Luận văn
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiệnnay thì vấn đề củng cố và phát huy hơn nữa vai trò chủ đạo của thành phầnkinh tế Nhà nước, mà điển hình là các Tổng công ty Nhà nước, là nhiệm vụkhó khăn nhưng hết sức cần thiết Sự đòi hỏi này xuất phát từ việc kinh tế nhànước luôn được Đảng và Nhà nước xác định là lực lượng vật chất quan trọng
và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Vấn đềnày đã trở thành một tất yếu khách quan như Nghị quyết Đại hội lần thứ IX củaĐảng đề ra: “Xây dựng các Tổng công ty Nhà nước đủ mạnh để làm nòng cốttrong những tập đoàn kinh tế lớn, có năng lực cạnh tranh trên thị trường trongnước và quốc tế; từng bước hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh” Thựchiện chủ trương của Đảng, một số Tổng công ty Nhà nước trong những ngànhthen chốt sau khi được cổ phần hoá, sắp xếp lại đã hoạt động rất có hiệu quả vàđóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân tạo tiền đề cho
sự ra đời của một số tập đoàn kinh tế nhà nước mạnh theo mô hình công ty mẹ
- công ty con Bên cạnh đó cũng là sự xuất hiện của không ít các doanh nghiệp
có quy mô tương đối lớn thuộc hình thức sở hữu tư nhân hoạt động theo môhình tập đoàn kinh tế
Cùng với sự phát triển về quy mô và số lượng thì vấn đề nâng cao hiệuquả quản lý đối với các tập đoàn kinh tế Việt Nam được đặt ra như một đòi hỏicần thiết Trong đó, sử dụng công cụ kế toán - một công cụ quan trọng của hệcông cụ quản lý kinh tế cần phải được nghiên cứu, tổ chức hợp lý và khoa học,vận dụng vào thực tiễn đạt hiệu quả cao nhất Tuy nhiên trên thực tế, việc quản
lý tập đoàn kinh tế ở nước ta thông qua công cụ kế toán còn nhiều bất cập,chưa đi vào nề nếp Đặc biệt là vấn đề tổ chức công tác kế toán, vấn đề cungcấp thông tin kế toán tài chính và kế toán quản trị phục vụ cho công tác quản
trị trong các tập đoàn kinh tế Do đó, nghiên cứu đề tài “Tổ chức công tác kế toán ở các tập đoàn kinh tế Việt Nam theo mô hình công ty mẹ - công ty con” là vấn đề vừa có ý nghĩa về mặt lý luận, đồng thời là vấn đề mang tính
Trang 2thời sự cấp thiết, giúp cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý vàcác tập đoàn kinh tế vận dụng vào thực tiễn, nghiên cứu, hoạch định chínhsách, quản lý trong quá trình phát triển nền kinh tế nói chung và phát triển tậpđoàn kinh tế nói riêng.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở phân tích lý luận, khái quát hoá về mặt phương pháp, luận án
sẽ làm rõ tính tất yếu khách quan của việc hình thành và phát triển các tập đoànkinh tế theo mô hình công ty mẹ - công ty con cũng như ý nghĩa của tổ chứccông tác kế toán trong các tập đoàn kinh tế theo mô hình công ty mẹ - công tycon Luận án vận dụng những vấn đề lý luận vào thực tiễn nhằm góp phầnhoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các tập đoàn kinh tế Việt nam, một
mô hình đang trở thành tất yếu của quá trình phát triển nền kinh tế thị trường ởnước ta hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận án không đề cập toàn bộ những vấn đề thuộc về mô hình tập đoànkinh tế nói chung mà tập trung nghiên cứu những vấn đề về mặt lý luận và thựctiễn về tổ chức công tác kế toán tài chính phục vụ lập BCTC, đặc biệt làBCTCHN và tổ chức kế toán quản trị tại công ty mẹ của các tập đoàn kinh tếViệt nam theo mô hình công ty mẹ - công ty con hiện nay Phân tích, đánh giánhững ưu điểm và hạn chế của việc tổ chức công tác kế toán nhằm tăng cườngcông tác quản trị tập đoàn kinh tế
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
- Luận án đã hệ thống hoá và phân tích những vấn đề lý luận cơ bản vềtập đoàn kinh tế và tổ chức công tác kế toán trong các tập đoàn kinh tế như vaitrò, đặc điểm của tập đoàn kinh tế, đặc điểm tổ chức quản lý ở tập đoàn kinh tếcũng như nguyên tắc, nội dung tổ chức công tác kế toán ở các tập đoàn kinh tế.Đồng thời, luận án nghiên cứu kinh nghiệm về tổ chức công tác kế toán trongcác tập đoàn kinh tế ở một số nước phát triển để từ đó rút ra những bài học hữuích cho Việt nam trong tổ chức công tác kế toán đối với các tập đoàn kinh tế
- Trên cơ sở khảo sát thực trạng về tổ chức công tác kế toán trong cáctập đoàn kinh tế thuộc các lĩnh vực kinh doanh, các thành phần kinh tế khác
Trang 3nhau, luận án đã đánh giá khách quan về thực trạng tổ chức công tác kế toántrong các tập đoàn kinh tế Việt Nam trên cả góc độ về tổ chức kế toán tài chính
Trang 4Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ VÀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN Ở CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ THEO MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON
1.1 TÍNH TẤT YẾU CỦA SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ THEO MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CÔNG
TY CON
1.1.1 Quan niệm về tập đoàn kinh tế
Quan niệm về tập đoàn kinh tế và nhận diện về loại hình tập đoàn kinh tế
là rất đa dạng Tập đoàn kinh tế ở các nước khác nhau được gắn với những tên
gọi khác nhau Nhiều nước gọi là group hay business group, Ấn Độ dùng thuật ngữ business houses, Nhật Bản gọi là keiretsu, Hàn Quốc dùng từ chaebol, Trung Quốc dùng thuật ngữ tập đoàn doanh nghiệp…Sự đa dạng về tên gọi
hay thuật ngữ sử dụng nói lên tính đa dạng của hình thức liên kết được kháiquát chung là tập đoàn kinh tế
Quan niệm về TĐKT có sự thay đổi và khác nhau theo thời gian, điềukiện, trình độ phát triển kinh tế, sự phân công chuyên môn hoá, hợp tác hoágiữa các doanh nghiệp, cách tiếp cận và mục tiêu quản lý ở mỗi nước Điều đó
lý giải vì sao cho đến nay không có định nghĩa thống nhất về tập đoàn kinh tế
Tập đoàn kinh tế có thể được nhận thức như là “một tổ hợp các công tyđộc lập về mặt pháp lý gồm một công ty mẹ và nhiều công ty hay chi nhánhgóp vốn cổ phần chịu sự kiểm soát của công ty mẹ Hoặc đó là một tập đoànkinh tế và tài chính gồm một công ty mẹ và các công ty khác mà công ty mẹkiểm soát hay tham gia góp vốn, mỗi công ty con cũng có thể kiểm soát cáccông ty khác hay tham gia tổ hợp khác” [19]
Tập đoàn kinh tế cũng có thể được hiểu là “tổ hợp các công ty có tư cáchpháp nhân, có mối liên kết với nhau về tài chính, công nghệ, thị trường và cácmối liên kết khác xuất phát từ lợi ích của chính những công ty thành viên đó”[39]
Trang 5Còn theo Luật Doanh nghiệp thì xác định ‘‘tập đoàn kinh tế bao gồmnhóm công ty có quy mô lớn có tư cách pháp nhân độc lập, được hình thànhtrên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổchức lại hoặc các hình thức liên kết khác, gắn bó lâu dài với nhau về lợi íchkinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác tạo thành tổ hợpkinh doanh có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên dưới hình thức công ty mẹ -công ty con Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân, không phải đăng kýkinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp Việc tổ chức hoạt động củatập đoàn do các công ty thành lập tập đoàn tự thoả thuận quyết định’’[35].
Mặc dù có những quan niệm không hoàn toàn giống nhau về TĐKT, tuynhiên quan niệm phổ biến hiện nay cho rằng TĐKT có những đặc điểm cơ bảnlà:
- Hình thức tổ chức phổ biến của tập đoàn kinh tế là công ty cổ phần vàhoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con Công ty mẹ chi phối toàn bộhoạt động của công ty con thông qua các quyết định chiến lược Công ty mẹthường nắm giữ các vị trí chủ chốt trong công ty con như chủ tịch hội đồngquản trị, giám đốc điều hành Như vậy, trong thực tế công ty mẹ đã điều hànhcác hoạt động tác nghiệp kinh doanh của công ty con Trong khi đó, công tycon vẫn có tư cách pháp nhân đầy đủ, độc lập, bình đẳng với công ty mẹ
- Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân, mỗi đơn vị thành viêncủa tập đoàn là một pháp nhân độc lập Vì vậy, các doanh nghiệp trong tậpđoàn, kể cả công ty mẹ và các công ty thành viên, bình đẳng với nhau trướcpháp luật, được thành lập và đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
Do tập đoàn kinh tế là một tổ hợp không có tư cách pháp nhân nên tập đoànkhông phải chịu trách nhiệm liên đới trước trách nhiệm và nghĩa vụ của doanhnghiệp khác Công ty mẹ và các công ty con tự chịu trách nhiệm về việc đầu
tư, trong giới hạn của khoản vốn do mình bỏ ra
- Đa dạng về tính chất sở hữu như TĐKT sở hữu tư nhân, TĐKT sở hữunhà nước, TĐKT sở hữu hỗn hợp Ngày nay, trên thế giới, hầu hết các TĐKTđược tổ chức theo loại hình sở hữu hỗn hợp, dựa trên sở hữu tư nhân là chủyếu Ngày nay, sở hữu nhiều chủ diễn ra theo xu hướng tăng số người có cổ
Trang 6phần trong tập đoàn và giảm tỷ trọng sở hữu của từng thành viên trên tổng giátrị và do đó, xu hướng của tập đoàn không còn là sở hữu của một cá nhân haymột quốc gia nữa mà là sở hữu quốc tế, có quốc tịch ở một quốc gia nhất định.Tính chất đa sở hữu đã tách bạch được quyền của chủ sở hữu với quyền củachủ thể quản lý Các liên kết kiểu mạng lưới thông qua vốn đầu tư trong tậpđoàn cũng làm thay đổi các quan hệ sở hữu trong mỗi tập đoàn nhất định, tạonên hình thức sở hữu hỗn hợp, rất phức tạp và mang tính xã hội hoá cao.
- Tập đoàn kinh tế là tập hợp các doanh nghiệp liên kết với nhau chủ yếuthông qua quan hệ liên kết về đầu tư vốn và chi phối các liên kết khác như liênkết về công nghệ, kỹ thuật sản xuất, thị trường, thương hiệu…Liên kết trongcác TĐKT có thể là những liên kết cùng ngành, liên kết khác ngành hay liênkết đa ngành Mỗi quan hệ liên kết cũng có nhiều cấp độ, có thể là liên kết chặtchẽ hay lỏng lẻo tuỳ thuộc lĩnh vực liên kết và mức độ tham gia của các bên.Ngoài ra, các tập đoàn còn tạo những liên kết ngoài vốn với các doanh nghiệpđộc lập, tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh như gia công sản phẩm,phân phối, đại lý…
- Phạm vi hoạt động rộng và kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực TĐKT
có phạm vi hoạt động rất rộng, không chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ quốcgia mà có thể phân bố ở nhiều quốc gia trên thế giới, thậm chí trên phạm vitoàn cầu Phạm vi hoạt động cho phép tập đoàn khai thác lợi thế về lao động,nguồn nguyên liệu, thị trường, giảm chi phí vận tải,…nhằm tối đa hoá lợinhuận đồng thời phân tán rủi ro Tập đoàn kinh doanh đa ngành nhưng thường
có một ngành chủ lực Bên cạnh đó, có một số tập đoàn hoạt động trong lĩnhvực hẹp nhằm khai thác lợi thế về chuyên môn, bí quyết công nghệ Mặc dùvậy cũng có những tập đoàn kinh doanh rất đa dạng và các ngành không liênquan nhiều đến nhau Bên cạnh những ngành sản xuất, các tập đoàn thường cócác tổ chức tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, nghiên cứu, đào tạo,…nhằm phục
vụ sự phát triển của chính tập đoàn
- Vốn, doanh thu, lao động thường có quy mô rất lớn Mặc dù chưathống nhất tiêu chí phân định quy mô vốn, doanh thu, lao động nhưng nói đếnTĐKT là chỉ một tổ hợp kinh doanh có quy mô vốn lớn, thậm chí lớn hơn cả
Trang 7tổng sản phẩm quốc dân của một số quốc gia Ngoài vốn cố định, vốn lưuđộng, vốn nhân lực,…thì giá trị thương hiệu cũng là một điểm đáng lưu ý khixác định quy mô vốn của một TĐKT Nhiều tập đoàn có quy mô kinh doanhtoàn cầu, kinh doanh đa ngành với rất nhiều sản phẩm hàng hoá khác nhau đãđem lại doanh thu khổng lồ cho các TĐKT Lực lượng lao động đổng đảo về sốlượng, trình độ cao cũng là một đặc điểm của tập đoàn Tính chất quốc tế hoálao động là một điểm đáng chú ý trong hầu hết các TĐKT hiện nay.
Ở Việt Nam, các TĐKT được hình thành trong một nền kinh tế đangchuyển đổi sang cơ chế thị trường do đó các TĐKT Việt Nam mang nhiều đặctrưng khác biệt với những TĐKT tư bản nước ngoài đã ra đời, tồn tại và pháttriển hàng trăm năm trong nền kinh tế thị trường như:
- Được hình thành chủ yếu từ việc chuyển đổi và tổ chức lại các TCTNhà nước theo quyết định của Chính phủ Khác với sự hình thành của TĐKT
tư bản nước ngoài được hình thành trên cơ sở sát nhập, mua bán, đầu tư vốngiữa các doanh nghiệp thì sự hình thành của hầu hết các TĐKT Việt Nam làkết quả và là giải pháp để thực hiện chủ trương đổi mới, nâng cao hiệu quảhoạt động của TCT Nhà nước của Chính phủ
- Quy mô và khả năng tích tụ vốn của các TĐKT Việt Nam còn hạn chế,phạm vi hoạt động nhỏ hẹp so với các TĐKT nước ngoài Các TCT 91 đượcchuyển đổi thành các TĐKT tuy có trình độ tích tụ, tập trung vốn cao hơn vàquy mô lớn hơn so với các TCT khác nhưng vẫn được đánh giá là chậm và yếu
so với ngay cả các nước khác trong khu vực Đồng thời, trong khi phạm vi hoạtđộng của các TĐKT nước ngoài hầu như dàn trải khắp toàn cầu, các khu vựckinh tế thì phạm vi hoạt động của các TĐKT Việt Nam chỉ giới hạn trong lãnhthổ Việt Nam, mặc dù có một số tập đoàn đã thực hiện đầu tư hoặc xuất khẩu
ra nước ngoài nhưng tỷ trọng còn nhỏ bé Một số TĐKT tư nhân Việt Nam cóquy mô rất nhỏ bé và thực sự chưa xứng tầm với tên gọi tập đoàn như cácTĐKT của các nước phát triển
- Hợp tác và liên kết kinh doanh giữa các đơn vị trong TĐKT chưa cao,chưa thể hiện được bản chất kinh tế của TĐKT Quan hệ về đầu tư vốn và tàichính, thị trường, phân công chuyên môn hoá, nghiên cứu và phát triển giữa
Trang 8các đơn vị thành viên chưa thực sự chặt chẽ và rõ nét đặc trưng quan hệ giữacác doanh nghiệp thành viên trong TĐKT.
- Trình độ tổ chức, quản lý, đặc biệt là quản lý tài chính còn hạn chế đểđáp ứng yêu cầu quản lý đối với TĐKT bởi chưa thực hiện phân tách rõ rànggiữa quyền sở hữu hoặc đại diện sở hữu và quyền điều hành doanh nghiệp nênchưa có sự chuyên môn hoá và chuyên sâu trong công tác quản lý
1.1.2 Tính tất yếu của sự hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế
* Tính tất yếu của sự hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế
Lý do trước hết lý giải cho sự ra đời của TĐKT xuất phát từ nhu cầu liênkết, nhằm đa dạng hoá hoạt động của các doanh nghiệp trong một khối thốngnhất Những lợi ích tiềm tàng của TĐKT có thể xảy ra trong quá trình liên kếtngang, liên kết dọc và liên kết hỗn hợp, bởi vì nó sẽ làm giảm đi hoặc loại trừmột sự lặp lại không cần thiết các chi phí cố định và làm gia tăng hiệu quả củahoạt động SXKD Khi các mối liên kết được tạo ra, nó sẽ gây nên một hiệu ứng
mà hiệu quả tổng cộng của nó lớn hơn những hiệu quả riêng lẻ, điều này cónghĩa là một công ty hợp nhất sẽ có một giá trị cao hơn giá trị được kết hợp lại
từ hai công ty riêng biệt Hơn nữa, lợi ích mang lại từ hợp nhất doanh nghiệp làkhả năng đa dạng hoá các hoạt động, qua đó giảm thiểu được rủi ro Ngoài ra,
sự liên kết các doanh nghiệp thành viên vào chung một TĐKT sẽ làm gia tăngnhững lợi ích về phương diện tài chính Đó là khả năng tiết kiệm thuế, giảmthấp chi phí phát hành các loại chứng khoán mới, làm tăng khả năng thanh toánđược các khoản nợ và chi phí sử dụng vốn vay thấp
Lý do thứ hai là những nhu cầu phát sinh trong quá trình tăng trưởng, đóchính là quá trình tăng quy mô và đa dạng hoá các hoạt động của một doanhnghiệp Dù muốn dù không, các doanh nghiệp cũng phải theo đuổi một chiếnlược tăng trưởng bởi vì đây là điều cần thiết, đóng vai trò quyết định đến sự tồntại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp Quá trình tăng trưởng của một doanhnghiệp được biểu hiện một mặt ở sự điều chỉnh quy mô sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp và mặt khác, do sự điều chỉnh về bản chất hoạt động củadoanh nghiệp quyết định Sự tập trung và nhích lại gần nhau giữa các doanh
Trang 9nghiệp riêng lẻ thông qua các loại hình tăng trưởng hướng ra bên ngoài dẫnđến việc hình thành các TĐKT
Nguyên nhân thứ ba của hiện tượng nảy sinh và phát triển mạnh mẽ củacác TĐKT là sự ham muốn tìm kiếm lợi nhuận của các nhà doanh thương từcác nước ở các thị trường bên ngoài Với đặc điểm là sở hữu, kiểm soát và chiphối việc sử dụng các phương tiện sản xuất thuận lợi ở nhiều quốc gia, các tậpđoàn đa quốc gia ngày nay đang trở thành một lực lượng tiêu biểu cho quátrình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế Lý do cơ bản giải thích sự tồn tại củacác tập đoàn đa quốc gia là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên phạm vi quốc
tế và ưu thế cạnh tranh của mạng lưới toàn cầu về sản xuất và phân phối Ưuthế cạnh tranh này phát sinh phần nào là do sự liên kết theo chiều dọc và liênkết theo chiều ngang với các chi nhánh ở nước ngoài Bằng cách liên kết theochiều dọc, phần lớn các tập đoàn đa quốc gia có thể đảm bảo cung ứng ra nướcngoài các nguyên liệu, sản phẩm trung gian và thông qua các hoạt động giaodịch nội bộ của công ty, có thể phá vỡ sự không hoàn hảo về cạnh tranh thường
có ở các thị trường nước ngoài Tập đoàn đa quốc gia cũng có thể đảm bảophân phối tốt hơn nhiều loại dịch vụ khác nhau, có thể bảo vệ và khai thác mộtcách hoàn hảo hơn sức mạnh độc quyền của chúng Hơn thế nữa, các tập đoàn
đa quốc gia và các chi nhánh của chúng thường tiếp cận tốt hơn đối với các thịtrường vốn quốc tế so với các công ty thuần tuý nội địa, và chính điều này tạocho chúng một vị thế thuận lợi hơn khi tìm nguồn tài trợ cho các dự án lớn…
Có thể nói, tập đoàn đa quốc gia – theo tổng kết của nhiều nhà nghiên cứu, vớicác liên kết bên trong có tính bền vững, với sự đa dạng về lĩnh vực hoạt động,được coi là một loại hình siêu công ty và nó phải đối mặt với ít rủi ro hơn, nhưvậy nó sẽ hoạt động một cách hiệu quả hơn so với một doanh nghiệp thuần tuýnội địa tại quốc gia mà chi nhánh của tập đoàn này hoạt động Chính nhờ các
ưu thế trên, các tập đoàn đa quốc gia được xem là đội quân xung kích của toàncầu hoá
* Phương thức chủ yếu hình thành các tập đoàn kinh tế:
- Tập đoàn kinh tế hình thành theo phương thức truyền thống: Thôngqua tích tụ và tập trung vốn, các doanh nghiệp từng bước mở rộng sản xuất, tái
Trang 10đầu tư, mở rộng quy mô, lĩnh vực hoạt động, từng bước chiếm lĩnh thị trường.Nhu cầu liên kết trên nguyên tắc tự nguyện, đảm bảo lợi ích của mỗi doanhnghiệp trước áp lực cạnh tranh hoặc yêu cầu đầu tư lớn mà bản thân mỗi thànhviên đơn lẻ không đủ năng lực thực hiện cũng là nhân tố thúc đẩy TĐKT rađời Nhìn chung, TĐKT hình thành theo con đường truyền thống bằng các hìnhthức sau:
+ Các doanh nghiệp đang hoạt động kết hợp lại với nhau bằng cách bán
cổ phẩn cho một công ty mới thành lập (thường gọi là công ty nắm giữ vốn).Công ty nắm giữ vốn trở thành công ty mẹ, các công ty bán cổ phần trở thànhcông ty con, việc góp vốn, trả tiền thực hiện trên văn bản, do các chủ nhân củacông ty con quyết định với nhau
+ Một doanh nghiệp có quy mô lớn, tiềm lực mạnh về vốn, công nghệ,thực hiện đầu tư vốn để thành lập các công ty con nhằm chiếm lĩnh thị trường,
cử người vào các công ty con để tham gia điều hành theo số vốn của mình.Cách thức này còn được gọi là chia tách hay chia nhỏ công ty
+ Các cổ đông đầu tư thành lập công ty mẹ ban đầu, công ty mẹ này tiếptục đầu tư thành lập các công ty con
- Tập đoàn kinh tế được hình thành trên cơ sở đầu tư của chính phủ:Chính phủ đầu tư vốn và thành lập các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước,hoạt động trong một số lĩnh vực trọng yếu hoặc độc quyền nhà nước, sau mộtquá trình hoạt động, chính phủ cơ cấu lại khu vực này và mô hình TĐKT làmột trong những lựa chọn Cách thức này cần có giai đoạn chuyển tiếp cầnthiết, từ việc đa dạng hoá sở hữu, tạo lập mối liên kết, đầu tư, tổ chức lại theo
mô hình mới đến cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy các TĐKT hình thành vàphát triển
Sự thành công của TĐKT không phụ thuộc vào việc chúng được hìnhthành bằng cách nào, bởi lịch sử cho thấy rất nhiều TĐKT hình thành bằng conđường truyền thống đã phá sản và cũng không ít TĐKT hình thành bằng đầu tưcủa chính phủ đã đạt được những thành công Như vậy, mỗi quốc gia với điềukiện đặc thù cần lựa chọn con đường, bước đi phù hợp để vừa hình thànhnhững TĐKT mạnh, vừa đảm bảo phù hợp với quy luật thị trường
Trang 111.1.3 Vai trò của các tập đoàn kinh tế
Tập đoàn kinh tế cho phép huy động được các nguồn lực vật chất, laođộng và vốn trong xã hội vào quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra sự hỗ trợtrong việc cải tổ cơ cấu sản xuất, hình thành những công ty hiện đại, quy môlớn có tiềm lực kinh tế lớn Việc hình thành TĐKT cho phép phát huy lợi thếcủa kinh tế quy mô lớn, khai thác một cách triệt để thương hiệu, hệ thống dịch
vụ đầu vào, đầu ra và dịch vụ chung của cả tập đoàn Đồng thời, nhờ mối liênkết chặt chẽ giữa các công ty sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho chúng thống nhấtphương hướng, chiến lược trong phát triển kinh doanh, tăng cường sức mạnhkinh tế và khả năng cạnh tranh của từng công ty thành viên
Tập đoàn kinh tế có ý nghĩa quan trọng đối với các nước mới côngnghiệp hoá, là giải pháp để bảo vệ sản xuất trong nước, cạnh tranh lại với cáccông ty đa quốc gia, tập đoàn lớn của các nước khác Trong những điều kiện cụthể với sự hỗ trợ tích cực của nhà nước và định hướng chiến lược đúng đắn,các tập đoàn kinh tế ở các nước công nghiệp mới còn có thể vươn ra và khôngngừng mở rộng, củng cố thị trường trên thế giới, kể cả thị trường các nước pháttriển
Hình thành TĐKT là một đòi hỏi thực tế và khách quan nhằm khắc phụckhả năng hạn chế về vốn của từng công ty cá biệt Trong tập đoàn kinh tế,nguồn vốn được huy động từ các công ty thành viên và được tập trung đầu tưvào những công ty, những dự án có hiệu quả nhất, những dự án tạo ra sứcmạnh quyết định cho phát triển tập đoàn, đáp ứng nhu cầu thu lợi nhuận tối đacho công ty thành viên và toàn tập đoàn Hơn nữa, vốn của công ty này đượchuy động đầu tư vào công ty khác và ngược lại, giúp cho các công ty liên kếtvới nhau chặt chẽ hơn, quan tâm đến hiệu quả nhiều hơn và giúp nhau phát huy
có hiệu quả nguồn vốn của công ty và của cả TĐKT
Tập đoàn kinh tế có tác dụng trong việc đẩy mạnh nghiên cứu, triển khaiứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh của các công tythành viên Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ mới đòi hỏimột khối lượng vốn rất lớn, có sự hợp lực của đội ngũ cán bộ nghiên cứu vàcần có các phòng thí nghiệm, các thiết bị nghiên cứu khác mà mỗi công ty
Trang 12riêng rẽ khó có khả năng huy động được Chỉ có trên cơ sở liên kết các công tylại mới tạo được tiềm năng nghiên cứu khoa học to lớn đó.
Sự hợp tác về nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong tập đoànkinh tế còn cho phép các công ty thành viên có khả năng đưa nhanh những kếtquả của nghiên cứu vào thực tiễn trên một quy mô rộng lớn hơn, nâng cao hiệuquả của hoạt động nghiên cứu ứng dụng và thu hồi vốn nhanh Điều này đặcbiệt quan trọng trong điều kiện phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa họccông nghệ như ngày nay, hạn chế được tác dụng tiêu cực của hao mòn vô hình
Sự phối hợp và thống nhất giữa các công ty thành viên trong thực hiệnmột chiến lược công nghệ chung thông qua sự chỉ đạo thống nhất từ một trungtâm tạo điều kiện thuận lợi cho việc lựa chọn khâu quan trọng có ý nghĩa độtphá với công nghệ thích hợp trong chuyển giao công nghệ với chi phí thấpnhất, giảm lãng phí về vốn, tập trung được nguồn lực vào thực hiện những mụctiêu chiến lược có lợi cho tất cả các công ty thành viên và cho toàn tập đoàn
Tập đoàn kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến việc cung cấp, trao đổi thôngtin và những kinh nghiệm quan trọng trong tổ chức nghiên cứu ứng dụng khoahọc công nghệ giữa các công ty thành viên Những thông tin cần thiết và kinhnghiệm trong chuyển giao công nghệ từ các công ty thành viên được phổ biếnrộng rãi trong TĐKT Nhờ đó tránh được những sai lầm đáng tiếc có thể xảy ra
do thiếu những hiểu biết cơ bản trong chuyển giao công nghệ nước ngoài
Ngoài ra, việc hình thành tập đoàn còn có ý nghĩa tăng cường hiệu quảquản lý, sử dụng lợi thế về quy mô và kết hợp các ưu thế của sự chuyên mônhoá với hoạt động kinh doanh đa dạng và tách bạch được quản lý hành chính
và quản lý kinh doanh đối với doanh nghiệp của tập đoàn Phần lớn các TĐKT
có cơ quan nghiên cứu thống nhất – cơ quan thực hiện chức năng mà mộtdoanh nghiệp riêng lẻ khó có thể đảm đương nổi, như thu thập thông tin, dựđoán thị trường, nghiên cứu kỹ thuật tiên tiến, dự báo xuất khẩu của các doanhnghiệp cùng ngành Trong kinh doanh, chúng có thể giúp doanh nghiệp riêng lẻgiành được lợi thế cạnh tranh của cả tập đoàn như liên kết đàm phán đối ngoạikhi kinh doanh ngoại thương, cùng mua cùng bán trên thị trường, vay vốn ngânhàng và xác lập chuẩn chất lượng sản phẩm
Trang 131.1.4 Tổ chức quản lý trong các tập đoàn kinh tế
1.1.4.1 Đặc điểm tổ chức quản lý kinh doanh
Tập đoàn kinh tế theo mô hình công ty mẹ - công ty con là một hình thức
tổ chức TĐKT mang tính chất phổ biến bao gồm công ty mẹ và các công tycon, trong đó công ty mẹ thực hiện quyền chi phối, kiểm soát các công ty con
về chính sách tài chính và hoạt động nhằm thu được lợi ích kinh tế Thôngthường quyền kiểm soát của công ty mẹ được xác định khi công ty mẹ nắm giữtrên 50% quyền biểu quyết ở công ty con (thường tương ứng với việc nắm giữtrên 50% vốn điều lệ)
* Đặc điểm về mối liên kết giữa các thành viên:
Trong TĐKT tổ chức theo mô hình này, mối liên kết chủ yếu là giữacông ty mẹ và công ty con dựa trên nền tảng đầu tư tài chính của công ty mẹvào công ty con Bằng việc nắm giữ đa số quyền biểu quyết tại công ty con,công ty mẹ sẽ chi phối, kiểm soát, định hướng hoạt động của công ty con theomục tiêu, chiến lược kinh doanh của cả tập đoàn, phù hợp với điều lệ của công
ty mẹ - công ty con và pháp luật hiện hành, trong khi các công ty con vẫn giữtính độc lập về mặt pháp lý, thực hiện hạch toán độc lập với công ty mẹ
* Đặc điểm về cấu trúc:
Trên thế giới, không có một mô hình cấu trúc chung cho các TĐKT,nhưng quan hệ liên kết theo mô hình công ty mẹ - công ty con là mô hình cấutrúc mang tính phổ biến Theo đó, trong TĐKT tồn tại quan hệ thứ bậc vớinhiều tầng nấc khác nhau Ở bậc thứ nhất, công ty mẹ là công ty có tầm ảnhhưởng chi phối các công ty con trực thuộc Vai trò chi phối này thể hiện ở vaitrò chủ sở hữu toàn bộ công ty con hoặc giữ mức vốn chi phối ở công ty con,hoặc thể hiện ở vai trò quyết định trong sự phát triển khoa học và công nghệcủa công ty con Trong trường hợp công ty mẹ không giữ mức vốn chi phối,vai trò của nó chỉ giới hạn trong phần vốn liên kết mà nó đã đóng góp vào công
ty con Theo cách tương tự, công ty con, với tư cách là một pháp nhân độc lập,
có thể thành lập công ty trực thuộc hoặc liên kết với các chủ thể khác hìnhthành công ty mới, hoặc đầu tư thâm nhập vào công ty khác Đây chính là quan
hệ ở bậc thứ hai Cứ như thế, quan hệ ở bậc thứ ba được thiết lập Phù hợp với
Trang 14nguyên tắc thị trường, công ty ở bậc thứ hai hoặc bậc thứ ba của tập đoàn kinh
tế này lại có thể là công ty con của tập đoàn kinh tế khác Quyền của công ty
mẹ với công ty con không phải được thực hiện theo những mệnh lệnh hànhchính, mà qua tư cách quyền của chủ sở hữu hoặc quyền của cổ đông với công
ty con Để ngăn ngừa tình trạng can thiệp sâu của công ty mẹ vào hoạt độngkinh doanh của công ty con bằng những mệnh lệnh hành chính vượt quá thẩmquyền của chủ sở hữu hoặc của một cổ đông, gây thiệt hại cho công ty con, luậtpháp nhiều nước quy định công ty mẹ phải chịu trách nhiệm đền bù các thiệthại đó Với tư cách là những pháp nhân kinh tế độc lập, các công ty con có thểđầu tư vào nhau hoặc đầu tư thành lập công ty mới Nghĩa là, nó lại trở thànhcông ty mẹ của một số công ty khác
* Đặc điểm về tính chất sở hữu:
TĐKT theo mô hình công ty mẹ - công ty con có tính chất chế độ đa sởhữu, công ty mẹ và các công ty con có thể là doanh nghiệp nhà nước, công tytrách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty liên doanh với nước ngoài…hoạt động theo luật tương ứng, theo điều lệ chung của tập đoàn và theo điều lệriêng của mỗi công ty Các công ty con có thể ở trong hoặc ngoài nước và phầnlớn mang họ của công ty mẹ Thông thường, TĐKT có chế độ sở hữu hỗn hợp
và được tổ chức dưới dạng công ty cổ phần Tuy nhiên, Nhà nước có thể thựchiện quyền sở hữu tập đoàn thông qua nắm giữ 100% vốn điều lệ của công ty
mẹ hoặc nắm giữ số cổ phần (hay tỷ lệ vốn góp) chi phối ở công ty mẹ, đồngthời công ty mẹ sở hữu 100% hoặc nắm giữ số cổ phần (hay tỷ lệ vốn góp) chiphối ở các công ty con Trường hợp đặc biệt, công ty mẹ và các công ty conđều là các doanh nghiệp Nhà nước, tạo thành một TĐKT Nhà nước, có tínhchất sở hữu đồng nhất
* Đặc điểm về cơ cấu tổ chức quản lý:
TĐKT theo mô hình công ty mẹ - công ty con chỉ được xem như mộtchủ thể kinh tế chứ không phải là chủ thể pháp lý, do đó sẽ không có bộ máyquản lý chung cho toàn bộ tập đoàn được thiết lập Công ty mẹ và các công tycon giữ tính độc lập về mặt pháp lý và đều có cơ quan quyền lực riêng Công ty
mẹ là chủ sở hữu phần vốn tham gia đầu tư vào các công ty con và có quyền cử
Trang 15người tham gia bộ máy quản lý ở công ty con, qua đó thực hiện quyền kiểmsoát, chi phối việc sử dụng nguồn lực và các hoạt động của công ty con, chiphối quyết định về nhân sự chủ chốt trong cơ cấu tổ chức quản lý, quyết địnhthị trường, quyết định quản lý quan trọng khác của công ty con, hoặc công ty
mẹ có thể sử dụng quyền biểu quyết của mình với tư cách cổ đông hay bên gópvốn để chi phối các quyết định quan trọng của công ty con
Hầu hết công ty mẹ trong các tập đoàn ở các quốc gia đều có cơ cấu tổchức quản lý bao gồm HĐQT (hoặc HĐTV) và ban giám đốc Trong đó,HĐQT thực hiện chức năng quản lý công ty mẹ và quyết định những vấn đềquan trọng của cả tập đoàn Về cơ cấu thành phần, hầu hết các nước đều quyđịnh số lượng tối thiểu hoặc số lượng tối đa thành viên của HĐQT Thành viênHĐQT phần lớn là những chủ sở hữu chính hoặc đại diện chủ sở hữu của công
ty mẹ trong tập đoàn Đối với tập đoàn trong đó công ty mẹ là hoàn toàn vốnnhà nước hoặc nhà nước là cổ đông chi phối đối với công ty mẹ thì thôngthường chính phủ xác định số lượng, thành phần người đại diện cho nhà nướctham gia HĐQT và mục tiêu chính của việc hình thành và tổ chức HĐQT làđảm bảo mối quan hệ từ xa và tách bạch giữa doanh nghiệp và chính phủ Đốivới khu vực tư nhân thì số lượng thành viên HĐQT được xác định căn cứ vàoquy định của luật công ty, điều lệ và thoả thuận tại đại hội cổ đông của công ty
mẹ
1.1.4.2 Quan hệ tài chính giữa công ty mẹ và công ty con
* Quan hệ đầu tư vốn: là quan hệ đặc trưng nhất của TĐKT theo môhình công ty mẹ - công ty con Công ty mẹ là nhà đầu tư vào công ty con thôngqua góp vốn với mức đầu tư thường phải đủ lớn để có thể thực hiện quyềnkiểm soát và chi phối (trên 50% vốn điều lệ ở công ty con) Với TĐKT có cấutrúc gồm nhiều cấp, công ty con là nhà đầu tư và kiểm soát trực tiếp đối với
“công ty cháu”, như vậy công ty mẹ đã đầu tư và kiểm soát gián tiếp “công tycháu” qua công ty con Các công ty con cũng có thể đầu tư vào công ty mẹ vàđầu tư lẫn nhau với mức đầu tư không tạo quyền kiểm soát, chi phối Do đặcthù tổ chức quản lý kinh doanh của tập đoàn, công ty con không phải nộp phíquản lý cho công ty mẹ Vấn đề công ty mẹ có quyền tự do rút vốn đầu tư ở
Trang 16công ty con hay không và việc đầu tư ngược từ công ty con vào công ty mẹ…được quy định cụ thể ở từng quốc gia.
* Quan hệ tín dụng, mua bán, thuê và cho thuê: Công ty mẹ và các công
ty con là những pháp nhân kinh tế độc lập, có quan hệ bình đẳng với nhautrong việc cấp tín dụng, mua bán, trao đổi, thuê và cho thuê…Mọi mối quan hệmua-bán, vay-cho vay, thuê-cho thuê…giữa các thành viên trong tập đoàn phảiđược thực hiện thông qua hợp đồng và phải thanh toán như các pháp nhân kinh
tế khác ngoài tập đoàn Chẳng hạn, việc công ty mẹ cho công ty con vay sẽ làmphát sinh nghĩa vụ có tính pháp lý về các khoản nợ của công ty con đối vớicông ty mẹ Các công ty con cũng có thể thông qua sự bảo lãnh của công ty mẹ
để được vay các khoản vốn với điều kiện ưu đãi của các ngân hàng trong vàngoài nước
* Quan hệ phân phối kết quả: Công ty mẹ được nhận lợi nhuận từ khoảnđầu tư vào công ty con theo tỷ lệ vốn góp vào công ty con Khoản lợi nhuậnnày thuộc nội dung doanh thu hoạt động tài chính của công ty mẹ
* Quan hệ hạch toán: Công ty mẹ và các công ty con đều là những phápnhân kinh tế, thực hiện hạch toán độc lập, đều phải lập BCTC theo luật định
Bộ máy kế toán của mỗi công ty chịu trách nhiệm tổ chức thu nhận, xử lý,cung cấp thông tin tài chính về công ty đó Đồng thời, vì tổ hợp công ty mẹ -con là một chủ thể kinh tế nên nó cũng được xem như một đơn vị kế toán và do
đó phải lập BCTCHN cho cả tập đoàn Tuy nhiên, vấn đề thiết lập bộ máy kếtoán cho cả tập đoàn sẽ không được đặt ra bởi vì tập đoàn không có tư cáchpháp nhân Quan hệ hạch toán giữa công ty mẹ và các công ty con chủ yếu làmối quan hệ trong việc tổ chức thu nhận, xử lý, cung cấp thông tin để lậpBCTCHN
1.2 TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN Ở CÁC TẬP ĐOÀN KINH
TẾ THEO MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON
1.2.1 Khái niệm đơn vị kế toán và tổ chức công tác kế toán ở các tập đoàn kinh tế
Đơn vị kế toán là nơi diễn ra các hoạt động kiểm soát và tiến hành cáccông việc, các nghiệp vụ kinh tế tài chính và cần thiết phải thực hiện việc ghi
Trang 17chép, thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin, tổng hợp thông tin, lập báo cáo tàichính Khái niệm đơn vị kế toán đòi hỏi hệ thống chứng từ, tài khoản kế toán,
sổ sách kế toán, báo cáo tài chính cũng như những nội dung quy định của hệthống kế toán được tổ chức, vận dụng để ghi chép và báo cáo về tình hình tàichính, tình hình hoạt động của đơn vị chứ không phải tổ chức riêng cho một cánhân nào trong đơn vị
Khi đơn vị kế toán là một tập đoàn bao gồm công ty mẹ và các công tycon trong đó công ty mẹ nắm quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạtđộng của công ty con nhằm thu được lợi ích kinh tế từ các công ty con, còncông ty con là đơn vị chịu sự kiểm soát của công ty mẹ nhưng thực hiện hạchtoán độc lập thì đơn vị kế toán ở đây là công ty mẹ, từng công ty con đồng thời
cả tập đoàn cũng là một đơn vị kế toán Tóm lại, khái niệm đơn vị kế toán đòihỏi trong một tập đoàn phải tổ chức công tác kế toán và lập BCTC thuộc tráchnhiệm của đơn vị là công ty mẹ và từng công ty con như sau :
- Công ty mẹ: lập BCTC riêng của công ty mẹ đồng thời lập BCTCHN
và BCTC bộ phận của tập đoàn dựa trên BCTC riêng và tài liệu liên quan củacông ty mẹ và các công ty con
- Công ty con : lập BCTC riêng của công ty con
Để phát huy chức năng và vai trò quan trọng trong công tác quản lý hoạtđộng sản xuất kinh doanh của các TĐKT, đòi hỏi phải tổ chức công tác kế toánmột cách khoa học và hợp lý nhằm cung cấp thông tin một cách kịp thời, đầy
đủ và trung thực đáp ứng yêu cầu của cơ chế quản lý nền kinh tế thị trườngtheo định hướng XHCN Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về tổ chứccông tác kế toán Song có thể khái quát một số quan điểm chủ yếu như sau :
Quan điểm thứ nhất cho rằng: ‘‘Tổ chức công tác kế toán là những quan
hệ có yếu tố cấu thành bản chất của hạch toán kế toán : Chứng từ kế toán, đốiứng tài khoản, tính giá, tổng hợp – cân đối kế toán’’[22]
Quan điểm thứ hai cho rằng: ‘‘Tổ chức công tác kế toán phải giải quyết
cả hai phương diện : Tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán, các nguyêntắc kế toán và các phương tiện tính toán nhằm đạt được mục đích nghiên cứu
Trang 18của khoa học kế toán và tổ chức bộ máy kế toán nhằm liên kết các cán bộ, nhânviên kế toán ở đơn vị để thực hiện tốt công tác kế toán’’[30].
Quan điểm thứ ba cho rằng: ‘‘Tổ chức công tác kế toán là tổ chức việc
sử dụng các phương pháp kế toán để thực hiện việc phân loại, ghi chép, tổnghợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh phù hợp với Luật Kế toán, LuậtNgân sách Nhà nước và các chính sách, chế độ hiện hành, phù hợp với đặcđiểm hoạt động SXKD của đơn vị’’[12]
Các quan điểm nêu trên có cách tiếp cận và luận giải khác nhau về tổchức công tác kế toán nhưng có thể thấy thực chất của việc tổ chức công tác kếtoán trong các đơn vị kế toán là việc tổ chức thực hiện ghi chép, phân loại, tổnghợp các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh theo những nội dung công tác kếtoán bằng phương pháp khoa học của kế toán, phù hợp với quy định của chínhsách, chế độ quản lý kinh tế, phù hợp với đặc điểm, tình hình cụ thể của doanhnghiệp để phát huy chức năng, vai trò quan trọng của kế toán trong quản lý vĩ
mô và vi mô nền kinh tế Song kế toán vừa là một môn khoa học, vừa là mộtnghề nghiệp, vì vậy tổ chức công tác kế toán phải đạt được hai mục tiêu, đó là
tổ chức thực hiện các nguyên tắc, phương pháp kế toán nhằm đạt được mụcđích nghiên cứu của khoa học kế toán đồng thời tổ chức bộ máy kế toán nhằmliên kết các cán bộ, nhân viên kế toán thực hiện tốt công tác kế toán tại đơn vị
Do đó, đòi hỏi phải có sự kết hợp triệt để giữa những nguyên lý chung và đặcthù riêng có của đơn vị kế toán Hay nói cách khác, đó là việc tổ chức một hệthống các yếu tố cấu thành gồm tổ chức bộ máy kế toán, tổ chức vận dụng cácphương pháp và kỹ thuật hạch toán kế toán, tổ chức thực hiện các chính sáchkinh tế - tài chính và kế toán, cùng với mối liên hệ và sự tác động giữa các yếu
tố đó nhằm phát huy tối đa chức năng của hệ thống Về cơ bản, tổ chức côngtác kế toán ở doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như chính sách kinh
tế - tài chính và kế toán hiện hành, tình hình thực tế và đặc thù của đơn vị kếtoán, nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng thông tin kế toán
Do những khác biệt của hoạt động tổ chức quản lý kinh doanh, phạm viđịa bàn hoạt động và nhu cầu thông tin kế toán trong TĐKT so với doanhnghiệp riêng lẻ mà tổ chức công tác kế toán trong TĐKT mang những nét đặc
Trang 19thù riêng TĐKT là một chủ thể kinh tế nhưng không phải là chủ thể pháp lý,
nó không có tư cách pháp nhân Bởi vậy tổ chức công tác kế toán ở cả TĐKTvới tư cách một thực thể kinh tế hợp nhất sẽ không mang tính pháp lý Tất cảcác công ty thành viên của tập đoàn đều là những chủ thể pháp lý riêng rẽ nênchúng thực hiện hạch toán độc lập theo chế độ kế toán đặc thù tương ứng, phùhợp với quy chế tài chính hiện hành đối với từng loại hình doanh nghiệp trongtập đoàn Công ty mẹ và các công ty con đều có tổ chức bộ máy kế toán riêng
và đều phải lập BCTC theo luật định Mặt khác do nhu cầu của các đối tượng
sử dụng thông tin kế toán nên thông tin kế toán cung cấp không chỉ dừng lại ởphạm vi từng công ty thành viên riêng lẻ mà còn mở rộng ra phạm vi toàn tậpđoàn bắt nguồn từ những mối liên kết gắn chặt với lợi ích đầu tư tài chính Vìvậy, vấn đề trọng tâm của tổ chức công tác kế toán trong TĐKT là việc phâncông trách nhiệm lập BCTCHN và thiết lập mối quan hệ về hạch toán, tổ chứchướng dẫn kế toán của công ty mẹ với công ty con, kiểm tra, kiểm soát kế toántrong việc tổ chức thu nhận, xử lý, cung cấp những thông tin cần thiết phục vụviệc lập BCTCHN TĐKT theo mô hình công ty mẹ - con có cấu trúc gồmnhiều cấp đồng thời do phạm vi, địa bàn hoạt động của các TĐKT rất rộng,không chỉ trong lãnh thổ một quốc gia mà thường vượt qua biên giới một nướcnên đòi hỏi sự phân công, phân nhiệm rõ ràng công ty nào phải lập và công tynào không phải lập BCTCHN Do không có bộ máy quản lý chung của TĐKT
mà quá trình quản lý, điều hành TĐKT chủ yếu được thực hiện thông qua bộmáy quản lý của công ty mẹ nên để có thông tin kế toán phục vụ quản trị hoạtđộng của TĐKT thì công ty mẹ cần quan tâm đúng mức công việc phân tíchBCTCHN cũng như BCTC riêng của các công ty con Cũng vì lý do đó mà tổchức công tác kế toán quản trị ở TĐKT được đề cập chủ yếu thông qua việc tổchức công tác kế toán quản trị tại công ty mẹ phục vụ quản trị các hoạt độngSXKD của công ty mẹ và hoạt động đầu tư của công ty mẹ vào các công tycon, công ty cháu, nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin để quản lý, điều hành hoạtđộng của chính công ty mẹ và các công ty con theo chiến lược phát triển chungcủa toàn tập đoàn
1.2.2 Ý nghĩa tổ chức công tác kế toán ở các tập đoàn kinh tế
Trang 20Để quản lý tài chính ở phạm vi toàn bộ tập đoàn kinh tế cũng như ở công
ty mẹ và từng công ty con thì công tác kế toán ở các tập đoàn kinh tế phảikhông ngừng nâng cao chất lượng Công tác kế toán không chỉ là việc ghichép, phản ánh đơn thuần mà kế toán phải thực sự là hệ thống thông tin kinh tế
- tài chính cung cấp chính xác, trung thực, kịp thời phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo,
ra quyết định quản lý và điều hành hoạt động tài chính cũng như quá trình hoạtđộng sản xuất kinh doanh của đơn vị Để đạt được yêu cầu trên đòi hỏi mỗiđơn vị thành viên tập đoàn phải tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý
Tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý có ý nghĩa quan trọng trong việcquản lý kinh tế ở các tập đoàn kinh tế thể hiện trên các mặt chủ yếu sau :
- Thứ nhất, tổ chức công tác kế toán khoa học sẽ cung cấp thông tin đầy
đủ, kịp thời, chính xác cho hoạt động quản lý nói chung Những nghĩa vụ về tàichính không thể được đảm bảo một cách đầy đủ nếu thiếu thông tin và giám sátthông tin Dù đơn vị có quy mô lớn hay nhỏ, thông tin đáp ứng cho nhu cầuquản lý là không thể thiếu Bởi vì kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phântích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật vàthời gian lao động Kế toán là một trong những công cụ quản lý kinh tế hữuhiệu nhất nhằm phản ánh, giám đốc toàn diện các mặt hoạt động kinh tế tàichính ở các đơn vị thành viên tập đoàn Trong kế toán, mọi nghiệp vụ kinh tếđều được ghi chép đầy đủ, liên tục, có hệ thống trên cơ sở các chứng từ hợp lệ.Chính điều này đã làm tăng ý nghĩa kiểm tra, giám sát của kế toán
- Thứ hai, tổ chức công tác kế toán khoa học sẽ tạo dựng được bộ máy
kế toán gọn nhẹ, hiệu quả Nếu phải đối mặt với một khối lượng công việckhông nhỏ và một hệ thống nguyên tắc phải tuân thủ mà tổ chức một bộ máy
kế toán cồng kềnh, làm việc kém hiệu quả sẽ làm nảy sinh các vấn đề như :công việc phối hợp không nhịp nhàng, thiếu tính đồng bộ do có nhiều bộ phậntác nghiệp chồng chéo, phân định chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phậnkhông rõ ràng, thời gian hạch toán và thanh quyết toán chậm so với quy định
do phải trải qua nhiều bộ phận trung gian
- Thứ ba, tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý sẽ là cơ sở quantrọng để quản lý tài chính hiệu quả Tổ chức công tác kế toán khoa học không
Trang 21những tiết kiệm được thời gian, nhân lực mà còn góp phần không nhỏ vào việcquản lý và sử dụng kinh phí có hiệu quả Bằng những thông tin kinh tế tàichính được cung cấp kịp thời sẽ tiết kiệm thời gian tìm kiếm thông tin, là cơ sởcho nhà quản lý dự trù chính xác chi phí cần thiết, tránh thất thoát cũng nhưtránh tình trạng sử dụng không đúng mục đích Do vậy, việc tổ chức công tác
kế toán khoa học và hợp lý có ý nghĩa quan trọng giúp cho việc cung cấp thôngtin kế toán kịp thời, đầy đủ về tình hình biến động của tài sản, doanh thu, chiphí, kết quả hoạt động kinh doanh, qua đó làm giảm bớt khối lượng công tác kếtoán trùng lắp, tiết kiệm chi phí đồng thời giúp cho việc kiểm kê, kiểm soát tàisản, nguồn vốn, hoạt động kinh tế, đo lường và đánh giá hiệu quả kinh tế, xácđịnh lợi ích của nhà nước, của các chủ thể trong nền kinh tế thị trường
Tóm lại, việc tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý ở các tập đoànkhông những đảm bảo cho việc thu nhận, hệ thống hoá thông tin kế toán đầy
đủ, kịp thời, đáng tin cậy phục vụ cho công tác quản lý kinh tế, tài chính màcòn giúp quản lý chặt chẽ tài sản và ngăn ngừa những hành vi làm tổn hại đếntài sản cũng như giúp thực hiện được đầy đủ chức năng, nhiệm vụ và yêu cầucủa kế toán trong từng thời kỳ
1.2.3 Nguyên tắc và nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán ở các tập đoàn kinh tế
* Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán :
Để phù hợp và đáp ứng các yêu cầu của cơ chế quản lý nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN, đòi hỏi việc tổ chức công tác kế toán trong tập đoànkinh tế phải tuân theo những nguyên tắc sau:
- Phù hợp yêu cầu hội nhập kinh tế, hội nhập kế toán quốc tế và cácnguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về kế toán
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, nhất là khi Việt Nam đang ngàycàng hội nhập sâu hơn với nền kinh tế thế giới thì vấn đề thu hút vốn đầu tưnước ngoài để phát triển kinh tế là điều tất yếu Theo xu hướng hội nhập kinh
tế quốc tế thì dịch vụ kế toán, kiểm toán cũng cần phải theo xu hướng đó để kếtoán thực sự là “ngôn ngữ kinh doanh” trong điều kiện nền kinh tế mở KhiTĐKT không giới hạn về đầu tư, theo đó, mô hình tổ chức công tác kế toán ở
Trang 22TĐKT phải phù hợp với mô hình kế toán cùng loại phổ biến ở các nước đangphát triển trên thế giới.
- Tuân thủ và phù hợp với quy định của Luật Kế toán, chuẩn mực kếtoán, chế độ và hệ thống văn bản pháp quy về kế toán do nhà nước ban hành
Luật kế toán, chuẩn mực kế toán và các chính sách, chế độ kế toán nhànước đã ban hành là cơ sở pháp lý cho công tác kế toán Tất cả các đối tượngthuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Kế toán phải chấp hành đầy đủ các quyđịnh của Luật này, đó là văn bản có tính pháp lý cao nhất hiện nay Chuẩn mực
kế toán gồm những nguyên tắc và phương pháp kế toán cơ bản để ghi sổ kếtoán và lập BCTC Chế độ kế toán là những quy định và hướng dẫn về kế toántrong một hoặc một số công việc cụ thể do cơ quan quản lý Nhà nước về kếtoán hoặc tổ chức được cơ quan quản lý nhà nước về kế toán uỷ quyền banhành Vì vậy, các đơn vị kế toán, trong đó có các tập đoàn kinh tế phải chấphành Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức kế toán quản trị, các tập đoàn phải căn
cứ vào yêu cầu quản lý cụ thể về các chỉ tiêu cần quản lý cũng như đặc điểmhoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn để tổ chức hợp lý, phù hợp nhằmđáp ứng yêu cầu thông tin phục vụ công tác quản lý nội bộ
- Phù hợp đặc điểm hoạt động SXKD, đặc điểm hoạt động quản lý kinhdoanh cũng như quy mô và địa bàn hoạt động của đơn vị, phù hợp với yêu cầu
và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kế toáncủa đơn vị
Đối với các công ty có vốn của nhà nước chi phối vốn cổ phần của các
cổ đông khác thì công tác tài chính, kế toán phải tuân thủ theo cơ chế chínhsách của nhà nước đã quy định cho đối tượng có liên quan Đồng thời, cáccông ty mà vốn của các chủ sở hữu khác nắm phần chi phối thì không bắt buộctuân theo cơ chế tài chính của nhà nước
Mỗi đơn vị (công ty mẹ, công ty con) đều tự chủ về chiến lược kinhdoanh và hoạt động của mình, đồng thời có chính sách và yêu cầu quản trị kinhdoanh cụ thể riêng và độc lập Vì vậy công tác kế toán được tổ chức phải đápứng yêu cầu quản trị kinh doanh của đơn vị
Trang 23- Thống nhất giữa kế toán và quản lý, cung cấp kịp thời, trung thực vàđầy đủ các thông tin về hoạt động SXKD phục vụ yêu cầu quản lý.
Tập đoàn gồm nhiều đơn vị thành viên trong đó lại bao gồm nhiều bộphận quản lý khác nhau, có liên quan chặt chẽ với nhau, thực hiện những chứcnăng nhiệm vụ độc lập cũng như thống nhất phục vụ cho công tác quản lý Tuynhiên, mỗi bộ phận chức năng đảm nhận những nhiệm vụ riêng Các bộ phậnnày cần phải cung cấp những thông tin phù hợp với chức năng, nhiệm vụ củamình phục vụ cho công tác điều hành, quản lý tập đoàn cũng như từng đơn vịthành viên Do vậy, tổ chức công tác kế toán phải chú ý giải quyết tốt mối quan
hệ giữa các bộ phận, nhằm đảm bảo tính đồng bộ trong việc thu nhận, xử lý vàcung cấp thông tin phục vụ cho quản lý chung toàn tập đoàn
- Đảm bảo gọn nhẹ, tiết kiệm và hiệu quả
Nguyên tắc này đòi hỏi khi tổ chức bộ máy kế toán cũng như hệ thốngkiểm soát nội bộ, tập đoàn phải xem xét đến tính hiệu quả và tính kinh tế Điều
đó thể hiện tổ chức bộ máy gọn nhẹ, tiết kiệm chi phí hạch toán Mặt khác,công tác kế toán phải đảm bảo quản lý một cách tốt nhất các hoạt động kinh tếtài chính của tập đoàn, ngăn ngừa được các hiện tượng thất thoát tài sản và cácgian lận kế toán
* Nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán :
Để nghiên cứu nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán, trước hết cần căn cứvào nhiệm vụ của kế toán được quy định tại điều 5 của Luật kế toán Việt nam,
- Phân tích thông tin, số liệu kế toán; tham nưu, đề xuất các giải phápphục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính của đơn vị
- Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật
Trang 24Xuất phát từ nhiệm vụ của kế toán, tổ chức công tác kế toán cần thựchiện tốt nhiệm vụ sau đây:
- Tổ chức bộ máy kế toán hợp lý để thực hiện các công việc kế toán ởcác đơn vị thành viên tập đoàn, bao gồm việc phân công, phân nhiệm công việc
kế toán theo từng bộ phận đảm bảo từng phần hành kế toán phù hợp với hìnhthức tổ chức công tác kế toán
- Tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán, chế độ kế toán, vận dụngcác nguyên tắc kế toán, chuẩn mực kế toán và tổ chức sử dụng các phương tiện
kỹ thuật tính toán để thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kế toáncho các đối tượng sử dụng
- Xác định rõ mối quan hệ giữa các bộ phận kế toán trong bộ máy kếtoán và giữa các bộ phận kế toán với các bộ phận chức năng trong đơn vị vềcác công việc có liên quan đến công tác kế toán nhằm đảm bảo sự thống nhấttrong cung cấp thông tin
1.2.4 Nội dung tổ chức công tác kế toán ở các tập đoàn kinh tế
Việc tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý có thể giúp cung cấpthông tin, số liệu kế toán kịp thời, đầy đủ để đánh giá tình hình tài chính, tìnhhình hoạt động và hiệu quả kinh tế của đơn vị, qua đó làm giảm bớt khối lượngcông tác kế toán trùng lắp, tiết kiệm chi phí Đồng thời, giúp kiểm kê, kiểmsoát tài sản, nguồn vốn và các hoạt động kinh tế tài chính từ đó góp phần ngănngừa những hành vi làm tổn hại đến tài sản của đơn vị cũng như xác định lợiích của nhà nước, của các chủ thể trong nền kinh tế thị trường Để có thể thựchiện được những điều đó thì đòi hỏi việc tổ chức công tác kế toán trong doanhnghiệp nói chung và TĐKT nói riêng phải thực hiện trên các nội dung theo quyđịnh của từng quốc gia nhưng tập trung chủ yếu vào các nội dung sau:
- Tổ chức bộ máy kế toán
- Tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ kế toán
- Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán
- Tổ chức vận dụng hình thức kế toán và hệ thống sổ kế toán
- Tổ chức lập, phân tích và công khai báo cáo kế toán
- Tổ chức kiểm tra kế toán
Trang 25- Tổ chức trang bị, ứng dụng các phương tiện kỹ thuật xử lý thông tinCác nội dung trên được áp dụng cho cả KTTC và KTQT Nhưng mỗiloại kế toán này có yêu cầu cụ thể khác nhau nên khi tổ chức công tác kế toáncần phải chú ý để đạt được hiệu quả cao và mang tính khả thi Tổ chức côngtác kế toán tài chính và tổ chức công tác kế toán quản trị với mục đích chung làđảm bảo cho kế toán thực sự là công cụ có hiệu lực nhất trong hệ thống cáccông cụ quản lý Về lý luận cũng như trên thực tế, tổ chức công tác kế toándoanh nghiệp có thể được thực hiện theo các mô hình sau:
- Tổ chức theo mô hình kết hợp giữa kế toán tài chính và kế toán quảntrị
- Tổ chức theo mô hình tách biệt giữa kế toán tài chính và kế toán quảntrị
- Tổ chức theo mô hình hỗn hợp: là mô hình kết hợp hai mô hình nêutrên, nghĩa là một số phần hành kế toán chủ yếu sẽ tổ chức tách biệt giữaKTTC và KTQT, còn các phần hành khác theo mô hình kết hợp
Mỗi mô hình tổ chức công tác kế toán nói trên có những ưu điểm vànhược điểm riêng đã được một số đề tài nghiên cứu ứng dụng vào thực tế Đốivới các TĐKT, do tính đặc thù của loại hình kinh doanh về quy mô rất lớn nênkhi tổ chức bộ máy kế toán nên lựa chọn mô hình tách biệt giữa KTTC vàKTQT hoặc mô hình hỗn hợp Nhưng cũng phải lưu ý rằng, do đặc điểm kếtoán doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là KTTC được thiết lập dựa trên nềntảng kế toán động, còn KTQT (kế toán phân tích) ở các quốc gia đều là kế toánđộng, nên đối với những nội dung còn lại của tổ chức công tác kế toán cần ápdụng mô hình tổ chức kết hợp giữa KTTC và KTQT là hợp lý, đảm bảo đượccác yêu cầu đặt ra, mang tính khả thi, tiết kiệm chi phí và đạt hiệu quả cao
1.2.4.1 Tổ chức bộ máy kế toán
Việc tổ chức thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, nội dung công tác kếtoán trong đơn vị do bộ máy kế toán đảm nhận Vì vậy, việc tổ chức cơ cấu bộmáy kế toán sao cho hợp lý, gọn nhẹ nhưng vẫn hoạt động có hiệu quả là điềuquan trọng để cung cấp thông tin kế toán một cách kịp thời, trung thực và đầy
đủ, hữu ích cho các đối tượng sử dụng thông tin, đồng thời phát huy và nâng
Trang 26cao trình độ nghiệp vụ, hiệu quả lao động của nhân viên kế toán Đơn vị tổchức bộ máy kế toán như thế nào phù hợp với việc đơn vị lựa chọn hình thức tổchức công tác kế toán.
Về mặt lý luận cũng như trong thực tế hiện nay, tổ chức công tác kế toántại các tập đoàn dựa theo hình thức tổ chức công tác kế toán phân tán Tươngứng với hình thức tổ chức công tác kế toán phân tán có mô hình tổ chức bộmáy kế toán phù hợp Tuy nhiên, do không có bộ máy quản lý chung cho tậpđoàn được thiết lập nên không có bộ máy kế toán chung cho tập đoàn công ty
mẹ - con Mỗi công ty thành viên là những pháp nhân độc lập đều có bộ máy
kế toán riêng chịu trách nhiệm về công tác kế toán của công ty đó Việc lập vàtrình bày BCTCHN là do bộ máy kế toán của công ty mẹ thực hiện
Sự phân công những người làm kế toán đảm nhận các phần hành kế toán
cụ thể trong bộ máy kế toán được thực hiện theo nguyên tắc nhất định và phải
có sự kết hợp giữa khối lượng công việc, tính phức tạp của công việc và trình
độ của người làm kế toán Đồng thời, cần chú ý đến việc thu nhận, xử lý, phântích và cung cấp thông tin của cả hai loại KTTC và KTQT Trong kế toán tàichính, cần tổ chức phân công giữa các phần hành kế toán cụ thể, đảm bảothống nhất số liệu kế toán tổng hợp và số liệu kế toán chi tiết nhằm cung cấpđầy đủ, kịp thời các thông tin cần thiết phục vụ cho việc lập BCTC định kỳ củatập đoàn Trong kế toán quản trị, cần tổ chức phân công thu nhận, xử lý vàcung cấp thông tin theo yêu cầu quản lý các chỉ tiêu quản trị cụ thể Việc phâncông, phân nhiệm đối với các phần hành cụ thể của bộ máy kế toán phải đảmbảo mối quan hệ hữu cơ giữa các phần hành kế toán Đặc biệt, để việc lậpBCTCHN được đơn giản, thuận tiện, đáp ứng đòi hỏi về chất lượng cũng nhưtiến độ thì tổ chức kế toán lập BCTCHN cần được thực hiện thống nhất trênphạm vi toàn bộ tập đoàn và không có sự tách biệt đáng kể giữa kế toán công
ty mẹ, công ty con hay kế toán hợp nhất BCTC Trong quá trình tổ chức côngtác kế toán tại các công ty con, công ty liên kết thì mục tiêu phục vụ cho quátrình hợp nhất cũng là mục tiêu bắt buộc
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán của công ty mẹ có thể được minh hoạ
theo Sơ đồ 1.1.
Trang 27Sơ đồ 1.1: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán của công ty mẹ trong các TĐKT
Theo đó, việc phân công, phân nhiệm trong công tác kế toán được thựchiện như sau:
- Bộ máy kế toán của công ty mẹ có nhiệm vụ trước hết là phân côngcông việc cho cán bộ kế toán tại công ty mẹ, đồng thời tổ chức, điều hành vàthực hiện các nội dung tổ chức công tác kế toán của tập đoàn Ở một chừngmực nhất định sẽ thực hiện hướng dẫn nghiệp vụ, chính sách kế toán và kiểmtra công tác kế toán phục vụ việc lập BCTCHN tại các công ty con
Bộ máy kế toán công ty mẹ thực hiện các công việc chủ yếu sau:
+ Mỗi bộ phận kế toán thực hiện thu nhập, xử lý thông tin liên quan tớiđối tượng kế toán thuộc công ty như: kế toán tài sản cố định, kế toán vật tưhàng hoá, kế toán đầu tư tài chính,
+ Bộ phận kiểm tra kế toán: Nhận và kiểm tra số liệu kế toán của công ty
Kế toán trưởngcông ty mẹ
Bộ máy kế toáncông ty mẹ
Bộphậnkếtoántài sảncốđịnh
Bộphận
và tínhgiáthành
Bộphậnkếtoántiền vàcôngnợ
Bộ phận
kế toándoanhthu vàkết quảkinhdoanh
Bộphậnkếtoánnguồnvốnđầutư…
Bộphậnkếtoánhàngtồnkho
Trang 28mẹ và số liệu các đơn vị thành viên báo cáo.
+ Bộ phận kế toán tổng hợp:
Căn cứ vào số liệu được thu thập, xử lý từ các bộ phận kế toán của
công ty mẹ cung cấp lập BCTC riêng và báo cáo kế toán quản trị của công tymẹ
Căn cứ vào BCTC riêng của công ty mẹ và các BCTC riêng của các
công ty con, cùng những tài liệu liên quan, phân tích, tổng hợp số liệu lậpBCTCHN và trong trường hợp cần thiết thì có thể lập BCTC theo bộ phận kinhdoanh Đặc biệt, do quá trình hợp nhất BCTC rất phức tạp, những công việcchuẩn bị phải được thực hiện đều đặn, thường xuyên trong suốt niên độ thì mớikịp cho các bút toán loại trừ, điều chỉnh để hợp nhất vào cuối năm nên công ty
mẹ có thể phải sắp xếp, bố trí nhân viên kế toán chuyên trách công tác kiểmtra, đối chiếu số liệu và thực hiện lập BCTCHN của cả tập đoàn
Tương ứng với mỗi bộ phận của KTTC nói trên là các phần hành củaKTQT Người làm kế toán được giao thực hiện các công việc của KTTC, đồngthời được giao thực hiện các công việc của KTQT Theo mô hình này thìnhiệm vụ cụ thể trong tổ chức công tác kế toán tài chính và kế toán quản trị củatừng bộ phận kế toán tại công ty mẹ như sau:
- Bộ phận kế toán tiền và công nợ:
+ KTTC có nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện ghi chép kế toán tổng hợp và
kế toán chi tiết các loại vốn bằng tiền, các khoản thanh toán với các đơn vị bênngoài tập đoàn cũng như giữa các đơn vị thành viên trong tập đoàn như thanhtoán với người bán, thanh toán với khách hàng, thanh toán các khoản với ngânsách nhà nước, thanh toán các khoản vay
+ KTQT căn cứ yêu cầu quản trị cụ thể đối với từng chỉ tiêu để mở sổ kếtoán nhằm thu nhận được các thông tin phục vụ cho KTQT và lập báo cáo quảntrị như:
Lập dự toán thu, chi theo mục đích khác nhau và theo từng bộ phận sử
dụng tiền
Lập dự toán tình hình công nợ đối với từng đối tượng theo từng khoản
nợ, thời hạn nợ, thời hạn thanh toán và chất lượng của khoản nợ
Trang 29Tính toán, so sánh các phương án vay, trả hay mua, bán chịu hoặc trả
tiền ngay để hưởng chiết khấu
Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán thường xuyên
Cung cấp số liệu cho lập báo cáo kế toán quản trị về các chỉ tiêu vốn
bằng tiền và công nợ
- Bộ phận kế toán tài sản cố định:
+ KTTC ghi sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết tài sản cố định,trong đó có theo dõi riêng các nghiệp vụ mua bán, trao đổi nội bộ về tài sản cốđịnh giữa các đơn vị thành viên tập đoàn Trên cơ sở đó, cung cấp thông tin về
số hiện có và tình hình biến động của tài sản cố định phục vụ cho việc lậpBCTC
+ KTQT căn cứ vào yêu cầu cụ thể về quản trị doanh nghiệp để lựa chọncác chỉ tiêu quản trị, lập dự toán, mở sổ chi tiết nhằm thu nhận, xử lý, phân tích
và cung cấp thông tin phục vụ cho công tác quản trị tài sản cố định Có thểthực hiện các công việc sau đây:
Lập dự toán tình hình tăng, giảm tài sản cố định theo từng nguồn vốn
đầu tư, theo từng bộ phận sử dụng tài sản cố định
Lập dự toán đối với các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản cố định như
doanh thu trên tài sản cố định, lợi nhuận trên tài sản cố định
Mở sổ chi tiết tài sản cố định để ghi chép tình hình biến động của tài
sản cố định theo yêu cầu quản trị
Phân tích tình hình thực hiện các chỉ tiêu liên quan đến tài sản cố định
Trang 30+ KTQT thực hiện các nội dung phù hợp với yêu cầu quản lý về các loạihàng tồn kho như:
Lập danh điểm các loại hàng tồn kho và tổ chức KTQT về số hiện có,
số đã sử dụng, đã bán cả về số lượng và giá trị
Để kế toán được số vật tư đã sử dụng và số tồn kho hợp lý, cần xác
định được phương pháp tính giá hàng tồn kho phù hợp với điều kiện và hoàncảnh cụ thể của đơn vị, đáp ứng yêu cầu quản lý cũng như lập kế hoạch chotương lai
Lập định mức chi phí nguyên liệu, vật liệu cho từng công việc, sản
phẩm và lập định mức dự trữ cho từng danh điểm hàng tồn kho
So sánh giữa định mức đã lập và thực tế đã thực hiện, đưa ra nhận xét
và kiến nghị
- Bộ phận kế toán chi phí và giá thành:
+ KTTC ghi sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết chi phí SXKD,tính giá thành sản phẩm theo từng loại sản phẩm nhằm cung cấp các số liệutổng hợp phục vụ cho việc lập BCTC về các chỉ tiêu chi phí và giá thành
+ KTQT căn cứ vào yêu cầu quản lý cụ thể để thực hiện các công việcsau:
Lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí, lập dự toán chi phí SXKD theo
từng sản phẩm hoặc chi tiết sản phẩm
Phân loại chi phí theo tiêu chuẩn phù hợp với yêu cầu quản trị
Lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ chi phí và tính toán, phân bổ chi phí cho
các đối tượng tập hợp chi phí
Lập kế hoạch giá thành theo công việc, theo địa điểm kinh doanh
Mở sổ kế toán thu nhận, ghi chép cụ thể, chi tiết các số liệu liên quan
để tính giá thành sản phẩm theo yêu cầu quản trị
Cung cấp số liệu cho việc lập báo cáo quản trị về các chỉ tiêu liên quan
đến chi phí sản xuất và giá thành
- Bộ phận kế toán doanh thu và kết quả kinh doanh:
+ KTTC thực hiện ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác các khoản doanhthu, giảm trừ doanh thu, chi phí và kết quả của từng hoạt động, đồng thời giám
Trang 31sát tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và tình hình phân phối kết quảcác hoạt động.
+ KTQT căn cứ mục tiêu và yêu cầu quản lý để thực hiện các nội dungnhư:
Lựa chọn phương pháp định giá bán sản phẩm phù hợp theo từng hoàn
cảnh, điều kiện và tình huống cụ thể
Tổ chức xây dựng mô hình tài khoản, sổ kế toán và báo cáo bán hàng
một cách liên hoàn và linh hoạt theo từng phương thức bán hàng và thanh toántiền, theo từng bộ phận bán hàng, theo từng nhóm sản phẩm, loại hoạt độngchủ yếu
Lập các dự toán về CPBH, CPQLDN, dự toán về tiêu thụ và kết quả
kinh doanh
- Bộ phận kế toán nguồn vốn - đầu tư:
+ KTTC ghi sổ kế toán tổng hợp và chi tiết về các loại nguồn vốn, cáckhoản đầu tư, góp vốn vào các công ty con trong tập đoàn cũng như các công
ty liên kết, liên doanh hoặc các khoản đầu tư khác, từ đó cung cấp số liệu tổnghợp để lập BCTC về các chỉ tiêu này
+ KTQT căn cứ vào yêu cầu quản lý các loại nguồn vốn, các khoản đầu
tư để mở sổ thu nhận, xử lý và cung cấp số liệu phục vụ cho việc quản trịnguồn vốn và các khoản đầu tư
Còn tại các công ty con sẽ tổ chức bộ máy kế toán để thu nhận, xử lý vàcung cấp thông tin kinh tế tài chính và các thông tin khác cần thiết tại công tycon đồng thời còn phải thực hiện, tuân thủ những hướng dẫn của kế toán công
ty mẹ về thủ tục và chính sách kế toán hợp nhất, cụ thể:
- Phân công trách nhiệm từng bộ phận thu nhập, xử lý thông tin liên quanđến từng đối tượng của kế toán tại đơn vị: Kế toán vật tư hàng hoá, kế toán tiềnlương,
- Bộ phận kiểm tra và kế toán tổng hợp: Thực hiện kiểm tra số liệu, lậpbáo cáo tài chính riêng và báo cáo kế toán quản trị của đơn vị đó, riêng đối vớicác công ty con cần cung cấp giải trình những thông tin cần thiết bổ sung vàobáo cáo tài chính riêng của công ty con cho công ty mẹ phục vụ cho công ty mẹ
Trang 32- Hệ thống chứng từ áp dụng trong công ty mẹ
- Hệ thống chứng từ áp dụng trong từng công ty con
Tất cả các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh liên quan đến hoạt độngcủa đơn vị đều phải lập chứng từ kế toán, chứng từ kế toán phải lập rõ ràng, đầy
đủ, kịp thời và chính xác nội dung quy định trên chứng từ Các nghiệp vụ kinh
tế, tài chính phát sinh ở nhiều địa điểm, thời điểm khác nhau, liên quan đếnnhiều bộ phận khác nhau đòi hỏi kế toán phải quy định, hướng dẫn cách ghichép trên chứng từ kế toán một cách cụ thể, chi tiết đảm bảo cho các chứng từ
kế toán được lập đúng yêu cầu của pháp luật và chính sách, chế độ kế toán củaNhà nước, làm căn cứ đáng tin cậy để ghi sổ kế toán Tổ chức thu nhận và kiểmtra thông tin kế toán vào chứng từ kế toán bao gồm tổ chức hạch toán ban đầucác nghiệp vụ kinh tế ngoại sinh và tổ chức thu nhận thông tin về nghiệp vụkinh tế nội sinh
Tổ chức hạch toán ban đầu các nghiệp vụ ngoại sinh là công việc khởiđầu của quy trình kế toán nhưng không hoàn toàn do nhân viên kế toán thựchiện, mà có thể do nhân viên ở các bộ phận trong đơn vị thực hiện với sựhướng dẫn của kế toán trưởng Nội dung công việc chủ yếu của tổ chức hạchtoán ban đầu bao gồm:
- Quy định việc sử dụng các mẫu chứng từ ban đầu thích hợp với từngloại nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh
Hệ thống chứng từ áp dụng cho công ty mẹ và từng công ty con được lựachọn thống nhất, đồng thời quy định, hướng dẫn các bộ phận liên quan ghi chépđúng, chính xác, đầy đủ các yếu tố trên chứng từ kế toán Đặc biệt trong công ty
Trang 33mẹ và các công ty con, mỗi chứng từ cần được quy định chặt chẽ, chi tiết hơn
về cách thức ghi từng chỉ tiêu cụ thể phục vụ cho việc ghi sổ kế toán và cungcấp thông tin BCTCHN của tập đoàn Chẳng hạn, trong trường hợp có giao dịchkinh tế giữa các bên liên quan, cần ghi chi tiết trên chứng từ để ghi sổ phục vụlàm căn cứ loại trừ khi lập BCTCHN Kế toán cần cụ thể hoá và bổ sung thêmmột số nội dung trên chứng từ để phục vụ cho việc nhận diện, thu thập thôngtin quá khứ, chi tiết theo mục tiêu quản lý Bên cạnh đó, KTQT của công ty mẹcần sử dụng rộng rãi các chứng từ hướng dẫn, cụ thể hoá hệ thống chứng từhướng dẫn, chọn lọc, bổ sung, sửa đổi các chỉ tiêu trên chứng từ cho phù hợpvới nội dung kế toán quản trị, thiết kế một số chứng từ kế toán cần thiết đểphản ánh các nội dung thông tin thích hợp theo yêu cầu của quản trị tập đoàn
- Quy định và hướng dẫn người chịu trách nhiệm ghi nhận thông tin vềnghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh vào chứng từ ban đầu ở từng bộ phận
- Phân công kế toán viên chịu trách nhiệm thu nhận và kiểm tra cácchứng từ ban đầu đảm bảo tính trung thực của thông tin về các nghiệp vụ kinh
tế, tài chính phát sinh
Khác với hạch toán ban đầu, tổ chức thực hiện thu nhận thông tin về cácnghiệp vụ nội sinh phát sinh trong quá trình xử lý thông tin kế toán do các kếtoán viên trực tiếp thực hiện trên cơ sở số liệu, thông tin kế toán đã được hệthống hoá từ các chứng từ ban đầu, hoặc phải tính toán, xác định một số khoảnmục chi phí kinh doanh trong kỳ trên cơ sở các dự toán, các kế hoạch, gồm cácnội dung chủ yếu như:
- Quy định việc sử dụng các mẫu chứng từ thích hợp đối với từng loạinghiệp vụ nội sinh để ghi nhận thông tin, làm căn cứ ghi sổ kế toán trước khikhoá sổ Các mẫu chứng từ này thường được gọi là các Bảng kê, các Bảngphân bổ, các Bảng tổng hợp và phân bổ
- Phân công từng bộ phận kế toán, từng kế toán viên thực hiện từngnghiệp vụ xử lý thông tin kế toán phù hợp với chức năng, nhiệm vụ
* Tổ chức kiểm tra và luân chuyển chứng từ kế toán
- Tổ chức kiểm tra chứng từ kế toán:
Trang 34Kiểm tra thông tin về các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh phản ánhtrên chứng từ kế toán là công việc thường xuyên và cần thiết nhằm đảm bảotính chính xác cho việc ghi chép và cung cấp thông tin Nội dung công việckiểm tra chứng từ kế toán trước khi ghi sổ kế toán bao gồm:
+ Kiểm tra tính thực tế của nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở đơn vị nhằmloại trừ việc giả mạo chứng từ để tham ô hoặc thanh toán khống
+ Kiểm tra tính hợp pháp của nghiệp vụ kinh tế phát sinh phản ánh trongchứng từ nhằm đảm bảo tuân thủ các chế độ, thể lệ về quản lý kinh tế, tài chínhhiện hành, hạn chế những hành vi vi phạm làm tổn hại đến tài sản của đơn vị
+ Kiểm tra tính hợp lý của nghiệp vụ kinh tế phản ánh trong chứng từ.+ Kiểm tra tính trung thực của các chỉ tiêu hiện vật, giá trị
+ Kiểm tra việc tính toán các chỉ tiêu phản ánh trong chứng từ nhằmđảm bảo tính chính xác của số liệu kế toán
+ Kiểm tra tính đầy đủ của việc ghi chép các yếu tố trên chứng từ nhằmđảm bảo tính pháp lý của chứng từ
- Tổ chức luân chuyển chứng từ kế toán:
Chứng từ kế toán vừa là vật mang tin vừa là phương tiện truyền tin, vìvậy ở mỗi đơn vị cần phải xây dựng các chương trình luân chuyển chứng từthích ứng đối với từng loại nghiệp vụ, kinh tế tài chính phát sinh Trong từngchương trình luân chuyển chứng từ cần quy định rõ trình tự luân chuyển chứng
từ khi lập hoặc nhận phải được tuần tự luân chuyển qua các bộ phận nào, thờigian thực hiện hoặc kiểm tra nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính đến khâucuối cùng là lưu trữ chứng từ
Mỗi loại chứng từ có vị trí, tác dụng và đặc tính vận động khác nhautrong quản lý, vì thế cần phải xây dựng kế hoạch luân chuyển chứng từ hợp lý,đảm bảo cho chứng từ kế toán vận động qua các khâu nhanh nhất, tránh đượckhâu trung gian
1.2.4.3 Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán
Để hệ thống hoá được thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tế tài chínhcủa đơn vị phục vụ cho quản lý, kế toán sử dụng tài khoản kế toán Tài khoản
kế toán được sử dụng để phân loại đối tượng kế toán, phản ánh tình hình biến
Trang 35động của đối tượng kế toán nhằm cung cấp thông tin cho quản lý Hệ thống tàikhoản kế toán là bảng kê các tài khoản kế toán dùng cho đơn vị kế toán Mụcđích cơ bản của việc xây dựng hệ thống tài khoản kế toán là hướng tới việc hệthống hoá thông tin về tình hình hiện có và sự vận động của các đối tượng kếtoán trong doanh nghiệp Khi xây dựng hệ thống tài khoản kế toán cần quantâm đến khả năng đáp ứng của các tài khoản đối với yêu cầu hệ thống hoá vàcung cấp thông tin tổng quát và thông tin chi tiết phục vụ cho công tác quản lýhay không Vì vậy, xây dựng hệ thống tài khoản kế toán được coi là khâu quantrọng và có ý nghĩa lớn trong tổ chức công tác kế toán ở các tập đoàn.
Dựa trên những quy định chung của quốc gia, các đơn vị thành viên tậpđoàn lựa chọn, áp dụng một hệ thống tài khoản kế toán phù hợp với chức năng,nhiệm vụ, yêu cầu quản lý cũng như đặc điểm SXKD và lĩnh vực hoạt động củađơn vị, bao gồm:
- Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong công ty mẹ
- Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong các công ty con
Như vậy, tập đoàn cần nắm được hệ thống tài khoản kế toán áp dụng vàphương pháp ghi chép trên tài khoản trong từng đơn vị thành viên Đồng thời,cần xác định nội dung ghi chép trên các tài khoản kế toán mở riêng cho bộ phậnlàm nhiệm vụ lập BCTCHN
Lưu ý là với cùng một tài khoản sử dụng, song phạm vi, nội dung vàphương pháp phản ánh trên tài khoản có thể khác nhau đối với phục vụ lậpBCTC riêng và đối với phục vụ lập BCTCHN Điển hình đối với các khoảnđầu tư như khi công ty mẹ và các công ty con của tập đoàn có khoản đầu tưvào công ty liên kết, cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát thì theo quy định củaVAS 07 "Đầu tư vào công ty liên kết", VAS 08 ‘Thông tin tài chính về cáckhoản vốn góp liên doanh’, khoản đầu tư đó được ghi nhận và phản ánh trên tàikhoản kế toán theo phương pháp giá gốc khi lập và trình bày BCĐKT riêng,tức là khoản đầu tư được ghi nhận ban đầu theo giá gốc, sau đó không đượcđiều chỉnh theo những thay đổi phần sở hữu của nhà đầu tư trong tài sản thuầncủa bên nhận đầu tư BCKQHĐKD chỉ phản ánh khoản thu nhập của nhà đầu
tư được phân chia từ lợi nhuận thuần luỹ kế của bên nhận đầu tư phát sinh sau
Trang 36ngày đầu tư Còn trong BCTCHN của tập đoàn, khoản đầu tư vào công ty liênkết, cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát được kế toán theo phương pháp vốn chủ
sở hữu tức là được ghi nhận ban đầu theo giá gốc, sau đó được điều chỉnh theonhững thay đổi phần sở hữu của nhà đầu tư trong tài sản thuần của bên nhậnđầu tư nên sẽ phải thực hiện một số bút toán điều chỉnh để xác định giá trịkhoản đầu tư phản ánh trên BCĐKT hợp nhất BCKQHĐKD hợp nhất phảiphản ánh phần sở hữu của nhà đầu tư trong kết quả kinh doanh của bên nhậnđầu tư
Đơn vị cũng có thể đề nghị bổ sung tài khoản cấp 1 hoặc cấp 2 đối vớicác tài khoản chưa có trong hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp để phảnánh nội dung kinh tế riêng có phát sinh tại đơn vị và chỉ được thực hiện sau khiBTC chấp thuận bằng văn bản
Để đáp ứng yêu cầu quản lý tập đoàn, công ty mẹ có thể cụ thể hoá, bổsung thêm tài khoản cấp 3, cấp 4…phục vụ cho KTQT nhưng phải phù hợp vớinội dung, kết cấu và phương pháp hạch toán của tài khoản cấp trên tương ứng.Việc cụ thể hoá hệ thống tài khoản chi tiết phải đảm bảo phản ánh, hệ thốnghoá đầy đủ, cụ thể mọi nội dung của đối tượng hạch toán, mọi nghiệp vụ kinh
tế tài chính phát sinh, phù hợp với những quy định thống nhất của nhà nước vàcác văn bản hướng dẫn thực hiện của các cơ quan quản lý cấp trên, đáp ứngyêu cầu xử lý thông tin trên máy vi tính và thoả mãn nhu cầu thông tin cho cácđối tượng sử dụng Trên các tài khoản chi tiết phản ánh kết hợp thước đo giá trịvới các thước đo khác Chẳng hạn, trên các tài khoản chi phí cần mở chi tiết để
có thể vừa tổng hợp được chi phí theo nội dung kinh tế, vừa tổng hợp được chiphí theo công dụng kinh tế, lại vừa có thể tổng hợp được chi phí theo mối quan
hệ giữa chi phí với khối lượng hoạt động
1.2.4.4 Tổ chức vận dụng hình thức kế toán và hệ thống sổ kế toán
Hình thức kế toán là hệ thống sổ kế toán để ghi chép, hệ thống hoá vàtổng hợp số liệu từ các chứng từ kế toán theo trình tự và phương pháp ghi sổnhất định Tổ chức vận dụng hình thức kế toán trong tập đoàn kinh tế thực chất
là tổ chức hệ thống sổ kế toán áp dụng cho công ty mẹ và các công ty con, baogồm các sổ kế toán tổng hợp, các sổ kế toán chi tiết đầy đủ chủng loại, có kết
Trang 37cấu phù hợp, đảm bảo mối quan hệ đối chiếu, phương pháp ghi chép hợp lýnhằm thu nhận và cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin kế toán phục vụ cho côngtác quản lý tập đoàn cũng như từng đơn vị thành viên Công ty mẹ và các công
ty con phải dựa trên những quy định chung của quốc gia đồng thời căn cứ vàođặc điểm SXKD, quy mô, yêu cầu quản lý, trình độ nhân viên kế toán, phươngtiện tính toán…để lựa chọn hình thức kế toán phù hợp Trên cơ sở đó, đơn vị
cụ thể hoá các sổ kế toán theo hình thức kế toán đã lựa chọn
Đối với KTTC, các sổ kế toán tổng hợp vận dụng phải tuân thủ mọinguyên tắc cơ bản về loại sổ, kết cấu các loại sổ, mối quan hệ và sự kết hợpgiữa các loại sổ, trình tự và kỹ thuật ghi chép các loại sổ kế toán Các sổ kếtoán chi tiết mang tính hướng dẫn, đơn vị có thể cụ thể hoá để phản ánh thôngtin chi tiết theo yêu cầu quản lý của đơn vị Như vậy, tập đoàn cần nắm được :
- Thứ nhất, hệ thống sổ sách kế toán áp dụng trong từng đơn vị thànhviên (công ty mẹ, công ty con) Hệ thống sổ kế toán ở từng đơn vị thành viêntập đoàn cần được thiết kế mẫu linh hoạt, vừa đảm bảo xử lý, tổng hợp số liệu
để cung cấp số liệu lập BCTC riêng của từng đơn vị thành viên và theo dõi chitiết để báo cáo theo bộ phận kinh doanh (lĩnh vực kinh doanh, khu vực kinhdoanh)
- Thứ hai, xác định nội dung ghi chép trên các sổ kế toán mở riêng cho
bộ phận làm nhiệm vụ lập BCTCHN Chính vì vậy, bộ phận làm nhiệm vụ lậpBCTCHN cần thiết phải sử dụng một hệ thống sổ kế toán nhằm phân tích, tổnghợp số liệu liên quan phục vụ cho yêu cầu lập BCTCHN Sổ kế toán cần thểhiện:
+ Số liệu chi tiết từng khoản mục tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu,doanh thu, thu nhập khác, chi phí trên BCTC riêng của công ty mẹ và từngcông ty con
+ Theo dõi chi tiết theo đơn vị tiền tệ kế toán của từng đơn vị thành viên
và quy đổi ra đơn vị tiền tệ kế toán của công ty mẹ để lập BCTCHN
+ Phân tích, tổng hợp các tài liệu liên quan: Khoản đầu tư của tập đoànvào công ty liên kết, cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát, giao dịch nội bộ giữa
Trang 38các đơn vị trong tập đoàn,…làm căn cứ tính toán, xác định số liệu phục vụ việcthực hiện các bút toán điều chỉnh khi hợp nhất.
+ Sổ kế toán mở chi tiết cho phép tập đoàn có thể thuyết minh chi tiếthơn về tình hình tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh của tập đoàn theolĩnh vực kinh doanh, và theo loại hình kinh doanh phục vụ lập "Báo cáo bộphận"
Để ghi nhận các thông tin, số liệu liên quan đến hợp nhất BCTC có thể
mở các sổ kế toán như: Sổ theo dõi tình hình mua, sáp nhập doanh nghiệp; Sổ
kế toán chi tiết theo dõi các khoản đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh (Phụ lục 1.1); Bảng xác định phần lợi nhuận hoặc lỗ trong công ty liên kết, liên doanh (Phụ lục 1.2); Sổ theo dõi phân bổ các khoản chênh lệch phát sinh khi mua khoản đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh (Phụ lục 1.3); Bảng tổng hợp các bút toán điều chỉnh (Phụ lục 1.4); Bảng tổng hợp các chỉ tiêu hợp nhất (Phụ lục 1.5)
Đối với KTQT, sổ kế toán được thiết kế mẫu theo yêu cầu quản lý nội bộ
và theo từng chỉ tiêu cụ thể Các chỉ tiêu được phản ánh trong các mẫu sổ phảiđảm bảo cung cấp được những thông tin chi tiết phục vụ cho việc lập báo cáo
kế toán quản trị và phân tích thường xuyên Ngoài số liệu thực tế, sổ kế toánquản trị còn cần thiết phải có thêm phần ghi các chỉ tiêu dự toán, kế hoạchnhằm đảm bảo cơ sở cho việc kiểm tra tình hình thực hiện dự toán, thực hiệnđịnh mức theo các chỉ tiêu phản ánh trên các sổ Đồng thời, ngoài việc phảnánh các chỉ tiêu về giá trị còn phải phản ánh các chỉ tiêu hiện vật Các sổ kếtoán cần phải phản ánh theo nhiều chỉ tiêu phù hợp với các tài khoản chi tiết để
có thông tin hữu ích sử dụng trên báo cáo kế toán quản trị đặc thù để có thểtổng hợp theo nhiều yêu cầu khác nhau nhằm kiểm soát, đánh giá từng bộphận Công ty mẹ có thể thiết kế các sổ kế toán mới phù hợp với yêu cầu quản
lý chi phí, doanh thu và xác định kết quả kinh doanh theo bộ phận, mặt hàng,công việc và các yêu cầu khác của KTQT
Hệ thống sổ kế toán quản trị cần phải được đánh số hiệu cụ thể và cóphần giải thích cách ghi chép đối với từng chỉ tiêu theo từng mẫu sổ Các đơn
vị thường sử dụng các mẫu sổ kế toán quản trị dưới đây:
Trang 39Bảng 1.1: Danh mục sổ kế toán quản trị
3 Sổ kế toán quản trị các khoản đầu tư tài chính 03-SQT
5 Sổ kế toán quản trị chi phí NVL trực tiếp 05-SQT
6 Sổ kế toán quản trị chi phí NC trực tiếp 06-SQT
7 Sổ kế toán quản trị chi phí sản xuất chung 07-SQT
9 Sổ kế toán quản trị chi phí bán hàng 09-SQT
10 Sổ kế toán quản trị chi phí quản lý doanh nghiệp 10-SQT
11 Sổ kế toán quản trị giá vốn hàng bán 11-SQT
12 Phiếu tính giá thành sản phẩm 12-SQT
13 Sổ kế toán quản trị kết quả kinh doanh 13-SQT
1.2.4.5 Tổ chức lập và phân tích báo cáo kế toán
* Tổ chức lập báo cáo tài chính:
Các đơn vị kế toán bắt buộc phải lập, cung cấp BCTC cho các đối tượngtheo yêu cầu của luật định Theo Luật kế toán Việt nam và VAS 21 "Trình bàybáo cáo tài chính" quy định hệ thống BCTC của doanh nghiệp bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Thuyết minh báo cáo tài chính
Trong một tập đoàn, do các đơn vị thành viên hạch toán độc lập nên có
hệ thống báo cáo tài chính riêng của công ty mẹ và hệ thống báo cáo tài chínhriêng của từng công ty con Báo cáo tài chính riêng của công ty mẹ và từngcông ty con được trình bày theo yêu cầu, nguyên tắc và phương pháp chungquy định trong các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Đồng thời dựa trên
Trang 40BCTC riêng của công ty mẹ và từng công ty con, tập đoàn thực hiện lậpBCTCHN.
Báo cáo tài chính hợp nhất được bao hàm bởi thuật ngữ "báo cáo tàichính" được quy định trong VAS 01 "Chuẩn mực chung" Do đó, việc lậpBCTCHN được thực hiện trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán Việt Nam.Báo cáo tài chính hợp nhất là BCTC của một tập đoàn được trình bày nhưBCTC của một doanh nghiệp Tất cả các công ty mẹ phải lập và trình bàyBCTCHN, trừ trường hợp công ty mẹ đồng thời là công ty con bị công ty khác
sở hữu toàn bộ hoặc gần như toàn bộ (bị công ty khác nắm giữ trên 90% quyềnbiểu quyết) và nếu được cổ đông thiểu số trong công ty chấp thuận thì khôngphải lập và trình bày BCTCHN
Công ty mẹ khi lập BCTCHN phải hợp nhất báo cáo tài chính của tất cảcác công ty con ở trong và ngoài nước, trừ khi:
- Quyền kiểm soát của công ty mẹ chỉ là tạm thời vì công ty con này chỉđược mua và nắm giữ cho mục đích bán lại trong tương lai gần (dưới 12 tháng)
- Hoặc hoạt động của công ty con bị hạn chế trong thời gian dài và điềunày ảnh hưởng đáng kể tới khả năng chuyển vốn cho công ty mẹ
· Trình tự hợp nhất BCĐKT và BCKQHĐKD được thực hiện như sau:
- Thứ nhất, BCĐKT và BCKQHĐKD của công ty mẹ và các công ty con
sẽ được hợp nhất theo từng khoản mục bằng cách cộng các khoản tương đươngcủa tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu, thu nhập khác và chi phí
- Thứ hai, giá trị ghi sổ khoản đầu tư của công ty mẹ trong từng công tycon và phần vốn của công ty mẹ trong phần vốn chủ sở hữu của công ty conphải được loại trừ và ghi nhận lợi thế thương mại (nếu có)
- Thứ ba, lợi ích của cổ đông thiểu số trong thu nhập thuần của công tycon bị hợp nhất trong kỳ báo cáo được xác định và loại trừ ra khỏi thu nhập củatập đoàn để tính lãi, lỗ thuần có thể được xác định cho những đối tượng sở hữucông ty mẹ
- Thứ tư, lợi ích cổ đông thiểu số trong tài sản thuần của công ty con bịhợp nhất được xác định và trình bày trên BCĐKT hợp nhất thành một chỉ tiêu