1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc êđê ở tỉnh đắk lắk trong quá trình đổi mới hiện nay

168 68 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 877,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản sắc dân tộc Việt Nam thể hiện trong hệ giá trị bền vững của văn hóa dân tộc, những tinh hoa được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạo thàn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



DƯƠNG ANH TÚ

GIỮ GÌN VÀ HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC ÊĐÊ Ở TỈNH ĐẮK LẮK

TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HOC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



DƯƠNG ANH TÚ

GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA

TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC ÊĐÊ Ở TỈNH ĐẮK LẮK

TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI HIỆN NAY

Chuyên ngành: Chủ nghĩa chủ nghĩa xã hội khoa học

Mã số: 62.22.85

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học PGS.TS TRỊNH DOÃN CHÍNH

[

TP Hồ Chí Minh – 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự

hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trịnh Doãn Chính Các số liệu , kết luận

trích dẫn trong luận văn là trung thực

Tp Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 05 năm 2012

Tác giả

DƯƠNG ANH TÚ

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA

CƠ BẢN CỦA DÂN TỘC Ê ĐÊ Ở TỈNH ĐẮK LẮK 10

1.1 CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN HÌNH THÀNH NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VĂN

ở tỉnh Đắk Lắk 19 1.1.3 Đặc điểm đời sống của dân tộc Êđê với sự hình thành các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Êđê ở tỉnh Đắk Lắk 24

1.2 KHÁI QUÁT VỀ CÁC LOẠI HÌNH VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CHỦ

YẾU CỦA VĂN HÓA DÂN TỘC Ê ĐÊ Ở TỈNH ĐẮK LẮK 37

1.2.1 Khái quát về các loại hình văn hoá của dân tộc Êđê ở Đắk Lắk

ở tỉnh Đắk Lắk 42 1.2.2 Một số đặc điểm chủ yếu trong văn hóa của dân tộc Êđê ở tỉnh

Đắk Lắk 65 Chương 2 VẤN ĐỀ GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN

HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC Ê ĐÊ Ở TỈNH ĐẮK LẮK TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI HIỆN NAY 79

2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT

HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC Ê ĐÊ

Ở TỈNH ĐẮK LẮK TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI HIỆN NAY 79

Trang 5

2.1.1 Sự phát triển kinh tế - xã hội và sự tác động của nó đối với văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê ở tỉnh Đắk Lắk 79 2.1.2 Thực trạng giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê ở tỉnh Đắk Lắk trong quá trình đổi mới hiện nay 94

2.2 NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN

NHẰM BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN

THỐNG CỦA DÂN TỘC Ê ĐÊ Ở TỈNH ĐẮK LẮK TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI HIỆN NAY 107

2.2.1 Những phương hướng chủ yếu nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê ở tỉnh Đắk Lắk trong quá trình đổi mới hiện nay 108 2.2.2 Một số giải pháp cơ bản để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê ở tỉnh Đắk Lắk trong quá trình đổi mới hiện nay 123 KẾT LUẬN 156 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 160

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn hóa vốn gắn liền với toàn bộ cuộc sống và với sự phát triển của

xã hội Văn hóa hình thành và phát triển cùng với sự hình thành phát triển của cong người, con người trưởng thành nhờ văn hóa, hướng tới tương lai cũng từ văn hóa Văn hóa của một dân tộc trước hết thể hiện ở bản sắc của dân tộc ấy Bản sắc dân tộc Việt Nam thể hiện trong hệ giá trị bền vững của văn hóa dân tộc, những tinh hoa được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạo thành nét đặc sắc, độc đáo của cốt cách, tâm hồn của người Việt Nam và cộng đồng các dân tộc Việt Nam,

nó biểu hiện và định hướng cho sự lựa chọn trong hành động của con người Những giá trị văn hóa là thước đo trình độ phát triển và đặc tính riêng của mỗi dân tộc, một dân tộc thiếu văn hóa chưa phải là một dân tộc thật sự hình thành, một nền văn hóa không có bản sắc dân tộc thì nền văn hóa ấy không

có sức sống thật sự của nó

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, 54 dân tộc là 54 sắc màu văn hóa tạo nên nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc, vừa thống nhất vừa đa dạng, được phân bố ở các vùng, miền của Tổ quốc Do đặc điểm về điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội và nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau, đã hình thành nên các vùng văn hóa khác nhau, từ đó văn hóa của các dân tộc cũng có những điểm khác biệt và mang tính đặc thù Trong các vùng văn hóa ấy, Tây Nguyên nước ta có 5 tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, kom Tum, Lâm Đồng, Dăk Nông là một trong những vùng văn hóa đặc sắc của Việt Nam

Đắk Lắk là một vùng rộng lớn, có địa chính trị, kinh tế - văn hóa độc đáo, có vị trí chiến lược rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước cả

về kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự và an ninh - quốc phòng, bao gồm rất

Trang 7

Những năm gần đây, tình hình thế giới có nhiều biến đổi Xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra như một cơn lốc cuốn hút tất cả các nước trên thế giới Việt Nam cũng như tất cả các quốc gia khác không thể đứng ngoài dòng chảy này Kinh tế thị trường với những ưu điểm và mặt trái của nó, có ảnh hưởng không nhỏ đến nền văn hóa truyền thống của các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong đó có văn hóa của dân tộc bản địa tỉnh Đắk Lắk Bên cạnh những giá trị tốt đẹp trong văn hóa truyền thống của người Êđê còn có những yếu tố không còn phù hợp với sự phát triển của thời đại

Với hơn 40 dân tộc cùng cư trú, người Êđê là một trong những dân tộc bản địa của tỉnh Đắk Lắk, đã góp phần hình thành nên bản sắc văn hóa Đắk Lắk Trước sự tác động của cơ chế thị trường, của mở rộng hội nhập quốc tế và giao lưu văn hóa hiện nay, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của người bản địa nói chung, và người bản địa ở Đắk Lắk nói riêng đang bị mai một, pha trộn, lai căng, không còn giữ được bản sắc Vấn đề khác quan trọng hơn

cả, đó là chúng ta đang phấn đấu để có được sự bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, các vùng miền trên cả nước Để đạt được điều này phải kết hợp nhiều yếu tố, trong đó văn hóa chiếm vai trò, vị trí hết sức quan trọng, không

Trang 8

kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc bản địa ở Đắk Lắk là vấn đề mang tính thời sự, cấp bách trong giai đoạn hiện nay

Nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề, tôi chọn vấn đề

“Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Êđê ở tỉnh Đắk Lắk trong quá trình đổi mới hiện nay” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của

mình để đóng góp phần công sức nhỏ bé vào nhiệm vụ "xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" [64,12] của cả nước nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề văn hóa đã được đề cập dưới nhiều góc độ và phạm vi khác nhau trong các tác phẩm của nhiều nhà khoa học và nhà văn hóa

Nghiên cứu dưới góc độ bản sắc văn hóa có những tác phẩm tiêu biểu

như: "Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc" của Huy Cận (1994), Nxb Chính

trị Quốc gia, là công trình nói lên những quan điểm của tác giả về văn hóa dân tộc cũng như những đóng góp của tác giả trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa

dân tộc "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam" của PGS Viện sĩ Trần Ngọc Thêm (2001) Nxb Thành phố Hồ Chí Minh; “Bản sắc văn hóa Việt Nam" của Phan Ngọc (2002), Nxb Văn học; "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt

Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc" của Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên) -

Trang 9

4

2001, Nxb Văn hóa thông tin; "Bản sắc văn hóa dân tộc" của Hồ Bá Thâm

(2003), Nxb Văn hóa Thông tin

Nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số có các công trình : “Khảo

cổ học tiền sử Lak Lak” của PGS.TS.Nguyễn Khắc Sử (2004), Nxb khoa học

xã hội, Hà Nội, quyển sách là công trình khoa học giới thiệu một cách chi tiết và đầy đủ về thiên nhiên và con người Đắk Lắk, giới thiệu một cách khái quát các dân tộc bản địa ở Đắk Lắk với những nét văn hóa truyền thống mang đậm chất Tây nguyên, đặc trưng di tích và di vật thời tiền sử, văn hóa tiền sử Đắk Lắk ở nét phác thảo

“Văn hóa mẫu hệ M’nông” do Krông Y Tuyên (chủ nhiệm đề tài) -

(2005) và Trương Bi (chủ biên), Sở Văn hóa - Thông tin Đắk Lắk, Thông qua việc nghiên cứu một cách chi tiết các nội dung liên quan đến luật tục mẫu hệ trong xã hội M’nông cũng như đề cập ít nhiều đến chế độ mẫu hệ của người Êđê cổ truyền, từ đó tác giả đã trình bày những yếu tố tích cực, hạn chế và những giải pháp về bảo tồn, phát huy văn hóa Mẫu hệ

“Nghi lễ và âm nhạc trong nghi lễ” của Th.s Tô Đông Hải (2003), Nxb

Văn hóa dân tộc, thông qua tác phẩm Th.S Tô Đông Hải đã đi sâu vào nghiên cứu về các nghi lễ và lễ hội của người Êđê, những hoạt động chính trong lễ hội

và nghi lễ người Êđê, chính sách của Đảng và Nhà nước và một số giải pháp bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa trong nghi lễ - lễ hội người Êđê

“Văn hóa dân gian Êđê” do Ngô Đức Thịnh (chủ biên) - 1995, Sở Văn hóa - Thông tin Đak Lak xuất bản ; “Văn hóa dân gian M’nông” do Ngô Đức

Thịnh (chủ biên), Sở Văn hóa - Thông tin Đak Lak xuất bản, 1995, với hai công trình khoa học trên Tác giả Ngô Đức Thịnh đã nghiên cứu các hình thức sinh hoạt văn hóa khác nhau của người Êđê và người M’nông, với các hình thức sinh hoạt phong phú mang đậm chất Tây nguyên, Tác giả cũng đề xuất các giải pháp nhằm giữ gìn các hoạt động văn hóa trong quá trình hội nhập ở nước ta hiện nay

Trang 10

5

“Đại cương về các dân tộc Êđê, Mnông ở Đak Lak” của Bế Viết Đẳng

- Chu Thái Sơn - Vũ Thị Hồng - Vũ Đình Lợi (1982), Nxb Khoa học xã hội, là Công trình nghiên cứu nghiêm túc và công phu này có thể giúp chúng ta những cơ sở ban đầu để tìm hiểu về hai dân tộc trong số những dân tộc quan trọng nhất ở Tây Nguyên; đây cũng là những nền tảng đầu tiên cho những nghiên cứu sâu hơn về từng dân tộc, và từng mặt phong phú và hết sức đa dạng trong đời sống của hai dân tộc có lịch sử rất lâu đời và có truyền thống văn hóa đặc sắc này

Ngoài ra còn phải kể đến các tác phẩm khác cũng đề cập đến văn hóa

dân tộc thiểu số như: "Tìm hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số" của Lò Giàng Páo (1997), Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội; "Văn hóa các dân tộc thiểu

số ở Việt Nam" của Ngô Văn Lệ (1998), Nxb Giáo dục, Hà Nội; Luận văn

thạc sĩ Triết học của Lê Thị Mỹ Vân ( 1999) Đề tài: "Văn hóa truyền thống

của các dân tộc Jrai và Bahnar ở tỉnh Gia Lai hiện nay - Thực trạng và giải pháp", Đại học KHXH & NV - ĐHQG Hà Nội; "Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong cuộc sống hôm nay" của Nguyễn Khoa Điềm, Tạp chí

Văn hóa nghệ thuật, số 7/2000

Nhìn chung các công trình, các tác phẩm đều đã đi vào khai thác những đặc điểm chung về bản sắc văn hóa; văn hóa các dân tộc thiểu số; văn hóa của dân tộc bản địa ở nước ta Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại

ở việc tìm hiểu những giá trị văn hóa, phong tục tập quán của người dân tộc bản địa ; những nét đặc sắc - cái hay, cái đẹp của văn hóa dân tộc Êđê Một

số đề tài, công trình cũng đề cập tới vấn đề bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Êdê nhưng mới chỉ đề cập một cách chung chung hoặc đi sâu tìm hiểu một số nét văn hóa cụ thể; đã đề cập đến thực trạng và một số giải pháp cho sự phát triển văn hóa các dân tộc Đắk Lắk nhưng cũng chỉ là những giải pháp mang tính định hướng chung cho các dân tộc thiểu số; chủ

Trang 11

6

yếu nghiên cứu về văn hóa dân tộc Êđê ở góc độ văn hóa, chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ triết học và chủ nghĩa xã hội khoa học chưa bàn nhiều tới vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Êđê ở Đắk Lắk một cách khái quát

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

* Mục đích nghiên cứu của luận văn

Trên cơ sở làm rõ thực trạng kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc bản địa ở Tây nguyên hiện nay, luận văn đưa ra một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Êđê ở Tây Nguyên nói riêng, và dân tộc bản địa ở Đắk Lắk nói chung

* Nhiệm vụ của luận văn

Luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính sau:

Một là, làm rõ bản sắc văn hóa của dân tộc Êđê nói riêng và tính tất yếu

khách quan của việc kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc bản địa nói chung ở tỉnh Đắk Lắk

Hai là, đánh giá thực trạng vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa

dân tộc Êđê ở Đắk Lắk hiện nay

Ba là, chỉ ra nguyên nhân của thực trạng và đề ra một số phương

hướng và giải pháp cơ bản, nhằm kế thừa và phát huy bản sắc dân tộc Êđê ở Đắk Lắk

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

* Đối tượng nghiên cứu:

Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã trình bày ở trên, luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là văn hóa dân tộc Êđê ở Đắk Lắk

* Phạm vi nghiên cứu:

Văn hóa là một vấn đề rất rộng, văn hóa các dân tộc cũng rất đa dạng

và phong phú Luận văn không trình bày toàn bộ các vấn đề thuộc về văn

Trang 12

7

hóa của dân tộc Êđê ở Đắk Lắk mà chủ yếu khai thác một cách có hệ thống, ở khía cạnh triết học và CNXHKH những giá trị văn hóa tạo nên "Bản sắc văn hóa" của dân tộc Êđê ở Đắk Lắk nhằm kế thừa và phát huy nó trong giai đoạn hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

* Cơ sở lý luận:

Thực hiện đề tài này, luận văn chủ yếu dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về văn hóa và chính sách phát triển văn hóa, đồng thời có tham khảo một số công trình nghiên cứu, đề tài khoa học, sách, báo tài liệu

có liên quan đến nội dung được đề cập trong luận văn

* Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và lôgíc; phân tích và tổng hợp; quy nạp và diễn dịch, điều tra, so sánh nhằm thực hiện mục đích mà đề tài đặt ra

6 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ thêm những nét đặc sắc của tộc Êđê ở Đắk Lắk; phân tích và hệ thống hóa các giá trị văn hóa của dân tộc bản địa dưới góc độ chủ nghĩa xã hội khoa học Qua đó đưa ra những giải pháp cơ bản và thiết thực nhằm kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Êđê ở Đắk Lắk trong giai đoạn hiện nay

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung và làm sáng tỏ lý luận về văn hóa, bản sắc văn hóa và vấn đề kế thừa nó; đồng thời góp phần khẳng định vai trò, ý nghĩa của những giá trị văn hóa của dân tộc Êđê ở Đắk Lắk theo hướng: Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Trang 13

8

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy các môn Triết học, CNXHKH, Văn hóa học, Dân tộc học ở các nhà trường, làm tài liệu tham khảo cho cán bộ làm công tác chính sách và quản lý văn hóa ở Tây nguyên nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, và tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm hai chương và bốn tiết

Trang 14

9

Trong tiến trình đổi mới đất nước 25 năm qua, nhận thức của Đảng ta

về văn hóa đã có bước phát triển mới và đạt được nhiều thành tựu nổi bật Hiện nay, việc gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc tế đang tạo cơ hội lớn

để văn hóa nước ta tiếp thu, chọn lọc được những giá trị của văn hóa thế giới, nhưng cũng đặt ra những thách thức rất lớn cho nền văn hóa dân tộc, đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục đổi mới tư duy về văn hóa, có đường lối, chính sách đúng đắn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Trong thời đại ngày nay, xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc

tế diễn ra mạnh mẽ, trên quy mô lớn Cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại và mạng thông tin toàn cầu,

“ngôi nhà” thế giới dường như trở nên “nhỏ bé” hơn “Toàn cầu hoá kinh tế tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn, thách thức lớn cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển”[11, 73] Sự ảnh hưởng của quá trình này không chỉ về phương diện kinh tế Bất luận tham gia chủ động hay buộc phải cuốn theo một cách bị động vào quá trình toàn cầu hoá kinh tế thì văn hóa dân tộc đều phải tiếp xúc, giao thoa với các nền văn hóa khác trên thế giới, đều thôi thúc từng dân tộc suy nghĩ xem phải ứng xử với xu thế lịch sử này như thế nào

Đắk Lắk là một tỉnh nằm ở trung tâm chính trị, kinh tế văn hoá xã hội của tỉnh và cả vùng Tây Nguyên Bên cạnh đó với việc có mặt của người dân tộc bản địa đã có mặt ở trên vùng đất này, Đắk Lắk còn mang trên mình một sắc thái văn hóa đã hình thành từ lâu đời, trong đó có văn hóa truyền thống

của người Êđê

Trang 15

10

Chương 1

CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA CƠ BẢN CỦA DÂN TỘC Ê ĐÊ Ở TỈNH ĐẮK LẮK

1.1 CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN HÌNH THÀNH NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC ÊĐÊ Ở TỈNH ĐẮK LẮK

1.1.1 Điều kiện địa lý - tự nhiên và điều kiện kinh - tế xã hội tỉnh Đắk Lắk - cơ sở thực tiễn cho sự hình thành đặc điểm văn hóa của dân tộc Êđê ở tỉnh Đắk Lắk

Ngày nay, nói đến Đắk Lắk là chúng ta nghĩ ngay tới một vùng đất đỏ basalte mênh mông với bạt ngàn cà phê, cao su cùng với các khu tiều công nghiệp mới hình thành cũng như các danh lam thắng cảnh nổi tiếng với các thắng cảnh sinh thái hồ, thác nước, rừng nguyên sinh như Vườn Quốc gia YokDon, Vườn Quốc gia Chư Yang Sin, khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô,…với nhiều loài động thực vật quí hiếm, đặc biệt là voi Đắk Lắk có nhiều di tích lịch sử văn hóa và cách mạng được du khách quan tâm

Thu hút và gây ấn tượng mạnh mẽ cho khách du lịch đến Đắk Lắk không chỉ là những cảnh quan thiên nhiên kỳ thú mà còn bởi Đắk Lắk có một nền văn hóa truyền thống đặc sắc, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc Các lễ hội đua voi, lễ hội cồng chiêng và lễ hội cà phê đã được nhà nước công nhận và tổ chức đều đặn hàng năm như một giá trị truyền thống Đắk Lắk còn là một trong những cái nôi nuôi dưỡng Không gian văn hóa công chiêng tây Nguyên, được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu phi vật thể nhân loại

Về điều kiện địa lý và tự nhiên tỉnh Đắk Lắk

Đắk Lắk nằm trên địa bàn gồm năm tỉnh ở Tây Nguyên, thuộc biên giới Tây Nam của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Nằm ở trung tâm cao nguyên miền Trung Việt Nam, Đắk Lắk được xác định nằm trong khoảng toạ

độ địa lý từ 107o28’57”- 108o59’37” độ kinh Đông và từ 12o9’45”- 13o25’06”

Trang 16

11

độ vĩ Bắc Đắk Lắk là một tỉnh nằm ở trung tâm Tây Nguyên, có tổng diện tích tự nhiên là 13.085 km2, phía bắc giáp Gia Lai, phía nam giáp Lâm Đồng, phía tây nam giáp Đăk Nông, phía đông giáp Phú Yên và Khánh Hoà, phía tây giáp Vương quốc Campuchia với đường biên giới dài 193 km Tỉnh lỵ của Đắk Lắk là thành phố Buôn Ma Thuột, cách Hà Nội 1.410 km và cách Thành

phố Hồ Chí Minh 320 km

Đắk Lắk là tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng về mặt: kinh tế, chính trị, quân sự và an ninh quốc phòng Với độ cao trong bình 600 - 700m Đắk Lắk được các nhà quân sự xem là xương sống, nóc nhà của ba nước Đông Dương Trong chiến tranh các nhà quân sự đã đặt ra mục tiêu: ai chiếm được Đắk Lắk người đó thực sự làm chủ chiến trường Đông Dương nói chung và chiến trường Tây Nguyên nói riêng Thực tế đã chứng minh đúng như vậy từ đây

có thể kiển soát và khống chế toàn bộ vùng cao nguyên Trung phần, án ngữ con đường xuyên Việt từ Kon Tum - Pleiku qua Đắk Lắk xuống Miền Tây Nam Trung Bộ, từ cao nguyên Đắk Lắk xuống dải đất vien biển Nam Trung

Bộ, từ ven biển trung bộ qua Đắk Lắk sang các nước Campuchia và Lào Thành phố Buôn Ma Thuột là trung tâm chính trị, kinh tế văn hoá xã hội của tỉnh và cả vùng Tây Nguyên Trung tâm thành phố là điểm giao cắt giữa quốc lộ 14 (chạy xuyên suốt tỉnh theo chiều từ Bắc xuống Nam) với quốc lộ

26 và quốc lộ 27 nối Buôn Ma Thuột với các thành phố Nha Trang (Khánh Hoà), Đà Lạt (Lâm Đồng) và Pleiku (Gia Lai) Trong tương lai khi đường Hồ Chí Minh được xây dựng cùng với đường hàng không được nâng cấp thì Đắk Lắk sẽ là đầu mối giao lưu rất quan trọng nối liền các trung tâm kinh tế của cả nước như Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh Đây là động lực lớn, thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh cũng như toàn vùng Tây Nguyên phát triển

Trang 17

12

Đại bộ phận diện tích của tỉnh nằm ở phía Tây Trường Sơn, có hướng

thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc Địa hình đa dạng đồi núi xen kẻ bình

nguyên và thung lũng, có thể chia thành các dạng địa hình chính sau:

Địa hình vùng núi: Vùng núi cao Chư Yang Sin: nằm ở phía Đông

Nam của tỉnh với diện tích xấp xỉ bằng ¼ diện tích tự nhiên toàn tỉnh, ngăn cách giữa cao nguyên Buôn Ma Thuột và cao nguyên Lâm Viên (Lâm Đồng), vùng có nhiều dãy núi cao trên 1.500 mét cao nhất là đỉnh Chư Yang Sin 2.445 mét Vùng núi thấp, trung bình Chư Dơ Jiu: nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh, ngăn cách thung lũng sông Ba (Gia Lai) và cao nguyên Buôn Ma Thuột,

độ cao trung bình 600-700 m, đỉnh Chư Dơ Jiu cao 1.103m

Địa hình cao nguyên: Chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh, địa

hình bằng phẳng, đường Quốc lộ 14 gần như là đỉnh phân thuỷ, cao ở giữa và thấp dần về hai phía, địa hình thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam Toàn

tỉnh có 2 cao nguyên lớn:

Cao nguyên Buôn Ma Thuột : là cao nguyên rộng lớn chạy dài từ Bắc xuống Nam trên 90 km, từ Đông sang Tây 70 km Phía Bắc cao gần 800m, phía Nam 400 m, thoải dần về phía Tây còn 300 m Đây là vùng có địa hình khá bằng phẳng, độ dốc trung bình 3-80 Phần lớn diện tích cao nguyên này là đất đỏ Bazan màu mở và hầu hết đã được khai thác sử dụng

Cao nguyên M’Drăk (cao nguyên Khánh Dương): nằm ở phía Đông tỉnh tiếp giáp với tỉnh Khánh Hoà, độ cao trung bình 400- 500 m Đất Granit chiếm phần lớn diện tích với các thảm thực vật rừng thường xanh ở núi cao và trảng cỏ ở núi thấp và đồi thoải

Đặc diểm về khí hậu thời tiết: Do đặc điểm vị trí địa lý, địa hình nên

khí hậu ở Đắk Lắk vừa chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính chất của khí hậu cao nguyên mát dịu Nhìn chung thời tiết chia làm

2 mùa khá rỏ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 kèm theo gió Tây Nam

Trang 18

13

thịnh hành Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong mùa này độ ẩm

giảm, gió Đông Bắc thổi mạnh, bốc hơi lớn, gây khô hạn nghiêm trọng

Tóm lại khí hậu Đắk Lắk vừa mang nét chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa vừa chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng cao nguyên nên phù hợp với nhiều loại cây trồng Tuy nhiên do chế độ thời tiết có 2 mùa rỏ rệt, mùa khô thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt, mùa mưa lượng mưa lớn tập trung gây lũ lụt một số vùng Lượng mưa lớn cũng gây xói mòn và rửa trôi đất đai

Đặc điểm về thuỷ văn: Hệ thống sông suối trên địa bàn tỉnh khá phong

phú, phân bố tương đối đồng đều, nhưng do địa hình dốc nên khả năng giữ nước kém, những khe suối nhỏ hầu như không có nước trong mùa khô nên mực nước các sông suối lớn thường xuống rất thấp Trên địa bàn có hai hệ thông sông chính chảy qua là hệ thống sông Srêpok và sông Ba Hệ thống sông Srêpok có diện tích lưu vực chiếm tới 2/3 diện tích lãnh thổ bao gồm lưu vực dòng chính Srêpok và tiểu lưu vực Ea H’Leo; hệ thống sông Ba không chảy qua Đắk Lắk nhưng ở phía Đông và Đông Bắc của tỉnh có 2 nhánh thuộc

thượng nguồn sông Ba là sông Krông H’Năng và sông Hinh

Sông Srêpok, sông Krông Knô bắt, sông Krông Ana, sông Ea H’Leo, sông Krông H’Năng Ngoài các sông lớn nêu trên, hệ thống sông suối vừa và nhỏ cũng khá phong phú, tuy nhiên một số suối không có nước trong mùa khô, nhất là khu vực Ea Sup - Buôn Đôn Trong những năm gần đây tình hình thời tiết có nhiều biến đổi, lượng mưa thấp, tình trạng tài nguyên rừng bị suy giảm, mức độ khai thác nguồn nước ngầm không kiểm soát được là những nguyên nhân làm cho tình trạng hạn hán gay gắt và thiếu nước nghiêm trọng Một trong những tài nguyên lớn được thiên nhiên ưu đãi cho Đắk Lắk,

đó là tài nguyên đất Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên là 13.085 km2, trong đó chủ yếu là nhóm đất xám, đất đỏ bazan và một số nhóm khác như: đất phù sa,

đất gley, đất đen

Trang 19

14

- Nhóm đất phù sa (Fuvisols), nhóm đất Gley (Gleysols), nhóm đất xám

(Acrisols), nhóm đất đỏ (Ferrasol, trong đó chủ yếu là đất đỏ bazan) - là nhóm đất chiếm diện tích lớn thứ hai (sau đất xám) chiếm tới 55,6% diện tích đất đỏ bazan toàn Tây Nguyên Đất đỏ bazan còn có tính chất cơ lý tốt, kết cấu viên cục độ xốp bình quân 62 - 65%, khả năng giữ nước và hấp thu dinh dưỡng cao rất thích hợp với các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế như cà phê, cao su, chè, hồ tiêu và nhiều loại cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày khác Đây là một lợi thế rất quan trọng về điều kiện phát triển nông nghiệp của tỉnh Đắk Lắk

Về tài nguyên rừng: Sau khi chia tách tỉnh, diện tích đất có rừng của

Đắk Lắk là 608.886,2 ha, trong đó rừng tự nhiên là 594.488,9 ha, rừng trồng

là 14.397,3 ha Độ che phủ rừng đạt 46,62% (số liệu tính đến ngày 01/01/2004) Rừng Đắk Lắk được phân bố đều khắp ở các huyện trong tỉnh, đặc biệt là hành lang biên giới của tỉnh giáp Campuchia Rừng Đắk Lắk phong phú và đa dạng, thường có kết cấu 3 tầng: cây gỗ, các tác dụng phòng

hộ cao; có nhiều loại cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị khoa học; phân bố trong điều kiện lập địa thuận lợi, nên rừng tái sinh có mật độ khá lớn Do đó rừng có vai trò quan trọng trong phòng chống xói mòn đất, điều tiết nguồn nước và hạn chế thiên tai Rừng Đắk Lắk có nhiều loại động vật quý hiếm phân bổ chủ yếu ở vườn Quốc gia Yôk Đôn và các khu bảo tồn Nam Kar, Chư Yangsin có nhiều loại động vật quý hiếm ghi trong sách đỏ nước ta và có loại được ghi trong sách đỏ thế giới Động vật rừng Đắk Lắk rất phong phú, gồm 93 loài thú và 19 loài chi, trong đó có đến 32 loài thú quý hiếm có tên trong sách đỏ [15, 26] Rừng và đất lâm nghiệp có vị trí quan

trọng trong quá trình phát triển KT-XH của tỉnh

Về tài nguyên khoáng sản: Đắk Lắk không những được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên đất, rừng mà còn rất phong phú và đa dạng về các loại hình

Trang 20

15

khoáng sản Trên địa bàn tỉnh có nhiều mỏ khoáng sản với trữ lượng khác nhau, nhiều loại quý hiếm Như Sét cao lanh (ở M’DRăk, Buôn Ma Thuột - trên 60 triệu tấn), sét gạch ngói (Krông Ana, M’DRăk, Buôn Ma Thuột - trên

50 triệu tấn), vàng (Ea Kar), chì (Ea H’Leo), phốt pho (Buôn Đôn), Than Bùn (Cư M’Gar), đá quý (Opan, Jectit), đá ốp lát, đá xây dựng, cát xây dựng phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh

Về đặc điểm điều kiện kinh - tế xã hội tỉnh Đắk Lắk

Tỉnh Đắk Lắk có diện tích tự nhiên 13.125 km2, dân số gần 1,8 triệu người, có 44 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm 30%; có 4 tôn

giáo chính với trên 40 vạn đồng bào theo đạo, chiếm 24%

Tỉnh Đắk Lắk có 14 huyện, 01 thành phố; 283 xã, phường, thị trấn Trong những năm chống Mỹ cứu nước, đặc biệt là từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975) đến nay, một bộ phận đồng bào các dân tộc ít người từ miền Trung và Bắc di cư đến đây sinh cơ lập nghiệp, làm cho cơ cấu thành phần dân tộc trong tỉnh thay đổi nhanh chóng

Toàn tỉnh có 43 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đông nhất là dân tộc Kinh có 1.250.494 người, chiếm 68,7%; các dân tộc thiểu số như dân tộc Tày

có 54.370 người, dân tộc Thái có 19.107 người, dân tộc Hoa có 5.016 người, dân tộc Ê Ðê có 248.946 người, chiếm 13,98%; dân tộc Mông có 17.000 người, chiếm gần 10%; dân tộc M'Nông có 61.301 người, chiếm 4,4%; dân tộc Gia Rai chiếm 0,8%; dân tộc Mường chiếm 0,6% và các dân tộc ít người khác chiếm 5,07% so với dân số toàn tỉnh

Thành phần các dân tộc tại chỗ ở Đắk Lắk chủ yếu là người Êđê, M’nông và một số dân tộc ít người khác như Ba na, Gia rai, Sê đăng nhưng số lượng không lớn Trong đó dân tộc Êđê chiếm đến 70.1%, dân tộc Mnông chiếm 17%, các dân tộc khác như Ba na, Gia rai, Sê đăng chiếm 18,5% [21, 12] Từng dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Đắk Lắk tuy có truyền thống và bản

Trang 21

16

sắc riêng độc đáo, nhưng đã cùng nhau đoàn kết, xây dựng quê hương và hình thành nên một nền văn hoá phong phú và giàu bản sắc

Về đặc điểm về kinh tế của tỉnh Đắk Lắk: Đắk Lắk là một trong những

tỉnh có tiềm năng lớn về rừng với gần 1 triệu ha đất nông, Lâm nghiệp, trong

đó trên 600.000 ha có rừng, độ che phủ của rừng ở đây là 50% Ở đây có Vườn Quốc Gia Yok Don rộng trên 115.500 ha, là khu vườn quốc gia lớn

nhất Việt Nam

Đắk Lắk không chỉ có núi non trùng điệp với những thảm rừng đa sinh thái với hơn 3 nghìn loài cây, 93 loài thú, 197 loài chim, mà còn là cao nguyên đất đỏ bazan, được phân bố từ cao nguyên Buôn Ma Thuột trải dài

90 km theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, phù hợp với việc phát triển cây công nghiệp dài ngày cà phê, cao su, ca cao, điều, bông vải Đắk Lắk cũng là nơi phát triển các loại cây ăn trái khác, đặc biệt như cây bơ, sầu riêng, chôm chôm.v.v

Phát triển kinh tế chủ đạo của Đắk Lắk dựa vào sản xuất và xuất khẩu nông sản, lâm sản (chiếm khoảng 60% GDP) Đắk Lắk là tỉnh có diện tích trồng cà phê lớn nhất Việt Nam với trên 174.740 ha Sản lượng hàng năm trên dưới 435.000 tấn cà phê nhân Hiện nay, thương hiệu cà phê Buôn ma Thuột

đã được công nhận trong phạm vi cả nước và quốc tế Đắk Lắk còn là tỉnh có tiềm năng lớn để phát triển thủy điện Trên địa bàn của tỉnh có các đầm hồ lớn như hồ Lắk (huyện Lắk), sông Sêrêpôk có trữ lượng thủy điện khoảng 2.636 triệu KW Hiện tại có 23 công trình thuỷ điện nhỏ đã được đầu tư xây dựng với tổng công suất lắp máy 14.280KW đang hoạt động Các công trình thủy điện lớn là Buôn Kuốp 280 MW và Buôn Tua Srah 86 MW đã được khởi công xây dựng

Trong những năm qua, Đắk Lắk cũng như các tỉnh Tây Nguyên khác được Nhà nước quan tâm đầu tư thông qua các Quyết định 168, 135 và nhiều

Trang 22

2005 - 2010 đạt 12,1%/năm Quy mô nền kinh tế tăng mạnh, năm 2010 tổng GDP đạt 12.810 tỉ đồng, gấp 1,7 lần so với năm 2005 Thu cân đối ngân sách trên địa bàn tăng nhanh, bình quân đạt 23,94%/năm; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 10% (theo tiêu chí cũ) Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm đạt khoảng 29.436

tỉ đồng, bằng 31,8% GDP, tăng 28,46% so với kế hoạch Các chương trình, đề án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ngày càng có trọng tâm, trọng điểm hơn,

đã góp phần làm thay đổi diện mạo đô thị và nông thôn Riêng năm 2011, tốc

độ tăng trưởng GDP đạt 13%; thu ngân sách trên 3.500 tỉ đồng; bình quân thu nhập đầu người đạt trên 21,5 triệu đồng/năm

Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội khác của Đắk Lắk cũng còn ở mức thấp

so với bình quân chung toàn vùng Một trong những nguyên nhân hiện nay và

cả trong giai đoạn tới là quy mô dân số tăng nhanh do nhân dân kinh tế mới và di dân tự do

Du lịch tỉnh Đắk Lắk: Cảnh quan của Đắk Lắk có vẻ đẹp tự nhiên, đa

dạng, phong phú, thơ mộng và hùng vĩ với cấu tạo địa hình, thể hiện sự hòa hợp của những dòng sông xen lẫn núi đồi ao hồ, ghềnh thác và những khu vực rừng nguyên sinh, tạo nên những thác nước đẹp nổi tiếng, quanh năm mịt mờ sương khói như thác Thủy Tiên, Bảy Nhánh,…Đắk Lắk có nhiều hồ lớn với diện tích hàng trăm héc ta như hồ Lắk, Ea Đờn,…phù hợp cho việc tổ chức

các hoạt động du lịch, đặc biệt là hồ Ea Súp thượng với diện tích 1440 ha

Trang 23

18

Đắk Lắk còn nổi tiếng với nhiều khu vườn nguyên sinh, khu bảo tồn thiên nhiên đã được quy hoạch như Vườn Quốc gia YokDon, Vườn Quốc gia Chư Yang Sin, khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô,…với nhiều loài động thực vật quí hiếm, đặc biệt là voi Đắk Lắk có nhiều di tích lịch sử văn hóa và cách mạng được du khách quan tâm, tìm hiểu như tháp Chăm Yang Prong, Biệt điện Bảo Đại, đình Lạc Giao, chùa sắc tứ Khải Đoan, nhà đày Buôn Ma Thuột, hang đá Ba Tầng, hang đá Đak Tuôr,…

Thu hút và gây ấn tượng mạnh mẽ cho khách du lịch đến Đắk Lắk không chỉ là những cảnh quan thiên nhiên kỳ thú mà còn bởi Đắk Lắk có một nền văn hóa truyền thống đặc sắc, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc Các lễ hội đua voi, lễ hội cồng chiêng và lễ hội cà phê đã được nhà nước công nhận và tổ chức đều đặn hàng năm như một giá trị truyền thống Đắk Lắk còn là một trong những cái nôi nuôi dưỡng Không gian văn hóa công chiêng tây Nguyên, được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu phi vật thể nhân loại

Trong lĩnh vực giáo dục: Công tác giáo dục - đào tạo được quan tâm

đầu tư, mạng lưới đào tạo nghề, giáo dục chuyên nghiệp phát triển như: Trường Đại học Tây Nguyên, trường Dạy nghề thanh niên dân tộc, trường Cao đẳng sư phạm, trường Trung học y tế, trường Công nhân kỹ thuật cơ điện xứng đáng là trung tâm đào tạo của Tây Nguyên Năm học 2008 -

2009, toàn tỉnh có 656 trường phổ thông với 12.856 lớp học, 20.261 giáo viên và 420.751 học sinh.Toàn tỉnh đã hoàn thành phổ cập tiểu học trước năm

2000 và đến hết năm 2006 có 100/175 xã phường, chiếm 57,14% được công

nhận phổ cập trung học cơ sở; toàn tỉnh có 54 trường đạt chuẩn quốc gia

Ngành giáo dục đào tạo được quan tâm đầu tư thích đáng và đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần nâng cao trình độ dân trí Năm 2000 Đắk Lắk

Trang 24

1.1.2 Sinh hoạt của cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Đắk Lắk và sự ảnh hưởng của nó đối với việc hình thành các giá trị văn hoá của dân tộc Êđê tỉnh Đắk Lắk

Đắk Lắk ngày nay là địa bàn giao lưu văn hoá của nhiều dân tộc anh

em và nhiều nhóm địa phương Tỉnh Đắk Lắk có 44 nhóm đồng bào dân tộc, chiếm khoảng 32% trong tổng số dân toàn tỉnh Trong đó Êđê, M’nông và J’rai là các tộc người tại chỗ hay tộc người địa phương chính, còn các tộc người khác di cư đến trong 30 năm qua, như Tày, Nùng, Mường, Dao, Thái và Mông Phần lớn các tộc người còn giữ lại di sản văn hoá riêng, tạo thành một mảng màu đặc sắc trong toàn bộ đời sống văn hoá Cao Nguyên Việt Nam, hay còn gọi là Tây Nguyên Tuy các tộc người không cư trú thành

Trang 25

20

những vùng riêng, song các dòng họ thường sống tập trung tại những địa bàn nhất định

Sinh sống chủ yếu trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, phải kể đến người Việt

Người Việt sống hầu hết ở các huyện thị, tập trung chủ yếu là ở các trung tâm

thành phố, thị xã, thị trấn và các trung tâm các xã trong các huyện trong tỉnh Ngay những năm 1912 - 1913, một số người Việt đã vượt qua các đồn binh pháp để lên Đắk Lắk buôn bán và kiếm sống Họ đã lập nên các làng Việt đầu tiên Làng Việt đầu tiên ở Buôn Mê Thuột được đồng bào dân tộc tại chỗ gọi là làng Lạc Giao Chính quyền thực dân Pháp đã hạn chế sự có mặt của người Việt tại Đắk Lắk Từ năm 1930, với sự phát triển của các đồn điền cao su, cà phê, người Việt từ các tỉnh phía Bắc vào làm phu tại các đồn điền khá đông Sau hiệp định Genève 1954, có khá đông người Việt là người công giáo di cư lên Đắk Lắk sinh cơ lập nghiệp Từ năm 1957, chính quyền Sài Gòn đã bắt buộc người Việt ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngải, Bình Định, Thừa Thiên Huế,…lên làm việc tại các khu dinh điền ở Đắk Lắk gọi là khu dinh điền Đắk Lắk 1 và khu dinh điền Đắk Lắk 2 Từ sau năm 1975 đến nay, người Việt ở Đắk Lắk góp phần không nhỏ vào sự phát triển về kinh tế - xã hội của Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng

Các lễ hội của người Việt ở Đắk Lắk thường gắn với sinh hoạt tôn giáo như các lễ hội đình, đền, chùa, nhà thờ Cho đến nay, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk có khoảng trên 45 ngôi chủa lớn nhỏ với các nghi lễ Phật giáo như lễ Phật đản với các sinh hoạt múa hát, múa lân dọc theo các phố, lễ phật thành đạo tổ chức vào mồng 8 tháng chạp, lễ vu lan tổ chức vào rằm tháng 7 âm lịch Hai lễ này tổ chức đơn giản, chỉ có làm lễ dâng hương, lục cúng Lễ tam nguyên gần đây mới được tổ chức, vào dịp tháng giêng, từ mồng 7 đến 15, các gia đình Phật tử đều làm lễ cầu an cho mọi người

Trang 26

21

Đền ở Đắk Lắk thường tập trung ở thành phố Buôn Mê Thuột như đền Thánh Mẫu, Vạn Kiếp, đền Lạc Thiện, đền Bảo Lộc…có hai loại đền: đền của các ngư dân có nguồn gốc ở Trung Bộ thường thờ Đức Văn Hương Thánh mẫu, các con nhang đệ tử của các đền thờ này thường là người Huế; bên cạnh

đó là đền của người Việt ở miền Bắc di cư tới, gồm các đền thờ Đức Thánh Trần, đền thờ Mẫu Liễu (đền Thánh Mẫu) lễ ở đây chủ yếu là lễ hầu đồng kiểu tứ phủ

Ngoài ra, tại khu vực cư trú của người Việt ở Đắk Lắk còn hình thành một hệ thống các nhà thờ, giáo xứ Tính đến nay, trên toàn tỉnh có khoảng trên 35 nhà thờ với một giám mục phụ trách giáo phận Đắk Lắk và thường xuyên có tới 12 linh mục làm việc đạo Các ngày lễ công giáo được tổ chức theo một sự chỉ đạo chặt chẽ với các lễ thường, lễ buộc, lễ chầu lượt, lễ phục sinh, lễ Thánh kính Đức mẹ, lễ rước thánh thể Các giáo xứ ở Đắk Lắk được phân thành hai hạt gồm hạt Buôn Mê Thuột, trong đó có giáo xú Krông Buk, Krông Păc, Krông Ana…hạt Quảng Đức gồm 6 giáo xứ nằm tại các huyện phía nam trong tỉnh

Tộc người thiểu số với dân số nhiều thứ hai ở tỉnh Đắk Lắk là người M’nông với dân số khoảng 38.298 người Người M’nông thuộc ngữ hệ Môn-

Khơme, địa bàn cư trú chủ yếu là các huyện phía Nam và dọc biên giới Tây Nam Nhóm Bahnar Nam, phân bố tập trung nhiều ở các huyện Lak, Krông Bông, Krông Nô, Buôn Đôn Người M’nông sống trong những ngôi làng mà

họ gọi là bon Mỗi bon có vài chục nóc nhà dài Rừng và đất bao quanh theo truyền thống phục vụ cho trồng trọt, săn bắt, khai thác gỗ, có ranh giới tự nhiên như suối, ao hồ v v Trong mỗi bon, còn có những đơn vị cư trú nhỏ hơn, ví dụ aluh (xóm) Cũng như người Êđê, người M’nông theo chế độ mẫu

hệ, những gia đình lớn sống chung trong một ngôi nhà, đứng đầu là một người phụ nữ Nếu người Êđê sống trong những ngôi nhà sàn thì người M’nông lại

Trang 27

22

sống ở những ngôi nhà trệt Trước đây người M’nông chủ yếu dựa vào luân canh ở vùng cao, nhưng trong những thập kỷ gần đây họ đã dần dần định canh trong sản xuất nông nghiệp, đa dạng hoá sản xuất lương thực như lúa, bắp hoặc đậu và còn trồng các loại cây công nghiệp như cao su, cà phê và hồ tiêu Ngày nay chăn nuôi trâu, bò, gia súc, heo, gà đóng vai trò quan trọng trong kinh tế hộ gia đình Tuy nhiên, thu nhặt lâm sản vẫn còn là nguồn lương thực truyền thống quan trọng Người M’nông nổi tiếng về truyền thống săn bắt và thuần dưỡng voi rừng Trước đây, voi được dùng để kéo gỗ, vận chuyển và săn bắt cũng như để lấy ngà Ngày nay, voi còn là con vật thu hút khách du lịch đến tỉnh Đắk Lắk Huyện Buôn Đôn đã trở thành trung tâm chính săn bắt và thuần dưỡng voi

Trong đời sống tinh thần của người M’nông có rất nhiều nghi lễ và lễ hội liên quan chặt chẽ đến vòng đời cũng như tập quán canh tác của họ Có nghi lễ lơ yang koih diễn ra trước khi trồng cây hay lễ tắm lúa khi cho lúa vào kho Thêm vào đó, còn có các nghi lễ chung, ví dụ nghi lễ lập bon mới hoặc bắt đầu mùa săn Y phục truyền thống của đồng bào phổ biến là các loại áo choàng, quần hoặc váy, áo chui đầu, khố được dệt bằng các hoa văn kim tuyến với các màu sắc cơ bản như đỏ, đen, xanh thẫm, trắng, tím Các hoa văn trang trí tương tự các hình vẽ động vật, hoa lá cách điệu

Người Jrai cư trú tập trung ở hai huyện Ea Sup và Ea hleo, và vùng

Ayaunpa, vùng lân cận tỉnh Gia Lai Ở Đắk Lắk, có khoảng 13.589 người J’rai Cũng như dân tộc Êđê, J’rai là một trong những tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo - Pholynesien, hệ Nam Đảo Xã hội J’rai theo chế độ mẫu hệ, đứng đầu gia đình là một phụ nữ Giúp việc cho bà có hội đồng dăm dei gồm những

ngựơi đàn ông là anh em cùng huyết thống phía mẹ với bà chủ nhà

Xưa kia, làng (plei hoặc plơi) được hình thành bởi một gia đình duy nhất Tuy nhiên, ngày nay, một số gia đình có thể sống chung trong một ngôi

Trang 28

23

làng do một hội đồng những người phụ nữ đứng đầu gia đình (phun sang)

quản lý Giống như người Êđê, địa điểm sinh hoạt cộng đồng của người J’rai thường diễn ra ở bến nước và trong ngôi nhà cộng đồng dài, gọi là nhà rông (sang rung) Cũng giống như hầu hết các tộc người Tây nguyên khác, nghi lễ đóng vai trò quan trọng trong xã hội J’Rai và được tổ chức thường xuyên vào giai đoạn chuyển tiếp từ mùa khô sang mùa mưa (tháng 4, tháng 5) và sau vụ gặt (tháng 11, tháng 12) Tha plơi là người đứng ra tổ chức và đại diện cho dân làng trong các sinh hoạt nghi lễ của cộng đồng Bên cạnh đó, mỗi làng J’rai đều có một số người làm nghề thầy cúng, làm trung gian giữa người và thần linh Đối với tất cả tộc người địa phương Tây Nguyên, âm hưởng cồng chiêng đi suốt vòng đời từ lúc sinh ra đến tuổi trưởng thành và cả khi về với thế giới ông bà Giai điệu chiêng J’rai, Êđê và M’nông du dương, trữ tình, âm trầm, nhiều tiết tấu làm nao nức không chỉ người dân ở buôn làng Tây Nguyên mà còn làm nao nức lòng người Tây Nguyên xa quê Cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là kiệt tác di sản văn hoá

Rượu cần là loại rượu uống phổ biết nhất của các cư dân bản địa Tây Nguyên Làm rượu cần và uống rượu cần đã trở thành phong tục có nguồn gốc lâu đời , thành nét văn hoá trong đời sống của họ Uống rượu cần là một nghi lễ thường để vinh danh khách Người có uy tín nhất trong buôn hoặc chủ nhà uống trước có ý nghĩa thông báo với mọi người rằng đây là một ché rượu ngon Sau đó khách mời danh dự rồi mới đến các thành viên khác trong cộng đồng thưởng thức ché rượu ngon

Đắk Lắk là tỉnh có nhiều dân tộc cùng chung sống, mỗi dân tộc có những nét đẹp văn hoá riêng Đặc biệt là văn hoá truyền thống của các dân tộc Êđê, M'Nông, Gia Rai, v.v… với những lễ hội cồng chiêng, đâm trâu, đua voi mùa xuân; kiến trúc nhà sàn, nhà rông; các nhạc cụ lâu đời nổi tiếng như các

bộ cồng chiêng, đàn đá, đàn T'rưng; các bản trường ca Tây Nguyên là

Trang 29

24

những sản phẩm văn hoá vật thể và phi vật thể quý giá, trong đó Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được tổ chức UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại Tất cả các truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc tạo nên sự đa dạng, phong phú

về văn hóa của Đắk Lắk

Từ sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng 1975, thực hiện chính sách xây dựng các vùng kinh tế mới, một số dân tộc khác ở miền Bắc đã có mặt trên vùng đất Đắk Lắk Đồng thời với các các cuộc di dân theo kế hoạch, sự

di dân tự do đến Tây Nguyên cũng diễn ra ồ ạt, mang tới một sắc thái văn hóa mới trên vùng đất này Vì vậy, không có gì đáng lạ, nếu trên cao nguyên Đắk Lắk, xen kẻ với các buôn làng của dân tộc thiểu số bản địa, chúng ta còn thấy

có những bản làng của người Thái, người Dao, người Tày, người Mường với những vết văn hóa riêng, độc đáo của mỗi tộc người Tuy nhiên các dân tộc ít người do điều kiện khách quan và chủ quan nên đời sống kinh tế còn khó khăn, một phần do sống rải rác ở nhiều nơi, ít tập trung, nên điều kiện bảo lưu văn hóa của dân tộc mình gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, đây đó vẫn thấy thấp thoáng những nét văn hóa riêng, độc đáo của các dân tộc đang sinh sống trên mảnh đất Tây Nguyên này Nó thực sự đóng góp phần cho bức tranh văn hóa các dân tộc bản địa trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk làm phong phú và đặc sắc hơn cho nền văn hóa đa dạng nơi đây

1.1.3 Đặc điểm đời sống của dân tộc Êđê với sự hình thành các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Êđê ở tỉnh Đắk Lắk

Đồng bào Êđê vẫn thường coi mình là Anak Êđê (người Êđê) Về tên gọi này có nhiều ý kiến khác nhau, có người cho rằng tên người Êđê là tên gọi một loại tre, những người sống trong rừng tre này tự gọi mình là Êđê; có ý kiến khác cho rằng Êđê được gọi theo tên một vị thần tối cao trong tín ngưỡng người Êđê là - điê và gọi trệt là Êđê; cũng có ý kiến cho rằng tên gọi này có

Trang 30

25

nghĩa là “người mới đến” từ hang đất Adrênh Ngoài tên Êđê ra đồng bào còn

có tên gọi là Rađê

Nguồn gốc của người Êđê: Người Êđê có hai hệ ngôn ngữ chính là hệ Môn - Khơme và hệ Nam Đảo Trong đó các dân tộc Banah, Xêđăng,, M’nông, K’ho… thuộc hệ ngôn ngữ Môn - Khơme Các dân tộc chăm, Êđê, Giarai, chữ… thuộc hệ ngôn ngữ Nam Đảo hay còn gọi là hệ ngôn ngữ Malayo - polynexia Vùng hình thành ban đầu của ngôn ngữ là hệ Anhđônêdiêng Người Êđê xưa kia vốn là dân cư Malayo - Polynexia được hình thành ở vùng Đông Nam ven biển Quảng Đông - Trung Quốc và giữa thiên niên kỷ thứ II trước công nguyên Với sự biến chuyển về kinh tế văn hoá cùng với sự phát triển dân số mỗi ngày một tăng dẫn đến sự di cư đến vùng Đông Nam Á theo hai con đường

Con đường thứ I: Dọc theo bờ biển Trung Quốc sang Đài Loan đến Philipin.Con đường thứ II: Qua Đài Loan sang Philipin rồi từ đó xuống Indonexia và sang Đông Dương Cả bộ dân cư to lớn di cư tiến vào miền Trung Việt Nam từ biển và hìng thành nhóm dân cư Nam Đảo khá hùng mạnh Sau khi đổ bộ vào miền trung qua đường biển, cùng với thời gian và sự ảnh hưởng của nền vă hoá Ấn độ, một bộ phận lớn tiếp nhận nền văn hoá Ấn

độ và lập nên một nước Chăm Pa hùng mạnh (mà dấu vết văn hoá đó ngày nay vẫn còn tồn tại khắp khu vưc miền trung) đủ để di chuyển và lấn át các cư dân tồn tại trước Sức mạnh của văn hoá Chăm đã đẩy lùi bộ tộc còn lại (không chấp nhận văn hoá Ấn) lên vùng phía tây trường sơn (tức vùng Gia Lai và Đắk Lắk ngày nay) Trong quá trình thay đổi để phù hợp với môi trường sinh sống, người Êđê bỏ dần những tập quán của vùng biển hoà hợp với môi trường mới Tuy vậy đến ngày nay người Êđê vẫn còn lưu giữ những dấu ấn văn hoá về nguồn gốc của mình như môtíp ngôi nhà dài, mái nhà rông, cầu thang công hình mũi thuyền, các hình tượng nhà mồ…

Trang 31

Nói đến nông nghiệp nương rẫy thì bất cứ ở đâu, chọn đất sản xuất là khâu quan trọng hàng đầu Những sườn núi có rừng già hoặc các triền đồi đất

đỏ ba zan là nơi người Êđê thường tìm đến nhất Tùy theo vùng, việc làm nương rẫy được tiến hành theo điều kiện và truyền thống riêng Các nhóm người Êđê nói chung thường khai phá ở những vùng đất bằng phẳng, cạnh sông, suối và khe nước, riêng ở phía tây làm nương trên những cánh rừng Xa Van gọi là Hma Hdrah, còn ở vùng trung tâm tỉnh lại làm nương trên các đồi tranh Rừng Xa Van, Hdrah, hoặc rừng tranh với những cây to sợi, những cây bla, cây knung, trên mặt đất lại có nhiều phèn, giun, một chứng về độ ẩm cao và sự màu mỡ của đất đai, được người Êđê coi là những nơi trồng trọt Khi khai phá những khu đất như vậy, đồng bào rất quan tâm đến việc bảo vệ rừng, tránh biến tất cả thành đồi trọc và hủy diệt giun đất Thường thì bên cạnh những đám nương rẫy đang canh tác vẫn còn những vạt đất nhiều cây, đồng bào coi đó là biện pháp chống xói mòn quan trọng là cũng để có cây cối dùng trong sinh hoạt, cũng như trong công nghệ Từ lâu đồng bào đã ý thức rằng:

“cây cối nuôi sống con người” Trong luật tục của dân tộc Êđê cấm, hạn chế việc chặt cây các loại cây to như ktông kdjan là những cây thường có tổ ong làm tổ hoặc cây hrao (dầu rái), gier (sao) là những cây thường làm áo quan Luật tục xử nghiêm các vụ chặt cây to không đúng quy định của tập quán, cũng như các vụ làm cháy rừng Làm cháy buôn càng là một trọng tội, thủ

Trang 32

kể Đồng bào ít khi đánh luống mà chỉ bới đất thành những khe nhỏ, dùng các đoạn dây khoai ngắn đặt xuống khe đất rồi lấp lại Trồng các loại bầu, bí, dưa…thì hạt giống được, trộng với lúa giống để gieo cùng một lúc Qủa bầu non thì được dùng làm thức ăn, lúc già thì vỏ được dùng để làm đồ đựng, nên được trồng nhiều Mặc dù trên mọi vùng của Đắk Lắk đều có đất đai thuận lợi cho sự phát triển các loại cây họ đậu (đậu tương, đậu xanh, đậu xanh, đậu đỏ…), lạc, nhưng trước đây đồng bào ít trồng Được trồng phổ biến chỉ có một hai loại đậu nhỏ, hạt nâu, nhưng diện tích hằng năm không đáng kể

Người Êđê còn trồng xen canh cây bông với cây lúa Hạt bông cũng được trộn vào lúa giống gieo hạt trong cùng một lúc cuối tháng 4 và trong tháng 5, tuy bông thu hoạch sau lúa Từ lâu cây bông đã có vị trí trong đời sống người Êđê Trong lễ Kăm Bun, lễ cúng trước khi trỉa lúa, hạt bông được deo trên mảnh đất nhỏ độ một mét vuông tượng trưng cho việc gieo trồng, tại chỗ cúng, thay cho lúa, nhằm cầu mong mùa vụ tốt

Ở đây đồng bào đã ý thức được rằng, việc trồng xen canh với lúa những cây trồng khác là để tận dụng khai thác đất đai, làm cho đất tốt và có thêm

Trang 33

28

nhiều sản phẩm, mặt khác là để tiện chăm sóc và bảo vệ các loại cây trồng

Đó cũng là phương pháp canh tác và việc sử dụng sức lao động, phổ biến hầu hết ở các cư dân làm nông nghiệp nương rẫy ở nước ta và các nước Đông Nam Á, lại trong quá trình chăm sóc nương rẫy, đồng bào cần có thực phẩm ngay tại chỗ Sau khi trồng trỉa, việc bảo vệ nương rẫy được chú ý hằng ngày

Làm cỏ lúa vào tháng 7, tháng 8, đối với những nương trên sườn núi, chỉ trồng trọt một hai năm, cỏ ít và làm cỏ không năng nhọc và tốn nhiều công, nên người Êđê chỉ dùng Wăng (cuốc nhỏ) xới hoặc dùng kgă phát Nhưng trên những nương bằng đã trồng nhiều năm, việc làm cỏ đòi hỏi cần cẩn thận hơn, thường phải làm cả hai đợt mà cả nữ và trẻ em đều phải tham gia mới có thể làm xong nhanh chóng

Trong quá trình thu hoạch, người ta chú trọng lấy những bông lúa, nhiều hạt, hạt đầy đặn đem làm giống Chẳng hạn như giống lúa Bla ma do quá trình lựa chọn lâu ngày là giống lúa được ưa thích gieo trồng ở nhiều vùng người Êđê sinh sống, bông lúa có nhiều hạt Các giống lúa nương của đồng bào có nhiều loại mà ở mỗi vùng, mỗi nhóm người có những giống lúa phổ biến riêng Còn các giống lúa thường được gieo trồng ở người Êđê là Mdie Bla, Mdie Hrô, Mdie Kuôn, Mdie Wiêt, Mdie Kni, Mdie Mta Bao, Mdie Bliêt, Mdie Kê Những giống lúa này phù hợp với quá trình sinh trưởng của

nó trên đất khô, lối canh tác thô sơ và phương pháp áp dụng những kỷ thuật trồng trọt tiên tiến Bên cạnh những giống lúa tẻ cơm dẻo, còn nhiều loại nếp đen, đỏ, trắng Có giống lúa tẻ được gọi là lúa thơm, vì cơm tráng thơm và rất được đồng bào ưa trồng

Các giống ngô ít loại hơn giống lúa, và cũng có những loại nếp và tẻ được du nhập từ ngoài vào và đồng bào đã quen trồng Đó là các loại giống: Western Yellow (bắp Mỹ, bắp trai, bắp đầu trâu), bắp thái, bắp Guatemala (bắp trắng, bắp ong sáp, bắp óc…), bắp sữa, bắp chai, bắp Miên…Đồng bào

Trang 34

29

thường trồng bắp vào tháng 4, thu hoạch vào tháng 7 Nhiều giống bắp to, nhiều hạt, chịu nắng, cây cứng, có năng suất cao Ngô là lương thực quan trọng hàng đầu khi thiếu đói hàng năm

Đối với đồng bào Đắk Lắk trừ những nương được sử dụng liên tục trong nhiều năm còn dốc chỉ dùng 1 năm hoặc 2, 3 năm rồi bỏ hoá, vì vậy họ cần phải có trên 10 đám nương khác nhau Nương được sử dụng lần lượt từ mảnh thứ nhất đến mảnh cuối cùng Với chế độ luân khoảnh, đất đai, dù là loại bỏ hoá vẫn thuộc về những người chủ nhất định Và do nương rẫy thường chỉ tập trung trong một khu vực ổn định, do đó người ta cũng dễ dàng định cư trên một địa diểm lâu dài

Ở Đắk Lắk, công cụ sản xuất của cư dân nông nghiệp nương rẫy cũng như ở cư dân ruộng nước thường giống nhau, ít kiểu loại, nhưng độc đáo Điều đó cho thấy khi canh tác ruộng nước còn thô sơ thì nhu cầu về công cụ không khác lắm so với nhu cầu trong sản xuất nương rẫy Ở họ phổ biến chỉ

có rìu, kgă, Wăng Briêng, Wăng Wít, gậy chọc lỗ, ống đựng thóc giống để tra lúa và các giống cây trồng khác, cào, gùi, giỏ suốt lúa…Trong lịch sử sản xuất nông nghiệp trên thế giới, nếu các nhà nghiên cứu khẳng định về sự tồn tại của hình thái nông nghiệp cuốc thì ở Việt Nam không nơi nào vai trò của cuốc lại quan trọn đối với sản xuất như vùng đất Tây Nguyên này Và hình thái nông nghiệp cuốc mang đầy đủ ý nghĩa của nó có thể thấy ở người Êđê

Người Êđê dùng Hwar, một loại cào đứng giống như cái chổi, để cào

cỏ Hwar là một thanh tre dài khoảng 1,50 mét, một đầu chẻ thành 6 hay 8 nan Các nan đó làm xoè ra thành hình quạt, được cố định bằng một miếng gỗ

có các lỗ để các nan đó xuyên qua, rồi buộc thêm lạt

Gậy chọc lỗ là công cụ chủ yếu để chọc lỗ tra hạt Khi tra hạt đồng bào dùng một khúc lồ ô dài khoảng 1 mét mà người Êđê gọi là Đinh Nuk, đựng thóc giống để tra vào hốc Tuy chỉ là những công cụ đơn giản, nhưng sau khi

Trang 35

30

tra lúa xong, người ta cũng đem về nhà, để năm sau lại dùng Dụng cụ gặt, đồng bào dùng liềm, cũng giống như liềm của các dân tộc khác thường dùng Những hoạt động sản xuất kinh tế của người Êđê không tách rời sự phát triển ngành nghề thủ công mà sự hoạt động của nó tuy còn phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, nhưng đã sản xuất được nhiều công cụ sản xuất, trong đó vị trí hàng đầu là nghề rèn Lò rèn có ở khắp nơi, trong mỗi buôn làng đều có 2, 3 người biết rèn, có thể rèn ra rìu, kgă, dao vót nan, liềm,…những mũi lao dùng cho săn bắn, đánh cá Cùng với việc rèn công cụ sản xuất, đồng bào còn biết nghề làm bát đồng, người Êđê gọi là Mtil, dùng trong đời sống hằng ngày và làm lễ, đồ trang sức, vòng cổ, vòng tay, nhẫn, khuyên tai…với một số lượng khá lớn Mọi người đều đeo vòng tay Vòng tay được dùng trong nhiều nghi

lễ của đời sống cưới xin, kết nghĩa anh em, cùng sức khoẻ Và là dấu hiệu của sự xung đột giữa các buôn, khi vòng tay được buộc cùng với than, ớt treo trên cột cắm ở cổng buôn

Nói đến nghề thủ công của các dân tộc ít người nói chung và dân tộc Êđê nói riêng ở tỉnh Đắk Lắk nói chung không thể không đề cập đến nghề dệt vải, nhuộm vải mà đồng bào, nhất là phụ nữ thường tốn rất nhiều công sức Qúa trình làm ra vải mặc cũng tương tự như cách làm của các dân tộc khác Đồng bào cũng cần đến bông, kéo sợi, dệt và nhuộm,…Sự khác nhau chỉ ở trình độ kỷ thuật, dụng cụ tốt hay xấu

Đối với cư dân, đất đai và nguồn nước là cơ sở của nguồn sống vật chất và cũng là cơ sở trực tiếp của nhiều mặt đời sống tinh thần Vào tháng 2 hay tháng 3 hàng năm, người Êđê thường làm lễ cúng bến nước gọi là Tuk pin Ea hay Tring Ea Ngày cúng, trước hết đồng bào làm vệ sinh buôn, dọn bến và sửa soạn lại máng nước sau đó là mổ lợn hay trâu cúng các thần: Thần đất, Thần nước, Tổ tiên (yang atâu), thần núi Tất cả mọi người, người già và trẻ con đều tham gia, cầu mong các thần phù hộ cho dân buôn được yên lành,

Trang 36

31

mùa màng tốt Lễ cúng được tiến hành ở bến nước, ở nhà và sau nhà chủ buôn (Khoa Pin Ea) vào giữa trưa, mỗi nơi do hai thầy cúng tiến hành Vật cúng xưa kia là lợn hay trâu đều do chủ buôn đưa ra, và sau này do buôn góp vào

để lễ cúng được diễn ra suôn sẽ và long trọng hơn

Trong sản xuất và đời sống, vào tháng 2, 3 ở vùng người Êđê, khi bắt đầu phát nương, có lễ cúng thần gió gọi là Kăm Angin, đến tháng 4, lúc bắt đầu xới đất, chuẩn bị trồng trỉa, đồng bào làm lễ cúng Kăm Hwar, Hwar tiếng Êđê là cái cào cỏ, cuối tháng 4 đầu tháng 5, trước khi có mưa liên tục là thời

kỳ bắt đầu trỉa lúa, người Êđê lại cúng, bắt đầu một khâu quan trọng khác của sản xuất Ở người Êđê, lễ cúng này họ gọi là Kăm Buh Buh nghĩa là trồng trỉa Dân buôn góp nhau lợn gà làm lễ cúng ở nơi đã cúng Kăm Angin hay Kăm Hwar, mong cho lúa mọc đều

Vào tháng 11, 12 sau khi thu hoạch, đồng bào tổ chức ăn cơm mới, người Êđê gọi là Hma Ngắt Trong lễ này đồng bào lấy trứng gà hoà rượu vào

để vào kho lúa Trong tháng 12, sau khi thu hoạch xong, là dịp đồng bào ăn mừng vụ mùa mà người Êđê gọi là Mnăm Thun, lễ kéo dài hành tháng, giống như các dân tộc anh em nước ta ăn tết nguyên đán, kéo dài 7 ngày, mỗi ngày

mổ một con trâu, một con lợn, ăn uống, ca hát, và đánh chiêng trống liên tục không ngừng trong những ngày lễ ấy

Ngoài các lễ cúng chủ yếu trên, khi gặp nắng hạn kéo dài, sâu phá lúa chết nhiều, đồng bào đều làm lễ cúng, mong tai qua nạn khỏi, lúa được phát triển bình thường Ở các nghề sản xuất khác như rèn sắt, đóng thuyền độc mộc, nung đồ đất, việc cúng bái cũng được đồng bào hết sức chú ý và coi trọng Nhìn chung do sự chi phối của nhiều mối quan hệ xã hội, phần lớn những nghi lễ nông nghiệp của người Êđê đều mang tính tập thể của đa số người dân sống trong buôn làng Trong quá trình sản xuất đồng bào tin vào các vị thần nên đồng bào cầu cúng, nhưng ý thức chủ yếu vẫn là mong muốn

Trang 37

32

mùa màng bội thu, cuộc sống tốt đẹp Vì vậy cách cúng rất giống với những hoạt động hàng ngày và những nhận thức về tự nhiên, xã hội đã hình thành trong quá khứ mang tính chất của quá trình văn hoá dân tộc

Người Êđê quan niệm một năm có bốn mùa: mùa xuân (yan mga), mùa

hè (yan phang), mùa thu (yan chan), mùa đông (yan pul), nhưng quan điểm đó vẫn chưa rõ ràng thống nhất, ở nhiều nơi đồng bào chỉ tính một năm có hai hoặc ba mùa Trong khi đó, đối với sản xuất thì mùa đông việc được tính cụ thể hơn Những việc thuộc về sản xuất nông nghiệp được quy thành mùa công việc, mùa nọ tiếp mùa kia theo thời gian

Sản xuất nông nghiệp nương rẫy và ruộng nước chiếm vị trí hàng đầu trong cuộc sống của đồng bào Êđê, nên đã chi phối toàn bộ hoạt động của đồng bào trong một năm Các nghề thủ công gia đình, những hoạt động kinh

tế khác, cũng giống như các hoạt động của đời sống xã hội và tinh thần tuy cũng rất quan trọng, được đồng bào quan tâm, nhưng cũng chỉ là những việc được làm vào mùa khô, khi sản xuất nương rẫy chưa bắt đầu Vì vậy nhìn chung toàn bộ hoạt động sản xuất kinh tế - xã hội của đồng bào còn chịu sự chi phối khá nhiều vào thời tiết gồm hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa

Các quan hệ xã hội trong cộng đồng dân tộc Êđê ở tỉnh Đắk Lắk

Trước đây do sự lạc hậu về kinh tế - xã hội nên người Êđê những quan

hệ xã hội truyền thống đã được duy trì lâu dài Những quan hệ xã hội dựa trên nền nông nghiệp nương rẫy không cho phép đạt tới trình độ phát triển cao hơn như đã thấy Người Êđê là một trong những cư dân được nhiều các học giả phương Tây gọi là các dân tộc mẫu hệ Cách gọi này chứng tỏ những tàng tích của các quan hệ thị tộc mẫu hệ còn lại khá nhiều và rõ nét, và có thể nói một cách tổng quát rằng, giai đoạn phát triển tộc người của người Êđê trước cách mạng tháng tám và giai đoạn tan rã của các quan hệ công xã nguyên thuỷ và sự phát triển các quan hệ công xã nông thôn Qúa trình tan rã của xã hội công xã

Trang 38

33

nguyên thuỷ chiếm một thời kỳ lịch sử lâu dài cùng với xã hội có giai cấp chưa hình thành mà mới chỉ trên bước đường phân hoá dưới tác động của những nhân

tố kinh tế - xã hội thời cận đại Chế độ tư hữu xuất hiện, sự phân hoá tài sản đã

rõ ràng và bắt đầu có sự chiếm đoạt của một số người với hình thức bóc lột sơ khai trong khi quan hệ sở hữu tập thể còn chi phối mạnh mẽ Những cuộc phân công lao động lần hai và lần ba hầu như chưa xảy ra, nhưng quan hệ mua bán trong nội bộ cư dân địa phương cũng như đối với bên ngoài từ lâu đã xuất hiện Thị tộc phụ hệ và những thiết chế gắn liền với nó chưa ra đời rõ nét, song thị tộc mẫu hệ tan rã và xã hội nguyên thuỷ đã nhường bước cho công xã nông thôn

Có thể nói, toàn bộ xã hội Êđê được phân thành những đơn vị cơ sở là buôn Buôn được phân bố rải rác khắp miền cao nguyên đất đỏ, nhất là vùng trung tâm và dọc vùng có các trục giao thông đi qua Hầu hết các buôn này đều trải qua nhiều lần xây dựng lại Buôn nhỏ thường có vài chục hộ, buôn lớn thì có đến hàng trăm hộ dân sinh sống, với những nhà dài ngắn không đều nhau, xếp thành từng dãy theo đường Nhưng vẫn có nhiều buôn vẫn giữ được hình dáng xa xưa của nó do ít bị xáo trộn với nhà ở thường được phân bố theo kiểu mật tập Trước đây, mỗi buôn đều được rào kỹ bằng cách trồng tre và có cổng ra vào, thậm chí có những buôn được rào tới hai ba lớp, do đề phòng thú

dữ và chống lại các cuộc xung đột, cướp phá lẫn nhau giữa các buôn Bên cạnh đó, để “bảo vệ” buôn nhiều nơi đồng bào còn trồng trên các lối mòn dẫn tới buôn những loại cây cỏ làm bùa yểm và thường là cây ngãi cứu Mỗi buôn, đối với buôn của ngưòi Êđê thì bến nước là nơi sinh hoạt của cộng đồng hàng ngày và có vị trí rất quan trọng trong đời sống của đồng bào, đây cũng là nơi tiến hành làm lễ cúng hàng năm vào đầu xuân khi công việc sản xuất bắt đầu được tiến hành, nên rất được chú ý và giữ gìn Tuy vậy, buôn đối với đồng bào quanh năm sống vì nương rẫy, vì chăm sóc rẫy hoặc có khi phải chuyển cư theo rẫy, nên ít thấy những mảnh vườn trồng rau, cây ăn quả,

Trang 39

34

những đám cây cổ thụ xum xuê mà nhiều khi buôn đượ c dựng ngay trên gò, trên bão bằng trơ trụi Còn buôn của các nhóm người định cư làm ruộng nước, thì trái lại, có thể thấy những mảnh vườn nhỏ cạnh nhà với những loại cây trồng cần thiết hàng ngày cho đồng bào Như vậy, buôn người Êđê là những đơn vị sinh hoạt xã hội Mỗi buôn thường có từ 20 đến 50 nhà, dân số trung bình của mỗi buôn của dân tộc Êđê là 496 người [17, 29]

Hợp thành buôn là những gia đình, trong đó có thể thấy hơn là những gia đình mẫu hệ Còn tiểu gia đình đang phôi thai trong lòng đại gia đình do những biến động về kinh tế - xã hội và tư tưởng gây ra Các gia đình trong buôn đều có quan hệ hữu cơ với nhau hoặc về thân tộc hoặc ở mức độ gần xa khác nhau, do đó nhìn chung các thành viên trong buôn đều có quan hệ thân thuộc, làm cho mối quan hệ cộng đồng được duy trì khá bền vững Trước đây, trong các buôn của đồng bào Êđê, những gia đình cùng một giòng họ thường

cư cú gần nhau trên một khu vực tương tự như tông tộc xã hội phụ quyền với trưởng họ và lai lịch dòng họ cùng những tập tục nhất định trong sinh hoạt gia đình Song về sau, mối quan hệ thân thuộc trong cư trú như thế đã bị phá vỡ, các gia đình có chung một giòng họ thường sống xen kẽ với các gia đình thuộc các giòng họ khác, khi quan hệ, cộng đồng trở nên phát triển Tính cố kết của một gia đình trong một buôn dựa vào cơ sở vững chắc của nó là nền sản xuất vật chất mà không gian sinh sống là điều kiện quan trọng hàng đầu

Quan hệ giúp đỡ lẫn nhau giữa những người trong buôn có vai trò quan trọng trong đời sống nhưng cũng mang những dấu vết của chế độ phân phối bình quân xưa còn để lại khá rõ nét Trong một số nghi lễ có liên quan đến trồng trọt, ngoài việc mời bà con đến ăn uống vui chung, chủ nhà còn chia cơm nếp, thịt cho tất cả mọi gia đình trong buôn, dù chỉ là một nắm cơm hay một phần thịt nhỏ Vào những dịp mổ lợn hay thịt trâu, đồng bào càng không quên chia chia phần cho các gia đình khác

Trang 40

35

Ở người Êđê những người giàu được phân biệt thành các loại khác nhau: Mdrong Prong, Mdrong Na (Mtao, Mting) và Mdrong Pước Xang, còn người nghèo là Bun Rin và người nghèo nhất là Bun Rin Táp, thể hiện trình

độ khác nhau của sự phân hoá xã hội Trong cư dân của người Êđê còn có tầng lớp người nữa cũng có vai trò to lớn trong sinh hoạt xã hội là những thầy bói, thầy cúng, người làm tư vấn và người xử kiện Cũng như thường dân, những người này vẫn tự lao động sản xuất để sinh sống, đồng thời làm thêm những việc mà quần chúng trong buôn và chủ buôn đòi hỏi Đồng bào cúng bói không chỉ lúc ốm đau, dịch hoạ mà cả lúc xử kiện và lúc làm một việc gì

đó quan trọng trong đời sống

Lớp người đông đảo nhất trong cư dân người Êđê vẫn là nhân dân lao động, những người được coi là tự do của công xã (Engiê) Người nông dân và gia đình họ có cơ sở kinh tế riêng, nhà ở riêng, tiến hành sản xuất theo tập thể gia đình có quan hệ cộng đồng với toàn dân của buôn trong sản xuất, sinh hoạt và giữ gìn an ninh, cùng chịu sự lãnh đạo của người đứng đầu buôn

Đứng đầu buôn là Khoa Buôn, Khoa Pin Ea - người thường được gọi là chủ bến nước, là người đứng đầu buôn Sự thực thì Khoa Pin Ae ngoài chức năng quản lý bến nước ăn, còn có nhiệm vụ quan trọng hơn là quản lý, điều hành các công việc của buôn về mọi mặt, sản xuất, dân chính, quan sự, thần quyền và các quan hệ với bên ngoài Trước đây do nắm được tập quán pháp Khoa Pin Ea chỉ làm nhiệm vụ tổ chức cúng bến nước vào mùa xuân, nhưng thực tế không chỉ cúng mà còn chỉ đạo các quan hệ sản xuất

Chức Khoa Pin Ea do một gia đình hay một dòng họ của buôn đảm nhiệm và được kế thừa theo dòng nữ Song những người trực tiếp nắm giữ chức vụ này không phải là người đàn bà mà là người đàn ông, chồng của một trong số những người đàn bà của gia đình hay giòng họ đó Người thực sự nắm chức vụ này là người vợ của người đương chức, còn người chồng có thể

Ngày đăng: 11/05/2021, 21:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w