Hoạt động của hệ thống ASXH là nơi thể hiện rõ nhất tính “định hướng xã hội chủ nghĩa” của nền kinh tế thị trường; trong đó, con người luôn có được, bao gồm cả cảm nhận được một cuộc sốn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa được sử dụng ở bất kỳ công trình khoa học nào Các hình ảnh minh họa, trích dẫn trong luận văn là của tác giả nghiên cứu, có nguồn gốc rõ ràng
Vân Đồn,ngày……tháng 12 năm 2019
Người cam đoan
Trần Thị Tâm
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, phòng Đào tạo Sau đại học, Khoa Kinh tế & Quản trị kinh doanh Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện cho Tôi
cho suốt quá trình học tập tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS Nguyễn Thị Hải Ninh
đã nhiệt tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho Tôi trong suốt thời gian học tập, công tác cũng như thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Uỷ ban nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Vân Đồn, Chi Cục Thống kê huyện Vân Đồn, Lãnh đạo, cán bộ các phòng, ban ngành liên quan trong huyện Vân Đồn nơi tôi thực hiện đề tài đã cung cấp tài liệu, tạo điều kiện cho tôi có cơ sở dữ liệu để nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và cùng toàn thể bạn bè, đồng nghiệp
đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất cho Tôi hoàn thành luận văn
Mặc dù đã làm việc với tinh thần nỗ lực cao nhất, nhưng luận văn không tránh khỏi hạn chế và thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được những đóng góp ý kiến xây dựng của các nhà khoa học và Hội đồng nhà trường
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vân Đồn, ngày……tháng 10 năm 2019
Tác giả
Trần Thị Tâm
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ L LUẬN VÀ TH C TIỄN VỀ C NG T C AN SINH XÃ HỘI 5
1.1 Cơ sở lý luận về công tác an sinh xã hội 5
1.1.1 Khái niệm an sinh xã hội 5
1.1.2 Bản chất và ý nghĩa của an sinh xã hội 7
1.1.3 Chức năng và nguyên tắc cơ bản của an sinh xã hội 10
1.1.4 Nội dung công tác an sinh xã hội 13
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác an sinh xã hội 27
1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác an sinh xã hội 30
1.2.1 Kinh nghiệm về công tác ASXH của một số nước trên thế giới 30
1.2.2 Kinh nghiệm về công tác ASXH của một số địa phương ở Việt Nam 33 1.2.3 Bài học kinh kinh nghiệm rút ra cho huyện Vân Đồn 36
1.2.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 38
Chương 2 Đ C ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PH P NGHIÊN C U 42 2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 42
2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 42
2.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội 45
2.2 Phương pháp nghiên cứu 51
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 51
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 52
Trang 52.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 53
2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 53
Chương 3 ẾT QUẢ NGHIÊN C U VÀ THẢO LUẬN 55
3.1 Thực trạng công tác an sinh xã hội tại huyện Vân Đồn 55
3.1.1 Tình hình thực hiện chính sách ASXH trên địa bàn huyện Vân Đồn 55
3.1.2 Các chính sách về công tác ASXH đang áp dụng trên địa bàn huyện Vân Đồn 55
3.1.3 Kết quả thực hiện công tác ASXH trên địa bàn huyện 65
3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác ASXH tại huyện Vân Đồn 81
3.2.1 Ảnh hưởng của đặc điểm địa bàn đến công tác ASXH 81
3.2.2 Nhận thức về công tác ASXH 81
3.2.3 Hệ thống chính sách về an sinh xã hội 83
3.2.4 Nguồn lực tài chính thực hiện công tác ASXH 85
3.2.5 Kết quả xã hội hóa công tác ASXH trên địa bàn huyện 86
3.2.6 Trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác An sinh xã hội 86
3.3 Đánh giá chung về công tác ASXH tại huyện Vân Đồn 87
3.3.1 Những kết quả đạt được trong công tác ASXH 87
3.3.2 Những tồn tại, hạn chế 91
3.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 94
3.4 Giải pháp hoàn thiện công tác ASXH trên địa bàn huyện Vân Đồn 95
3.4.1 Định hướng thực hiện công tác ASXH trên địa bàn huyện Vân Đồn đến năm 2020 95
3.4.2 Giải pháp hoàn thiện công tác ASXH trên địa bàn huyện Vân Đồn 96
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC C C BẢNG, HÌNH
Bảng 2.1 Di tích lịch sử Văn hóa 45
Bảng 2.2 Dân số huyện Vân Đồn theo đơn vị hành chính 46
Bảng 2.3 Lao động và cơ cấu lao động của huyện Vân Đồn 47
Bảng 2.4 Số cơ sở y tế, giường bệnh, cán bộ y tế 48
Bảng 2.5 Một số chỉ tiêu văn hóa 49
Bảng 2.6 Tổng số trường, lớp, học sinh, giáo viên CBNV 49
Bảng 2.7 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất của huyện Vân Đồn 51
Bảng 3.1 Số hộ nghèo phân theo đơn vị hành chính 56
Bảng 3.2 Cơ cấu hộ nghèo phân theo loại hình kinh tế và đối tượng XH 57
Bảng 3.4 Kết quả hỗ trợ vốn ưu đãi cho hộ nghèo 60
Bảng 3.5 Kết quả chính sách hỗ trợ xây dựng sửa chữa nhà cho hộ nghèo 61
Bảng 3.6 Kết quả chính sách ưu đãi, hỗ trợ học sinh thuộc diện đối tượng chính sách trên địa bàn huyện Vần Đồn 62
Bảng 3.7 Kết quả dạy nghề cho lao động nông thôn người nghèo 63
Bảng 3.8 Kết quả xuất khẩu lao động 64
Bảng 3.9 Số người tham gia BHXH huyện Vân Đồn 65
Bảng 3.10 Mức độ bao phủ BHXH trên địa bàn huyện Vân Đồn 66
Bảng 3.11 Tình hình thu bảo hiểm xã hội 67
Bảng 3.12 Tình hình chi trả BHXH huyện Vân Đồn 68
Bảng 3.13 Cân đối thu, chi hàng năm của quỹ bảo hiểm 68
Bảng 3.14 Số người tham gia bảo hiểm y tế huyện Vân Đồn 70
Bảng 3.15 Mức độ bao phủ BHYT trên địa bàn huyện Vân Đồn 71
Bảng 3.16 Tình hình thu BHYT huyện Vân Đồn 72
Bảng 3.17 Tình hình chi trả BHYT huyện Vân Đồn 73
Bảng 3.18 Thu, chi hàng năm của quỹ bảo hiểm y tế 73
Bảng 3.19 Số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp 74
Trang 8Bảng 3.20 Mức độ bao phủ Bảo hiểm thất nghiệp huyện Vân Đồn 75
Bảng 3.21 Thu, chi hàng năm của BHTN huyên Vân Đồn 75
Bảng 3.22 Kết quả đối tượng trợ giúp thường xuyên tại huyện Vân Đồn 76
Bảng 3.23 Kết quả trợ giúp xã hội đột xuất huyện Vân Đồn 77
Bảng 3.24 Kết quả trợ giúp ưu đãi người có công huyện Vân Đồn 78
Bảng 3.25 Kết quả trợ giúp xã hội đối với chính sách đặc thù của tỉnh Quảng Ninh trên địa bàn huyện Vân Đồn 80
Bảng 3.26 Ý kiến đánh giá của cán bộ huyện, xã về nhận thức, ý thức trách nhiệm của doanh nghiệp và người dân về chấp hành pháp luật và tham gia thực hiện công tác ASXH trên địa bàn huyện Vân Đồn 82
Bảng 3.27 Ý kiến đánh giá về kết quả thực hiện chính sách ASXH trên địa bàn huyện Vân Đồn 84
Bảng 3.28 Ý kiến đánh giá điều tra, phỏng vấn về điều kiện thuận lợi mà các chính sách an sinh xã hội mang lại 85
Bảng 3.29 Số lượng và trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác ASXH 87
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Vân Đồn 43
Trang 9Đ T VẤN ĐỀ
1 T nh cấp thiết của đề tài
Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hợp Quốc đã ghi nhận: Tất cả con người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng An sinh xã hội (ASXH) Đảm bảo ASXH luôn là đòi hỏi tất yếu, khách quan để nhà nước thực hiện chức năng giai cấp và chức năng xã hội của mình Quyền được hưởng ASXH là một trong những quyền cơ bản của con người
Hệ thống ASXH là một bộ phận trong mô hình phát triển xã hội để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Hệ thống
an sinh xã hội gồm 5 trụ cột: (1) Bảo hiểm xã hội; (2) Bảo hiểm y tế; (3) Bảo hiểm thất nghiệp; (4) Cứu trợ xã hội; (5) Trợ giúp và ưu đãi xã hội Hoạt động của hệ thống ASXH là nơi thể hiện rõ nhất tính “định hướng xã hội chủ nghĩa” của nền kinh tế thị trường; trong đó, con người luôn có được, bao gồm
cả cảm nhận được một cuộc sống yên ổn và an toàn, có khả năng phòng ngừa khi gặp phải những biến cố, rủi ro bất thường như bị ốm đau, tai nạn, bị mất việc làm hoặc khi về già…
Nhiều năm qua, công tác ASXH được Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực
để phát triển bền vững, ổn định chính trị xã hội Diện thụ hưởng chính sách ngày càng được mở rộng, mức hỗ trợ được nâng lên Nguồn lực đầu tư phát triển các lĩnh vực xã hội ngày càng lớn Nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhất là trong giảm nghèo, y tế, giáo dục đào tạo, tạo việc làm, trợ giúp xã hội cho người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn… Đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số được cải thiện và nâng cao, được quốc tế và các nước trong khu vực ghi nhận và đánh giá cao
Tuy nhiên trên thực tế, công tác ASXH của nước ta hiện còn chồng chéo, phân tán, hiệu quả chưa cao, kết quả giảm nghèo, tạo việc làm chưa thật bền vững Tỷ lệ hộ cận nghèo, tái nghèo còn cao; mức trợ cấp xã hội còn
Trang 10thấp; giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển; công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người dân còn hạn chế; tỷ lệ người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế còn thấp; đời sống của một bộ phận người nghèo, người yếu thế chưa được đảm bảo mức sống tối thiểu và có sự chênh lệch giữa vùng, miền Những hạn chế trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự thiếu nhất quán trong mô hình phát triển xã hội, nên hệ thống ASXH chưa theo kịp sự phát triển kinh tế, nguồn lực thực hiện bảo đảm ASXH còn hạn chế, chủ yếu dựa vào sự cấp phát, bao cấp của Nhà nước, chưa khuyến khích
và tác động tích cực để người dân chủ động tham gia
Vân Đồn là một huyện miền núi, hải đảo nằm ở phía Đông Nam tỉnh Quảng Ninh, với tổng diện tích đất tự nhiên là 2.171 km2, trong đó diện tích nổi là 55.320 ha Cơ cấu hành chính có 12 đơn vị gồm: 11 xã và 01 thị trấn Dân số của huyện là 46.700 người, gồm 10 dân tộc, trong đó dân tộc kinh chiếm 87,5%, dân tộc thiểu số chiếm 12,5% Huyện có 06 xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, có 05 thôn đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135 Vân Đồn được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển Khu kinh tế Vân Đồn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm
2050, huyện có nhiều điều kiện thuận lợi cho thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Song do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, đồng thời là một huyện
có nhiều xã đảo, nên nhiều năm nay trên địa bàn huyện thường xuyên gánh chịu những cơn bão, mưa lũ, ngập úng cục bộ gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất, đời sống của người dân, đặc biệt là các xã đảo, xã miền núi
Những năm qua, các chính sách về ASXH của Nhà nước, các chính sách đặc thù riêng của tỉnh Quảng Ninh đã được huyện Vân Đồn triển khai kịp thời đến người dân, các đối tượng thụ hưởng và đạt được nhiều kết quả tốt Tuy nhiên, công tác ASXH trên địa bàn huyện còn tồn tại một số bất cập như: thiếu việc làm, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm xã hội còn thấp, chăm sóc sức khỏe người dân theo chế độ bảo hiểm còn chưa tốt…
Trang 112.2 Mụ t u ụ t ể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác ASXH
- Đánh giá được thực trạng công tác ASXH trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới công tác ASXH trên địa bàn Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác an sinh xã hội trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn huyện
Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
- Về thời gian: Các số liệu thứ cấp được tổng hợp trong giai đoạn từ
năm 2016-2018 Số liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2019
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu 5 nội dung của công tác
ASXH trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, bao gồm:
+ Công tác bảo hiểm xã hội
Trang 12+ Công tác bảo hiểm y tế
+ Công tác bảo hiểm thất nghiệp
+ Hoạt động trợ giúp xã hội
+ Ưu đãi xã hội
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về công tác ASXH
- Thực trạng công tác ASXH tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
- Những nhân tố ảnh hưởng tới công tác ASXH tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
- Một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác ASXH trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới
5 ết cấu luận văn
Ngoài phần Đặt vấn đề, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn được kết cấu 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác an sinh xã hội
Chương 2 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ L LUẬN VÀ TH C TIỄN VỀ C NG T C AN SINH XÃ HỘI
1.1 Cơ sở lý luận về công tác an sinh xã hội
Theo Liên hiệp quốc, ASXH tiếp cận trên quyền của người dân (Điều
25, Hiến chương Liên hiệp quốc năm 1948): “… Mọi người dân và hộ gia
đình đều có quyền có một mức tối thiểu về sức khoẻ và các phúc lợi xã hội bao gồm ăn, mặc, chăm sóc y tế (bao gồm cả thai sản), dịch vụ xã hội thiết yếu và có quyền được an sinh khi có các biến cố về việc làm, ốm đau, tàn tật, goá phụ, tuổi già… hoặc các trường hợp bất khả kháng khác…”
Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng: “ASXH là những biện pháp của
chính phủ nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu
và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh về thu nhập” WB nhấn mạnh đến các biện pháp
công cộng để hạn chế và làm giảm các tác động tiêu cực cho hộ gia đình và cộng đồng dễ bị tổn thương bao gồm việc nhà nước cung cấp và khuyến khích phát triển các dịch vụ công như: bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), trợ cấp xã hội (TCXH) và những biện pháp khác có tính chất tương
tự Trong đó BHXH có vai trò quan trọng nhất
Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) quan niệm: "ASXH là một hệ
thống chính sách công nhằm giảm nhẹ tác động bất lợi của những biến động đối với các hộ gia đình và cá nhân " Định nghĩa này nhấn mạnh vào tính dễ
bị tổn thương của con người nếu không có an sinh xã hội
Trang 14Theo ILO: "ASXH là sự cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá
nhân thông qua cơ chế của nhà nước hoặc tập thể nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp” Khái niệm này nhấn mạnh
khía cạnh bảo hiểm xã hội và mở rộng tạo việc làm cho những đối tượng ở khu vực kinh tế không chính thức
Công ước 102 của ILO rằng: An sinh xã hội là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để chống lại tình cảnh khó khăn về kinh tế và xã hội gây ra bởi tình trạng bị ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập Như vậy ILO quan niệm đối tượng của an sinh xã hội là nhóm người có thu nhập không đủ trang trải cho những điều kiện tối thiểu, xã hội cần tiến hành đồng bộ các biện pháp công cộng khác nhau nhằm phân phối lại thu nhập, dịch vụ xã hội
Theo nghĩa hẹp, ASXH được hiểu là sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho người lao động và gia đình họ khi bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già, cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người nghèo đói và những người bị thiên tai, địch hoạ
Quan điểm ASXH có sự khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, những yếu tố chủ yếu của nó bao gồm: BHXH (bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế bắt buộc ), CTXH (còn gọi là cứu trợ xã hội), các chế độ trợ cấp từ quỹ công cộng, các chế độ trợ cấp gia đình, các quỹ dự phòng, sự bảo vệ do người sử dụng lao động cung cấp, các dịch vụ liên quan đến ASXH
Những cơ sở trên cho thấy: An sinh xã hội là những can thiệp của Nhà nước và xã hội bằng các biện pháp kinh tế để hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong cộng đồng do bị mất hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già, chết; đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp gia đình
Trang 151.1.2 Bản ất v ý n ĩ ủ n s n
An sinh xã hội là sự đảm bảo từ phía xã hội nhằm góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho những người dân dễ bị tổn thương, phương thức hoạt động của ASXH là thông qua các biện pháp công cộng Mục đích là tạo
ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy nó thể hiện giá trị đạo đức cao đẹp và tinh thần nhân đạo, tính nhân văn sâu sắc An sinh xã hội, tập trung vào các vấn đề chủ yếu:
1.1.2.1 Bảo đảm quyền cơ bản của con người
Mục tiêu của ASXH là tạo ra một lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho tất cả mọi thành viên của cộng đồng trong những trường hợp
bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất trong chi tiêu của gia đình do nhiều nguyên nhân khác nhau như: ốm đau, bệnh tật, già cả neo đơn gọi chung là những biến cố rủi ro trong xã hội Mỗi một công dân, không phân biệt địa vị xã hội, chủng tộc, tôn giáo họ phải được bảo đảm quyền cơ bản của con người là được sống để phát huy đầy đủ những khả năng của mình, ASXH tập trung vào ba vấn đề chủ yếu:
- Thứ nhất, là trụ cột cơ bản, cần thiết cho sự bảo đảm, đó là sự BHXH
Có thể nói BHXH là xương sống của hệ thống ASXH Chỉ khi có một hệ thống BHXH hoạt động có hiệu quả thì mới có thể có một nền ASXH vững mạnh BHXH dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia, gồm người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước trong một số trường hợp Thông qua các trợ cấp BHXH, người lao động có được một khoản thu nhập bù đắp hoặc thay thế cho những khoản thu nhập bị giảm hoặc mất trong những trường hợp họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm
- Thứ hai, là sự cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người lao
động và các thành viên gia đình họ, nhằm bảo đảm cho họ tái tạo được sức lao động, duy trì và phát triển nền sản xuất xã hội, đồng thời phát triển mọi mặt cuộc sống của con người, kể cả phát triển bản thân con người
Trang 16- Thứ ba, là các loại trợ giúp xã hội (cung cấp tiền, hiện vật ) cho
những người có rất ít hoặc không có tài sản (người nghèo khó), những người cần sự giúp đỡ đặc biệt cho các gánh nặng gia đình… ASXH cũng khuyến khích, thậm chí bao quát cả những loại trợ giúp như miễn giảm thuế, trợ cấp
về ăn, ở, dịch vụ đi lại Hệ thống ASXH hiện đại không chỉ là những cơ chế đơn giản nhằm thay thế thu nhập mà đã trở thành những véctơ hỗn hợp của cái gọi là “những chuyển giao xã hội”, tức là những công cụ, những biện pháp phân phối lại tiền bạc, của cải và các dịch vụ xã hội có lợi cho những nhóm người “yếu thế” hơn trong cộng đồng xã hội Như vậy, ASXH là nhằm che chắn, bảo vệ cho các thành viên của xã hội trước mọi “biến cố xã hội” bất lợi
1.1.2.2 Thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp
An sinh xã hội tạo cho những người bất hạnh, những người kém may mắn hơn những người bình thường khác có thêm những điều kiện, động lực cần thiết để khắc phục những “biến cố”, những “rủi ro xã hội”, có cơ hội để phát triển, hoà nhập vào cộng đồng ASXH kích thích tính tích cực xã hội trong mỗi con người, kể cả những người giàu và người nghèo; người may mắn và người kém may mắn, giúp họ hướng tới những chuẩn mực giá trị cao hơn của con người Nhờ xây dựng và phát triển hệ thống ASXH tốt, có thể giúp chống lại được tư tưởng mạnh ai nấy lo, “đèn nhà ai nhà ấy rạng”, giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, góp phần tạo nên một cuộc sống công bằng, bình yên
1.1.2.3 Thực hiện một phần công bằng xã hội
Trên bình diện xã hội, ASXH là một công cụ để cải thiện các điều kiện sống của các tầng lớp dân cư, đặc biệt là đối với những người nghèo khó, những nhóm dân cư “yếu thế” trong xã hội Trên bình diện kinh tế, ASXH là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng, được thực hiện theo hai chiều ngang và dọc Sự phân phối lại thu nhập theo chiều ngang là sự phân phối lại giữa những người khoẻ mạnh và người ốm
Trang 17đau, giữa người đang làm việc và người đã nghỉ việc, giữa người chưa có con
và những người có gánh nặng gia đình Một bên là những người đóng góp đều đặn vào các loại quỹ ASXH hoặc đóng thế, còn bên kia là những người được hưởng trong các trường hợp với các điều kiện xác định Thông thường, sự phân phối lại theo chiều ngang chỉ xảy ra trong nội bộ những nhóm người được quyền hưởng trợ cấp
Sự phân phối lại thu nhập theo chiều dọc là sự chuyển giao tài sản và sức mua của những người có thu nhập cao cho những người có thu nhập quá thấp, cho những nhóm người “yếu thế” Phân phối lại theo chiều dọc được thực hiện bằng nhiều kỹ thuật khác nhau: trực tiếp (thuế trực thu, kiểm soát giá cả, thu nhập và lợi nhuận ) hoặc gián tiếp (trợ cấp thực phẩm, cung cấp hiện vật hoặc các dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế, nhà ở, trợ giúp và bảo
vệ trẻ em ) Việc phân phối lại theo chiều dọc có ý nghĩa xã hội rất lớn
Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực hiện phân phối lại theo chiều dọc còn gặp nhiều khó khăn do điều kiện tài chính và tổ chức Song cũng có thể có một số biện pháp để thực hiện một số chế độ cho những người có thu nhập thấp thông qua hệ thống đóng góp và hệ thống trợ cấp Những người có thu nhập thấp thường được miễn giảm chế độ đóng góp, hoặc được người chủ sử dụng lao động (kể cả Nhà nước) đóng cho hoàn toàn Hệ thống trợ cấp cũng lưu ý tới những người có thu nhập thấp (tỷ lệ trợ cấp cao hơn so với những người có thu nhập cao) Sự phân phối theo chiều ngang và theo chiều dọc đã tạo ra lưới ASXH
1.1.2.4 Góp phần thúc đẩy tiến hộ xã hội
Đến nay người ta đã ý thức được rằng, sự phát triển của xã hội là một quá trình, trong đó các nhân tố kinh tế và nhân tố xã hội thường xuyên tác động lẫn nhau Sự phát triển của thế giới trong những năm gần đây đặt ra mục tiêu là bảo đảm những cải thiện nhất định cho hạnh phúc của mỗi người và đem lại những lợi ích cho mọi người; bảo đảm phân phối công bằng hơn về
Trang 18thu nhập và của cải, tiến tới công bằng xã hội; đạt được hiệu quả sản xuất, bảo đảm việc làm, mở rộng và cải thiện về thu nhập giáo dục và y tế cộng đồng; giữ gìn và bảo vệ môi trường Đáp ứng những nhu cầu tối cần thiết cho những người gặp khó khăn, bất hạnh là vấn đề được ưu tiên trong chiến lược phát triển của thế giới Những lưới đầu tiên của ASXH đã bảo vệ, giảm bớt sự khó khăn cho họ Sự phát triển sau này của những lưới khác tạo ra sự đa dạng trong ASXH, giải quyết được những nhu cầu khác nhau của nhiều nhóm người trong những trường hợp “rủi ro xã hội” Tuy nhiên phải thấy rằng, ASXH không loại trừ được sự nghèo túng mà chỉ có tác dụng góp phần đẩy lùi nghèo túng, góp phần vào việc thúc đẩy tiến bộ xã hội
1.1.3 C năn v n u n tắ ơ ản ủ n s n
1.1.3.1 Chức năng của an sinh xã hội
Một là, bảo đảm thu nhập ở mức tối thiểu
Đây là chức năng cơ bản nhất của ASXH ASXH có vai trò cung cấp (có điều kiện hoặc không có điều kiện) mức tối thiểu thu nhập (mức sàn) bảo đảm quyền sống tối thiểu của con người, bao gồm quyền về ăn, sức khoẻ, giáo dục, nhà ở và một số dịch vụ xã hội cơ bản nhằm bảo vệ con người khỏi bị đói nghèo do không có thu nhập tạm thời hoặc vĩnh viễn
Hai là, nâng cao năng lực quản lý rủi ro
Nền tảng của đảm bảo an sinh xã hội là quản lý rủi ro, bao gồm: Phòng ngừa rủi ro, Giảm thiểu rủi ro và Khắc phục rủi ro
Phòng ngừa rủi ro: hỗ trợ người dân chủ động ngăn ngừa rủi ro trong đời sống, sức khoẻ, sản xuất kinh doanh và biến động của môi trường tự nhiên
Giảm thiểu rủi ro: giúp cho người dân có đủ nguồn lực để bù đắp những thiếu hụt về thu nhập do các biến cố trong đời sống, sức khoẻ, sản xuất kinh doanh và môi trường tự nhiên
Khắc phục rủi ro: hỗ trợ kịp thời cho người dân để hạn chế tối đa các tác động không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát do các biến cố
Trang 19trong đời sống, sức khoẻ, sản xuất kinh doanh và môi trường tự nhiên và bảo đảm điều kiện sống tối thiểu của người dân
Ba là, phân phối thu nhập
Một trong những chức năng quan trọng của ASXH là bảo đảm thu nhập cho những người/nhóm đối tượng khi không có khả năng tạo thu nhập Các chính sách giảm nghèo, các hình thức trợ giúp xã hội thường xuyên và đột xuất cho các nhóm đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương và phương châm
“người trẻ đóng, người già hưởng” trong bảo hiểm xã hội, hay “người trẻ đóng, người ốm hưởng” trong bảo hiểm y tế thể hiện rõ chức năng chia sẻ rủi
ro, phân phối lại thu nhập của ASXH, ngay cả khi phân phối không dựa trên
sự đóng góp, mà dựa vào nhu cầu của cá nhân cũng như khả năng bảo đảm của ngân sách nhà nước
Bốn là, thúc đẩy việc làm bền vững và phát triển thị trường lao động
Hệ thống ASXH thúc đẩy việc làm bền vững, tăng cường kỹ năng và các cơ hội tham gia thị trường lao động cho người lao động thông qua việc hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động (đặc biệt là người nghèo, người lao động nông thôn…); phát triển thị trường lao động và dịch vụ việc làm để kết nối cung cầu lao động, giảm thiểu mất cân bằng cung cầu lao động; hỗ trợ tạo việc làm trực tiếp cho một bộ phận người lao động thông qua các chương trình vay vốn tín dụng ưu đãi, chương trình việc làm công và các chương trình thị trường lao động khác; hỗ trợ chuyển đổi việc làm cho lao động mất đất, lao động di cư, lao động bị tác động bởi khủng hoảng kinh tế…
Năm là, nâng cao hiệu quả quản lý xã hội, thúc đẩy gắn kết xã hội và phát triển xã hội
Hệ thống ASXH được xây dựng và thực thi có hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển của mỗi quốc gia, cụ thể như sau:
- Nâng cao hiệu quả quản lý xã hội: ASXH là một trong 3 cấu phần của chính sách xã hội, là một trong những hệ thống chương trình, chính sách quan
Trang 20trọng để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Do vậy, ASXH là công cụ quản lý của nhà nước trong lĩnh vực phân phối và điều tiết phân phối Thông qua chính sách thuế và các chính sách chuyển nhượng
xã hội, nhà nước thực hiện vai trò điều tiết, phân phối lại thu nhập giữa các khu vực kinh tế, các vùng kinh tế, các nhóm dân cư và các thế hệ
- Xóa đói giảm nghèo, giảm bất bình đẳng, thu hẹp chênh lệch về điều kiện sống theo vùng, các nhóm dân cư Mục tiêu đầu tiên của ASXH là giảm nghèo, giảm bất bình đẳng và phân hoá giàu nghèo Nhà nước thông qua chính sách hỗ trợ người nghèo, các đối tượng yếu thế, điều chỉnh nguồn lực cho các vùng nghèo, vùng chậm phát triển, tạo nên sự phát triển hài hoà, giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng, hạn chế bất bình đẳng giữa các nhóm dân
cư, tạo nên sự đồng thuận giữa các giai tầng, các nhóm xã hội trong quá trình phát triển và duy trì sự ổn định xã hội
- Góp phần tăng trưởng kinh tế và gắn kết xã hội: Thông qua hỗ trợ người nghèo, người yếu thế tham gia thị trường lao động, giảm nghèo, giảm bất bình đẳng ASXH nâng cao nguồn vốn con người, tăng cường cơ hội và phát triển con người và tăng cường sự hòa nhập , là tiền đề cho tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và tăng cường gắn kết xã hội
- Hướng tới tương lai tốt đẹp hơn: Một hệ thống ASXH được thiết kế hiệu quả có thể tạo điều kiện cho mỗi cá nhân được phát triển độc lập, chủ động và nhiều cơ hội đầu tư tốt hơn cho tương lai Ngày nay, trong hầu hết các nước, các chỉ số ASXH đều là những chỉ số rất quan trọng gắn với phát triển con người và xã hội như: tình trạng sức khỏe, giáo dục, thu nhập, nhà ở, tuổi thọ, tầm vóc
An sinh xã hội được coi là công cụ để đầu tư cho tương lai, giảm rủi ro trong tương lai
Sáu là, hỗ trợ người dân vượt qua khủng hoảng
Các nước đang phát triển ngày càng có nhu cầu thiết kế và phát triển hệ thống ASXH nhằm hỗ trợ người nghèo và người yếu thế trong bối cảnh
Trang 21khủng hoảng kinh tế và các biến động có phạm vi người dân bị ảnh hưởng mạnh do: số lượng các chương trình ASXH hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu về
an sinh của người dân Phạm vi bao phủ của chính sách ASXH bị hạn chế, chỉ phục vụ cho một nhóm dân cư, thông thường là nhóm dân cư “khỏe hơn, tốt hơn” trong xã hội
1.1.3.2 Nguyên tắc xây dựng an sinh xã hội
- Nguyên tắc đoàn kết: thể hiện sự gắn bó mật thiết giữa các cá nhân, nhóm trong xã hội như gia đình, cộng đồng; giữa Nhà nước với người dân và các đối tác xã hội, đồng thời mang tính đạo lý, nhấn mạnh ý nghĩa của sự tương trợ lẫn nhau trong nội bộ và giữa các nhóm trong xã hội
- Nguyên tắc chia sẻ: dựa trên cơ chế phân phối lại thu nhập giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ, giữa nhà nước, doanh
nghiệp, hộ gia đình và cá nhân
- Nguyên tắc công bằng: thể hiện mối quan hệ giữa đóng góp với hưởng lợi, giữa mức hưởng lợi hay đóng góp của các nhóm đối tượng có cùng hoàn cảnh và điều kiện Việc thực hiện nguyên tắc này nhằm khuyến khích
người lao động tích cực tham gia vào hệ thống công khai, minh bạch
- Nguyên tắc nâng cao trách nhiệm cá nhân: thể hiện trách nhiệm cá nhân tham gia vào thực hiện chính sách, đóng góp vào các chương trình xã hội Bảo đảm tính thoả đáng, thích đáng và bền vững trong từng chính sách, chương trình và của hệ thống trong dài hạn
- Nguyên tắc tập trung hỗ trợ: bảo đảm mức sống tối thiểu cho người dân khi bị rủi ro làm suy giảm hoặc mất thu nhập tạm thời hay vĩnh viễn, đặc biệt là người nghèo, đối tượng dễ bị tổn thương
1.1.4 N dun n t n s n
1.1.4.1 Công tác bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là bộ phận lớn nhất trong hệ thống ASXH Có thể nói, không có Bảo hiểm xã hội (BHXH) thì không thể có một nền ASXH vững
Trang 22mạnh BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào
quỹ bảo hiểm xã hội
+ Bản chất của bảo hiểm xã hội
BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa Khi trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH
có điều kiện ra đời phát triển Vì vậy, các nhà kinh tế cho rằng, sự ra đời và phát triển của BHXH phản ánh sự phát triển của nền kinh tế Một nền kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân thấp kém không thể có một hệ thống BHXH vững mạnh được Kinh tế càng phát triển, hệ thống BHXH càng đa dạng, các chế độ BHXH ngày càng mở rộng, các hình thức BHXH ngày càng phong phú
Về mặt xã hội, BHXH là sự chia sẻ rủi ro, người lao động chỉ phải đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhưng xã hội sẽ có một lượng vật chất đủ lớn trang trải những rủi ro xảy ra BHXH đã thực hiện nguyên tắc “lấy của số đông bù cho số ít”
Dưới góc độ kinh tế, BHXH là sự bảo đảm thu nhập, bảo đảm cuộc sống cho người lao động khi họ bị giảm hay mất khả năng lao động Có nghĩa
là tạo ra một khoản thu nhập thay thế cho người lao động khi họ gặp phải các rủi ro thuộc phạm vi BHXH
Dưới góc độ chính trị, BHXH góp phần liên kết giữa những người lao động xuất phát từ lợi ích chung của họ
Khi được nhà nước điều chỉnh bằng pháp luật, BHXH đã trở thành quyền cơ bản của người lao động, xét trên cả bình diện quốc gia và quốc tế Đồng thời đó cũng là trách nhiệm của họ và người sử dụng lao động phải tham gia BHXH Vì vậy, BHXH là một chính sách xã hội quan trọng, là bộ phận cơ bản để đảm bảo ASXH của các quốc gia
Trang 23+ Các nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm xã hội
Thứ nhất, mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng,
thời gian đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH
Thứ hai, mức đóng BHXH bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương
tháng của người lao động Mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn
Thứ ba, người lao động vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có
thời gian đóng BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng BHXH Thời gian đóng BHXH đã được tính hưởng BHXH một lần thì không tính vào thời gian làm cơ sở tính hưởng các chế độ BHXH
Thứ tư, quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh
bạch; được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần, các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định
Thứ năm, việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo
đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH
+ Nội dung của bảo hiểm xã hội:
- Đối tượng tham gia BHXH chủ yếu là người lao động làm công ăn lương thuộc các thành phần kinh tế khác nhau và những người phục vụ trong lực lượng vũ trang
- Hình thức bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội thường có hai loại: bảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm bắt buộc Với hình thức BHXH bắt buộc thì mức đóng góp và chế độ được hưởng quy định cụ thể tại Luật số 58/2014/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2014; Điều 30, Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH, ngày 29 tháng 12 năm
2015 Mức đóng đối với doanh nghiệp 17,5%; đối với người lao động 8% hàng tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất Còn với hình thức bảo hiểm tự nguyện
Trang 24là loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình
+ Nguồn trợ cấp bảo hiểm xã hội
Nguồn trợ cấp BHXH là do các bên tham gia bảo hiểm đóng góp, chủ yếu là ba bên: người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước Từ sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm theo một tỷ lệ quy định
mà hình thành nên quỹ BHXH Quỹ BHXH là quỹ tiền tệ tập trung, do cơ quan chức năng quản lý thống nhất theo chế độ tài chính, hạch toán độc lập và được Nhà nước ủng hộ
+ Chế độ hưởng và thời gian hưởng bảo hiểm xã hội
Chế độ hưởng BHXH gồm hai loại: chế độ BHXH dài hạn và chế độ BHXH ngắn hạn
+ Chế độ hưởng BHXH dài hạn gồm: hưu trí, mất sức, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tử tuất
+ Chế độ hưởng BHXH ngắn hạn gồm: trợ cấp ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe, hưởng trợ cấp một lần và truy lĩnh
Thời gian hưởng trợ cấp thường ổn định và lâu dài, ví dụ: thời gian tối
đa hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động là một năm Riêng đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân thì thời gian này tùy thuộc vào thời gian điều trị tại cơ sở y tế thuộc quân đội nhân dân
+ Mức trợ cấp bảo hiểm xã hội
Mức hưởng trợ cấp BHXH chủ yếu căn cứ vào mức đóng góp của người lao động vào quỹ BHXH nhiều hay ít và mức độ rủi ro, thương tật của người lao động, ví dụ: Mức hưởng chế độ ốm đau của người lao động tối đa bằng 75% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng BHXH từ đủ ba mươi năm trở lên và nếu đã đóng BHXH từ dưới mười lăm năm thì mức hưởng bằng 50% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc
Trang 25Tóm lại, BHXH được coi là cột trụ chính của hệ thống ASXH Việt Nam, cung cấp sự trợ giúp về mặt vật chất cho những người lao động - lực lượng đóng vai trò quan trọng nhất trong xã hội - trong những trường hợp gặp rủi ro làm giảm hoặc mất nguồn thu nhập vì lý do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí và chết
Bảo hiểm thất nghiệp
+ Bản chất của bảo hiểm thất nghiệp
Đây là một chính sách nằm trong hệ thống chính sách kinh tế xã hội quốc gia BHTN là một bộ phận của BHXH và nó được coi là một chính sách
có vai trò lớn trong việc khắc phục tình trạng thất nghiệp, BHTN ra đời góp phần ổn định đời sống và hỗ trợ cho người lao động được học nghề và tìm việc làm, sớm đưa họ trở lại làm việc Bên cạnh đó, BHTN còn góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và doanh nghiệp, đây là một biện pháp hỗ trợ người lao động trong nền kinh tế thị trường với mục đích chính là thông qua các hoạt động đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm mới thích hợp và ổn định
+ Nội dung của BHTN
- Đối tượng tham gia BHXH chủ yếu là công dân Việt Nam, người lao động làm công ăn lương trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, nghề nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể có hợp đồng lao động không xác dịnh thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 3 đến 36 tháng
- Phạm vi bảo hiểm của BHTN, người tham gia BHTN được hưởng BHTN khi có đủ 4 điều kiện sau:
+ Đã chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc (trừ các trường hợp: Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật; Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng)
+ Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp:
Trang 26Đã đóng BHTN đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động xác định thời hạn/không xác định thời hạn
Đã đóng BHTN đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định
- Nguồn quỹ: Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công
tháng Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của những người lao động tham gia BHTN
- Mức trợ cấp: Mức trợ cấp hàng tháng bằng 60% mức tiền công, tiền
lương tháng đóng BHTN của 06 tháng liền kề trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm: miễn phí; Hỗ trợ học nghề: Tối đa 01 triệu đồng/người/tháng, trong thời gian không quá 06 tháng
- Thời gian hưởng trợ cấp BHTN: Theo quy định pháp luật, người lao
động có thời gian tham gia BHTN từ đủ 12 tháng cho đến 36 tháng thì được hưởng 03 tháng BHTN, từ năm thứ tư trở đi mỗi một năm đủ 12 tháng được hưởng thêm 01 tháng BHTN nữa nhưng tối đa không quá 12 tháng
1.1.4.2 Công tác bảo hiểm y tế
Là một bộ phận không thể tách rời trong hệ thống ASXH Nó mang tính bền vững và có vai trò chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho người tham gia theo quy định của pháp luật, không vì mục đích lợi nhuận
- Bản chất của bảo hiểm y tế:
+ Bảo hiểm y tế (BHYT) là sự chia sẻ rủi ro giữa người khỏe mạnh với người ốm đau, giữa người trẻ với người già, giữa người có thu nhập cao với người có thu nhập thấp
Trang 27+ Bảo hiểm y tế là phản ánh các quan hệ kinh tế gắn liền với việc huy động các nguồn tài lực từ sự đóng góp của những người tham gia bảo hiểm để hình thành quỹ bảo hiểm và sử dụng quỹ để thanh toán các chi phí khám chữa bệnh cho người được bảo hiểm khi ốm đau
+ Bảo hiểm y tế có tác dụng khắc phục sự thiếu hụt về tài chính, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, đồng thời nâng cao chất lượng và thực hiện công bằng xã hội trong khám chữa bệnh cho nhân dân
- Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế hoạt động dựa trên các nguyên tắc cơ bản đảm bảo sự chia sẻ trong cộng đồng, đó là:
+ Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHYT
+ Mức đóng BHYT được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương tối thiểu của khu vực hành chính (sau đây gọi chung là mức lương tối thiểu)
Người lao động đóng bằng 1,5% tiền lương, tiền công tháng Người sử dụng lao động đóng bằng 3% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHYT của những người lao động tham gia BHYT
+ Mức hưởng BHYT căn cứ theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi của người tham gia BHYT
+ Chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT do quỹ BHYT và người tham gia BHYT cùng chi trả
+ Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm cân đối thu, chi và được Nhà nước bảo hộ
- Nội dung của bảo hiểm y tế
+ Đổi tượng tham gia BHYT rất rộng, bao gồm gần như toàn bộ người
dân trong xã hội Người nước ngoài đang học tập tại Việt Nam và được cấp học bổng từ NSNN Việt Nam cũng được tham gia BHYT Vì có rất nhiều đối tượng tham gia BHYT, trong đó có những đối tượng không có nguồn thu
Trang 28nhập từ tiền lương, tiền công hàng tháng nên căn cứ đóng BHYT của các đối tượng này cũng khác nhau
- Điều kiện và các dịch vụ được hưởng
+ Về điều kiện được hưởng: để được hưởng BHYT, các đối tượng phải tham gia đóng BHYT theo quy định và thẻ BHYT là căn cứ xác định người đứng tên được hưởng quyền lợi về BHYT
+ Về dịch vụ, BHYT: chủ yếu cung cấp thuốc men, chi trả các chi phí khám, chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm
Từ việc xác định phạm vi được bảo hiểm này rút ra một điểm khác biệt
cơ bản giữa chế độ trợ cấp của BHYT và chế độ trợ cấp ốm đau của BHXH ở chỗ: BHYT không nhằm mục đích trợ cấp về vật chất cho người tham gia bảo hiểm khi họ bị giảm sút thu nhập vì ốm đau, mà chỉ chi trả các khoản chi phí liên quan đến việc khám bệnh, chữa bệnh của những đối tượng này (bao gồm
cả chế độ điều trị tại bệnh viện)
Về nguyên tắc BHYT có quyền lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh trên
cơ sở thỏa mãn nhu cầu cá nhân, mức đóng theo thu nhập và mức hưởng theo bệnh lý, nó có sự điều tiết lấy số đông bù số ít Đảm bảo mối quan hệ hài hoà quyền hạn, trách nhiệm giữa ba bên: người tham gia BHYT - cơ quan BHXH - cơ sở khám chữa bệnh Hiện có hai loại là BHYT bắt buộc
và gia đình Bảo trợ xã hội (BTXH) là sự giúp đỡ thêm của nhà nước và xã hội bằng tiền hoặc bằng các điều kiện và phương tiện thích hợp để đối tượng
Trang 29được giúp đỡ có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình, sớm hòa nhập trở lại với cuộc sống của cộng đồng BTXH thường có 02 loại: Trợ giúp xã hội thường xuyên và trợ giúp đột xuất Trợ giúp thường xuyên là hình thức trợ giúp xã hội đối với những người hoàn toàn không thể
lo được cuộc sống trong một thời gian dài (một hoặc nhiều năm) hoặc trong suốt cả cuộc đời của đối tượng trợ giúp (ví dụ: trợ cấp một khoản kinh phí hàng tháng; miễn phí thẻ BHYT cho những đối tượng người cao tuổi, người nghèo, người khuyết tật, tâm thần; miễn, giảm học phí học tập; đưa người già
cô đơn, trẻ em mồ côi vào các Trung tâm nuôi dưỡng…) Trợ giúp đột xuất là hình thức trợ giúp xã hội do nhà nước và cộng đồng giúp đỡ những người không may bị thiên tai, mất mùa hoặc gặp những biến cố khác mà đời sống của họ bị đe dọa về tính mạng, lương thực, nhà ở, chữa bệnh, hay phục hồi sản xuất nếu không có sự trợ giúp khẩn cấp Đối tượng, chế độ của hai nhóm đối tượng trên được Quy định tại Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng BTXH; Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật
Tr giúp xã h i t xuất
Là đảm bảo ít nhất ở mức sống tối thiếu cho các đối tượng thuộc nhóm
xã hội yếu thế cần trợ giúp xã hội có cuộc sống ổn định và có điều kiện hoà nhập tốt hơn vào cộng đồng Việc đảm bảo này thông qua các hoạt động cung cấp tiền bạc, vật phẩm, các điều kiện vật chất khác trong một thời hạn hoặc trong suốt cuộc đời của đối tượng
- Đối tượng được trợ giúp xã hội đột xuất có phạm vi rộng, toàn dân
- Người được nhận trợ giúp xã hội không phải đóng góp vào quỹ tài chính Nguồn quỹ dùng để trợ cấp được lấy từ thuế hoặc từ đóng góp của cộng đồng Điều này là ngược lại với BHXH Trong BHXH, nguồn quỹ được
Trang 30bên tham gia bảo hiểm đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn có sự hỗ trợ từ Nhà nước Nguồn quỹ ấy sẽ bù đắp hoặc thay thế phần thu nhập bị giảm hay mất
đi của người lao động khi gặp phải những biến cố theo quy luật “số đông bù
số ít”
- Mức trợ giúp không đồng đều mà tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể và được xác định dựa vào việc thẩm tra đánh giá thu nhập, vốn và tài sản của người được xét hưởng trợ cấp
- Trợ giúp có thể bằng tiền hoặc hiện vật Khác với BHXH là hầu như chỉ bằng tiền
Hoạt động trợ giúp xã hội tuân theo các nguyên tắc cơ bản là:
- Phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của Nhà nước - cộng đồng - sự vươn lên của các đối tượng được trợ giúp hay cứu trợ (còn được gọi là “thế kiềng ba chân”)
- Hoạt động trợ giúp xã hội phải phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương cũng như của đất nước nói chung Cơ sở để thực hiện cứu trợ xã hội (CTXH) là sự tăng trưởng, phát triển kinh tế, là năng suất lao động xã hội
- Kế hoạch hóa công tác CTXH, cân đối trong kế hoạch chung của địa phương
- Mỗi đối tượng trợ giúp xã hội có yêu cầu được giúp đỡ khác nhau, do vậy phải nắm chắc từng đối tượng để có phương thức giúp đỡ có hiệu quả nhất, bảo đảm công bằng xã hội, an toàn xã hội
- Đối tượng hưởng trợ giúp xã hội
Đối tượng trợ giúp xã hội là người dân nói chung đang lâm vào hoàn cảnh khó khăn về vật chất và tinh thần Đó có thể là người có quan hệ lao động hoặc không có quan hệ lao động, có thể là người già hoặc trẻ em, người khuyết tật, người lang thang, người mắc các chứng bệnh xã hội
- Nguồn kinh phí trợ giúp xã hội
Trang 31Nguồn tài chính đảm bảo thực hiện CTXH trước hết được lấy từ NSNN, bên cạnh đó, còn có sự đóng góp của các tổ chức, cơ quan, đoàn thể, hiệp hội, tổ chức từ thiện, nhân dân đóng góp và nguồn trợ giúp quốc tế Người thụ hưởng không phải đóng góp bất kỳ một khoản nào vào quỹ cứu trợ
- Mức hưởng trợ cấp và thời gian hưởng trợ cấp
Mức trợ cấp nhiều hay ít, thời gian hưởng trợ cấp ngắn hay dài, nhanh hay chậm căn cứ chủ yếu vào mức độ khó khăn của người được cứu trợ và nguồn cứu trợ Ngoài được cấp bằng tiền, người ta có thể trợ giúp bằng hiện vật
1.1.4.4 Ưu đãi xã hội
Đây là bộ phận đặc thù chỉ có ở nước ta nhằm thực hiện mục tiêu cao
cả là đền ơn, đáp nghĩa đối với sự hy sinh, công lao đặc biệt và cống hiến to lớn của những người có công với cách mạng, với đất nước; là trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội
Đối tượng được hưởng ưu đãi xã hội là những người có công với cách mạng và thân nhân của họ, bao gồm: Người tham gia hoạt động cách mạng trước Cách mạng tháng Tám năm 1945; Liệt sĩ và gia đình liệt sĩ; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng lao dộng, thương binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng
Ngu n tr ấp u
Nguồn trợ cấp ưu đãi xã hội chủ yếu từ ngân sách nhà nước Ngoài ra, còn được huy động từ các nguồn đóng góp của các tổ chức doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước hay còn gọi là Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”
- Chế độ ưu đãi xã hội bao gồm các chế độ trong các lĩnh vực khác
Trang 32nhau như y tế, giáo dục, đào tạo, lao động, việc làm, trợ cấp trong đời sống sinh hoạt Tùy thuộc vào đối tượng người có công mà được hưởng các chế
1.1.4.5 Xoá đói giảm nghèo và dịch vụ xã hội
Xóa đói giảm nghèo là tổng thể các biện pháp chính sách của nhà nước
và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện nghèo đói, nhằm tạo điều kiện để họ có thể tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập không đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo theo từng địa phương, khu vực, quốc gia
* Vai trò của xóa đói giảm nghèo
Xóa đói giảm nghèo là yêu cầu cần thiết nhằm ổn định chính trị, xã hội Những năm gần đây một số vấn đề về chính trị, xã hội ở một số vùng miền núi và những nơi khó khăn diễn biến phức tạp, điều đó có nghĩa là XĐGN ở nước ta không đơn thuần là một chương trình có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn là chương trình mang ý nghĩa ổn định chính trị, xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ
Ở khía cạnh khác, nghèo đói về kinh tế sẽ ảnh hưởng đến các mặt xã hội và chính trị: các tệ nạn xã hội phát sinh như: trộm cắp, cướp giật, ma túy, mại dâm đạo đức bị suy thoái, quốc phòng - an ninh xã hội không được đảm bảo đến một mức độ nhất định có thể dẫn đến các rối loạn xã hội Nếu nghèo đói không được quan tâm giải quyết, tỷ lệ và cấp độ của nghèo vượt quá giới
Trang 33hạn an toàn sẽ dẫn đến hậu quả mất ổn định chính trị Nếu giải quyết không thành công vấn đề XĐGN sẽ không được mục tiêu công bằng xã hội và phát triển kinh tế mà Việt Nam đang phấn đấu
Xóa đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ biện chứng với nhau, tăng trưởng kinh tế tạo ra cơ sở, điều kiện vật chất để giảm nghèo, ngược lại giảm nghèo là nhân tố đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững
* Nội dung của xóa đói giảm nghèo
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tập trung chủ yếu đầu tư các công trình thuộc mạng lưới hạ tầng như: điện, đường, trường, trạm, thuỷ lợi, cụm công nghiệp, chợ và các công trình trọng điểm khác phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Vốn đầu tư cho thực hiện chương trình được huy động từ các nguồn sau: Vốn ngân sách Nhà nước (kể cả vốn của chính phủ và các tổ chức quốc
tế tài trợ), vốn vay tín dụng, vốn huy động từ các tổ chức và sự đóng góp của người dân
- Đào tạo nghề, giải quyết việc làm
Tổ chức các chương trình đào tạo nghề phù hợp với đặc điểm và môi trường sống của các hộ nghèo, nhất là hộ nghèo vùng sâu, vùng xa, hải đảo để
có khả năng đáp ứng được yêu cầu của thị trường việc làm, tăng cơ hội và khả năng tìm kiếm việc làm cho người dân
- Hỗ trợ về giáo dục với mục tiêu xóa đói giảm nghèo:
Đây là chính sách góp phần cải thiện cuộc sống của người nghèo Có thể gói gọn chương trình giáo dục trong khuôn khổ đóng góp hoặc tác động vào việc xoá đói giảm nghèo gồm: Chương trình củng cố và mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật cho giáo dục tiểu học Chương trình nâng cao chất lượng phổ cập các cấp Miễn, giảm học phí cho học sinh thuộc hộ nghèo, cận nghèo, học sinh thuộc các đối tượng trợ giúp xã hội
Trang 34Dịch vụ xã hội và trợ cấp (bằng tiền) ASXH (trợ cấp BHXH, bảo hiểm
y tế, ưu đãi xã hội ) là 2 mặt của cùng một hành động bảo vệ an toàn cho xã hội nói chung và cho người lao động nói riêng Sẽ không thể có hiệu quả tích cực dù tiền trợ cấp có cao đến đâu mà dịch vụ nghèo nàn không đáp ứng nhu cầu của người lao động Dịch vụ xã hội có thể bao gồm những dịch vụ y tế, phòng ngừa y tế (vệ sinh phòng dịch, y tế dự phòng, ), phòng ngừa tai nạn, dịch vụ đối với người tàn tật (phục hồi chức năng, cung cấp các bộ phận giả như chân giả, tay giả, ), dịch vụ kế hoạch hóa gia đình Tùy thuộc vào sự phát triển của kinh tế cũng như nhu cầu của xã hội trong từng thời kỳ mà dịch vụ xã hội phát triển ở những loại nào nhưng hầu như quốc gia nào cũng quan tâm đến việc cung cấp dịch vụ y tế để đảm bảo cho rủi ro, ốm đau lên hàng đầu
Việc tổ chức và phát triển hệ thống dịch vụ xã hội trước tiên phải dựa vào
sự đầu tư từ NSNN đặc biệt cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật và đào tạo cán bộ y tế Tuy nhiên, nhà nước có thể thu hồi khoản đầu tư này khi sử dụng mạng lưới chăm sóc y tế không chỉ cho những người lao động được bảo hiểm y tế, BHXH trợ cấp mà còn cung cấp dịch vụ rộng rãi cho người dân trong cộng đồng
Nhà nước ta đã có nhiều quan tâm đến nhiều nội dung dịch vụ xã hội:
tổ chức mạng lưới y tế đến thôn, xã, đào tạo cán bộ y tế, thực hiện y tế dự phòng phòng chống bệnh bướu cổ, AIDS, các dịch bệnh truyền nhiễm, thực hiện một thời gian dài cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh miễn phí, thực hiện
hệ thống trường dạy nghề để dạy nghề cho người lao động nói chung, người
Trang 35lao động thương tật nói riêng Nhà nước đã có chính sách khuyến khích phát triển hệ thống dịch vụ xã hội bằng các nguồn lực đa dạng, điều này, một mặt làm cho cơ sở vật chất dịch vụ xã hội ngày càng tốt hơn, mặt khác, nhà nước
có thể tập trung nguồn lực của mình để chăm sóc tốt hơn cho các đối tượng
ưu đãi xã hội và BHXH
1.1.5 C ếu t ản ởn ến n t n s n
1.1.5.1 Nhận thức về công tác ASXH
An sinh xã hội đang đặt ra và được hầu hết các quốc gia quan tâm không ngừng hoàn thiện, nhất là trong một xã hội phát triển với xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ như hiện nay Vì vậy, ASXH không chỉ là vấn đề riêng rẽ của một quốc gia mà là vấn đề chung của cộng đồng quốc tế Tuy nhiên, mỗi quốc gia vẫn có cách hiểu về ASXH và xây dựng hệ thống có những điểm khác nhau, nhưng điểm chung nhất được công nhận, thì ASXH, đó là một “vỏ bọc” hay một “giá đỡ”, một “chiếc ô” che chở… nhằm bảo đảm cho một xã hội và mỗi con người (trong đó con người được đặt ở vị trí trung tâm) sự bảo đảm về/bằng vật chất, tinh thần và các dịch vụ xã hội… mà nhà nước, cộng đồng dân cư, nhóm người hay một tổ chức (gồm các cá nhân, tập thể hay cộng đồng) tạo nên Nó mang đến cho những đối tượng nghèo đói, yếu thế, gặp rủi
ro bất thường về các nhu cầu cơ bản khi họ phải đối diện với khó khăn, thách thức Từ đó, ASXH được một hệ thống chính sách, pháp luật, chương trình hay những bộ quy tắc của xã hội tạo ra, được Nhà nước thực hiện bằng nguồn ngân sách và sự huy động từ nhiều nguồn lực nhằm nâng cao năng lực của người dân, của gia đình, và cộng đồng để tăng cường khả năng ngăn ngừa, chống đỡ, giảm nhẹ, khắc phục những rủi ro gặp phải trong cuộc sống Theo quan niệm này, ASXH đem đến cho tất cả mọi người quyền hưởng sự an toàn Quyền đó đặt trên sự thỏa mãn tối thiểu về kinh tế, văn hóa cần cho nhân cách
và sự tự do phát triển trong trường hợp thất nghiệp hoặc gặp phải rủi ro Đó chính là sự bảo vệ mà xã hội dành cho các thành viên của mình thông qua một
Trang 36số biện pháp công cộng đối phó với những khó khăn về kinh tế và xã hội do
bị ngừng và bị giảm thu một cách đáng kể bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tuổi già hoặc chết hay sự bảo đảm trợ cấp cho những gia đình đông con…
1.1.5.2 Hệ thống chính sách về an sinh xã hội
Chính sách là trụ cột quan trọng của hệ thống ASXH, nó xác định đối tượng tham gia, đối tượng điều chỉnh; xác định các chính sách, các chế độ đóng góp, thụ hưởng và những điều kiện ràng buộc Ngoài ra, thể chế chính sách còn xác định trách nhiệm của bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện chính sách và chế độ đề ra Việc này rất quan trọng vì khi xác định đúng, chủ trương, chính sách sẽ đến với đối tượng thực sự cần nhằm giúp họ ổn định cuộc sống, tạo công bằng xã hội thúc đẩy sự phát triển bền vững
Chính sách cũng xác định cơ chế tạo nguồn tài chính phù hợp cho từng loại chính sách ASXH, từng nhóm đối tượng Chính sách về tài chính là cơ chế thu và chi sao cho cân đối thu chi, đảm bảo thu chi tương đối và đảm bảo chất lượng cung cấp dịch vụ ASXH
- Chỉ thị, Nghị quyết của Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương, Nghị định của Chính phủ về công tác ASXH;
- Thông tư của các Bộ, ban ngành trực thuộc Trung ương hướng dẫn thi hành Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương và Nghị định của Chính phủ về công tác ASXH;
- Cấp tỉnh ban hành văn bản chỉ đạo, UBND chỉ thị, quyết định giao chỉ tiêu thực hiện công tác ASXH;
- Các huyện, thị xã, thành phố xây dựng văn bản, kế hoach triển khai trên địa bàn; phân công nhiệm vụ, chỉ đạo các xã, phường, thị trấn, tổ chức thực hiện;
- Các xã, phường, thị trấn xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện
1.1.5.3 Nguồn lực tài chính
Nguồn lực tài chính đóng vai trò rất quan trọng trong việc bào đảm nguồn lực thực hiện các chính sách ASXH Nguồn lực các định cơ chế đối với
Trang 37từng loại chính sách, từng nhóm đối tượng (tỷ lệ đóng góp của người dân, người sử dụng lao động, của nhà nước); cơ chế cân đối thu, chi, đầu tư phát triển quỹ; giá cả, cơ chế và chất lượng cung cấp dịch ASXH
Cơ chế tài chính của các hợp phần ASXH không hoàn toàn giống nhau Các loại hình bảo hiểm có thể áp dụng cơ chế có đóng, có hưởng, còn đa số hợp phần trợ giúp xã hội thì nguồn tài chính lại chủ yếu là do nhân sách nhà nước cung cấp
Thể chế tài chính của hệ thống ASXH có mối quan hệ chặt chẽ với chính sách thuế và tài chính phụ thuộc vào mô hình hệ thống ASXH Ví dụ, các nước theo mô hình nhà nước phúc lợi thường thu thuế cao (kể cả thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập gia tăng hoặc thuế xuất nhập khẩu cũng như các loại lệ phí khác) để có nguồn thực hiện các chính sách ASXH Ngược lại, các nước theo mô hình nhà nước xã hội khuyến khích tăng trưởng nhanh hơn nên thu thuế thấp hơn và chỉ thực hiện các chính sách ASXH ở mức thấp, với phạm vi chính sách và đối tượng bao phủ hạn chế
Việc bố trí nguồn lực tài chính cho các chính sách ASXH tùy thuộc và tình hình kinh tế xã hội của từng quốc gia Một số nước phát triển, ngân sách nhà nước dành cho các chính sách ASXH có thể lên tới 30% tổng ngân sách nhà nước, hay khoảng 15% GDP, trong khi đối với các nước đang phát triển (trong đó có Việt nam) chỉ khoảng 5% GDP
1.1.5.4 Chủ trương xã hội hóa công tác ASXH
An sinh xã hội và phúc lợi xã hội có bản chất xã hội sâu sắc gắn kết hữu cơ giữa quyền lợi và trách nhiệm của mỗi người với mỗi đơn vị, cộng đồng và toàn xã hội Cùng với việc nâng cao vai trò, chức năng và tăng thêm
nguồn lực của Nhà nước, phải thực hiện chủ trương “các chính sách xã hội
được tiến hành theo tinh thần xã hội hoá” Phải huy động các nguồn lực của
toàn xã hội để nâng cao an sinh xã hội và phúc lợi xã hội
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách nhằm mở rộng sự tham gia của mọi chủ thể vào cung cấp ngày càng nhiều hơn với chất lượng tốt hơn các
Trang 38dịch vụ công cộng Tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân đề cao trách nhiệm, nâng cao năng lực và tham gia thiết thực vào việc bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội Khuyến khích phát triển các mô hình an sinh xã hội tự nguyện ở cộng đồng, các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ công cộng theo cơ chế phi lợi nhuận và các hình thức hợp tác công - tư Đẩy mạnh các cuộc vận động xã hội như: ngày vì người nghèo, phong trào tương thân tương ái, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết dân tộc
1.1.5.5 Trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác ASXH
Nhân tố này có vai trò quyết định trong việc tổ chức làm công tác ASXH Cho dù chính sách có tốt đến mấy đi chăng nữa nhưng tổ chức thực hiện không tốt thì chính sách sẽ không đi vào cuộc sống Do vậy, việc thiết lập hệ thống tổ chức quản lý với đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp (từ nhận thức,
cơ cấu tổ chức, năng lực, phẩm chất, phương thức phối hợp) để thực hiện có hiệu quả việc thực hiện công tác ASXH Về nguyên tắc, có thể thiết lập hệ thống tổ chức độc lập cho từng hợp phần; nhưng cũng có thể sử dụng bộ máy chính quyền hiện có để thực hiện, tùy điều kiện cụ thể Thể chế chính sách mang tính phổ cập thì chi phí quản lý ít và bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ và ngược lại, thể chế phức tạp thì chi phí quản lý tốn kém hơn Nếu chủ thể thực thi chính sách (tổ chức, cơ quan, cán bộ) triển khai không đúng kế hoạch, thiếu đồng bộ, không đúng đối tượng và định mức, vụ lợi sẽ làm giảm hiệu quả việc thực thi chính sách và giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước
1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác an sinh xã hội
1.2.1 K n n m về công tác ASXH ủ m t s n ớ tr n t ế ớ
1.2.1.1 An sinh xã hội ở Trung Quốc
Gần 2 thập kỷ vừa qua, Trung Quốc luôn nổi lên là một nước có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất thế giới Nhờ vậy, các tầng lớp dân cư trong xã hội đã được chia sẻ thành quả này ở các mức độ khác nhau Tuy nhiên, hiện nay vấn đề ASXH ở Trung Quốc vẫn còn nổi lên một loạt các vấn đề sau: Tỷ
Trang 39lệ số hộ gia đình nông dân nghèo đói ở nông thôn vẫn còn khá cao, dân cư ở những vùng đô thị mới được đô thị hóa vẫn còn nghèo, sức khỏe kém vì chi phí y tế quá lớn so với thu nhập; tình trạng thất nghiệp diễn ra khá phổ biến cả nông thôn và thành thị; tình trạng nghèo đói ở nông thôn đã dẫn đến hiện tượng bỏ học gia tăng, thiên tai, tai nạn bất ngờ vẫn không có xu hướng giảm;
tổ chức hệ thống ASXH còn nhiều lúng túng khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường…
Chính phủ đề xuất các hướng đổi mới về chính sách ASXH và hệ thống ASXH như sau:
- Phát triển chương trình tài chính vĩ mô để tạo thêm nhiều việc làm và
từ đó giúp người dân tự lo liệu, bảo vệ mình và gia đình trước những sự biến đổi khó lường trong cuộc sống;
- Mở rộng mạng lưới BHYT xuống tận nông thôn, vùng sâu, vùng xa
- Tăng cường cung ứng các dịch vụ cộng đồng, như: dịch vụ BHYT, dịch
vụ bảo hiểm thương mại, dịch vụ tài chính xuống tận các cơ sở xã, phường
- Đa dạng hóa hệ thống ASXH, xóa bỏ tình trạng tập trung hóa ở cấp trung ương như trước đây, coi việc tổ chức thực hiện ASXH là nghĩa vụ và trách nhiệm của cả trung ương, địa phương và toàn xã hội
- Để cao vai trò các doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ trong việc thực hiện ASXH
- Tiếp tục các hoạt động nghiên cứu về ASXH giúp chính phủ không ngừng hoàn thiện và tổ chức tốt hệ thống ASXH trong điều kiện kinh tế hiện nay
1.2.1.2 An sinh xã hội tại Cộng hòa liên bang Đức
Chính phủ Đức đã xây dựng một hệ thống bảo hiểm cho người lao động từ cuối thế kỷ 19 Quá trình hình thành và phát triển hệ thống BHXH cho người lao động ở Cộng hòa Liên Bang Đức cũng đi từ thấp đến cao theo từng giai đoạn
- Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1997 Đây là giai đoạn mà BHXH ở Đức có rất nhiều sự đổi mới và cải cách Năm 1957, Hiệp hội bảo hiểm hưu
Trang 40trí ra đời và đối tượng được mở rộng cho cả những nhân viên văn phòng Năm
1974, Luật BHXH được sửa đổi cơ bản Nội dung sửa đổi tập trung vào các vấn đề như: mở rộng đối tượng tham gia BHXH, nâng cao chất lượng hoạt động của cả hệ thống, coi trọng hơn nữa loại hình BHYT nhà nước…
Năm 1989, xây dựng và thực hiện các dịch vụ bảo hiểm liên quan đến nhu cầu của người tàn tật và những người cần chăm sóc đặc biệt Năm 1995, lại đánh dấu một lần sửa đổi nữa trong lĩnh vực BHXH ở Đức, đó là thực hiện BHXH cho người nông dân và lần này đối tượng tham gia BHXH bắt buộc và tự nguyên được quy định rõ ràng hơn theo hướng đối tượng bắt buộc là chủ yếu
Giai đoạn từ 1997 đến nay, hệ thống BHXH ở Đức vẫn tiếp tục có những đổi mới và cải cách căn bản Đó là luật BHYT được tách riêng và từ ngày 01/01/1991, Luật BHXH của Tây Đức được đưa vào áp dụng tại khu vực Đông Đức trước đây Cũng trong giai đoạn này ở Đức loại hình BHYT tư nhân phát triển mạnh mẽ, Luật bảo hiểm hưu trí Nhà nước đã có sự cải cách
cơ bản như: tuổi nghỉ hưu của người lao động phải là 67 tuổi thay vì 65 tuổi như trước đây, áp dụng thuế thu nhập đối với người nghỉ hưu…
Trải qua hơn 100 năm thực hiện BHXH, Cộng hòa liên bang Đức vẫn luôn coi BHXH là hệ thống trụ cột đảm bảo ASXH Tuy nhiên, bên cạnh BHXH Chính phủ Đức vẫn coi trọng các quỹ dự phòng của Nhà nước và của
tư nhân nhằm khuyến khích mọi người dân tự bảo hiểm mình trước những rủi
ro và những sự kiện bảo hiểm Vì thế các loại dịch vụ bảo hiểm thương mại ở Đức rất phát triển, doanh thu phí bảo hiểm thương mại hàng năm đứng thứ 3 thế giới chỉ sau Mỹ và Nhật Bản Các dịch vụ bảo hiểm thương mại thường được áp dụng là bảo hiểm thân thể, bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp, bảo hiểm trọn đời… Các quỹ dự phòng của Chính phủ nhằm cứu trợ khẩn cấp khi cần thiết cho những người dân khi gặp các thảm họa thiên tai, hoặc dịch bệnh Ngoài ra, ở Đức còn thực hiện các loại trợ cấp đặc biệt khác: trợ cấp để bảo hộ nông nghiệp, trợ cấp phí bảo hiểm cho những người già có thu