2.Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu tổng quát Xuất phát từ thực tế,nhằm tìm hiểu các yếu tố tác động đến rối nhiễu lo âu trong sinh viên, đề tài chỉ tập trung tìm hiểu các yếu tố xã hội
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHAN THỊ HOÀI YẾN
YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN RỐI NHIỄU LO ÂU TRONG SINH VIÊN ĐẠI HỌC Y DƯỢC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGÀNH XÃ HỘI HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012
Trang 2-
PHAN THỊ HOÀI YẾN
YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN RỐI NHIỄU LO ÂU TRONG SINH VIÊN ĐẠI HỌC Y DƯỢC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, đề tài nghiên cứu này chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác
Số liệu được phân tích và dẫn chứng trong đề tài là kết quả nghiên cứu thực nghiệm của tôi đã tiến hành thực hiện tại Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh tháng 8 năm 2012
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 10 năm 2012
Tác giả luận văn
Phan Thị Hoài Yến
Trang 4Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, tác giả luận văn đã nhận được rất nhiều sự ủng hộ, giúp đỡ của nhiều tổ chức và cá nhân Xin trân trọng cảm ơn tới: Ban chủ nhiệm Khoa xã hội học, Phòng sau đại học - Trường Đại học KHXH&NV, Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh đã chấp nhận và tạo điều kiện cho tác giả thực hiện đề tài này
Tác giả đặc biệt cảm ơn PGS TS Lê Thị Hoa đã tận tình hướng dẫn, chỉnh sửa về nội dung, hình thức cho Luận văn từ khi làm đề cương đến khi hoàn thành đề tài nghiên cứu Cảm ơn các thầy, cô đã nhiệt tình giảng dạy trong suốt khóa học Tôi cũng chân thành cảm ơn các sinh viên ĐHYD Thành Phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ và hợp tác giúp tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Để luận văn được hoàn thiện hơn, tác giả kính mong Hội đồng chấm luận văn thạc sỹ, các thầy cô và các bạn góp ý, phê bình và chỉ ra những thiếu sót không thể tránh khỏi trong đề tài nghiên cứu này Một lần nữa, xin trân trọng cảm ơn
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 10 năm 2011
Phan Thị Hoài Yến
Trang 5LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu, khách thể và nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn……… .2
PHẦN NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN RỐI NHIỄU LO ÂU 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.2 Lý thuyết áp dụng 10
1.3 Khung phân tích……….14
1.4 Giả thuyết nghiên cứu………15
1.5 Phương pháp nghiên cứu………16
1.6 Giới hạn của đề tài………18
1.6 Các khái niệm và nội dung cơ bản của đề tài 18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỐI NHIỄU LO ÂU TRONG SINH VIÊN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 34
2.1 Tổng quan về Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh 34
2.2 Đặc điểm riêng của sinh viên từng khoa 35
2.3 Thể thức nghiên cứu 38
2.4 Thực trạng rối nhiễu lo âu trong sinh viên ĐH YD TP.HCM 39
Kết luận chương 2………68
ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP NGĂN NGỪA RỐI NHIỄU LO ÂU 69
KHUYẾN NGHỊ 74
KẾT LUẬN 75
Trang 6BẢNG PHỎNG VẤN SỐ 2 86
BẢNG PHỎNG VẤN SỐ 3 88
BẢNG PHỎNG VẤN SỐ 4 90
BẢNG PHỎNG VẤN SỐ 5 92
BẢNG PHỎNG VẤN SỐ 6 94
BẢNG PHỎNG VẤN SỐ 7 96
BẢNG PHỎNG VẤN SỐ 8 98
BẢNG PHỎNG VẤN SỐ 9 100
BẢNG PHỎNG VẤN SỐ 10 102
BẢNG PHỎNG VẤN SỐ 11 104
BẢNG PHỎNG VẤN SỐ 12 106
BẢNG PHỎNG VẤN SỐ 13 108
BẢNG PHỎNG VẤN SỐ 14 110
Trang 7Bảng 2.1 So sánh rối nhiễu lo âu ở sinh viên các khoa 39
Bảng 2.2 Các mức độ rối nhiễu lo âu ở sinh viên 40
Bảng 2.3 So sánh rối nhiễu lo âu sinh viên theo từng năm học 42
Bảng 2.4 Thứ tự con trong gia đình. 44
Bảng 2.5 Sinh viên làm thêm và rối nhiễu lo âu 44
Bảng 2.6 Tính chất và mục đích công việc làm thêm 46
Bảng 2.7 Môi trường sống, việc làm của sinh viên và rối nhiễu lo âu 48
Bảng 2.8 Thời gian đi từ nơi ở đến trường 49
Bảng 2.9 Môn học và rối loạn lo âu 51
Bảng 2.10 Học và thực tập của sinh viên trong tuần vừa qua của sinh viên 52
Bảng 2.11 Lo lắng trước kỳ thi của sinh viên. 52
Bảng 2.12 Nhận định của sinh viên về thời gian học và thực tập 56
Bảng 2.13 Sinh viên và kế hoạch học tập 57
Bảng 2.14 Kết quả học tập của sinh viên 57
Bảng 2.15 Mức độ hài lòng về kết quả học tập và rối nhiễu lo âu 58
Bảng 2.16 Không hài lòng của sinh viên về kết quả học và rối nhiễu lo âu. 59
Bảng 2.17 Mối liên quan giữa hoạt động của sinh viên và rối nhiễu lo âu 62
Bảng 2.18 Mối liên quan giữa kinh tế gia đình và rối nhiễu lo âu 63
Bảng 2.20 Mức độ tâm sự, chia sẻ và rối nhiễu lo âu 66
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Giới tính và rối nhiễu lo âu 43
Trang 9ĐLC : Độ lệch chuẩn
TB : Trung bình
Trang 10Ngày nay, xã hội ngày càng phát triển, đời sống văn hóa, vật chất, tinh thần càng được nâng cao thì con người cũng bị áp lực cuộc sống, công việc, học tập càng lớn Trước áp lực căng thẳng của cuộc sống, nhiều người không tránh khỏi những khủng hoảng tinh thần, sức khỏe [4, 17] Theo nghiên cứu của WHO thì ngày nay 25% dân số bị ảnh hưởng sức khỏe tinh thần Một trong những vấn đề khá phổ biến thuộc lĩnh vực sức khỏe tinh thần là rối nhiễu lo âu Rối nhiễu sức khỏe tinh thần nói chung và rối nhiễu lo âu nói riêng là gánh nặng của mỗi quốc gia Rối nhiễu sức khỏe tinh thần phổ biến ở hầu hết các lứa tuổi: trẻ em, thiếu niên, thanh niên, trung niên và người cao tuổi [1, 5, 19]
Sức khỏe tinh thần trong sinh viên mà đặc biệt là sinh viên ngành chăm sóc sức khỏe cho con người đã trở thành đề tài của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới
và trong nước [18, 22, 29, 32]
về lối sống của sinh viên, về một số hành vi, nguy cơ như uống rượu, sử dụng ma túy… Tuy nhiên lĩnh vực “sức khỏe tinh thần” trong sinh viên mà cụ thể là các yếu tố tác động đến vấn đề rối nhiễu lo âu trong sinh viên chưa được quan tâm đúng mức [17] Vì lẽ đó, tìm hiểu thực trạng rối nhiễu lo âu trong sinh viên chuyên ngành chăm sóc sức khỏe là cần thiết [8, 18, 22] Từ những lý do trên,
người nghiên cứu quyết định chọn đề tài: “Yếu tố tác động đến rối nhiễu lo âu trong sinh viên Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh”
Trang 112.Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Xuất phát từ thực tế,nhằm tìm hiểu các yếu tố tác động đến rối nhiễu lo âu trong sinh viên, đề tài chỉ tập trung tìm hiểu các yếu tố xã hội tác động đến rối nhiễu lo âu trong sinh viên ĐH YD TPHCM
Thứ hai: Xác định yếu tố xã hội tác động của rối nhiễu lo âu đến sinh viên
Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh
Thứ ba: Đề xuất các biện pháp nhằm làm giảm rối nhiễu lo âu trong sinh
viên Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh
3 Đối tượng nghiên cứu, khách thể và nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố tác động đến rối nhiễu lo âu ở sinh viên Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Khách thể nghiên cứu
450 sinh viên Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh Thuộc năm khoa: khoa Y đa khoa, Y tế công cộng, Y học cổ truyền, Y học dự phòng và Kỹ thuật y học và Điều dưỡng Năm thứ nhất, năm thứ ba và năm cuối
4 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
4.1 Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu các yếu tố xã hội tác động đến rối nhiễu lo âu trong sinh viên là một trong những đề tài mới của chuyên ngành xã hội học Do đó, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung, làm phong phú nguồn tư liệu nghiên cứu thực nghiệm của chuyên ngành xã hội học y tế
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trang 12Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần vào việc tìm ra giải pháp hỗ trợ tốt hơn cho sinh viên ngành Y trong việc nhận biết các biểu hiện của rối nhiễu lo
âu, để có những biện pháp can thiệp kịp thời, phù hợp nhằm đảm bảo kết quả học tập tốt hơn và làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe con người Bên cạnh đó, luận văn còn là tài liệu tham khảo cho các sinh viên và học viên cao học
Trang 13PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN RỐI NHIỄU LO ÂU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Rối nhiễu lo âu không chỉ là đề tài được ngành Y quan tâm mà còn có sự góp mặt của các ngành khoa học khác …và không chỉ nghiên cứu ở Việt Nam mà còn được nghiên cứu ở các nước khác trên thế giới
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Vào những năm 1955, một số tác giả đã quan tâm đến việc nghiên cứu yếu
tố tâm lý ảnh hưởng đến sức khỏe của tác giả H.Selye trong đề tài “Stress and
psychiatry” và “Stress and disease” [28, 36]
Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Naiemeh Seyedfatemi, Maryam Tafreshil và Hamid Hagani cho thấy rối nhiễu tâm lý sinh viên năm nhất là 65.8% tăng khối lượng công việc lớp học tỉ lệ 66.9% và thường xuyên nhất là sự stress trong môi trường tình huống không quen thuộc là 64.2% và chờ đợi lâu dài tỉ lệ là 60.4% [33] Stress nhiều hơn đáng kể trong năm đầu tiên so với các sinh viên năm thứ tư Trong các chiến lược đối phó có 12 lĩnh vực, vấn đề gia đình cố gắng giải thích với cha mẹ và thỏa hiệp tỉ lệ 73%, đi cùng với các quy tắc trong gia đình tỉ lệ 68% đã được sử dụng thường xuyên bởi hầu hết các sinh viên 62% sinh viên có những chiến lược tự chủ, cố gắng để làm theo quyết định của mình, các chiến lược
hỗ trợ xã hội tỉ lệ 59.6%, giúp các bạn khác giải quyết vấn đề của họ (56.3%), cố gắng để theo kịp bạn bè hoặc những người bạn mới (54.4%), các kế hoạch; cầu nguyện hay suy niệm (65.8%), nghe nhạc (57.7%), thư giãn (52.5%) và nỗ lực để được gần gũi với quan tâm đến một người nào đó về bạn (50.5%) Để tránh rối nhiễu lo âu, các sinh viên đã chọn chiến lược “tránh hút thuốc lá” (93.7%), “uống
Trang 14bia hoặc rượu vang” (92.9%), “chửi thề” (85.8%), “nhận được tư vấn chuyên nghiệp” (74.6%), “hài hước” (51.9%)
Theo kết quả nghiên cứu định tính của nhóm tác giả H.J.Hoekstra và cộng
sự, kết quả cho thấy rằng sinh viên điều dưỡng năm nhất về nhận thức đối với các bệnh nhân tinh thần và chăm sóc sức khỏe tinh thần ảnh hưởng đến sự lựa chọn của họ về chuyên môn trong việc chăm sóc sức khỏe tinh thần và tương lai làm việc trong lĩnh vực này Kết quả nghiên cứu còn cho thấy, sinh viên Điều dưỡng năm nhất có ấn tượng, chủ yếu là nhận thức tiêu cực đối với người bệnh là bệnh tinh thần và chăm sóc sức khỏe tinh thần [31]
Khảo sát mối quan hệ giữa cách đối phó, lòng tự trọng, các yếu tố cá nhân
và sức khỏe tâm lý trong 515 sinh viên Điều dưỡng được lựa chọn từ 4 viện Công
Cộng và các trường Cao đẳng tại Tây An của Trung Quốc, bằng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên Họ đã sử dụng thang đo tự đánh giá SCL-90 (năm 2010) Trên cơ
sở tổng số điểm của thang đo SCL-90 đạt được trong cuộc khảo sát, gồm điểm nhóm thấp (100 sinh viên) và nhóm điểm cao (100 sinh viên) Sau đó, thiết kế nghiên cứu trường hợp bắt cặp được kiểm soát để xác minh những mối quan hệ giữa cách đối phó, lòng tự trọng, các yếu tố cá nhân và sức khỏe tinh thần Ngoài
ra, thống kê mô tả, phân tích chi bình phương, t-test và phân tích hồi quy logistic
đa biến cũng được sử dụng Các hoạt động đối phó và lòng tự trọng điểm của các nhóm điểm số cao đã được tìm thấy là thấp hơn nhiều so với những người trong nhóm điểm thấp (p<0,05) Phân tích hồi quy Logistic đa biến cho rằng học tập Stress gấp 10 lần, khoảng tin cậy 95% là từ 3.3 đến 30.7 trong năm qua Tự hài lòng cao, tỉ số chênh là 3.7% (OR=0.037, KTC 95% từ 1,4% đến 9.7%) và lòng tự trọng tăng lên khoảng 35%, dao động trong KTC 95% là từ 15,2 đến 83.8% và nó được xem là những yếu tố phòng ngừa Để cải thiện sức khỏe tâm lý của sinh viên Điều dưỡng, ngoài việc giảm stress học tập, tránh bị động trong đối phó, đó là điều rất cần thiết để sinh viên giảm thiểu stress, đẩy mạnh tự chủ và phát triển lòng tự trọng [43]
Các nhà nghiên cứu thuộc Trường Đại học Queensland đã thực hiện nghiên
cứu toàn diện nhất về lo âu và trầm cảm Họ đã thực hiên 2 nghiên cứu riêng biệt
Trang 15về rối loạn lo âu và rối loạn trầm cảm lâm sàng, những khảo sát về lo âu và trầm cảm lâm sàng được thực hiện ở 91 quốc gia, gồm hơn 480.000 người Kết quả như sau: Trầm cảm và lo âu hiện hữu trên toàn thế giới Phát hiện này đã phản bác các giả thiết trước đây cho rằng chỉ người phương Tây mới bị trầm cảm Rối loạn lo
âu được ghi nhận ở các nước phương Tây nhiều hơn so với ở các nước khác Lo âu lâm sàng tác động tới khoảng 10% dân số ở Bắc Mỹ, Tây Âu và Úc/New Zealand
so với khoảng 8% ở Trung Đông và 6% ở châu Á Hiện tại, lo âu tác động tới khoảng 1/13 (7,3%) dân số Ngược lại, người dân ở các nước phương Tây ít bị trầm cảm nhất Trầm cảm là thấp nhất ở Bắc Mỹ và cao nhất ở một số vùng thuộc châu Á và Trung Đông Khoảng 9% người dân bị trầm cảm là ở các quốc gia châu
Á và Trung Đông, như Ấn Độ và Afghanistan, so với khoảng 4% ở các nước Bắc
Mỹ và Nam Mỹ, Úc, New Zealand, và Đông Á bao gồm Trung Quốc, Thái Lan và Indonesia [29, 30, 32]
Cả trầm cảm và lo âu đều gặp ở nữ nhiều hơn so với ở nam [5, 6]
Nghiên cứu cũng cho thấy, trong khi trầm cảm lâm sàng có thể gặp trong suốt đời thì lo âu ít gặp hơn ở nam giới và nữ giới trên 55 tuổi Khoảng 1/21 người (4,7%) bị trầm cảm ở một thời điểm nào đó trong đời [19, 26, 44]
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu “Sức khỏe tinh thần của sinh viên y tế công cộng và sinh viên Điều dưỡng tại thành phố Hồ Chí Minh 2009” của hai tác giả Huỳnh Hồ Ngọc
Quỳnh và Michael Dunne Nghiên cứu xác định các vấn đề về sức khỏe tinh thần
và các yếu tố liên quan(bao gồm cả yếu tố bảo vệ và yếu tố nguy cơ) có tác động đến sức khỏe tinh thần của sinh viên khoa Y tế công cộng và Điều dưỡng tại Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh viên nữ có khuynh hướng lo âu nhiều hơn nhưng lại ít trầm cảm hơn sinh viên nam Các yếu
tố liên quan đến gia đình có ảnh hưởng đến mức độ trầm cảm của sinh viên nam trong khi những yếu tố liên quan đến môi trường học tập lại có mối liên hệ mạnh
mẽ với mức độ trầm cảm của sinh viên nữ Chiều hướng tích cực của sức khỏe tinh thần được đo lường thông qua các thang đo về hạnh phúc và hy vọng, sinh viên nam chịu ảnh hưởng của các yếu tố liên quan đến nhà trường Đối với nữ, tất
Trang 16cả các yếu tố bao gồm các đặc điểm về gia đình, nhà trường và xã hội, đều có tác động đến cảm nhận về hạnh phúc và hy vọng của họ [15]
Mục tiêu quan tâm của nghiên cứu trên là toàn bộ các mặt về đời sống tinh thần, tập trung chủ yếu là rối nhiễu lo âu và trầm cảm Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tập trung vào tìm hiểu các yếu tố xã hội tác động đến rối nhiễu
lo âu ở sinh viên các khoa, các năm học khác nhau (năm 1, năm 3, năm cuối) [ 18]
“Tỉ lệ rối nhiễu tâm trí và các yếu tố liên quan của sinh viên khoa Y tế công cộng Đại học Y dược, Thành phố Hồ Chí Minh 2010” của các tác giả Lê Anh
Tuấn, Trần Thiện Thuần, Lê Minh Thuận nghiên cứu xác định tỉ lệ rối nhiễu tâm trí và các yếu tố liên quan (bao gồm các yếu tố nhà trường, gia đình, bản thân) đến rối nhiễu tâm trí của sinh viên chính quy khoa Y tế công cộng Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh Tỷ lệ rối nhiễu tâm trí của sinh viên toàn khoa là 58,47%, không có sự khác biệt về tỷ lệ rối nhiễu tâm trí ở nam và nữ Nghiên cứu cũng tìm thấy một số yếu tố gia đình, nhà trường, bản thân có liên quan đến rối nhiễu tâm trí và tỷ lệ rối nhiễu tâm trí ở sinh viên khoa Y tế công cộng là khá cao [23]
Tuy nhiên nghiên cứu cũng chỉ mới dừng lại ở việc xác định tỉ lệ và các yếu
tố liên quan đến rối nhiễu tâm trí của sinh viên mà chưa tìm hiểu cụ thể mối quan
hệ qua lại giữa các yếu tố đó tác động như thế nào đối với sinh viên Kết quả nghiên cứu cho biết tỉ lệ rối nhiễu tâm trí ở sinh viên Khoa Y tế công cộng là khá cao, nhưng cũng chưa đưa ra được những can thiệp cụ thể nào để giảm đi tỉ lệ này Luận văn của tác giả sẽ bổ khuyết những khiếm khuyết đó Đồng thời, quy mô nghiên cứu không chỉ hạn hẹp ở sinh viên khoa Y tế công cộng mà còn có cả sự tham gia của sinh viên các khoa, các năm học thuộc Đại học Y dược Thành phố
Trang 17của bệnh tinh thần Mức độ nhận biết ở sinh viên về sress là thấp Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có sự tương quan có ý nghĩa giữa trạng thái cảm xúc và tình trạng stress, nghĩa là khi bị stress thì trạng thái cảm xúc sẽ thay đổi và ngược lại Bên cạnh đó nghiên cứu cũng đã tìm ra mối quan hệ giữa stress và các yếu tố liên quan từ môi trường học tập: đi thực tập gây mệt mỏi và sự hứng thú của chương trình học Những yếu tố bên ngoài như đi học thêm nhiều, mắc bệnh lý ảnh hưởng đến sức khỏe và việc học, quá lo lắng về tương lai và sự nghiệp sau này, bực bội mâu thuẫn với người khác, buồn phiền về người yêu người thân
Cũng như hai nghiên cứu trên, nghiên cứu này cũng chỉ hạn chế là sinh viên khoa Y tế công cộng, chưa nêu bật được khía cạnh hậu quả của stress ảnh hưởng đến chất lượng sống của sinh viên, cũng như chưa tìm ra các giải pháp hỗ trợ cho tình trạng này Rối nhiễu lo âu là một phần của stress, nhưng các yếu tố tác động đến tình trạng stress và sự giống nhau hay khác nhau về mức độ stress giữa sinh viên nam và sinh viên nữ cũng chưa thấy được đề cập
Ở mục tiêu nghiên cứu, đề tài chỉ khu trú ở việc xác định các yếu tố xã hội tác động đến rối nhiễu lo âu trong sinh viên Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh,
do đó, luận văn có cơ hội đi sâu vào nghiên cứu vấn đề này một cách chặt chẽ hơn Một nghiên cứu khác cho thấy rằng có 4 nguyên nhân chính gây ra rối nhiễu lo âu
ở sinh viên: nhóm nguyên nhân liên quan đến học tập, nhóm nguyên nhân liên quan đến gia đình, nhóm nguyên nhân liên quan đến các mối quan hệ xã hội và nhóm nguyên nhân liên quan đến bản thân sinh viên [14, 38]
Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra trong các nhóm nguyên nhân đó, nhóm nguyên nhân liên quan đến học tập là nhóm nguyên nhân chính gây ra lo âu cho các em học sinh ở trường THPT [23] Việc học tập đem đến cho các em áp lực nặng nề, nhất là kết quả học tập thực sự là nỗi băn khoăn, lo lắng và cũng là sự ám ảnh của các em Nghiên cứu cũng đề ra liệu pháp tâm lý để tác động đến các em nhất là kỹ năng tham vấn, các em đã được giải tỏa những lo lắng, đã nhận thức lại
và xác định rõ được lý do gây lo lắng và cách thức vượt qua lo lắng
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sinh viên ngành chăm sóc sức khỏe con người (SVĐHYD tại TP.HCM); sự khác nhau về đối tượng và địa bàn nghiên cứu
Trang 18sẽ tạo ra những khác biệt lớn về kết quả nghiên cứu khi sinh viên là đối tượng có các mối quan hệ xã hội, có trình độ học vấn, có môi trường sống khác hẳn với các học sinh
Nghiên cứu “Khảo sát hình tượng về sức khỏe tinh thần trong dân số chung
ở thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2002” của Bệnh viện Tâm thần thành phố Hồ
Chí Minh Nghiên cứu cho thấy cộng đồng hiểu biết về sức khỏe tinh thần còn ít
và phiến diện tuy nhiên có sự nhất trí cao với khái niệm cuộc sống hạnh phúc là cuộc sống không có bệnh tật và chan hòa tình cảm của bản thân với mọi người xung quanh [2]
Nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức độ khảo sát chung chung về sức khỏe tinh thần của dân cư trong cộng đồng để tìm hiểu về sự quan tâm và mức độ nhận biết của con người đối với các dấu hiệu liên quan đến sức khỏe tinh thần và quan niệm của họ về cuộc sống hạnh phúc Nghiên cứu chưa tập trung khai thác, xem xét, phân tích kỹ hơn ở các yếu tố tác động đến sức khỏe tinh thần, đồng thời có những biện pháp cụ thể cho thực trạng này
Kết luận do Sở Y tế Hà Nội, Bệnh viện tinh thần ban ngày Mai Hương (Hà Nội) cùng trường Đại học Melbourne (Australia) vừa công bố thông qua dự án
“Chăm sóc sức khỏe tinh thần học sinh” tại một số trường trên địa bàn Hà Nội
“Học sinh trầm cảm vì đâu” cho thấy cha mẹ ít quan tâm đến con cái, áp lực học tập, bạo lực học đường… là những yếu tố đẩy giới trẻ đến tình trạng trầm cảm
Nghiên cứu gồm 1.202 học sinh (HS) tiểu học và THCS, cho thấy tỷ lệ HS
từ 10 - 16 tuổi có vấn đề về sức khỏe tinh thần chung là 19,46% Đáng lưu ý, trong
Trang 19Việt Nam hiện vẫn còn rất bị động trong vấn đề này và chỉ khi con cái họ mắc bệnh nặng rồi họ mới tìm cách giải quyết”
“Chứng rối nhiễu lo âu khiến cuộc sống trở nên tồi tệ” của tác giả Lã Thị
Bưởi đã liệt kê các thể chính của rối nhiễu lo âu: rối nhiễu lo âu lan tỏa, ám ảnh sợ đặc hiệu, ám ảnh sợ xã hội, rối nhiễu ám ảnh cưỡng bức, rối nhiễu stress sau sang chấn, ám ảnh sợ khoảng trống, rối nhiễu hoảng sợ Đồng thời, đưa ra các biện pháp điều trị rối nhiễu lo âu.[65]
Rối nhiễu lo âu, căn bệnh gây phiền toái của Trịnh Thị Bích Huyền đưa ra
các câu hỏi để kiểm tra một người có thể có dấu hiệu lo âu hay không? Từ đó, đề cập đến các biểu hiện của căn bệnh này với những biểu hiện cụ thể về mặt cảm xúc và những biểu hiện về triệu chứng cơ thể Đồng thời, tác giả cũng liệt kê ra các thể chính của rối nhiễu lo âu và đưa ra các biện pháp dự phòng và điều trị rối nhiễu lo âu [8]
Nhìn chung, các tác giả trên chỉ mới dừng lại ở việc mô tả lo âu như một căn bệnh, với các triệu chứng và biện pháp điều trị, chưa tìm ra được các yếu tố xã hội tác động đến lo âu Người nghiên cứu với đề tài này mong muốn đem đến một kết quả mới mà các đề tài trên chưa quan tâm nghiên cứu về mặt khách thể nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như những biện pháp, kiến nghị
1.2 Lý thuyết áp dụng
1.2.1 Lý thuyết chức năng của R.K.Merton
Thuyết chức năng đóng vai trò quan trọng trong nhân chủng học và dân tộc học Thuyết chức năng nhấn mạnh đến những đóng góp (chức năng) của mọi bộ phận trong một xã hội Nó tập trung vào sự hội nhập xã hội, sự ổn định, trật tự và hợp tác Các bộ phận của một xã hội gồm: gia đình, kinh tế, tôn giáo Một trong những đại diện tiêu biểu của trường phái lý thuyết này là Merton Theo Merton lý thuyết chức năng là sự giải thích một hiện tượng xã hội bằng cách chỉ ra hệ quả (chức năng) của nó đối với những cấu trúc mà nó là một bộ phận cấu thành Và ông đã phân định các loại hình chức năng khác nhau Chức năng công khai là những chức năng có mục đích và được thừa nhận Chức năng tiềm ẩn là những
Trang 20chức năng không có mục đích và không được ghi nhận Bên cạnh đó, còn có phản chức năng là những hệ quả làm cản trở, thậm chí gây rối nhiễu, làm giảm khả năng tồn tại, thích ứng của cấu trúc
Ở những vai trò xã hội khác nhau, con người sẽ có những chức năng tương ứng khác nhau, chẳng hạn, với vai trò là sinh viên thì chức năng chính của sinh viên chính là học tập và nghiên cứu [27] Do đó, tất cả các hoạt động khác đều chủ yếu để bổ túc, bồi dưỡng, tạo điều kiện cho chức năng học tập và nghiên cứu được phát triển Vì thế, học tập và nghiên cứu chính là chức năng công khai của sinh viên Hoạt động học tập, nghiên cứu mang lại chính là việc tích lũy kiến thức cho bản thân, nâng cao trình độ học vấn và có cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp Tuy nhiên, cuộc sống của một cá nhân là tổng hòa các mối quan hệ với nhau, cá nhân
sẽ phải “đóng” nhiều vai trò khác nhau trên “sân khấu cuộc đời” Chính vì thế, cũng có lúc các vai trò này sẽ xung đột với nhau Chẳng hạn như: vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, sinh viên phải kiếm việc làm thêm để phụ giúp với gia đình kinh phí sinh hoạt hàng tháng, chính điều này tạo nên áp lực cho sinh viên, thời gian dành cho việc học ít đi, trong khi đó, thu nhập có được từ việc làm thêm cũng chưa chắc gì đủ để trang trải cuộc sống và có thể vì công việc làm thêm mà kết quả học tập bị giảm sút Chức năng được biểu hiện ở chỗ đi làm thêm để kiếm tiền đảm bảo cho việc học tập, nhưng việc học lại bị ảnh hưởng xấu bởi đi làm thêm
Từ sự xung đột này, có thể dẫn đến những cảm xúc tiêu cực cho sinh viên Như vậy, việc làm thêm có thể tác động tiêu cực đến kết quả học tập của sinh viên [11, 20]
1.2.2 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý của James Coleman [2, 16]
Một biến thể khác của thuyết hành vi đã làm thay đổi bản chất của lý thuyết truyền thống đó là lý thuyết sự lựa chọn hợp lý Đại diện cho xu hướng này là nhà tâm lý học người Mỹ - Coleman Ông cho rằng: mỗi người từng xem xét một loạt những kích thích và lựa chọn ra những kích thích phù hợp, có ích cho bản thân, những kích thích nào không phù hợp, không có ích sẽ bị khước từ, loại bỏ Thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào tiên đề cho rằng con người luôn hành động một cách có
Trang 21chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu
Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng loại phương tiện hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức hiện có để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực Phạm vi của mục đích đây không chỉ có yếu tố vật chất (lãi, lợi nhuận, thu nhập) mà còn có cả yếu tố lợi ích xã hội và tinh thần
Khi đứng trước các tình huống, sự việc nhiều áp lực, đặc biệt là đối với hoạt động chủ đạo của sinh viên là học tập, họ sẽ tìm các giải pháp để làm giảm đi các áp lực đó với những phương thức gọn nhẹ nhất, tiết kiệm chi phí thời gian, sức khỏe, tài chính để có thể đạt được mục tiêu tối ưu nhất Chẳng hạn: sinh viên thường xuyên phải đối diện với các kỳ thi, kiểm tra; do đó, cách hữu hiệu nhất để giảm tải áp lực thi cử là việc lập kế hoạch ôn bài, nghiên cứu tài liệu sớm hơn là đợi đến lúc sắp thi đến nơi mới ôn bài; không chỉ vậy, để đạt được kết quả học tập tốt, sinh viên còn phải từ tìm tòi phương pháp học tập đại học hiệu quả để thay thế cho phương pháp học “truyền thống” của những năm học ở cấp bậc phổ thông; không chỉ dừng lại ở đó, để đảm bảo kết quả học tập tốt sinh viên còn phải làm thế nào để dung hòa các mối quan hệ xã hội: bạn bè, gia đình và các mối quan hệ khác
để có thể hài hòa với thời gian dành cho việc học nhằm giảm đi các áp lực không cần thiết;… Để làm được những điều đó là cả một quá trình xem xét, phân tích, lựa chọn những hành động có lợi để thực hiện Tuy nhiên, trước những hoàn cảnh, tình huống sống mỗi cá nhân khác nhau sẽ lựa chọn những ứng xử khác nhau, điều
đó phụ thuộc vào quan điểm sống, hoàn cảnh sống, tính cách… của từng cá nhân
Từ đó, hình thành nên các mức độ rối nhiễu lo âu khác nhau ở từng cá nhân [11]
1.2.3 Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber [2, 16]
Đại diện tiêu biểu cho lý thuyết này là Max Weber Theo ông, muốn nghiên cứu con người thì phải đặt mình vào hoàn cảnh của từng đối tượng và thâm nhập vào thế giới nội tâm của con người Vì con người không chỉ hành động như một phản xạ mà còn bị chi phối bởi thế giới nội tâm: tình cảm và tư duy Vì vậy, M
Trang 22Weber đã đưa ra một hệ thống mang tính chất khuôn mẫu bao gồm bốn kiểu hành động để các nhà nghiên cứu có thể dựa trên đó phân tích trong bối cảnh hiện thực
Hành động duy lý: là những hành động mà cá nhân phải suy nghĩ và quyết định xem mình chọn mục đích nào và dùng phương tiện nào để đạt được mục đích Để tránh những lo âu, áp lực không cần thiết trong quá trình học tập, sinh viên đã chủ động lên kế hoạch học tập như: tự nghiên cứu bài giảng ở nhà trước khi đến lớp; tìm kiếm thêm các sách vở, tài liệu phục vụ tốt hơn cho việc học hoặc
là tìm cách để dung hòa giữa việc học với việc tham gia các hoạt động ngoại khóa, hay kiếm việc làm thêm mà vẫn không ảnh hưởng tới kết quả học tập
Hành động do cảm xúc: phần lớn hành động của con người thực hiện là do cảm xúc Tính tự phát của hành động theo tình cảm mang tính riêng biệt vì cũng một con người, cũng một hoàn cảnh có thể hành động khác nhau tùy theo cảm xúc Loại hành động này không kiểm soát được và nó khó nghiên cứu nhất Hành động cá nhân phụ thuộc nhiều vào các cảm xúc: vui, buồn, lo lắng, thất vọng, phấn khích Những áp lực trong học tập như: các bài kiểm tra, các kỳ thi là một trong những nguyên nhân gây ra các cảm xúc tiêu cực ở sinh viên như: mệt mỏi, lo lắng, hồi hộp, chán chường Đối diện với những cảm xúc tiêu cực đó, mỗi sinh viên sẽ
có những hành động khác nhau để đáp ứng lại cảm xúc đó, như: thức khuya tập trung học bài, ôn bài cao độ, bỏ hết các sở thích, thói quen hay các mối quan tâm khác hoặc cũng có sinh viên lại bố trí thời gian học bài hợp lý để tránh việc phải thức quá khuya, ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe và sẽ gây ra tình trạng mệt mỏi
vì thiếu ngủ Cũng có sinh viên tự đặt ra cho mình những mục tiêu quá cao cho kỳ thi và đôi khi cảm thấy khả năng của bản thân không thể đáp ứng được những mục tiêu đó và dẫn đến việc buông xuôi việc học …
Hành động mang tính truyền thống: là khi con người hành động theo một thói quen, xuất phát từ những gì được xã hội hóa ngay từ thuở còn thơ Tức là việc con người có xu hướng tuân theo giá trị chuẩn mực của cộng đồng, lặp đi lặp lại thành thói quen hàng ngày Các truyền thống này rất khác nhau trong các nền văn hóa khác nhau Có những gia đình ngay từ khi còn nhỏ, đứa trẻ đã được cha mẹ đặt vào chúng những mong đợi của họ về đứa con, chẳng hạn: mong muốn sau này
Trang 23lớn lên con trẻ sẽ làm cô giáo, hay làm kỹ sư và có cả ước mong con sẽ làm bác sĩ Hoặc những đứa trẻ lớn lên trong gia đình có truyền thống nghề Y và Dược, những đứa trẻ đó có xu hướng theo học các ngành nghề truyền thống của gia đình Hành động hợp lý về giá trị: là hành động có tính định hướng giá trị (ngược với hành động truyền thống) Hành động theo truyền thống không phải suy nghĩ nhiều, còn hành động theo giá trị còn phải tìm hiểu xem nó có giá trị hay không? Trình
độ học vấn là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá một cá nhân, chính vì thế, vai trò của việc học rất quan trọng và quan trọng hơn nữa là từ việc đầu tư cho học tập thì sẽ tạo ra thu nhập nhờ vào tri thức có được từ việc làm Không chỉ vậy, việc đạt thành tích cao trong học tập cũng là một trong những điều tự hào đối với cá nhân cũng như gia đình cá nhân đó Chính vì những giá trị cao quý mà học tập mang lại, sinh viên càng phải chuyên tâm, cố gắng học hành tốt hơn Hơn nữa, ngành Y là ngành được xã hội rất đề cao ‘nhất y, nhì dược” và coi trọng vai trò của người thầy thuốc Nên những sinh viên theo học ngành Y càng thêm phần quan trọng vì đó là ngành học phục vụ cho việc chăm sóc sức khỏe con người [2, 16]
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài vận dụng ba lý thuyết trên nhằm làm cơ
sở nghiên cứu và định hướng phân tích
Trang 241.4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
1.4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu, đề tài đặt ra câu hỏi nghiên cứu: Các yếu tố xã hội nào tác động đến rối nhiễu lo âu trong sinh viên Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh
1.4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Sinh viên học khoa Y đa khoa có tỉ lệ rối nhiễu lo âu cao hơn
các khoa khác
Giả thuyết 2: Có nhiều yếu tố xã hội tác động như: áp lực thành tích học
tập; nơi ở, thời gian học, áp lực trong các mối quan hệ bạn bè, người thân và các mối quan hệ xã hội khác; áp lực việc trang trải các chi phí sinh hoạt và học tập… tác động đến rối nhiễu lo âu trong sinh viên Trong đó, áp lực do thời gian học, lịch học, thi cử chiếm tỉ lệ phổ biến nhất
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Vì đây là đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực Xã hội học và để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, trong quá trình thực hiện đề tài, các phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng bao gồm:
1.5.1.Các phương pháp nghiên cứu chung
Sử dụng phương pháp luận nghiên cứu của Xã hội học trong đó bao gồm phương pháp phương pháp định lượng và phương pháp định tính
Phương pháp định tính và định lượng là hai phương pháp nghiên cứu thường được sử dụng trong nghiên cứu xã hội học thực nghiệm Nếu như với phương pháp định lượng chúng ta có thể tìm hiểu, so sánh mức độ lo âu trong sinh viên giữa các khoa với nhau, giữa các năm học với nhau, thì với phương pháp định tính sẽ giúp phân tích sâu hơn vào nguyên nhân cụ thể mà phương pháp định lượng bị hạn chế Tìm ra lo âu đã tác động đến đời sống sinh viên Đại học Y dược như thế nào Kết hợp giữa ưu điểm về tính khái quát hoá, tính khách quan của phương pháp định lượng và điểm mạnh của phương pháp định tính là có thể
Trang 25mô tả về các yếu tố gây rối nhiễu lo âu trong sinh viên Điều này sẽ cung cấp cho chúng ta một cách nhìn mới, một cách hiểu sâu hơn về thực trạng hoạt rối nhiễu lo
âu trong sinh viên Đại học Y dược
Muốn giải thích một thực trạng xã hội thì không chỉ tìm hiểu những biểu hiện, những yếu tố tác động bên ngoài thông qua các tỉ lệ, con số thể hiện mà phải tìm hiểu cả những yếu tố tác động bên trong để có cách lý giải xác đáng Chính vì vậy, trong đề tài này chúng tôi đã có sự kết hợp cả hai phương pháp như đã đề cập
ở trên
1.5.2.Phương pháp thu thập số liệu
1.5.2.1.Phương pháp thu thập thông tin định lượng
Trong nghiên cứu định lượng, đề tài sử dụng phương pháp thu thập thông tin sẵn có và phương pháp điều tra bằng bảng hỏi để thu thập thông tin
Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và khái quát các nguồn tài liệu sách, báo chí, báo cáo, thống kê nhằm tạo cơ sở lý luận liên quan đến rối nhiễu lo âu Đồng thời hệ thống hoá những cơ sở dữ liệu thu thập được theo từng vấn đề nhằm làm rõ nội dung nghiên cứu của đề tài
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu sản phẩm của sinh viên như xem
kế hoạch học tập, sổ ghi chép hay bảng điểm của sinh viên với mục đích tìm các yếu tố có liên quan đến bản thân sinh viên và nhà trường, qua đó tìm ra mối liên
hệ giữa các yếu tố với nhau
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Bảng hỏi được soạn sẵn cho sinh viên các năm học khác nhau (năm 1, năm 3 và năm cuối), sinh viên các khoa (khoa Y đa khoa, Y học cổ truyền, y học dự phòng, Y tế công cộng, Kỹ thuật y học-Điều dưỡng) nhằm thu thập những thông tin về các yếu tố gây rối nhiễu lo âu Bảng hỏi được chia là 2 phần: phần thông tin các yếu tố gây rối nhiễu lo âu và thang đo về mức độ lo
âu trong sinh viên
Trang 26Phương pháp chọn mẫu
Chọn ngẫu nhiên 450 sinh viên vào mẫu nghiên Vì số lượng sinh viên ở các khoa khác nhau Do đó người nghiên cứu tiến hành lấy mẫu xác xuất, nghĩa là mỗi khoa với tỉ lệ xấp xỉ 20% dân số sinh viên mỗi Khoa vào mẫu nghiên cứu Như vậy số lượng sinh viên ở mỗi khoa trong mẫu nghiên cứu như sau:
Năm 1: là 170 sinh viên, năm 3: 162 sinh viên, năm cuối (4 và 6) : 118 sinh viên
1.5.3.2 Phương pháp nghiên cứu định tính
Trong phương pháp nghiên cứu định tính đề tài xây dựng một số câu hỏi để phỏng vấn thu thập và làm rõ thêm thông tin cần thiết
Y học Dự phòng Mỗi năm học chọn 1 sinh viên, 1 sinh viên năm thứ nhất, một sinh viên năm thứ ba và một sinh viên năm cuối Riêng sinh viên Y học
Trang 27Dự phòng mới tuyển sinh từ năm 2008, năm nay là năm thứ năm vì vậy chỉ chọn 2 sinh viên là năm thứ nhất và năm thứ ba
1.5.5 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin
Sử dụng phần mềm xử lý số liệu bằng Stata10 (bảng quyền Khoa Y tế Công cộng – Đại học Y Dược TP.HCM) [3, 24]:
- Tính tỉ lệ phần trăm cho các biến số là định tính
- Tính trung bình và độ lệch chuẩn cho biến số định lượng
- Dùng phép kiểm Chi bình phương biến số định tính, và kiểm định ttest cho 2 biến số là trung bình Phép kiểm ANOVA cho 3 nhóm trở lên
- Mức độ tin cậy 95%, α=0,05 Nếu α<0,05 có ý nghĩa thống kê
1.6 Giới hạn nghiên cứu
1.6.1.Về nội dung
Có nhiều yếu tố khách quan cũng như chủ quan dẫn đến rối nhiễu lo âu, tuy nhiên đề tài chỉ quan tâm đến các nguyên nhân mang yếu tố xã hội trong đó chủ yếu là 4 nhóm: nhóm yếu tố liên quan đến gia đình sinh viên, nhóm liên quan đến nhà trường, nhóm liên quan đến các mối quan hệ xã hội và nhóm liên quan đến bản thân sinh viên
1.6.2.Về đối tượng khảo sát
Đề tài chọn sinh viên Đại học Y Dược, đây là đối tượng chăm sóc trực tiếp
và gián tiếp đến bệnh nhân hay cộng đồng Đó là những sinh viên: năm thứ nhất, năm ba, năm cuối Cụ thể: sinh viên các khoa: Y đa khoa, Y tế Công cộng, Y học
cổ truyền, Y học Dự phòng, Kỹ thuật Y khoa - Điều dưỡng
1.7 Các khái niệm và nội dung cơ bản của đề tài
1.7.1 Rối nhiễu lo âu
Lo lắng và sợ hãi là những cảm xúc bình thường của con người và thường
xuất hiện khi ta phải đối mặt với stress Tác nhân gây stress là những vấn đề làm chúng ta lo âu và stress là phản ứng với lo âu [5, 13]
1.7.1.1 Khái niệm rối nhiễu là không còn trật tự bình thường, hay không còn sáng
suốt
Trang 281.7.1.2 Rối nhiễu lo âu (anxiety disorder) là một trong các rối loạn tâm lý có tính
phổ biến cao, thường kết hợp với nhiều rối loạn khác như trầm cảm, rối loạn nhân cách, rối loạn ăn uống, rối loạn dạng cơ thể Rối loạn lo âu là sự lo sợ quá mức trước một tình huống xảy ra, có tính chất vô lý, lặp lại và kéo dài gây ảnh hưởng tới sự thích nghi với cuộc sống Khi lo âu và sợ hãi quá mức ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống, vẫn tiếp tục ngay cả khi mối lo thực tế đã kết thúc thì đó là bệnh lý Nguyên nhân chính xác của rối loạn lo âu không được biết rõ, nhưng nó bao gồm nhiều yếu tố khác nhau, chủ yếu liên quan tới các sang chấn tâm lý kết
hợp với yếu tố nhân cách có xu hướng lo âu Rối nhiễu lo âu là rối nhiễu mà người
bệnh không thể kiểm soát được biểu hiện vững chắc, mãn tính và khuyếch tán dưới dạng kịch phát Người bệnh có rối nhiễu lo âu, đặc biệt hoảng sợ, thường kèm theo các rối loạn chức năng xã hội và có nguy cơ lạm dụng thuốc cao hơn người bình thường
Trong cuốn số tay “Thống kê và chẩn đoán các rối nhiễu tinh thần rút gọn IV-TR” của các dịch giả Nguyễn Văn Nuôi, Phạm Văn Trụ, Lê Quốc Nam, Lương Mạnh Dũng nêu rõ các biểu hiện của rối nhiễu lo âu Đó là sự lo sợ quá mức trước một tình huống xảy ra, có tính chất mơ hồ vô lý, lặp lại và kéo dài gây ảnh hưởng tới sự thích nghi với cuộc sống, với các triệu chứng kèm theo như: đau đầu, vã mồ hôi, siết chặt ở ngực, khô miệng, khó chịu ở thượng vị, bứt rứt, đứng ngồi không yên… Để có thể xác định một người có bị rối nhiễu lo âu hay không, thì những triệu chứng đó phải hiện diện trong một giai đoạn kéo dài (thường ít nhất là 6 tháng), có cản trở đến hoạt động chức năng bình thường của một người và gây đau khổ có ý nghĩa [13]
DSM-Lo âu là phản ứng tự nhiên (bình thường) xảy ra trong cuộc sống hằng ngày khi gặp phải một tình huống gây stress từ bên ngoài chẳng hạn như mất việc làm, gặp rắc rối trong các mối quan hệ, tài chính hoặc đau ốm, sự đòi hỏi của công việc, những mối quan hệ căng thẳng hay những khó khăn trong cuộc sống Stress như thế này tồn tại với chúng ta cho đến khi vấn đề được giải quyết Lo âu là một phản ứng cảm xúc tự nhiên, có thể coi là tín hiệu báo động, báo cho cá thể biết rằng sẽ có sự đe dọa từ bên ngoài (những khó khăn, thử thách, đe dọa của tự nhiên
Trang 29hoặc xã hội) hoặc bên trong cơ thể, giúp con người tìm ra, giúp chúng ta có được
sự nỗ lực lớn nhất hay phản ứng nhanh, kịp thời giải quyết những tình huống khẩn cấp, có các giải pháp phù hợp để tồn tại và phát triển
Lo âu bình thường trở thành bệnh lý khi lo âu quá mức hoặc dai dẳng không tương xứng với sự đe doạ, ảnh hưởng đến hoạt động, làm việc của người bệnh, có thể kèm theo những ý nghĩ hay hành động có vẻ kỳ quặt, khó hiểu, vượt mức thông thường Lo âu bệnh lý có thể là biểu hiện hay gặp của nhiều dạng rối loạn tâm thần và của nhiều dạng bệnh lý khác nhau của con người Tỷ lệ thường gặp là khoảng từ 1,5-3,5% dân số Ở nữ gấp 2 lần nam và có thể bắt đầu ở bất kì tuổi nào, nhưng thường là người trưởng thành còn trẻ Ở Hoa Kỳ, có từ 3 đến 6 triệu người mắc bệnh này Riêng ở thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ này vào khoảng 10% dân số Khoảng 2/3 bệnh nhân trầm cảm có lo âu bệnh lý kèm theo [35]
1.7.2 Các loại lo âu
Khi ta lo lắng, cả cơ thể và tinh thần đều có các biểu hiện của stress; đó là căng thẳng, dễ nổi cáu, chóng mặt, cơn nóng bừng, cơn run, cơn hồi hộp trống ngực (tim đập thành hồi nhanh và mạnh), đầy bụng khó tiêu, xỉu, thở nhanh, ngủ kém Tình trạng này có thể dễ dàng bị hiểu sai thành bệnh nặng, như bệnh tim hoặc ung thư, do vậy càng làm tăng thêm lo âu
Biểu hiện chủ quan: Đó là cảm giác căng thẳng, bồn chồn, bất an Người mắc chứng lo âu thường cảm thấy bực bội, khó chịu, đứng ngồi không yên, luôn vận động chân tay (các triệu chứng này không phải do thuốc gây ra)
Cảm giác rất khó tập trung chú ý để làm việc, cảm giác trống rỗng trong đầu, đặc biệt là không thể nghỉ ngơi Có thể có cảm giác xung quanh mình có điều gì
đó thay đổi, cảm giác có thay đổi trong cơ thể mình Thậm chí có người còn sợ mình sẽ mất tự chủ, không kiềm chế được bản thân
Biểu hiện cơ thể: Hồi hộp, đánh trống ngực, cảm thấy tim đập nhanh hơn, đau ngực; có người cảm thấy khó thở như bị ai chẹt cổ; có người lại có cảm giác hụt hơi, khó thở, ngột ngạt Thường, ai cũng run rẩy, ra mồ hôi chân tay; có người toát
mồ hôi như vừa tắm (kể cả trời lạnh) Người hay lo lắng dễ rối loạn giấc ngủ: khó ngủ, trằn trọc, suy nghĩ miên man, khó duy trì giấc ngủ
Trang 30Một số biểu hiện khác có thể gặp: tiểu tiện nhiều lần, căng thẳng cơ bắp, hoa mắt, chóng mặt, nhìn mờ…
Cơn lo âu cấp tính
Những cơn lo âu bất ngờ ngoài mong đợi còn được gọi là cơn hoảng sợ và những cơn này rất khó chịu Cảm giác sợ hãi hết sức mơ hồ, khó chịu và thường kèm theo nhiều triệu chứng về cơ thể như: vã mồ hôi, tim đập nhanh, cảm giác nghẹt thở, run chân tay, nếu kéo dài dễ dẫn đến trầm cảm
Người bệnh rất sợ hãi khi phải đi một mình ra đường, ở nhà một mình, đi xe buýt, taxi, máy bay hay vào thang máy, khi gặp đám tang, khi phải tiếp xúc với một ai đó, buộc phát biểu trước một tập thể, phải đương đầu với những rắc rối tài chính, chứng kiến cái chết của một người yêu mến hay bạn bè, sự đòi hỏi của công việc, những mối quan hệ căng thẳng hay những tình huống khó khăn khác như phải đi xa nhà, ly hôn, hoặc sau khi bị tai nạn giao thông, hoặc một bệnh lý nặng xảy ra đột ngột với người thân của mình và bệnh nhân lo lắng là mình có thể cũng
bị những bệnh nặng như vậy
Những biểu hiện của lo âu cấp tính
Hô hấp: Khó thở đa dạng như nghẹt thở, ho, nấc, ngáp, rối loạn phát âm hoặc mất tiếng Tim mạch: Đánh trống ngực, mạch nhanh, rối loạn nhịp, đau vùng trước tim được mô tả như nóng bỏng, phồng lên, đau nhói hoặc bóp chặt lại, lan truyền đa dạng, đau thắt ngực, cơn co thắt mạch hoặc xung huyết (khi thì ở khắp nơi trong cơ thể, khi thì khu trú ở mặt, chi và ngón tay) thường kèm theo với rối loạn cảm giác Tiêu hoá: Co thắt thanh quản, thực quản, co thắt dạ dày và ruột kèm đau nhói hoặc co thắt, nôn, buồn nôn, ỉa chảy, mót rặn, ứa nước bọt hoặc khô miệng Tiết niệu: Đái rắt, đái nhiều Thần kinh-Cơ: run, rung mặt, đặc biệt rung
mí mắt và cơn đau giả thấp khớp Cảm giác, giác quan và da: Tăng và loạn cảm giác, cơn ngứa, sởn da gà, tiết nhiều mồ hôi, đau nhói, nghe kém, nhìn mờ, đau đầu, chóng mặt, sợ chỗ rộng, đôi khi có triệu chứng không đứng không đi
Đôi khi người bệnh biểu hiện có các rối loạn tinh thần như: Cảm giác bi quan không thực tế: Người bệnh có thể có cảm giác như là mình không còn ở môi trường mà mình đang sống nữa, họ thường mất kiểm soát bản thân mình và cảm
Trang 31tưởng như là mình sắp bị điên loạn Bệnh nhân có cảm giác rất sợ chết, có những cảm giác bất thường ví dụ như cảm thấy trong người mình tê cóng cảm giác rùng mình, hoặc nóng bừng trong người
Trạng thái đợi chờ sự nguy hiểm: Lo lắng, lúng túng, lo sợ về quá khứ (sự luyến tiếc, ân hận), về hiện tại (nghi ngờ), về tương lai (đe doạ, linh cảm)
Trạng thái hoảng loạn: Bệnh nhân hoảng hốt, lo sợ cực độ kèm theo đau ngực, hồi hộp, cảm giác nghẹt thở, căng cơ, nhức đầu, đau lưng, co giật cơ bắp, đổ
mồ hôi nhiều, hoa mắt, rối loạn tiêu hóa, khô miệng và mất ngủ
Lo âu mãn tính hay còn gọi là lo âu lan toả hoặc lo âu thường xuyên
Khi lo âu trở nên một tình trạng mãn tính Ngoài ra, có rất nhiều yếu tố nguy
cơ như là do di truyền (trong nhà có một hay nhiều người bị rối loạn lo âu) Việc
sử dụng thuốc hay lạm dụng chất gây nghiện: nghiện rượu, sử dụng thuốc lắc, uống cà phê quá nhiều, thuốc điều trị bệnh tim mạch hay hen phế quản cũng làm xuất hiện bệnh lý lo âu
Những biểu hiện của lo âu mạn tính Biểu hiện ở bộ phận cơ thể: Rối loạn giấc ngủ: Khó ngủ, giấc ngủ không sâu (thường hay dậy sớm, ác mộng), thức dậy 3 giờ sáng, là giờ của cực điểm lo âu buổi sáng, là một trong các triệu chứng thường gặp nhất Hiếm hơn là ngủ nhiều, 12 giờ hoặc hơn mà không tạo ra sự nghỉ ngơi và yên tĩnh tốt Sự kích thích: Ở người lo âu có hiện tượng rối loạn vận mạch, co thắt nội tạng, tức giận bệnh lý, thay đổi khí sắc Các phản ứng quá mạnh trong mọi trường hợp Hậu quả của các rối loạn này là mệt và kiệt sức với hai cực buổi sáng
và buổi chiều Các rối loạn chức năng:(rất thường gặp) rối loạn gan, tiêu hóa, viêm
co thắt đại tràng; rối loạn nước tiểu, co thắt bàng quan đường tiểu Rối loạn cảm giác bản thể: các rối loạn tình dục như ham muốn tình dục giảm hoặc mất Tim mạch: bệnh nhân thường có đánh trống ngực và ngoại tâm thu Ngay cả khi điện tâm đồ bình thường cũng thường thấy mạch nhanh, nhỏ, huyết áp thấp, chỉ số dao động mạch nhẹ Rối loạn mao mạch đa dạng, có thể có rối loạn tuần hoàn trung tâm (khuynh hướng giảm mỡ máu) hoặc ngoại biên (xanh tím đầu chi, bệnh Raynaud) Hô hấp: Giảm khả năng hô hấp, hô hấp nhanh và nông ảnh hưởng đến
Trang 32sự đồng hoá tế bào Chức năng thực vật và nội tiết: Thường rối loạn nhẹ, đôi khi nặng nề, luôn thay đổi theo thời gian, có thể hồi phục tuỳ trạng thái tâm lý
Biểu hiện các rối loạn tâm thần: Không nặng nề so với cơn lo âu cấp tính nhưng có trạng thái cảm xúc chờ đợi nguy hiểm thường nổi trội, bệnh nhân lo lắng nhẹ, lúng túng: "Nghĩ gì, làm gì…đều có sự hoài nghi, mọi sự việc đều làm lãng phí cuộc đời họ và họ đã không thành công một cái gì cả, họ không có khả năng, kiệt sức, thất vọng" Chủ đề lo âu là về sự hèn kém, thiếu may mắn, yếu ớt, sợ, sự thoái lùi tách rời thế giới bên ngoài Họ muốn giải tỏa bởi hành vi kêu gọi sự giúp
đỡ nhưng có trạng thái trái ngược khi thì tin tưởng khi thì công kích người giúp
đỡ, khi thì muốn phụ thuộc và khi thì không muốn phụ thuộc theo kiểu phản ứng trẻ con khó lường trước được
Nhân cách lo âu
Nhân cách lo âu dưới dạng cơn nặng hay nhẹ tùy theo mức độ của rối loạn nhân cách Lo âu xảy ra ngay từ thời niên thiếu đã có xu hướng lo lắng, thu mình lại và liên tục yêu cầu được bảo vệ Mẹ, chị, giáo viên, bạn bè trở thành chỗ dựa cần thiết Cuộc sống hôn nhân, tình bạn, nghề nghiệp luôn luôn phải có độ an toàn Trái lại, thất bại, tang tóc, bệnh tật, mãn kinh, nghỉ hưu, tuổi già là những thử thách và thường tạo nên cơn lo âu Toàn bộ cuộc sống được đặt trong lo âu Có thể nói rằng lo âu luôn chờ đợi họ Nhưng với Nhân cách lo âu có đặc điểm cần lưu ý
là các sự kiện lớn như chiến tranh lại ít gây rối loạn hơn các sự kiện nhỏ như chuyển nhà Tuỳ theo sắc thái của lo âu, người ta gọi là suy nhược thần kinh, trầm cảm thể tạng, lo âu nhẹ, rối loạn cảm giác bản thể
Tiến triển và biến chứng
Cơn lo âu tái đi tái lại hoặc kéo dài khi không được cải thiện, xử lý, điều trị không đúng thì người bệnh sẽ mắc một số bệnh tâm căn như là: ám ảnh, ám ảnh
sợ, Hysteria
Ám ảnh sợ: sợ chỗ rộng (nơi rộng rãi, nơi đông người), chỗ kín đáo
Mắc chứng nghi bệnh: Người bệnh cho rằng mình mắc một chứng bệnh gì đó
mà không hiểu rõ được, có khi cho là một bệnh nặng như ung thư
Trang 33Biến chứng thường gặp nhất là những rối loạn tâm thể: Lo âu làm loét dạ dày-
tá tràng, bị hen, lo âu chuyển thành mạn tính …tạo ra các cơn trầm cảm, đôi khi là sầu uất
Tại Việt Nam, thuật ngữ “Disorder mental health- rối loạn tâm thần”, được Nguyễn Khắc Viện định nghĩa theo một hướng khác, phù hợp với văn hóa Việt Nam Ông sử dụng khái niệm “rối nhiễu tinh thần” thay cho “rối loạn tâm thần” Trong tác phẩm tâm lý lâm sàng trẻ em Việt Nam Nhà xuất bản Y học năm 1999, Nguyễn Khắc Viện đã viết “Ở N-T, chúng tôi chủ trương không dùng từ tâm thần nữa mà dùng từ tinh thần để nói chung, như khi nói khám tinh thần, không nói khám tâm thần; nếu ghép vào trong khuôn viên của một bệnh viện tâm thần, sẽ rất
ít ai đến, và cũng không mấy bác sĩ, y tá, giáo viên, cán bộ xã hội chịu học tập chuyên khoa này Đến nay, thuật ngữ rối nhiễu tinh thần được các nhà tâm lý học, tâm thần học, giáo dục học, công tác xã hội sử dụng trong giảng dạy, nghiên cứu, trị liệu tâm lý, công tác xã hội đối với những cá nhân và cộng đồng dễ bị tổn thương, khủng hoảng tâm lý sử dụng tương đương với thuật ngữ rối nhiễu tinh thần Tác giả thừa nhận và sử dụng bảng phân loại rối nhiễu tinh thần và hành vi của WHO và APA Rối loạn tinh thần có các tiêu chí chẩn đoán rõ ràng, được thừa nhận, công cụ đã được quốc tế hóa, được các nhà tâm thần học, tâm lý học, công tác xã hội sử dụng nhiều trong nghiên cứu và chẩn đoán, trị liệu rối nhiễu tinh thần
ở người lớn cũng như trẻ em [1, 9, 13, 14, 39]
1.7.2 Yếu tố [13, 29, 41]
Yếu tố hay nguyên tố, nhân tố: Bộ phận cấu thành một sự vật, sự việc,
hiện tượng Là cái cần thiết tạo điều kiện hình thành nên cái khác
Trang 34Trong đề tài này, yếu tố xã hội tác động đến rối nhiễu lo âu trong SV có thể hiểu là những yếu tố mang tính khách quan: học tập, nhà trường, các mối quan hệ
xã hội, gia đình, bản thân làm ảnh hưởng hay làm thay đổi đời sống tinh thần, sức khỏe, học tập các mối quan hệ của sinh viên
Các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến rối nhiễu lo âu [12]
Ngay từ đầu thế kỷ 19, các nhà dịch tễ học đã nhận thấy được rằng nhiều khiếm khuyết xã hội gây ra rất nhiều khó khăn cho sức khỏe Khi các khiếm khuyết này được điều chỉnh thì sức khỏe tốt hơn Một bằng chứng là trước khi khám phá ra thuốc trị bệnh lao, tử vong vì lao phổi giảm rất nhiều nhờ các cải thiện về điều kiện sinh sống, dinh dưỡng Mới đây, kết quả nhiều quan sát, nghiên cứu đã xác nhận các ảnh hưởng này là có thật và rất quan trọng Tổ chức Y tế thế giới đã bỏ ra ba năm phân tích các yếu tố xã hội của sức khỏe và đi đến kết luận là các yếu tố xã hội là nguyên nhân làm sức khỏe kém và suy giảm tuổi thọ suy yếu trên khắp thế giới (báo cáo của nhóm chuyên gia nổi tiếng thuộc Ủy ban Về các yếu tố xã hội của sức khỏe trực thuộc WHO)
Hoàn cảnh không thuận lợi đối với con người khi sinh sống và làm việc: bất ổn về kinh tế, xã hội, chiến tranh; các điều kiện không thuận lợi cho sự phát triển của trẻ em; sự không an toàn việc làm cho người lao động; môi trường sinh sống ô nhiễm; không đồng đều trong việc tiếp nhận chăm sóc y tế; kém phương thức phòng ngừa bệnh truyền nhiễm; quá nhiều tệ nạn xã hội đưa tới sinh hoạt tình dục bừa bãi, lạm dụng hóa chất có hại, cờ bạc; thực phẩm xấu, dinh dưỡng không đúng cách; kỳ thị chủng tộc, giới tính, tuổi tác Cá nhân con người không giải quyết hết đựơc các yếu tố này mà đây phải là công việc của tập thể, trên mức độ cộng đồng, quốc gia [23]
Yếu tố căng thẳng
Hoàn cảnh tâm lý xã hội xấu có thể tạo ra các căng thẳng triền miên cho con người Họ sẽ trở nên luôn luôn lo sợ, không đối phó được Chẳng hạn như việc làm không bảo đảm, một đời sống bấp bênh thiếu thốn, kém dinh dưỡng Thường thường khi nói tới căng thẳng tinh thần là nghĩ đến việc dùng thuốc an thần, giảm buồn để chữa trị Nhưng đó chỉ là “ đau đâu chữa đấy” Tuy nhiên, biện
Trang 35pháp lâu dài và tối ưu là phải có chương trình ngăn chặn sự xuất hiện các căng thẳng này cho mọi người Bằng hỗ trợ các gia đình có con vị thành niên, khích lệ các sinh hoạt cộng đồng, loại trừ cô lập xã hội, giảm thiểu bất công vật chất tinh thần cũng như tăng cường giáo dục, khả năng phục hồi, thích nghi với hoàn cảnh xấu [36]
Yếu tố môi trường sống
Môi trường sống chật chội, thiếu tiện nghi, ồn ào, khói bụi, phương tiện đi lại, khoảng cách nơi ở, nơi làm việc hay nơi học tập đều gây cho con người các mức rối nhiễu lo âu khác nhau
Việc thay đổi môi trường sống, nơi ở cũng sẽ gây không ít lo âu đến cuộc sống của con người [21]
Yếu tố học tập
Chương trình, nội dung, phương pháp, kết quả học tập, sự kỳ vọng mong đợi của bản thân, áp lực của ngành nghề đều làm cho con người có những trạng thái lo âu khác nhau Với những nghề đặc biệt thì kết quả học tập gây rất nhiều lo
âu cho người học.[7]
Yếu tố gia đình:
Trang 36Một thực tế hiện nay là áp lực, sự kỳ vọng, mong đợi thành đạt của cha mẹ đối với con cái đã gây không ít lo lắng, căng thẳng cho các bạn trẻ Thậm chí, những áp lực đó còn làm cho trẻ có các dấu hiệu bị tâm thần, tự tử.[10]
Các mối quan hệ xã hội
Con người không những không thể sống lẻ loi trong cộng đồng mà không
có sự giao tiếp, quan tâm, chia sẻ, sự hỗ trợ của cộng đồng Sự cô lập của bản thân với xã hội sẽ đưa tới trầm cảm, buồn phiền, lo âu, bệnh tật kinh niên và tử vong sớm Quan hệ bạn bè tốt, sự hỗ trợ xã hội thắm thiết đều nâng cao sức khỏe, vui
vẻ, thoải mái và an tâm nơi làm việc cũng như trong cộng đồng [14, 18]
Hoạt động vui chơi giải trí
Ngoài học tập và làm việc, giải trí, thụ hưởng đời sống văn hóa, tinh thần
là nhu cầu tất yếu của mỗi người Tùy quan điểm mà con người có cách nhìn nhận vấn đề giải trí khác nhau Nhưng nếu nhu cầu này không được đáp ứng một cách tối thiểu sẽ làm hạn chế sự phát triển toàn diện ở con người, có thể gây nên những cảm xúc tiêu cực hay những hành vi mang tính chống đối Nếu được thỏa mãn với nhu cầu giải trí hay vui chơi, cá nhân sẽ sớm tái tạo được năng lượng cơ thể, hạn chế được mệt mỏi và căng thẳng
Lạm dụng chất kích thích
Sử dụng rượu, thuốc lá, chất kích thích là nguyên nhân gây nên tỷ lệ tử vong vì bệnh tật, tai nạn Dùng thuốc, rượu hay chất kích thích có thể tạm thời giải tỏa khó khăn về tinh thần, kinh tế nhưng nếu sử dụng trong thời gian dài, vấn đề càng trầm trọng hơn Ngoài ra, ảnh hưởng xấu của các chất kích thích đưa tới xáo trộn gia đình, tội phạm xã hội
Thực phẩm
Dinh dưỡng đầy đủ là yếu tố căn bản cho một sức khỏe tốt Thiếu thực phẩm các loại đưa tới suy dinh dưỡng và một số bệnh tật
Ngoài các yếu tố trên còn có các yếu tố khác: giai tầng xã hội, chăm sóc
ban đầu, đặc quyền xã hội cũng gây rối nhiễu lo âu
Theo tổ chức Y tế thế giới: sức khỏe tinh thần là có một cuộc sống thực sự thoải mái; có niềm tin vào giá trị bản thân, vào phẩm chất và giá trị của người
Trang 37khác; có khả năng ứng xử bằng cảm xúc, hành vi hợp lý trước mọi tình huống; có khả năng tạo dựng, duy trì và phát triển thỏa đáng các mối quan hệ và có khả năng
tự hàn gắn để duy trì cân bằng khi có các sự cố gây mất cân bằng, căng thẳng
1.7.4 Đặc điểm tâm- sinh lý về lứa tuổi sinh viên
Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng hay trung cấp chuyên nghiệp Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học Giai đoạn sinh viên thường bắt đầu với mỗi người là từ sau 18 tuổi và có thể kéo dài đến hết tuổi trưởng thành Tuy nhiên, phần đông đối tượng sinh viên Việt Nam nằm trong độ tuổi từ 18 đến 25, là giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi vị thành niên lên tuổi trưởng thành Vì vậy, có thể nói đối tượng sinh viên một mặt vẫn còn mang những đặc điểm của tuổi vị thành niên, mặt khác đã bắt đầu mang những đặc điểm của tuổi trưởng thành
Đối với những sinh viên năm thứ nhất, việc thích nghi với những thay đổi
từ môi trường, bạn bè mới, cách học mới… sẽ có những bất ổn về mặt cảm xúc
Bên cạnh đó, sinh viên cũng là những người có nhận thức và tư duy rất rõ ràng về mục tiêu cuộc sống, về những gì mình đã làm, đang làm và phải làm Chính vì vậy các bạn sinh viên đặc biệt là sinh viên năm cuối có phần mang tư tưởng nặng nề để vừa hoàn thành tốt công việc học vừa phát triển tốt các mối quan
hệ xã hội và từng bước hoàn thành các mục tiêu cuộc sống sau này (có nghề nghiệp tốt, lập gia đình)
Một số đặc điểm tâm lý lứa tuổi sinh viên
Sinh viên là một nhóm xã hội đặc biệt, đang tiếp thu những kiến thức, kỹ năng chuyên môn ở các trường cao đẳng, đại học để chuẩn bị cho hoạt động nghề nghiệp sau khi ra trường
Sự thích ứng của sinh viên với hoạt động và học tập mới môi trường Học
tập ở đại học, cao đẳng là học nghề, nội dung học tập có tính chuyên ngành; phưong pháp học tập ở đại học, cao đẳng chủ yếu là tự học, tự nghiên cứu, vì vậy đòi hỏi sinh viên phải tự giác, độc lập cao
Môi trường hoạt động học tập của sinh viên được mở rộng
Trang 38Nội dung và cách thức giao tiếp của sinh viên với mọi người xung quanh cũng rất phong phú và đa dạng
Trong giai đoạn này, sinh viên gặp phải một loạt những mâu thuẫn như: Mâu thuẫn giữa ước mơ, kỳ vọng với điều kiện và khả năng đạt được Mâu thuẫn giữa mong muốn học tập kiến thức chuyên ngành chuyên sâu với yêu cầu học tập theo chương trình quy định
Mâu thuẫn giữa lượng thông tin khổng lồ với khả năng và thời gian hạn hẹp của sinh viên
Sự phát triển nhận thức của sinh viên Sinh viên nhận thức tri thức khoa
học một cách khái quát, hệ thống để trở thành những chuyên gia, nhà khoa học trong tương lai Hoạt động nhận thức của sinh viên diễn ra một cách có kế hoạch,
có mục đích, nội dung và chương trình nhất định Những phương tiện phục vụ cho hoạt động nhận thức của sinh viên cũng hết sức đa dạng, phong phú và hiện đại với những trang thiết bị như thư viện, phòng nghiên cứu, phòng học Sinh viên phải tìm được phương pháp học tập mới ở đại học cho phù hợp với chuyên ngành của mình
Như vậy, hoạt động nhận thức của sinh viên là hoạt động trí tuệ đích thực, đòi hỏi sự căng thẳng, cường độ cao và có tính lựa chọn rõ rệt
Ở sinh viên đã bước đầu hình thành thế giới quan để nhìn nhận, đánh giá vấn đề cuộc sống, học tập, sinh hoạt hàng ngày Sinh viên là những trí thức tương lai, ở các em sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt Học tập ở đại học, cao đẳng là cơ hội tốt để sinh viên được trải nghiệm bản thân, vì thế, sinh viên rất thích khám phá, tìm tòi cái mới, đồng thời, họ thích bộc lộ những thế mạnh của bản thân, thích học hỏi, trau dồi, trang bị vốn sống, hiểu biết cho mình, dám đối mặt với thử thách để khẳng định mình
Lứa tuổi sinh viên có những nét tâm lý điển hình, đây là thế mạnh của họ so với các lứa tuổi khác như: tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình cảm trí tuệ phát triển (khao khát đi tìm cái mới, thích tìm tòi, khám phá), có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách Song, do hạn chế về kinh nghiệm sống, sinh viên cũng có hạn chế trong
Trang 39việc chọn lọc, tiếp thu cái mới Những yếu tố tâm lý này có tác động chi phối hoạt động học tập, rèn luyện và phấn đấu của sinh viên
Sự phát triển tình cảm của sinh viên Một đặc điểm tâm lý nổi bật nữa ở lứa
tuổi này là tình cảm ổn định của sinh viên, trong đó phải đề cập đến tình cảm nghề nghiệp - một động lực giúp họ học tập một cách chăm chỉ, sáng tạo, khi họ thực sự yêu thích và đam mê với nghề lựa chọn
Sự phát triển tình cản của sinh viên được đặc trưng bằng “thời kỳ bão táp
và căng thẳng” Đây là thời kỳ đầy cảm xúc đối với mỗi cá nhân Có nhiều tình huống mới nảy sinh trong cuộc sống sinh viên, đòi hỏi họ phải phán đoán và quyết định trong khi họ còn thiếu kinh nghiệm và hiểu biết xã hội
Sinh viên thường bị lúng túng khi phải giải quyết các tình huống mới, nhất
là khi bị phê bình, nhận xét nặng lời, thiếu tôn trọng Khi bị lâm vào hoàn cảnh đó, sinh viên dễ xuất hiện phản ứng như: thiếu tự tin, “khùng”, từ chối công việc hoặc làm một cách miến cưỡng,…
Sự phát triển tự ý thức, tự đánh giá của sinh viên Đặc điểm tâm lý quan
trọng của thời kỳ chuyển tiếp ở lứa tuổi thanh niên sinh viên là sự phát triển tự ý thức
Nhờ có tự ý thức phát triển, sinh viên có những hiểu biết, thái độ, có khả năng đánh giá bản thân để chủ động điều chỉnh sự phát triển bản thân theo hướng phù hợp với xu thế xã hội Đối với sinh viên đang học ở các trường cao đẳng, đại học sư phạm, họ nhận thức rõ ràng về những năng lực, phẩm chất của mình, mức
độ phù hợp của những đặc điểm đó với yêu cầu của nghề nghiệp, qua đó họ sẽ xác định rõ ràng mục tiêu học tập, rèn luyện và thể hiện bằng hành động học tập hàng ngày trong giờ lên lớp, thực tập nghề hay nghiên cứu khoa học Nhờ khả năng tự đánh giá phát triển mà sinh viên có thể nhìn nhận, xem xét năng lực học tập của mình, kết quả học tập cao hay thấp phụ thuộc vào ý thức, thái độ, vào phương pháp học tập của họ
Tự ý thức của sinh viên được hình thành trong quá trình xã hội hóa và liên quan chặt chẽ với tính tích cực nhận thức của sinh viên Sự phát triển nhân cách
Trang 40của sinh viên sẽ không đạt hiệu quả khi cá nhân sinh viên không có quá trình tự ý thức và tự đánh giá đúng bản thân
ưu, độ chín muồi trong suy nghĩ và hành động còn hạn chế Điều này phụ thuộc rất nhiều vào tính tích cực hoạt động của bản thân mỗi sinh viên Bên cạnh những mặt tích cực trên đây, mặc dù là những người có trình độ nhất định, sinh viên không tránh khỏi những hạn chế chung của lứa tuổi thanh niên Đó là sự thiếu chín chắn trong suy nghĩ, hành động, đặc biệt, trong việc tiếp thu, học hỏi những cái mới Ngày nay, trong xu thế mở cửa hội nhập quốc tế, trong điều kiện phát triển công nghệ thông tin, nền văn hoá của chúng ta có nhiều điều kiện giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hoá trên thế giới, kể cả văn hoá phương Đông và phương Tây Việc học tập, tiếp thu những tinh hoa, văn hoá của các nền văn hoá khác là cần thiết Tuy nhiên, do đặc điểm nhạy cảm, ham thích những điều mới lạ kết hợp với sự bồng bột, thiếu kinh nghiệm của thanh niên, do đó, sinh viên dễ dàng tiếp nhận cả những nét văn hoá không phù hợp với chuẩn mực xã hội, với truyền thống tốt đẹp của dân tộc và không có lợi cho bản thân