất ở nhiều nước khác nhau đang ngày càng trở nên phụ thuộc lẫn nhau do có sự năng động của việc buôn bán hàng hóa và dịch vụ cũng như do có sự lưu thông vốn, tư bản và công nghệ Đây không phải là hiện tượng mới mà là sự tiếp tục của một tiến trình đã được khơi mào

từ khá lâu”[24,tr.33]

Không tán thành với quan niệm của Ủy ban châu Âu, G Thompson cho rằng: nếu toàn cầu hóa chỉ đơn giản là việc tiếp tục mở rộng quốc tế hóa thì tại sao phải lại làm cho gay gắt lên như vậy? Theo ông, khác với nền kinh

tế quốc tế hóa mà thực thể chính là nền kinh tế quốc dân gắn liền với lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế toàn cầu hóa mà thực thể là chính bản thân nền kinh tế toàn cầu mới làm thành một cơ cấu kinh tế mới phi lãnh thổ, độc lập với các nền kinh tế và các tác nhân quốc gia, nó quyết định cái gì có thể làm được và cái gì không làm được ở cấp độ quốc gia cả trong khu vực công lẫn khu vực

tư nhân

Trang 40

Chủ tịch Phiđen Castrô trong thư gửi hội nghị các bộ trưởng nhóm G7 họp tại New York tháng 9 - 1999 viết “Toàn cầu hóa là một quá trình lịch sử đang xác định khung cảnh thế giới cuối kỷ nguyên này Đó là thực tế không thể đảo ngược được, mang đặc trưng của mối quan hệ tương tác về kinh tế và dân tộc giữa các quốc gia không ngừng tăng lên, vì những tiến bộ về khoa học

kỷ thuật lớn lao đã rút ngắn khoảng cách và việc thông tin liên lạc truyền thông giữa các nước bất kỳ nơi nào trên hành tinh trở thành hiện thực”[25,tr.73]

Còn trong tác phẩm Trung Quốc không muốn làm bất tiên sinh, Thẩm

Kỳ Như cho rằng: “Toàn cầu hóa kinh tế dưới sự tác động của quốc tế hóa sản xuất và cách mạng khoa học – công nghệ không ngừng phát triển, tính dựa dẫm vào nhau, bổ sung cho nhau của nền kinh tế các nước ngày càng gia tăng, yếu tố cản trở sản xuất ngày càng mất đi bởi tự do lưu thông toàn cầu”[24,tr.124]

Như vậy có thể thấy, nhiều nhà nghiên cứu tán thành quan niệm cho rằng toàn cầu hóa là biểu hiện, là kết quả của sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất làm cho ranh giới giữa các quốc gia trở nên mờ nhạt, tạo ra mối quan hệ gắn kết, tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc trên quy mô toàn cầu trong sự vận động và phát triển Cũng có quan niệm cho rằng toàn cầu hóa như một xu hướng bắt nguồn từ bản chất của hệ thống kinh tế thị trường, là hệ thống mở, không bị giới hạn bởi các đường biên giới, ranh giới dân tộc và tôn giáo, đó là một quá trình tự nhiên đi tới cộng đồng quốc tế của những người lao động tự do và phát triển toàn diện

Mặt dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau về toàn cầu hóa, nhưng các tác giả điều thừa nhận rằng toàn cầu hóa đang diễn ra hiện nay là một quá trình hết sức rộng lớn, phức tạp và mang tính tất yếu khách quan mà không có

Ngày đăng: 11/05/2021, 21:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w