1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ DLST tại khu du lịch sinh thái thác mai bàu nước sôi, huyện định quán, tỉnh đồng nai

84 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 10,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến mức hài lòng của khách hàng với chất lượng dịch vụ DLST tại Khu du lịch sinh thái Thác Mai - Bàu Nước Sôi .... Trong những địa điểm du lịch nổi tiếng của

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học

Người viết cam đoan

Triệu Đức Tân

Trang 2

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học Trường Đại học Lâm nghiệp đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại Trường

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Đốc và các cán bộ nhân viên tại khu du lịch Thác Mai – Bàu Nước Sôi đã cung cấp thông tin, tài liệu và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn

Mặc dù đã cố gắng nhưng do hạn chế về thời gian cũng như kinh nghiệm bản thân nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và bạn bè để Luận văn được hoàn thiện hơn

Đồng Nai, tháng 10 năm 2017

Tác giả luận văn

Triệu Đức Tân

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iv

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Nội dung nghiên cứu 3

5 Kết cấu luận văn 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH SINH THÁI VÀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ DU LỊCH SINH THÁI 4

1.1 Những lý luận cơ bản về DLST và dịch vụ DLST 4

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

1.1.2 Đặc điểm của hoạt động du lịch sinh thái 10

1.1.3 Vai trò của du lịch sinh thái 13

1.1.4 Chất lượng dịch vụ du lịch sinh thái 14

1.1.5 Các nhân tố môi trường ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ DLST 19

1.1.6 Nội dung cấu thành chất lượng dịch vụ du lịch sinh thái 23

1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng dịch vụ DLST 24

1.2.1 Kinh nghiệm thế giới [11] 24

1.2.2 Kinh nghiệm trong nước 27

1.2.3 Bài học kinh nghiệm cho khu du lịch sinh thái Thác Mai – Bàu Nước Sôi 28

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

Trang 5

2.1 Đặc điểm Khu du lịch sinh thái Bàu nước sôi- Thác Mai 30

2.1.1 Giới thiệu chung về Khu du lịch sinh thái Bàu nước sôi- Thác Mai 30

2.1.2 Điều kiện tự nhiên 30

2.1.3.Tài nguyên thiên nhiên 32

2.1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội 33

2.2 Phương pháp nghiên cứu 34

2.2.1 Phương pháp chọn mẫu điều tra 34

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 35

2.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 35

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

3.1 Thực trạng hoạt động DLST và dịch vụ du lịch sinh thái tại khu DLST Thác Mai – Bàu Nước Sôi 39

3.1.1 Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tại Khu du lịch sinh thái Thác Mai - Bàu Nước Sôi 39

3.1.2 Kết quả kinh doanh du lịch của khu du lịch sinh thái Thác Mai - Bàu Nước Sôi 42

3.2 Thực trạng chất lượng dịch vụ DLST tại Khu du lịch sinh thái Thác Mai - Bàu Nước Sôi 46

3.2.1 Chất lượng dịch vụ DLST tại Khu du lịch sinh thái Thác Mai – Bàu Nước Sôi 46

3.2.2 Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến mức hài lòng của khách hàng với chất lượng dịch vụ DLST tại Khu du lịch sinh thái Thác Mai - Bàu Nước Sôi 52

3.3 Đánh giá chung về chất lượng dịch vụ DLST tại Khu du lịch sinh thái Thác Mai – Bàu Nước Sôi 62

3.3.1 Ưu điểm 62

3.3.2 Hạn chế 63

Trang 6

3.4 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ DLST tại khu du lịch Thác

Mai – Bàu Nước Sôi 64

3.4.1 Tăng cường phát triển sản phẩm DLST 66

3.4.2 Không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ 67

3.4.3 Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực làm công tác du lịch 68

3.4.4 Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng khu du lịch 69

3.4.5 Nâng cao hiệu quả công tác truyền tin, tuyên truyền 71

3.4.6 Nâng cao sự hài lòng của du khách đối với chất lượng dịch vụ du lịch 72 KẾT LUẬN 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 2.1 Chỉ tiêu khí hậu tại Khu DLST Thác Mai – Bàu Nước Sôi 32

Bảng 3.1 Tình hình khách du lịch Thác Mai – Bàu Nước Sôi 42

Bảng 3.2 Doanh thu tại Thác Mai – Bàu Nước Sôi (2014 - 2016) 44

Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả đánh giá chất lượng dịch vụ tổ chức tham quan - Khu du lịch Thác Mai – Bàu Nước Sôi 47

Bảng 3.4 Tổng hợp kết quả đánh giá chất lượng dịch vụ ăn uống- Khu du lịch Thác Mai – Bàu Nước Sôi 48

Bảng 3.5 Tổng hợp kết quả đánh giá chất lượng dịch vụ lưu trú- Khu du lịch Thác Mai – Bàu Nước Sôi 49

Bảng 3.6 Tổng hợp kết quả đánh giá chất lượng dịch vụ vui chơi giải trí - Khu du lịch Thác Mai – Bàu Nước Sôi 50

Bảng 3.7 Tổng hợp kết quả đánh giá chất lượng dịch vụ mua sắm - Khu du lịch Thác Mai – Bàu Nước Sôi 51

Bảng 3.8 Tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch sinh thái 52

Bảng 3.9 Kết quả kiểm định chất lượng thang đo 53

Bảng 3.10 Kết quả KMO và kiểm định Bartlett 54

Bảng 3.11 Tổng phương sai trích giải thích 55

Bảng 3.12 Ma trận nhân tố xoay (Rotated Component Matrixa) 56

Bảng 3.13 Tổng hợp mô hình (Model Summaryb 57

Bảng 3.14 Kết quả phân tích ANOVAa 57

Bảng 3.15 Hệ số hồi quy (Coefficientsa) 58

Bảng 3.16 Hệ số hồi quy chuẩn hoá 60

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Du lịch nói chung và Du lịch sinh thái (DLST) nói riêng đang ngày càng được khách du lịch ưu tiên lựa chọn Trong khoảng hai thập kỷ gần đây, tốc độ công nghiệp hoá mạnh mẽ đã biến nhiều diện tích đất nông nghiệp thành các khu công nghiệp tập trung, tình trạng đô thị hoá các vùng nông thôn diễn ra ngày càng nhanh chóng một mặt tạo điều kiện thuận lợi để tăng thu nhập cho người dân, song đồng thời cũng làm gia tăng nhu cầu nghỉ ngơi tĩnh dưỡng, tìm về với tự nhiên Do vậy mà hoạt động Du lịch sinh thái đang ngày càng phát triển

Đồng Nai là một tỉnh cửa ngõ đi vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ, đi đầu với việc kinh tế phát triển và năng động Đồng Nai nổi tiếng với các địa điểm du lịch, đặc biệt là những khu du lịch sinh thái, hơn nữa được thiên nhiên ưu ái với điều kiện thiên nhiên thuận lợi, cùng với nhiều cảnh quan đẹp

mà các hoạt động du lịch của Tỉnh đã có nhiều thành tựu đáng kể Trong những địa điểm du lịch nổi tiếng của Đồng Nai có Khu du lịch sinh thái Thác Mai – Bàu Nước Sôi đã trở thành một trong những điểm tham quan nghỉ dưỡng lý tưởng mà du khách đến với Đồng Nai không thể bỏ qua

Thác Mai – Bàu Nước Sôi không chỉ được biết đến với không khí trong lành, đặc sắc mà còn mang lại cho du khách những cảm giác êm đềm như hòa mình vào thiên nhiên đất trời Những năm qua, Khu du lịch sinh thái Thác Mai – Bàu Nước Sôi không ngừng được nâng cấp, đổi mới, mở rộng và đa dạng hoá các loại hình hoạt động du lịch Hiện Khu du lịch đang dự định xây dựng một số dự án nhà nghỉ bungalow, nhà hàng đặc sản…Tuy nhiên, do nhiều hạn chế về quy hoạch, định hướng và đầu tư phát triển mà các hoạt động DLST ở đây còn mang nặng tính nhỏ lẻ, đơn điệu, chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng được yêu cầu của khách hàng làm hạn chế khai thác triệt để

Trang 9

những lợi thế về du lịch của Tỉnh nói chung và Khu du lịch sinh thái Thác Mai – Bàu Nước Sôi nói riêng

Xuất phát từ thực tế đó, tôi nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao

chất lượng dịch vụ DLST tại Khu du lịch sinh thái Thác Mai – Bàu Nước Sôi , huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai” nhằm tìm kiếm giải pháp nâng cao

chất lượng dịch vụ DLST, góp phần thúc đẩy du lịch phát triển theo hướng bền vững

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Đánh giá thực trạng chất lượng dịch vụ DLST làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ DLST tại Khu du lịch sinh thái Thác Mai – Bàu Nước Sôi

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Chất lượng các dịch vụ DLST tại Khu du lịch sinh thái Thác Mai – Bàu Nước Sôi

Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Phạm vi về nội dung: Dịch vụ và chất lượng dịch vụ DLST tại Khu du

lịch sinh thái Thác Mai – Bàu Nước Sôi

Trang 10

- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu các hoạt động dịch vụ DLST tại

Khu du lịch sinh thái Thác Mai – Bàu Nước Sôi, tỉnh Đồng Nai

- Phạm vi về thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2014-2016,

số liệu sơ cấp thu thập trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2017

4 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn về DLST, dịch vụ DLST tại Khu

du lịch sinh thái Thác Mai – Bàu Nước Sôi

- Thực trạng chất lượng dịch vụ du lịch sinh thái tại Khu du lịch sinh thái Thác Mai – Bàu Nước Sôi

- Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng về chất lượng dịch vụ du lịch sinh thái tại Khu du lịch sinh thái Thác Mai – Bàu Nước Sôi

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ DLST tại Khu

du lịch sinh thái Thác Mai – Bàu Nước Sôi

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về dịch vụ và chất lượng dịch vụ

du lịch sinh thái

Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trang 11

Với sự phát triển của công nghiệp ngày càng mạnh mẽ từ thế kỷ XVIII, hàng loạt các phương tiện di chuyển hiện đại được phát minh thì nhu cầu nghỉ dưỡng, tham quan, nghiên cứu… trở nên dễ dàng hơn với mọi người Chính

vì lẽ đó hoạt động du lịch có điều kiện phát triển mạnh mẽ

Năm 1925, hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch IUOTO (Internation of Union Official Travel Organization) được thành lập tại Hà Lan, đánh dấu bước ngoặt trong việc thay đổi, phát triển các khái niệm về du lịch Đầu tiên,

du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong khoảng thời gian ngắn đến các vùng xung quanh

để nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh

Năm 1985, I.I.Pirogionic đưa ra khái niệm: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức – văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá”

Trang 12

Tổ chức du lịch thế giới WTO (World Tourism Organization) định nghĩa: "Du lịch theo nghĩa hành động được định nghĩa là một hoạt động di chuyển vì mục đích giải trí, tiêu khiển và tổ chức các dịch vụ xung quanh hoạt động này Người đi du lịch là người đi ra khỏi nơi mình cư trú một quãng đường tối thiểu là 80km trong khoảng thời gian hơn 24 giờ với mục đích giải trí tiêu khiển” [5]

Ở Việt Nam, theo luật du lịch ban hành từ tháng 6 thăm 2005 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2006: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định” [12]

Như vậy, qua các khái niệm nêu trên chúng ta thấy được rằng có rất nhiều cách hiểu khác nhau về du lịch, song ta cũng có thể thấy rằng đa số các

ý kiến đều cho rằng du lịch là loại hình có liên quan đến việc di chuyển và lưu lại tạm thời ở ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm mục đích tham quan, nghỉ dưỡng…

1.1.1.2 Du lịch sinh thái

Có thể nói cho đến nay khái niệm về “Du lịch sinh thái” vẫn còn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, với những tên gọi khác nhau Tuy nhiên, mặc dù những tranh luận vẫn còn tiếp tục nhằm đưa ra một định nghĩa chung được chấp nhận về “Du lịch sinh thái”, đa số ý kiến tại các diễn đàn quốc tế

chính thức về “Du lịch sinh thái” đều cho rằng “Du lịch sinh thái” là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được quản lý bền vững về mặt sinh thái Du khách sẽ được hướng dẫn tham quan

với những diễn giải cần thiết về môi trường để nâng cao hiểu biết, cảm nhận được những giá trị thiên nhiên và văn hoá mà không gây ra những tác động không thể chấp nhận đối với các hệ sinh thái và văn hoá bản địa

Trang 13

“Du lịch sinh thái” là loại hình du lịch tham quan, thám hiểm, đưa du khách tới những môi trường còn tương đối nguyên vẹn, về các vùng thiên nhiên hoang dã, đặc sắc để tìm hiểu, nghiên cứu các hệ sinh thái và các nền văn hoá bản địa độc đáo, làm thức dậy ở du khách tình yêu và trách nhiệm bảo tồn phát triển đối với tự nhiên và cộng đồng địa phương Là hình thức du lịch có trách nhiệm không làm ảnh hưởng đến các khu bảo tồn thiên nhiên, không ảnh hưởng đến môi trường và góp phần duy trì, phát triển cuộc sống của cộng đồng người dân địa phương

Du lịch sinh thái có những đặc tính cơ bản sau:

- Phát triển dựa vào những giá trị (hấp dẫn) thiên nhiên và văn hoá bản địa

- Được quản lý bền vững về môi trường sinh thái

- Có giáo dục và diễn giải về môi trường

- Có đóng góp cho những nỗ lực bảo tồn và phát triển cộng đồng

Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về “Du lịch sinh thái” lần đầu tiên được Hector Ceballos-Lascurain đưa ra năm 1987: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hoá được khám phá”

Cùng với thời gian, định nghĩa về “Du lịch sinh thái” được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đưa ra, điển hình là: “Du lịch sinh thái là du lịch đến các khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường

tự nhiên và văn hoá mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ sinh thái Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế để ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích về tài chính cho người dân địa phương” (Wood, 1991)

Du lịch sinh thái được phân biệt với các loại hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao về môi trường và sinh thái thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề Du lịch sinh thái tạo được mối quan

Trang 14

hệ giữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức được giáo dục để biến chính khách du lịch thành những người đi đầu trong công tác bảo vệ môi trường Phát triển “Du lịch sinh thái” sẽ làm giảm thiểu tác động của khách du lịch đến văn hoá và môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính do du lịch mang lại và chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên” (Allen, 1993)

Định nghĩa của Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế: “Du lịch sinh thái

là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương”

Như vậy, từ định nghĩa đầu tiên được đưa ra năm 1987 cho đến nay, nội dung của định nghĩa về “Du lịch sinh thái” đã có sự thay đổi: từ chỗ đơn thuần coi hoạt động “Du lịch sinh thái” là loại hình du lịch ít tác động đến môi trường tự nhiên sang cách nhìn tích cực hơn, theo đó “Du lịch sinh thái”

là loại hình du lịch có trách nhiệm với môi trường, có tính giáo dục và diễn giải cao về tự nhiên, có đóng góp cho hoạt động bảo tồn và đem lại lợi ích cho cộng đồng địa phương

Ở Việt Nam, “Du lịch sinh thái” là lĩnh vực mới được đặt ra nghiên cứu

từ giữa thập kỷ 90 song đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu về du lịch và môi trường Do trình độ nhận thức khác nhau, ở những góc độ nhìn nhận khác nhau, khái niệm về “Du lịch sinh thái” cũng còn nhiều điểm chưa thống nhất Định nghĩa về “Du lịch sinh thái” ở Việt Nam:

“Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nổ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”

Như vậy, qua các khái niệm nêu trên chúng ta thấy được rằng có rất nhiều cách hiểu khác nhau về du lịch sinh thái, song ta cũng có thể thấy rằng

đa số các ý kiến của các chuyên gia đều cho rằng: Du lịch sinh thái là loại

Trang 15

hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được nuôi dưỡng, quản lý theo hướng bền vững về mặt sinh thái

Từ khái niệm có thể khái quát DLST qua các đặc trưng sau:

- Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, khách du lịch tìm đến các khu bảo tồn thiên nhiên, các vườn quốc gia, rừng nguyên sinh, hoặc các tài nguyên thiên nhiên khác chưa bị tàn phá để tìm hiểu, sống hoà mình với thiên nhiên Nếu chỉ có đặc trưng này thì chỉ được gọi là du lịch dựa vào tự nhiên, không phải là du lịch sinh thái

- Các cơ quan cung ứng các dịch vụ du lịch, các cơ quan bảo tồn, các hãng lữ hành, các công ty du lịch, các đơn vị tổ chức, và khách du lịch tham gia vào DLST có trách nhiệm tích cực thực hiện các giải pháp về bảo vệ môi trường sinh thái, giảm thiểu tác động tiêu cực của du lịch đối với môi trường

và văn hoá Đây là điểm quan trọng để phân biệt DLST với du lịch tự nhiên

- Các chương trình hoạt động chủ yếu do hướng dẫn viên địa phương, những người có kiến thức sâu rộng và kinh nghiệm về tài nguyên thiên nhiên xung quanh họ được thiết lập dựa vào tài nguyên thiên nhiên và văn hoá của khu vực

- Các phương tiện và việc sắp xếp để hỗ trợ các chương trình hoạt động DLST bao gồm các trung tâm thông tin, đường mòn tự nhiên, cơ sở lưu trú,

ăn uống sinh thái, sách báo và các tài liệu khác

Mặc dù chưa có một khái niệm thống nhất về DLST Nhưng trong nội hàm của các khái niệm đều hàm chứa bốn đặc điểm cơ bản và sự khác biệt của DLST với các loại hình du lịch khác DLST không đơn giản chỉ là đưa ra một loại sản phẩm mới của ngành du lịch mà hơn thế nữa nó là động lực của

sự phát triển, là một nhân tố để phát triển bền vững

Trang 16

1.1.1.3 Dịch vụ du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái là một loại hình hoạt động du lịch dựa chủ yếu vào tài nguyên thiên nhiên Do vậy các loại hình dịch vụ du lịch sinh thái cũng là các dịch vụ du lịch nói chung

Theo luật du lịch Việt Nam 2005, các dịch vụ du lịch được định nghĩa:

Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.[12]

- Dịch vụ lữ hành: là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch Các dịch vụ lữ hành có thể được cung cấp bởi điểm du lịch, có thể được cung cấp bởi các công ty kinh doanh du lịch (công ty lữ hành) Tuy nhiên, cần phải rõ một điều rằng, các chương trình, tour du lịch chỉ là các hoạt động tổ chức việc tham quan Vấn đề cốt lõi ảnh hưởng đến sức hút của du lịch vẫn là điểm hấp dẫn của tài nguyên du lịch Người làm du lịch phải xây dựng các chương trình phù hợp, tận dụng được tối đa các tài nguyên cho mục đích du lịch Thông qua việc tổ chức đó mà nâng cao được mức hài lòng của du khách

- Dịch vụ lưu trú: Là việc cung cấp nơi ở và các dịch vụ khác phục vụ khách lưu trú Dịch vụ lưu trú là một phần rất quan trọng trong các hoạt động

du lịch Dịch vụ lưu trú giúp khách du lịch lấy lại được sức khoẻ sau một ngày tham quan mệt mỏi, qua đó mà kéo dài được tour du lịch Với các hoạt động du lịch sinh thái, dịch vụ lưu trú có vai trò đặc biệt quan trọng vì đó là một phần rất quan trọng trong chuyến đi của khách, thậm chí có những điểm

du lịch chỉ thu hút khách bởi mục tiêu nghỉ ngơi, hưởng thụ không khí trong lành và sự thanh bình của không gian như du lịch Đà Lạt

- Dịch vụ hướng dẫn du lịch: Là các hoạt động cung cấp thông tin, hướng dẫn cho khách trong quá trình tham quan Các thông tin du lịch là cần

Trang 17

thiết để giúp du khách lựa chọn các chương trình du lịch, điểm du lịch, đồng thời giúp du khách có thêm nhiều hiểu biết về điểm du lịch Sự nhiệt tình, chu đáo của hướng dẫn viên, sự hiểu biết của hướng dẫn viên có vai trò quan trọng kích thích sự hứng thú của khách, nâng cao nhận thức của họ về giá trị của tài nguyên thiên nhiên, qua đó giúp nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên và môi trường

- Dịch vụ khác bao gồm dịch vụ vận chuyển, dịch vụ ăn uống, lưu niệm, dịch vụ vui chơi giải trí, : là các dịch vụ đi kèm rất quan trọng trong các chuyến du lịch Sự đi lại thuận tiện là điều kiện đầu tiên trong sự lựa chọn

du lịch của du khách Kinh nghiệm phát triển du lịch cho thấy, nhiều điểm du lịch có tài nguyên phong phú, song không thuận tiện trong giao thông, đi lại

sẽ ít có sức hấp dẫn với khách hơn Do vậy, để phát triển du lịch, cần có sự phối hợp tốt trong xây dựng hạ tầng, trong cung cấp phương tiện di chuyển hợp lý Các dịch vụ ăn uống, dịch vụ lưu niệm là một phần quan trọng của chuyến đi Ăn uống khi đi du lịch một mặt là nhu cầu sinh lý của con người, mặt khác việc thưởng thức các món ăn đặc sản địa phương, các món ăn đặc trưng vùng miền cũng được xem là một hoạt động du lịch Sự hấp dẫn của các đặc sản địa phương tạo ra điểm nhấn trong du lịch Trong tổ chức kinh doanh

du lịch, nếu biết phát huy những lợi thế này sẽ góp phần nâng cao giá trị điểm

du lịch, giúp tăng cường thu hút khách

1.1.2 Đặc điểm của hoạt động du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

Thứ nhất: Phát triển dựa vào những giá trị (hấp dẫn) thiên nhiên và văn hoá bản địa

Khách du lịch sinh thái khi thực hiện một chuyến đi họ mong muốn trở

về với những nơi có môi trường trong lành và chưa bị tác động nhiều bởi con người ở đó họ được hoà mình với thiên nhiên để được khám phá, được nghiên

Trang 18

cứu tự nhiên và văn hoá bản địa và được thưởng thức bầu không khí trong lành, thoát khỏi cuộc sống đầy áp lực của công việc và ô nhiễm môi trường DLST thường được thực hiện ở các khu bảo tồn tự nhiên, các vườn quốc gia, ở những nơi có mật độ dân số thấp và tài nguyên thiên nhiên phong phú, ở những khu vực

có giá trị cao về môi trường tự nhiên như: hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính

đa dạng sinh học cao và cuộc sống hoang dã phong phú

Thứ hai, Du lịch sinh thái hỗ trợ tích cực cho công tác bảo tồn các đặc tính tự nhiên, văn hoá và xã hội

Các hoạt động DLST ngoài việc phải quan tâm nuôi dưỡng, quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên để nó tồn tại và hấp dẫn du khách, họ phải đóng góp tài chính cho chính quyền sở tại, những cơ quan quản lý các tài nguyên từ những khoản lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh du lịch của mình Những nguồn tài chính này làm tăng thêm ngân sách cho các khu vực nơi tổ chức hoạt động DLST để bù đắp cho các khoản chi phí như: quản lý, trồng thêm cây xanh, tôn tạo, trùng tu… Ngoài ra, thông qua du lịch sinh thái giúp con người hiểu hơn các giá trị thiên nhiên, giá trị môi trường Từ đó mà nâng cao được ý thức và trách nhiệm bảo vệ thiên nhiên và môi trường

Với người dân địa phương nhờ có thu nhập từ việc tham gia vào hoạt động du lịch sinh thái từ đó sẽ hạn chế việc khai thác tài nguyên mang tính tiêu cực như phá hoại cảnh quan, chặt cây, phá rừng gây ảnh hưởng xấu tới thẩm mỹ và môi trường du lịch

Tất cả những điều trên nói lên rằng DLST có khả năng hỗ trợ tích cực

cho công tác bảo tồn các đặc tính tự nhiên, văn hoá, xã hội tại điểm tham quan

Thứ ba, Các hoạt động mang tính giáo dục, giảng giải nâng cao nhận thức về hệ sinh thái và môi trường

Trang 19

DLST là một phương tiện tốt để truyền đạt thông tin vì nó có khả năng đưa con người tiếp cận trực tiếp và thấy rõ vai trò của thiên nhiên đối với đời sống con người

Một trong những đặc điểm nổi trội và khác với các hình thức du lịch khác là DLST đẩy mạnh các hoạt động mang tính giáo dục về các hệ sinh thái

và môi trường sống Các hoạt động giáo dục này bao gồm việc giảng giải về lịch sử, nguồn gốc hình thành, tập quán sinh hoạt, mối quan hệ tương tác qua lại giữa con người với thiên nhiên DLST hướng dẫn cách thức để những người làm du lịch và khách du lịch tiến hành hoạt động du lịch đúng cách với thái độ trân trọng, giữ gìn và bảo vệ môi trường sống

Thứ tư, Dựa vào việc khai thác tiềm năng tự nhiên và nhân văn du lịch sinh thái mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư bản địa

Khi du lịch phát triển và mở rộng, nhiều địa phương đã thoát khỏi cảnh đói nghèo, người dân được tiếp cận với các dịch vụ giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng như: Điện thắp sáng, đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước và thông tin liên lạc

Ngày nay, khi hoạt động du lịch trải nghiệm cộng đồng đang ngày càng được ưu tiên lựa chọn thì vai trò và sự có mặt của người dân bản địa trong các hoạt động du lịch càng trở nên quan trọng Các làng bản, người dân thông qua việc hướng dẫn du lịch, làm du lịch mà giúp họ hiểu hơn về giá trị của môi trường, của văn hoá, từ đó mà động viên, khuyến khích mọi người trong cộng đồng cùng chung tay gìn giữ những giá trị chung đó

Một biện pháp mà DLST góp phần mang lại các lợi ích kinh tế, phát huy các giá trị văn hóa và xã hội của những người dân bản địa là: sử dụng những người dân bản địa làm các hướng dẫn viên du lịch tại những khu DLST Khuyến khích người dân gìn giữ và phát triển những nghề truyền thống của mình như dệt thổ cẩm, thêu ren, làm hàng thủ công mỹ nghệ, trồng

Trang 20

các loại cây đặc sản của địa phương… để khách du lịch được chiêm ngưỡng, học hỏi và mua sắm các sản phẩm nơi họ đến tham quan Các lễ hội, phong tục tập quán cần được gìn giữ và phát huy vì đó là những nét đặc trưng riêng của vùng sinh thái du lịch, là điểm nhấn để thu hút khách tham quan

1.1.3 Vai trò của du lịch sinh thái

Về mặt kinh tế, DLST đã trở thành một trong những ngành quan trọng

của nhiều nước công nghiệp phát triển Rất nhiều quốc gia ngày nay coi phát triển du lịch là một ngành kinh tế quan trọng mang lại nguồn thu chủ yếu cho ngân sách quốc gia Vì vậy, phát triển du lịch cần được coi trọng như một ngành kinh tế khác của nền kinh tế

Phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng, đồng thời nó góp phần nâng cao đời sống dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cho nên hoạt động của DLST có mối quan

hệ tương tác đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Bản thân du lịch mang lại rất nhiều lợi ích cho các địa phương đón khách

Về mặt xã hội, việc phát triển du lịch trong đó có DLST tăng cường

giao lưu, trao đổi giữa các dân tộc, các quốc gia trên thế giới làm tăng cường

sự hiểu biết lẫn nhau

Như vậy để du lịch thực sự góp phần vào việc bảo vệ thiên nhiên đòi hỏi phải có sự suy nghĩ và hành động đúng không những của những người làm du lịch mà còn là toàn xã hội Nếu nhận thức của xã hội về DLST tốt thấy

rõ được tác dụng của nó thì mọi người sẽ đồng tâm thúc đẩy nó phát triển, ngược lại nếu chưa nhìn nhận được hết giá trị của nó thì người ta sẽ không ủng hộ thậm chí có thể gây khó khăn trong quá trình phát triển DLST

Người dân, Chính quyền địa phương và du khách cần phải nhìn thấy những lợi ích của DLST có thể mang lại thông qua những hoạt động và những

cơ hội mà loại hình du lịch này tạo nên mà mục tiêu cơ bản của DLST là phát

Trang 21

triển bền vững Nghĩa là đảm bảo đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm cản trở đến việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai

Để tạo điều kiện và kích thích loại hình du lịch này phát huy tác dụng của nó Ngoài những vấn đề lớn không thể không làm như quy hoạch, quản lý

sự phát triển DLST ở mức độ thích hợp, thì vấn đề giáo dục cộng đồng đóng vai trò không kém phần quan trọng, góp phần hỗ trợ các mối quan hệ tích cực hai chiều của DLST và bảo tồn tự nhiên cũng như DLST và cộng đồng địa phương

1.1.4 Chất lượng dịch vụ du lịch sinh thái

1.1.4.1 Khái niệm chất lượng dịch vụ du lịch

Chất lượng là một khái niệm trừu tượng và được hiểu theo nhiều cách khác nhau Chất lượng dịch vụ được sản sinh trong quá trình sử dụng và do vậy không dễ dàng gì đo lường được Theo tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000: 2000, đã đưa ra định nghĩa về chất lượng như sau: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm,

hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”

Chất lượng dịch vụ là vấn đề được các nhà quản lý quan tâm nhiều trong hoạt động kinh doanh hiện nay Một sản phẩm có chất lượng tốt chưa hẳn được khách hàng chọn mua nếu như dịch vụ đi kèm với sản phẩm đó được đánh giá

là thấp Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng dịch vụ, nhưng nhìn chung người ta định nghĩa chất lượng dịch vụ là những gì mà khách hàng cảm nhận được Mỗi khách hàng có một nhận thức và nhu cầu cá nhân khác nhau nên cảm nhận về chất lượng dịch vụ cũng khác nhau

Theo Lehtinen và Lehtinen (1982) cho là chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh: (1) chất lượng kỹ thuật và (2) chất lượng chức

Trang 22

năng Chất lượng kỹ thuật liên quan đến những gì được phục vụ và chất lượng chức năng nói lên chúng được phục vụ như thế nào

Theo Juran (1988) thì “chất lượng dịch vụ là sự phù hợp đối với nhu cầu” Với Parasuraman và cộng sự (1985, 1988) có lẽ là những người tiên phong trong nghiên cứu chất lượng dịch vụ một cách cụ thể và chi tiết Theo Parasuraman và cộng sự cho rằng: Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá toàn diện về thái độ hướng tới sự xuất sắc của dịch vụ

Trong đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch sinh thái, các yếu tố liên quan đến chất lượng kỹ thuật gồm sự đa dạng và phong phú của sản phẩm du lịch, tính hấp dẫn trong các chương trình du lịch, mức độ sẵn sàng cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng và thái độ, tinh thần phục vụ của nhân viên,

Về phía khách hàng, dịch vụ du lịch tốt hay không phụ thuộc vào mức

độ hài lòng của họ với các dịch vụ cung cấp Các yếu tố tạo nên sự hài lòng của khách hàng với các dịch vụ du lịch được cung cấp thể hiện qua các yếu tố: Sự tin cậy, sự thuận tiện, mức độ đáp ứng và sự an toàn trong tiêu dùng dịch vụ

Như vậy, mặc dù các phát biểu về chất lượng dịch vụ nói chung và du lịch sinh thái nói riêng rất khác nhau, song tựu chung lại chúng đều được thể hiện thông qua mức độ hài lòng, mức độ thoả mãn của khách với điểm du lịch

Tuy nhiên, mức độ hài lòng của khách lại là một khái niệm trừu tượng Trong nghiên cứu hành vi con người đều thống nhất cho rằng mức độ sẵn sàng mua, sử dụng một hàng hoá, dịch vụ nào đó thể hiện mức độ hài lòng cao về nó

Trong kinh doanh du lịch, số lượng khách đến với khu du lịch, mức tiêu dùng các dịch vụ du lịch ở đó thể hiện chất lượng dịch vụ Ngoài ra, cũng có thể đo lường mức độ hài lòng của khách một cách trực tiếp thông qua điều tra

Trang 23

1.1.4.2 Đo lường chất lượng dịch vụ

Parasuraman và cộng sự (1985) là những người đã khái niệm hóa các thành phần của chất lượng dịch vụ cảm nhận bởi khách hàng để có thể thiết kế một thang đo lường nó Các nhà nghiên cứu này cho rằng, bất kỳ dịch vụ nào, chất lượng của dịch vụ cảm nhận bởi khách hàng có thể mô tả thành 10 thành phần, đó là:

1 Tin cậy (Reliability): nói lên khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay lần đầu tiên

2 Đáp ứng (Responsiveness): nói lên sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ cho khách hàng

3 Năng lực phục vụ (Competence): nói lên trình độ chuyên môn để thực hiện dịch vụ khả năng chuyên môn này cần thiết cho nhân viên tiếp xúc với khách hàng, nhân viên trực tiếp thực hiện dịch vụ, khả năng nghiên cứu

để nắm bắt thông tin liên quan cần thiết cho việc phục vụ khách hàng

4 Tiếp cận (Acess): liên quan đến việc tạo mọi điều kiện dễ dàng cho khách hàng trong việc tiếp cận với dịch vụ như rút ngắn thời gian chờ đợi của khách hàng, địa điểm phục vụ và giờ mở cửa thuận lợi cho khách hàng

5 Lịch sự (Courtesy): nói lên tính cách phục vụ niềm nở, tôn trọng và thân thiện với khách hàng

6 Thông tin (Communication): liên quan đến việc giao tiếp, truyền đạt thông tin cho khách hàng bằng ngôn ngữ họ dễ dành hiểu được và lắng nghe

họ về những vấn đề liên quan đến họ như giải thích dịch vụ, chi phí, giải quyết khiếu nại thắc mắc

7 Tín nhiệm (Credibility): nói lên khả năng tạo lòng tin cho khách hàng, làm cho khách hàng tin cậy vào doanh nghiệp Khả năng này thể hiện qua tên tuổi và tiếng tăm của doanh nghiệp, nhân cách của nhân viên phục vụ giao tiếp trực tiếp với khách hàng

Trang 24

8 An toàn (Security): liên quan đến khả năng đảm bảo sự an toàn cho khách hàng, thể hiện qua sự an toàn về vật chất, tài chính, cũng như bảo mật thông tin

9 Hiểu biết khách hàng (Understanding/Knowing the customer): thể hiện qua khả năng hiểu biết nhu cầu của khách hàng thông qua việc tìm hiểu những đòi hỏi của khách hàng, quan tâm đến cá nhân họ và nhận dạng được khách hàng thường xuyên

10 Phương tiện hữu hình (Tangibles): thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên, các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ

Mô hình 10 thành phần của chất lượng dịch vụ nêu trên có ưu điểm là bao quát hầu hết mọi khía cạnh của dịch vụ Tuy nhiên, mô hình có nhược điểm là phức tạp trong đo lường Chính vì vậy, sau khi nhiều lần kiểm định mô hình trên Parasuraman và cộng sự đã xây dựng thang đo SERVQUAL để đánh giá chất lượng dịch vụ bao gồm 22 biến thuộc 5 thành phần cơ bản, đó là:

Thứ nhất: Mức độ tin cậy (Reliability): Là khả năng thực hiện dịch vụ

phù hợp và đúng thời hạn như cam kết

Trong hoạt động du lịch, thông thường trước khi quyết định đi du lịch, khách hàng thường có sự tham khảo trước các chương trình, tour du lịch Sau mỗi chuyến du lịch, khách hàng sẽ có những so sánh giữa những cam kết ban đầu với kết quả thực hiện trong thực tế Sự trung thực trong cam kết và thực hiện sẽ mang lại mức độ thoả mãn cao cho khách hàng và ngược lại Với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong các dịch vụ du lịch cung cấp ngày nay thì việc nâng cao mức độ tin cậy, tín nhiệm của đơn vị cung cấp có ý nghĩa quyết định sự thành công của hoạt động kinh doanh du lịch, đó là một phần của uy tín và thương hiệu của đơn vị

Thứ hai: Mức độ đáp ứng (Responsibility): Nói lên sự đa dạng và sẵn

sàng đáp ứng các yêu cầu của khách với các dịch vụ du lịch cung cấp Để nâng

Trang 25

cao mức độ đáp ứng yêu cầu của khách hàng, đơn vị cung cấp cần có những thông tin cơ bản về đặc điểm khách hàng, đặc điểm tiêu dùng của nhóm khách hàng mục tiêu để từ đó xây dựng các dịch vụ cung ứng phù hợp Trong hoạt động quản trị kinh doanh nói chung và kinh doanh du lịch nói riêng, để nâng cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao chất lượng dịch vụ, đơn vị cần tìm cách để thoả mãn tối đa nhu cầu của khách, cần quán triệt phương châm kinh doanh

"bán những thứ khách hàng cần chứ không phải là bán những thứ mình có"

Thứ ba: Khả năng tiếp cận (Access): Liên quan tới việc tạo mọi điều kiện

thuận lợi, dễ dàng cho khách trong việc tiếp cận các dịch vụ như rút ngắn thời gian chờ đợi của khách, địa điểm phục vụ thuận lợi, thông tin liên lạc sẵn có,

Thứ tư: Phương tiện hữu hình (Tangible): Thể hiện ở các điều kiện cơ sở

vật chất của điểm du lịch, các trang thiết bị phục vụ du lịch như nhà cửa, điểm nghỉ chân, điểm vui chơi giải trí ; hình thức, trang phục, thái độ phục vụ của nhân viên

Thứ năm: Sự cảm thông (Empathy): là mức độ sẵn sàng lắng nghe, giải

đáp những thắc mắc, những ý kiến phản hồi của khách hàng; Sự sẵn sàng giải thích và giải quyết các yêu cầu, khiếu nại của khách hàng một cách thoả đáng với thái độ hợp tác, chia sẻ

Về mặt lý thuyết, các tiêu chí đánh giá này có thể áp dụng cho việc đánh giá chất lượng của mọi loại hình dịch vụ, song với mỗi loại hình dịch vụ nhất định, các tiêu chí này được cụ thể hoá thành các tiêu chí rõ ràng, đảm bảo có thể đo lường được

Hiện nay có nhiều thang đo khác nhau để đo lường và đánh giá chất lượng dịch vụ, chúng phù hợp với từng đặc trưng dịch vụ và tất cả có một điểm chung đó là thể hiện được mức độ hài lòng mà khách hàng cảm nhận được khi họ sử dụng dịch vụ

Trang 26

Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó chất lượng dịch vụ quyết định đến sự hài lòng của khách hàng Sự hài lòng của khách hàng là một khái niệm rộng, bao gồm các yếu tố tác động đến nó như: Chất lượng dịch vụ, chất lượng sản phẩm, giá, các nhân tố cá nhân và các nhân tố tình huống Chất lượng dịch vụ là nhân tố tác động nhiều đến sự hài lòng của khách hàng Khi nhà cung cấp mang đến cho khách hàng những sản phẩm có chất lượng dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của

họ thì đó là bước đầu làm cho khách hàng hài lòng Do đó muốn tạo sự hài lòng cho khách hàng, nhà cung cấp sản phẩm cần tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ

1.1.5 Các nhân tố môi trường ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ DLST

1.1.5.1 Tài nguyên du lịch

Du lịch là một ngành kinh tế có định hướng tài nguyên rõ rệt DLST còn có mối liên hệ mật thiết hơn bởi khi muốn thiết lập một chuyến đi, điều quan tâm đầu tiên của du khách đối với địa điểm mà họ có ý định tới tham quan là cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, môi trường trong lành, sự đa dạng, đặc sắc của văn hoá truyền thống bản địa, ngành nghề truyền thống là yếu tố

cơ bản tạo nên sự hấp dẫn của một điểm du lịch

Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức hoạt động, lãnh thổ cũng như cơ cấu và chuyên môn của khu, điểm du lịch sinh thái Với mỗi loại tài nguyên có thể tổ chức loại hình du lịch với những đặc trưng riêng, loại hình riêng để phục vụ các nhu cầu và mục đích khác nhau của du khách

Quy mô hoạt động du lịch của một điểm, một khu, một vùng, một Quốc gia được xác định trên cơ sở khối lượng, chất lượng nguồn tài nguyên du lịch Tài nguyên là yếu tố cơ bản tạo ra sản phẩm của DLST và nó cũng tham gia vào việc tạo ra tính mùa vụ trong hoạt động du lịch, quyết định tính nhịp điệu của dòng khách, thị trường khách du lịch

Trang 27

Tài nguyên du lịch được xem là tiền đề để phát triển du lịch sinh thái Thực tế cho thấy, tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu DLST, loại hình du lịch gắn liền với thiên nhiên và môi trường nên nguồn tài nguyên lại càng quan trọng hơn và cũng có nguy cơ thường xuyên bị đe doạ xâm hại và tàn phá Muốn phát triển DLST một cách bền vững thì một hoạt động mang tính nguyên tắc là việc khai thác phải đi đôi với việc bảo vệ và nuôi dưỡng tài nguyên, đảm bảo nguyên tắc sức chứa

Tài nguyên của DLST bao gồm cả tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn Hai yếu tố này gắn kết với nhau tạo nên sự hấp dẫn của DLST

- Cảnh quan thiên nhiên, vùng núi có phong cảnh đẹp, các hang động,

di tích lịch sử, di tích văn hoá, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người, các di tích tự nhiên, các vùng khí hậu đặc biệt các điểm nước khoáng, suối nước nóng, hệ sinh vật, các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các hệ sinh thái độc đáo, môi trường văn hóa bản địa… đó là các yếu tố tạo ra sự hấp dẫn và hình thành các điểm du lịch, khu DLST Môi trường, tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn càng phong phú càng hấp dẫn càng thu hút khách tham quan nhiều hơn

- Tài nguyên nhân văn: Trong lịch sử nhân loại, du lịch được ghi nhận như là một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống, văn hóa,

xã hội ở các nước có nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, để Du lịch nói chung

và DLST nói riêng được quan tâm và phát triển đúng với những gì mà nó đưa lại thì việc nhận thức và quan tâm đúng đắn là một vấn đề hết sức quan trọng

1.1.5.2 Tình hình và xu hướng phát triển kinh tế của đất nước

Một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch là điều kiện kinh tế Khi con người đã đáp ứng được các nhu cầu tối thiểu

Trang 28

cho cuộc sống, họ bắt đầu nghĩ đến những nhu cầu cao hơn, đó là sự nghỉ ngơi, là sự hưởng thụ, từ đó mà các nhu cầu về du lịch mới ra đời Nhóm dân

cư có thu nhập cao có xu hướng đi du lịch nhiều hơn nhóm có thu nhập thấp

Cuộc sống công nghiệp hiện đại tạo ra những sức ép lớn về công việc,

về các hoạt động trí não Từ đó mà làm nảy sinh nhiều các nhu cầu về nghỉ ngơi, giải trí, tạo điều kiện cho du lịch phát triển

Sự phát triển và hội nhập của nền kinh tế là điều kiện cho sự di chuyển

dễ dàng giữa các nước, từ đó mà thúc đẩy phát triển các hoạt động du lịch xuyên biên giới

1.1.5.3 Dân cư và lao động trong lĩnh vực du lịch sinh thái

Trong DLST, số lượng dân cư và chất lượng lao động ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh và quan trọng hơn là ảnh hưởng tới môi trường sinh thái, môi trường xã hội khu du lịch Hệ sinh thái, môi trường tự nhiên sẽ rất dễ bị phá vỡ nếu mật độ dân cư quá đông, trình độ dân trí thấp

Với DLST, sự tham gia của cư dân địa phương đóng một vai trò quan trọng Trong khi các đơn vị điều hành du lịch, các khách sạn và chính quyền địa phương cố gắng tiếp thị sản phẩm du lịch của mình, trong đó có những nội dung, hoạt động không phù hợp với nguyên tắc của DLST, bỏ qua sự đánh giá khả năng quản lý tài nguyên thiên nhiên cũng như sự đóng góp của cư dân bản địa đến hoạt động DLST Hậu quả của cách làm này sẽ trở nên đáng lo ngại Các hình thức kinh doanh như vậy sẽ làm huỷ hoại tài nguyên, huỷ hoại lợi thế phát triển du lịch của địa phương Trên thực tế mối quan hệ giữa người dân bản địa và các nguồn tài nguyên thiên nhiên là một quan hệ gắn bó được thiết lập lâu đời Ở nhiều nơi người dân địa phương sử dụng tài nguyên thiên nhiên như phương tiện sống hay một kế sinh nhai của mình và họ biết cách để bảo vệ, kiểm soát việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên để tránh đi tình trạng tàn phá tài nguyên

Trang 29

Yếu tố quan trọng đối với một điểm DLST thành công một phần lớn phụ thuộc vào sự tham gia của người dân địa phương Sự tham gia này có mang lại hiệu quả như mong muốn hay không còn phụ thuộc vào trình độ nhận thức, ý thức và trách nhiệm gìn giữ các giá trị tài nguyên của người dân bản địa Họ là một phần của tài nguyên du lịch, đồng thời là những người sử dụng nó

1.1.5.4 Môi trường luật pháp và cơ chế chính sách

Cơ chế, chính sách Nhà nước có ảnh hưởng lớn đến việc khai thác và

sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên du lịch Sự đúng đắn trong quy hoạch, hỗ trợ phát triển sẽ tạo điều kiện cho địa phương khai thác tốt tài nguyên du lịch và ngược lại

Các chính sách của Nhà nước một mặt tạo hành lang pháp lý cho việc khai thác và sử dụng tài nguyên du lịch một cách hợp lý, mặt khác tránh tình trạng khai thác quá mức tài nguyên, xây dựng cơ chế bảo tồn và khôi phục tài nguyên Các chính sách bảo tồn và phát triển tài nguyên có thể là quy định về quy hoạch, đầu tư và khuyến khích đầu tư, cơ chế xúc tiến quảng bá, cơ chế phối hợp và phân chia một cách hài hòa lợi ích giữa người dân địa phương với các cơ quan quản lý, các công ty kinh doanh du lịch

Hệ thống chính sách hoàn thiện, phù hợp là điều kiện thuận lợi thúc đẩy DLST phát triển, tạo điều kiện nâng cao đời sống người dân địa phương, đóng góp cải thiện điều kiện kinh tế khu vực

1.1.5.5 Điều kiện cơ sở hạ tầng khu vực

Cơ sở hạ tầng phục vụ DLST là toàn bộ phương tiện vật chất tham gia vào việc tạo ra và cung cấp dịch vụ du lịch nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của

du khách Với hoạt động DLST, hệ thống cơ sở hạ tầng cần có như sự thuận tiện của đường sá cho công tác vận tải, cơ sở lưu trú, ăn uống, cơ sở cung cấp dịch vụ thông tin liên lạc, dịch vụ lưu niệm

Trang 30

Việc đầu tư nâng cao chất lượng cơ sở vật chất là điều kiện căn bản để nâng cao khả năng phục vụ của khu du lịch, đồng thời là yếu tố tạo nên chất lượng dịch vụ cung cấp Sự thuận tiện trong đi lại, sự tiện nghi trong dịch vụ lưu trú, ăn uống là những yếu tố cơ bản tạo nên sức cạnh tranh của khu du lịch Tuy nhiên đầu tư cơ sở hạ tầng và phát triển du lịch có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau Khu du lịch mới phát triển mới có cơ hội có nguồn lợi nhuận tích luỹ để phát triển du lịch Ngược lại, có phát triển tốt cơ sở hạ tầng mới có

cơ hội thu hút khách du lịch Do vậy, để có được cơ sở hạ tầng tốt cần có chiến lược đầu tư lâu dài và trọng điểm

1.1.6 Nội dung cấu thành chất lượng dịch vụ du lịch sinh thái

1.1.6.1 Dịch vụ tổ chức tham quan

Nhân tố chính ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ du lịch sinh thái chính

là các điều kiện tự nhiên, cảnh quan thiên nhiên tại địa phương Du khách đến với DLST của một địa phương với mục đích tham quan, ngắm cảnh hay khám phá một hệ sinh thái hoang sơ nào đó Mục đích này chỉ thực sự được thoả mãn khi dịch vụ tham quan được tổ chức một cách chất lượng, một tour du lịch đi được nhiều địa điểm tham quan, việc đi lại giữa các địa điểm thuận

tiện cho du khách

1.1.6.2 Dịch vụ ăn uống

Dịch vụ ăn uống chính là nhu cầu thiết yếu đối với khách du lịch trong mỗi chuyến đi Việc cung cấp dịch vụ ăn uống tại khu du lịch phải được đảm bảo về chất lượng, giá cả và vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm Không những vậy dịch vụ ăn uống được cung cấp phải đa dạng với những món ăn đặc trưng của vùng miền, khu du lịch… Việc đi du lịch và thưởng thức những món ăn truyền thống, đặc sản của địa phương cũng là một trong số mục đích chuyến đi của khách du lịch

1.1.6.3 Dịch vụ lưu trú

Trang 31

Cơ sở lưu trú và cơ sở hạ tầng cũng là một trong số những tiêu chí quan trọng đối với việc lựa chọn điểm đến của du khách Đối với địa điểm du lịch

có cơ sở vật chất khang trang, thuận tiện cho việc đi lại lưu trú sẽ có khả năng thu hút khách du lịch nhiều hơn so với những địa điểm khác Việc cung cấp dịch vụ lưu trú có chất lượng sẽ là một trong những dịch vụ để có thể níu chân

du khách ở tại Khu du lịch lâu hơn

1.1.6.4 Dịch vụ vui chơi giải trí

Vui chơi giải trí là một trong số các dịch vụ quan trọng đối với việc thu hút khách du lịch đến với khu du lịch sinh thái Các trò chơi cung cấp mang tính mới lạ, đảm bảo sự an toàn đối với du khách Giá cả dịch vụ vui chơi hợp

lý cũng là vấn đề nhận được sự quan tâm của du khách

1.1.6.5 Dịch vụ mua sắm

Giá cả các loại dịch vụ mua sắm đồ lưu niệm cũng là tiêu chí quan trọng để thu hút khách du lịch đến với Khu du lịch Khách du lịch muốn mua những món đồ lưu niệm, những món ăn đặc sản tại địa phương về làm quà Đây chính là một trong những yếu tố quyết định tới việc lựa chọn điểm đến

du lịch của du khách

1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng dịch vụ DLST

1.2.1 Kinh nghiệm thế giới [11]

(1) Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc trong cuối thập niên 1990 nổi lên như một quốc gia có tốc

độ tăng trưởng du lịch hàng đầu thế giới Ngành du lịch Trung Quốc đã có bước phát triển nhảy vọt, những kết quả khả quan đạt được là nhờ ngành du lịch Trung Quốc đã có quá trình định hướng chiến lược phát triển trong nhiều năm qua Nếu nghiên cứu kỹ, có thể thấy ngành du lịch Trung Quốc đã chọn cho mình một hướng đi đúng Đó là sự nâng cao chất lượng dịch vụ theo tiêu

Trang 32

chuẩn Quốc tế, thủ tục hành chính gọn nhẹ, giao thông thuận lợi, giá cả hợp

lý, sản phẩm du lịch theo chuyên đề rất đa dạng

“Du lịch xanh” là một chủ đề chính của du lịch Trung Quốc, được ra đời từ năm 1999, từ đó, Chính phủ đã không ngừng quan tâm bảo vệ môi trường Họ đã tổ chức các hội thảo về phát triển du lịch bền vững; về quản lý

và phát triển DLST của từng địa phương; xây dựng và truyền bá những thuận lợi của tiện nghi du lịch…Kết quả của những hội thảo ấy là hướng Trung Quốc đi vào việc phát triển DLST và xem đây là một trong những cách tác động trực tiếp và tích cực đến việc phát triển bền vững

Vào thời điểm năm 2000, Chính phủ Trung Quốc đã tiếp tục xây dựng chiến lược phát triển du lịch bền vững, sử dụng công nghệ tạo ra những sản phẩm sạch và xanh Họ cố gắng hướng du lịch trở thành một bộ phận không thể thiếu và có mối quan hệ bền chặt với môi trường Những định hướng và hoạch định kế hoạch thực hiện của Trung Quốc nêu trên là những kinh nghiệm quý báu cho chúng ta tham khảo

(2) Kinh nghiệm của Philippines

Philippines là quốc gia có đặc điểm lãnh thổ phân bố thành quần đảo rộng lớn, địa hình phong phú, đa dạng và bị chia cắt bởi nhiều núi non, là một quốc gia có lợi thế về cảnh quan biển đảo thơ mộng nên Philippines đã tận dụng được lợi thế này để phát triển các loại hình DLST biển Chính phủ chủ trương đẩy mạnh “Phát triển du lịch bền vững trên quan điểm bảo vệ môi trường” Ngoài ra, Chính phủ Philippines còn quan tâm đầu tư xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên quanh những vùng núi cao, thêm vào đó là những nơi tập trung các loại thú hoang dã quý hiếm; các hải đảo đều được quy hoạch rõ ràng và được bao phủ bởi những thảm xanh của các vườn cây ăn trái

Bên cạnh đó để phục hồi các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc phục vụ cho hoạt động du lịch, Chính phủ còn tiến hành các chương trình

Trang 33

phục hồi các di sản văn hoá và lịch sử nhằm thông qua việc phát triển hoạt động du lịch bền vững với các sản phẩm du lịch văn hoá bền vững đặc hữu Điển hình là việc quy hoạch khu du lịch thị trấn Vigan, định hướng quy hoạch được xây dựng với mục tiêu tăng trưởng gắn bó mật thiết với việc phục hồi lại các di sản văn hoá và lịch sử Bộ du lịch Philippines đã ban hành một loạt các

bộ luật mang nội dung bảo tồn các địa danh văn hoá lịch sử có giá trị cho phát triển du lịch, xác định rõ Vigan là điểm du lịch văn hoá quan trọng Hoạt động

du lịch ở đây không chỉ góp phần bảo tồn và phát triển các di sản văn hoá truyền thống của Vigan phục vụ cho mục đích phát triển bền vững, mà còn là một nhân tố quan trọng góp phần vào việc phục hồi và tái phát triển các ngành công nghiệp và ngành nghề thủ công truyền thống trong khu vực như sản xuất gốm sứ (Burnay), gạch Vigan cổ, dệt thủ công, nghề nhuộm vải,…

Ngoài ra, Chính phủ ban hành chính sách kêu gọi tư nhân hợp tác với chính phủ nhằm đảm trách các vấn đề về vệ sinh và quản lý môi trường Song song với hoạt động này, việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường được tiến hành rộng rãi Các khoá đào tạo dài hạn, ngắn hạn được tổ chức thường xuyên, tài liệu được in ấn gồm nhiều hình ảnh đẹp, minh hoạ rõ và có tính giáo dục cao, được phát miễn phí có tác dụng khơi dậy ý thức bảo vệ môi trường trong lòng mỗi người dân Đây có thể nói là những nhân tố góp phần thúc đẩy ngành du lịch của Philippines tăng trưởng nhanh trong các năm qua

(3) Kinh nghiệm của Australia

Để định hướng và quản lý hoạt động ngành du lịch, Chính phủ Australia chủ động đóng góp vào sự nghiệp phát triển du lịch thông qua đầu

tư vào các dự án phục vụ cho việc nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, thiết lập các mối liên kết và mạng lưới hoạt động mang tính chiến lược giữa các ngành và Chính phủ, cung cấp thông tin, phát triển công tác đào tạo và giáo

Trang 34

dục nhận thức trong ngành du lịch và các cơ quan khác thuộc Chính phủ Đúc kết từ những dự án đã thực hiện, Chính phủ chỉ đạo tập trung vào các lĩnh vực

- Giám sát chặt chẽ và hạn chế tác động của khách du lịch đối với các nguồn tài nguyên du lịch đặc biệt trong các mùa cao điểm

- Tổ chức các khoá đào tạo cho cán bộ quản lý, điều hành hoạt động du lịch, cung cấp các tài liệu phục vụ công tác tự nghiên cứu…

- Thiết lập hệ thống sử dụng các nguồn tài nguyên và xử lý chất thải hiệu quả, và huấn luyện đội ngũ làm công tác bảo dưỡng các thiết bị xử lý chất thải

- Cần có sự tham gia cộng đồng bản địa vào quá trình phát triển du lịch Ngoài ra, Chính phủ Australia còn quan tâm đặt ra các vấn đề cơ bản đối với việc nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch có liên quan đến việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, nội dung gồm:

- Giáo dục nội dung hoạt động DLST;

- Quan tâm đến sự công bằng

1.2.2 Kinh nghiệm trong nước

(1) Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Nam

Quảng Nam là vùng đất chứa đựng nhiều giá trị văn hóa đặc sắc của Việt Nam trong không gian văn hóa vùng du lịch duyên hải Nam Trung bộ Nhận thức rõ được điều này, trong chiến lược phát triển du lịch, tỉnh Quảng Nam luôn đề cao yếu tố bảo tồn và phát huy tốt các giá trị văn hoá truyền thống Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn là những điểm sáng trong khai thác

Trang 35

hiệu quả giá trị di sản phục vụ phát triển du lịch Hội An là điển hình trong việc giải quyết tốt vấn đề bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa; điều hòa lợi ích của cộng đồng với các bên tham gia hoạt động du lịch, xây dựng được môi trường du lịch văn minh Hội An góp phần tích cực vào việc định vị thương hiệu du lịch Quảng Nam

(2) Kinh nghiệm của tỉnh Sóc Trăng

Sóc Trăng là một tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long với những đặc trưng của vùng sông nước miệt vườn Những năm gần đây, nhờ có những định hướng du lịch hợp lý, phát huy tốt những giá trị nổi bật của địa phương mà các hoạt động du lịch sinh thái miệt vườn đang có sức hút du lịch lớn với khách trong và ngoài nước

Hàng năm lễ hội sông nước miệt vườn được tổ chức vào cuối tháng 5 hàng năm thu hút hàng chục vạn khách du lịch đến với Sóc Trăng Để có được những thành công như vậy là nhờ sự kết hợp tốt giữa nét đặc trưng của địa phương với những sản phẩm du lịch mới lạ, hấp dẫn hơn Du lịch Sóc Trăng đã kết hợp tốt giữa du lịch miệt vườn với các lễ hội truyền thống địa phương Thông qua các lễ hội, các nét đẹp văn hoá truyền thống được tôn vinh, đồng thời tạo nên những điểm nhấn du lịch cho địa phương Khách du lịch đến với Sóc Trăng không chỉ được thưởng thức đủ loại trái cây tươi ngon, được thoả sức trong các miệt vườn xum xuê mà còn được thưởng thức các món ăn đặc trưng của địa phương như món bánh xèo Nam Bộ, bánh ít, bánh hỏi lòng heo Sự kết hợp khéo léo giữa tài nguyên và văn hoá đã tạo nên thương hiệu riêng của du lịch Sóc Trăng- Du lịch miệt vườn

1.2.3 Bài học kinh nghiệm cho khu du lịch sinh thái Thác Mai – Bàu Nước Sôi

Trang 36

Từ kinh nghiệm phát triển du lịch của các địa phương trong nước và trên thế giới cho thấy để nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch khu du lịch sinh thái Thác Mai – Bàu Nước Sôi, đặc biệt chất lượng dịch vụ cần chú ý những vấn đề sau:

- Phát triển du lịch sinh thái cần gắn với việc phát huy những giá trị của tài nguyên tự nhiên với các yếu tố văn hoá bản địa Do vậy để các hoạt động sinh thái tồn tại và phát triển thì vấn đề cốt lõi là phải gìn giữ và bảo tồn tốt các giá trị tài nguyên này

- Xây dựng chiến lược, kế hoạch và đề ra các chính sách, giải pháp để phát triển du lịch sinh thái cho phù hợp với nhu cầu thị trường và khai thác các lợi thế của khu du lịch

- Phát huy tốt vai trò của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch sinh thái

- Tăng cường đầu tư hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất nhằm phát triển

du lịch sinh thái, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế sẵn có

- Đa dạng hoá các sản phẩm du lịch, tăng cường công tác quảng bá du lịch; có kế hoạch đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao

- Tăng cường công tác quản lý chất lượng dịch vụ du lịch thông qua việc công khai tiêu chuẩn chất lượng các dịch vụ cung cấp, công khai giá cả dịch vụ và thực hiện nghiêm túc các cam kết

Trang 37

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm Khu du lịch sinh thái Thác Mai- Bàu nước sôi

2.1.1 Giới thiệu chung về Khu du lịch sinh thái Thác Ma- Bàu nước sôi

Thác Mai – Bàu Nước Sôi cách Sài Gòn tầm 150 km Thác Mai – Bàu Nước Sôi là 1 địa danh hoang sơ, nằm sâu trong rừng nguyên sinh và được biết đến với việc khai thác du lịch sinh thái Điều thú vị đầu tiên của tên gọi

đó chính là khu du lịch có bàu nước nóng với diện tích 7ha, được lâm trường đầu tư và hiện nay khu vực bàu nước có một “đài ngâm chân” Thác Mai – Bàu Nước Sôi được gọi như vậy vì cây Mai là loài cây chiếm phần lớn ở nơi đây Hiện nay, thác vẫn còn mai nhưng đã diện tích đã giảm nhiều Những năm trở lại đây, để phục hồi lại vẻ đẹp trước kia và đúng với đặc trưng tên gọi Lâm trường đã cho trồng lại cây mai quanh thác nhưng cây vẫn còn nhỏ, chưa

2.1.2 Điều kiện tự nhiên

2.1.2.1 Vị trí địa lý

Thác Mai – Bàu Nước Sôi thuộc địa bàn huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

- Phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai

- Phía Nam có ranh giới là đường 323, giáp Công ty lâm nghiệp La Ngà, Tỉnh Đồng Nai

Trang 38

- Phía Tây giáp Lâm trường Vĩnh An (Đồng Nai)

2.1.2.2 Địa hình

Thác Mai – Bàu Nước Sôi nằm trong vùng địa hình chuyển tiếp từ cao nguyên Nam Trung bộ đến Đồng bằng Nam bộ, bao gồm các kiểu địa hình đặc trưng của phần cuối dãy Trường Sơn và địa hình vùng Đông Nam bộ, có

3 kiểu địa hình chính:

 Kiểu địa hình trung bình sườn ít dốc ở phía Tây Nam Thác Mai – Bàu Nước Sôi Độ cao so với mặt nước biển từ 200- 300m, độ dốc 15- 20o, độ chia cắt cao Đây là vùng thượng nguồn của nhiều con suối lớn chảy ra sông Đồng Nai

 Kiểu địa hình đồi thấp, bằng phẳng: ở phía Đông Nam Thác Mai – Bàu Nước Sôi Độ cao so với mặt nước biển 130 -150m, độ dốc 5 - 7o, độ chia cắt thưa

 Kiểu địa hình thềm suối xen kẽ với hồ đầm độ cao so với mặt nước biển thấp hơn 130m, như Bàu Nước Sôi

Thác Mai – Bàu Nước Sôi có các kiểu địa hình đa dạng, phức tạp tạo cho khu vực những cảnh quan khác nhau, nhiều điểm thu hút khách bao gồm núi, thác, suối, bàu nước Địa hình đa dạng như thế nhưng hiện vẫn chưa được khai thác hết, còn hạn chế ở mức độ đi quanh quẩn xem cảnh quan trong Khu

du lịch, chuyến đi không thu hút khách đến tham quan quay lại bởi đôi khi khách chỉ đến xem một lần cho biết, đây cũng là một phần đặc thù của khu DLST Thác Mai – Bàu Nước Sôi

2.1.2.3 Khí hậu

Thác Mai – Bàu Nước Sôi nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa

rõ rệt Mùa khô từ tháng 11, 12 đến tháng 3, 4 năm sau và mùa mưa từ tháng

4, 5 đến tháng 10, 11 Theo số liệu thu thập từ hai trạm thủy văn Ban quản lý rừng phòng hộ Tân Phú thu thập dữ liệu về lượng mưa

Trang 39

Bảng 2.1 Chỉ tiêu khí hậu tại Khu DLST Thác Mai – Bàu Nước Sôi

2 Nhiệt độ trung bình cao nhất (oC) 29,8 (T.7)

3 Nhiệt độ trung bình thấp nhất (oC) 22 (T.12)

5 Lượng mưa trung bình tháng cao nhất (mm) 450 (T.9)

6 Lượng mưa trung bình tháng thấp nhất (mm) 15 (T.3)

9 Thời gian mưa t.bình trong mùa mưa (tháng) 8(T.5- T10)

Nguồn: Trạm thủy văn

Thác Mai – Bàu Nước Sôi nằm trong đới mùa của khu vực Đông Nam

Bộ nên thời tiết phân thành 2 mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô Mùa mưa: từ tháng 5 đến tháng 10 Tháng có lượng mưa cao nhất 7,8, 9; Mùa khô: tháng

11 đến tháng 04 năm sau Tháng khô nhất là tháng 2, 3 Nhiệt độ trung bình ở mức độ mát, độ ẩm cao là các điều kiện lý tưởng để phát triển du lịch sinh thái

2.1.3.Tài nguyên thiên nhiên

2.1.3.1 Động vật

Trong rừng có nhiều loài thú: gà rừng, heo, nhím, chồn Dưới thác có nhiều loại cá, đáng nói nhất là cá lóc đá Loại cá này thường có màu xanh, to con, thịt ngon và ngọt

2.1.3.2 Thực vật

Rừng Thác Mai có diện tích trên 13 ngàn ha với hệ sinh thái động thực vật phát triển khá phong phú Vào mùa trái chín, du khách còn có thể nhấm vị của hoa quả rừng như xoài, mút, hồng,trường, Vẻ đẹp thác Mai được tăng

Trang 40

thêm nhiều lần vào mùa hoa nở, hai bên sông tím màu hoa bằng lăng và màu vàng của hoa mai Ngoài ra còn có nhiều loại lan rừng, như Thuỷ Tiên, Ngọc Điểm và Trường Kiếm Nơi đây đúng là một miền Tây nhỏ giữa lòng miền Đông Nam Bộ

Theo thống kê, rừng có đến 300 loài thực vật; trong đó, có 200 loài gỗ

và khoảng 100 loài dây leo, cây bụi Nếu tách khỏi con đường và đi sâu vào rừng chừng khoảng vài chục mét, cây và dây leo kín, không nhìn thấy ánh sáng mặt trời Bởi thế, không khí trong rừng mát lạnh

2.1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội

- Dân số: Khu DLST Thác Mai – Bàu Nước Sôi thuộc địa bàn xã Gia

Canh của huyện Định Quán tỉnh Đồng Nai có diện tích lớn và dân cư đông Tổng diện tích của xã là 117,93 km2, Mật độ dân số bình quân là 116,9

người/km2 Hầu hết dân cư đều nằm ngoài vùng của Khu du lịch

- Văn hóa, y tế, giáo dục: Thực hiện các chính sách đặc thù về giáo

dục; tập trung nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo; đẩy nhanh tiến độ xây dựng các trường ở các cấp học Quan tâm chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, đạo đức lối sống, ý thức trách nhiệm xã hội cho học sinh, sinh viên

Đến nay, Định Quán có 5 trường trung học phổ thông, 67 trường Trung học cơ sở tiểu học và mầm non Tổng số học sinh các cấp gần 60.000 học sinh, 13/14 xã, thị trấn hoàn thành phổ cập giáo dục bậc trung học

Về Y tế các xã đã và đang thực hiện công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình và nâng cao chất lượng dân số Bảo đảm nhu cầu sinh hoạt văn hóa của đồng bào các dân tộc trên cơ sở bảo tồn tinh hoa văn hóa và bản sắc truyền thống Đẩy mạnh phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới, xây dựng gia đình, thôn, buôn văn hóa Hiện nay trên địa bàn huyện có 01 Bệnh viện đa khoa khu vực; 7/14 xã, thị trấn được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế;

Ngày đăng: 11/05/2021, 21:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w