1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng chính trị trong tác phẩm chính trị của arixtốt

116 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến nay, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu và viết về tư tưởng triết học của Arixtốt, nhưng nghiên cứu một cách cụ thể về tư tưởng chính trị của Arixtốt trong tác phẩm Chính trị và

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân, dưới sự hướng dẫn của PGS TS Đinh Ngọc Thạch Nội dung trong luận văn là trung thực và chưa được bất cứ một tác giả nào công bố

Tác giả

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA ARIXTỐT 9

1.1 Điều kiện lich sử và tiền đề lý luận hình thành tư tưởng chính trị Arixtốt 9

1.1.1 Điều kiện lịch sử tác động đến sự hình thành tư tưởng chính trị Arixtốt 9

1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng chính trị Arixtốt 18

1.2 Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng chính trị của Arixtốt qua một số tác phẩm tiêu biểu 27

1.2.1 Khái quát cuộc đời và các thời kỳ phát triển của tư tưởng Arixtốt 27

1.2.2 Các tác phẩm về chính trị của Arixtốt 32

Kết luận chương 1 37

Chương 2: NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ ARIXTỐT TRONG “CHÍNH TRỊ” 38

2.1 Bối cảnh ra đời và kết cấu của tác phẩm “Chính trị” 38

2.1.1 Bối cảnh ra đời của tác phẩm “Chính trị” 38

2.1.2 Kết cấu của tác phẩm “Chính trị” 42

2.2 Nội dung cơ bản của tác phẩm “Chính trị” 46

2.2.1 Vấn đề nhà nước và hệ thống quyền lực 47

2.2.2 Phân loại các hình thức cai trị và nhà nước lý tưởng 57

2.2.3 Vấn đề con người và giáo dục con người 69

2.3 Giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử của tư tưởng chính trị Arixtốt 80

2.3.1 Giá trị và hạn chế của tư tưởng chính trị Arixtốt 80

Trang 6

2.3.2 Ý nghĩa lịch sử của tư tưởng chính trị Arixtốt 87

Kết luận chương 2 98

KẾT LUẬN CHUNG 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong các hình thái của ý thức xã hội thì ý thức chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống xã hội, vì nó là hình thái ý thức xã hội gần gũi, gắn bó và tác động thường xuyên nhất đến các cơ sở kinh tế Vì vậy, trong lịch sử tư tưởng nhân loại, chính trị luôn là vấn đề được các nhà các nhà triết học quan tâm bàn đến Ở nước ta, cùng với phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục và khoa học công nghệ thì việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ có ý nghĩa vô cùng quan trọng Để xây dựng được nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh, chúng ta cần phải tiếp thu những tinh hoa tri thức của nhân loại, trong đó có tư tưởng chính trị Hy Lạp cổ đại Do đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu tư tưởng chính trị của Arixtốt là hết sức cần thiết

Từ thời cổ đại, chính trị đối với người Hy Lạp không chỉ là một khoa học mà còn là nghệ thuật Thuật ngữ “chính trị” xuất phát từ tiếng Hy Lạp được hiểu theo ba nghĩa, dùng để chỉ: các công việc của nhà nước, công việc quốc gia với các chủ thể chính trị tiêu biểu cho nhà nước và cho quốc gia; các hoạt động có liên quan đến việc quản lý nhà nước; nghệ thuật quyền lực, trong đó có hoạt động đối nội và đối ngoại… Từ tinh thần đó, Lênin (V.I Lenin) đã viết: “Chính trị là sự tham gia vào những công việc của nhà nước, là việc vạch hướng đi cho nhà nước, việc xác định những hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước” [31, tr 404]

Người Hy Lạp đã sớm khẳng định trí tuệ của dân tộc thông qua những thành tựu hết sức rực rỡ trên nhiều lĩnh vực khác nhau như: triết học, chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học… Ngay buổi bình minh của nhân loại, Hy Lạp đã có một hệ thống triết học đồ sộ mà ánh hào quang của nó vẫn còn tỏa sáng cho đến ngày nay Đúng như C Mác (K Marx) viết:

Trang 8

“Triết học hiện đại chỉ tiếp tục cái công việc do Hêraclít và Arixtốt mở đầu

mà thôi” [35, tr 166] Vì thế triết học Hy Lạp có sức hút mạnh mẽ đối với những ai muốn dấn thân vào con đường của sự thông thái Về điều này, Ph Ăngghen (F Engels) đã từng khẳng định: “Đó là một trong những lý do làm cho, trong triết học cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, chúng ta phải luôn luôn trở lại với thành tựu của cái dân tộc nhỏ bé đó, cái dân tộc mà năng lực

và hoạt động toàn diện của nó đã tạo ra cho nó một địa vị mà không một dân tộc nào khác có thể mong ước được trong lịch sử phát triển của nhân loại” [37, tr 491] Trong đó, Arixtốt là nhân vật để lại dấu ấn đậm nét nhất trên bước đường mà người Hy Lạp đã chinh phục Ông được suy tôn là “bộ

óc bách khoa” của nền triết học và khoa học Hy Lạp cổ đại

Trong hệ thống triết học của Arixtốt, tư tưởng chính trị chiếm vị trí đặc biệt quan trọng Trong lĩnh vực chính trị, Arixtốt đã có nhiều công trình

khảo cứu công phu, nghiêm túc mà tiêu biểu nhất là tác phẩm Chính trị Về phương diện triết lý, Chính trị trở thành một trong những tác phẩm kinh

điển của khoa học chính trị và triết học chính trị tại phương Tây Trong tác phẩm, Arixtốt đã đề cập đến nhiều vấn đề như: nguồn gốc, bản chất và quyền lực nhà nước; phân tích các hình thức cai trị; việc tổ chức quốc gia; đưa ra các nguyên tắc trong giáo dục và mô hình nhà nước lý tưởng… Ông

đã dùng phương pháp quy nạp, đi từ đơn vị xã hội nhỏ nhất là gia đình tới

xã hội và cuối cùng là quốc gia, để tìm ra những đặc tính thiết yếu mà nhà nước cần phải có để trở thành một nhà nước lý tưởng Ngoài ra, Arixtốt còn dùng phương pháp so sánh giữa mô hình nhà nước lý tưởng với mô hình nhà nước trong thực tế để đưa ra những nguyên lý xây dựng một nền chính trị mang lại điều tốt nhất cho con người Tư tưởng của Arixtốt ra đời trong hoàn cảnh lịch sử nhất định nên không tránh khỏi những hạn chế, tuy nhiên

nó vẫn còn hữu ích đối với chúng ta hiện nay

Trang 9

Cho đến nay, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu và viết về tư tưởng triết học của Arixtốt, nhưng nghiên cứu một cách cụ thể về tư tưởng

chính trị của Arixtốt trong tác phẩm Chính trị và rút ra giá trị, ý nghĩa lịch

sử của nó vẫn là vấn đề còn bỏ ngõ, cần được phân tích sâu sắc và có hệ

thống Nhận thức được điều đó, tác giả chọn “Tư tưởng chính trị trong

tác phẩm Chính trị của Arixtốt” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình, với

mong muốn được đóng góp vào tiến trình nghiên cứu, chọn lọc, kế thừa và phát huy những giá trị tư tưởng của nhân loại

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Những thành tựu mà người Hy Lạp đạt được là một trong những đề tài hấp dẫn khiến cho nhiều học giả phải tập trung nghiên cứu Tư tưởng chính trị Hy Lạp cổ đại, đặc biệt là tư tưởng chính trị của Arixtốt đã để lại những giá trị hết sức to lớn không những đối với các nước phương Tây mà còn đối với chúng ta hiện nay Chính vì thế, nó đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học ở trong và ngoài nước Chúng ta phải kể đến những công trình đáng được chú ý sau:

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã dành sự quan tâm đến triết học Hy Lạp, trong đó có Arixtốt

Trong Bài xã luận báo “Kolnische Zeitung số 179”, C Mác đã chỉ ra

vị trí của Arixtốt trong văn hóa Hy Lạp, cũng như đánh giá sự ảnh hưởng của Arixtốt đối với triết học hiện đại

Arixtốt được biết như một biểu tượng của nền văn minh Hy Lạp

Trong các tác phẩm Chống Đuyrinh (viết vào tháng 9 năm 1876 đến tháng 6 năm 1878) và Biện chứng của tự nhiên (viết chủ yếu vào những năm 1873 –

1883 và phần bổ sung viết vào những năm 1885 – 1886), Ph Ăngghen đã phân tích vai trò của nền văn minh Hy Lạp, “tinh thần Hy Lạp” đối với sự phát triển của lịch sử tư tưởng nhân loại

Trang 10

Trong Bút kí triết học, Lênin cũng đã giành sự quan tâm và phân tích

một cách sâu sắc về triết học Arixtốt cả về mặt tích cực lẫn hạn chế; qua đó, đánh giá mức độ ảnh hưởng của Arixtốt đối với các triết gia ở thời kỳ sau, đặc biệt là đối với Hêghen (Hegel)

Như vậy, các nhà kinh điển đã đưa ra những nhận định, phân tích sâu sắc về triết học Arixtốt Đó là những định hướng và chỉ dẫn quý báu đối với việc đánh giá quá khứ và rút ra bài học cho hôm nay

Trên thế giới, cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng chính trị Arixtốt Đầu tiên phải kể đến việc xuất bản các tác phẩm của Arixtốt dưới hình thức từng tác phẩm riêng và các tuyển tập tác phẩm với các bản dịch và giới thiệu kèm theo như:

Aristotle, The Politics, Translated into English by Benjamin Jowett,

Batoche Books, Kitchener, 1999

Aristotle, Nicomachean Ethics, Translated and edited by Roger Crisp,

The University of Cambrige, Cambrige, 2004

Aristotle, The Complete Works of Aristotle, The Revised Oxford

Tác phẩm Chính trị của Arixtốt đã được Benjamin Jowett dịch sang

tiếng Anh năm 1999 Trong đó, tác giả không chỉ giới thiệu nguyên văn tác phẩm bằng tiếng Anh, mà còn chú giải những tư tưởng chính trị của Arixtốt Tác giả luận văn đã sử dụng bản dịch này để tìm hiểu, phân tích nguyên tác

Trang 11

tư tưởng chính trị của Arixtốt; có so sánh và đối chiếu với toàn bộ hệ thống

tư tưởng của ông

Bên cạnh đó, còn có các công trình nổi tiếng khác đã được dịch sang tiếng Việt như:

Chương trình khoa học – công nghệ KX.05, đề tài KX 05 – 02 Lịch

sử các tư tưởng chính trị của Marcel Prelot, Georges Lescuyer (Bùi Ngọc

Chương dịch) Đây là công trình nghiên cứu hết sức công phu, đã đề cập một cách đầy đủ nhất các tư tưởng chính trị của các nhà tư tưởng, các triết gia và các trường phái ở phương Tây từ thời cổ đại cho đến hiện đại Trong

đó, các tác giả đã dành sự quan tâm đặc biệt đến tư tưởng chính trị của Arixtốt Ở đây, các tác giả đã chỉ sự khác biệt trong quan điểm chính trị của Platôn (Plato) và Arixtốt, đề cập đến tính cách cá nhân và các công trình chính trị của Arixtốt , việc xếp loại các chính phủ…thông qua đó đã đánh giá sự vĩ đại của triết gia này

Công trình Lịch sử các học thuyết chính trị trên thế giới do các học

giả nổi tiếng của Liên Xô biên soạn, đã được Lưu Kiếm Thanh và Phạm Hồng Thái dịch (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993) Tuy chỉ đề cập đến những nét cơ bản, mang tính chất giáo khoa nhưng công trình đã nghiên cứu khá đầy đủ về lịch sử tư tưởng chính trị ở cả phương Đông và phương Tây Trong đó, tư tưởng chính trị Arixtốt được các tác giả bàn đến với tư cách là một bộ phận không thể thiếu khi nghiên cứu tư tưởng chính trị Hy Lạp cổ đại

Tại Việt Nam, có rất nhiều công trình nghiên cứu về triết học Arixtốt nói chung và tư tưởng chính trị của Arixtốt nói riêng

Công trình nghiên cứu một cách riêng biệt về Arixtốt như Triết học Arixtốt của Vũ Văn Viên (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998) Tác giả đã

Trang 12

bàn về tất cả những lĩnh vực mà Arixtốt nghiên cứu, trong đó có tư tưởng chính trị của ông

Công trình Triết học Hy Lạp cổ đại của tác giả Đinh Ngọc Thạch (Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999) Tác giả đã trình bày khái quát toàn bộ tư tưởng của triết học Hy Lạp một cách có hệ thống, rõ ràng và chặt chẽ theo từng thời kỳ phát triển Trong đó, tác giả dành cho Arixtốt sự tích khá toàn diện từ bản thể luận, nhận thức luận…đến những tư tưởng chính trị của ông

Nghiên cứu về tư tưởng chính trị của Arixtốt, đặc biệt phải kể đến

công trình Aristotle và Hàn Phi Tử - con người chính trị và thể chế chính trị do Nguyễn Văn Vĩnh (chủ biên) (Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội,

2007) Công trình đã đề cập đến vấn đề con người chính trị và thể chế chính trị cũng như sự tương tác giữa con người chính trị và thể chế chính trị trong quan điểm của Arixtốt và Hàn Phi Tử Đây là công trình mang tính chất chuyên sâu đem lại cho người đọc những kiến thức hết sức quý giá về tư tưởng chính trị của hai đại diện tiêu biểu ở phương Tây và phương Đông cổ đại này

Ngoài ra, còn có các tác giả khác viết về tư tưởng Arixtốt nói chung

và tư tưởng chính trị nói riêng Triết lý Hy Lạp thời bi kịch của Nietzsche (Sài Gòn, 1975, bản dịch của Trần Xuân Kiêm); Triết học cổ đại Hy Lạp La

Mã của Hà Thúc Minh (Nxb Mũi Cà Mau, 2000); Lịch sử triết học Tây phương (bộ 3 tập) của Lê Tôn Nghiêm (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001); Lịch sử triết học phương Tây của Nguyễn Tiến Dũng (Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2006); Đại cương lịch sử triết học phương Tây của Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn Anh Tuấn (Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2006); Đại cương triết học Tây Phương của

Nguyễn Ước (Nxb Tri thức, Hà Nội, 2009)

Trang 13

Nhìn chung, trong các công trình trên, các tác giả đã đề cập đến tư tưởng chính trị của Arixtốt với tư cách là một bộ phận trong hệ thống tư tưởng của ông Tuy chưa phải là những công trình mang tính chuyên sâu, song chúng đã góp phần vào việc tìm hiểu, nghiên cứu tư tưởng Arixtốt nói chung và tư tưởng chính trị nói riêng, mang lại cho người đọc những kiến thức khá bổ ích

Những công trình trên đều nghiên cứu về triết học Hy Lạp, đã đề cập đến hệ thống triết học Arixtốt, trong đó có tư tưởng chính trị của Arixtốt đã giúp cho người đọc có được những thông tin và nhận định quý giá về thời kỳ đầu của triết học phương Tây Song những công trình đó lại tập trung vào tất cả những vấn đề mà các nhà triết học Hy Lạp cổ đại quan tâm như: vấn đề thế giới quan, nhận thức luận, vấn đề con người, đạo đức, thẩm mỹ, chính trị - xã hội…mà Arixtốt chỉ là một trong số rất nhiều những nhà triết học được đề cập đến

Kế thừa và phát triển các công trình nghiên cứu trên, tác giả sẽ trình

bày tư tưởng chính trị của Arixtốt trong tác phẩm Chính trị một cách có hệ

thống; đồng thời, thông qua đó sẽ đưa ra cách đánh giá riêng về giá trị lịch

sử cũng như những hạn chế nhằm rút ra ý nghĩa của nó

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Mục đích của luận văn là phân tích, nghiên cứu và làm rõ nội dung tư

tưởng chính trị của Arixtốt trong tác phẩm Chính trị Qua đó, luận văn sẽ

rút ra những giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử của nó

Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:

Một là: Trình bày, phân tích điều kiện lịch sử và tiền đề lý luận hình

thành tư tưởng chính trị của Arixtốt Từ đó, làm rõ quá trình hình thành và phát triển tư tưởng chính trị của Arixtốt qua một số tác phẩm tiêu biểu

Trang 14

Hai là: Trình bày, phân tích bối cảnh lịch sử, kết cấu và nội dung cơ bản của tác phẩm Chính trị Trên cơ sở đó, rút ra giá trị, hạn chế và ý nghĩa

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được thực hiện trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Để làm rõ nội dung, luận văn đồng thời sử dụng nguyên tắc như khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể, phát triển và hệ thống các phương pháp như: phân tích và tổng hợp, diễn giải và quy nạp, lôgíc và lịch sử, đối chiếu và so sánh…

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trên cơ sở trình bày có hệ thống những nội dung cơ bản của tư tưởng

chính trị Arixtốt trong tác phẩm Chính trị, luận văn góp phần làm sâu sắc

thêm giá trị cũng như hạn chế và ý nghĩa lịch sử của nó

Luận văn góp phần khẳng định những ý nghĩa của nó trong đời sống chính trị hiện nay Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy của các cá nhân và tổ chức có liên quan

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được chia thành hai chương, năm tiết

Trang 15

Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA ARIXTỐT

1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH

1.1.1 Điều kiện lịch sử tác động đến sự hình thành tư tưởng chính trị Arixtốt

Quá trình phát sinh, phát triển của triết học Hy Lạp nói chung, của tư tưởng chính trị Arixtốt nói riêng là sự phản ánh và bị chi phối bởi điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị xã hội Hy Lạp cổ đại Ph.Ăngghen đã viết: “Không

có chế độ nô lệ thì không có quốc gia Hy Lạp, không có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp” [37, tr 256] Vì vậy, nghiên cứu tư tưởng chính trị của Arixtốt cần phải đặt trong điều kiện lịch sử hình thành nên nó

Lịch sử nhân loại đã trải qua nhiều chặng đường phát triển thăng trầm với những nền văn minh lần lượt ra đời nối tiếp nhau Ngay trong buổi bình minh, nhiều nền văn minh của các dân tộc phương Đông (Trung Hoa, Ai Cập, Babilon…) đã báo hiệu khả năng sáng tạo vô tận của loài người Tất

cả những tinh hoa của buổi ban đầu ấy hình như chuẩn bị cho sự ra đời của một nền văn minh mới, muộn hơn, nhưng rực rỡ hơn vào khoảng những thế

kỷ giữa của thiên niên kỷ I tr CN Đó là nền văn minh Hy Lạp

Người Hy Lạp thời cổ đại sống trong các thị quốc và các thị quốc này được cai trị theo những cách thức khác nhau Mức độ phát triển của các thị quốc cũng không giống nhau Có nơi thì phát triển rất hùng mạnh, có nơi thì ngược lại Giữa các thị quốc lại thường xuyên xảy ra những cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau đã dẫn đến sự liên tục xuất hiện và tàn lụi của các

1

Theo tiếng Hy Lạp là Αριζηοηέλης, phiên từ tiếng Hy Lạp ra tiếng Latinh là Aristoteles, phiên ra tiếng Anh là Aristotle, phiên ra tiếng Pháp là Aristote

Trang 16

thị quốc Trong số đó, Aten (Athens) và Xpácta (Sparta) nổi lên như những thị quốc hàng đầu, luôn đối đầu nhau trong việc tranh giành vị trí thống trị thế giới Hy Lạp

Vào thế kỷ VI tr CN, trong cộng đồng người Hy Lạp, Aten là một thị quốc (polis) tân tiến nhất và phức tạp nhất Những nguyên nhân dẫn đến sự hưng thịnh và cách thức tổ chức đời sống mang tính chất dân chủ sơ khai là một chủ đề tranh luận lớn cho đến tận ngày nay

Thị quốc Aten nằm trên vùng đồng bằng Attich thuộc miền Trung Hy Lạp Đây là vùng đồi núi, đồng bằng ít và hẹp, đất xấu không thuận lợi cho

sự phát triển nông nghiệp nhưng bù lại ở đây lại có nhiều khoáng sản và đặc biệt ở Aten có nhiều hải cảng thuận lợi cho việc thông thương mậu dịch Nhờ vậy, quan hệ hàng hóa tiền tệ ở đây phát triển sớm và nhanh Phân công lao động phát triển cho phép trong xã hội xuất hiện tầng lớp những người lao động trí óc ngày càng có nhiều thời giờ rảnh rỗi, suy ngẫm về thời thế để có thể nảy sinh ra các tư tưởng chính trị Ngoài ra, với vị trí địa lý gần gũi với các quốc gia cổ đại phương Đông có nền văn minh lâu đời đã tạo điều kiện cho sự giao lưu văn hóa Đông – Tây Trong sự giao lưu tích cực với những giá trị văn hóa tinh thần phương Đông, người Hy Lạp đã tạo

ra những đường nét đặc trưng, tiêu biểu cho phong cách tư duy phương Tây

Việc hình thành và phát triển chế độ nô lệ cùng với sự phát triển kinh

tế, giao lưu buôn bán, thương mại, nghề thủ công của các thị quốc Hy Lạp

đã tạo ra một tầng lớp thị dân tự do Dần dần những công dân này trở thành những chủ nhân mới của nền văn minh Hy Lạp

Đó chính là cơ sở kinh tế - xã hội làm xuất hiện ngày càng nhiều những người lao động trí óc xuất thân từ giai cấp chủ nô giàu có Họ có điều kiện học hành, giao du học hỏi, nghiên cứu ở nhiều nước Vì thế, Aten trở thành một trung tâm văn hóa của Hy Lạp cổ đại và là cái nôi của

Trang 17

triết học châu Âu với những trường phái triết học nổi tiếng lưu danh đến ngày nay

Như vậy, chính điều kiện địa lý, sự tồn tại, phát triển và thay thế nhau của các thị quốc, sự đan xen giữa các hình thức cai trị, sự mở rộng lãnh thổ, giao lưu văn hóa…đã tạo nên tính đa dạng và phức tạp của đời số ng chính trị Điều đó được Arixtốt thể hiện trong tư tưởng chính trị của ông

Cùng sự phát triển về kinh tế, văn hóa là sự ra đời chính thể dân chủ; xuất hiện đầu tiên ở Chios và sau đó là hàng loạt các đô thị khác mà đỉnh cao của nó là nhà nước Aten

sống chính trị, một hình thức nhà nước, đồng thời là một giá trị nhân bản,

đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử Dù có những cách tiếp cận khác nhau, xét theo bản chất của các nền dân chủ, song nội hàm của khái niệm “dân chủ” về cơ bản không thay đổi ở nghĩa gốc của nó Nói cách khác, một mặt, cần phân biệt dân chủ căn cứ vào những điều kiện lịch sử và bản chất của chế độ chính trị, chẳng hạn “dân chủ chủ nô”, “dân chủ tư sản”, “dân chủ xã hội chủ nghĩa”; mặt khác, cần hiểu dân chủ như thành quả của loài người thì mới làm sáng tỏ quy luật kế thừa và phát triển trong lịch sử tư tưởng nhân loại, mà nói như C.Mác và Ph.Ăngghen, “lịch sử chẳng qua chỉ là sự nối tiếp của những thế hệ riêng lẻ, trong đó mỗi thế hệ điều khai thác những chất liệu do tất cả những thế hệ trước để lại” [36, tr 65]

Nền dân chủ Aten thường được ca ngợi trong quá khứ như mẫu mực (nền dân chủ đầu tiên, mà lại là dân chủ “thực sự”) và được hiểu là hình thức

1

Từ ngữ Hy Lạp là δημοκραηία, phiên từ tiếng Hy Lạp sang tiếng Latinh thành Demokratia, được hợp nhất và giản lược từ δημος (demos - nhân dân) với từ κραηος (kratos - quyền lực), nghĩa là “quyền lực của nhân dân”

Trang 18

nhà nước, một chế độ chính trị được xác lập trên cơ sở thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, trên nguyên tắc bình đẳng và tự do [82, tr 146]

Khái niệm “dân chủ” là một phát minh chính trị của người Hy Lạp

Nó được hình thành từ thế kỷ VI tr CN, gắn liền với nhiều cuộc cải cách của Xôlông (Solon, khoảng 638 – 558 tr CN) đạt đến sự phát triển cực thịnh và được thể chế hóa vào nửa sau thế kỷ V tr CN, dưới thời Pêricơlét (Pericles, khoảng 495 – 429 tr.CN) Trong đó, nó quy định một số quyền lợi bất khả xâm phạm của cá nhân như cơ sở tất yếu của hoạt động sống, trong

đó có quyền lựa chọn các đại diện của mình vào cơ quan lập pháp, quyền được học tập và rèn luyện thể chất, quyền và nghĩa vụ tham gia bảo vệ nhà nước, một số quyền và nghĩa vụ khác của người tự do

Nền dân chủ Aten được coi là hình thức hoàn thiện, đầy đủ nhất của lối tổ chức cai trị dân chủ trong nhà nước chiếm hữu nô lệ Dẫu sao các cải cách chính trị này đã đi vào lịch sử như nét chấm phá đầu tiên, đầy ý nghĩa trong quá trình hoàn thiện cách thức tổ chức đời sống con người

Nền dân chủ đã tạo ra sự khởi sắc trong sinh hoạt kinh tế và văn hóa của xã hội Thế kỷ V tr CN, Aten là thị quốc giàu có nhất Hy Lạp với một nền sản xuất hàng hóa phát triển, có đội thương thuyền mạnh, làm chủ cả vùng đại dương rộng lớn, tăng cường giao lưu văn hóa, kinh tế với các lân bang và các nước phương Đông

Nhưng sau nửa thế kỷ tồn tại và phát triển, nền dân chủ Aten, ngay vào thời điểm chín muồi, đã bộc lộ dần những mặt trái của mình “Một đằng thì người Hy Lạp đã khám phá, hay phát minh ra nền dân chủ, kịch nghệ, triết lý, nhưng đằng khác, họ lại bo bo giữ lấy những nghi lễ, tín ngưỡng cổ

hủ, và không tránh được nội chiến Người Aten chuộng tự do mà lại xử tử Xôcrát Tuy họ đưa ra thuyết “Tri bi” và thuyết trung dung, thực hiện được những kiến trúc cân đối, hoàn mỹ, và nền giáo dục của họ phát triển toàn

Trang 19

diện con người về thể xác cũng như về trí tuệ, họ thường tỏ ra khinh mạn con người … ngạo mạn đã mang hình phạt tới cho họ” [5, tr 83]

Nền dân chủ Aten, dù đã tạo ra sự khởi sắc nhất định trong đời sống

xã hội, vẫn chỉ là hệ thống chính trị hạn chế, chật hẹp, khép kín, chỉ mở rộng cho dân “tự do”, tức công dân Nô lệ là giai cấp bị khinh rẻ nhất, có cuộc sống thấp hèn nhất Vì vậy từ thế kỷ V tr CN trở đi những công cụ biết nói này đã tổ chức nhiều cuộc khởi nghĩa Trong khi đó, nhà nước Aten dựa trên một nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào lao động nô lệ Nền kinh tế này luôn chứa đựng những xung đột và bất ổn

Đây là một nền dân chủ không có tự do Nếu bản chất của dân chủ là một không gian tranh luận tự do về việc công như ta nghĩ ngày nay thì trong một Aten thật sự dân chủ, quảng trường A-go-ra (Agora) phải là nơi để mọi công dân đến phát biểu công khai và tự do về tất cả những gì liên quan đến thành quốc Nhưng sự phát biểu ấy còn lại bao nhiêu ý nghĩa nếu chỉ là tự

do “nói theo” lãnh tụ, dưới sự đe dọa bị lôi ra tòa xét xử như Xôcrát (Socrates) hay bị trục xuất, chỉ vì đã hỏi người chung quanh thế nào là hiểu biết, là công chính, là dối trá – nghĩa là đặt ra loại câu hỏi gợi lên những sai lầm, khuyết tật và sự tồi tệ của một chế độ mà đảng cầm quyền ở đấy muốn che giấu Đó là nơi mà nếu các công dân không thể hiện sự trung thành, chính quyền sẽ buộc họ vào khuôn phép bằng những biện pháp khá cứng rắn, thậm chí tàn nhẫn Sự cứng rắn đó không chừa một ai: vào thời kỳ nền dân chủ chủ nô Anaxago (Anaxagoras) từng bị đuổi khỏi Aten, Xôcrát bị uống thuốc độc chết và muộn hơn, dưới thời hậu Alếchxanđơ (Alexander), Arixtốt cũng không tránh khỏi số phận bi thảm

Sự ra đời và phát triển của nền dân chủ ở Aten cổ đại là nguồn cảm hứng vô tận cho tư tưởng chính trị thời đó cũng như sau này Các tư tưởng chính trị của nó (bình đẳng giữa các công dân, tự do, tôn trọng pháp luật và

Trang 20

công lý) đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy chính trị ở phương Tây Tuy nhiên, ngay ở thời đó, chính thể dân chủ Aten vẫn luôn là đối tượng phê phán của các nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại Từ Xôcrát đến Platôn và Arixtốt đều tỏ ra dứt khoát sự ác cảm của mình đối với nền dân chủ Với sự phê phán gay gắt đó đã báo hiệu một ngày tàn không thể tránh khỏi của nền dân chủ chủ nô Phải đợi đến 20 thế kỷ sau từ “dân chủ” mới được nhắc đến trong hoàn cảnh lịch sử hoàn toàn khác

Cùng với sự khủng hoảng và suy yếu của nền dân chủ chủ nô – sự thể nghiệm đầu tiên hình thức nhà nước dân chủ trong lịch sử – trong lòng xã hội Hy Lạp cổ đại ẩn chứa những mâu thuẫn gay gắt giữa các lực lượng, các giai cấp, các tầng lớp khác nhau…được biểu hiện ra thành cuộc đấu tranh giữa chủ nô và nô lệ, giữa lực lượng dân chủ và chống dân chủ, giữa những người Hy Lạp bản địa và dân nhập cư… và ngay trong nội bộ của những giai cấp, tầng lớp cũng nảy sinh những mâu thuẫn

Giữa các tầng lớp dân cư tự do cũng nảy sinh mâu thuẫn trong việc phân chia tài sản, nô lệ và tranh giành quyền lực Giới quý tộc phê phán cơ chế hiện hành vì các hạn chế vô nguyên tắc, xu hướng bình quân, không khuyến khích người ta làm giàu Những người nhập cư cũng góp phần thêm tiếng nói vào tình hình căng thẳng của xã hội Lực lượng này vào thế kỷ V –

IV tr CN đóng vai trò đáng kể trong đời sống kinh tế, nhưng về chính trị bị đối xử bất công Họ bày tỏ nguyện vọng trở thành công dân bình đẳng như người sở tại Tuy nhiên, nguyện vọng đó lại động chạm đến lòng kiêu hãnh của người Hy Lạp, vốn không thích “kẻ tha hương” sánh ngang cùng họ ở mọi phương diện Làn sóng bất bình và bạo động lan rộng, đến mức nhiều thị quốc nền độc tài đã trở lại như giải pháp duy nhất thoát khỏi khủng hoảng Sự thể nghiệm dân chủ ở buổi đầu lịch sử, do bản chất xã hội và

Trang 21

khuôn khổ chật hẹp của nó, đã làm biến tướng dần, không ít trường hợp trở thành trò chơi dân chủ

Bên cạnh đó, các cuộc chiến tranh liên tiếp diễn ra cũng làm cho Hy Lạp suy yếu dần và đã góp phần tạo ra cuộc khủng hoảng của nền dân chủ Aten Sự phát triển của Hy Lạp cổ đại là sự liên minh giữa các quốc gia – thành thị, trong đó có hai thị quốc hùng mạnh nhất là Aten và Xpácta Aten

là quốc gia – thành thị có điều kiện thuận lợi về mọi mặt nên sớm trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa của Hy Lạp cổ đại Nơi đây cũng là nơi hình thành thiết chế nhà nước dân chủ chủ nô Xpácta là quốc gia thành thị có điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp Đó cũng là dinh lũy của giới quý tộc chủ nô “cha truyền con nối” Nơi đây cũng thiết lập một thiết chế nhà nước quân chủ để bảo vệ, cũng cố sự cai trị độc đoán, tiến hành áp bức bóc lột tàn bạo đối với nô lệ Sự mâu thuẫn giữa hai phái chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc đã nảy sinh và dẫn đến cuộc đấu tranh một mất một còn giữa hai “hiệp sĩ” Aten và Xpácta Cuộc chiến tranh Pêlôpône kết thúc (431 -

404 tr CN) bằng chiến bại của Aten và sự đăng quang của Xpácta Xpácta thay Aten kiểm soát thế giới Hy Lạp đã mở màn cho sự suy vong của chế

độ chủ nô dân chủ

Mâu thuẫn chủ yếu của xã hội chiếm hữu nô lệ là mâu thuẫn giữa chủ

nô và nô lệ Người nô lệ chống lại sự áp bức nghiệt ngã, sự xâm phạm thô bạo đến đến phẩm giá con người của họ Sự uất hận của họ nhiều lúc bùng lên thành cuộc khởi nghĩa Song, xiềng xích nô lệ mà họ mong muốn vứt bỏ

để dành tự do cá nhân đã không thực hiện được Tuy nhiên cuộc đấu tranh của những người nô lệ, các phong trào sâu rộng của người dân mất quyền

và nghèo đói đã ảnh hưởng to lớn đến hệ tư tưởng chính trị

Chính những mâu thuẫn gay gắt đó đã tạo nên sự phân cực, thể hiện tính phức tạp trong đời sống chính trị của các thị quốc Hy Lạp Thực tiễn

Trang 22

của những cuộc đấu tranh giữa các lực lượng, các nhóm xã hội khác nhau

đó đã làm xuất hiện nhu cầu tìm kiếm phương án để giải quyết mâu thuẫn, điều hòa sự phân cực Điều đó đã tác động đến quan điể m chính trị mang tính “trung dung” của Arixtốt

Thế kỷ V – IV tr CN là thời kỳ “cổ điển” của nền văn hóa Hy Lạp

mà trung tâm là Aten với tính đa dạng, muôn vẻ, xu hướng nhân bản và tự

do, thể hiện trong văn chương, nghệ thuật, triết học, khoa học…

Vào thời kỳ này, những tri thức của người Hy Lạp cổ đại về thiên văn, vật lý, toán học, sinh vật học đã trở nên sâu sắc hơn nhiều Hippôcơrat (Hippocrates) đã hệ thống hóa những tri thức y học của thời ấy và đưa nghệ thuật chữa bệnh lên một trình độ cao hơn

Người đặt nền móng cho thiên văn học ở Hy Lạp là nhà triết học Talét (Thales) Ông có khả năng dự đoán trước hiện tượng nhật thực và nguyện thực sẽ xảy ra và ông còn là người vẽ bản đồ địa thế giới xưa nhất trong lịch sử thế giới phương Tây Ngoài ra, còn phải kể đến Pitago (Pythagoras), người đã nhận thức rằng trái đất là hình cầu, chuyển động theo một đường quỹ đạo nhất định và phát minh đó đã được truyền bá rộng rãi trong thế giới tri thức đương thời

Trong lĩnh vực số học và vật lý học, Talét cũng là một nhà số học Ông

đã đem tri thức về hình học mà người Ai Cập đã áp dụng trong việc đo đạc đất đai, khái quát thành những định luật toán học trừu tượng và phổ biến

Về tu từ học – lý luận học: nghệ thuật diễn thuyết - đạt đến mức cao, ngữ pháp đã được biên soạn, các nhà triết học đã bắt đầu chú ý đến những vấn đề đạo đức học và thẩm mỹ học

Kiến trúc, điêu khắc và những nghệ thuật tạo hình khác, văn học (đặc biệt là văn chương trữ tình và bi kịch) đã phát triển tốt đẹp Những nhà bi kịch cổ đại (Êsin, Sôphốc…), tác giả hài kịch Arixtôphan, những bậc thầy

Trang 23

của nghệ thuật tạo hình Phidi và Pôlicơlét, đã sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật tuyệt tác

Sống trong thời đại mà tất cả các thành tựu của các lĩnh vực đều phát triển đạt đến đỉnh cao, Arixtốt đã hội tụ tất cả những tinh hoa ấy và là người tổng kết lịch sử Hy Lạp thời “cổ điển” Vì vậy, ông đã quan sát, trải nghiệm rút ra những bài học từ các sự kiện lịch sử diễn ra trước mắt Chính điều này

đã làm cho tư tưởng chính trị củ a ông có cơ sở từ thực tiễn nên giàu tính thực tế hơn so với tư tưởng chính trị của Platôn (Plato)

Vào những năm 30 của thế kỷ IV tr CN, Alếchxanđơ đã chiếm đóng toàn cõi Hy Lạp và đặt Aten dưới sự bảo hộ của Maxêđoan (Macedon) Liên tiếp trong khoảng mười năm chinh chiến (334 – 325 tr CN), Alếchxanđơ đã thiết lập nên một đế quốc rộng lớn, bao gồm nhiều lãnh thổ của nhiều vùng, nhiều quốc gia có trình độ kinh tế, tổ chức chính trị khác nhau, nhiều trung tâm của thế giới cổ đại Cuộc viễn chinh của Alếchxanđơ đã tạo điều kiện giao lưu kinh tế và văn hóa giữa Đông và Tây; đồng thời làm cho truyền thống của cả văn minh Hy Lạp được bảo tồn và phổ biến rộng rãi Vì có mối quan hệ thân thiết với Maxêđoan nên trong những lần đi chinh phục miền đất mới của mình, Alếchxanđơ đã mang về rất nhiều nguồn tài liệu vô cùng phong phú và hỗ trợ cho Arixtốt

về nhiều mặt trong quá trình nghiên cứu Đây chính là điều thuận lợi để Arixtốt tạo ra một hệ thống tri thức đồ sộ cho nhân loại, trong đó có những

tư tưởng chính trị của ông

Arixtốt quan tâm đến những cuộc viễn chinh và sự phổ biến văn minh Hy Lạp ra toàn vùng Ông chẳng hề giấu giếm sự ủng hộ và tán dương của mình đối với việc xưng bá thế giới của Alếchxanđơ Việc hướng đến “nhà

Trang 24

nước toàn thế giới” dành cho người Hy Lạp theo phương án của Alếchxanđơ đã tác động đến Arixtốt hình thành nên ý tưởng về một Đại Hy Lạp bao trùm khắp khu vực, thống trị các dân tộc khác

Năm 323 tr CN, Alếchxanđơ đột ngột qua đời đã làm cho tình hình của đế quốc Maxêđoan lâm vào tình trạng khủng hoảng Đây cũng là mốc đánh dấu sự bế tắc trên con đường chính trị của Arixtốt Cuối cùng cả Hy Lạp và Maxêđoan bị La Mã dùng vũ lực chinh phục và thôn tính năm 146 tr

CN La Mã đô hộ Hy Lạp về quân sự và chính trị nhưng về văn hóa, Hy Lạp

đã ảnh hưởng ngược lại nên thời kỳ này sử sách gọi là thời kỳ Hy Lạp hóa

Việc nêu ra điều kiện lịch sử - xã hội và đời sống chính trị của Hy Lạp cổ đại qua những bước thăng trầm của nền dân chủ chủ nô cùng với sự trổi dậy và lụi tàn của đế quốc Maxêđoan đã giúp chúng ta hiểu được nguồn gốc và bản chất của tư tưởng chính trị Arixtốt Chính trong những điều kiện lịch sử đó đã sự hình thành tư tưởng chính trị Arixt ốt, được thể hiện sâu sắc

và có hệ thống trong Chính trị

1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng chính trị Arixtốt

Bất kỳ tư tưởng chính trị nào ra đời cũng là sản phẩm của một thời đại nhất định trong lịch sử Vì vậy, ngoài việc chịu tác động của những điều kiện thực tiễn xã hội, nó còn là sự kế thừa và phát triển những tư tưởng chính trị ra đời trước đó Tư tưởng chính trị của Arixtốt cũng không nằm ngoài quy luật trên

Tiền đề lý luận sâu xa của tư tưởng chính trị Arixtốt là những tư tưởng chính trị hình thành từ thời sơ khai, phát triển mạnh mẽ vào thời kỳ nền dân chủ chủ nô - được xem là thời kỳ “cổ điển” của văn hóa Hy Lạp Còn tiền đề lý luận trực tiếp của tư tưởng chính trị Arixtốt chính là những tư tưởng của Platôn; dù sau này tư tưởng của Arixtốt có phần tương phản với Platôn trên bình diện triết học Dựa vào những dữ liệu hết sức quý giá của

Trang 25

các bậc tiền bối, ông đã tổng hợp, so sánh, đối chiếu và cải biến cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới; đồng thời, ông còn thể hiện sự “phá cách” khi là người đầu tiên công khai chống lại những tư tưởng của thầy Platôn để đưa ra những tư tưởng chính trị độc đáo cho riêng mình

Ngay từ đầu, trong tư tưởng chính trị Hy Lạp đã hình thành hai khuynh hướng đối lập nhau Một khuynh hướng bắt đầu từ Xôlông, và được Pêricơlét phát triển đến đỉnh cao trong điều kiện hưng thịnh của nền dân chủ chủ nô Một khuynh hướng khác, đại diện cho quý tộc chủ nô, xuất phát

từ Pitago, được Xôcrát và Xênôphon (Xenophon) làm sâu sắc thêm trong điều kiện khủng hoảng của nền dân chủ Cuộc đấu tranh giữa các trường phái triết học ít nhiều đã phản ánh cục diện chính trị lúc bấy giờ Điều đó được thể hiện rõ trong việc hình thành hai đường lối đối lập nhau: “Đường lối Platôn” và “Đường lối Đêmôcrít”

Xôlông là đại diện đầu tiên của khuynh hướng dân chủ trong điều kiện chế độ chiếm hữu nô lệ Những cải cách của ông đã “mở đầu một loạt những cái mà người ta gọi là cuộc cách mạng chính trị” [34, tr 159] Các quan điểm của Xôlông mang dấu ấn của sự thỏa hiệp giai cấp Ông mong muốn thông qua một số nhượng bộ cho nhân dân và hạn chế bớt một số đặc quyền đặc lợi của quý tộc cũ để đạt được sự tăng uy quyền chính trị của các giới sản xuất kinh doanh chủ và qua đó thủ tiêu sự chém giết và tranh giành lẫn nhau ở Aten Lý tưởng chính trị của ông là nền dân chủ tuyển cử ôn hòa, một chế độ mà lãnh đạo xã hội là những người quyền quý, cao sang và giàu

có (các nhà công nghiệp, thương nhân), còn nhân dân thì chỉ có quyền lựa chọn giám sát các quan chức Theo ông, để đảm bảo cho sự bình yên quốc gia thì chính quyền và pháp luật phải cứng rắn

Nếu Xôlông bảo về quyền lợi cho tầng lớp thị dân đang lên thì Pitago (khoảng 580 – 500 tr CN) đã đưa ra học thuyết về cơ bản bảo vệ quyền lợi

Trang 26

của tầng lớp quý tộc Luận thuyết trung tâm của Pitago là nhằm chống lại những người bình dân (demos) và thiết chế nhà nước dân chủ, nhưng không thể hoàn toàn đánh đồng học thuyết chính trị của Pitago với tư tưởng của giới quý tộc thị tộc đang tàn lụi Những người theo phái Pitago không ngăn cản sự phát triển của các quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ mới mà ủng hộ các ngành nghề và thương mại Pitago đòi cần phải thực hiện các mệnh lệnh của nhà nước, tuân thủ pháp luật được ban hành, những điều được ông đặt cao hơn các phong tục cổ truyền không thành văn đã từng có lợi cho giới quý tộc thị tộc

Tính phức tạp của đời sống chính trị trong thế giới cổ đại còn thể hiện trong cuộc đấu tranh giữa hai đường lối “Đường lối Đêmôcrít” và

“Đường lối Platôn”

Đêmôcrít (Democritus, khoảng 460 – 370 tr CN) là đại diện cho

tầng lớp dân chủ chiếm hữu nô lệ Ông một mặt thừa nhận sự phân tầng

xã hội ra thành người tự do và nô lệ; mặt khác, với tính cách là nhà duy vật ông lý giải vấn đề nhà nước và các mối quan hệ chính trị từ nhu cầu vật chất của con người

Theo Đêmôcrít, nhà nước và pháp luật đã xuất hiện không hề phụ thuộc vào một thế lực thần bí nào Sự xuất hiện của chúng là kết quả đấu tranh lâu dài của con người bị thiếu thốn và đè nén trong xã hội tiền văn minh buộc phải sống liên kết với nhau thành cộng đồng Nhà nước là sự thể hiện các quyền lợi chung của công dân trong đó Nó chỉ có thể thực hiện vai trò nền móng cho những người Hy Lạp tự do trong những điều kiện tiên quyết sau: phải có sự tuân thủ chính xác của tất cả mọi người đối với luật pháp và có hành vi phù hợp với vai trò là thành viên trong thị quốc, phải có

sự bình đẳng và nhất trí của mọi công dân và không có nội chiến

Trang 27

Ông đưa ra luận chứng mang màu sắc chính trị rõ rệt: “Sự nghèo đói trong một quốc gia dân chủ phải được đánh giá cao hơn cuộc sống hạnh phúc trong chế độ quân chủ, cũng như tự do hơn nô lệ vậy” Ở đâu có sự tương phản về sở hữu giảm đi, người giàu có sự ưu ái đối với người nghèo, thì ở đó có sự cảm thông, tình hữu ái, sự bảo vệ lẫn nhau và bao điều phúc đức khác không thể tính đếm được [77, tr 76]

Đêmôcrít đã không giản đơn tách chính trị ra khỏi tự nhiên và tuyên

bố là kết quả của những nổ lực của con người Ông coi chính trị là một thứ nghệ thuật vĩ đại Có lẽ bởi vậy, Đêmôcrít muốn thấy trong các cơ quan điều hành tính hơn hẳn những người bị điều hành về khả năng trí tuệ và hiểu biết Đêmôcrít cho rằng “đạo đức đòi hỏi phải có sự tuân thủ pháp luật, chính quyền và sự hơn hẳn về trí tuệ Thật khổ tâm khi phải chịu sự lãnh đạo của một con người thấp kém hơn Điều hợp lẽ tự nhiên là người giỏi hơn phải nắm quyền điều hành” Thêm vào đó, Đêmôcrít không bác bỏ khả năng của mỗi người Hy Lạp tự do sau khi được đào tạo và giáo dục thích đáng có thể điều hành được công việc nhà nước, bởi lẽ “con người ta trở nên tốt hơn là do có sự rèn luyện nhiều hơn so với lúc bẩm sinh” [77, tr 76]

Đối lập gay gắt với “Đường lối Đêmôcrít” là “Đường lối Platôn” với đại diện tiêu biểu là người thầy đã để lại những ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng chính trị Arixtốt

Điểm qua những nét cơ bản trong tư tưởng chính trị của Platôn, chúng ta dễ dàng nhận thấy ông có thái độ ác cảm với nền dân chủ và mong muốn thiết lập một xã hội hoàn hảo dành cho con người

Nền dân chủ, như Platôn từng chứng kiến, là hình thức cai trị thiếu

hoàn thiện Một là, nhà nước của người giàu và nhà nước của người nghèo

vẫn tồn tại trong một nhà nước chung Nền dân chủ khắc sâu thêm tình

trạng vô trật tự, thù địch Hai là, quyền lực tập trung vào tay demos, trên

Trang 28

thực tế là số đông thất học, mà không căn cứ trên tiêu chuẩn tri thức Ba là,

đa nguyên ý kiến trong cơ quan quyền lực công cộng (Hội nghị công dân) khiến cho những quyết định nêu ra thiếu chắc chắn, các định chế luật pháp

sẽ không nhất quán Bốn là, từ khao khát công bằng đến lạm dụng công

bằng; một đằng là lý tưởng cao siêu, đằng khác là thực tế phủ phàng Khi không nhận thức được dân chủ thì chính thể dân chủ trở thành một công cụ nguy hiểm đối với nhà cai trị lẫn dân chúng Tất cả đều trở nên thái quá trong quan hệ giữa các chủ thể trong nền dân chủ

Do đó, từ vị thế của giới quý tộc, Platôn phê phán nền dân chủ Aten thời khủng hoảng Theo ông ở đó trật tự đã bị thay bằng sự pha tạp, vàng thau lẫn lộn Tuổi trẻ của Platôn đã bị phủ đen bởi cuộc chiến tranh Pêlôpône – cuộc chiến đưa đến thất bại cho Aten Thất vọng vì sự thất bại của Aten, vì sự suy thoái trong giới lãnh đạo, vì sự xuống dốc của luật pháp

và đạo lý (những cái đã biểu hiện tập trung trong phiên tòa và cái chết của Xôcrát năm 399 tr.CN), Platôn đã nghiêng về quan điểm cho rằng: quyền lực chính trị phải do một thiểu số nắm giữ

Như vậy, tiếp nối Xôcrát, Platôn tỏ ra căm ghét nền dân chủ cực đoan hình thành ở Aten và những đại diện của nó Ông không hài lòng với việc một số đông thường dân, những người tầm thường, vụng về và dốt nát tham gia vào công việc của nhà nước Platôn thể hiện rõ việc ủng hộ thể chế quý tộc của Xpácta Điều này đã có ảnh hưởng to lớn đến người học trò của ông, khi Arixtốt cũng cho rằng chính thể dân chủ là sự pha tạp hỗn độn mọi thứ bát nháo vào trong một, khiến vàng thau lẫn lộn Ở đây, quan điểm chính trị Platôn đã trực tiếp tác động đến thái độ của Arixtốt đối với nền dân chủ

Arixtốt đã tiếp thu ý tưởng của Platôn trong thái độ đối với nền dân chủ đang khủng hoảng và sa đọa, mong muốn thay thế nó bằng hình thức nhà nước khác – nhà nước lý tưởng – với sự kết hợp những mặt tích cực

Trang 29

trong tổ chức đời sống chí nh trị của quá khứ và những nhu cầu mới của thị quốc Tuy nhiên, do đứng trên lập trường của giới chủ nô quý tộc nên cả hai ông đều xem xét dân chủ không xuất pháp từ bản chất tốt đẹp của nó (trong điều kiện xã hội chiếm hữu nô lệ ), mà từ những biểu hiện khủng hoảng , biến chất Điều này cho thấy tính giai cấp trong lập trường tư tưởng chính trị của cả hai ông

Các quan điểm về nhà nước và pháp luật của Platôn đều được nâng lên thành triết lý Thế giới xung quanh con người là mơ hồ và hoang tưởng,

nó là cái bóng lu mờ của một thế giới khác đang thật sự tồn tại – đó là hệ thống thang bậc các tư tưởng lâu đời được kết thúc ở đỉnh cao là tư tưởng

về điều thánh thiện Hình ảnh của thế giới tinh thần siêu phàm này được phản ảnh qua cuộc sống trần tục chính là hình ảnh một nhà nước lý tưởng Đương nhiên, nó cũng có cơ cấu thang bậc do Thượng đế sinh ra Ở địa vị cao nhất là các nhà triết học – biểu tượng của tri thức, họ nắm quyền binh trong tay và cai quản quốc gia theo ý nguyện của mình Ở địa vị thấp hơn là các chiến binh – đẳng cấp của những người dũng cảm và đầy ý chí, có trách nhiệm gìn giữ quốc gia, chống thù trong giặc ngoài Nền móng của lâu đài

xã hội hình chóp là những người thợ thủ công và nông dân phải còng lưng lao động Trong tâm khảm họ đầy những ham muốn cảm giác và họ có trách nhiệm đảm bảo mọi nhu cầu thiết yếu cho các đẳng cấp trên Công lý

có được là nhờ mỗi đẳng cấp hoạt động phù hợp với chức năng của mình

Ông mong muốn xây dựng một nhà nước thống nhất chặt chẽ từ trên xuống nhưng đó là sự thống nhất theo khuôn mẫu định sẵn, thủ tiêu mọi tính đa dạng Nhà nước của Platôn không khác gì chế độ chính trị Xpácta – một chế độ lập ra chỉ nhằm khuếch trương sự can đảm, hiếu thắng, chiến tranh Đó là nơi đòi hỏi sự phục tùng tuyệt đối của cá nhân đối với xã hội, đảm bảo tính kỷ luật cao Chính nhà nước với cơ cấu như thế là nhà nước lý

Trang 30

tưởng: nó uyên thâm bởi sự uyên thâm của các triết gia – cai trị gia, nó hùng mạnh bởi sự hùng mạnh và gan dạ của các chiến binh, nó hợp lý bởi

sự phục tùng một cách nghiêm túc từ bộ phận công dân đông đảo nhất trong

xã hội Nếu trật tự đẳng cấp bị phá vỡ, cái ác sẽ nảy sinh Ông xem tư hữu

là nguồn gốc của cái ác và chủ trương mọi thứ là của chung Như vậy, ông tha thiết mong muốn khôi phục lại những thiết chế xã hội và pháp quyền nhà nước bảo thủ đã lỗi thời Những tư tưởng của Platôn công khai thách thức tiến trình lịch sử đi lên và do vậy nó hết sức phản động

Platôn cho rằng ông tìm được một phương thuốc tạo cho nhà nước lý tưởng sự bền vững không gì lay chuyển được Phương thuốc này ông cảm thấy chính là sự thống nhất về sở hữu, phụ nữ, trẻ em và lối sống đối với các nhà triết học và chiến binh, là sự giáo dục của nhà nước đối với các tầng lớp này Theo ông, “nhà nước hoàn hảo là nhà nước mà ở đó những người

vợ và trẻ con phải ở chung một nơi; giáo dục, đường lối chiến tranh và hòa bình cũng là những vấn đề chung…” [99, VII, 543a] Dựa vào các đặc tính

đó của quốc gia do Platôn tưởng tượng ra, một số nhà nghiên cứu tư sản phản động khẳng định dường như dự án về một xã hội hoàn thiện do Platôn đưa ra là tiền đề tuyệt mỹ cho quan niệm về chủ nghĩa xã hội mácxít Sự khẳng định như vậy là hoàn toàn sai lầm và phản lịch sử Mác đã chứng minh một cách không thể chối cãi được rằng tổ chức xã hội chủ nghĩa đích thực xuất hiện trong những điều kiện của một xã hội công nghiệp phát triển cao, và người sáng lập và lãnh đạo nó là giai cấp công nghiệp hiện đại, nguyên tắc của nó là – sự phát triển tự do của mỗi cá nhân là điều kiện để phát triển tự do của tất cả mọi người Như chúng ta thấy, mọi cái hoàn toàn khác với sự tưởng tượng của Platôn [77, tr 84 – 85]

Tuy nhà nước lý tưởng của Platôn là không tưởng và chỉ tồn tại trong học thuyết của ông, nó chỉ mãi mãi là một mô hình nhà nước mà người ta

Trang 31

mong muốn sẽ có, sẽ tồn tại nhưng cho đến nay chưa hề có và chưa tồn tại; song, những phác thảo mà Platôn đưa ra, chứng tỏ ông là nhà nhân văn khai sáng đã quan tâm đến việc thiết lập một xã hội hoàn hảo dành cho con người Kế thừa truyền thống nhân văn đó, trong học thuyết chính trị của mình, Arixtốt cũng đã vạch ra những điều kiện cần phải có để đạt đến nhà nước lý tưởng, mang lại những điều tốt cho con người Cả Platôn và Arixtốt đều chủ trương xây dựng một khoa học về đức hạnh, nhấn mạnh tính thống nhất cần có giữa điều lợi và cái thiện trong hoạt động của con người

Trong tác phẩm Nền cộng hòa, Platôn phê phán chế độ dân chủ và

ủng hộ chế độ quyền lực nằm trong tay một thiểu số thể hiện qua sự phân tích các hình thức chính thể: chính thể chuyên chế, chính thể quả đầu, chính thể quý tộc và chính thể dân chủ Mỗi hình thức trong số chúng là nấc thang của những chuyển hóa, sự xấu đi, hay sự xuyên tạc hình thức hoàn thiện Việc phân tích các hình thức nhà nước của Platôn đã được Arixtốt kế thừa

và phát triển trên cơ sở quan sát, nghiên cứu các nhà nước của Hy Lạp và kết hợp với những kinh nghiệm thực tiễn chính trị tại các thị quốc Dựa vào

đó, Arixtốt đã tiến hành phân loại các hình thức nhà nước

Điểm giống nhau giữa Platôn và Arixtốt là ở chỗ hai ông phân loại hình thức nhà nước ra hai nhóm: tích cực và tiêu cực, để từ đó lựa chọn cái phù hợp nhất Arixtốt lựa chon cái phù hợp dựa trên các thông số hiện thực, còn Platôn thì hướng đến cái lý tưởng Cả hai ông đều nhận ra những mặt trái của thể chế chính trị đang tồn tại, và từ đó đưa ra mô hình tốt đẹp hơn, hay phù hợp hơn

Theo Platôn, hình thức chính trị tương ứng của một nhà nước lý tưởng là nước cộng hòa quí tộc kiểu Xpácta Nhà nước chỉ tốt khi các nhà thông thái nắm quyền cai trị Vì các nhà thông thái là những nhà triết học có tri thức về chính trị, tri thức về khoa học lãnh đạo mới có khả năng dẫn dắt

Trang 32

con người, sắp đặt mọi yếu tố hợp lý, cai trị bằng sức mạnh là sự cưỡng bức, cai trị bằng thuyết phục mới là chính trị Vì vậy, việc cai trị sẽ không thể được duy trì nếu thiếu sự đồng thuận và sự tham gia của quần chúng Lý thuyết về “nhà nước hỗn hợp” – sự tổng hợp giữa tính chất quân chủ và dân chủ đã ảnh hưởng đến sự phát triển sau này của tư tưởng chính trị Arixtốt Platôn cho rằng, một nền quân chủ cai trị bởi một ông vua thông thái là cấu trị chính trị lý tưởng Nhưng ông cũng thừa nhận rằng xã hội khác nhau về nhu cầu và về truyền thống nên một nền dân chủ có giới hạn (nền cộng hòa)

là một sự thỏa hiệp tốt nhất Về sau, Arixtốt đặc biệt yêu thích, ca ngợi chế

độ cộng hòa và xem đó là hình thức nhà nước kiểu mẫu

Nhìn chung, qua tư tưởng chính trị của mình, Platôn đã thể hiện là một nhà nhân văn, khai sáng; nhưng bên cạnh đó, còn có một Platôn khác cũng khá rõ nét – Platôn của tầng lớp chủ nô khinh miệt nền dân chủ và Platôn như nhà cộng sản không tưởng, chủ trương xây dựng cộng đồng thiếu bản sắc, thủ tiêu con người cá nhân [46, tr 825]

Arixtốt đã tiếp thu và phát triển những luận điểm nền tảng của Platôn như: thái độ ác cảm đối với nền dân chủ chủ nô, ý tưởng về chế độ cộng hòa quý tộc, vấn đề đức hạnh chính trị…Bên cạnh đó, ông cũng phê phán tư tưởng chính trị thiếu tính thực tế của Platôn bằng cách đấu tranh chống “chủ nghĩa cộng sản”, chủ nghĩa cộng thê và lên án chế độ sở hữu chung Sự đối lập về tư tưởng giữa hai nhà triết học Hy Lạp cổ đại chính là Platôn tượng trưng hóa lý tưởng, Arixtốt hiện thân hóa cái hiện thực; Platôn trình bày triết học, Arixtốt trình bày khoa học

Tuy quan điểm chính trị giữa hai thầy trò có những nét tương đồng và

dị biệt; song đối với Arixtốt, Platôn là một người thầy vĩ đại và xứng đáng

là một vĩ nhân

Trang 33

1.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA ARIXTỐT QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

1.2.1 Khái quát cuộc đời và sự nghiệp của Arixtốt

Arixtốt (384 – 322 tr CN) sinh ở Sta-gi-er (Stagier) thuộc xứ Maxêđoan, cách Aten khoảng 300 km về phía bắc Thân phụ của Arixtốt là Nicomach (Nichomachus) – một quan ngự y nổi tiếng của triều đình Maxêđoan Theo quy định của thần y, con trai từ nhỏ phải theo bố học nghề

y Khi Nicomach mất, Arixtốt chỉ mới 16 -17 tuổi đã thông hiểu các vấn đề của y học Sự đào tạo đầu tiên mà ông thu nhận được là đào tạo về sinh vật học đã có một ảnh hưởng quyết định lên ông

Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Arixtốt trải qua ba thời kỳ chính: Thời kỳ Aten lần thứ nhất (367 – 347 tr CN), hay thời kỳ Hàn lâm viện Đây là thời kỳ chịu ảnh hưởng trực tiếp từ tư tưởng của Platôn

Vào năm 17 tuổi ông đến Aten học tập tại Academia của Platôn suốt hai mươi năm cho đến khi Platôn qua đời Cuộc sống của Arixtốt gắn liền với Academia, ông thường giao tiếp với những người sáng lập ra nó, gắn liền với việc nghiên cứu tỉ mỉ triết học Platôn Trong học viện, Arixtốt vừa học tập vừa nghiên cứu, đặt cơ sở vững chắc để phát huy tư tưởng vĩ đại của mình về sau Tại đây, ông viết nhiều đối thoại được tán dương là rất hùng hồn nhưng ngày nay chỉ còn lại vài đoạn tản mác Ông đã thể hiện được tài hoa xuất chúng của mình trên nhiều lĩnh vực khác nhau Platôn gọi ông là

“tinh hoa của học viện” Cũng từ đó, Arixtốt đã có được một nhãn quan khoa học quảng bác, xây dựng quan điểm triết học và khoa học của riêng mình Nhận xét về người học trò lỗi lạc đó, có lần Platôn nói: “Đối với các học trò khác thì cần cái đinh thúc ngựa, còn đối với Arixtốt thì phải chắc tay cương” [79, tr 1417]

Trang 34

Thời kỳ viễn du (những năm 40 đến những năm 30 của thế kỷ IV tr.CN), phê phán một số luận điểm nền tảng trong triết học Platôn, nhất là học thuyết về tồn tại

Năm 347 tr CN, sau khi Platôn qua đời, Arixtốt liền rời khỏi Aten đến vùng Tiểu Á Tại đây, ông mở trường học riêng, viết hàng loạt tác phẩm Việc giảng dạy và nghiên cứu triết học – khoa học của ông sau đó đã tiếp diễn trên đảo Lesbos ở thành phố Mitilen Tuy ông là học trò xuất sắc của Platôn nhưng tư tưởng lại trái ngược với Platôn trên bình diện triết học Arixtốt trở thành người đầu tiên công khai phê phán triết học của Platôn Hơn nữa, ông còn cảm thấy tự hào về sự “phản bội” của mình Ông đã mô

tả quan hệ thầy trò giữa ông và Platôn như này: “Tôi yêu thầy của tôi, nhưng tôi càng yêu chân lý” [71, tr 265] Sự “phản bội” của Arixtốt là vì chân lý Trong thời kỳ Phục hưng, Ra-pha-en (Raphael), một bậc thầy về nghệ thuật đã từng vẽ bức tranh “Học phái Aten” hai nhân vật đứng ngay giữa là Platôn và Arixtốt Platôn chỉ tay lên trời, còn Arixtốt thì úp bàn tay xuống phía dưới, có ý cho biết nguyên tắc lập trường khác nhau, điểm chú trọng không giống nhau của hai nhà tư tưởng này

Năm 343 tr CN, đã bắt đầu một giai đoạn mới trong cuộc đời của Arixtốt gắn với việc ông quay trở về Maxêđoan, được đánh dấu bằng việc quốc vương Maxêđoan là Philip mời Arixtốt vào triều đình để dạy cho thái

tử Alếchxanđơ Năm 336 tr CN, ông lên ngôi dưới danh hiệu là Alếchxanđơ Đại đế Đây một vị vua nổi tiếng vào bậc nhất trong lịch sử cổ

Hy Lạp; là chủ nhân của một đế quốc rộng lớn trải khắp ba châu lục Âu, Á, Phi; là người Châu Âu đầu tiên tiến hành nhiều cuộc chiến tranh chinh phục phương Đông Trong thời gian đi chinh chiến, Arixtốt luôn luôn sống bên cạnh vị vua trẻ tuổi này với tư cách vừa là thầy, vừa là bạn, vừa là cố vấn

Có lẽ ý chí và quyết tâm thống nhất thế giới của Alếchxanđơ đã chịu ảnh

Trang 35

hưởng của thầy giáo Arixtốt Bởi lẽ Arixtốt cũng có ý chí và quyết tâm như thế trong việc chinh phục tri thức Việc học trò xây dựng nên một trật tự thế giới mới trong lĩnh vực chính trị và việc thầy giáo xây dựng nên một hệ thống mới trong lĩnh vực tri thức thực ra chỉ là những mặt khác nhau của một sự nghiệp mang tính khai phá Hai con người kiệt xuất của Maxêđoan

đã thống nhất hai thế giới hỗn loạn trong một thời đại mới Khi nói về ân sư của mình, Alếchxanđơ xúc động nói: “Cha cho tôi sự sống, nhưng Arixtốt

là người dạy tôi sống như thế nào” [71, tr 256]

Thời kỳ Aten lần thứ hai (những năm cuối đời), mở trường phái triết học ở Lixê (Lyceum)

Năm 335 tr CN, Arixtốt quay lại Aten, mở trường Lixê Tuy nhiên, Aten lúc này không còn là Aten tự do của 12 năm trước, mà đã rơi vào tay thống trị của Maxêđoan Ðược Alếchxanđơ Ðại đế hỗ trợ, ông lập thảo cầm viên đầu tiên của loài người để làm cơ sở học hỏi Tại hai nơi đó, người ta

kể rằng Arixtốt vừa thường đi tản bộ trong hoa viên vừa giảng bài cho học trò của mình nghe Về sau ngôi trường được nổi tiếng là học phái Periptetic (Học phái Tiêu dao học học phái Tảng bộ) Ông vừa dạy học vừa viết sách

Ở đây, triết học của ông được thành hình và trưởng thành Các tác phẩm lưu truyền hậu thế phần lớn được ông hoàn thành ở đây

Khi trở về Aten sau một cuộc du hành và Arixtốt đã không dấu cảm tình đối với Maxêđoan Các công trình khảo cứu khoa học, triết lý, chính trị của Arixtốt tuy rất bao la nhưng không phải là hoàn toàn theo đuổi trong sự yên tĩnh Nhiều biến cố chính trị luôn luôn đe doạ Arixtốt và nhóm cộng sự viên, công trình này hoàn toàn tuỳ thuộc vào sự thành công của Alếchxanđơ trên lĩnh vực chính trị

Trong một thị quốc đang sôi sục vì những biến cố chính trị, cuộc sống dạy học và trước tác yên lành của Arixtốt đã bị phá vỡ sau cái chết của

Trang 36

Alếchxanđơ Đại đế Sau khi Alếchxanđơ chết không bao lâu, tại Aten xuất hiện một làn sóng chống đối Maxêđoan Tuy ông sống trong học viện ở Aten, bình tâm viết các tác phẩm của mình nhưng ông hoàn toàn không được sống trong một môi trường bình lặng để khai phá tri thức Sự bất ổn trên chính trường bất cứ lúc nào cũng gây nên những trận cuồng phong trong khu vườn yên tĩnh của học viện, để cuối cùng tạo nên kết cục bi thảm cho nhà triết học Vì giữa Arixtốt và Maxêđoan có mối quan hệ mật thiết nên người dân Aten lập tức trút sự tức giận đối với người dân Maxêđoan lên đầu Arixtốt, triệt tiêu những vinh dự mà trước kia họ đã ban tặng cho ông

Họ kết tội ông là “phỉ báng thần linh” Do vậy, Arixtốt buộc phải nhờ phro-stus (Theophrostus) cai quản ngôi trường cho mình và nhớ lại số phận của Xôcrát rồi không đợi tòa án xét xử, vì chắc chắn ông sẽ bị kết án Arixtốt rời bỏ thành Aten, trốn về quê mẹ ở miền Chal-cis (Chalcis), nhằm tránh cho người Aten “phạm tội triết học lần thứ hai” (lần đầu họ đã xử tử Xôcrát) Năm sau, Arixtốt do quá buồn rầu vì phải xa rời bạn bè và học trò của mình, do phải sống lưu vong, một mình cô đơn nên ông đã bị bệnh và ra

Theo-đi vĩnh viễn Năm đó, ông 63 tuổi

Khi nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Arixtốt, một điểm nữa cần phải lưu ý đó là: ông không tự mình can thiệp vào đời sống chính trị và cũng không thể can thiệp – Là người Aten bằng tim bằng óc nhưng ông không hề là công dân được tin yêu của tổ quốc mình – Về phương diện pháp lý, ông là một kiều dân, ông được hưởng một cách rộng rãi sự tiếp đón của Aten mà cách đó chẳng bao lâu Pêricơlét đã tán dương Nhưng luật lệ không cho phép những người ngoại quốc can thiệp vào các công việc của thị quốc [59, tr 94 – 95] Vì vậy, ông cũng chẳng hề có tí quyền lực nào vì hầu hết cuộc đời ông sống như một cư dân “ngoại lai” của thành Maxêđoan

Có lẽ vì vậy, ông luôn cho rằng, cuộc sống tốt đẹp nhất của con người là

Trang 37

cuộc sống của một công dân: có quyền tham gia vào đời sống chính trị Điều này đã ảnh hưởng lớn đến tư tưởng chính trị của ông Nhưng điều đáng quý là ông đã đứng bên trên những cuộc cãi cọ khẩu luận của thời đại Những ràng buộc của các biến cố cũng đặt ông vào một vị trí lý tưởng của nhà bác học, vị trí của một nhân chứng khách quan và vô tư Ông không hề

hy vọng một sự đảo ngược chính trị, như thầy ông, Platôn; ông không biết lao vào cuộc đấu tranh liều mạng như Démosthène; ông thường nghĩ, nếu không phải là đối lập với những người Aten, thì ít ra cũng là ở ngoài giòng chảy chung [59, tr 96] Chính vì vậy, ông mới có thể để lại cho hậu thế một lượng tri thức khổng lồ mà về sau khi nghiên cứu toàn bộ lịch sử triết học, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác đánh giá Arixtốt là “bộ óc bách khoa” của nền triết học và Hy Lạp cổ đại

Sự nghiệp sáng tác của Arixtốt thật đồ sộ Ngoài triết học, ông còn thâm nhập vào hầu như tất cả các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, để lại nhiều công trình có giá trị

Những sáng tác của Arixtốt thuộc về ba nhóm khoa học:

- Nhóm các khoa học lý thuyết, lấy tri thức làm đối tượng, gồm siêu hình học (triết học đệ nhất), vật lý học (triết học đệ nhị), toán học, logic học

- Nhóm các khoa học thực tiễn, lấy hành động làm đối tượng, gồm đạo đức học, chính trị học, kinh tế học…

- Nhóm các khoa học sáng tạo, lấy những gì hữu ích và gây ấn tượng

do con người sáng tạo ra làm đối tượng gồm nghệ thuật, thi ca, các khoa học ngôn ngữ, các hoạt động có tính chất kỹ thuật

Có thể nói, về mặt sâu sắc trong tư duy và biện luận triết học, cũng như về mặt bề rộng mà tri thức đề cập tới, bất cứ là trước ông hoặc sau ông đều rất ít người có thể theo kịp ông Ông là một trong những nhà tư tưởng tinh thông nhất từ khi có lịch sử cho đến nay

Trang 38

1.2.2 Các tác phẩm chính trị của Arixtốt

Trong hệ thống triết học Arixtốt, tư tưởng chính trị chiếm vị trí đặc biệt quan trọng Sống trong một thời đại có quá nhiều biến động lớn lao trong đời sống chính trị, Arixtốt thấu hiểu tâm trạng và khát vọng của con người Từ đó, ông đã đưa ra nhiều luận điểm sâu sắc với mục đích xây dựng

một nền chính trị mang lại “điều tốt nhất” cho con người

Về mặt chính trị, Arixtốt bắt đầu vào khoảng giữa năm 335 đến năm

323 tr CN Trong nghiên cứu chính trị, ông luôn luôn nhẫn nại, tìm tòi hết sức công phu, đào sâu cái hiện thực để đi dần từng bước đến những kết luận, sau một quá trình khảo cứu phân tích lâu dài các sự kiện

và tài sản trong các trường hợp thực tế Ông công nhận chế độ nô lệ nhưng nhấn mạnh rằng chủ nhân không nên lạm dụng quyền hành bởi vì chủ nhân

và người nô lệ có các quyền lợi như nhau Arixtốt đã viết ra cuốn Hiến Pháp Aten là một sự tập hợp rộng rãi của hiến pháp, bao gồm sự phân tích,

lập trật tự an-pha-bê, các chính văn liên quan đến 158 dân Hy Lạp và các quốc gia khác nhau Arixtốt nói rằng hiến pháp là một trật tự được thiết lập trong quốc gia, là cách thức phân phối giữa các công dân, những quyền cai trị, để họ được thi hành quyền bính

Dàn mục Hiến pháp Aten đã là cái mà chúng ta ngày nay sử dụng trong các công trình nghiên cứu hiến pháp Arixtốt trước hết nghiên cứu nguồn gốc các thiết chế Aten rồi đến thời kỳ mà các thể chế đó được biết

về mặt lịch sử, sau đó trình bày, trong một phần thứ hai những thiết chế

Trang 39

của pháp quyền thực chứng Ông khảo sát các cơ quan chính trị, bằng cách phân chia chúng thành ba loại theo những tiêu chuẩn khác nhau Ông cũng phân tích cơ cấu và cách xử sự của các cơ quan hành chính và các cơ quan

tư pháp

Chính trên những thông tin cực kỳ phong phú và rộng lớn của các

Hiến pháp mà ông xây dựng cuốn Chính trị Trong đó, nghiên cứu các mặt

cấu thành của Thị quốc: các gia đình và các công dân; lãnh thổ và dân cư của nó; chính phủ của nó Chính quyền ở đó được xem xét về mục đích, hình thức và về đời sống của nó Các chế độ chính trị được nghiên cứu, trong cơ cấu của chúng và trong hiệu quả của chúng, trong sự tiến hóa và

trong sự mất đi của chúng Do vậy Chính trị là một cuốn yếu luận thực sự

về nhà nước, vừa có tính chất miêu tả vừa có tính chất qui phạm Tính chất miêu tả, theo nghĩa mà Arixtốt áp dụng ở đó, những nhận xét mà ông đã đề

ra lần đầu liên quan đến thế giới hiến pháp cổ đại; qui phạm, vì rằng theo triết lý của ông, ông tiến hành phê phán các hệ thống hiện tồn tại và xây dựng chế độ theo ông là tốt nhất… Trong tác phẩm, Arixtốt nghiên cứu các mặt cấu thành thị quốc, lãnh thổ, dân cư và chính phủ của nó; mục đích và hình thức của chính quyền; các chế độ chính trị, hiệu quả, sự tiến hóa của chúng; phê phán các hệ thống hiện có

Những vấn đề chính trị đặc biệt còn được Arixtốt thể hiện trong cuốn:

luận của các bậc tiền bối về nguồn gốc và bản chất, hình thức và vai trò của

Trang 40

Ngược lại, chính trị học với tư cách là nghệ thuật hay khoa học của sự lãnh đạo các tập thể, bao trùm đạo đức học với tư cách là nghệ thuật hay khoa học của sự lãnh đạo cá nhân Mối quan hệ không tách rời giữa đạo đức và chính trị được ông thể hiện qua tác phẩm đề tặng cho con trai tên là

Arixtốt cho rằng: “khoa học đạo đức nghiên cứu về sự thiện của cá nhân, trong khi khoa học chính trị nghiên cứu về sự thiện của cộng đồng – chính xác hơn, sự thiện của một loại cộng đồng đặc thù, những (polis) Arixtốt giải thích rằng

có nhiều loại cộng đồng nhưng nhà nước là “cộng đồng cao nhất và … bao gồm mọi cộng đồng khác” và con người được sinh ra là để hưởng hạnh phúc: đó là nguyên tắc của đạo đức học Họ đạt tới đó khi mà, được giải phóng khỏi những tính ngẫu nhiên vật chất, họ có thể được tự do đi vào những hưởng thụ tinh thần Vì thế, vai trò của nhà nước là mang lại một cuộc sống tốt nhất cho con người Đó chính là sự thống nhất giữa chính trị

và đạo đức trong tư tưởng của ông Trong tác phẩm, Arixtốt coi chính trị là đạo đức tối quan trọng khi nhân định như sau: nếu cái lợi của cộng đồng đụng vào cái lợi của cá nhân, thì rõ ràng vấn đề lớn lao hơn và tốt đẹp hơn vẫn là duy trì cái lợi của cộng đồng vì cái lợi của dân tộc và quốc gia đẹp hơn và cao cả hơn Đó là mục đích tìm hiểu của chúng ta, đồng thời đó cũng

là khoa học về chính trị Đồng thời ông cũng cho rằng, cá nhân hay tập đoàn làm chính trị phải có tài năng và đức độ cao, nếu không, người lãnh đạo sẽ là ma quỉ, và xã tắc sẽ rơi vào hoả ngục Để kết thúc toàn bộ tác phẩm đạo đức, ông không ngần ngại tuyên bố rằng đạo đức cao nhất là hết mình ủng hộ cho chế độ đương thời Những gì phá hoại chế độ đương thời mặc nhiên là vô đạo đức

1

Theo tiếng Hy Lạp là Ηθικά Νικομάχεια, phiên ra tiếng Latinh thành Ethica Nicomachea, phiên ra tiếng Anh thành Nicomachean Ethics

Ngày đăng: 11/05/2021, 21:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w