1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cách tiếp cận mới trong việc giảng dạy về các ngành luật thuộc môn pháp luật đại cương

93 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đóng góp mới của đề tài Đề tài có ba đóng góp cơ bản: - Đưa ra các giải pháp hoàn thiện cách tiếp cận về nội dung và phương pháp giảng dạy các ngành luật Việt nam trong môn PLĐC tại trư

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I : NHỮNG YÊU CẦU VÀ THỰC TIỄN GIẢNG DẠY CÁC NGÀNH LUẬT VIỆT NAM TRONG MÔN HỌC PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 5

1.1 Những yêu cầu trong việc giảng dạy các ngành luật Việt nam trong môn PLĐC theo quy định của Bộ giáo dục và đào tạo 5

1.2 Cách tiếp cận một số ngành luật trong việc giảng dạy môn PLĐC tại một

số trường đại học theo chương trình khung năm 2005 7

1.3 Thực tiễn giảng dạy pháp luật Đại cương tại trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn trước năm 2009 14

1.4 Những điều chỉnh ban đầu trong việc giảng dạy môn Pháp luật Đại cương tại trường Đại học KHXH&NV Tp HCM 17

CHƯƠNG II : CÁCH TIẾP CẬN MỚI TRONG VIỆC GIẢNG DẠY MỘT

SỐ NGÀNH LUẬT TRONG MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG 29

2.1 Cách tiếp cận mới về nội dung giảng dạy 29 2.2 Cách tiếp cận mới về phương pháp giảng dạy 35

CHƯƠNG III: NHỮNG PHẢN HỒI, KIẾN NGHỊ CỦA NGƯỜI HỌC VỀ CÁCH TIẾP CẬN MỚI TRONG VIỆC GIẢNG DẠY VÀ CÁC GIẢI PHÁP

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

 PLĐC (Pháp luật đại cương)

 VBQPPL (Văn bản quy phạm pháp luật)

 QHPLHC (Quan hệ pháp luật hành chính)

 PPGD (Phương pháp giảng dạy)

 GV (Giảng viên)

 SV (Sinh viên)

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật và hành vi chấp hành pháp luật của nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và người học, góp phần

ổn định môi trường giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, ngày 20 tháng 11

năm 2009 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số: 1928/QĐ-TTg về việc Phê duyệt

Đề án "Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường” Theo đó, nhiệm vụ của đề án 1928 là xây dựng chương trình pháp luật đại cương thống nhất trong các trường đại học, cao đẳng để đưa các kiến thức pháp luật cơ bản, đại cương vào nội dung chương trình của tất cả các ngành đào tạo từ năm học 2009 - 2010 Do đó

nhóm nghiên cứu nhận thấy việc nghiên cứu đề tài “Cách tiếp cận mới trong việc giảng dạy về các ngành luật thuộc môn Pháp luật Đại cương” theo yêu cầu của Đề án 1928 là một việc làm cấp thiết

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Mặc dù Đề án 1928 đã được thông qua và công bố từ năm 2009, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một đề tài nào nghiên cứu trực tiếp về các cách tiếp cận về nội dung và phương pháp trong việc giảng dạy các ngành luật Việt nam trong môn Pháp luật đại cương

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua đề tài “Cách tiếp cận mới trong việc giảng dạy về các ngành luật thuộc môn Pháp luật Đại cương” nhóm nghiên cứu nhằm hai mục đích cơ bản, đó là:

Trang 5

- Giới thiệu và đưa ra các phân tích, đánh giá khách quan đối với cách tiếp cận mới về nội dung và phương pháp giảng dạy các ngành luật Việt nam trong môn PLĐC mà nhóm đã xây dựng và áp dụng trong năm học 2010 - 2011

- Trên cơ sở so sánh với các cách tiếp cận khác về nội dung và phương pháp giảng dạy các ngành luật Việt nam trong môn PLĐC được áp dụng ở một số trường đại học hay một số giáo trình nói chung và chính cách tiếp cận trước đây đã được nhóm nghiên cứu áp dụng ở trường Đại học KHXH&NV Tp HCM nói riêng, cùng với việc phân tích kết quả phản hồi của sinh viên về cách tiếp cận mới, nhóm nghiên cứu đưa ra các giải pháp để hoàn thiện cách tiếp cận mới về nội dung và phương pháp giảng dạy các ngành luật Việt nam trong môn PLĐC

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với đề tài trên, nhóm nghiên cứu tập trung giải quyết 3 nhiệm vụ trọng tâm:

- Thứ nhất, phân tích các yêu cầu về giảng dạy theo Đề án 1928 của Bộ giáo dục Đào tạo và thực tiễn giảng dạy các ngành luật Việt Nam trong môn PLĐC ở một số trường đại học, qua đó chỉ ra các hạn chế của những cách tiếp cận đó

- Thứ hai, giới thiệu và phân tích cách tiếp cận mới của nhóm nghiên cứu trong việc giảng dạy các ngành luật Việt Nam trong môn PLĐC

- Thứ ba, qua điều tra xã hội học, nhóm nghiên cứu phân tích, bình luận các ý kiến đánh giá, đóng góp của sinh viên đối với cách tiếp cận mới mà nhóm nghiên cứu đã

áp dụng trong hoạt động giảng dạy tại trường Đại học KHXH&NV Tp.HCM, trên cơ

sở đó xây dựng các giải pháp hoàn thiện

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành nghiên cứu khoa học này, nhóm áp dụng các phương pháp nghiên cứu

cụ thể sau

- Phương pháp phân tích, so sánh: được sử dụng trong việc phân tích, so sánh các yêu cầu của Đề án 1928 và thực tiến giảng dạy của các trường đại học

Trang 6

- Phương pháp tổng hợp, quy nạp: được áp dụng để tổng hợp các ý kiến của sinh viên, tổng hợp các kết quả phân tích, qua đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện

- Phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua điều tra, khảo sát để đưa ra các bảng

số liệu thống kê một cách hệ thống và toàn diện nhất

4.1 Thiết kế bảng hỏi

Bảng hỏi được thiết kế rõ ràng, mạch lạc Các câu hỏi đều có yêu cầu và hướng dẫn

cụ thể Kết cấu câu hỏi và câu trả lời cũng được sắp xếp một cách khoa học theo từng chủ

đề cụ thể không gây ra những nhầm lẫn cho người trả lời Hình thức trả lời và các câu hỏi linh hoạt giúp người được khảo sát không nhàm chán và phản ánh vấn đề chính xác hơn Nội dung của bảng hỏi bao gồm hai phần chính:

- Phần thứ nhất nhằm khai thác các thông tin cá nhân về người được khảo sát

- Phần thứ hai nhằm ghi nhận các ý kiến của người được khảo sát trên 4 nhóm vấn đề chính: (i) Về nhóm kiến thức chung; (ii) Về các nhóm kỹ năng; (iii) Về nhóm kiến thức cụ thể của mỗi ngành luật; (iv) Về nhóm các câu hỏi mở

Bảng hỏi chính thức được phát cho sinh viên học môn PLĐC tại trường Đại học KHXH&NV Tp.HCM vào tháng 12/2010

4.2 Tiến hành khảo sát

Việc khảo sát được tiến hành vào buổi cuối cùng của khóa học học Bảng hỏi được phát và thu lại có kiểm soát chặt chẽ nhằm tránh các trường hợp thất lạc, mất mát, bảng hỏi không đạt chất lượng hoặc không đúng đối tượng cần khảo sát

Các số liệu thu thập qua khảo sát được xử lý bằng phần mềm SPSS, là phần mềm được sử dụng nhằm phục vụ cho việc phân tích và thống kê số liệu Sau khi xử lý bằng phần mềm SPSS, nhóm nghiên cứu phân tích cụ thể và khái quát các kết quả nghiên cứu dưới dạng bảng số liệu có so sánh, đối chiếu nhằm xác định một cách khách quan tính đúng đắn của các giả thuyết mà nhóm nghiên cứu đã đưa ra khi xây dựng cách tiếp cận mới

Trang 7

5 Giới hạn của đề tài

Đề tài tập trung vào hai vấn đề chính: (i) Cách tiếp cận mới về nội dung; (ii) Cách tiếp cận mới về phương pháp trong việc giảng dạy các ngành luật Việt nam trong môn PLĐC

6 Đóng góp mới của đề tài

Đề tài có ba đóng góp cơ bản:

- Đưa ra các giải pháp hoàn thiện cách tiếp cận về nội dung và phương pháp giảng dạy các ngành luật Việt nam trong môn PLĐC tại trường Đại học KHXH&NV Tp.HCM, tạo cơ sở khoa học cho việc biện soạn giáo trình môn PLĐC của trường

- Đề tài nghiên cứu đưa ra cách tiếp cận mới trong việc giảng dạy các ngành luật Việt nam trong môn PLĐC có giá trị tham khảo cho các đồng nghiệp đang và sẽ giảng dạy môn học này

- Đề tài là một nguồn tham khảo có giá trị thực tiễn cho Bộ giáo dục và Đào tạo trong việc tổ chức thực hiện Đề án 1928

7 Kết cấu của đề tài

Đề tài được kết cấu làm ba phần chính: (i) Phần mở đầu; (ii) Phần nội dung; (iii) Phần kết luận Phần nội dung chính của đề tài được kết cấu làm 3 chương, cụ thể:

Chương I: Yêu cầu và thực tiễn giảng dạy các ngành luật Việt nam trong môn PLĐC Chương II: Cách tiếp cận mới trong việc giảng dạy một số ngành luật Việt nam trong môn PLĐC

Chương III: Những phản hồi, kiến nghị của người học về cách tiếp cận mới trong việc giảng dạy và các giải pháp hoàn thiện

Trang 8

CHƯƠNG I : NHỮNG YÊU CẦU VÀ THỰC TIỄN GIẢNG DẠY CÁC NGÀNH LUẬT VIỆT NAM TRONG MÔN HỌC PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG TẠI

và trách nhiệm pháp lý), về các chế định cơ bản của một số ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, như: Luật Dân sự, luật Hình sự, luật Hành chính, luật lao động Ngành luật Hành chính với những nội dung quan trọng liên quan đến hoạt động quản

lý nhà nước, Pháp luật Hành chính điều chỉnh những mối quan hệ cơ bản trong quản lý trật tự hành chính của nhà nước, nên việc hiểu biết và thực thi các quy định của pháp luật hành chính là điều rất cần thiết đối với mỗi sinh viên để bảo vệ quyền và thực hiện các nghĩa vụ công dân

Ngành luật Hình sự bao gồm các chế định tội phạm và hình phạt, đây là ngành luật nghiêm khắc nhất với những quy định nhằm trừng phạt những hành vi vi phạm pháp luật Tương ứng với những vi phạm đó người phạm tội sẽ phải chịu những hình phạt tương ứng Do đó cung cấp cho sinh viên những kiến thức về ngành luật Hình sự nhằm giáo dục, răn đe ngăn ngừa họ không thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội

Ngành luật Dân sự điều chỉnh những quan hệ pháp luật quan trọng trong đời sống xã hội liên quan đến tài sản và nhân thân của các tổ chức và cá nhân, nó được coi là luật gốc của các ngành luật tư, do đó môn Pháp luật Đại cương cần phải tiếp cận những chế định quan trọng của ngành luật này

Ngành luật Lao động bao gồm các chế định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động, những quy định của pháp luật lao động liên

Trang 9

quan thiết thực đến quyền lợi của sinh viên sau khi ra trường, vì đa số sinh viên sau khi ra trường sẽ làm công ăn lương trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nên hiểu biết về ngành luật này là điều rất cần thiết

Ngoài ra còn một số những quy định trong các ngành luật khác cũng rất cần thiết trong hành trang kiến thức đại cương về pháp luật, nhưng vì thời lượng giảng dạy có hạn nên giảng viên phải chọn lọc trong việc giảng dạy nhằm cung cấp kỹ năng vận dụng pháp luật linh hoạt trong các tình huống là điều quan trọng nhất Tuy nhiên, nội dung giảng dạy của môn học này, nhất là phần các ngành luật cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo điều chỉnh trong nhiều văn bản khác nhau theo chiều hướng ngày càng chú trọng hơn, nhưng thực tế trong chương trình đào tạo của các trường chưa thực sự đáp ứng các mục tiêu mà Bộ đề ra

1.1.1 Theo chương trình khung năm 2005

Theo Quyết định Số 01/2005/ QĐ-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo ngày 12 tháng 01 năm 2005 về việc: ban hành Bộ chương trình khung giáo dục đại học khối ngành nhân văn trình độ đại học và Quyết định Số 29/2005/ QĐ-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo ngày 16 tháng 9 năm 2005 về việc: ban hành Bộ chương trình khung giáo dục đại học khối ngành Khoa học Xã hội trình độ đại học Trong đó, môn Pháp luật đại cương là môn học bắt buộc đối với một số ngành khoa học xã hội và nhân văn Theo đó, nội dung chủ yếu của môn học bao gồm những kiến thức cơ bản về

nhà nước và pháp luật, quan hệ trách nhiệm pháp lý, các quy phạm, các văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống pháp luật Việt Nam, cấu trúc của bộ máy Nhà nước cũng

như chức năng, thẩm quyền và địa vị pháp lý của các cơ quan trong bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam Như vậy theo yêu cầu này thì một số ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt nam chỉ được nhắc đến một cách khái quát như một mục nhỏ trong những nội dung của môn học mà không đề cập các chế định cơ bản của từng ngành luật

1.1.2 Theo đề án 1928

Theo chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật của ngành giáo dục giai đoạn 2008 –

2012 được ban hành kèm theo quyết định số 2412/QĐ – BGDĐT của Bộ trưởng Bộ giáo

Trang 10

dục và Đào tạo ngày 25/4/2008 thì môn PLĐC sẽ được tiếp tục bổ sung vào chương trình giáo dục đại học của tất cả các ngành học không chuyên luật1 với mục tiêu nâng cao hiểu

biết pháp luật và ý thức tôn trọng pháp luật của người học trong ngành giáo dục Nội dung của môn học tập trung vào các nội dung cơ bản như quyền và nghĩa vụ của công dân, lý luận cơ bản về pháp luật phục vụ cho việc tìm hiểu và thực hiện pháp luật Chú trọng phổ biến giáo dục pháp luật về an toàn giao thông, phòng chống ma túy, HIV – AIDS, bảo vệ môi trường, quy chế thi cử và các quy đinh cụ thể liên quan đến cuộc sống và học tâp phù hợp với cấp học và trình độ đào tạo2

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật và hành vi chấp hành pháp luật của nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và người học, góp phần

ổn định môi trường giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, ngày 20 tháng 11

năm 2009 Thủ tướng Chính phủ đã ký Số: 1928/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án "Nâng

cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường” Theo đó, nhiệm

vụ của đề án 1928 là xây dựng chương trình pháp luật đại cương thống nhất trong các trường đại học, cao đẳng để đưa các kiến thức pháp luật cơ bản, đại cương vào nội dung chương trình của tất cả các ngành đào tạo từ năm học 2009 - 2010 Nghiên cứu đưa nội dung pháp luật phù hợp vào giảng dạy ở các ngành cụ thể3

1.2 Cách tiếp cận một số ngành luật trong việc giảng dạy môn PLĐC tại một số trường đại học theo chương trình khung năm 2005

1.2.1 Về nội dung giảng dạy

Căn cứ theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và chương trình khung được ban hành năm 2005, đa số các trường Đại học đã đưa môn Pháp luật Đại cương vào chương trình giảng dạy bắt buộc Đối tượng người học là sinh viên năm thứ nhất, giai đoạn đại cương Mục tiêu của môn học pháp luật đại cương nhằm trang bị cho sinh viên kiến thức

Trang 11

chung nhất về Nhà nước và pháp luật như nguồn gốc ra đời của Nhà nước và pháp luật, bản chất, vai trò, các kiểu và hình thức Nhà nước và pháp luật; đồng thời giới thiệu tổng quan về hệ thống chính trị, tìm hiểu những vấn đề cơ bản về các hệ thống cơ quan trong

bộ máy Nhà nước ta hiện nay, và tìm hiểu những nội dung cơ bản của những ngành luật chủ yếu trong hệ thống pháp luật nước ta, về vi phạm pháp luật, trách nhiệm pháp lý v.v Nội dung môn học trình bày về nguồn gốc ra đời nhà nước và pháp luật; bản chất, chức năng và các kiểu nhà nước, pháp luật; giới thiệu tổng quan về hệ thống chính trị ở nước ta; về bộ máy Nhà nước CHXHCN Việt Nam; về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; giới thiệu những nội dung cơ bản nhất của những ngành luật chủ yếu ở nước ta hiện nay; và về vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý

Về thời lượng giảng dạy ở mỗi trường có quy định khác nhau, thông thường là 30 hoặc 45 tiết tương đương với 2 hoặc 3 tín chỉ Do đó, với mục tiêu và nội dung giảng dạy chủ yếu tập trung vào lý thuyết nên việc phân bổ thời lượng giảng dạy cũng theo tiếu chí

đó Chúng ta có thể tham khảo một số chương trình giảng dạy môn pháp luật đại cương ở

một số trường hiện nay đang áp dụng sau đây

 Đề cương môn Pháp luật Đại cương của Khoa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh Trường Đại Học Cần Thơ4, đề cương được chia thành hai phần khá chi tiết

Phần I: Những vấn đề chung về nhà nước và pháp luật, gồm có 04 bài:

Bài 1: Nguồn gốc của Nhà nước và Pháp luật

Bài 2: Những nhận thức chung về Nhà nước và Pháp luật

Tập trung vào các nội dung bản chất, hình thức, chức năng, đặc trưng và các kiểu nhà

nước và pháp luật

Bài 3: Tổng quan về hệ thống chính trị

Đưa ra và phân tích khái niệm quyền lực chính trị, Hệ thống chính trị - thiết chế thực hiện quyền lực chính trị và hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay

Bài 4: Những vấn đề cơ bản về Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Bản chất và hình thức Nhà nước Công hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Bộ máy Nhà

4

Phụ lục số 01

Trang 12

nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay

Phần II: Pháp luật nước cộng hòa XHCN Việt Nam, gồm có 04 bài

Bài 5: Hình thức pháp luật

Bao gồm khái niệm, các hình thức pháp luật; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam hiện nay và hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật

Bài 6: Quy phạm pháp luật và quan hệ pháp luật

Khái niệm, cơ cấu của quy phạm pháp luật; quan hệ pháp luật, các yếu tố cấu thành quan

hệ pháp luật, điều kiện phát sinh thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật

Bài 7: Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý

Khái niệm, các dấu hiệu của vi phạm pháp luật, cấu trúc và các loại vi phạm pháp luật; Khái niệm trách nhiệm pháp lý và mối quan hệ giữa vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý, các loại trách nhiệm pháp lý, nguyên tắc áp dụng trách nhiệm pháp lý

Bài 8: Các ngành luật chủ yếu trong hệ thống pháp luật Việt Nam

1 Ngành luật Hiến pháp

2 Ngành luật Hành chính

3 Ngành luật Hình sự và Tố tụng Hình sự

4 Ngành luật Dân sự và Tố tụng Dân sự

5 Ngành luật Hôn nhân và gia đình

vì ngay trong mục tiêu của môn học mà Đại học Cần Thơ đưa ra cũng không đặt ra yêu cầu cụ thể cho việc giảng dạy các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam Theo yêu cầu chi tiết của đề cương trên, với kinh nghiệm giảng dạy thực tế, nhóm nghiên cứu cho rằng với thời lượng tối đa 45 tiết, bất cứ giảng viên nào nếu dạy theo đúng yêu cầu chi tiết của đề cương sẽ không thể còn thời gian dạy về các ngành luật trong hệ thống

Trang 13

pháp luật Việt Nam Theo đề cương chi tiết 7 bài lý thuyết được ấn định nội dung khá rõ ràng, cụ thể còn riêng bài thứ 8 về các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam thì chỉ đưa tên các ngành luật mà không có một yêu cầu nào đối với giảng viên hay người học Do đó, có thể hiểu bài thứ 8 trong đề cương này chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam Năm 2009 Đại học Cần Thơ đã xuất bản cuốn giáo trình Pháp luật Đại cương do tập thể tác giả biên soạn, trong giáo trình phần các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam đã được chú trọng đáng kể 57/129 trang chiếm 44% của giáo trình, nhưng nội dung vẫn viết dưới dạng lý thuyết

 Chương trình môn Pháp luật Đại cương đang được giảng dạy tại Khoa Đông Nam

Á, Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh5

Tại Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh, môn Pháp luật Đại cương có thời lượng 45 tiết được phân bổ chi tiết như sau:

Chương 1: Những vấn đề chung về Nhà nước

Nguồn gốc và bản chất của Nhà nước, đặc điểm, kiểu Nhà nước, hình thức Nhà nước và Bộ

máy Nhà nước

Chương 2: Những khái niệm cơ bản về pháp luật

Nguồn gốc, bản chất và đặc điểm của pháp luật, quy phạm pháp luật, quan hệ pháp luật, Ý thức và thực hiện pháp luật, vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý, pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa

Chương 3: Hình thức pháp luật

Khái niệm hình thức pháp luật, các loại hình thức pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật, Hình thức pháp luật của nhà nước Việt Nam

Chương 4: Khái quát về hệ thống pháp luật

Khái niệm hệ thống pháp luật, các căn cứ phân định ngành luật trong hệ thống pháp

luật, các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Chương 5: Luật dân sự và tố tụng dân sự

1 Khái niệm chung về luật dân sự

5

Phụ lục số 02

Trang 14

1 Khái niệm chung về luật hành chính

2 Quy chế pháp lý về công chức, viên chức

3 Trách nhiệm hành chính

4 Tố tụng hành chính

Chương trình này so với chương trình của Đại học Cần Thơ, đã chú trọng hơn đối với phần các ngành luật cơ bản nhưng vẫn tập trung chủ yếu vào lý thuyết hơn là thực tiễn, bởi vì thời lượng giành cho phần các ngành luật rất khiêm tốn chỉ 12/45 tổng số tiết của môn học Nội dung môn học được được mô tả thông qua trình bày những khái niệm cơ bản về nhà nước và pháp luật, bao gồm: Nguồn gốc, bản chất, đặc điểm, chức năng của nhà nước, kiểu nhà nước, hình thức nhà nước và phân tích cấu trúc bộ máy nhà nước, chức năng và thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong bộ máy nhà nước Việt Nam; Nguồn gốc, bản chất và đặc điểm của pháp luật, kiểu pháp luật, quy phạm pháp luật, quan

hệ pháp luật, ý thức và thực hiện pháp luật, vi phạm pháp luật, trách nhiệm pháp lý và hình thức pháp luật Giới thiệu khái quát về hệ thống pháp luật và các ngành luật trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, trình bày những nội dung cơ bản của các ngành luật, Luật Hành chính, Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự, Luật Dân sự và Luật Tố tụng dân sự với

tư cách là ngành luật chủ yếu của hệ thống pháp luật, để từ đó người học có thể dễ dàng tiếp cận với các ngành luật khác phát sinh từ các ngành luật chủ yếu này

Với mục đích nhằm trang bị cho người học những kiến thức cơ bản, cần thiết về Nhà nước và Pháp luật, đặc biệt những nội dung cơ bản về nhà nước và pháp luật Việt Nam,

Trang 15

làm cơ sở để người học tiếp tục tìm hiểu các môn học pháp luật chuyên ngành Những kiến thức cơ bản trong môn học này giúp người học hiểu rõ vai trò, tầm quan trọng của Nhà nước và Pháp luật trong đời sống, từ đó có thái độ, ý thức tuân thủ nghiêm chỉnh chính sách của nhà nước, quy định của pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của một công dân đối với quốc gia

Như vậy, xét về mặt tổng thể từ đề cương môn học, nội dung trình bày đến mục tiêu môn học mà Khoa Đông Nam Á, Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh đưa ra vẫn tập trung chủ yếu vào việc tranh bị kiến thức cơ bản về nhà nước và pháp luật cho sinh viên Mặc dù trong việc phân bổ thời gian giảng dạy có thể hiện một số tiết làm bài tập của sinh viên nhưng số tiết lý thuyết vẫn là 35/45 tiết, mà trong số 10 tiết còn lại đã sử dụng

03 tiết thuyết trình, 04 tiết thảo luận liên quan đến các bài lý thuyết, do đó chỉ còn lại 03 tiết giành cho thảo luận của 03 ngành luật cơ bản Như vậy, hầu như không giành thời gian cho việc hướng dẫn sinh viên làm bài tập và sửa bài tập cho sinh viên, điều đó đồng nghĩa với việc các giảng viên không chú trọng đến việc giúp sinh viên có ý thức và khả năng sử dụng pháp luật để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân, của gia đình và xã hội

1.2.2 Giáo trình và tài liệu của môn học

Môn Pháp luật Đại cương đã có rất nhiều giáo trình được biên soạn dưới nhiều góc

độ khác nhau với những tiêu chí nhất định, tương ứng với mỗi giai đoạn phát triển của xã hội, để phù hợp với sự đổi mới của Pháp luật, những cuốn giáo trình sau này cũng có những thay đổi cơ bản Về mặt nội dung, sự thay đổi của các giáo trình gần đây đã phản ánh những tích cực trong việc giáo dục pháp luật trong nhà trường Những cuốn giáo trình Pháp luật Đại cương trước đây nội dung chủ yếu mang tính chất kinh điển, nặng về

lý thuyết lý luận, phần các ngành luật chỉ giới thiệu sơ qua với một số trang rất giới hạn Gần đây, nhất là từ năm 2008 trở lại đây nội dung biên soạn đã có những thay đổi đáng

kể trong cơ cấu của các bài, phần lý thuyết kinh điển thiên về lý luận đã được cắt bớt, thay vào đó là tăng cường nội dung cho phần các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, với mục đích chủ yếu là giúp sinh viên hiểu biết hơn về các quy định của các ngành luật thực định

Trang 16

 Pháp luật Đại cương của Trường Đại học Kinh tế - Tài chính thành phố Hồ Chí Minh, do tiến sỹ Lê Văn Hưng chủ biên, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, năm 2008 Tài liệu này không được gọi là giáo trình, vì chưa đủ tầm cả về lượng và chất để trở thành một giáo trình nhưng có thể nói nó là một cuốn tài liệu học tập tương đối phù hợp cho đối tượng người học, nhất là sinh viên trường kinh tế Tài liệu này được viết tương đối ngắn gọn, có sơ đồ minh họa giúp người học dễ hình dung được những mối quan hệ mang tính chất biện chứng, logic của các vấn đề phức tạp về nhà nước và pháp luật Về

cơ cấu phân bổ giữa các phần cũng tương đối hợp lý hơn đối với đối tượng sinh viên không chuyên luật Tài liệu gồm có 7 bài với 160 trang khổ giấy lỡ cỡ, trong đó nhóm nghiên cứu viết phần lý luận cơ bản về nhà nước và pháp luật tập trung trong 3 chương tương đương với 74 trang chiếm 46% của tài liệu, phần còn lại tập trung vào các ngành luật cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam, gồm 4 chương chiếm 54% của tài liệu Trong đó, chương 4 giới thiệu về các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, chương 5,6,7 chỉ tập trung vào ba ngành luật Dân sự, Hình sự và Lao động Theo đó sách cũng chỉ đưa ra những nội dung của luật thực định, giúp sinh viên hiểu được mỗi lĩnh vực đó pháp luật qui định như thế nào, chủ thể pháp luật có những quyền và nghĩa

vụ nào, mà chưa chú trọng đến việc rèn luyện kỹ năng vận dụng pháp luật để có thể hiểu

rõ và giải quyết những tình huống pháp luật thông thường trong cuộc sống qua những tình huống thực tiễn Mặc dù có những tiến bộ nhất định nhưng chương trình này vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên đối với việc giảng dạy môn Pháp luật Đại cương trong trường Đại học

 Giáo trình Pháp luật Đại cương của tập thể tác giả, do Tiến sỹ Lê Minh Toàn chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 2008, gồm có 385 trang, trong đó chỉ giành 96 trang những vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước và pháp luật, còn lại gần

300 trang tác giả tập trung cho các ngành luật cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam Đây có thể được coi là một tiến bộ vượt bậc trong việc cải cách nội dung của giáo trình môn Pháp luật Đại cương nhưng nội dung của các ngành luật vẫn chỉ tập trung vào những quy định của pháp luật quy định cụ thể về từng vấn đề như thế nào Giáo trình chưa chú trọng vào việc phát triển kỹ năng quan trọng nhất cho sinh viên là khả năng

Trang 17

ngăn ngừa những vi phạm pháp luật thông thường và thói quen vận dụng pháp luật để giải quyết các tình huống đơn giản trong cuộc sống

 Để khắc phục những khiếm khuyết trên đây, nhóm nghiên cứu cho rằng ngoài việc trang bị kiến thức cho sinh viên từ những nội dung cơ bản của luật thực định mà sinh viên cần phải biết, cần có một hệ thống các bài tập tình huống đi kèm với mỗi ngành luật Với một phương pháp giảng dạy phù hợp tránh sa đà vào các phương pháp kinh điển chú trọng truyền đạt lý thuyết như trước đây

1.3 Thực tiễn giảng dạy pháp luật Đại cương tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn trước năm 2009

1.3.1 Nội dung giảng dạy

Trước năm 2009, nhà trường chưa có đội ngũ giáo viên cơ hữu giảng môn học này, môn Pháp luật Đại cương nằm trong khối các môn đại cương bắt buộc, giao cho phòng Đào tạo quản lý và chịu trách nhiệm mời giáo viên giảng dạy Về nội dung của môn học cũng như phương pháp giảng dạy gần như giao phó cho giáo viên thỉnh giảng nên không thể đáp ứng những kỳ vọng của nhà trường về đổi mới phương pháp giảng dạy cũng như của sinh viên về khả năng hiểu biết và vận dụng pháp luật vào thực tế cuộc sống Về vấn

đề chuyên môn, Nhà trường mời một giảng viên thỉnh giảng phụ trách, trong suốt nhiều năm học tổ Bộ môn Pháp luật Đại cương không hề có bất kỳ buổi họp chuyên môn nào

để thống nhất chương trình và nội dung giảng dạy Ở giai đoạn đó những giáo viên tham gia giảng dạy hầu như không có đề cương giảng dạy thống nhất Đề cương môn học do mỗi người tự soạn và dạy theo ý thích của mình nhưng phải đáp ứng được những kiến thức cơ bản chủ yếu tập trung vào kiến thức lý thuyết đại cương chung về nhà nước và pháp luật Về giáo trình, tài liệu học tập mỗi giảng viên tự lựa chọn và cung cấp cho sinh viên Cuối mỗi học kỳ, trước khi kết thúc môn học các thành viên tham gia giảng dạy được Trưởng Bộ môn gửi cho một loạt các nội dung gợi ý để hướng dẫn cho sinh viên ôn thi cuối kỳ Theo những nội dung ôn thi, được tổ Trưởng Bộ môn yêu cầu qua nhiều học

kỳ, cho thấy môn học này được giảng dạy tại trường Đại học KHXH&NV trong nhiều năm, thực chất là những nội dung rút gọn của môn Lý luận Nhà nước và Pháp luật – là môn học bắt buộc của sinh viên chuyên ngành Luật vì phần lớn thời lượng giảng dạy của

Trang 18

môn học và những yêu cầu đặt ra cho sinh viên chủ yếu tập trung vào phần lý thuyết đại cương chung về nhà nước và pháp luật còn các ngành luật cơ bản hầu như không còn thời gian nên chỉ mang tính chất giới thiệu Tồn tại này không chỉ xảy ra tại trường Đại học KHXH&NV mà rất nhiều trường Đại học khác, do một thực tế khách quan là trong một thời gian dài trước đó đội ngũ giáo viên giảng dạy môn Pháp luật Đại cương của hầu hết các trường đều được mời từ một nguồn là Tổ Lý luận Nhà nước và Pháp luật (được cho là tốt nhất, có chuyên môn cao nhất) tại các Trường chuyên đào tạo Luật Các giảng viên được mời từ những trường này, có chuyên môn rất cao nhưng theo thói quen nghề nghiệp

họ dạy cho sinh viên chuyên ngành luật những kiến thức nền tảng, sâu về khả năng lý luận nhằm tạo tiền đề giúp sinh viên chuyên ngành luật tiếp cận tốt các ngành luật khác sau này Và khi được mời để giảng dạy Pháp luật Đại cương tại các Trường Đại học không chuyên trong đó có trường Đại học KHXH&NV thì thói quen truyền đạt đó vẫn được áp dụng trong một thời gian rất dài Chính vì vậy mà môn Pháp luật Đại cương đã

bị lý thuyết hóa, nặng nề, kinh điển và rất khó hiểu đối với sinh viên không chuyên ngành luật

1.3.2 Thời lượng môn học

Về thời lượng dành cho môn học ở Trường Đại học KHXH&NV, môn PLĐC có thời lượng 45 tiết, được phân bổ cụ thể: phần những vấn đề cơ bản về Nhà nước ít nhất 15 tiết chiếm 30% môn học; những vấn đề cơ bản về pháp luật ít nhất 20 tiết chiếm 44,5% thời gian còn lại giành cho vệc giới thiệu các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam chừng 10 tiết chiếm 25,5% Sinh viên hầu như chỉ được giới thiệu sơ qua về các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thậm chí các nội dung quan trọng về Bộ máy Nhà nước Việt Nam trong ngành luật Hiến pháp, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các ngành luật hành chính, dân sự, hình sự sinh viên cũng chưa được tiếp cận ở mức độ cần thiết Với thực tế nội dung giảng dạy như trên, giảng viên không thể có thời gian để giúp sinh viên tìm hiểu những chế định quan trọng có thể liên quan đến cuộc sống của họ sau này và rèn luyện kỹ năng vận dụng pháp luật để đáp ứng những nhu cầu thiết thực trong cuộc sống của một sinh viên sau khi ra trường

Trang 19

1.3.3 Về phương pháp giảng dạy

Cách tiếp cận chủ yếu tập trung vào giảng dạy lý thuyết nhằm: (i) cung cấp những kiến thức cơ bản mang tính lý luận về nhà nước và pháp luật cho sinh viên; (ii) giới thiệu một số ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam Theo đó phần (i) chiếm đa số thời lượng giảng dạy, thực tế có những trường giành hơn 70% số tiết của môn này cho phần kiến thức lý luận cơ bản; còn phần (ii) các ngành luật cụ thể, chỉ mang tích chất giới thiệu những nội dung cơ bản hoặc có những trường đã có sự thay đổi đáng kể trong các tiếp cận môn học này nhưng cũng chỉ dừng lại ở việc giới thiệu các chế định cơ bản trong mỗi ngành luật và một số quy định của pháp luật về những quan hệ pháp luật

Về phương pháp giảng dạy thực sự chưa mang lại hiệu quả bởi vì giảng viên quá chú trọng vào các bài thuyết giảng và ít sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực, kết quả là có ít sự tương tác giữa sinh viên và giảng viên trong và ngoài lớp học Quá nhấn mạnh vào ghi nhớ kiến thức theo kiểu thuộc lòng trên cơ sở phân tích tổng hợp các khái niệm, đặc điểm, dẫn đến hậu quả là môn học khô khan, nặng về lý thuyết, khó và kém hấp dẫn đối với người học Sinh viên học một cách thụ động (nghe diễn thuyết, ghi chép, nhớ lại những thông tin đã học thuộc lòng khi làm bài thi) như một nghĩa vụ bắt buộc Giảng dạy đại học phổ biến nhất ở giai đoạn này vẫn là sử dụng bảng viết phấn với

cỡ lớn, ít sử dụng máy tính hoặc nếu sử dụng máy tính sẽ là các slide đầy chữ trình chiếu

để sinh viên ghi chép lại Do vậy phương pháp dạy ở các trường đại học của ta hiện nay vẫn giống như cách dạy các trường “phổ thông cấp 4” Sinh viên đại học chỉ là những

“thợ chép”: Thầy nói gì, viết gì trên bảng thì cứ việc cặm cụi chép bằng hết vào cuốn vở trở thành cẩm nang duy nhất cho thi cử và thậm chí cả cho việc hành nghề sau này Dĩ nhiên học thụ động sẽ sản sinh ra những nhà “trí thức” thụ động, chỉ đâu đánh đấy cũng chưa xong chứ nói gì đến nghiên cứu, sáng tạo6 Do đó, cho thấy một “nghịch lý” rất

đáng quan tâm về cách dạy và học rất thụ động không chỉ ở môn Pháp luật Đại cương mà

6

Nhận xét của Đoàn khảo sát thực địa thuộc Viện Hàn lâm Quốc gia Hoa Kỳ năm 2006 về phương pháp dạy và học đại học của Việt Nam

Trang 20

còn ở đa số các môn học khác của bậc đại học Nhiều năm qua, phương pháp giảng dạy đại học hầu như không được đổi mới, vẫn là cách dạy thụ động của nhiều năm trước, cho nên không đảm bảo đào tạo được nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội

1.4 Những điều chỉnh ban đầu trong việc giảng dạy môn Pháp luật Đại cương tại trường Đại học KHXH&NV Tp HCM

Từ học kỳ II năm 2008 - 2009 trở lại đây, Môn Pháp luật đại cương được Nhà

trường chính thức giao về cho Tổ Luật quốc tế, trực thuộc Khoa Quan hệ Quốc tế Trường Đại học KHXH&NV Tp.HCM Từ đó đến nay, môn học liên tục được đổi mới với sự đóng góp nhiệt tình của các thành viên trong Tổ trên tinh thần giảng dạy môn học vì lợi ích của sinh viên và nhu cầu của xã hội Vừa đảm bảo giúp sinh viên biết và hiểu những nội dung cần thiết, đích thực của môn học vừa đảm bảo tập và rèn luyện cho sinh viên những kỹ năng mềm cần thiết để có thể vận dụng, ứng phó được trong những tình huống thông thường liên quan đến pháp luật Để đạt được những tiêu chí này, một vấn đề đặt ra cho các giáo viên giảng dạy phải thay đổi cả về nội dung chương trình giảng dạy và phương pháp giảng dạy thích hợp

Ngay sau khi nhận nhiệm vụ giao phó từ Nhà trường, Tổ Pháp luật Đại cương (gồm có: cô Nguyễn Thị Hồng Vân – Tổ trưởng, thầy Nguyễn Văn Phái, thầy Lê Hồng Giang

và cô Phạm Thị Ngọc Thu) tổ chức họp chuyên môn, xây dựng đề cương chi tiết cho môn học, các thành viên đều thống nhất phải cải cách lại toàn bộ nội dung của môn học theo đúng nghĩa của môn Pháp luật Đại cương Theo đó, môn học được phân bổ gồm hai phần: phần nhà nước vẫn là những kiến thức nền tảng về nguốn gốc ra đời, bản chất, đặc trưng vai trò của nhà nước; hình thức nhà nước và các kiểu nhà nước trong lịch sử nhưng lược bỏ bớt những kiến thức lý luận kinh điển mà thay vào đó là phần kiến thức thực tiễn thông qua việc tìm hiểu bộ máy nhà nước Việt Nam Trong phần thứ hai (phần về Pháp luật) nhóm nghiên cứu vẫn đảm bảo những kiến thức cơ bản về pháp luật gồm có nguồn gốc, bản chất, vai trò của pháp luật, hình thức, kiểu pháp luật nhưng chú trọng hơn đến các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam Ở học kỳ đầu tiên nhóm nghiên cứu

Trang 21

mới chỉ đưa ba ngành luật cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam đó là: luật Hành chính, luật Hình sự và luật Dân sự với một tiêu chí đặt ra cho nhóm nghiên cứu là vừa dạy vừa nghe phản hồi từ sinh viên và sẽ chỉnh sửa lại chương trình giảng dạy cho phù hợp hơn ở những học kỳ kế tiếp Ngay sau khi kết thúc học kỳ đầu tiên mà nhóm nghiên cứu đảm nhiệm môn học này cho nhà Trường, Phòng Khảo thí Chất lượng đã tiến hành khảo sát toàn bộ các lớp học môn Pháp luật Đại cương của năm học đó Với những nỗ lực

về việc cải cách nội dung môn học cũng như phương pháp giảng dạy mới cùng với việc

áp dụng những tiến bộ kỹ thuật như sử dụng Power point với hình ảnh động và những

minh họa thiết thực, có xen kẽ những vụ án điển hình thông qua những thước phim “Tòa tuyên án” nhóm nghiên cứu đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, cụ thể bằng kết

quả khảo sát sau: (Theo kết quả khảo sát trong công văn số 87/ XHNV-KT&ĐBCL ngày

10 tháng 8 năm 2009 của Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn thành phồ Hồ Chí Minh về môn Pháp luật Đại cương học kỳ II năm học 2008 – 2009)

 Đối tượng khảo sát điều tra

Đối tượng điều tra chủ yếu là sinh viên năm thứ nhất thuộc 19 khoa của trường Đại học KHXH&NV, với số phiếu hợp lệ thu về là 1140 phiếu chiếm 100% số phiếu hợp lệ, chi tiết theo phân tích dưới đây:

Bảng 1

Trang 22

Theo kết quả bảng điều tra cho thấy số lượng sinh viên điều tra tập trung chủ yếu ở

12 ngành học của trường chiếm tỷ lệ 98% trên tổng số phiếu điều tra thu về là 1140 phiếu Trong bảng điều tra cũng thể hiện số lượng sinh viên của khối ngoại ngữ tham gia rất ít, vì theo giải thích của phòng Đào tạo nhà trường thì sinh viên khối ngoại ngữ không bắt buộc phải học môn Pháp luật Đại cương Riêng sinh viên ngành Quan hệ Quốc tế thì trong chương trình đào tạo sẽ được học môn Lý luận Nhà nước và pháp luật và một số

Trang 23

môn luật khác nên không phải học môn Pháp luật Đại cương Do đó trong bảng điều tra trên thể hiện rõ 6 ngành học bao gồm Đông Phương, Ngữ văn Anh, ngữ văn Nga, Quan

hệ Quốc tế, tâm lý học và Việt Nam học số sinh viên tham gia điều tra rất ít chỉ chiếm 2% trên tổng số sinh viên tham gia điều tra Kết quả khảo sát đã thu được chủ yếu là những phản hồi của sinh viên về các lĩnh vực:

- Số tín chỉ của môn học, thời gian tham dự trên lớp, thời gian tự học ở nhà của sinh viên

- Phản hồi của sinh viên về việc cung cấp thông tin liên quan đến môn học

- Phản hồi về môn học, bao gồm: nội dung, giáo trình, tài liệu và những kỳ vọng của sinh viên đối với môn học

- Phải hồi về phương pháp giảng dạy, sự nghiêm túc của giảng viên và hiệu quả của việc áp dụng những công cụ hỗ trợ giảng dạy

- Phản hồi về chất lượng giảng dạy

- Ngoài ra còn thu được những phản hồi khác về cơ sở vật chất, về những ý kiến đóng góp khác của sinh viên đối với môn học

Trong khuôn khổ của đề tài này, nhóm nghiên cứu không có tham vọng phân tích tất

cả những kết quả khảo sát mà chỉ tập trung vào một số phản hồi của sinh viên liên quan đến nội dung và phương pháp giảng dạy Để làm rõ những ưu điểm cần phát huy và thấy được những khiếm khuyết, hạn chế cần khắc phục để từng bước hoàn thiện môn học theo cách tiếp cận mới đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học

Bảng 2

STT Mức độ tiếp thu bài

của sinh viên

hợp lệ

Phần trăm cộng dồn

Trang 24

“Tốt” có tỷ lệ 4% Trong khi đó những ý kiến về mức độ tiếp thu bài của sinh viên “Yếu” chỉ 29/1136 chiếm một tỷ lệ rất nhỏ 2.6% Điều này cho thấy bước đầu triển khai giảng dạy theo hướng tiếp cận mới cho thấy nhóm nghiên cứu đã đi đúng hướng, nhưng do việc triển khai này còn quá mới mẻ nên còn một số bất cập về tài liệu, nội dung (sẽ được phân tích ở những bảng sau) do đó phần đông sinh viên phản ánh mức độ tiếp thu mới chỉ đạt ở mức “trung bình khá” và “trung bình” chiếm 619/1136 ý kiến phản hồi với tỷ lệ 54.5%

Trang 25

dạy SV trả lời

67.3% 32.7%

SV được cung cấp về hình thức thi/kiểm tra giữa

môn, kết thúc môn, cách tính điểm,

hỗ trợ việc học Tuy nhiên, không phải mọi sinh viên đều có mặt đầy đủ trong buổi học đầu tiên, trong bảng 3 cũng thể hiện một số lượng sinh viên nhất định trả lời “không” được cung cấp những thông tin cần thiết liên quan đến môn học, đây có thể là những sinh viên đã không tham dự buổi học đầu tiên

Không đồng ý

Không

có ý kiến

Trang 26

giáo trình hoặc tài

liệu tham khảo

được biên soạn rõ

Trang 27

Bảng 4 là kết quả phản hồi của sinh viên về tài liệu, nội dung và kỹ năng đạt được từ môn học Về tài liệu, thời gian này nhóm nghiên cứu chưa phát hành tập bài đọc cho sinh viên, do đó sinh viên vẫn sử dụng các nguồn tài liệu bán ngoài nhà sách, đó là tìm hiểu Pháp luật Đại cương của Phó Giáo sư tiến sỹ Phạm Hồng Thái và Đinh Văn Mậu, và một

số giáo trình khác và một số văn bản pháp luật liên quan Vì đây là học kỳ đầu tiên đảm nhiệm môn học nên nhóm nghiên cứu còn thiếu kinh nghiệm hướng dẫn các em truy cập tài liện trên mạng và bản thân sinh viên cũng lười tìm và đọc các tài liệu Ở thời điểm đó, nhóm nghiên cứu cũng chưa xây dựng được tập bài tập tình huống nên cũng chưa tạo được thói quen bắt buộc làm bài tập ở nhà nên việc cập nhật hệ thống tài liệu liên quan của sinh viên còn hạn chế Do đó, bên cạnh những phản hồi tích cực vẫn còn tồn tại những tỷ lệ “không đồng ý” tương đối cao chiếm 31.7% không đồng ý cho rằng tài liệu của môn học đa dạng và phong phú Cũng chính vì thiếu học liệu là hệ thống bài tập tình huống kèm theo các ngành luật và chưa đưa ra cơ chế thưởng điểm nên chưa khuyến khích được đa số người học tự tìm tòi các quy định của pháp luật để làm bài tập ở nhà và

tự trình bày sửa bài tập trên lớp Vì vậy, kết quả phát triển kỹ năng mềm trong sinh viên còn hạn chế như khả năng tư duy logic, thực hàng vận dụng pháp luật vào thực tế cuộc sống, kết quả phản ánh trên bảng 4 phản hồi rất rõ 336/927 ý kiến “không đồng ý” chiếm

tỷ lệ 36.2% Chính điều này đã đặt ra cho nhóm nghiên cứu những yêu cầu tiếp tục đổi mới việc giảng dạy môn Pháp luật Đại cương nhất là phần các ngành luật cơ bản, tập trung vào nội dung các ngành luật thiết thực liên quan đến đời sống xã hội đáp ứng những hiểu biết của sinh viên, phải xây dựng hệ thống bài tập tình huống và đưa ra yêu cầu bắt buộc đối với sinh viên phải làm bài tập ở nhà dưới sự hướng dẫn của giảng viên Đưa ra

cơ chế cho điểm khuyến khích sinh viên sửa bài tập, tranh luận, bảo vệ quan điểm trên lớp thì mới có thể đào tạo được kỹ năng cần thiết cho sinh viên

Trang 28

Bảng 5

Phản hồi của sinh viên

Về giảng viên đảm nhiệm môn học

Không tốt

=K không có

26.2%

21.8%

11.0%

10.8

% 1

23.1%

22.3%

15.2%

20.5

% 4

25.0%

17.2%

25.1%

10.9%

Trang 29

phản ánh đúng năng lực của

SV

47.6%

25.8%

13.2%

24.4%

15.2%

7.6%

10.9

% 4

26.3%

15.8%

Để nhìn nhận một cách tổng quát, cũng như xem xét một cách nghiêm túc những thành công cũng như hạn chế trong quá trình giảng dạy môn Pháp luật Đại cương học kỳ

II năm học 2008 – 2009 của tổ Luật để có thể đưa ra những phương hướng và giải pháp khắc phục tối ưu nhất trong việc cải cách giảng dạy môn học, chúng ta xem xét kết quả khảo sát tại bảng số 6

Trang 30

Phần trăm hợp lệ

Phần trăm cộng dồn

sự thành công nhất định của tổ Bộ môn PLĐC trong việc áp dụng chương trình giảng dạy theo xu hướng cải cách Với tỷ lệ đánh giá của sinh viên “hài lòng” và “tạm hài lòng” đạt

số phiếu 937/1136 chiếm tỷ lệ 82.4%, đây là chính là sự khích lệ đối với những công sức

bỏ ra của tổ Bộ môn Nhóm nghiên cứu hy vọng rằng nếu nhà trường tiếp tục khảo sát những năm tiếp theo thì tỷ lệ “rất hài lòng” sẽ không dừng lại ở 1.4% trong bảng khảo sát Bên cạnh những kết quả đạt được này, nhóm nghiên cứu cũng không thể bỏ qua tỷ lệ

Trang 31

“chưa hài lòng” chiếm 13.8% và “không hài lòng” là 2.3%, tỷ lệ này tuy rất nhỏ nhưng đây chính là điều mà nhóm nghiên cứu phải khắc phục nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những điểm còn yếu được sinh viên phản ánh trong các bảng khảo sát trên

Những phân tích dựa trên số liệu các bảng khảo sát trên chính là cơ sở thực tiễn giúp nhóm nghiên cứu xây dựng cách tiếp cận mới (về nội dung và phương pháp giảng dạy) trong việc giảng dạy các ngành luật Việt nam trong môn PLĐC

Trang 32

CHƯƠNG II : CÁCH TIẾP CẬN MỚI TRONG VIỆC GIẢNG DẠY MỘT

SỐ NGÀNH LUẬT TRONG MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Cách tiếp cận mới mà nhóm nghiên cứu đưa ra trong đề tài này, bao gồm hai vấn đề: (i) Cách tiếp cận mới về nội dung giảng dạy các ngành luật Việt Nam trong môn PLĐC; (ii) Cách tiếp cận mới trong phương pháp giảng dạy

2.1 Cách tiếp cận mới về nội dung giảng dạy

Xuất phát từ nhận thức cho rằng việc giảng dạy các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt nam cần tập trung vào các ngành luật cơ bản, điều chỉnh các hành vi của sinh viên trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong công việc sau khi họ ra trường là một việc làm hữu ích, do đó khi biên soạn nội dung giảng dạy, nhóm tác nhóm nghiên cứu đã tập trung vào những nội dung chính của năm ngành luật cơ bản, cụ thể:

2.1.1 Ngành Luật Hành chính

Mô tả: Nội dung giảng dạy ngành luật Hành chính bao gồm lý thuyết và bài tập

a Phần lý thuyết: Tập trung vào phân tích những mối quan hệ pháp luật hành chính

(QHPLHC); cơ quan hành chính nhà nước; vi phạm hành chính và trách nhiệm hành chính; quyền và nghĩa vụ của cán bộ, công chức nhà nước, nhằm các mục tiêu sau:

 Giúp sinh viên hiểu rõ về bản chất của quan hệ pháp luật hành chính, QHPLHC một mặt là quan hệ pháp luật mang tính chất mệnh lệnh bắt buộc, bên cạnh đó QHPLHC còn là một quan hệ mang tính chất dịch vụ công cộng, trong những quan hệ đó sinh viên không chỉ có những nghĩa vụ mà họ còn có những quyền do pháp luật quy định;

 Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về các loại cơ quan hành chính nhà nước Việt Nam hiện hành, chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của các cơ quan hành chính;

 Phân tích các dấu hiệu của vi phạm pháp luật hành chính, các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, giúp sinh viên nhận thức rõ khi nào hành vi của họ bị coi là vi

Trang 33

phạm pháp luật hành chính và trách nhiệm của họ đối với nhà nước do hành vi của

họ gây ra qua đó nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật hành chính (luật an toàn giao thông) của sinh viên

 Phân tích các quyền và nghĩa vụ cũng như các điều kiện để trở thành một cán bộ, công chức nhà nước, đồng thời chỉ ra sự khác biệt giữa cán bộ nhà nước và công chức nhà nước

b Phần bài tập: Tập trung giới thiệu các tình huống pháp luật hành chính phổ biến

điển hình (các trường hợp vi phạm an toàn giao thông thuộc phạm vi xử phạt của Nghị

định số 34/2010/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông

đường bộ) cùng với các câu hỏi liên quan, với các mục tiêu sau:

 Rèn luyện cho sinh viên kỹ năng phân tích tình huống;

 Kỹ năng tìm kiếm văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và vận dụng pháp luật trong lĩnh vực hành chính;

 Nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật hành chính của sinh viên

 Giới thiệu những hành vi vi phạm hành chính phổ biến và hậu quả pháp lý của hành vi đó cũng như mức độ xử phạt đối với mỗi vi phạm cụ thể, để sinh viên tránh mắc phải những sai phạm tương tự và góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật hành chính

2.1.2 Ngành Luật Hình sự

Mô tả: Nội dung gồm 2 phần: Phần lý thuyết và phần bài tập

a Phần lý thuyết: Tập trung phân tích chi tiết các yếu tố cấu thành tội phạm, các điều

luật cụ thể trong Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) điều chỉnh các tội phạm phổ biến và điển hình (tội phạm), như: trộm cắp, cố ý gây thương tích, đánh bạc…

và trách nhiệm hình sự khi phạm phải các tội đó (hình phạt), những tội phạm mà sinh viên dễ dàng mắc phải do sự thiếu hiểu biết về pháp luật, với các mục tiêu cụ thể sau:

Trang 34

 Giới thiệu cho sinh viên những kiến thức cơ bản về pháp luật hình sự (tội phạm và hình phạt) và chính sách hình sự của nhà nước CHXHCNVN nói chung và một số loại tội phạm cụ thể nói riêng, nhằm mục tiêu tuyên truyền, phòng chống tội phạm

 Giúp sinh viên hiểu về các yếu tố cấu thành tội phạm nói chung và của một số loại tội phạm cụ thể nói riêng, để họ nhận thức được khi nào hành vi trái pháp luật của

họ bị coi là tội phạm

b Phần bài tập: Đưa ra 10 vụ án có thật, là những trường hợp phổ biến điển hình

Các vụ án xoay quanh các tội phạm như: giết người, cướp của, trộm cắp, lừa đảo, hiếp dâm… Trong mỗi vụ án đều có các câu hỏi và các điều luật liên quan, nhằm các mục tiêu:

 Rèn luyện cho sinh viên kỹ năng phân tích tình huống, kỹ năng tìm kiếm VBQPPL

 Khả năng phân tích một số điều luật Hình sự và vận dụng chúng trong thực tiễn

 Rèn luyện khả năng hùng biện, khả năng tư duy độc lập và lập luận logic

 Kỹ năng làm việc nhóm

 Giới thiệu những hành vi vi phạm pháp luật hình sự phổ biến và trách nhiệm hình

sự đối với mỗi tội phạm cụ thể, để sinh viên tránh mắc phải những sai phạm tương

tự do thiếu hiểu biết và góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật hình sự

2.1.3 Ngành luật Tố tụng Hình sự

Mô tả: Ngành luật tố tụng hình sự được giảng dạy chủ yếu là phần lý thuyết, trong phần này nhóm nghiên cứu giới thiệu các giai đoạn tố tụng trong một vụ án hình sự, nhiệm vụ chức năng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng và các biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng như điều kiện áp dụng các biện pháp đó, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của

bị can, bị cáo nhằm các mục tiêu cụ thể sau:

 Giới thiệu về những kiến thức cơ bản về các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, các quy trình, thủ tục của một vụ án hình sự;

Trang 35

 Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về các quyền và nghĩa vụ của bị can bị cáo, để bước đầu họ có thể tự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi chẳng may bị rơi vào vòng tố tụng

2.1.4 Ngành Luật Dân sự

Mô tả: Nội dung giảng dạy ngành luật Dân sự gồm phần Lý thuyết và phần bài tập

a Phần lý thuyết: Trong nội dung phần luật dân sự, nhóm nghiên cứu tập trung phân

tích một số điều luật điển hình trong các chế định cơ bản của Bộ luật dân sự (BLDS)

2005, đó là: Chế định Quyền và nghĩa vụ dân sự của cá nhân; Chế định tài sản và quyền

sở hữu; Chế định thừa kế, Chế định nghĩa vụ dân sự và Hợp đồng dân sự, nhằm các mục tiêu sau:

 Trang bị cho sinh viên những quyền và nghĩa vụ dân sự mà một cá nhân được pháp luật dân sự quy định;

 Trang bị cho sinh viên những kiến thức về tài sản, cách phân loại tài sản, nội dung của các quyền đối với tài sản, căn cứ xác lập, chấm dứt quyền sở hữu tài sản;

 Giới thiệu về các hình thức thừa kế, các hàng thừa kế theo pháp luật, di sản thừa

b Phần bài tập: gồm 15 bài tập tình huống, mỗi bài đều có câu hỏi liên quan, các bài

tập tình huống chủ yếu tập trung vào các vấn đề: tranh chấp quyền sở hữu tài sản, tranh chấp hợp đồng dân sự và chia thừa kế, các trường hợp vi phạm quyền và nghĩa vụ dân sự của cá nhân…những tranh chấp thường xuyên xảy ra trong cuộc sống hàng ngày, nhằm các mục tiêu sau:

Trang 36

 Giới thiệu về các tình huống tranh chấp dân sự phổ biến và cách giải quyết các tình huống đó, để khi gặp những tình huống tương tự trong thực tế cuộc sống sinh viên biết cách bảo vệ những lợi ích chính đáng của mình

 Rèn luyện cho sinh viên kỹ năng phân tích tình huống dân sự, kỹ năng tìm kiếm VBQPPL

 Khả năng phân tích một số điều luật dân sự và vận dụng chúng trong thực tiễn

 Rèn luyện khả năng hùng biện, khả năng tư duy độc lập và lập luận logic

2.1.5 Ngành Luật tố tụng Dân sự

Mô tả: phần này nhóm nghiên cứu tập trung vào việc giảng dạy lý thuyết

Trong nội dung lý thuyết về tố tụng dân sự, nhóm nghiên cứu tập trung vào việc giới thiệu, phân tích khái niệm vụ việc dân sự, thẩm quyền của tòa án và thủ tục giải quyết các

vụ việc dân sự, quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn, bị đơn trong một vụ án dân sự nhằm các mục tiêu sau:

 Giới thiệu những kiến thức cơ bản về tố tụng dân sự, những vụ việc dân sự, vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án;

 Trang bị cho sinh viên những thủ tục, tài liệu cần thiết khi tiến hành khởi kiện vụ

án dân sự cũng như những quyền và nghĩa vụ của họ trong một vụ án dân sự

2.1.6 Luật Kinh doanh

Mô tả: Nội dung giảng dạy của ngành luật kinh doanh bao gồm phần lý thuyết và phần bài tập

a Phần lý thuyết: Với ngành luật kinh doanh, nhóm nghiên cứu tập trung giới thiệu

về thủ tục thành lập doanh nghiệp, các loại hình doanh nghiệp, thương nhân và hành vi thương mại, nhằm các mục tiêu cụ thể sau:

 Giúp sinh viên hiểu rõ các thủ tục thành lập doanh nghiệp, nơi đăng ký thành lập doanh nghiệp khi họ muốn khởi đầu công việc kinh doanh sau khi tốt nghiệp đại học;

Trang 37

 Phân tích bản chất và cơ cấu tổ chức của các loại hình doanh nghiệp để sinh viên phân biệt được sự khác nhau giữa các loại hình doanh nghiệp;

 Phân tích các điều kiện được coi là thương nhân, các loại thương nhân và người đại diện cho thương nhân là Pháp nhân

b Phần bài tập: Bao gồm 4 vụ kiện, mỗi vụ kiện đều có các câu hỏi liên quan, các vụ

kiện tập trung vào các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại phổ biến như tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau trong việc quản lý điều hành doanh nghiệp, và tranh chấp giữa công ty và thành viên của công ty nhằm mục tiêu:

 Giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng phân tích và giải quyết tình huống thương mại;

 Giúp sinh viên hiểu rõ mối quan hệ giữa các thành viên công ty với nhau và với công ty;

 Giúp sinh viên bước đầu tìm hiểu về các tranh chấp trong thương mại và cách giải quyết các tranh chấp

2.1.7 Luật Lao động

Mô tả: Nội dung giảng dạy của ngành Luật Lao động bao gồm phần lý thuyết và phần bài tập

a Phần lý thuyết: Với ngành luật lao động, nhóm nghiên cứu tập trung giới thiệu

những nội dung chính, bao gồm: Hợp đồng lao động, quyền và nghĩa vụ của người lao động, các vấn đề về tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, kỷ luật lao động…những vấn đề mà bất kỳ sinh viên nào khi ra trường, đi xin việc làm cần phải biết, nhằm các mục tiêu sau:

 Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về luật lao động, để họ có thể bảo

vệ những lợi ích chính đáng của mình khi tham gia các quan hệ lao động;

 Nâng cao ý thức kỷ luật lao động của sinh viên

b Phần bài tập: bao gồm 3 vụ việc tranh chấp lao động, mỗi vụ việc đều có các

câu hỏi đi kèm, nhằm các mục tiêu sau:

Trang 38

 Giúp sinh viên nhận biết và phân tích các loại tranh chấp lao động phổ biến;

 Rèn luyện kỹ năng tìm kiếm và phân tích các VBQPPL về lao động

2.2 Cách tiếp cận mới về phương pháp giảng dạy

Mỗi một phương pháp giảng dạy dù cổ điển hay hiện đại đều nhấn mạnh lên một khía cạnh nào đó của cơ chế dạy và học, cho dù các phương pháp thể hiện hiệu quả như thế nào thì vẫn tồn tại một vài khía cạnh mà người học và người dạy chưa khai thác hết Mỗi một phương pháp đều có ưu điểm của nó, do vậy giảng viên nên ứng dụng và kết hợp nhiều phương pháp giảng dạy phù hợp với mục tiêu của môn học, bản chất của vấn đề cần trao đổi, phù hợp với thành phần lớp học, và cuối cùng là phù hợp với khả năng của giảng viên

Theo nhóm nghiên cứu, những phương pháp giảng dạy các ngành luật trong môn PLĐC được gọi là hiệu quả nếu hội tụ được các yếu tố sau:

- Thể hiện rõ mục tiêu của môn học, làm cho môn học gần gũi với thực tiễn cuộc sống, qua đó thúc đẩy động cơ học tập cho người học;

- Giúp sinh viên chủ động trong việc tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả;

- Kết hợp lý thuyết với thực tiễn cuộc sống;

- Khuyến khích tư duy độc lập và sáng tạo của người học, rèn luyện kỹ năng phân tích tình huống, kỹ năng hùng biện và vận dụng pháp luật vào thực tiễn cuộc sống;

- Phát triển kỹ năng làm việc nhóm của sinh viên

- Sử dụng các phương tiện hỗ trợ hiện đại, giáo án điện tử làm cho nội dung giảng dạy thêm sinh động

Dựa trên các tiêu chí trên, nhóm nghiên cứu đã kết hợp các phương pháp: (i) Phương pháp giảng dạy theo vấn đề; (ii) Phương pháp giảng dạy theo nhóm; (iii) phương pháp giảng dạy tình huống; (iv) phương pháp thuyết giảng trong việc giảng dạy, dưới đây là nội dung của từng phương pháp và cách mà nhóm nghiên cứu áp dụng các phương pháp đó trong việc giảng dạy các ngành luật trong môn PLĐC

Trang 39

2.2.1 Phương pháp dạy học dựa trên vấn đề

Phương pháp này có thể được xem như một cách xây dựng tổng thể một đề cương giảng dạy hoặc là một trong những cách được người dạy áp dụng để xây dựng đề cương giảng dạy cho một môn học Phương pháp này xuất hiện vào năm 1970 tại trường Đại học Hamilton-Canada, sau đó được phát triển nhanh chóng tại Trường Đại học Maastricht-Hà Lan Phương pháp dạy học dựa trên việc giải quyết vấn đề xuất phát từ tình huống thực tế của cuộc sống, thực tế nghề nghiệp được xây dựng dựa trên những yêu cầu sau:

- Phải có một tình huống cụ thể cho phép giảng viên đặt ra được một vấn đề

- Các nguồn lực (trợ giảng, người hướng dẫn, tài liệu, cơ sở dữ liệu….) đều được giới thiệu tới người học và sẵn sàng phục vụ người học

- Các hoạt động phải được người học triển khai như đặt vấn đề, quan sát, phân tích, nghiên cứu, đánh giá, tư duy,…

- Kiến thức cần được người học tổng hợp trong một thể thống nhất (chứ không mang tính liệt kê), điều đó cũng có nghĩa là việc giải quyết vấn đề dựa trên cách nhìn nhận

đa dạng và chứng tỏ được mối quan hệ giữa các kiến thức cần huy động

- Phải có khoảng cách thời gian giữa giai đoạn làm việc trong nhóm và giai đoạn làm việc độc lập mang tính cá nhân

- Các hình thức đánh giá phải đa dạng cho phép giảng viên có thể điều chỉnh và kiểm tra quá trình sao cho không chệch mục tiêu đã đề ra

Để đảm bảo hoạt động dạy và học có thể bao phủ được toàn bộ các yêu cầu trên, nhóm nghiên cứu đã đề ra các bước tiến hành như sau:

- Bước 1: Xác định các ngành luật tác động nhiều tới cuộc sống sinh hoạt của sinh viên

- Bước 2: Xác định rõ vấn đề đặt ra trong từng ngành luật (các chế định cần nghiên cứu giảng dạy)

- Bước 3: Phân tích vấn đề

- Bước 4: Đưa ra mục tiêu nghiên cứu và mục tiêu học tập

Trang 40

- Bước 5: Thu thập thông tin

- Bước 6: Đánh giá thông tin thu được

Ví dụ: Trong việc lựa chọn các vấn đề trong ngành luật dân sự, được nhóm nghiên

cứu tiến hành như sau:

Bước 1: Nhóm nghiên cứu nhận thấy ngành luật dân sự là ngành luật điều chỉnh các quan hệ dân sự (quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân phi tài sản) là quan hệ phổ biến trong cuộc sống hàng ngày của sinh viên vì thế việc giảng dạy ngành luật này như là một phần trong môn PLĐC là một việc làm cần thiết

Bước 2: Trong ngành luật Dân sự Việt nam có rất nhiều vấn đề cần nhiên cứu, căn cứ vào đối tượng giảng dạy là các sinh viên không chuyên về luật, do đó nhóm nghiên cứu

đã lựa chọn các vấn đề điển hình trong các chế định cơ bản của BLDS 2005, đó là: Quyền và nghĩa vụ dân sự của cá nhân; Chế định tài sản và quyền sở hữu; Chế định thừa

kế, Chế định nghĩa vụ dân sự và Hợp đồng dân sự,

Bước 3: Trên cơ sở các vấn đề đã được lựa chọn ở bước 2, trong bước 3 nhóm

nghiên cứu đưa ra các phân tích chi tiết cho các vấn đề được lựa chọn (chi tiết trong Phụ lục 03)

Bước 4: Các vấn đề mà nhóm nghiên cứu lựa chọn nhằm các mục tiêu sau:

Mục tiêu trang bị kiến thức

 Trang bị cho sinh viên những quyền và nghĩa vụ dân sự mà một cá nhân được pháp luật dân sự quy định;

 Trang bị cho sinh viên những kiến thức về tài sản, cách phân loại tài sản, nội dung của các quyền đối với tài sản, căn cứ xác lập, chấm dứt quyền sở hữu tài sản;

 Giới thiệu về các hình thức thừa kế, các hàng thừa kế theo pháp luật, di sản thừa

kế

 Phân tích bản chất của hợp đồng dân sự, các hình thức của hợp đồng, một số hợp đồng dân sự thông dụng giúp sinh viên hiểu và có thể vận dụng được các quy định

Ngày đăng: 11/05/2021, 21:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w