hiện đại hóa đem lại, giai cấp nông dân Vĩnh Long cũng đang phải đối mặt với không ít những khó khăn, thách thức như: nhiều hộ nông dân không còn đất hoặc còn rất ít đất để sản xuất; thi
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Trần Chí Mỹ
Các số liệu, tài liệu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khoa học, khách quan và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Tp Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2012
Tác giả
Lê Thị Hồng Nhiên
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIAI
CẤP NÔNG DÂN VÀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI
HÓA Ở VIỆT NAM 10
1.1 KHÁI NIỆM GIAI CẤP NÔNG DÂN VÀ ĐẶC ĐIỂM,
VAI TRÕ CỦA GIAI CẤP NÔNG DÂN VIỆT NAM 10
1.1.1 Khái niệm giai cấp nông dân và quan điểm mácxít
về vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng xã hội
chủ nghĩa 10
1.1.2 Đặc điểm và vai trò của giai cấp nông dân
Việt Nam 23
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CỦA
GIAI CẤP NÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 37
1.2.1 Đặc điểm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở Việt Nam hiện nay 37
1.2.2 Tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với đời sống của giai cấp nông dân ở Việt Nam hiện nay 45 Chương 2 THỰC TRẠNG, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT, TINH THẦN CỦA GIAI CẤP NÔNG DÂN TRONG QUÁ TRÌNH ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP
HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH VĨNH LONG 58
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH VĨNH LONG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VĨNH LONG 58
Trang 5hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Vĩnh Long 60
2.2 THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG CỦA GIAI CẤP NÔNG DÂN
Ở VĨNH LONG TRONG QUÁ TRÌNH ĐẨY MẠNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NHỮNG NĂM QUA 80
2.2.1 Thực trạng đời sống vật chất của giai cấp nông dân
ở tỉnh Vĩnh Long trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa những năm qua 80
2.2.2 Thực trạng đời sống tinh thần của giai cấp nông dân
ở tỉnh Vĩnh Long trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa những năm qua 88
2.3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT, TINH THẦN CỦA GIAI CẤP NÔNG DÂN Ở TỈNH
VĨNH LONG TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG ĐẨY
MẠNH NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA HIỆN NAY 98
2.3.1 Phương hướng nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của giai cấp nông dân trong quá trình đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Vĩnh Long hiện nay 98
2.3.2 Một số giải pháp nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của giai cấp nông dân trong quá trình đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Vĩnh Long hiện nay 102 KẾT LUẬN 123 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 127
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay trong xu thế toàn cầu hóa, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, trên thế giới đang diễn ra cuộc chạy đua phát triển kinh tế hết sức sôi động và quyết liệt Trong xu thế ấy, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới đã và đang đứng trước những cơ hội
và thách thức đan xen với nhau Do vậy, để có thể hòa nhập vào xu thế chung của thời đại, tránh sự tụt hậu thì Việt Nam không còn con đường nào khác là phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để có thể thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng này, Việt Nam cần phải huy động một cách tổng hợp mọi nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực con người, trong đó
có giai cấp nông dân
Giai cấp nông dân Việt Nam có vai trò quan trọng vì đã có những đóng góp to lớn trong lịch sử lâu dài của dân tộc, đặc biệt là trong quá trình cách mạng dân tộc dân chủ tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Đối với Việt Nam hiện nay, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, Đảng ta xác định: nông
dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây
dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là
căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt Nhận
thức được vai trò, tầm quan trọng của nông dân, nông nghiệp và nông thôn đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa X khẳng định: “ Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nông nghiệp, nông dân, nông thôn tiếp tục giữ vị trí quan trọng… Các
Trang 7vấn đề nông nghiêp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải hỗ trợ mạnh mẽ cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn” [38, 155], rằng “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong
sự nghiệp công ngiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội bền vững, giữ gìn ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước” [38, 123-124]
Cũng như nhiều địa phương khác trên đất nước ta, tỉnh Vĩnh Long cũng đang trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Có thể nói, cho đến nay, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Vĩnh Long đang đi đúng hướng và cũng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng bước đầu Có được những thắng lợi đó không thể không kể đến vai trò và sự đóng góp to lớn về nhiều mặt của giai cấp nông dân tại địa phương Đặc biệt, do là một tỉnh có thế mạnh về nông nghiệp nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, nông dân chiếm phần lớn trong cơ cấu dân
cư và lực lượng lao động của tỉnh, giai cấp nông dân của cả nước, giai cấp nông dân ở Vĩnh Long trong những năm qua đã có những đóng góp tích cực, trực tiếp và có ý nghĩa quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Họ đã và đang là lực lượng trực tiếp tham gia vào việc tổ chức sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp, góp phần đảm bảo vấn đề an ninh lương thực không chỉ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long mà còn góp phần vào việc bảo đảm an ninh lương thực của cả nước
Tuy nhiên, quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Vĩnh Long cũng đã và đang gây ra những tác động mạnh mẽ đối với đời sống, cả đời sống vật chất và đời sống tinh thần của giai cấp nông dân trên địa bàn Bên cạnh những lợi ích to lớn do những thành quả của công nghiệp hóa,
Trang 8hiện đại hóa đem lại, giai cấp nông dân Vĩnh Long cũng đang phải đối mặt với không ít những khó khăn, thách thức như: nhiều hộ nông dân không còn đất hoặc còn rất ít đất để sản xuất; thiếu vốn trong đầu tư và phát triển sản xuất; môi trường nông thôn ngày càng bị ô nhiễm; sự bất ổn của giá cả thị trường (lúc tăng, lúc giảm) làm cho nông dân thường xuyên phải đối mặt với tình trạng “được mùa thì mất giá”; vấn đề tiêu thụ nông sản hàng hóa còn gặp nhiều khó khăn; sự hiểu biết của một bộ phận nông dân về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn hạn chế và thường chạy theo phong trào, tự phát dẫn đến tình trạng “trồng, chặt” rồi lại “chặt, trồng” ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân,… làm cho hiệu quả sản xuất, thu nhập và đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của một
bộ phận nông dân còn thấp, thiếu ổn định, bền vững
Do vậy, việc nghiên cứu về thực trạng đời sống của giai cấp nông dân Vĩnh Long trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trên cơ
sở đó xác định phương hướng và giải pháp để cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của họ, giúp họ có điều kiện để góp phần xứng đáng hơn nữa vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Vĩnh Long nói riêng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của cả nước nói chung là một nhiệm vụ rất quan trọng và rất cần thiết,
có ý nghĩa vừa cơ bản, vừa cấp bách cả về lý luận và thực tiễn, không chỉ đối với tỉnh Vĩnh Long mà còn đối với nhiều địa phương có điều kiện tương
tự ở nước ta
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Có thể nói, trong những năm qua, vấn đề về nông dân và công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong đó có công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đã thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều cấp,
bộ ngành, nhiều nhà khoa học Xoay quanh những vấn đề này, đến nay có
Trang 9rất nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố, trong đó có một số công trình tiêu biểu như sau:
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề nông dân do TS Nguyễn
Khánh Bật (chủ biên), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2001 Trong công trình này, các tác giả đã làm rõ cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nông dân, quan điểm của Hồ Chí Minh về đặc điểm và tiềm năng của nông dân trong cách mạng Việt Nam; trên cơ sở đó, các tác giả đã nêu lên vai trò của nông dân việt Nam trong sự nghiệp đổi mới và trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta của GS,TS Hoàng Ngọc Hòa,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008 Trong công trình này, tác giả đã trình bày rất nhiều vấn đề mang tính cụ thể, toàn diện về nông nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong suốt quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đặc biệt đó là vấn đề xem công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là trọng tâm hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Chính sách hỗ trợ của nhà nước ta đối với nông dân trong điều kiện hội nhập WTO do PGS,TS Vũ Văn Phúc, PGS,TS Trần Thị Minh
Châu (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Trong công trình này, các tác giả đi sâu vào phân tích cơ sở lý luận, kinh nghiệm thực tiễn và thực trạng chính sách hỗ trợ nông dân của nhà nước ta trong điều kiện hội nhập WTO, trên cơ sở đó đi đến việc đánh giá tác động của các chính sách và đề xuất một số giải pháp đổi mới chính sách để giúp nông dân Việt Nam vững bước tiến vào thị trường thế giới
- Nông dân, nông nghiệp và nông thôn Việt Nam của Nguyễn Đức
Triều, GS,VS Vũ Tuyên Hoàng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2001 Trong
Trang 10công trình này, các tác giả đã tổng hợp nhiều nhận định, quan điểm của các nhà lãnh đạo về vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn và vai trò của nông dân, nông nghiệp, nông thôn trong cách mạng xây dựng đất nước và trong tiến trình công nghiệp hóa
- Nông dân dựa vào đâu? - Sách kỉ niệm 1000 năm Thăng Long -
Hà Nội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 Nội dung cuốn sách này
đề cập khá cụ thể những vấn đề thiết thực đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống của nông dân
- Sản xuất và đời sống của các hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất ở đồng bằng sông Cửu Long Thực trạng và giải pháp do GS,TS
Nguyễn Đình Hương (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999 Đây là công trình khoa học được nghiên cứu công phu do tập thể cán bộ khoa học Trường Đại học Kinh tế quốc dân chủ trì phối hợp cùng Hội Nông dân Việt Nam thực hiện theo Công văn số 6553/KTN ngày 20-12-1997 của Thủ tướng Chính phủ Nội dung cuốn sách bước đầu cố gắng làm rõ thực chất, nguyên nhân cơ bản và sâu xa của tình trạng các hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất sản xuất Trên cơ sở đó đề xuất và kiến nghị một số quan điểm
và giải pháp nhằm bảo đảm công ăn việc làm và đời sống cho các hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
Ngoài những công trình tiêu biểu nêu trên còn có một số đề tài, luận án, luận văn đi vào nghiên cứu về vấn đề nông dân dưới những góc độ
và khía cạnh khác nhau như:
- Sự chuyển hướng của giai cấp nông dân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Nguyễn Đức Hướng, Luận án tiến sĩ
Triết học, Hà Nội, 1991
Trang 11- Đặc điểm và xu hướng biến đổi của giai cấp nông dân nước ta trong giai đoạn hiện nay của Bùi Thị Thanh Hương, Luận án tiến sĩ Triết
học, Hà Nội, 2000
- Phát triển kinh tế hộ gia đình miền núi trong quá trình chuyển sang
cơ chế thị trường của Sa Trọng Đoàn, Luận án Tiến sĩ Kinh tế chuyên ngành
Quản lí Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000
- Xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội của giai cấp nông dân ở Nam bộ Việt Nam hiện nay của Lê Ngọc Triết, Luận án Tiến sĩ Triết học Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002
- Tâm lý nông dân miền Bắc Việt Nam khi chuyển sang kinh tế thị trường - đặc trưng và xu hướng biến đổi của Đỗ Thị Thanh Mai, Luận án
Tiến sĩ Triết học Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001
- Giai cấp nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Bình Dương của Vũ Duy Định, Luận văn Thạc sỹ chủ nghĩa xã hội khoa
học, trường đại học Khoa học xã hội & nhân văn thành phố Hồ Chí Minh 2011,… Nhìn chung, các công trình này đã đạt được những kết quả quan trọng trong nghiên cứu về sự phân hóa giàu nghèo, đặc điểm của giai cấp nông dân trong giai đoạn đổi mới đất nước, làm rõ xu hướng biến đổi khách quan của giai cấp nông dân Việt Nam trong thời gian tới, trình bày một số phương hướng và một số giải pháp đưa giai cấp nông dân Việt Nam phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước
Như vậy có thể thấy, cho đến nay, chưa có một công trình khoa học độc lập nào nghiên cứu chuyên biệt, trực tiếp và có hệ thống về giai cấp nông dân Vĩnh Long trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Xuất phát từ thực tế xây dựng giai cấp nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam; xuất phát từ
Trang 12những lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học, của tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về phương hướng, nhiệm vụ xây dựng giai cấp nông dân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đối chiếu với tình
hình nghiên cứu nêu trên, tác giả chọn vấn đề: “ Giai cấp nông dân trong
quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Vĩnh Long” làm
đề tài nghiên cứu và viết luận văn thạc sĩ của mình
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn
Trên cơ sở phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận về giai cấp nông dân và giai cấp nông dân Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; thực trạng đời sống của giai cấp nông dân ở tỉnh Vĩnh Long trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa những năm qua; luận văn đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của giai cấp nông nhân ở tỉnh Vĩnh Long trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm
vụ cơ bản sau:
- Một là, phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận về giai cấp nông dân
và giai cấp nông dân Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Hai là, phân tích thực trạng đời sống vật chất, tinh thần của giai cấp
nông dân ở tỉnh Vĩnh Long trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa những năm qua
- Ba là, xác định một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao
đời sống vật chất, tinh thần của giai cấp nông dân ở Vĩnh Long trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
Trang 13Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn giới hạn nghiên cứu về đời sống của giai cấp nông dân trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Vĩnh Long
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận của luận văn
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối, chính sách của
Đảng cộng sản Việt Nam về giai cấp nông dân
Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp như: Lôgic
và lịch sử, phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp, thống kê… để làm
rõ những vấn đề cần nghiên cứu
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ lí luận về giai cấp nông dân nói chung; vai trò, đặc điểm của giai cấp nông dân Việt Nam nói riêng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; về thực trạng đời sống của giai cấp nông dân ở Vĩnh Long hiện nay Đặc biệt nội dung nghiên cứu và kết quả của luận văn có thể được dùng để làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập lý luận về giai cấp nông dân, về xây dựng và phát huy vai trò của giai cấp nông dân trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban ngành của tỉnh Vĩnh Long trong việc hoạch định các chủ trương, chính sách liên quan đến việc xây dựng và phát huy vai trò của
Trang 14giai cấp nông dân; trong việc cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, đời sống tinh thần cho nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Vĩnh Long
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 2 chương, 5 tiết
Trang 15Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIAI CẤP NÔNG DÂN VÀ
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM
1.1 KHÁI NIỆM GIAI CẤP NÔNG DÂN VÀ ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA GIAI CẤP NÔNG DÂN VIỆT NAM
1.1.1 Khái niệm giai cấp nông dân và quan điểm mácxít về vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng xã hội chủ nghĩa
Khái niệm giai cấp nông dân
Bàn về giai cấp nông dân, các nhà lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học cũng như nhiều nhà nghiên cứu lý luận ở Việt Nam đã đưa ra một số quan niệm về giai cấp nông dân như sau:
Theo V.I.Lênin giai cấp nông dân “là một giai cấp được hình thành
từ rất lâu đời trong lịch sử Họ là những người sinh sống và lao động ở nông thôn gắn với các tư liệu sản xuất nhỏ lẽ, phân tán mà mình sở hữu Trong các xã hội có áp bức, bóc lột, cùng với giai cấp công nhân, giai cấp nông dân cũng là những người bị áp bức, bóc lột hết sức nặng nề” [18, 253] Như vậy, với quan điểm này của V.I.Lênin thì giai cấp nông dân là một giai cấp
vốn có “bản chất hai mặt”: Một mặt, họ là những người lao động Đây chính
là mặt cơ bản nhất của người nông dân, về điểm này, trong Sơ thảo đầu tiên
của đề cương vấn đề ruộng đất (để trình Đại hội II Quốc tế Cộng sản)
V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Những người nữa vô sản hay những người nông dân phân tán, tức là những người sinh sống một phần bằng lao động làm thuê trong các xí nghiệp nông nghiệp và công nghiệp tư bản chủ nghĩa, một phần bằng cày cấy mạnh đất riêng của họ hay do lĩnh canh được” [17, 186] Mặc
dù khác nhau về trình độ, địa vị kinh tế xã hội và lợi ích, nhưng giữa họ có một điểm chung là đều sinh sống bằng cách làm cách làm thuê cho các giai
Trang 16cấp bóc lột ở nông thôn hoặc là tồn tại bằng chính lao động của bản thân mình với những điều kiện sẵn có về tư liệu sản xuất chứ không sống bằng việc bóc lột lao động của người khác Về luận điểm này, V.I.Lênin có viết:
“Giai cấp đó, một mặt là người tư hữu, mặt khác lại là người lao động Nó không bóc lột lao động của người khác” [18, 237]
Mặt khác, họ là những người tư hữu nhỏ Khẳng định nông dân là
những người sống bằng chính lao động của mình, không bóc lột người khác, V.I.Lênin đồng thời nhấn mạnh họ là những người sản xuất hàng hóa, như những người đầu cơ mà bản chất tư hữu của nông dân là cơ sở kinh tế sâu xa của hành vi đầu cơ ấy Theo V.I.Lênin: “Nông dân là những người đầu cơ,
vì anh ta bán lúa mì, một sản phẩm cần thiết mà khi người ta thiếu nó thì người ta có thể đem bán toàn bộ tài sản ra để đổi” [18, 435], và chính vì lẽ
đó, họ được coi là một giai cấp đặc biệt Tuy nhiên, đây là mặt hạn chế của người nông dân và phải trải qua một quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và cải biến cách mạng trên nhiều lĩnh vực… mới có thể khắc phục được Thế nhưng, mặt tư hữu nhỏ của người nông dân khác với bản chất tư hữu của các giai cấp bóc lột Bởi vì, nông dân không dựa trên tư hữu nhỏ để bóc lột các giai cấp và các tầng lớp xã hội khác
So với giai cấp công nhân, giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng riêng, mà tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị
xã hội Thật vậy, giai cấp nông dân là một giai cấp không có hệ tư tưởng độc lập, tư tưởng của họ luôn luôn dao động, đầy thực tế và phụ thuộc rất lớn vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị Vì vậy, khi chưa giác ngộ cách mạng
do giai cấp công nhân lãnh đạo thì giai cấp nông dân rất dễ bị dao động về mặt tư tưởng, dễ bị ngộ nhận về chính trị và manh động trong các cuộc đấu tranh tự phát Nông dân sẵn sàng tin và đi theo giai cấp nào mang lại lợi ích cho họ Về điểm này, V.I.Lênin cho rằng: “ Ngay cả dưới chế độ chuyên
Trang 17chính vô sản, nông dân cũng như mọi giai cấp tiểu tư sản nói chung, vẫn giữ một địa vị đứng giữa, một địa vị trung gian: một mặt, họ là một số quần chúng lao động khá đông đảo (vô cùng đông đảo trong nước Nga chậm tiến) đoàn kết với nhau vì lợi ích chung của những lao động là giải thoát khỏi bọn địa chủ và tư bản; một mặt khác, họ là những tiểu chủ riêng lẻ, tiểu tư hữu
và tiểu thương Địa vị kinh tế như thế tất nhiên sẽ làm cho họ dao động, ngả nghiêng giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản” [16, 132] Với bản chất tư hữu và thái độ dao động, ngả nghiêng, người nông dân không dễ dàng và ngay tức khắc tin và ủng hộ giai cấp vô sản được V.I.Lênin nhấn mạnh:
“Nông dân sẽ không tin bất cứ một lời nói nào, bất cứ một cương lĩnh nào… Nông dân chỉ tin vào hành động, vào kinh nghiệm thực tiễn “ [18,443] Như vậy, vì là một giai cấp không có lập trường tư tưởng vững vàng, thường hay ngả nghiêng dao động Do đó, để tổ chức, lãnh đạo và dẫn dắt họ đi theo cách mạng đó chính là nhiệm vụ của giai cấp vô sản, V.I.Lênin nhấn mạnh: “Đối với giai cấp ấy - hay đối với những thành phần xã hội ấy, nhiệm vụ của giai cấp vô sản là lãnh đạo họ, là đấu tranh để gây ảnh hưởng đối với họ Lôi cuốn những kẽ do dự, bấp bênh, đó là điều giai cấp vô sản phải làm” [16, 133]
Cũng như V.I.Lênin, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến giai cấp nông dân Đặc biệt, người tiếp cận vấn đề nông dân không chỉ với tư cách là một giai cấp mà còn với tư cách là “thần dân” của một quốc gia Đây là một cách tiếp cận hết sức đặc sắc của chủ tịch Hồ Chí Minh Nó khác với những nhà yêu nước Việt Nam cùng thời và là sự vận sáng tạo những quan điểm mácxít
về nông dân vào hoàn cảnh cụ thể của Việc Nam Tại buổi tham luận trước Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế nông dân tháng 10/1923 tại Matxcơva, Hồ Chí Minh nói: “nông dân trong các nước thuộc địa của Pháp: vừa là những người vô sản, vừa là những người mất nước” [41, 208] Theo Hồ Chí Minh
“giai cấp nông dân là cộng đồng những người lao động, sản xuất nhỏ trong
Trang 18nông nghiệp gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp, đều có đặc điểm chung là người lao động – nhân tố chủ yếu của lực lượng sản xuất và là người tư hữu nhỏ” [2, 71] Với quan niệm này, ta thấy, từ nông dân Pháp, Đức đến nông dân Nga, Hungari, từ nông dân Ấn độ, Trung Quốc, Đông Dương đến nông dân Xyri, Bănglađét cũng không nằm ngoài đặc điểm chung đó Cái khác nhau ở chỗ trình độ nông dân được biểu hiện ra bằng phương thức sản xuất nông nghiệp cổ truyền hay tiên tiến, năng suất lao động cao hay thấp, kỹ thuật lạc hậu hay hiện đại, do công nghiệp tác động vào nông nghiệp đến mức độ nào Theo Hồ Chí Minh, Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp
“đất thì xấu, phương pháp canh tác thì lạc hậu, do đó năng suất rất thấp kém Sản lượng một hécta ở châu Âu là 4.670 kilô thóc… còn ở Đông Dương chỉ
có 1.210 kilô vào những năm 1925 -1926 [42, 229]
Cũng bàn về giai cấp nông dân, theo Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Ngọc Hòa: giai cấp nông dân là chủ thể của sản xuất nông nghiệp, địa bàn sinh sống của nông dân là nông thôn [27, 46] Như vậy, với quan điểm này cho thấy chủ thể của sản xuất nông nghiệp xét về mặt xã hội chính là giai cấp nông dân; xét
về đơn vị tổ chức kinh tế là hộ nông dân và hợp tác xã; địa bàn sinh sống và hoạt động sản xuất nông nghiệp của nông dân là nông thôn Giai cấp nông dân vừa là chủ thể, vừa là động lực của sản xuất nông nghiệp Do đó, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật chính sách của Nhà nước về nông nghiệp phải đặt nông dân vào đúng vị trí chủ thể của sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn, phải làm sao khơi dậy, phát huy được sự cố gắng, nhiệt tình, tính tích cực, năng động, sáng tạo và các nguồn lực của nông dân vào đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp, kinh tế - xã hội nông thôn Mỗi bước phát triển của sản xuất nông nghiệp và kinh tế xã hội nông thôn phải đồng thời làm tăng thu nhập và cải thiện đời sống của giai cấp nông dân Phải xây dựng nông thôn trở thành “nơi đất lành chim đậu” cả về kinh tế - xã
Trang 19hội, chính trị, văn hóa mà các thế hệ nông dân sinh sống gắn bó và phát triển lâu dài, phải giải quyết tốt các vấn đề trọng yếu của đời sống xã hội của nông dân ở nông thôn như: nhà ở, giáo dục, y tế, nước sạch, giao thông vận tải và việc làm cho người nông dân, Nếu không giải quyết tốt những vấn đề này thì
sẽ dẫn đến gia tăng tình trạng di cư từ nông thôn ra đô thị, gây nên sự quá tải dân số ở đô thị và sự “già hóa” dân số ở nông thôn làm cho khoảng cách trình
độ phát triển về mọi mặt giữa nông thôn và thành thị ngày càng doãng rộng ra
Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, khái niệm giai cấp nông dân
được giải thích như sau: “giai cấp nông dân là bao gồm những tập đoàn người sản xuất nhỏ hoặc làm thuê cho các địa chủ và cho phú nông trong nông nghiệp dựa vào chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất” [33, 103] Khái niệm này mặc dù đã chỉ ra được lĩnh vực hoạt động sản xuất của người nông dân là nông nghiệp nhưng dường như chỉ giới hạn giai cấp nông dân trong giai đoạn lịch sử xã hội nhất định
Trong Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị chủ nghĩa xã hội khoa
học và Chính trị học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cũng đã
đưa ra khái niệm về giai cấp nông nông dân: “giai cấp nông dân là tập đoàn những người lao động sản xuất vật chất trong nông nghiệp, trực tiếp canh tác trên một loại tư liệu sản xuất đặc biệt là đất, rừng, sông, biển để sản xuất
ra nông sản, lâm sản và thủy hải sản”[41, 89]
Tương tự như vậy, trong Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học do Hội
đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn Giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh biên soạn, khái niệm giai cấp nông dân được hiểu là “giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất trong nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, , trực tiếp sử dụng (canh tác) một tư liệu sản xuất cơ bản và đặc thù, gắn với thiên nhiên là đất, rừng, biển để sản xuất ra nông sản” [45, 285]
Trang 20Hai định nghĩa cho khái niệm giai cấp nông dân như vừa dẫn, về cơ bản, cùng có chung nội hàm và đã phản ánh được bản chất, đặc điểm và vai trò căn bản của giai cấp nông dân, phân biệt giữa giai cấp nông dân với các giai cấp khác trong xã hội Trong luận văn của mình, chúng tôi tán thành và
sử dụng khái niệm giai cấp nông dân của Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn Giáo trình Quốc gia các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, rằng: “giai cấp nông dân là giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất trong nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, , trực tiếp sử dụng (canh tác) một tư liệu sản xuất cơ bản và đặc thù, gắn với thiên nhiên
là đất, rừng, biển để sản xuất ra nông sản”
Quan điểm của mácxít về vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng xã hội chủ nghĩa
Các nhà lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã rất quan tâm đến vấn đề giai cấp nông dân, các ông đánh giá rất cao về vị trí, vai trò của giai cấp nông dân trong đấu tranh cách mạng cũng như trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Chính vì thế, trong thực tiễn hoạt động khoa học của mình vấn đề về vai trò của giai cấp nông dân trở thành một trong những vấn đề được các ông bàn luận, nghiên cứu rất nhiều
Xuất phát từ quan niệm duy vật về lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: sản xuất nông nghiệp là cơ sở của mọi xã hội và là tiền đề của mọi lịch sử [27, 15] Chủ thể của sản xuất nông nghiệp là nông dân, cùng với vị trí quan trọng của sản xuất nông nghiệp thì nông dân cũng có vai trò đặc biệt quan trọng Do đó, khi phân tích về công xã Pari 1871, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhận định: Trong sự nghiệp cách mạng của mình, nếu giai cấp vô sản không thực hiện được sự liên minh vững chắc với giai cấp nông dân thì sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản sẽ trở thành bài ca ai điếu! C.Mác nhấn mạnh rằng: “Chỉ khi nhận được sự ủng hộ của nông dân thì
Trang 21cách mạng vô sản mới thực hiện hiện được bài đồng ca mà nếu không có nó thì trong tất cả các quốc gia, bản đơn ca cách mạng vô sản sẽ trở thành một
sự biểu hiện tài năng lần cuối cùng” [54, 762]
Theo như Ph.Ăngghen, trên toàn châu Âu, “Từ Airơlen đến Xixin, từ Anđaludia đến Nga và Bungari, ở chổ nào người nông dân đều là một nhân
tố rất quan trọng của dân cư, của nền sản xuất và của lực lượng chính trị” [55, 715] Trước đây, về mặt chính trị, nông dân vẫn tỏ ra thờ ơ hoặc giả thể hiện là một lực lượng phản động (như trong cuộc cách mạng 1848-1849), thì trong thời gian này (1890), đã có nhiều sự thay đổi [14, 258-259] Tuy nhiên, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng: thái độ thờ ơ trước đây của nông dân đối với phong trào công nhân không phải là hoàn toàn không khắc phục được, trong bối cảnh phong trào công nhân ở phương Tây đang phát triển mạnh mẽ Vì vậy, “Việc đảng xã hội chủ nghĩa giành chính quyền đã trở thành một việc không xa nữa Nhưng muốn giành được chính quyền thì trước hết đảng đó phải chuyển từ thành thị về nông thôn; phải trở thành một thế lực ở nông thôn, phải tranh thủ được nông dân về phía mình Chính như vậy, Đảng đó mới có ưu thế hơn tất cả mọi đảng khác vì đã tìm thấy rõ ràng mối liên hệ chặt chẽ giữa những nguyên nhân kinh tế với những kết quả chính trị” [55, 717]
Mặt khác, thông qua việc nghiên cứu lịch sử phong trào nông dân, phân tích về mặt lý luận và hình thức đấu tranh giai cấp, C.Mác và Ph.Ănghen đã đi đến kết luận về những hạn chế của phong trào này và triển vọng của cách mạng vô sản thế giới Hai ông khẳng định trong điều kiện chủ nghĩa tư bản, người nông dân không thể tự mình giải phóng khỏi chế độ áp bức bóc lột, rằng lối thoát duy nhất của họ là thắng lợi của cách mạng vô
sản Phân tích tình hình nước Pháp ở thế kỷ XIX, trong tác phẩm Ngày 18
tháng Sương mù của Lui Bônapac, C.Mác viết: lợi ích của nông dân không
Trang 22còn hòa hợp với lợi ích của giai cấp tư sản, với tư bản như dưới thời Napoleon nữa, mà lại mâu thuẫn với lợi ích của giai cấp tư sản, với tư bản
Vì thế, người nông dân mới thấy rằng giai cấp vô sản là người bạn đồng minh, người lãnh đạo tự nhiên của mình trong việc lật đổ chế độ tư bản Xuất phát từ thực tế đó hai ông đã đi đến khẳng định rằng khi tiến hành cách mạng vô sản nếu không lôi kéo giai cấp nông dân về phía mình thì giai cấp vô sản không thể giành thắng lợi Thất bại của công xã Pari (1871)
là một minh chứng cho lời tiên đoán của C.Mác Về điều này, C.Mác đã từng nhấn mạnh rằng: “Công nhân Pháp không thể tiến hành lên được một bước nào và cũng không thể đụng đến một sợi tóc nào của chế độ tư sản trước khi đông đảo nhân dân nằm giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, tức là nông dân và giai cấp tiểu tư sản nổi dậy chống chế độ tư sản, chống
sự thống trị của tư bản chưa bị tiến trình của cuộc cách mạng buộc phải đi theo những người vô sản” [51, 402]
Tuy nhiên, xét dưới góc độ kinh tế, theo C.Mác giai cấp nông dân về
cơ bản sản xuất của họ vẫn mang tính manh mún, riêng lẽ, lạc hậu và chủ yếu là tự túc, tự cấp Chính vì vậy, họ vẫn là một lực lượng có đời sống nghèo khổ chiếm đông đảo trong xã hội Về điều này, C.Mác đã viết:
“Phương thức sản xuất của họ không làm cho họ liên kết với nhau mà lại làm cho họ tách rời nhau”, “Việc khai thác một miếng đất nhỏ bé không cho phép áp dụng một sự phân công lao động nào cả, một sự áp dụng khoa học nào cả, do đó, cũng không cho phép một sự phát triển nhiều màu, nhiều vẻ, không thể có được nhiều tài năng, không thể có những quan hệ xã hội phong phú được Mỗi gia đình nông dân gần như tự túc hoàn toàn, tự mình trực tiếp sản xuất ra đại bộ phận những cái mình tiêu dùng, và do đó tự cung cấp cho mình những tư liệu sinh hoạt bằng cách trao đổi với thiên nhiên nhiều hơn là trao đổi với xã hội” [51, 627]
Trang 23Cũng như C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí của giai cấp nông dân và đã có một tầm nhìn rất đúng đắn, sâu sắc, nhất quán về vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội Theo đó, V.I.Lênin cũng khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với giai cấp nông dân trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, V.I.Lênin nhấn mạnh: Nông dân là một lực lượng xã hội đông đảo, chiếm đa số trong dân cư ở các nước trên thế giới, họ là lực lượng sản xuất quan trọng và là một lực lượng chính trị rất to lớn nhưng gắn liền với sản xuất nhỏ, phân tán nên nông dân không có hệ tư tưởng độc lập, không tự mình xây dựng nên được một xã hội mới Vì vậy, nông dân cần có
sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, cần được giai cấp công nhân giáo dục, rèn luyện và dẫn dắt họ đi theo cách mạng Nhấn mạnh về vai trò quan trọng của giai cấp nông dân trong thực tiễn của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản, V.I.Lênin cũng đã khẳng định; “Tóm lại, muốn cho giai cấp vô sản không bị
bó tay trong cuộc đấu tranh chống phái dân chủ tư sản không triệt để, thì nó cần phải khá mạnh và khá giác ngộ để có thể nâng giai cấp nông dân lên trình
độ giác ngộ cách mạng, để có thể lãnh đạo cuộc tấn công của nông dân,… Nhưng nó chỉ có thể thắng lợi trong cuộc chiến đấu ấy, nếu quần chúng nông dân gia nhập cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản [15, 64]
Mặt khác, V.I.Lênin còn đặc biệt lưu ý rằng, đối với những nước nông nghiệp, giai cấp nông dân chiếm đại đa số, bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thì nguy cơ lớn nhất là: Nông dân có thể kiểm nghiệm những lợi ích thiết thân hàng ngày, nếu không được đáp ứng một cách công bằng
và rõ rệt, họ sẽ mất lòng tin vào giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản và chủ nghĩa xã hội Họ sẽ đi theo những mạch kinh tế ngầm với tư thương và tư sản [21, 317] Chủ nghĩa Mác - Lênin còn phân tích một cách rất khoa học rằng, khi chưa giác ngộ cách mạng vô sản, thì tư tưởng chính trị của nông
Trang 24dân phụ thuộc vào hệ tư tưởng phong kiến hoặc tư bản Đặc biệt, V.I.Lênin còn cho rằng, giai cấp nông dân tất yếu sẽ đi theo giai cấp vô sản, ủng hộ giai cấp vô sản tiến hành thắng lợi cách mạng xã hội chủ nghĩa V.I.Lênin khẳng định: “Do địa vị kinh tế của mình trong xã hội tư sản, nông dân nhất định phải đi theo công nhân, hoặc giai cấp tư sản Không có con đường trung gian” [18, 438] Một khi nông dân đã hoàn toàn tin tưởng vào giai cấp
vô sản thì họ sẽ hết lòng đi theo và phục vụ cho sứ mệnh lịch sử của giai cấp
vô sản và khi đó, cách mạng nhất định sẽ thành công Điều đó đã được vạch
ra trong lý luận của C.Mác và được thực tiễn của cách mạng vô sản nước Nga chứng minh
Cũng như những nhà lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất coi trọng vai trò của giai cấp nông dân trong tiến trình của mọi cuộc cách mạng Vì vậy, trong suốt hoạt động cách mạng của mình, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn luôn được Hồ Chí Minh nhận thức và
có những bổ sung, phát triển sáng tạo dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin vào trong điều kiện, hoàn cảnh của cách mạng Việt Nam Điểm đặc biệt ở Hồ Chí Minh là khi xem xét vấn đề nông dân, người không chỉ dừng lại ở mặt chính trị, mà còn gắn liền với gốc rễ cơ bản của nó là vấn đề kinh
tế Cụ thể: xét về mặt chính trị, vấn đề nông nông theo Hồ Chí Minh chính
là xây dựng và củng cố khối liên minh công nông – cơ sở nền tảng của chính sách mặt trận dân tộc thống nhất trong kháng chiến chống thực dân Pháp Sau khi giành được độc lập, liên minh công - nông - trí thức là nền tảng của chính quyền - công cụ sắc bén trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chế độ mới Khi xét về mặt chính trị, vấn đề về nông dân không bao giờ Hồ Chí Minh đặt ra một cách riêng rẽ, mà theo người là chỉ có thể và cần phải đặt trong khối liên minh, với tư cách là cơ sở xã hội nền tảng của cách mạng xã
Trang 25hội chủ nghĩa và của chính quyền Nhà nước do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mặt kinh tế - xã hội của vấn đề nông dân luôn luôn được gắn liền với mặt chính trị Nhưng vận dụng ở hai giai đoạn có khác nhau Trong giai đoạn đấu tranh giành chính quyền, khẩu hiệu
“người cày có ruộng” có sức động viên to lớn đối với nông dân tham gia kháng chiến Nhưng ở giai đoạn này, yêu cầu kinh tế “người cày có ruộng”
và chính sách cải cách ruộng đất chủ yếu nhằm phục vụ yêu cầu, nhiệm vụ chính trị là đảm bảo lực lượng cho kháng chiến thắng lợi, quét sạch ngoại xâm, bảo vệ độc lập tự do cho Tổ quốc, đem lại hạnh phúc, ấm no cho nhân dân Trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, lợi ích kinh tế của nông dân và nhân dân nói chung được đặt lên hàng đầu Chính trị phải thể hiện được yêu cầu kinh tế ấy và chỉ khi đó, chính trị mới có sức mạnh to lớn bắt nguồn từ việc đáp ứng lợi ích kinh tế thiết thân của nhân dân mà đông đảo nhất chính là nông dân Phép biện chứng giữa kinh tế và chính trị đó thể hiện trong luận điểm của Hồ Chí Minh khi người khẳng định: “Nếu độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc
tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì” [43, 56] Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn đánh giá cao vai trò của giai cấp nông dân, người xem nông dân là một lực lượng cách mạng to lớn không chỉ trong cách mạng dân tộc dân chủ
mà cả trong cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội Vì lẽ
đó, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến vấn đề nông dân - một lực lượng to lớn của Cách mạng Người đã xây dựng cái gố
Trang 26c Tháng 11-1949, trong Thư gửi Hội nghị cán bộ Nông dân cứu quốc toàn quốc, Hồ Chí Minh viết: “Nông dân là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất trung thành của giai cấp công nhân Muốn kháng chiến kiến quốc thành công, muốn độc lập thống nhất thực sự ắt phải dựa vào lực lượng của nông dân Đồng bào nông dân sẵn có lực lượng to lớn, sẵn có lòng nồng nàn yêu nước, sẵn có chí khí kiên quyết đấu tranh và hy sinh” Để nông dân phát huy được sức mạnh trong quá trình xây dựng chủ
” Trong Thư gửi Hội nghị cán bộ Nông dân cứu quốc toàn quốc
tháng 11-1949, người căn dặn:
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, từ trước đến nay Đảng và Nhà nước ta cũng hết sức quan tâm đến vấn đề nông dân, đến phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn Năm 1986, cùng với việc thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta đã nhấn mạnh vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của nông dân, của sản xuất nông nghiệp: “Chính yêu cầu cấp bách về lương thực, thực phẩm, về nguyên liệu sản xuất hàng tiêu dùng, về hàng xuất khẩu quyết định vị trí hàng đầu của nông nghiệp” [33, 48], và khẳng định vị thế của người nông dân Cùng với việc bố trí lại cơ cấu sản
Trang 27xuất, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện ba chương trình mục tiêu về lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, chủ trương đổi mới và phát huy triệt để vai trò chủ động của nông dân, phấn đấu đưa nông nghiệp nước ta trở thành nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa xã hội chủ nghĩa… Đặc biệt, Đại hội lần thứ IX (4/2001) của Đảng đã khẳng định vai trò của nông dân trong quá trình đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cụ thể: “ra sức bồi dưởng nông dân ở nông thôn và phát huy vai trò của giai cấp nông dân trong
sự nghiệp đổi mới, tập trung sự chỉ đạo và các nguồn lực cần thiết cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, phát triển nông thôn; thực hiện tốt chính sách về ruộng đất, phát triển nông nghiệp toàn diện, tiêu thụ nông sản hàng hóa, bảo hiểm sản xuất và bảo hiểm xã hội; phát huy lợi thế từng vùng, giúp đỡ vùng khó khăn; phân bố dân cư theo huy hoạch, phát triển ngành nghề, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, xây dựng nông thôn mới” [37, 125]
Tiếp tục tinh thần đó, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã ra nghị quyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong
đó xác định: "Nông nghiệp, nông dân và nông thôn có vị trí chiến lược trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ
sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững
ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước "
Đến Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, Đảng ta lại tiếp tục có một
sự nhìn nhận đúng đắn về vị trí, vai trò của giai cấp nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhất là trong xây dựng nông thôn mới Từ đó, xác định sự cần thiết trong việc “Xây dựng và phát huy vai trò của giai cấp nông dân, nâng cao trình độ giác ngộ giai cấp, tạo điều kiện hỗ
Trang 28trợ, khuyến khích nông dân học nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động, tiếp nhận và áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; nâng cao chất lượng cuộc sống để giai cấp nông dân thực sự là chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới” [39, 49]
Như vậy, những nội dung thể hiện trong các Chỉ thị, Nghị quyết, trong từng quyết sách, đã thể hiện bước hoàn thiện căn bản tư duy của Đảng về vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp và nông dân, và đi liền cùng đó là huy động, tập hợp, phát huy vai trò của giai cấp nông dân trong thời kỳ mới, khẳng định vai trò, mối quan hệ chặt chẽ giữa nông dân, nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
1.1.2 Đặc điểm và vai trò của giai cấp nông dân Việt Nam
Khái quát về đặc điểm của giai cấp nông dân Việt Nam
Xuất phát từ những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể của một quốc gia vốn phải đối mặt với chiến tranh triền miên, thiên nhiên khắc nghiệt; một quốc gia đi lên chủ nghĩa xã hội với một nên kinh tế nông nghiệp năng suất lao động thấp, nông dân là lực lượng cơ bản, chủ yếu của cả dân tộc; giai cấp nông dân Việt Nam có một số đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, Giai cấp nông dân Việt Nam có truyền thống yêu nước, kiên cường và buất khuất trong đấu tranh vì nền độc lập, tự do của dân tộc
Tình yêu quê hương đất nước, gắn bó với quê cha đất tổ là một trong những biểu hiện nổi bật của người nông dân Việt Nam Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, người nông dân vừa phải chống chọi với thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm; dù trong hoàn cảnh nào họ vẫn bám trụ quê cha đất tổ với tinh thần “Một tấc không đi, một ly không rời” Như chúng ta
đã biết, người nông dân Việt Nam vốn có tinh thần yêu nước nồng nàn, sâu sắc Tinh thần yêu nước của người nông dân trước hết là đấu tranh bảo tồn
Trang 29dân tộc không bị đồng hóa lai căng, bảo tồn nền văn hóa dân tộc Yêu nước của người nông dân Việt Nam xuất phát từ tình yêu quê hương, làng xóm yên bình phát triển thành tình yêu đất nước hòa bình, độc lập Trong 10 thế
kỷ Bắc thuộc, người nông dân Việt Nam luôn kiên quyết đấu tranh để không
bị Hán hóa Những thế kỷ tiếp theo, từ năm 938 Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán giành độc lập cho dân tộc, cho đất nước; đến Nguyễn Huệ đại phá Mãn Thanh; hai lần đánh thắng đế quốc Pháp và Mỹ dưới thời đại Hồ Chí Minh Trong vòng thế kỷ, Việt Nam 10 lần đại thắng: đại thắng bằng khác vọng tự do, độc lập Trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, giai cấp nông dân luôn là lực lượng chủ yếu, trực tiếp tham gia đông đảo nhất vào quân đội, đây cũng chính là một đặc điểm nổi bật mà nông dân nhiều nước không có Khi hòa bình, cũng chính giai cấp nông dân là những người trực tiếp sẵn sàng góp công, góp sức để khôi phục, kiến thiết đất nước, nhất
là góp công sức vào việc đắp đê, chống lụt, xây dựng các công trình thủy lợi, xây dựng cơ sở hạ tầng cho nông thôn,…
Thứ hai, giai cấp nông dân Việt Nam sống hiền lành, chất phác, giản
dị, trọng tình nghĩa
Từ bao đời, người nông dân Việt Nam mang bản tính hiền lành, chất phác, luôn coi trọng tình cảm và luôn mang tính bao dung Tuy nhiên, mặt trái của tính cách đó là lối sống thiên về tình cảm, trọng tình nghĩa, tục lệ hơn là pháp luật, nặng tính cục bộ địa phương, đố kỵ với người hơn mình Những tính cách này, ít nhiều cũng đã có tác động tiêu cực đến sự phát triển chung của nông thôn Việt Nam Tư tưởng cục bộ địa phương coi “hương ước” và luật tục của làng xã cao hơn pháp luật, theo kiểu “phép vua thua lệ làng”, chính điều này đã làm cho môi trường xã hội ở nông thôn khó có thể quản lý được bằng pháp luật Tính cục bộ, đố kỵ người hơn mình, khinh bỉ
kẻ kém, dễ bị kích động cùng với sự phân hóa giàu nghèo đang ngày càng
Trang 30gia tăng và cuộc sống hiện tại còn khó khăn… rất dễ dẫn tới việc nông dân
bị kẻ xấu kích động, xúi giục gây rối loạn an ninh trật tự ở nông thôn
Thứ ba, Giai cấp nông dân Việt Nam có đức tính cần cù, chăm chỉ, chịu khó trong lao động sản xuất, có tinh thần tương thân tương ái trong cuộc sống
Trong điều kiện tự nhiên không thuận lợi, đất đai ít màu mỡ, nhất là ở miền Bắc và miền Trung, công cụ sản xuất thô sơ đã tạo ra ở người nông dân Việt Nam đức tính cần cù chăm chỉ, chịu thương, chịu khó “một nắng hai sương”, chấp nhận khó khăn, sẵn sàng hy sinh cho nông nghiệp, vì nông nghiệp Sản xuất “lấy công làm lãi” đây không phải là biểu hiện của sự thiếu hiểu biết mà là thực tế lấy sản phẩm làm thước đo hiệu quả, vì sản phẩm và tính thời vụ trong nông nghiệp đã tạo tinh thần hợp tác, trao đổi công sức, truyền thống đoàn kết tương trợ trong sản xuất của người nông dân Việt Nam Trong cuộc sống hàng ngày, họ luôn luôn quan tâm, gần gũi, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau chia sẽ những lúc khó khăn, những khi hoạn nạn và luôn tối lửa tắt đèn có nhau
Thứ tư, Trong quá khứ, giai cấp nông dân Việt Nam chưa thực sự trải qua giai đoạn phát triển sản xuất hàng hóa dựa trên tư hữu nhỏ
Trước cách mạng Tháng Tám 1945, Việt Nam tồn tại chế độ sở hữu phong kiến Á châu về ruộng đất, trong đó đan xen cả quan hệ ruộng công của nhà nước lẫn quan hệ ruộng tư của địa chủ Đa phần nông dân lúc này không có ruộng tư hữu, phải lĩnh canh ruộng công hoặc ruộng tư của địa chủ, quan lại Cùng với kỹ thuật canh tác lạc hậu, với chế độ sưu cao, thuế nặng, người nông dân không có đủ lương thực để nuôi sống gia đình vì thế lúc bấy giờ họ chưa thể tham gia vào sản xuất hàng hóa
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và sau khi miền Bắc được giải phóng, Nhà nước đã tiến hành chia ruộng đất cho nông dân, từng
Trang 31bước hình thành giai cấp nông dân có quyền tư hữu ruộng đất Tuy nhiên, nông dân tư hữu tồn tại ở miền Bắc trong thời gian không lâu do phong trào hợp tác hóa tiến hành từ những năm cuối thập kỷ 50 của thế kỷ XX đã đưa hầu hết nông dân tư hữu vào làm ăn tập thể Ở miền Nam, trong vùng giải phóng, nông dân được chia đất Vùng do chính quyền Sài Gòn quản lý, cải cách ruộng đem lại hệ quả là đất đai chủ yếu rơi trở lại tay địa chủ; đối với nông dân, phần nhỏ được mua lại từ đất vượt hạn điền của địa chủ và trở thành tiểu nông, phần lớn tiếp tục lĩnh canh đất của địa chủ với địa tô thực tế rất cao, chiếm từ, chiếm từ 15-45% kết quả mùa màng [4, 103] Sau năm
1975, Nhà nước tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp ở miền Nam Kết quả là vào cuối thập niên 70 của thế kỷ XX đã đưa được một bộ phận lớn nông dân
ở đây vào các hợp tác xã bậc thấp Như vậy, giai đoạn người nông dân được canh tác tự chủ trên ruộng đất của mình như một người sản xuất hàng hóa nhỏ rất ngắn, chưa đủ để hình thành các kinh nghiệm kinh doanh cũng như
tổ chức ngành nghề của nông dân
Bước vào thời kỳ đổi mới đất nước cho đến nay, kinh tế hộ nông dân
đã từng bước được hình thành, nông dân được quyền sử dụng, được quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và kế thừa quyền sử dụng đất, nhưng chỉ được quyền sử dụng đất đó cho canh tác nông nghiệp Trong điều kiện đó, kinh tế hộ gia đình của nông dân đã dần dần được hình thành và được củng
cố sức mạnh Tuy nhiên, về cơ bản người nông dân vẫn chưa có quyền tài sản đầy đủ về đất, còn ở thế bị hạn chế khi giao dịch đất nông nghiệp Ở nông thôn, thị trường quyền sử dụng nông nghiệp chậm phát triển Cho đến nay, quan hệ giữa nông dân với kinh tế thị trường vẫn còn ở giai đoạn sơ khai, chưa hình thành các tập quán kinh doanh đủ mạnh để chi phối hành vi của họ trong sản xuất
Trang 32Thứ năm, Giai cấp nông dân Việt Nam ít quan tâm tham gia các hiệp hội ngành nghề
Quá trình tiến hành giao đất cho nông dân từ những năm cuối thập kỷ
80 của thế kỷ XX cho đến nay tính trên phạm vi cả nước đã hình thành hơn
10 triệu hộ nông dân với bình quân diện tích đất canh tác/ một gia đình còn rất thấp ( từ 0,3 đến 0,7 ha ) [4, 104] Do quan hệ hàng hóa thời kỳ đầu chưa phát triển nên các hộ nông dân đều trồng cây lương thực trên mãnh đất được giao, dẫn đến số hộ độc canh cây lương thực khá lớn Hơn nữa, do quy mô đất được giao quá nhỏ, nhất là ở khu vực đồng bằng sông Hồng, nên tỷ trọng hàng hóa của hộ nông dân không cao Đồng thời, do tính chất bấp bênh của thị trường nông sản nên nông dân có xu hướng tổ chức sản xuất theo hướng
đa dạng, cả sản xuất và chăn nuôi ở qui mô nhỏ nên tính chuyên môn hóa và
tỷ trọng nông sản hàng hóa càng thấp Theo đó, quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng chuyên canh, quy mô lớn diễn ra rất chậm và không ổn định do giá cả nông sản thế giới biến đổi bấp bênh Chính
vì thế, xu hướng tự cung, tự cấp vẫn còn thấy rõ trong kinh tế hộ nông dân, nhất là trong các hộ thuần trồng cây lương thực ở phía Bắc Do chưa hình thành các cơ sở sản xuất chuyên canh quy mô lớn nên nhu cầu liên kết để sản xuất của các hộ nông dân chưa cao, nhu cầu tham gia các hiệp hội ngành nghề không lớn
Mặc dù Đảng và Nhà nước ta cũng đã tích cực trong công tác vận động người nông dân liên kết sản xuất theo nhiều hình thức, nhưng quá trình người nông dân tự trưởng thành về xã hội và chính trị còn diễn ra chậm, việc
họ tự chủ động tìm đến liên kết và hợp tác chặt chẽ với nhau trong sản xuất còn hạn chế Hội nông dân mặc dù có vai trò lãnh đạo và hỗ trợ nông dân rất lớn, nhưng bộ phận người nông dân vẫn chưa thực sự vươn lên để có thể tự tài trợ và tự quản lý Hội của mình Hội nông dân với tư cách là một tổ chức
Trang 33chính trị - xã hội to lớn của giai cấp nông dân Việt Nam, trong những năm qua, Hội đã có nhiều đóng góp trong việc hỗ trợ cho nông dân giảm nghèo, tiếp cận tín dụng chính thức, khuyến khích nông dân làm giàu Tuy nhiên, tính tự giác tham gia và xây dựng Hội của từng nông dân còn chưa cao Nông dân chưa thật sự tìm đến Hội như một tổ chức phản ánh ý nguyện và sức mạnh của mình, mà còn ít nhiều trông mong vào sự bao cấp, hỗ trợ một chiều của Hội đối với hội viên Vì thế, về mặt kinh tế, Hội nông dân chưa hỗ trợ thích đáng để nông dân khẳng định vị thế của mình trên thương trường
Thứ sáu, Giai cấp nông dân Việt Nam còn yếu kém về năng lực tài chính, về kinh nghiệm và tri thức kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
Sở dĩ giai cấp nông dân Việt Nam mang đặc điểm này, bởi vì giai cấp nông dân Việt Nam do thoát thai từ một nền sản xuất nông nghiệp mang tính tự cung, tự cấp, sản phẩm làm ra được đem giao nộp cho Nhà nước, vì vậy cho nên nông dân Việt Nam chưa tích lũy được vốn, kỹ thuật
và kỹ năng kinh doanh trên thương trường Họ vẫn còn giữ thói quen canh tác theo lối truyền thống, phụ thuộc vào hệ thống cung ứng độc lập hoàn toàn với họ (qua tiểu thương hoặc qua doanh nghiệp) Người nông dân hầu như chưa có kinh nghiệm tham gia vào quá trình cung ứng vật tư và tiêu thụ nông sản, còn hành động tự phát theo phong trào Hệ thống thu thập và cung cấp thông tin thị trường hàng nông sản chưa được Nhà nước quan tâm
và đầu tư đúng mức nên người nông dân thường thiếu thông tin hoặc thông tin không cập nhật, do đó tình trạng phổ biến là nông dân hoạch định kế hoạch sản xuất theo sau thị trường nên nông dân thường bị thua thiệt Tình trạng trồng cây khi giá thị trường cao, chặt bỏ khi giá thị trường thấp thường xuyên xảy ra, điều này không chỉ gây thiệt hại rất lớn cho người nông dân, mà còn làm ảnh hưởng đến chiến lược cạnh tranh dài hạn của ngành nông nghiệp nước ta
Trang 34Song, hệ thống dịch vụ cho nông nghiệp, nhất là khâu cung ứng vật tư
và tiêu thụ sản phẩm còn chưa được tổ chức hiệu quả Đa phần nông sản được tiêu thụ theo phương thức: tư thương mua gom nông sản của từng hộ nông dân, sau đó bán lại cho đại lý cấp II; đại lý cấp II bán cho đại lý cấp I; đại lý cấp I bán cho doanh nghiệp chế biến hoặc công ty xuất khẩu Vì vậy, nếu nông dân ở phân tán và khối lượng nông sản ở từng hộ nhỏ thì số cấp đại lý còn tăng hơn nữa Có thể thấy, từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước cho đến nay, người nông dân Việt Nam vốn rất ít được qua đào tạo Do vậy, vẫn còn phần lớn nông dân Việt Nam chưa nắm bắt cũng như chưa tiếp cận được với kỹ thuật canh tác hiện đại, không biết quản lý hoạt động kinh doanh nông nghiệp, thậm chí không có thói quen ghi chép, hoạch toán kinh
tế bằng sổ sách Cụ thể, theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê điều tra năm 2007 có khoảng 90% lao động ở khu vực nông thôn chưa qua đào tạo, số có trình độ đại học trở lên chỉ chiếm khoảng 1%
Như vậy, xuất phát từ những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định cũng như hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước, đã quy định nên những đặc điểm riêng cơ bản giai cấp nông dân Việt Nam Nhìn chung, những đặc điểm nêu trên của giai cấp nông dân Việt Nam bao gồm những đặc điểm vốn có trước khi chịu tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và những đặc điểm sau khi chịu tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa; vừa có những đặc điểm mang tính tích cực và những đặc điểm mang tính tiêu cực
Vai trò của giai cấp nông dân Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nước ta căn bản là một nước nông nghiệp, vì vậy nông dân, nông nghiệp và nông thôn luôn luôn là lực lượng và cơ sở vật chất quan trọng tạo nên sự hưng thịnh của dân tộc Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, nông dân và các vùng nông thôn là lực lượng to lớn và là hậu phương vững chắc
Trang 35để đánh đuổi giặc ngoại xâm, và giai cấp nông dân chính là lực lượng chủ yếu tham gia vào quân đội và trực tiếp tham gia kháng chiến đưa cách mạng
đi đến thắng lợi và góp phần bảo vệ Tổ quốc Trong công cuộc xây dựng xã hội mới, giai cấp nông dân Việt Nam cũng chính là lực lượng đã có những đóng góp lớn nhất để khôi phục nền nông nghiệp vốn bị chiến tranh tàn phá, vượt qua giai đoạn phát triển khó khăn trong cơ chế cũ và phát huy hết khả năng của mình trong chế độ khoán hộ để tạo ra khối lượng lương thực, thực phẩm không những nuôi sống xã hội, mà còn cung cấp nguyên liệu cho các ngành sản xuất công nghiệp và tham gia vào việc xuất khẩu
Qua các giai đoạn cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp nông dân luôn là lực lượng hùng hậu, có đóng góp vô cùng to lớn và quan trọng về tinh thần và sức lực, tính mạng và tài sản giúp Đảng, Nhà nước và dân tộc vượt qua khó khăn, thách thức góp phần làm nên những trang sử vẻ vang của dân tộc Trong đấu tranh cách mạng, giai cấp nông dân đã góp phần to lớn vào việc cung cấp sức người, sức của cho chiến trường, giữ vững hậu phương, góp phần cổ vũ, động viên bộ đội trên các chiến trường hoàn thành sự nghiệp giải phóng và thống nhất Tổ quốc Vùng nông thôn luôn luôn là căn cứ địa, là vùng kháng chiến, là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến
Khi đất nước được hoàn toàn độc lập, thống nhất trong công cuộc đổi mới, đặc biệt là trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giai cấp nông dân Việt Nam vẫn chính là một lực lượng chính trị đông đảo, chiếm phần đông trong dân cư, là nền tảng vững chắc tạo nên sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước Thừa nhận vai trò quan trọng của nông nghiệp, nông thôn
và nông dân, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa X) của Đảng cộng sản Việt Nam đã ghi rõ: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ
Trang 36quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước” Thực tiễn cho thấy, Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp, giai cấp nông dân chiếm đại đa số trong dân cư, các nguồn lực, kể cả nguồn nhân lực phần lớn đều dựa vào nông thôn, nông nghiệp và nông dân Do đó, ở Việt Nam vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn có một vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Có thể khái quát vai trò quan trọng của giai cấp nông dân Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như sau:
Thứ nhất, Giai cấp nông dân là chủ thể chính trong xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, tạo điều kiện cho sự phát triển nhanh, bền vững của các ngành công nghiệp và dịch vụ có tính chất công nghiệp
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III và Nghị quyết của các hội nghị Ban chấp hành Trung ương sau đó, Đảng ta luôn luôn khẳng định: “Nông nghiệp là cơ sở để phát triển công nghiệp”, sự khẳng định đó cũng chính là
sự khẳng định vai trò của giai cấp nông dân trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mà cụ thể là xây dựng một nền nông nghiệp theo hướng hiện đại Bởi lẽ, người nông dân chính là lực lượng chính, chủ thể trực tiếp lao động trong nông nghiệp, quyết định việc xây dựng, phát triển nền nông nghiệp của nước nhà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ví công nghiệp và nông nghiệp như là hai chân của nền kinh tế quốc dân, người nhấn mạnh:
“Tiến lên chủ nghĩa xã hội phải đi bằng hai chân: công nghiệp và nông nghiệp… nếu nông nghiệp không tiến bộ hoặc cứ cầm chừng thì như què” [43, 61] Do vậy, công nghiệp muốn tiến nhanh và vững chắc thì nhất định phải dựa trên cơ sở sự phát triển mạnh mẽ và toàn diện của nông nghiệp
Trang 37Không phải chỉ ở nước ta với điều kiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, năng suất lao động nông nghiệp còn thấp mới lấy nông nghiệp làm cơ sở cho sự phát triển của công nghiệp mà ngay
cả ở những nước đã trải qua quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa ở trình độ trung bình; nhu cầu về lương thực cho xã hội đã được giải quyết từ lâu, nông nghiệp của nông dân vẫn giữ vai trò là cơ sở cho sự phát triển của công nghiệp
Nông nghiệp không chỉ cung cấp lương thực, thực phẩm nuôi sống cho con người, tạo thị trường cho các ngành khác mà nông nghiệp còn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, bảo tồn môi trường thiên nhiên, tạo điều kiện cho du lịch sinh thái… Dù các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại có thể tìm ra một số sản phẩm thay thế cho nông sản, nhưng không bao giờ chúng có thể thế chỗ hoàn toàn lương thực, thực phẩm và nguyên liệu từ nông nghiệp Hơn nữa, nhu cầu sử dụng năng lượng, với sự giảm sút nhanh chóng của các dạng năng lượng hóa thạch, nông sản đang hứa hẹn trở thành nguồn năng lượng thay thế có thể tái sinh của xã hội trong tương lai Chính vì thế, dù tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP và số lượng giai cấp nông dân trong dân số có giảm đi, nông nghiệp và nông dân vẫn không mất đi tầm quan trọng của mình Sự leo thang của giá lương thực vào đầu năm 2008 và sự lo sợ của nhiều chính phủ, nhiều tầng lớp dân
cư ở các nước khác nhau về vấn đề lương đã một lần nữa khẳng định vai trò không thay thế của nông nghiệp và nông dân Đặc biệt, đối với những nước chưa hoàn thành quá trình công nghiệp hóa, GDP còn dựa nhiều vào nông nghiệp thì vai trò của nông nghiệp và nông dân trong cung cấp của cải ngoại tệ càng lớn
Có thể thấy, trong những năm đầu thực hiện quá trình công nghiệp hóa, nông dân và nông nghiệp tạo điều kiện cho sự phát triển của công
Trang 38nghiệp và dịch vụ thông qua việc tăng năng suất lao động để có thể cung cấp lao động và lương thực, thực phẩm cho các ngành khác Nguồn thu của Nhà nước từ nông nghiệp dưới các hình thức khác nhau là tiền đề để Nhà nước tập trung đầu tư cho công nghiệp Mặt khác, sự hỗ trợ của lực lượng lao động dư thừa, nhàn rỗi ở nông thôn và giá nông sản rẻ đã tạo nên một nền tảng căn bản để các ngành công nghiệp và dịch vụ có thể thu hút được sự đầu tư của nước ngoài Hơn nữa, nhờ giải quyết căn bản được vấn đề cung cấp lương thực, giai cấp nông dân Việt Nam không những hỗ trợ Nhà nước trong việc ổn định xã hội, mà còn giúp Nhà nước tập trung sức lực, tài chính cho phát triển các ngành phi nông nghiệp
Mặc dù trong những năm gần đây, tỷ trọng của ngành nông nghiệp nước ta có xu hướng giảm dần, cụ thể: trong GDP năm 2002 còn 22,99%, năm 2007 còn 20,23% và năm 2008 còn 21,99% [4, 111], nhưng nhìn chung nông nghiệp vẫn thực sự là nền tảng cho sự ổn định về kinh tế cũng như ổn định về chính trị, xã hội; mặt khác ta thấy, nông nghiệp không chỉ giữ vai trò nuôi sống hơn 70% dân số sinh sống ở nông thôn, tạo việc làm cho hơn 50% lực lượng lao động, mà nông nghiệp còn đóng vai trò trong việc hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp cho sự phát triển của các ngành khác
Hàng năm, ngành nông nghiệp nước ta đã sản xuất và cung ứng nhiều loại nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến như: cao su, bông vải, hạt điều, cà phê, chè, thuốc là, đậu tương… Hơn thế, nền nông nghiệp nước
ta hàng năm cũng đã cung cấp một lượng lớn hàng nông sản xuất khẩu, luôn chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng kim nghạch xuất khẩu của Việt Nam (hơn 20%) Chúng ta thấy, từ năm 1989, Việt Nam vừa đảm bảo nhu cầu tiêu dùng lương thực trong nước và nguồn dự trữ cho “an ninh lương thực”, đồng thời vừa có gạo để xuất khẩu trung bình mỗi năm từ 1 – 1,5 triệu tấn
và tiến dần lên tới 4 – 4,5 triệu tấn như hiện nay, vươn lên vị trí thứ hai về
Trang 39xuất khẩu gạo trên thế giới Ngoài mặt hàng gạo được xuất khẩu và đứng thứ hạng cao trên thên thế giới, công sức lao động cần cù, chịu khó của người nông dân cũng đã góp phần đáng kể trong việc đưa Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu cà phê, chè, hạt tiêu, hạt điều, cao su… lớn trên trên giới
Thứ hai, Giai cấp nông dân là lực lượng chính tạo dựng sự ổn định xã hội ở nông thôn
Có thể nói, hiện nay, giai cấp nông dân ở nước ta là một lực lượng chiếm tuyệt đại bộ phận trong tổng số dân cư Theo báo cáo được công bố chính thức tại Đại hội đại biểu Nông dân Việt Nam ngày 22-12-2008, nông dân Việt Nam chiếm 73% dân số, với gần 14 triệu hộ, bằng 55,7% tổ số lao động xã hội [56, 9] Những con số trên đây cho thấy tầm quan trọng của giai cấp nông dân và sự ổn định của xã hội nông thôn đối với sự phát triển của đất nước Do vậy, để có thể tạo được niềm tin và sự ủng hộ của nông dân đây là một nhiệm vụ tối quan trọng của mọi cấp chính quyền nói chung, của đảng cầm quyền nói riêng
Ở nước ta, giai cấp nông dân không những là một lực lượng đông đảo,
là nguồn bổ sung lao động cho các ngành công nghiệp và dịch vụ mà còn là hậu thuẫn, nền tảng của chế độ chính trị nước ta Vai trò này của nông dân
có thể được khái quát dưới các góc độ như sau:
Một là, nông dân là lực lượng đông đảo, quan trọng của khối liên
minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức – nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cơ sở chính trị - xã hội tin cậy đảm bảo cho sự lãnh đạo của Đảng
Có thể khẳng định rằng, trong giai đoạn hiện nay, giai cấp nông dân Việt Nam vẫn là một lực lượng cơ bản, đông đảo chủ yếu trong khối liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức Mối liên minh này là sự tác
Trang 40động biện chứng của các lực lượng tham gia vào khối liên minh Cụ thể: sản phẩm mà người nông dân làm ra không chỉ đáp ứng cho nhu cầu nuôi sống bản thân họ mà còn đảm bảo cho việc nuôi sống toàn xã hội, song những sản phẩm mà người nông dân làm ra còn là nguồn nguyên liệu cung cấp cho các ngành công nghiệp chế biến, đồng thời cũng chính nông dân, nông thôn là thị trường rộng lớn để tiêu thụ các sản phẩm từ công nghiệp Nước ta đang trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, vai trò của trí thức đối với nông dân là rất quan trọng bởi vì đây chính là nền tảng và động lực giúp cho nông nghiệp của nông dân phát triển theo chiều sâu và mang tính bền vững
Trên thực tế, ở nước ta hiện nay vẫn còn một bộ phận không nhỏ nông dân mang nặng lối sản xuất theo kinh nghiệm, tập quán chính vì vậy
mà năng suất, chất lượng cũng như hiệu quả chưa cao Cho nên, nông dân, nông nghiệp Việt Nam rất cần sự đóng góp của khoa học và công nghệ Một khi người nông dân tiếp cận được tri thức và ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất sẽ góp phần làm tăng năng suất, chất lượng nông sản Quá trình đó cũng đồng thời tạo điều kiện cho các nhà khoa học có môi trường thực nghiệm những phát minh và sáng chế của mình, từ đó mà có sự bổ sung và điều chỉnh nhằm hoàn thiện hơn nữa ở những bước tiếp theo trong quá trình nghiên cứu và sáng chế của mình
Hai là, nông dân là lực lượng hậu thuẫn đắc lực cho Đảng và Nhà
nước ở nông thôn Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sẽ không thành công nếu nông nghiệp, nông thôn không được công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như
ở nước ta hiện nay, giai cấp nông dân chính là một lực lượng chủ lực trong nông nghiệp Do đó, nếu người nông dân không thực sự ủng hộ công nghiệp