tích lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, công trình “Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam” đã trình bày khái quát những tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác qua quan niệm về Âm
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS TRƯƠNG VĂN CHUNG
TP HỒ CHÍ MINH – 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu là trung thực
Người cam đoan
TRẦN THỊ BIÊN THÙY
Trang 4MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 7
Chương 1: ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG LÊ HỮU TRÁC 7
1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI THỜI LÊ TRUNG HƯNG 7
1.1.1 Điều kiện kinh tế 7
1.1.2 Điều kiện chính trị - xã hội 14
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRIẾT HỌC VÀ Y HỌC 22
1.2.1 Học thuyết Âm dương – Ngũ hành 23
1.2.2 Lý luận y học của tác phẩm “Hoàng đế Nội kinh” 32
1.3 ĐÔI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ TÁC PHẨM CỦA LÊ HỮU TRÁC 44
1.3.1 Đôi nét về cuộc đời Lê Hữu Trác 44
1.3.2 Đôi nét về tác phẩm “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” 49
Chương 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG LÊ HỮU TRÁC 58
2.1 QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC VỀ TỰ NHIÊN VÀ CON NGƯỜI 59
2.1.1 Quan điểm triết học về tự nhiên 60
2.1.2 Quan điểm triết học về con người 72
2.2 QUAN ĐIỂM BIỆN CHỨNG TRONG Y PHÁP 86
2.2.1 Quan điểm toàn diện 87
2.2.2 Quan điểm lịch sử - cụ thể 95
2.3 QUAN ĐIỂM VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ NHÂN SINH 102
2.3.1 Quan niệm về đức “Nhân” của người thầy thuốc 103
2.3.2 Quan niệm về cuộc sống hạnh phúc 111
Trang 52.4 ĐÁNH GIÁ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA LÊ HỮU TRÁC VÀ
Ý NGHĨA, VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI Y HỌC CỔ TRUYỂN VIỆT NAM 122
2.4.1.Đánh giá tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác 122
2.4.2.Ý nghĩa, vai trò của tư tưởng triết học Lê Hữu Trác đối với y học cổ truyền Việt Nam 128
KẾT LUẬN 135
PHỤ LỤC 140
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 144
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trường kỳ lịch sử hơn bốn nghìn năm của dân tộc Việt Nam đã để lại cho chúng ta những di sản văn hóa vô cùng quý giá Trong các di sản văn hóa đó, tư tưởng là bộ phận di sản tinh hoa nhất, là cốt lõi của một nền văn hóa Để hình thành nên hệ thống tư tưởng đó các thế hệ người Việt đã trải qua bao thăng trầm trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên và đấu tranh xã hội Lịch sử tư tưởng Việt Nam là một kho tàng tri thức sâu sắc mà chúng ta cần nghiêm túc giữ gìn, tìm hiểu, khai thác và vận dụng Do đó, việc nghiên cứu tư tưởng của dân tộc là một việc làm cần thiết để chúng ta hiểu hơn về dân tộc mình Đó cũng chính là bảo tồn bản sắc dân tộc
Trong lịch sử Việt Nam, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác là nhân vật đã để lại ấn tượng đặc biệt Ông không chỉ là một người thầy thuốc xuất sắc trong y thuật, mẫu mực trong y đức mà ông còn thể hiện vai trò là một nhà tư tưởng uyên bác Trước tác duy nhất mà Lê Hữu Trác để lại cho dân tộc ta là bộ sách “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” Trong tác phẩm này, ngoài những giá trị y học chúng ta còn thấy được những tư tưởng triết học và đạo đức rất có giá trị để khai thác, vận dụng trong điều kiện hiện nay Chính vì vậy, việc nghiên cứu tư tưởng triết học của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác là một việc làm cần thiết để chúng ta có cái nhìn đa chiều hơn
về dấu ấn tư tưởng mà ông để lại
Mặt khác, thực tiễn những năm gần đây ở nước ta cho thấy sự hiểu biết của nhân dân về tính khoa học trong y học cổ truyền còn khá hạn chế Điều này đã tạo điều kiện cho những luận điệu mang tính chất thần bí, mê tín len lỏi vào niềm tin mà nhân dân dành cho y học dân tộc Chính vì vậy, việc nghiên cứu và làm sáng tỏ cơ sở
lý luận nói chung và cơ sở triết học nói riêngcủa y học cổ truyền là vô cùng cần thiết trong giai đoạn hiện nay
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu lý luận y học cổ truyền còn là hành động thiết thực để góp phần thực hiện kế hoạch của Chính phủ về phát triển y dược cổ truyền đến năm 2020 [84]
Trang 7Xuất phát từ cách đặt vấn đề trên, tôi chọn đề tài luận văn: “Tư tưởng triết học
của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác” để nghiên cứu với mong muốn làm rõ thêm tư
tưởng triết học của Lê Hữu Trác Qua đó, đóng góp kết quả chứng minh cho cơ sở triết học của y học cổ truyền Việt Nam
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam được đẩy mạnh và đã đạt được những thành tựu rõ nét Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu lý luận y học cổ truyền cũng được quan tâm làm rõ Có thể khái quát tình hình nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung và tư tưởng Lê Hữu Trác nói riêng theo các nhóm công trình sau đây:
- Ở lĩnh vực nghiên cứu về lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam có các công trình tiêu biểu như: “Một số vấn đề lý luận về lịch sử tư tưởng Việt Nam” do Ủy ban
Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Triết học biên soạn (1984) Kết quả nghiên cứu từ công trình này có giá trị tham khảo và định hướng nghiên cứu rất hữu ích Đi sâu vào nghiên cứu cụ thể tư tưởng của các nhà tư tưởng Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử
có các công trình như: “Tư tưởng triết học của thiền phái Trúc Lâm đời Trần” (1998) của PTS Trương Văn Chung, NXB Chính trị quốc gia ; “Trần Nhân Tông toàn tập” (2000) của tác giả Lê Mạnh Thát, NXB Thành phố Hồ Chí Minh ; “Đại cương lịch
sử tư tưởng triết học Việt Nam” (2002) do PGS,TS Nguyễn Hùng Hậu chủ biên (Tập
1 – Từ khởi nguyên đến năm 1858), NXB Đại học quốc gia Hà Nội; “Tư tưởng Việt
Nam thời Lý – Trần”(2008) do PGS,TS Trương Văn Chung – PGS,TS Doãn Chính
(Đồng chủ biên), NXB Chính trị quốc gia; “Tìm hiểu tư tưởng chính trị Nho giáo
Việt Nam từ Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh” của tác giả Nguyễn Hoài Văn, NXB
Chính trị quốc gia Từ các công trình nghiên cứu này có thể kế thừa được nhiều tư liệu về quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam, về đặc điểm trong lịch sử tư tưởng Việt Nam qua những khía cạnh như: tôn giáo, chính trị, văn học Trong đó, khi phân
Trang 8tích lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, công trình “Đại cương lịch sử tư tưởng triết
học Việt Nam” đã trình bày khái quát những tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác qua
quan niệm về Âm dương – Ngũ Hành trong y pháp của ông
- Riêng về việc nghiên cứu tư tưởng triết học trong y học cổ truyền thì có công trình “Học thuyết Âm dương và phương dược cổ truyền” (2001) của tác giả Hoàng Tuấn, NXB Văn hóa – Thông tin; luận văn thạc sỹ với đề tài “Học thuyết
Ngũ hành với việc giải thích chức năng sinh lý cơ thể người theo y học cổ truyền”
của Đoàn Ngọc Minh (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009) Hai công trình nghiên cứu này đã phân tích tỉ mỉ những ảnh hưởng của thuyết Âm dương – Ngũ Hành trong y lý của Đông y và tính chất khoa học của y học cổ truyền Trong công trình nghiên cứu, các tác giả này đều có bàn đến lý luận y học của Lê Hữu Trác
- Nghiên cứu chuyên sâu về tư tưởng của Lê Hữu Trác thì đã có nhiều tác giả
nghiên cứu:
Năm 1970, Bộ y tế đã tổ chức Hội thảo nhân dịp kỷ niệm 250 năm ngày sinh Hải Thượng Lãn Ông Tại Hội thảo nhiều bài phát biểu, bài viết nghiên cứu về cuộc đời và tư tưởng Hải Thượng Lãn Ông đã được công bố Năm 1971, nhà xuất bản Y học đã tập hợp các kết quả nghiên cứu này để xuất bản thành sách tham khảo dưới dạng tập chuyên đề Tập chuyên đề này đã đem lại những phân tích sâu và rộng về
tư tưởng Lê Hữu Trác ở nhiều lĩnh vực như: triết học, y học, văn học, mỹ học [2] Trong đó, các tác giả đã nêu ra nhiều ý kiến phân tích rất sắc sảo xen lẫn những ý kiến đánh giá có phần khắt khe về tư tưởng của ông Cùng năm này, nhà xuất bản Y
học và Thể dục thể thao đã xuất bản công trình nghiên cứu “Thân thế và sự nghiệp y
học của Hải Thượng Lãn Ông” do tác giả Lê Trần Đức (công tác tại Viện Y học dân
tộc Hà Nội) biên soạn; công trình này đã trình bày khái quát các vấn đề về thân thế, cuộc đời, các tư tưởng y học và bố cục của tác phẩm “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” Công trình này nghiên cứu thiên về lý pháp, phương dược trong tác phẩm của Hải Thượng Lãn Ông nhưng tác giả Lê Trần Đức cũng có nêu ra nhiều đánh giá về vai
Trang 9trò của Lê Hữu Trác trong lịch sử y học cổ truyền và các quan điểm của Lê Hữu Trác về vấn đề y đức
Từ năm 1990 đến nay, nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về cơ sở triết học trong lý luận y học của Lê Hữu Trác đã xuất hiện Tiêu biểu như: công trình
nghiên cứu “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” (1993) của tác giả Nguyễn Tài Thư, NXB
Khoa học xã hội, Hà Nội Trong tập 1 của công trình nghiên cứu này, tác giả Nguyễn Tài Thư đã dành hẳn chương XXII để bàn về tư tưởng Lê Hữu Trác Bên
cạnh đó, còn có các công trình như: “Hải Thượng Lãn Ông – nhà y học lớn, nhà văn
hóa lớn” (2001) của tác giả Nguyễn Văn Thang, NXB Văn hóa – Thông tin; “Bộ Hải thượng y tông tâm lĩnh với sự vận dụng những tư tưởng triết học thời cổ” của
Trần Văn Thụy (Luận án tiến sĩ triết học, năm 1996), “Tư tưởng triết học về con
người qua tác phẩm y học của Hải Thượng Lãn Ông” của Phạm Công Nhất (Luận
án tiến sĩ triết học, năm 2001), “Thuyết Âm dương – Ngũ hành với tác phẩm
“Hoàng đế nội kinh” và “Hải thượng y tông tâm lĩnh” của Trần Thị Huyền (Luận
án tiến sĩ triết học, năm 2002) Các công trình nghiên cứu này đã phân tích sâu sắc
về cơ sở triết học trong lý luận y học của Lê Hữu Trác ở nhiều khía cạnh khác nhau; đây là những đóng góp lớn cho việc nghiên cứu tính triết học trong tư tưởng y học của Hải Thượng Lãn Ông
Ngoài các công trình nghiên cứu chuyên sâu dưới dạng sách tham khảo, luận
án, luận văn, việc tìm hiểu về tư tưởng Lê Hữu Trác còn được trình bày ở các bài
nghiên cứu, bài phân tích đăng trên tạp chí khoa học, trên website như: “Thuyết Âm
dương – Ngũ hành trong “Hải thượng y tông tâm lĩnh” của Lê Hữu Trác” của tác
giả Đoàn Quang Thọ trên www.chungta.com (Nguồn: Tạp chí triết học, năm 2007); “Thuyết Âm dương – Ngũ hành trong “Hải thượng y tông tâm lĩnh” của Lê
Hữu Trác” của tác giả Trần Thị Huyền đăng trên Tạp chí Triết học, số 133 (Tháng
6/2002); “Quan điểm duy vật về tự nhiên của Lê Hữu Trác trong bộ “Hải Thượng y
tông tâm lĩnh” ” của tác giả Trần Văn Thụy đăng trên Tạp chí Triết học, số 90
(tháng 4/1996), “Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác” của tác giả Phan Vọng Húc
Trang 10đăng trên Bách Khoa, số 41 (năm 1958)…Các bài nghiên cứu này đã đem lại những
tư liệu có giá trị tham khảo rất phong phú
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã làm sáng tỏ được nhiều nội dung về thân thế, cuộc đời và tư tưởng của Lê Hữu Trác; qua đó các tác giả đã chỉ ra những luận điểm mang tính triết học trong lý luận y học của ông Tuy nhiên,
ở các công trình này mỗi tác giả tập trung bàn về tư tưởng Lê Hữu Trác ở một góc
độ khác nhau do đó các luận điểm trong tư tưởng của Lê Hữu Trác chưa được các tác giả nối kết lại thành một hệ thống chung Vì vậy, để làm nổi bật lên giá trị tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác chúng ta cần phải có được sự kết nối này
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Trình bày tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác theo một hệ thống quan điểm triết học về tự nhiên, con người, đạo đức, nhân sinh; qua đó làm rõ thêm giá trị triết học trong hệ thống lý luận y học của Hải Thượng Lãn Ông
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên luận văn phải giải quyết các vấn đề sau:
- Thứ nhất, phân tích điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề lý luận hình thành nên tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác
- Thứ hai, phân tích nội dung tư tưởng trong tác phẩm của Lê Hữu Trác để chỉ ra giá trị triết học trong tư tưởng của ông
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tư tưởng triết học của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác trong tác phẩm “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” (bản dịch gồm 5 quyển của dịch giả Đinh Thụ Hoàng Văn Hòe, năm 1992 và bản dịch của NXB Y học, năm 2005)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để phục vụ cho việc nghiên cứu, tác giả dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của triết học Mác - Lênin Đồng thời trong quá trình thực hiện, tác giả
Trang 11còn sử dụng một số phương pháp khác như logic - lịch sử, phân tích, tổng hợp để nghiên cứu và trình bày luận văn
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục
vụ công tác nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung và nghiên cứu về tư tưởng của Lê Hữu Trác nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
có 2 chương, 7 tiết
Trang 12Chương 1 ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG LÊ HỮU TRÁC
Tồn tại xã hội và ý thức xã hội là hai phương diện thống nhất biện chứng của đời sống xã hội, trong đó ý thức xã hội bao giờ cũng phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh những đặc điểm xã hội mà từ đó nó nảy sinh Vì vậy, để thấy được quá trình hình thành và đặc điểm tư tưởng của Lê Hữu Trác cần phải phân tích điều kiện kinh
tế - xã hội của thời đại mà ông sinh sống – thời Lê Trung Hưng
1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI THỜI LÊ TRUNG HƯNG
Sau giai đoạn ổn định và phát triển của chế độ phong kiến trung ương tập quyền từ thời Lê Thái Tổ đến Lê Hiến Tông thì chính quyền nhà Lê bắt đầu suy thoái Triều đình phong kiến thống trị trong giai đoạn này tỏ ra không đủ khả năng quản lí kinh tế và tổ chức các công tác xã hội; vua quan lao vào ăn chơi trụy lạc, các phe phái quý tộc và các thế lực quan đại thần tranh giành quyền lực tạo ra một bối cảnh triều chính rối ren Tình hình kinh tế - xã hội Đại Việt bước vào giai đoạn phân liệt: đầu tiên là nội chiến Nam triều – Bắc triều Sau khi nhà Mạc bị lực lượng
họ Trịnh đánh bại thì nhà Lê được thế lực họ Trịnh ủng hộ trở lại ngôi vị, mở ra thời
Lê Trung Hưng với cấu trúc quyền lực theo chế độ “vua Lê – chúa Trịnh” Sau đó Đại Việt lại tiếp tục rơi vào sự phân liệt kinh tế - chính trị với cục diện cát cứ Đàng ngoài, Đàng trong giữa họ Trịnh và họ Nguyễn
Đến thế kỷ XVIII, sự khủng hoảng của của chế độ phong kiến đã trở nên trầm trọng Thời kỳ này được còn được gọi là thời Lê mạt khi mà tính tập quyền của nhà nước phong kiến trung ương ngày càng giảm sút Nguyên nhân gây nên sự khủng hoảng toàn diện về kinh tế - chính trị - xã hội thời kỳ này bắt nguồn từ những điều kiện của nền kinh tế
1.1.1 Điều kiện kinh tế
Tình hình kinh tế Đại Việt thế kỷ XVII - XVIII (trước hết là ở Đàng ngoài) vận động một cách khó khăn trong điều kiện nội chiến phong kiến triền miên và nền sản xuất được tổ chức bằng những chính sách kinh tế bảo thủ của chính quyền Lê –
Trang 13Trịnh Từ đó, đưa đến kết quả tất yếu: nền kinh tế suy thoái, đời sống nhân dân (đặc biệt là nông dân) ngày càng cực khổ
Đặc điểm kinh tế thời kỳ này có thể khái quát trên các phương diện sau:
Thứ nhất, tình hình sản xuất nông nghiệp dựa trên chính sách quân điền
ngày càng suy sụp
Đường lối kinh tế từ thời Lê sơ chủ trương trọng nông vì vậy chính sách
ruộng đất có ý nghĩa rất quan trọng Chính sách ruộng đất của nhà Lê chính là phép
quân điền Chính sách quân điền đã phát huy tác dụng mạnh mẽ trong khoảng cuối
thế kỷ XV và tạo thành cơ sở kinh tế cho sự củng cố của chính quyền trung ương quân chủ tập quyền Phép quân điền thực chất là một chế độ sở hữu kép về ruộng đất Trong đó quyền sở hữu tối cao về ruộng đất thuộc về nhà nước chuyên chế và quyền lực này được thiết lập thông qua các công xã nông thôn ở địa phương, quyền chiếm dụng và phân phối lại ruộng đất được giao về cho các làng xã từng bước biến làng xã thành người quản lý ruộng đất cho nhà nước “Nhưng một khi những quan
hệ sản xuất phong kiến đã được xác lập, chúng không thể giữ nguyên cái khuôn khổ
cũ mà sẽ từng bước phát huy tác dụng, phá vỡ thế lực của chính quyền trung ương cùng với cơ sở kinh tế của nó”[30, tr.40] do đó bắt đầu từ cuối thế kỷ XV, sự phát
triển của chế độ sở hữu và chiếm hữu tư nhân về ruộng đất đã làm cho chính sách
quân điền thất bại trong việc tổ chức nền sản xuất nông nghiệp Tình hình sản xuất
nông nghiệp ngày càng suy sụp do nông dân không đủ ruộng đất khẩu phần để sản xuất trong khi chế độ sưu thuế thì không hề giảm nhẹ
Khuynh hướng phát triển của chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất đã hình thành từ trước đó rất lâu Từ thời Lê Nhân Tông (1443 – 1459) pháp luật nhà Lê đã bắt đầu quy định về việc mua bán, cầm cố và kế thừa ruộng đất; điều này chứng tỏ ruộng đất tư hữu ở thời Lê sơ đã bắt đầu được pháp luật thừa nhận và nó trở thành một bộ phận của chế độ sở hữu ruộng đất mặc dù ruộng tư hữu vẫn chiếm diện tích nhỏ hơn ruộng công Nhưng đến giai đoạn thế kỷ XVII – XVIII sự phát triển của tư
hữu ruộng đất trở nên mạnh mẽ bởi hai tác nhân chính là: Nạn kiêm tinh thổ địa và
chính sách ruộng đất được cải cách không triệt để Biểu hiện rõ nét của sự phát
Trang 14triển chế độ tư hữu ruộng đất trong thời kỳ này là diện tích ruộng đất công để chia cho nông dân sản xuất ngày càng bị thu hẹp
Từ đầu thế kỷ XVI nạn kiêm tinh thổ địa phát triển mạnh Ruộng công ở làng xã dần dần bị bọn cường hào ở địa phương khai báo gian lận, lấn chiếm để biến thành ruộng tư Ở nhiều nơi, ruộng thờ các triều, các công thần triều đại trước, ruộng của các công thần nhà Lê cũng bị lấn chiếm Nạn kiêm tinh thổ địa này làm cho diện tích ruộng đất công ở các địa phương ngày càng bị thu hẹp trong khi ruộng đất tư hữu lại tăng lên đáng kể Cho đến cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII ở Đàng Ngoài đã hình thành hàng loạt địa chủ có trên 100 mẫu ruộng, nhiều người có trên
1000 mẫu; hình thành một số trang trại lớn của các nhà quyền thế Vì vậy mà năm Cảnh Trị thứ 5 (1667), chính quyền Lê – Trịnh ban hành điều lệnh về khai báo ruộng công: “Các huyện xã ở hai xứ Thanh, Nghệ, xã nào có ruộng công mà ngoan
cố không chịu chỉ dẫn để đo đạc không chịu chỉ dẫn khám xét thì cứ theo số ruộng
mà thu tiền thuế cộng thêm tiền phạt nặng” [30, tr 49]; năm Cảnh Trị thứ 8 (1669), chúa Trịnh ban hành lệ “Truyền về việc cày cấy ruộng công” quy định rõ: người được hưởng ruộng phong thưởng chỉ được cày cấy khi được phép và số ruộng đó không được quá 10 mẫu; đối với ruộng thưởng nằm ở làng khác (không phải bản quán của người được hưởng) thì chỉ được thu thuế; năm 1691 nhà nước trung ương
phải ban hành phép Tu tri bạ - đây là một đợt làm sổ ruộng đất làng xã rất quan
trọng nhằm ngăn chặn tình trạng xâm chiếm đất đai ở các địa phương Sự xuất hiện của nhiều chính sách quản lý ruộng đất trong thời kỳ này chứng tỏ sự phát triển của tình trạng tư hữu ruộng đất đã vượt khỏi khả năng kiểm soát của nhà nước
Sự lạm dụng chính sách phong thưởng ruộng đất của triều đình trung ương trở thành một tác nhân nữa khiến tư hữu ruộng đất phát triển mạnh Các chính sách ban thưởng ruộng đất có từ thời Lê sơ như: lộc điền, tế điền, phong nhiêu, phong ấm được thực hiện như một cách để triều đình trung ương duy trì quan hệ lợi ích gắn bó giữa đội ngũ quan liêu, quý tộc với nhà nước quân chủ tập quyền Chính sách ban thưởng này làm cho diện tích ruộng đất công ở các làng xã ngày càng thu hẹp đến mức nhà nước trung ương phải giải quyết vấn đề ban thưởng một cách rất
Trang 15thô thiển: Năm Cảnh Trị thứ 1 (1663) ruộng đất thế nghiệp ban cho công thần Nguyễn Trực được rút xuống còn 96 mẫu so với mức 370 mẫu được ban cách đó 2 năm, 100 mẫu ruộng tế dành thờ phụng công thần Nguyễn Trãi cũng bị rút xuống còn 40 mẫu [30, tr.57] Điều này đã nói lên sự đối phó của chính quyền trung ương trước tình trạng ruộng đất công không còn đủ để đáp ứng cho nhu cầu phong thưởng của nhà nước và nó cho thấy diện tích ruộng đất công đã bị thu hẹp đáng kể
Trước sự phát triển mạnh mẽ của tình trạng tư hữu ruộng đất, nhà nước trung
ương tiến hành cải cách chính sách quân điền vào năm 1711 để tăng cường số
lượng ruộng khẩu phần mà người dân phải cày cấy và nộp thuế - nguồn thu chính của nhà nước từ ruộng đất công Chính sách quân điền năm 1711 xác định lại cách phân chia ruộng đất trong xã hội, cố gắng thu hồi các mảnh ruộng công bị ẩn lậu, bị cầm cố, bán chác, các phần ruộng đất ban cấp theo chế độ phong thưởng được chia bớt lại cho công xã để làm ruộng khẩu phần cho dân đinh các xã, mở rộng thêm các đối tượng dân đinh được chia ruộng công Tuy nhiên, chính sách quân điền lần này lại tăng thêm số phần ruộng được chia cho các hạng quan lại nhà nước và quân sĩ tức lànó “tấn công thêm một bước vào diện tích ruộng đất công còn lại để chia cho nhân dân”[30, 97] Sự sai lầm trong chính sách ruộng đất mới này là việc nhà nước
cho phép người được chia ruộng bán hoặc cầm cố ruộng khẩu phần đã được chia
Điều này lại tạo thêm cơ sở cho sự tấn công của chế độ tư hữu thông qua sự lũng đoạn của thế lực cường hào ở địa phương đối với ruộng đất công Từ đó có thể thấy rằng chính sách quân điền được cải cách về mặt hình thức chứ về bản chất cũng không có gì thay đổi nên chẳng những nó không hạn chế được tư hữu ruộng đất mà còn gây thêm tác động khiến tư hữu phát triển
Để đảm bảo thu nhập cho chính quyền phong kiến, trừ các loại ruộng công thần, ruộng sứ thần, ruộng binh lính thì chúa Trịnh bắt tất cả các loại ruộng đất khác
đều phải nộp thuế Năm 1664, nhà nước ban hành phép bình lệ, giao cho các địa
phương thống kê số đinh, số điền của các xã rồi tính toán tổng số tiền thuế phải nộp cho nhà nước của từng xã; hàng năm nhà nước theo mức đó mà thu thuế không cần biết đến sự thay đổi về dân đinh hay diện tích ruộng đất phải chịu thuế Kết quả là
Trang 16cuộc sống của người nông dân càng khó khăn thêm bởi diện tích ruộng khẩu phần chia cho người dân ngày càng ít đi nhưng sự ràng buộc về sưu thuế, lao dịch của nhà nước trung ương đối với họ không hề giảm nhẹ Người nông dân buộc phải cày cấy một ít ruộng công khẩu phần để gánh chịu mọi nghĩa vụ đối với nhà nước
Mâu thuẫn giữa xu hướng đang lên của quan hệ tư hữu về tư liệu sản xuất với chính sách kinh tế bảo thủ của nhà nước - cố gắng duy trì quan hệ sản xuất công
xã không được giải quyết triệt để đã tạo ra những hệ quả xã hội trầm trọng: đói kém thường xuyên xảy ra, nông dân thiếu đất để sản xuất mà chế độ tô thuế thì nặng nề nên họ bỏ đi phiêu tán, làng mạc tiêu điều, đất đai bỏ hoang Năm 1741, hơn 1/3 tổng số làng xã ở Đàng ngoài người dân bỏ đi phiêu tán Đời sống nhân dân đói khổ, cơ cực: “Dân gian bỏ cả cấy cày, các thứ tích trữ ở xóm làng hầu như hết sạch Dân phiêu tán dắt díu nhau đi kiếm ăn đầy đường Giá gạo cao vọt, một trăm đồng không được một bữa no Nhân dân phần nhiều phải ăn rau, ăn củ, đến nỗi ăn cả thịt rắn, thịt chuột, chết đói chồng chất lên nhau làng nào vốn có tiếng trù mật cũng chỉ còn lại độ 5 – 3 hộ mà thôi” [29, tr.399]
Thêm vào đó, nhà nước trung ương bất lực trong việc quản lý và bảo vệ các công trình thủy lợi, khuyến nông; công tác này bỏ mặc cho quan lại địa phương thu tiền của dân, thuê người làm Nạn tham ô, vơ vét của công trong đội ngũ quan lại địa phương khiến cho đê điều không đảm bảo chất lượng Do đó, vào những năm cuối thế kỷ XVII tình trạng vỡ đê, lụt lội mất mùa liên tục xảy ra khiến đời sống nhân dân càng thêm cơ cực Theo thống kê của tác giả Trương Hữu Quýnh thì từ năm 1680 – 1740 đã xảy ra 24 lần thiên tai, trong đó có 14 nạn đói lớn, 7 lần thủy tai [29, tr.356]
Như vậy, sự phát triển của tình trạng tư hữu ruộng đất trong thời kỳ này đã làm cho chính sách quân điền – đường lối kinh tế cơ bản và quan trọng của nhà Lê
bị mất tác dụng Phương thức sản xuất theo kiểu công xã nông thôn bị phá vỡ, tính
tư nhân trong quan hệ sản xuất ở các làng xã phát triển mạnh Điều này dẫn đến sự cát cứ của các thế lực phong kiến ở địa phương, thoát ly dần sự quản lý của nhà nước làm cho tính tập quyền của nhà nước quân chủ bị suy yếu
Trang 17Thứ hai, sản xuất thủ công nghiệp và thương nghiệp bị kìm hãm
Trong các thế kỷ XVI, XVII và những thập niên đầu của thế kỷ XVIII, ở châu Âu thời kỳ này chủ nghĩa trọng thương phát triển mạnh mẽ nên một nền thương mại quốc tế xuyên đại dương đã hình thành Ở Trung Quốc, nhà Minh đã
ban hành chính sách bế môn toả cảng từ năm Hồng Vũ thứ 4 (1371), nghiêm cấm
người Hoa giao thương hàng hải với các nước khác Lệnh cấm này đã khiến cho một số mặt hàng thông thương truyền thống giữa Trung Hoa và Nhật Bản như tơ lụa, gốm sứ bị cấm vận [71] Những điều kiện kinh tế thế giới và khu vực đã tạo nên cơ hội cho ngoại thương Đại Việt phát triển
Khi quan hệ giao thương giữa Đại Việt và các thương nhân nước ngoài được
mở ra thì nhu cầu về hàng hóa thủ công tăng lên mạnh mẽ Điều này cũng mở ra cơ hội cho người nông dân chuyển hướng sản xuất sang thủ công nghiệp để kiếm sống bởi lẽ khi nền sản xuất nông nghiệp không đủ sức để nuôi sống người nông dân, để bảo vệ và duy trì cuộc sống cho mình họ phải không ngừng lao động sáng tạo Họ làm thêm các nghề thủ công hoặc buôn bán nhỏ để kiếm tiền mua lương thực, bù vào chỗ thiếu hụt trong sản xuất nông nghiệp
Ở các địa phương nhiều làng nghề thủ công được hình thành như: nghề rèn, nghề mộc, thợ nề, nghề dệt lụa, kéo tơ, nghề chạm trổ, nghề làm đồ gốm, làm giấy, nghề in bản gỗ Hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa trong nước có bước phát triển mới Hầu như mỗi làng đều có chợ hoặc các cụm làng chia phiên trong tuần để họp chợ Mỗi huyện có khoảng 16 – 22 chợ làng, chợ chùa, chợ huyện, các làng nghề thủ công như Vân Chàng, Xuân Cầu, Thổ Hà đều có chợ riêng [29, tr.372]
Về ngoại thương, các đô thị chuyên buôn bán với thương nhân Bồ Đào Nha, Hà Lan, Nhật Bản bắt đầu phồn thịnh, tiêu biểu như các đô thị Kẻ Chợ (hay còn gọi là Kinh kỳ), Phố Hiến
Nếu như ở thời Lê Thánh Tông chủ trương “bế quan tỏa cảng” với ngoại thương để tránh âm mưu dò xét tình hình trong nước của ngoại bang và trọng nông – cơ sở kinh tế chính của nhà nước tập quyền thì đến giai đoạn này, với sự sa sút trong tình hình nông nghiệp, tô thuế từ ruộng đất của các làng xã bị hạn chế thì sự
Trang 18phát triển của thương nghiệp đã trở thành nguồn bổ sung thu nhập từ thuế khóa cho nhà nước phong kiến, như chúa Trịnh đã nhận xét “sau cơn binh lửa, tài lực của dân thiếu thốn, chỉ còn trông vào các nhà giàu buôn bán chuyển vận từ chỗ có đến chỗ không” [29, tr 373] Chính vì vậy, nhà nước phong kiến tăng cường sự bóc lột tầng
lớp thợ thủ công và thương nhân bằng chính sách thuế khóa (gọi là thuế thổ sản)
Điều này làm cho sự phát triển kinh tế hàng hóa bị ức chế Năm 1724, để có tiền giải quyết các khó khăn của chính quyền trung ương, phủ Chúa cho “xét biên trong dân gian ai có nghề gì cũng phải nộp thuế” Kết quả là: “vì sự trưng thu quá mức, vật lực kiệt đến nỗi người ta thành ra bần cùng và phải bỏ nghề nghiệp Có người vì thuế sơn sống mà phải chặt cây sơn, vì thuế vải lụa mà phải phá khung cửi, cũng có
kẻ vì phải nộp gỗ mà bỏ cả rìu búa, vì phải nộp cá tôm mà xé lưới chài, vì phải nộp bông chè mà bỏ hoang vườn tược Làng xóm náo động” [29, tr.399] Ngoài ra, sự độc quyền của nhà nước trong việc tập trung hàng hóa do các phường hội sản xuất
để bán cho thương nhân nước ngoài, sự nhũng nhiễu, cướp đoạt tùy tiện của đội ngũ quan lại phụ trách thuế quan, tàu vụ đã vắt kiệt sức sản xuất của nhân dân, nó kìm hãm sự phát triển của thương nghiệp [29, tr.379]
Từ đó có thể thấy, trong khi cơ sở kinh tế chính của xã hội là sản xuất nông nghiệp ở các làng xã đã suy sụp, chính quyền Lê – Trịnh đã không cải cách được tình hình này Đến khi nền kinh tế có xu hướng vận động chuyển sang công thương nghiệp thì lại bị chính sách thuế khóa ức chế Do đó, sự chuyển biến kinh tế từ nền kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa ở Đại Việt thời kỳ này diễn ra hết sức chậm chạp Nền kinh tế không thể chuyển mình, đời sống nhân dân vẫn không được cải thiện đáng kể
Sự phát triển của thương nghiệp đã làm cho quan hệ hàng hóa – tiền tệ trở nên phổ biến trong xã hội đương thời Nhà nước phong kiến cũng bắt đầu thay thế một phần hoặc toàn bộ thuế ruộng từ hình thức thu thuế hiện vật (đóng bằng thóc) sang thu thuế tiền Theo lệ thời bấy giờ, công điền, công thổ là loại ruộng đất phải chịu thuế, chia làm 3 hạng: hạng nhất, mỗi mẫu đóng 1 quan, hạng nhì đóng 8 tiền, hạng ba đóng 6 tiền [29, tr.358] Quan hệ tiền tệ đã len lỏi cả vào quan trường và
Trang 19khoa cử Chúa Trịnh thực hiện việc cho dân nộp thóc hoặc tiền để được bổ dụng tri phủ, tri huyện; như sử cũ nhận định: “Bấy giờ quan chức nhũng lạm, phức tạp, một lúc cất nhắc bổ dụng đến hơn 1000 người, làm quan cầu may, viên chức thừa thãi, không còn phân biệt gì cả” [29, tr.346] Việc nhũng nhiễu nhân dân để đòi tiền bạc
từ các vụ xử kiện biến thành giá trị chủ yếu của các chức quan phủ, quan huyện mà nhà nước đem bán Điều này tác động đáng kể đến đời sống xã hội, nó làm đảo lộn các giá trị đạo đức truyền thống theo quan điểm Nho giáo thời bấy giờ Chẳng hạn, theo nhận xét của Lê Quý Đôn thì đây là thời kỳ mà sĩ hỏng nát không thời nào bằng, nhân cách của họ sa đọa, không còn nghĩ đến nước, đến dân chỉ biết luồn cúi, bon chen vì lợi danh [6, tr 316]
Từ các vấn đề nêu trên, có thể khái quát lại: chính sự khủng hoảng từ nền sản xuất đã dẫn đến sự khủng hoảng của tình hình chính trị - xã hội Đại Việt thế kỷ XVII – XVIII Mâu thuẫn kinh tế cơ bản của thời kỳ này là mâu thuẫn giữa quan hệ
tư hữu về tư liệu sản xuất đang trên đà phát triển với chính sách kinh tế bảo thủ của nhà nước trung ương Mâu thuẫn kinh tế này không được giải quyết hợp quy luật vận động của nền sản xuất nên nó khiến cho sức sản xuất trong nhân dân bị kìm hãm, lực lượng sản xuất không phát triển được Nền sản xuất lâm vào trạng thái trì trệ
Điều kiện kinh tế này đã tạo ra mâu thuẫn trong quan hệ sản xuất, biểu hiện
về mặt xã hội thành hai mâu thuẫn cơ bản: Một là, sự phát triển của quan hệ tư hữu
về tư liệu sản xuất đã tạo nên xu hướng nâng cao quyền hành cá nhân của các thế lực phong kiến địa phương, điều này dẫn đến sự suy yếu của chính quyền trung ương Khi xu hướng cát cứ hình thành thì tất yếu sẽ đưa đến sự tranh chấp lợi ích và quyền hành giữa các thế lực phong kiến với nhau Từ đó gây ra mâu thuẫn trong nội bộ giai
cấp thống trị, gây ra xung đột về mặt chính trị Hai là, mâu thuẫn này biểu hiện thành
mâu thuẫn giữa người nông dân và giai cấp phong kiến thống trị Khi mâu thuẫn kinh
tế lên đến đỉnh cao, các cuộc khởi nghĩa của người nông dân tất yếu nổ ra
1.1.2 Điều kiện chính trị - xã hội
Xét theo quan điểm duy vật lịch sử, trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội thì
cơ sở kinh tế giữ vai trò quyết định đối với đời sống chính trị - xã hội Vì vậy một
Trang 20khi cơ sở kinh tế thay đổi nó sẽ tạo nên những chuyển biến trong đời sống xã hội, như C.Mác đã nhận định “Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng” [3, tr.15]
Bắt đầu vào khoảng cuối thế kỷ XV, từ những thay đổi trong quan hệ sản xuất của xã hội Đại Việt đã đưa đến nhiều biến đổi trong đời sống chính trị - xã hội thời kỳ sau đó Biến động chính trị - xã hội cuối thời Lê đã tạo nên một bối cảnh xã hội rối ren, bất ổn Có thể khái quát diễn biến chính trị - xã hội của giai đoạn lịch sử đặc biệt này qua các điểm sau đây:
Thứ nhất, sự tranh giành quyền lực của các phe phái phong kiến
Ở triều đại của Lê Thánh Tông chính sách độc tôn Nho giáo với nguyên tắc
đề cao lễ pháp, coi trọng đẳng cấp, tôn ty trật tự xã hội đã đem lại hiệu quả tích cực cho sự nghiệp củng cố sức mạnh tập quyền của nhà nước trung ương Theo thuyết
“chính danh” của Khổng Tử, mọi việc chính trị hay hoặc dở đều do người cầm quyền, vì thế người người trên phải giữ cho mình ngay chính và làm việc gì cũng cần phải giữ chính danh Một khi danh phận đã định rõ thì thì người nào có vị trí chính đáng của người đó, vua – tôi trật tự phân minh
Tuy nhiên, từ thế kỷ XVI thì mối quan hệ quân – thần, nhà nước và nhân dân
không còn được giữ đúng theo trật tự của chính danh nữa: về phía triều đình nhà Lê
sự chia rẽ sâu sắc xảy ra ngay trong hoàng tộc Năm 1504, Lê Hiến Tông “vì ham
nữ sắc quá nhiều” chết sớm Lê Uy Mục được tôn lên làm vua nhưng sao nhãng việc triều chính, “đêm cùng cung nhân uống rượu vô độ, ai say thì giết”, tính tình hung hãn, giết hại các công thần, tôn thất có ý không ủng hộ mình Uy Mục tàn bạo đến nỗi một sứ thần Trung Quốc đã phải gọi y là “vua quỷ”[29, tr.338] Uy Mục làm vua được 5 năm thì người trong hoàng tộc đã hợp quân giết Uy Mục, lập vua mới là Tương Dực Lê Tương Dực lên ngôi cũng sa đọa không kém Uy Mục, y lại
“hoang dâm vô độ”, về điều này một sứ thần Trung Quốc nhận xét: “nhà vua tính hiếu dâm như tướng lợn, loạn vong không còn lâu nữa”[29, tr.338] Các quan đại thần trong triều như Trịnh Duy Sản, Lê Quảng Độ lập mưu giết Tương Dực (năm 1516) rồi lập vua Quảng Trị mới 8 tuổi lên ngôi để dễ bề thao túng Quần thần nhà
Trang 21Lê lại giết Quảng Trị và thay bằng vua Lê Chiêu Tông mới 11 tuổi [57, tr.169] Vua
Lê trên thực tế đã trở thành con rối trong tay các thế lực quý tộc và quan đại thần trong triều đình Đạo lý quân – thần của Nho giáo bị vi phạm nghiêm trọng, điều này cũng chứng tỏ sự bạc nhược về quyền lực của nhà nước phong kiến trung ương Mặt khác, sự tha hóa nhân cách, đạo đức và bất tài của những người mang danh
“thiên tử” như Lê Uy Mục, Lê Tương Dực đã khiến cho vị thế của vua bị xem thường, các quan đại thần thừa thế lũng đoạn quyền hành Theo nhận xét của tác giả Nguyễn Hoài Văn thì: “Sự thất đức của những ông vua như Uy Mục, Tương Dực cũng như sự nhu nhược, bất tài của Chiêu Tông đã chứng tỏ rằng các tín điều của Nho giáo đã bị chính các con cháu của nhà vua thời Hồng Đức vi phạm một cách nghiêm trọng” [57, tr.171] Nội bộ hoàng tộc chia rẽ sâu sắc, quyền hành của triều đình bị các thế lực quan đại thần thao túng Điều này tất yếu tạo nên mâu thuẫn quyền lực trong nội bộ giai cấp thống trị mà cụ thể là giữa các thế lực phong kiến với nhau
Trong lúc chính quyền trung ương sa đọa thì các thế lực phong kiến ngày càng mạnh lên, sự tranh chấp trong triều là điều kiện cho họ vùng dậy Thế lực các quan đại thần như Nguyễn Văn Lang, nhóm hoạn quan Nguyễn Khắc Hài, các võ tướng như Trịnh Duy Sản, Nguyễn Hoằng Dụ, Mạc Đăng Dung lũng đoạn quyền hành, xung đột và tiến hành thanh toán lẫn nhau, vua Lê lúc bấy giờ chỉ như một chiêu bài để các thế lực này nhân danh mà làm loạn Năm 1522, Mạc Đăng Dung đánh bại các thế lực khác và cướp ngôi vua Lê, lập ra nhà Mạc Mâu thuẫn lại nảy sinh giữa chính quyền nhà Mạc và các thế lực quan lại cũ của nhà Lê như Lê Ý, Lê Công Uyên Năm 1532, An Thành hầu Nguyễn Kim (con của quan đại thần Nguyễn Hoằng Dụ) đã tôn một người con của Chiêu Tông lên làm vua nhằm lập ra một triều đình nhà Lê ở Thanh Hóa (gọi là Nam triều) Sự phân liệt và chiến tranh Nam – Bắc triều bùng nổ
Sau khi Nguyễn Kim bị đầu độc chết Con rể của Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm nắm giữ binh quyền và tiếp tục tấn công nhà Mạc với khẩu hiệu “Phù Lê diệt Mạc”
Trang 22Đến năm 1592, Trịnh Tùng (con trai Trịnh Kiểm) tiêu diệt nhà Mạc, trung hưng nhà
Lê nhưng lại mở ra chế độ lưỡng phân về quyền lực là: chế độ vua Lê – chúa Trịnh
Tình trạng Nam – Bắc triều chấm dứt chưa được bao lâu thì mâu thuẫn giữa hai dòng họ công thần là Trịnh và Nguyễn lại xuất hiện Trước sự chuyên chế của thế lực họ Trịnh, họ Nguyễn tìm cách bảo toàn lợi ích và tránh nguy hiểm bằng cách thoát ly dần ảnh hưởng của họ Trịnh Sau khi vào trấn thủ đất Thuận Hóa, họ Nguyễn đã âm thầm xây dựng cơ sở kinh tế và tổ chức quân đội của mình để chuẩn
bị thành lập một chính quyền riêng Năm 1627, cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn bắt đầu, trong nửa thế kỷ hai bên đánh nhau 7 lần Cuối cùng, năm 1672, hai bên đều tổn thất khá nặng nề nên quyết định ngừng chiến, lấy sông Gianh làm giới tuyến chia cắt lãnh thổ của đôi bên Kết quả của cuộc chiến giữa hai thế lực phong kiến lớn thời đó là họ Trịnh – họ Nguyễn đã tạo nên sự phân liệt đất nước thành Đàng Ngoài và Đàng Trong
Như vậy, từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, giai cấp phong kiến thống trị tìm cách giải quyết mâu thuẫn nội bộ bằng các cuộc chiến tranh phong kiến đã liên tục
nổ ra và kéo dài trên dưới 150 năm Mâu thuẫn nội bộ của giai cấp phong kiến thống trị vẫn chưa giải quyết được triệt để thì mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và nhân dân lại nổ ra Những cuộc nội chiến này đã gây ra hậu quả nặng nề cho xã hội: chính quyền trung ương buông lơi trách nhiệm tổ chức sản xuất, quản lý nền kinh tế nên các thế lực phong kiến địa phương mặc sức hoành hành, người nông dân mất đất đai khiến đời sống của họ trở nên cơ cực Công tác trị thủy bị lãng quên nên lụt lội, mất mùa thường xuyên xảy ra khiến dịch bệnh tràn lan, nông dân chết đói rất nhiều Ngoài ra, nội chiến phong kiến khiến xã hội luôn náo loạn, đời sống nhân dân phiêu tán Nền sản xuất vì thế càng đình đốn Tình hình này đã khiến cho nhân dân mất lòng tin với triều đình, mâu thuẫn giữa nhân dân và giai cấp thống trị càng trở nên gay gắt và tất yếu sẽ dẫn đến những cuộc nổi dậy của nông dân
Thứ hai, các cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra thường xuyên
Từ cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII nhiều cuộc nổi dậy của nông dân đã
nổ ra ở nhiều nơi tại miền xuôi cũng như miền núi, đến khoảng chục năm đầu thế kỷ
Trang 23XVIII, nền sản xuất nông nghiệp của Đàng Ngoài khủng hoảng trầm trọng, chính quyền Lê – Trịnh không giải quyết nổi khó khăn của tình hình ruộng đất Vì thế đời sống người nông dân ngày một khó khăn hơn, trong khi đó chính sách sưu thuế, lao dịch đè nặng lên cuộc sống của họ Do đó, đến thế kỷ XVIII các cuộc nổi dậy của nông dân lan rộng và nổ ra liên tiếp khắp Đàng Ngoài Từ cuối năm 1739, phong trào nông dân khởi nghĩa ở Đàng Ngoài bước vào giai đoạn cao trào Hàng loạt cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình bùng lên ở nhiều nơi, tập trung nhất là ở Hải Dương, Sơn Nam (Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình ngày nay) là những nơi bị nạn đói tàn phá dữ dội nhất Các cuộc khởi nghĩa qui mô lớn và diễn ra liên tục đến những thập niên 60, 70 của thế kỷ XVIII tiêu biểu như: khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Hoàng Công Chất, Nguyễn Danh Phương, Nguyễn Hữu Cầu,
Lê Duy Mật đã khiến cho chính quyền của chúa Trịnh phải lao đao, hao tổn rất nhiều binh lực mới dập tắt được các cuộc khởi nghĩa Trong đó, cuộc khởi nghĩa kéo dài nhất của phong trào nông dân thế kỷ XVIII là của hoàng thân Lê Duy Mật (diễn ra trong suốt 32 năm) Với sự bùng nổ dữ dội và kéo dài của phong trào nông dân như vậy nên thế kỷ XVIII vẫn được các nhà sử học đánh giá là “thế kỷ của nông dân khởi nghĩa”[23, tr.183]
Vì tính tự phát, phân tán của các cuộc khởi nghĩa, vì mục tiêu đấu tranh còn khá thiển cận (thỏa mãn lợi ích kinh tế trước mắt, trút xả oán hờn với giai cấp thống trị là chính) và hơn cả là thiếu đường lối đấu tranh đúng đắn nên phong trào đấu tranh của nông dân ở Đàng Ngoài trong thế kỷ XVIII dù có phát triển lớn mạnh vẫn không thể tạo nên một cuộc cách mạng xã hội Mặc dù vậy, phong trào nông dân ở Đàng Ngoài đã tạo nên một tiền đề xã hội quan trọng để phong trào nông dân Tây Sơn ở Đàng Trong sau đó có thể phát triển thành một cuộc đấu tranh quy mô lớn của nông dân trên phạm vi cả nước
Từ phong trào nông dân ở Đàng Ngoài thế kỷ XVIII, có thể nhận thấy một điểm đáng chú ý đó là: đa số các thủ lĩnh nghĩa quân đều thuộc tầng lớp Nho sĩ bất mãn hoặc quý tộc họ Lê và các quan lại cấp thấp bị đè nén Chẳng hạn như: Nguyễn Tuyển vốn là một trí thức Nho học từng làm một viên quan nhỏ ở kinh thành,
Trang 24Nguyễn Danh Phương cũng là một trí thức Nho học, Lê Duy Mật là một hoàng thân (con vua Lê Dụ Tông) Điều này cho thấy: từ tình hình chính trị - xã hội của Đàng Ngoài vào thế kỷ XVIII đã suy thoái nghiêm trọng; triều đình bạc nhược, quan lại lộng hành, chế độ khoa cử thối nát và sự lũng đoạn của đồng tiền đã gạt một phần đông đảo các sĩ phu chân chính ra khỏi lý tưởng “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, làm lung lay ý thức “tôn quân quyền” trong họ Họ trở thành một lớp người thất cơ
lỡ vận, sống bất đắc chí Chính vì vậy, họ có xu hướng đứng về phía nông dân – đại biểu cho lợi ích xã hội để đấu tranh chống lại giai cấp thống trị, khi trở thành thủ lĩnh của phong trào nông dân họ khai thác sức mạnh của lực lượng xã hội này để thực hiện lý tưởng của mình Như vậy, trong phong trào nông dân của thế kỷ XVIII phản ánh đồng thời hai mâu thuẫn xã hội: trước hết là mâu thuẫn kinh tế giữa người nông dân với giai cấp thống trị, ẩn sâu trong đó là mâu thuẫn về lý tưởng xã hội giữa tầng lớp kẻ sĩ thất thế với bộ máy quan liêu lộng quyền và triều đình bạc nhược
Thứ ba, sự chuyển biến trong lĩnh vực tư tưởng
Trong thời kỳ Hồng Đức vàng son của nhà Lê, Nho giáo đã được Lê Thánh Tông sử dụng triệt để với tư cách là một học thuyết chính trị để bảo vệ cho chế độ quân chủ tập quyền, Nho giáo không những được coi là hệ tư tưởng chính thống của toàn xã hội mà nó còn được thể chế hóa thành pháp luật (tiêu biểu nhất cho việc thể
chế hóa Nho giáo là sự ra đời của Bộ luật Hồng Đức) Nho giáo đã trở thành bệ đỡ
về mặt ý thức xã hội, là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống chính quyền thời Lê Thánh Tông
Đến thời Lê Trung Hưng, nối tiếp tinh thần của thế kỷ XV, giai cấp thống trị
ở các thế kỷ XVI – XVIII ở Đàng Ngoài cũng như ở Đàng Trong, tuy mức độ khác nhau, đều xem Nho giáo là nền tảng tư tưởng của mọi thiết chế chính trị xã hội, Nho giáo vẫn là khuôn mẫu, là nội dung chủ yếu của giáo dục, thi cử Tuy nhiên, đến giai đoạn này thì ảnh hưởng của Nho giáo trong ý thức của giai cấp thống trị không còn mạnh mẽ nữa Biểu hiện về sự suy vi của Nho giáo là tư tưởng “trung quân”, ý thức “tôn quân quyền” và chuẩn mực của thuyết “chính danh” bị vi phạm nghiêm trọng, việc lật đổ nhà Lê của Mạc Đăng Dung hay hình thức lưỡng đầu chế về
Trang 25quyền lực nhà nước của chế độ vua Lê – chúa Trịnh là những biểu hiện rõ nét cho
sự vi phạm đạo Quân – Thần
Mặc dù Nho giáo không còn phát huy mạnh mẽ vai trò của nó trong việc ổn định xã hội, các huấn điều của Nho giáo bị vi phạm nên Nho giáo đã mất dần tính thuyết phục của nó, nhưng trong thế kỷ XVI – XVIII Nho giáo vẫn được xã hội chấp nhận là vì tại thời điểm đó trong tồn tại xã hội của Đại Việt về mặt kinh tế vẫn
là một nền kinh tế tiểu nông, về mặt kết cấu giai cấp – xã hội vẫn chưa có một lực lượng xã hội mới nào xuất hiện Chính vì lẽ đó, chưa có một học thuyết mới nào khác hơn Nho giáo để tổ chức xã hội, dù là nhà Mạc, là chính quyền Lê – Trịnh ở Đàng ngoài hay là chính quyền họ Nguyễn ở Đàng trong sau khi đã vi phạm Nho giáo để tranh đoạt quyền lực thì cuối cùng vẫn phải dựa vào Nho giáo để bảo vệ quyền lực và tổ chức chính quyền của mình
Như vậy, trong thời Lê Trung Hưng Nho giáo vẫn được xem là hệ tư tưởng chính thống nhưng nó đã không được sử dụng một cách chân chính để phát huy những mặt tích cực trong việc ổn định xã hội Trái lại, giai cấp thống trị ở Đàng ngoài đã dùng Nho giáo để dựng lên chiêu bài “tôn phù Lê thất” ngụy trang cho sự lộng quyền với chế độ vua Lê – chúa Trịnh nhằm tránh được sự phản đối của xã hội
Chính vì Nho giáo chỉ được sử dụng một cách hình thức nên giá trị tư tưởng của Nho giáo bị xem nhẹ, việc giáo dục Nho giáo trong xã hội cũng mang tính sáo rỗng Ở Đàng Ngoài, nhà Lê – Trịnh vẫn mở đều các khoa thi nhưng chất lượng ngày càng sa sút Nếu như ở thời Lê sơ phương pháp giáo dục theo lối “văn bát cổ” đòi hỏi tầng lớp sĩ phu khả năng thuộc lòng tất cả các kinh sách trong chương trình
cử nghiệp thì đến thời chúa Trịnh, sĩ tử chỉ cần học thuộc lòng một ít bài vở sáo rỗng, Nhà nước lại thả lỏng cho các quan chấm thi ở trường thi Hương soạn sẵn 4 –
5 đề thi, ra đi ra lại, các thầy đồ giỏi nhân đó soạn sẵn bài đem bán mà quan trường thì cứ theo văn lấy đỗ, “trùng kiến cũng mặc” [29, 384] Chúa Trịnh còn sai Bùi
Huy Bích soạn những sách Ngũ kinh, Tứ thư và Tính lý toát yếu để thay cho những
sách đại toàn thời Lê sơ, các bộ Tứ thư, Ngũ kinh này là dạng sách tóm tắt, những
Trang 26người đi thi chỉ cần học thuộc lòng là đủ Ngoài ra còn nảy sinh tệ gửi gắm, cậy thế gia đình của con cháu các quan (được gọi là “thế gia tử đệ”), những đối tượng này thì không cần học cũng thi đậu vì khảo quan đều là thân thích của họ, theo “Lịch triều hiến chương loại chí” thì năm 1741 những kẻ nhờ thế và nhờ của mà thi đậu chiếm đến phân nửa số lượng người tham gia vào khoa cử “Cửa Khổng sân Trình” không còn là nơi tuyển chọn nhân tài cho đất nước mà bị biến thành nơi mua bán, đổi chác để trục lợi, về điều này tác giả Trần Trọng Kim đã nhận xét: “Đời Cảnh Hưng nhà nước thiếu tiền nên đặt ra lệ thu tiền thông kinh, hễ ai nộp ra ba quan tiền thì được đi thi mà không phải khảo hạch: người làm ruộng, người bán thịt cũng nộp tiền để giành quyền vào thi, đông đúc tranh nhau vào trường, thuê người làm bài, xéo đạp lên nhau, có người chết ” [19, tr.94]
Trước bối cảnh xã hội như vậy, đa phần các Nho sĩ chân chính đều có phản ứng tâm lý giống nhau đó là: ưu thời mẫn thế Cái lý tưởng về một mô hình xã hội
có tôn ty trật tự, vua hiền - tôi trung, người người hòa hiếu dường như bị sụp đổ ngay trong thời kỳ mà Nho giáo vẫn được coi là khuôn mẫu tư tưởng trong xã hội
Vì vậy, trong giai đoạn lịch sử từ thế kỷ XVI - XVIII, đã có nhiều bậc danh Nho như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Sỹ, Nguyễn Thiếp (La Sơn phu tử) đã từ quan
về ở ẩn để nghiền ngẫm thời cuộc, giải tỏa sự bất đắc chí của mình bằng triết lý “Vô vi” của Đạo giáo hoặc triết lý “Không” của Phật giáo Điều này tạo nên một sự chuyển biến có tính hội nhập giữa Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo, về điều này tác giả Nguyễn Kim Sơn nhận xét: “Sự mở rộng từ chuẩn mực tu dưỡng lý tính, đạo lý, khuôn mẫu, hiện thực của Nho gia sang tiêu dao, tự do, theo mô thức Lão - Trang
đã phần nào đạt tới sự thỏa mãn Sự siêu thoát tĩnh, tịnh của Phật giáo cũng đã có thể bổ sung cho những nhu cầu thoát khỏi ràng buộc của nhân tình hiện thực và những bi kịch của nhà Nho nảy sinh trong trường chính trị cùng các mâu thuẫn không thể giải quyết trong nội bộ tư tưởng của nho sĩ Đây là một lý do quan trọng khiến Nho sĩ thế kỷ XVIII chủ động hội nhập Tam giáo” [72] Từ đó có thể thấy, sự hội nhập tư tưởng giữa Nho, Phật, Lão trong thời kỳ này không phải là sự phủ nhận giá trị của Nho giáo mà là một sự bổ sung cho triết lý xã hội của Nho giáo nhằm
Trang 27hướng đến một phương thức mới để giải quyết thực trạng xã hội thông qua giáo dục nhân tâm hướng đến điều thiện
Bên cạnh đó, sự suy thoái của Nho giáo và của giáo dục thi cử đã kéo theo một sự chuyển biến của văn học chữ Hán Nhiều nhà Nho giỏi đã bất mãn với chính quyền và bộ máy quan lại đương thời đã từ bỏ con đường công danh về với nhân dân, tìm hiểu thế sự, họ sáng tác thơ văn để bày tỏ nỗi lòng của mình Do đó, thơ văn của các Nho sĩ thời kỳ này thường hướng đến chủ đề tự sự
Điểm đáng chú ý trong đời sống văn hóa Đại Việt thế kỷ XVIII là chủ nghĩa nhân đạo Cuộc sống cơ cực về mặt kinh tế, chiến tranh phong kiến, sự ràng buộc
của lễ giáo Nho gia, sự bất công của xã hội phong kiến về quyền con người (nhất là
sự bất công đối với thân phận của người phụ nữ) đã hình thành nên trào lưu tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa trong thơ văn thời kỳ này mà nội dung cơ bản của nó là:
tư tưởng phản kháng lại trật tự xã hội, đòi quyền bình đẳng cho con người, thể hiện
ý thức cá nhân, khát vọng tự do và giải phóng con người trong văn học (văn học chữ Hán, chữ Nôm lẫn văn học dân gian) “Truyện Kiều” của Nguyễn Du là một trong những tác phẩm phản ánh rõ nét tinh thần nhân đạo chủ nghĩa này
Tóm lại, trong thời Lê Trung Hưng, mặc dù Nho giáo vẫn được coi là hệ tư tưởng chính thống của giai cấp thống trị nhưng trước thực trạng xã hội đầy mâu thuẫn và biến động như vậy đã chứng tỏ Nho giáo – với tư cách là một học thuyết chính trị - không còn đủ sức để bảo vệ cho chế độ trung ương tập quyền, các huấn điều của nó không còn đủ sức thuyết phục đối với xã hội Sự lu mờ các giá trị của Nho giáo tạo nên một nỗi bất đắc chí đối với các trí thức Nho học, và để giải tỏa nỗi
“ưu thời mẫn thế” của mình họ tìm đến những lẽ sống khác (có thể thiên về hành động hoặc không hành động) để giữ vững khí tiết thanh cao của người Nho sĩ Cuộc đời và sự nghiệp y học của Lê Hữu Trác cũng không nằm ngoài xu hướng này
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRIẾT HỌC VÀ Y HỌC
“Hải Thượng y tông tâm lĩnh” là bộ toàn thư của y học cổ truyền Việt Nam Với tâm niệm “Cắt chén thuốc chỉ chữa được một người, lập phương thuốc mới chữa được nhiều người nhưng một lời nói sai lầm thì di họa không ít” [49, tr.18], vì
Trang 28vậy trong tác phẩm của mình, Lãn Ông rất cẩn trọng trong việc trước thuật Ông đã chọn lọc và hệ thống hóa những tri thức khoa học của đời trước như là cơ sở lý luận cho y học nhờ đó các luận điểm y học của Lãn Ông có một chiều sâu tri thức và tính thuyết phục đáng trân trọng Ông đã xây dựng tác phẩm của mình trở thành một thể thống nhất hữu cơ giữa triết học và y học
Theo quan điểm duy vật lịch sử thì ý thức xã hội luôn có tính kế thừa và phát triển, bất kỳ tư tưởng nào khi phản ánh tồn tại xã hội đương thời thì đồng thời nó cũng kế thừa những học thuyết, những tư tưởng, quan điểm đã có trước đó, nó không xuất hiện trên mảnh đất trống không Vì vậy, để tìm hiểu tư tưởng triết học của Lãn Ông - Lê Hữu Trác thì không thể không khái quát các tiền đề lý luận có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của ông Tính chất triết học y học trong tác phẩm “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” được tạo nên từ hai tiền đề lý luận rất quan trọng sau đây:
1.2.1 Học thuyết Âm dương – Ngũ hành
Cơ sở lý thuyết nền tảng và quan trọng của nền y học cổ truyền là thuyết Âm dương – Ngũ hành Quan niệm về Âm dương là những tư tưởng triết học để lý giải nguồn gốc biến hóa của vạn vật, nó được vận dụng trong nhiều lĩnh vực như thiên văn, lịch toán, quân sự, y học Thuyết Âm dương là nền tảng của Kinh Dịch, Dịch học áp dụng vào y học được gọi là Y Dịch Bên cạnh đó, lý luận Đông y còn được xây dựng trên cơ sở quan niệm về Ngũ hành Học thuyết Ngũ hành giải thích các yếu tố cấu thành của vũ trụ và quy luật tương sinh, tương khắc để lý giải cơ chế vận động của thế giới vật chất Sự đề cập đầu tiên về Ngũ hành được thấy trong tác phẩm Kinh thư ở chương "Hồng phạm" qua lời "Cổ Tử cáo với Vua Vũ nhà Chu" Trong Cửu trù "Hồng Phạm" thì Ngũ hành về mặt tự nhiên được hình thành bằng
những tên của năm loại vật chất cụ thể (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) và kèm theo tính
chất của các loại vật chất đó, năm loại vật chất này không thể thiếu được đối với đời sống con người Từ đó, thuyết Ngũ hành được vận dụng vào việc giải thích các hiện tượng trong lĩnh vực xã hội như: thiên văn, lịch toán, chính trị, y học qua các lý
thuyết về Ngũ kỷ (bàn về thiên văn), Ngũ sự, Ngũ phúc (bàn về các vấn đề trong đời
sống con người) Như vậy, Ngũ hành là học thuyết bổ sung cho thuyết Âm dương
Trang 29để liên hệ hiện tượng tự nhiên với hiện tượng xã hội, nhằm thuyết minh thế giới là một chỉnh thể thống nhất, có trật tự
Thuyết Âm dương – Ngũ hành đã tạo thành nền tảng cho vũ trụ luận của Á Đông Sự phối hợp quan điểm Âm dương – Ngũ hành thành một hệ thống lý luận triết học chặt chẽ nhằm đi từ cái nguyên lý vô hình (Thái cực) sang thế giới hữu hình (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) để từ đó lý giải một cách hoàn chỉnh quy luật của
sự vận động, biến đổi của vạn vật trong vũ trụ (trong đó có sự sống của con người)
Đối với Hải Thượng Lãn Ông, trước khi biết đến y học thì với nền tảng Nho học của mình ông đã được học về Kinh Dịch (là một tác phẩm trong hệ thống sách kinh điển của Nho gia) Đến khi được tiếp xúc với các sách lý luận y học như Nội Kinh, Cẩm Nang thì nền tảng tri thức về Âm dương - Ngũ hành vốn có đã trở thành đòn bẩy tư tưởng đưa ông đến với y nghiệp Trong lời tựa tập “Y gia quan
miện” ông viết: “Có học Kinh Dịch mới có thể học được y đạo”[49, tr.199] Từ đó
có thể thấy Kinh dịch được Lãn Ông xem là cơ sở lý luận và phương pháp luận y học của ông Đồng thời, Lãn Ông quan niệm “học Kinh Dịch không phải là học về quẻ, về hào, về lời của vua Văn Vương và đức Khổng Tử mà để học về Âm dương biến hóa, về Ngũ hành sinh khắc như thể vòng tròn không có đầu mối Huống chi người ta khôn hơn vạn vật, hấp thu được toàn thể của Âm dương, Ngũ hành Bệnh tật cũng không nằm ngoài Âm dương thịnh suy, Ngũ hành thắng phục Nghề làm thuốc đâu có thể vượt ra ngoài nguyên lý Âm dương, Ngũ hành mà cứu chữa được những bệnh tật nguy nan”[48, tr.217]
Ảnh hưởng của học thuyết Âm dương – Ngũ hành trong lý luận y học và tư tưởng triết học của Lãn Ông – Lê Hữu Trác không thể hiện tập trung ở riêng một tập, một chương nào mà nó được trình bày rộng khắp toàn bộ tác phẩm như một
trục xuyên suốt tư tưởng của ông Trong đó, riêng ở các tập: Nội Kinh yếu chỉ, Y gia
quan miện, Huyền tẫn phát vi, Đạo lưu dư vận, Y hải cầu nguyên, Y trung quan kiện
và Khôn hóa thái chân được Lãn Ông dành nhiều tâm huyết để bàn về Âm dương,
Ngũ hành và ứng dụng của nó trong y học Hệ thống quan niệm về Âm dương, Ngũ hành đó vừa là nền tảng cho y pháp vừa là cơ sở cho tư tưởng triết học của ông
Trang 30Có thể khái quát ảnh hưởng của thuyết Âm dương – Ngũ hành trong tư tưởng của Lê Hữu Trác ở hai luận điểm sau đây:
Thứ nhất, quan niệm về bản thể của vạn vật là từ Âm dương sinh thành; sự
thay đổi, biến hóa của vạn vật bắt nguồn từ sự chuyển hóa của Âm dương
Như đã trình bày, thuyết Âm dương là học thuyết nền tảng cho tư duy của người Á Đông, ảnh hưởng của thuyết Âm dương trong tư tưởng của người Việt là thông qua Nho giáo Lê Hữu Trác là một trí thức Nho học nên tất yếu thế giới quan của ông chịu ảnh hưởng từ Kinh Dịch
Theo lý thuyết trong Kinh Dịch thì bản nguyên của vũ trụ là thái cực, thái cực là nguyên nhân đầu tiên, là lý của muôn vật: "Dịch có thái cực sinh ra hai nghi, hai nghi sinh ra bốn tượng, bốn tượng sinh ra tám quẻ"[66] Như vậy, Dịch học quan niệm vũ trụ, vạn vật luôn vận động và biến hóa không ngừng, do sự giao cảm của âm dương mà ra, đồng thời coi âm dương là hai mặt đối lập với nhau nhưng cùng tồn tại trong một thể thống nhất trong mọi sự vật từ vi mô đến vĩ mô, từ một
sự vật cụ thể đến toàn thể vũ trụ Kế thừa luận điểm này, trong thiên Âm dương ở
tập “Y hải cầu nguyên” Lê Hữu Trác cho rằng: “Từ vô cực rồi đến thái cực Thái cực động mà sinh ra khí dương, tĩnh mà sinh ra khí âm, lúc suy lúc thịnh của trời đất như thế là vô hình”[50, tr.551] Như vậy, theo Lê Hữu Trác thì vũ trụ (trời đất) vốn từ chỗ không (Vô cực) rồi thành ra có (Thái cực), Thái cực là bản nguyên của mọi sự tồn tại, trong trạng thái nguyên sơ ban đầu ấy chỉ có hai thuộc tính căn bản nhất của tồn tại là Dương và Âm Theo ông thì Dương, Âm là nguồn gốc căn bản của trời đất, của vạn vật, dù là sự sống ở dạng nào đi chăng nữa thì cũng do Âm dương hợp thành: “Khoảng trời đất, muôn vật phôi thai sinh ra, “trứng” hay “bọc”, khí hóa, hình sinh, có sống chết, có tri giác, không gì là không nhờ khí âm dương để thành ra hình thể” [50, tr.551]
Ở Kinh Dịch, Âm dương được quan niệm là những mặt, những hiện tượng đối lập Chẳng hạn như: trong tự nhiên là: sáng - tối, trời - đất, đông – tây, trong xã hội là: quân tử - tiểu nhân, chồng - vợ, vua - tôi Qua các hiện tượng tự nhiên, xã hội, các tác giả trong Kinh Dịch đã bước đầu phát hiện được những mặt đối lập tồn
Trang 31tại trong các hiện tượng đó và khẳng định vật nào cũng ôm chứa âm dương trong nó: "vật vật hữu nhất thái cực" (vạn vật, vật nào cũng có một thái cực)[66] Trên cơ
sở này, Lê Hữu Trác đã lý giải thêm về sự tồn tại của bản thể Âm dương Ông cho rằng, chính vì Âm dương là căn bản của mọi sự tồn tại nên Âm dương có ở khắp nơi, có trong vạn vật nhưng cũng chính vì tính phổ biến như vậy của nó nên Âm dương là trạng thái tồn tại (vô hình) chứ không phải là thực thể (hữu hình), không thể tách biệt, không thể chỉ ra cụ thể sự vật hiện tượng nào là Âm, là Dương mà bất
cứ sự vật hiện tượng nào cũng mang trong nó đồng thời hai thuộc tính Âm – Dương, tính chất “lưỡng nhất” của bản thể Âm dương là vô hình nhưng biểu hiện
của nó lại là hữu hình ở khắp nơi Trong thiên Âm dương ở tập “Nội Kinh yếu chỉ”
Lê Hữu Trác viết: “Âm dương là đường lối của trời đất, là kỷ cương cho muôn vật,
là “cha mẹ” cho sự biến hóa, là căn bản cho sự sinh sát cho nên dương chứa lại là trời, âm chứa lại là đất”, “từ sáng sớm đến trưa là dương của trời, là dương ở trong dương Từ trưa đến chập tối cũng là dương của trời, là âm ở trong dương Từ chập tối đến gà gáy sáng là âm của trời, là âm ở trong âm Từ gà gáy đến sáng sớm là âm của trời, là dương ở trong âm”, “Âm và dương trong người thì ngoài là dương, trong là
âm, lưng là dương, bụng là âm”, ở thiên Hóa cơ (cùng tập) thì ông xác định: “Trời thiếu về phương Tây Bắc, cho nên phương Tây Bắc là âm Đất thiếu về phương Đông Nam nên phương Đông Nam là dương” Như vậy, theo Lê Hữu Trác thì bản thể Âm – Dương tồn tại ở khắp nơi, trong trời đất, trong con người, trong thời gian, trong không gian, đó là bản thể vô hình nhưng biểu hiện lại vô cùng phong phú
Âm dương tồn tại thống nhất trong sự đối lập và chuyển hóa: trong âm có dương, trong dương có âm, dương thịnh thì âm suy, âm thịnh thì dương suy, cực dương sinh âm, cực âm sinh dương Về sự tồn tại thống nhất giữa âm và dương, theo Kinh Dịch thì quẻ “Ly” (☲ - Lửa) trên và dưới đều một vạch liền, vạch giữa là vạch đứt diễn tả cho trạng thái trong dương có âm, quẻ “Khảm” (☵ - Nước) được thành lập với một vạch liền ở giữa, trên dưới là vạch đứt diễn tả trạng thái trong âm
có dương Vận dụng luận điểm này, trong thiên Âm dương của tập “Y gia quan
miện” Lê Hữu Trác viết: “trong thân người thì một khí dương ở trong hai khí âm,
Trang 32mệnh môn hỏa ở trong khe giữa hai quả thận thế là trong âm có dương Con trai dương ở ngoài âm ở trong, con gái âm ở ngoài dương ở trong Thế là thái cực trong
thân người”[49, tr.205] Về quy luật tương tác giữa âm và dương, trong Hệ từ hạ
truyện viết: “Dương quái đa âm, âm quái đa dương” [6, tr.298] còn trong tập “Y hải
cầu nguyên” Lê Hữu Trác phân tích mối quan hệ này như sau: “Chứng dương hư sinh ra rét ở ngoài, chứng âm hư sinh ra nóng ở trong, Chứng dương thịnh sinh
nóng ở ngoài, chứng âm thịnh sinh rét ở trong”[50, tr.558], ở thiên Thủy hỏa cùng
tập thì ông viết: “Hàn đến cực độ thì lại nhiệt, nhiệt đến cực độ thì lại hàn”[50, tr.573] Như vậy, theo Lê Hữu Trác, nguyên lý Âm dương trong cơ thể con người cũng tuân theo quy luật thống nhất và chuyển hóa: trong âm có dương, trong dương
có âm, cực dương sinh âm, cực âm sinh dương Từ mối quan hệ thống nhất trong sự đối lập này đã tạo nên sự chuyển hóa không ngừng
Âm dương là bản nguyên của vũ trụ và vạn vật, giữa Âm và Dương luôn diễn ra sự chuyển hóa, tác động lẫn nhau nên nó là nguồn gốc phát sinh mọi sự biến
hóa, thay đổi Kinh Dịch viết: “Cương nhu tương thôi nhi sinh biến hóa”[6, tr.293], còn trong Hệ từ của Dịch truyện thì biểu hiện trong vũ trụ của Dương là Trời (Càn), của Âm là Đất (Khôn) Từ đó, Hệ từ hạ truyện (đây là một thiên trong Thập dực của
Dịch truyện) viết: “Càn và Khôn là cái cửa của biến hóa chăng”[5, tr.219, 220] và
Hệ từ thượng truyện viết: “Càn, Khôn hun đúc sự biến hóa chăng? Càn, Khôn phân lập mà chứa đựng mầm biến hóa Càn, Khôn hủy diệt thì không thể thấy được sự biến hóa Không còn sự biến hóa thì Càn, Khôn cơ hồ cũng tắt”[5, tr.220] Như vậy, theo lý luận Âm dương của Kinh Dịch thì mọi sự biến hóa trong vũ trụ bắt nguồn từ
sự tương tác của Âm dương, không có Âm dương thì không có sự biến hóa, thay đổi Trong quá trình tương tác đó Âm dương cần nương tựa vào nhau để tạo nên một chỉnh thể của sự sống, “độc dương” hoặc “độc âm” không thể tạo nên sự sinh
trưởng được, Kinh Dịch viết: “Cô dương bất thành, độc âm bất sinh”[56, tr.119]
Kế thừa cơ sở lý luận này, Lê Hữu Trác cho rằng Âm dương là hai thuộc tính cơ bản nhất không thể tách rời nhau trong bất cứ sự vật hiện tượng nào, sự sống của con người cũng được hình thành từ nguyên lý Âm dương vì vậy mọi tật bệnh phát
Trang 33sinh ra bao giờ cũng do mối quan hệ cân bằng của Âm dương bị sai lệch Ở chương
30, thiên Âm dương trong tập “Y hải cầu nguyên” ông viết: “Trong khí âm không
thể thiếu được khí dương, trong khí dương không thể thiếu được khí âm Khí dương hại khí âm thì thành ra chứng người khô gầy, khí âm hại khí dương thì thành ra tịch diệt Những bệnh trên đều là âm dương làm hại nhau mà mất sự quân bình trong thân thể”[50, tr.563]
Mối quan hệ thống nhất và tương tác của Âm dương là nguyên lý tồn tại và biến hóa của vạn vật Theo Kinh Dịch thì quy luật sinh hóa của Âm dương sẽ tạo
thành quá trình chuyển hóa không ngừng của vạn vật theo chu kỳ: thành, thịnh, suy,
hủy [5, tr.224] Trong đó, “thành” là giai đoạn của Thiếu dương (giai đoạn dương
còn ở trong âm), “thịnh” là giai đoạn của Thái dương (giai đoạn dương đã phát triển cực độ), “suy” là giai đoạn Thiếu âm (giai đoạn âm đã xuất hiện trong dương) và
“hủy” là giai đoạn Thái âm (giai đoạn âm đã phát triển cực độ) Cứ như vậy, quá trình biến hóa của vạn vật tiếp diễn liên tục, không ngừng đổi mới, xoay vần theo
quy luật “tuần hoàn tiêu tức”[5, tr.224] Về điều này, Hệ từ hạ truyện viết: “Sự biến
động của trời đất là một cái gì bất biến dịch trong những cái biến dịch”[5, tr.226] Quá trình “thành, thịnh, suy, hủy” này được Lê Hữu Trác áp dụng để phân tích quy
luật “sinh, lão, bệnh, tử” của con người Trong thiên Hóa cơ ở tập “Nội Kinh yếu
chỉ” ông phân tích rằng: Đàn ông 8 tuổi thì khí của tạng thận mạnh, tóc dài, thay răng 16 tuổi thì khí của tạng thận thịnh, thiên quý đủ, tinh khí dồi dào nên có thể sinh con 24 tuổi thì khí của tạng thận quân bình, gân cốt mạnh, răng dài mà rắn, 32 tuổi thì gân cốt mạnh nhiều, cơ thể đầy đủ 40 tuổi thì khí của tạng thận suy, tóc rụng, răng khô 48 tuổi thì khí dương ở trên suy kém, mặt khô, râu tóc đốm bạc 56 tuổi thì khí của tạng can suy, gân kém cử động, chân thủy kiệt, tinh khí ít, tạng thận yếu, hình thể đều kém 64 tuổi thì răng tóc rụng, 5 tạng của cơ thể suy yếu thì gân cốt rời rạc, chân thủy kiệt, râu tóc bạc, thân thể nặng, đi lại không được vững, không sinh con được nữa Như vậy, theo Lê Hữu Trác thì cơ thể con người cũng biến đổi theo quy luật của Âm dương
Trang 34Từ sự khái quát trên ta thấy quan điểm về Âm dương của Lê Hữu Trác là sự
kế thừa, vận dụng và phát triển thuyết Âm dương của Kinh Dịch vào lý luận y học
Từ thế giới quan dựa trên quan niệm Âm dương, Lê Hữu Trác đã vận dụng thuyết
Âm dương vào việc giải thích chức năng sinh lý cơ thể của con người và cơ chế phát sinh bệnh tật Đồng thời, phương hướng trị liệu của ông cũng dựa trên mối quan hệ Âm dương này
Thứ hai, quan niệm về sự tác động, sinh hóa của vạn vật theo quy luật sinh
– khắc của Ngũ hành
Nếu như sự vận động không ngừng của vũ trụ đã hướng con người tới những nhận thức sơ khai trong việc cắt nghĩa quá trình phát sinh của vũ trụ và hình thành thuyết Âm dương, thì ý tưởng tìm hiểu bàn thể thế giới, bản thể các hiện tượng trong vũ trụ đã giúp cho họ hình thành thuyết Ngũ hành Thuyết Ngũ hành có thể hiểu đó là thuyết biểu thị quy luật vận động của thế giới của vũ trụ, nó cụ thể hóa và
bổ sung cho thuyết âm dương thêm hoàn bị
Riêng trong lĩnh vực y học thì lý luận Ngũ hành chính là cơ sở để giải thích cấu trúc, mối quan hệ và cơ chế hoạt động của các bộ phận trong cơ thể Từ đó, Đông y học giải thích cơ chế phát sinh bệnh tật của con người và xây dựng lý luận điều trị Đối với Lê Hữu Trác, quan niệm về Ngũ hành chủ yếu được ông vận dụng vào phương pháp luận y học của mình
Theo quan niệm của thuyết Âm dương – Ngũ hành thì Ngũ hành gồm 5 yếu
tố vật chất là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ Đây là nguyên tố vật chất cơ bản của thế
giới vật chất, nó tạo nên thế giới vạn vật hữu hình Trong sách Quốc ngữ, Trịnh Ngữ
viết: “Thổ mộc đan xen thành ra trăm vật”, “hòa hợp thì sinh ra vật, đồng nhất thì không thể tiếp nối”[6, tr.277] nghĩa là sự vật giống nhau thì không thể kết hợp thành vật mới, chỉ có những yếu tố vật chất có tính chất khác nhau kết hợp nhau thì mới
có thể sinh ra sự vật mới Mỗi yếu tố trong Ngũ hành có những tính chất và đặc
trưng riêng, thiên Hồng Phạm viết: “Thứ nhất trong ngũ hành là thủy, thứ nhì là
hỏa, thứ ba là mộc, thứ tư là kim, thứ năm là thổ Thủy là ướt và thấm xuống dưới, hỏa là nóng và bốc lên cao, gỗ là cong và thẳng, kim là theo và biến đổi, thổ để cấy
Trang 35lúa và gặt lúa Nước thấm xuống dưới mà mặn, Lửa bốc lên cao, vị đắng Gỗ cong
và thẳng, vị chua Đồ kim khí tùy tay người thợ mà biến đổi hình, vị cay Lúa cấy gặt vị ngọt”[6, tr.278] Ngũ hành không chỉ biểu hiện ở hiện tượng tự nhiên mà còn biểu hiện tính chất, năng lực của con người và các mối quan hệ xã hội, điều này được diễn đạt thành “Ngũ sự” gồm “Mạo, ngôn, thị, thính, tư” (Tướng mạo, lời nói, nhìn, nghe, suy nghĩ) Vận dụng lý luận này vào y học, Lê Hữu Trác lý giải cấu trúc
và tính chất của các bộ phận trong cơ thể con người thành “Ngũ tạng” gồm có: Tâm,
Can, Tỳ, Phế, Thận Trong thiên Ngũ hành của tập “Y gia quan miện” ông phân
tích: “tạng Tâm thuộc về hành hỏa, tạng Can thuộc về hành mộc, tạng Phế thuộc về hành kim, tạng Thận thuộc về hành thủy, tạng Tỳ thuộc hành thổ”[49, tr.211] Ngoài ra, Lê Hữu Trác còn vận dụng lý luận Ngũ hành để phân tích 5 tính chất của
sự vật thành “Ngũ tính” gồm: “tính ôn” (là ấm) thuộc về hành Thổ, “tính lương” (là
mát) thuộc về hành Mộc, “tính hàn” (là lạnh) thuộc về hành Thủy, “tính táo” (là ráo) thuộc về hành Kim, “tính nhiệt” (là nóng) là thuộc về hành Hỏa Về các trạng thái của môi trường sống (gọi là “Lục dâm”), dựa theo Ngũ hành ông xác định trong đó: “phong” (gió) thuộc về hành Mộc, “hàn” thuộc về hành Thủy, “thấp” (ẩm) thuộc về hành Thổ, “táo” thuộc về hành Kim, “thử” (nắng) thuộc về hành Hỏa
Mối quan hệ giữa các hành trong Ngũ hành được thực hiện qua các quy luật của Ngũ hành Hai quy luật vận động cơ bản của Ngũ hành là: “Ngũ hành tương
sinh” và “Ngũ hành tương khắc” Ngũ hành tương sinh: “sinh” có nghĩa là tương
tác, nuôi dưỡng, giúp đỡ Giữa các hành trong Ngũ hành đều có quan hệ nuôi dưỡng lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát sinh và phát triển Quan hệ tương sinh của Ngũ hành là Mộc sinh hỏa, Hỏa sinh thổ, Thổ sinh kim, Kim sinh thủy, Thủy sinh
mộc Cùng với quy luật tương sinh là quy luật tương khắc "Khắc" có nghĩa là chế
ước, ngăn trở, loại trừ Thứ tự của ngũ hành tương khắc là: Mộc khắc thổ, Thổ khắc thủy, Thủy khắc hỏa, Hoả khắc kim, Kim khắc mộc Như vậy, trong Ngũ hành tương sinh đồng thời cũng có Ngũ hành tương khắc, trong tương khắc cũng ngụ có tương sinh Đó là quy luật chung về sự vận động, biến hóa của giới tự nhiên Nếu chỉ có tương sinh mà không có tương khắc thì không thể giữ gìn được thăng bằng,
Trang 36có tương khắc mà không có tương sinh thì vạn vật không thể có sự sinh hóa Do đó, tương sinh, tương khắc là hai điều kiện không thể thiểu được để duy trì thăng bằng tương đối của hết thảy mọi sự vật Trên cơ sở phương pháp luận của thuyết Ngũ hành, Lê Hữu Trác đã phân tích mối quan hệ sinh hóa, tác động lẫn nhau giữa các
bộ phận trong cơ thể Từ đó, Lê Hữu Trác cho rằng phép chữa bệnh phải căn cứ theo quy luật sinh khắc của Ngũ hành để định ra đường lối điều trị Chẳng hạn như
trong thiên Ngũ hành ở tập “Y gia quan miện”, theo quy luật tương sinh, ông viết:
“bổ hỏa phải biết đường lối như kinh dương minh là dạ dày thuộc về hành thổ thì sinh bởi kinh thiếu âm là tạng tâm thuộc về hành hỏa Vậy muốn bổ cho dạ dày thì phải bổ hỏa cho tạng tâm hỏa”[49, tr.214] Theo quy luật tương khắc Lê Hữu Trác
đề xuất phương pháp “Bổ tả”, trong thiên Bổ tả ở tập “Y gia quan miện” ông viết:
“Bệnh nhân nguyên khí không đủ thì nên bổ bằng vị thuốc cam ôn, nếu nguyên khí kém quá thì là chân hỏa hư yếu mà tạng hàn thì nên bổ bằng những vị tân nhiệt Bệnh nhân mà nhiệt thì nên dùng những vị cam lương, nếu tà khí mạnh mà nhiệt quá thì nên dùng những vị khổ hàn”[49, tr.237]
Quy luật tương sinh, tương khắc là quan hệ cơ bản của Ngũ hành dưới trạng thái bình thường Còn nếu giữa Ngũ hành với nhau mà sinh ra thiên thịnh hoặc thiên suy, không thể giữ gìn được thăng bằng, cân đối thì xảy ra trạng thái trái thường thì
gọi là “tương thừa", "tương vũ" Về quan hệ tương thừa, “thừa” có nghĩa là tuân
theo, chịu phần kém, trong điều kiện bất thường của Ngũ hành có hiện tượng Hành này khắc Hành kia quá mạnh (do Hành này mạnh lên, Hành kia yếu đi) thì quan hệ
tương khắc trở thành tương thừa Về quan hệ tương vũ, “vũ” có nghĩa là khinh lờn,
khi Hành này vì suy yếu không khắc nổi Hành kia dẫn đến bị át chế ngược trở lại thì quan hệ tương khắc trở thành quan hệ tương vũ Như vậy, quan hệ bất thường (tương thừa, tương vũ) chỉ xuất phát trong quy luật tương khắc (quan hệ át chế lẫn nhau), nguyên nhân dẫn đến trạng thái bất thường này là do sự vận động thái quá hoặc bất cập của các Hành Quan hệ tương thừa, tương vũ làm rõ hơn quy luật tương khắc khi nó thể hiện được hai chiều của sự tương khắc là cái khắc nó và cái
nó khắc Lý luận này được Lê Hữu Trác kế thừa và ông gọi đó là quy luật “Cang
Trang 37hại thừa chế” Trong thiên Ngũ hành ở tập “Y gia quan miện” ông phân tích: “Tạng
Can là hành Mộc vượng quá thì hại cho tạng Tỳ là hành Thổ, con của tạng Tỳ là tạng Phế (thuộc hành Kim) vâng khí của mẹ mà phục thù để dẹp Can Mộc đi Thế nghĩa là Ngũ hành thắng lên thì trở lại (khắc phục) Tóm lại mạnh quá thì hại, lấn là
để dẹp đi”[49, tr.212] Ở chương 23, thiên Thủy hỏa, tập “Y hải cầu nguyên” ông
phân tích thêm: “Âm gửi cho dương, thủy để chế hỏa Vì thế nên quân bình mà không nên để chênh lệch Hết thảy chứng hỏa hư mà phát nhiệt, tựa như hỏa dư ra nhưng hỏa có dư ra cũng bởi thủy bị thiếu thốn Phép chữa nên bổ âm để cân với dương, thêm thủy để chế hỏa nhất thiết không nên để hỏa bị mất đi”[50, tr.580] Như vậy, Lê Hữu Trác dựa trên quan hệ tương thừa, tương vũ để phân tích bệnh lý:
vì Thủy suy yếu nên bị Hỏa át chế ngược trở lại Thủy (nên cơ thể phát nhiệt) vậy thì phương pháp điều trị cần phải bổ cho Thủy mạnh lên để lập lại cân bằng Có thể thấy, vì nắm vững quy luật vận động của Ngũ hành nên phương pháp điều trị của Lãn Ông – Lê Hữu Trác chủ yếu hướng để sự điều tiết quan hệ của Ngũ hành trong
cơ thể để đảm bảo trạng thái cân bằng, hiếm khi ông dùng phương pháp công phạt trong chữa trị
Tóm lại, thuyết Âm dương – Ngũ hành vừa là cơ sở hình thành thế giới quan của Lê Hữu Trác vừa là nền tảng cho y pháp của ông Điểm đáng chú ý ở sự kế thừa của Lê Hữu Trác là ông đã vận dụng thuyết Âm dương – Ngũ hành rất thành công vào việc phân tích bệnh lý và định hướng điều trị các chứng bệnh Học thuyết Âm dương – Ngũ hành đã làm nên tính triết học trong tư tưởng y học của ông Với quan niệm Âm dương là gốc của sự sống, Ngũ hành là cấu tạo và cơ chế hoạt động nội tại trong cơ thể con người nên nguyên tắc hàng đầu trong y pháp của Lê Hữu Trác là giữ lấy Âm dương, lập lại cân bằng của Ngũ hành Phương pháp trị liệu thiên về bồi
bổ hơn là công phạt cũng thể hiện một tinh thần trân trọng sự sống con người trong
tư tưởng của Lãn Ông
1.2.2 Lý luận y học của tác phẩm “Hoàng đế Nội kinh”
Từ cuối thời Chiến Quốc, đầu thời Lưỡng Hán có hai xu hướng khác nhau bàn về sự kết hợp giữa thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành Hướng thứ nhất,
Trang 38Đổng Trọng Thư kết hợp Âm dương - Ngũ hành để giải thích các hiện tượng tự nhiên, xã hội, con người Hướng thứ hai, tác phẩm "Hoàng Đế Nội kinh" đã sử dụng triết học âm dương ngũ hành làm hệ thống lý luận của y học Tác phẩm này đã dùng học thuyết trên để giải thích mối quan hệ giữa con người với trời đất: coi con người
và hoàn cảnh là một khối thống nhất, con người chẳng qua là cơ năng của trời và đất thu nhỏ lại, con người không thể tách rời giới tự nhiên mà sinh sống được, con người với giới tự nhiên là tương ứng
Trong lời tựa của tập “Nội Kinh yếu chỉ” Lê Hữu Trác đã khẳng định: “Nhà làm thuốc có quyển Nội Kinh cũng như nhà Nho có bộ Ngũ kinh đều là lời nói chí
lý của bậc thánh hiền Người học thuốc phải đọc trước bộ Nội Kinh để biết tạng phủ, mạch lạc, bệnh căn và y lý”[49, tr.75] Từ đó có thể thấy rằng tác phẩm
“Hoàng đế Nội kinh” (thường được gọi tắt là Nội kinh) là một trong những pho sách kinh điển, nó giữ vai trò là nền tảng lý luận y học cho Đông y nói chung và y học của Lê Hữu Trác nói riêng
Nội dung của “Hoàng đế Nội kinh” được trình bày dưới dạng các câu hỏi – đáp giữa Hoàng đế (một vị vua thời cổ) và Kỳ Bá (một thầy thuốc giỏi thời cổ) Bộ sách “Hoàng đế Nội kinh” ghi lại những nguyên lý, nguyên tắc, những nhận thức bao quát về con người với giới tự nhiên, những kiến thức cơ bản về sinh lý, bệnh lý trong cơ thể người, những phác thảo về nguyên tắc phòng và chữa bệnh Về kết cấu của bộ sách, theo Ban Cố gồm 2 phần: phần “Tố vấn” gồm 9 quyển, phần “Linh khu” gồm 9 quyển [48, tr.67] Trong đó, phần “Linh khu” là các sách ghi về thuật châm cứu, phần “Tố vấn” bàn về các vấn đề sinh lý, bệnh lý và chẩn đoán Mặc dù giá trị của bộ sách này rất lớn nhưng nó “xuất hiện ở một thời kỳ mà từ ngữ còn nghèo, cú pháp chưa ổn định, làm cho ý nghĩa các đoạn văn rất khó hiểu hoặc có thể suy diễn ra nhiều ý khác nhau”[48, tr.68]
Nền tảng lý luận trong “Hoàng đế Nội kinh” là dựa theo nguyên lý Âm dương của Dịch học, điều này được phản ánh rõ nét trong phần “Tố vấn” - chủ yếu trình bày về những vấn đề y lý của Đông y Trong “Hải Thượng y tông tâm lĩnh”,
sự kế thừa về lý luận từ “Hoàng đế Nội kinh” có thể tìm thấy xuyên suốt tác phẩm,
Trang 39ngoài ra, Lê Hữu Trác đã trích lược và sắp xếp những tư tưởng nổi bật của bộ “Tố vấn” để soạn thành 2 tập: “Nội Kinh yếu chỉ” và “Vận khí bí điển”
Từ phân tích trên có thể khái quát sự kế thừa lý luận y học của tác phẩm
“Hoàng đế Nội kinh” (từ đây gọi tắt là Nội kinh) trong tư tưởng của Lê Hữu Trác trên các quan điểm sau đây:
Thứ nhất, quan niệm con người là một trời đất thu nhỏ
Là sự vận dụng triết lý Âm dương vào y học nên trong thiên Âm dương ứng
tượng đại luận của sách Nội kinh viết: “Âm dương là đạo của trời đất, là giường
mối của muôn vật, là cha mẹ của sự biến hóa, là gốc ngọn của sự sinh sát, là cái kho chứa mọi sự thần minh”[31, tr.52], xuất phát từ nhận thức đó Nội kinh cho rằng sự vật hiện tượng từ cái to lớn vô cùng đến cái bé nhỏ vô cùng, dù là sự vật vô tri như đất đá, cây cỏ hay các loài có ý thức như con người cũng đều phải tồn tại theo nguyên lý Âm dương Xuất phát từ nhận thức đó, Nội kinh cho rằng con người là một bộ phận nằm trong vũ trụ nên sự sống của con người cũng tuân theo các quy luật vận động của vũ trụ - của Âm dương Vì vậy, theo quan niệm của Đông y thì
“nhân thân tiểu thiên địa” (con người là một trời đất nhỏ)[19, tr.60] Theo Nội kinh thì con người và giới tự nhiên (trời đất) thống nhất nhau ở lẽ Âm dương nên từ nguồn gốc hình thành sự sống trong cơ thể cho đến quá trình “sinh, lão, bệnh, tử” của con người cũng tuân theo nguyên lý Âm dương của trời đất Trước hết, theo Nội kinh thì nguồn gốc trực tiếp của sự sinh trưởng và cũng là yếu tố vật chất cơ bản để
tạo thành sự sống của cơ thể con người là “tinh” (thuộc về Âm) và “khí” (thuộc về Dương), trong thiên Âm dương ứng tượng đại luận viết: “Dương là khí, âm là vị Vị
theo về hình, hình theo về khí, khí theo về tinh, tinh theo về hóa Tinh nhờ ở khí, hình nhờ ở vị Do hóa sinh ra tinh, do khí sinh ra hình”[31, tr.56] Ở luận điểm này, tác giả Trần Thị Huyền cho rằng “tinh” giống như vật liệu di truyền trong cơ chế sinh học, còn “khí” giống như năng lượng dùng để duy trì hoạt động của cơ thể Tinh tác động qua lại với khí để tạo thành hình và vị [19, tr.64] Như vậy, theo Nội kinh thì “tinh” và “khí” là biểu hiện cho Âm và Dương trong quá trình tạo nên sự sống của con người Trên cơ sở lý luận này, Lê Hữu Trác cho rằng cơ thể con người
Trang 40cũng là một bộ phận của tự nhiên, sự sinh hóa của cơ thể nằm trong sự vận động
chung của vũ trụ theo Âm dương, trong tập “Nội kinh yếu chỉ” ở thiên Âm dương
ông viết: “Bốn mùa âm dương là căn bản cho muôn vật là gốc cho sự sống chết nếu trái thời tai hại mà biết dựa theo thời bệnh tật không sinh ra”[49, tr.76] Từ lý
luận về mối quan hệ về tinh và khí của Nội kinh, Lê Hữu Trác vừa kế thừa vừa có
sự lý giải thêm cho mối quan hệ này, ở chương Hóa cơ ông phân tích rằng: “Hình
thể ăn các vị cho nên vị đi vào hình, khí để nuôi hình cho nên hình đi vào khí, tinh hoa của người nhờ ở khí cho nên khí đi vào tinh, vì sự biến hóa mà sinh ra tinh cho nên tinh về hóa”, “tinh ăn nhờ ở khí, hình ăn nhờ ở vị Hóa sinh ra tinh, khí sinh ra hình Nếu trái đi thì vị lại làm hại cho hình thể, khí làm hại cho tinh Tinh hóa ra
khí, khí hại bởi thức ăn”[49, tr.84] Như vậy, Lê Hữu Trác đã phát triển luận điểm
về tinh và khí của Nội kinh để lý giải sự sinh hóa của sự sống trong cơ thể, có thể
hiểu “vị” là chức năng hấp thu thức ăn nhờ đó sinh ra “hình” (hình thể), “hình” đầy
đủ sẽ sinh ra “khí” (năng lượng), “khí” sẽ chuyển hóa để tạo ra “tinh” (sự sống)
Quá trình sinh hóa trong cơ thể sống của con người cũng tuân theo quy luật tương tác của Âm dương biểu hiện thông qua mối quan hệ: tinh – khí, vị - hình Theo nguyên lý Âm dương thì trong âm có dương, trong dương có âm và trong quá trình vận động âm, dương luôn tác động chuyển hóa lẫn nhau, cực âm sẽ sinh dương, cực dương sẽ sinh âm Vận dụng điều này vào y học, Nội kinh cho rằng: “Vị hậu thuộc về âm, bạc thuộc về dương Vị hậu thời phát tiết, bạc thời thông, khí bạc
thời phát tiết, hậu thời phát nhiệt”[31, tr.56] Như vậy, vị thuộc về âm mà “vị hậu” tức là cực âm, nếu “vị bạc” tức là dương ở trong âm, khí thuộc về dương mà “khí
hậu” tức là cực dương, nếu “khí bạc” là âm ở trong dương Đây là một sự vận dụng mối quan hệ Âm dương vào quá trình sinh hóa của cơ thể Từ đó, Nội kinh cho rằng
“vị hậu” là âm ở trong âm, lúc này nó có tính giáng xuống (vì theo Nội kinh thì Âm
có tính chất đục, hạ xuống) nên chủ về hạ tiết, “vị bạc” là dương ở trong âm nên tính bốc lên (vì theo Nội kinh thì Dương có tính chất trong, bốc lên), chủ về tuyên thông “Khí bạc” là âm ở trong dương, tính giáng xuống, chủ về phát tiết, “khí hậu”
là dương ở trong dương, tính bốc lên nên chủ về phát nhiệt Tóm lại, sự sinh hóa