LỜI CẢM ƠN Luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh tế đề tài: “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” được hoàn thành theo chương t
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã được công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Đồng Nai, ngày … tháng … năm 2018
Người cam đoan
Ngô Thái Phương Vân
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh tế đề tài: “Giải pháp hoàn thiện công tác quản
lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” được hoàn thành
theo chương trình đào tạo Sau đại học của trường Đại học Lâm nghiệp
Có được luận văn này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, các thầy cô trong Khoa đào tạo Sau đại học, các thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy và tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Bùi Thị Minh Nguyệt - người hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn tác giả từ khi hình thành phát triển ý tưởng đến xây dựng đề cương, phương pháp luận, tìm tài liệu và
có những chỉ dẫn khoa học quý báu trong suốt quá trình triển khai nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện của lãnh đạo, kiểm lâm viên của Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai và người dân địa phương nơi phỏng vấn thu thập số liệu đối với tác giả trong quá trình thu thập số liệu ngoại nghiệp và hoàn thiện luận văn
Tác giả xin bày tỏ và gửi lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã động viên giúp đỡ tác giả hoàn thành bản luận văn này
Mặc dù đã nỗ lực hết mình, nhưng do trình độ hạn chế về nhiều mặt, nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp và xin chân thành tiếp thu mọi ý kiến đóng góp đó
Xin trân trọng cảm ơn!
Đồng Nai, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Ngô Thái Phương Vân
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ - HÌNH ẢNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu tổng quát 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Nội dung nghiên cứu 4
5 Kết cấu của luận văn 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ RỪNG 5
1.1 Cơ sở lý luận về hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng 5
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5
1.1.2 Đặc điểm quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng 9
1.1.3 Nguyên tắc quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng 11
1.1.4 Nội dung quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng 12
1.1.5 Bộ máy quản lý và công cụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng 28
1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng 30
1.2 Cơ sở thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng 39
Trang 41.2.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước trong bảo vệ rừng trên thế giới 39
1.2.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước trong bảo vệ rừng ở Việt Nam 43
1.2.3 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Đồng Nai 47
1.3 Tổng quan về các tài liệu, các công trình nghiên cứu có liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng 48
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN TỈNH ĐỒNG NAI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 50
2.1 Đặc điểm cơ bản tỉnh Đồng Nai 50
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 50
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 56
2.1.3 Đánh giá chung về đặc điểm, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai 57
2.2 Phương pháp nghiên cứu 61
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 61
2.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 61
2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích 62
2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 62
CHƯƠNG 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 64
3.1 Thực trạng công tác bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 64
3.1.1 Hiện trạng TNR và tình hình xâm hại rừng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 64
3.1.2 Quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 69
3.1.3 Nội dung hoạt động quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 71
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 84
3.3 Đánh giá kết quả hoạt động quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian vừa qua 94
3.3.1 Những kết quả đạt được 94
3.3.2 Những hạn chế, tồn tại 96
Trang 53.3.3 Nguyên nhân hạn chế công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng 993.4 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 1003.4.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về quản lý nhà nước trong lĩnh vực BVR 1003.4.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 103KẾT LUẬN 114TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6KT-XH Kinh tế- xã hội
ANQP An ninh quốc phòng
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn TN&MT Tài nguyên và môi trường
ĐVHD Động vật hoang dã
HĐND Hội đồng nhân dân
PCCCR Phòng cháy chữa cháy rừng
KLCĐ Kiểm lâm cơ động
XN NLG Xí nghiệp nguyên liệu giấy
CP GLN Cổ phần giống lâm nghiệp
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Diện tích rừng, đất lâm nghiệp và độ che phủ rừng 64
giai đoạn 2014-2017 tỉnh Đồng Nai 64
Bảng 3.2: Diện tích rừng theo chức năng năm 2017 65
Bảng 3.3: Số vụ vi phạm, hành vi vi phạm, các hình thức xử lý và thu phạt vi phạm hành chính (2014-2017) 67
Bảng 3.4: Số lượng nguồn nhân lực trong toàn ngành lâm nghiệp trên địa bản tỉnh Đồng Nai 70
Bảng 3.5: Hiện trạng rừng theo chủ quản lý tính đến tháng 12/2017 75
Bảng 3.6: Thống kê diện tích và đối tượng nhận khoán 77
Bảng 3.7: Kết quả thực hiện Thông tư 04/2005/TT-BTNMT 79
Bảng 3.8: Bảng tổng hợp số người tham gia đào tạo tập huấn sử dụng phần mềm theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp năm 2017 80
Bảng 3.10: Nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 85
Bảng 3.11: Các biến đặc trưng và chất lượng thang đo 86
Bảng 3.12: Kiểm định KMO và kiểm định Bartlett 87
Bảng 3.13: Mức độ giải thích của các biến quan sát 87
Bảng 3.14: Ma trận nhân tố xoay 88
Bảng 3.15: Kiểm định hệ số hồi quy (Model Summary) 90
Bảng 3.16: Hệ số hồi quy (Coefficients) 90
Bảng 3.17: Vị trí quan trọng của các yếu tố 91
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ - HÌNH ẢNH
Hình 3.1: Sơ đồ Bộ máy quản lý bảo vệ rừng chuyên tráchcủa lực lượng kiểm lâm Đồng Nai 69Hình 3.2: Biểu đồ số luợng các vụ vi phạm Luật BV&PTR trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ năm 2010 đến năm 2017 82
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, sự phát triển của khoa học và kỹ thuật diễn ra nhanh chóng, đời sống kinh tế của con người đã và đang được cải thiện đáng kể nhưng, chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức của sự phát triển này Đó là nguy cơ suy giảm từng ngày, từng giờ của nguồn tài nguyên thiên nhiên và sự suy thoái các yếu tố căn bản của môi trường
Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, rừng có vai trò đảm bảo an ninh – quốc phòng, cung cấp oxy, bảo vệ môi trường sống, hạn chế ảnh hưởng của thiên tai và có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển kinh tế -
xã hội thông qua khả năng cung cấp nguyên liệu cao cho các ngành công nghiệp như: công nghiệp giấy, chế biến gỗ, mỹ phẩm, vật liệu xây dựng, sợi dệt, lấy tinh dầu, cung cấp các hoạt động dịch vụ như du lịch sinh thái,…
Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và phát triển dẫn đến việc khai thác, sử dụng tài rừng quá mức đã làm suy giảm đi vai trò và những lợi ích thiết thực mà rừng mang lại cho con người Bên cạnh đó, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, nhất là nhân dân sống gần rừng ở các tỉnh miền núi, đời sống chủ yếu dựa vào khai thác các sản phẩm từ rừng làm suy giảm từng ngày, từng giờ nguồn tài nguyên rừng
Tuy nhiên, biến động tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp 17 năm qua trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có dấu hiệu tích cực như: năm 2001: 178.408 ha; năm 2007: 180.303 ha; năm 2010: 181.569 ha; năm 2017: 199.981,29 ha Điều đó chứng tỏ công tác quản lý trong lĩnh vực bảo vệ rừng trên địa bàn hoạt động khá hiệu quả
Trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã có nhiều thay đổi về quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng Luật bảo vệ và phát triển rừng ban hành lần đầu tiên năm 1991 đến năm 2004 được sửa đổi, bổ sung; vấn đề bảo vệ và phát triển rừng đã được đưa vào mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Nghị quyết Đại hội VII của Đảng đã khẳng định: bảo vệ và phát triển rừng, đẩy nhanh việc trồng rừng, khoanh nuôi, tái sinh rừng, phủ xanh và sử dụng đất trống, đồi núi trọc gắn với phân
Trang 10bố lao động lên trung du, miền núi, thực hiện định canh, định cư, ổn định đời sống của các dân tộc, của mọi đất rừng đều có người làm chủ trực tiếp là nhiệm vụ hết sức quan trọng Nhờ vào những đổi mới trong quá trình quản lý nhà nước những năm qua, hoạt động quản lý bảo vệ rừng đã đạt được những thành tựu quan trọng như: nhận thức của người dân về bảo vệ rừng được nâng lên, quan điểm đổi mới xã hội hóa về bảo vệ rừng được triển khai thực hiện bước đầu có hiệu quả; hệ thống pháp luật trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng ngày càng được hoàn thiện phù hợp với thực tiễn, chủ trương đổi mới quản lý hiện nay và thông lệ Quốc tế; Chính quyền các cấp đã quan tâm nhiều hơn đến công tác quản lý bảo vệ rừng, tình trạng xâm hại tài nguyên rừng được ngăn chặn, đẩy lùi; thiệt hại về tài nguyên rừng do hành vi vi phạm gây ra giảm
Tuy nhiên, do vấn đề đói nghèo chưa được giải quyết triệt để, rừng đã được giao nhưng khâu quản lý bảo vệ chưa được chặt chẽ Bên cạnh đó, lợi nhuận đem lại từ việc buôn bán gỗ và các sản phẩm khác từ rừng trái pháp luật là rất lớn do vậy tình trạng vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ rừng như phá rừng, khai thác gỗ trái pháp luật trên phạm vi cả nước
Ngoài ra, tình hình các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành còn xảy
ra nhiều bất cập chồng chéo nhau giữa các văn bản cúa Chính phủ như: Nghị định 01/CP ngày 04/01/1995; Nghị định 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005; Nghị định 168/2016/NĐ-CP ngày 27/12/2016 về khoán đất rừng sản xuất, chưa nói rõ được việc được cấp phép xây dựng hay không được cấp phép xây dựng trên đất lâm nghiệp nói riêng vẫn diễn ra làm cho chất lượng rừng bị suy giảm Hàng năm, nhà nước phải chi ra nhiều tỷ đồng để khắc phục những hậu quả này gây bức xúc trong
xã hội tác động tiêu cực đến hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng
Thêm vào đó, các nghiên cứu về chủ đề này tại Việt Nam từ trước đến nay chủ yếu tập trung vào những đánh giá vĩ mô, phân tích các chính sách tổng thể, chứ chưa đi sâu vào phân tích thực trạng hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo
vệ rừng ở cấp độ địa phương Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cũng chưa có nghiên cứu
Trang 11nào được thực hiện cho đến nay Mặc dù, công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đang được các cấp chính quyền, địa phương quản lý một cách khá hiệu quả nhưng không vì đó mà không có sự tồn tại những mặt yếu kém, hạn chế
Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu về thực trạng hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nhằm đánh giá những mặt đã đạt được cũng như chỉ ra những nguyên nhân của sự tồn tại, yếu kém, đồng thời tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ tại địa phương
Do đó, đề tài “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn, đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện nay trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo
vệ rừng tại tỉnh Đồng Nai, đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng tại tỉnh Đồng Nai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu và tìm hiểu các vấn đề liên quan đến công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 12Phạm vi về nội dung: Luận văn nghiên cứu về hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Phạm vi về không gian: Địa bàn tỉnh Đồng Nai
Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu số liệu thứ cấp trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2017; số liệu sơ cấp nghiên cứu năm 2018
4 Nội dung nghiên cứu
Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng
Thực trạng công tác quản lý trong lĩnh vực bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận nội dung của luận văn gồm có ba chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo
vệ rừng
Chương 2: Đặc điểm cơ bản tỉnh Đồng Nai và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG
LĨNH VỰC BẢO VỆ RỪNG
1.1 Cơ sở lý luận về hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Rừng và những vai trò của rừng
a Khái niệm rừng:
Năm 1930, Morozov đưa ra khái niệm: Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi nhất định ở mặt đất và trong khí quyển Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý
Năm 1952, M.E.Tcachenco phát biểu: Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài
Năm 1974, I.S.Melekhop cho rằng: Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu
Theo Luật Lâm nghiệp, rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong
đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên
Theo chức năng, ta phân loại rừng thành 3 loại:
- Rừng sản xuất: là rừng được dùng chủ yếu trong sản xuất gỗ, lâm sản, đặc sản
- Rừng đặc dụng: là loại rừng được thành lập với mục đích chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh phục vụ nghỉ ngơi,
du lịch kết hợp với phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái
Trang 14- Rừng phòng hộ: là rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo
vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, bảo
vệ môi trường
Dựa theo sự tác động của con người, ta phân rừng thành 2 loại:
- Rừng tự nhiên: là rừng có sẵn trong tự nhiên hoặc phục hồi bằng tái sinh tự nhiên Bao gồm:
+ Rừng nguyên sinh: là rừng chưa hoặc ít bị tác động bởi con người, thiên tai; cấu trúc của rừng còn tương đối ổn định
+ Rừng thứ sinh: là rừng đã bị tác động bởi con người hoặc thiên tai tới mức làm cấu trúc rừng bị thay đổi
+ Rừng phục hồi: là rừng được hình thành bằng tái sinh tự nhiên trên đất đã mất rừng do nương rẫy, cháy rừng hoặc khai thác kiệt
+ Rừng sau khai thác: là rừng đã qua khai thác gỗ hoặc các loại lâm sản khác
- Rừng nhân tạo (Rừng trồng): là rừng được hình thành do con người trồng Theo thời gian sinh trường, rừng trồng được phân loại theo cấp tuổi, tùy từng loại cây trồng, khoảng thời gian quy định cho mỗi cấp tuổi khác nhau Rừng trồng bao gồm:
+ Rừng trồng mới trên đất chưa có rừng;
+ Rừng trồng lại sau khi khai thác rừng trồng đã có;
+ Rừng tái sinh tự nhiên từ rừng trồng đã khai thác
b Các vai trò của rừng:
- Đối với khí hậu: Rừng có tác dụng điều hòa khí hậu toàn cầu thông qua làm giảm đáng kể lượng nhiệt chiếu từ mặt trời xuống bề mặt trái đất do che phủ của tán rừng là rất lớn
- Đối với đất đai: Rừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dưỡng tiềm năng của đất:
ở vùng có đủ rừng thì dòng chảy bị chế ngự, ngăn chặn được nạn bào mòn, nhất là trên đồi núi dốc tác dụng ấy có hiệu quả lớn, nên lớp đất mặt không bị mỏng, mọi đặc tính lý hóa và vi sinh vật học của đất không bị phá hủy, độ phì nhiêu được duy trì Rừng lại liên tục tạo chất hữu cơ
Trang 15- Đối với các tài nguyên khác: Rừng điều tiết nước, phòng chống lũ lụt, xói mòn Rừng có vai trò rất lớn trong việc: chống cát di động ven biển, che chở cho vùng đất bên trong nội địa, rừng bảo vệ đê biển, cải hóa vùng chua phèn, cung cấp
gỗ, lâm sản, Rừng nơi cư trú của rất nhiều các loài động vật: Động vật rừng nguồn cung cấp thực phẩm, dược liệu, nguồn gen quý, da lông, sừng thú là những mặt hàng xuất khẩu có giá trị
- Đối với đa dạng sinh học: Rừng Việt Nam rất phong phú Một số loài cây trở nên hiếm có và có mặt trong núi rừng Việt Nam cây bao báp ở Châu Phi, cây tay
rế quấn ở Châu Mỹ Ngoài ra, với đặc điểm sông ngòi, rừng Việt Nam đã hình thành nên các loài cây đặc hữu riêng cho từng vùng Có loài chỉ sống trong bùn lầy,
có cây sống vùng nước mặn,… đồng thời tạo nên các trái cây rừng đặc trưng chỉ có tại vùng đó Môi trường sống đa dạng và phong phú là điều kiện để động vật rừng phát triển Vì vây, rừng không chỉ là nguồn cung cấp nguyên vật liệu cho xây dựng công nghiệp, thức ăn cho người, dược liệu, thức ăn chăn nuôi mà còn là nguồn dự trữ các gen quý hiếm của động thực vật rừng
- Đối với nền kinh tế:
+ Rừng cung cấp một sản lượng lớn lâm sản phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng Từ các loại gỗ, tre, nứa các nhà kinh doanh thiết kế tạo ra hàng trăm mặt hàng
đa dạng và phong phú như trang sức, mỹ nghệ, dụng cụ lao động, thuyền bè truyền thống, cho tới nhà ở hay đồ dùng gia đình hiện đại,… Tùy vào đặc điểm tính chất của từng loại cây mà chúng ta có sản phẩm phù hợp
+ Rừng là nguồn dược liệu vô giá
+ Du lịch sinh thái là một dịch vụ của rừng cần sử dụng một cách bền vững Nhiều dự án phát triển du lịch sinh thái được hình thành gắn liền với các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng có cảnh quan đặc biệt
- Đối với xã hội và con người: Cùng với rừng, người dân được nhà nước hỗ trợ đất sản xuất rừng, vốn cùng với các biện pháp kỹ thuật, cơ sở hạ tầng để tạo nguồn thu nhập cho người dân Giúp dân thấy được lợi ích của rừng, gắn bó với
Trang 16rừng hơn Từ đó người dân sẽ ổn định nơi ở, sinh sống Rừng và sản phẩm từ rừng mang lại thu nhập cho người dân
1.1.1.2 Khái niệm Quản lý, quản lý nhà nước và quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng
Quản lý là một hiện tượng xã hội, xuất hiện từ lâu trong lịch sử loại người, được các nhà tư tưởng, các nhà triết học và các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau tìm hiểu, nghiên cứu Có người cho quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua nỗ lực của người khác Có tác giả cho quản lý là công tác phối hợp hiệu quả hoạt động của các cộng sự cùng chung một tổ chức, cũng có tác giả lại cho rằng quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của nhóm (Hà Công Tuấn, 2002)
Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, quy luật hay quy tắc tương ứng cho hệ thống hay quá trình vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đã định trước (Nguyễn Cửu Việt, 2005)
Đây có thể coi là một khái niệm chung về quản lý, vì khái niệm này thích hợp với tất cả các trường hợp từ sự vận động của một cơ thể sống, một vật cơ giới, một thiệt bị tự động hóa đến hoạt động của một tổ chức xã hội, một đơn vị kinh tế hay cơ quan nhà nước
Trong hoạt động quản lý thì chủ thể quản lý là con người hay tổ chức con người, chủ thể quản lý phải là đại diện có uy tín, có quyền hạn và trách nhiệm liên kết, phối hợp những hoạt động riêng rẽ của từng cá nhân hướng tới mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhất định trong quản lý, còn khách thể trong quản lý là trật
tự - trật tự này được quy định bởi nhiều loại quy phạm khác nhau như: quy phạm đạo đức, quy phạm chính trị, quy phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật
Vậy: quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường
Trang 17QLNN là một dạng của quản lý xã hội, đây là một quá trình phức tạp, đa dạng, trong nguyên cứu lý luận cũng như thực tiễn, QLNN được hiểu theo hai cấp
độ, QLNN theo nghĩa rộng là đề cập đến chức năng của cả bộ máy nhà nước (từ hoạt động lập hiến, lập pháp, hoạt động hành pháp đến hoạt động tư pháp), còn tiếp cận theo nghĩa hẹp chỉ là hoạt động chấp hành của cơ quan QLNN, hoạt động này chủ yếu giao cho hệ thống cơ quan hành chính thực hiện đó là các chủ thể quản lý (Hà Công Tuấn, 2002)
QLNN không phải là sự quản lý đối với nhà nước, mà là sự quản lý có tính chất nhà nước, của nhà nước đối với xã hội QLNN được thực hiện bởi quyền lực nhà nước, quyền lực nhà nước được ghi nhận, củng cố bằng pháp luật và đảm bảo bằng sự cưỡng chế nhà nước, theo nghĩa hẹp QLNN có những đặc trưng cơ bản sau: QLNN mang tính chất quyền lực nhà nước, có tính chất tổ chức cao và mang tính mệnh lệnh của nhà nước, QLNN mang tính tổ chức và điều chỉnh chủ yếu, QLNN mang tính tổ chức và kế hoạch, QLNN mang tính liên tục (Hà Công Tuấn, 2002)
QLNN trong lĩnh vực BVR là một bộ phận QLNN nên nó có những đặc trưng vốn có, ngoài ra nó có chủ thể, đối tượng quản lý riêng, có thể khái quát như sau: QLNN trong lĩnh vực BVR là quá trình các chủ thể QLNN xây dựng chính sách, ban hành pháp luật và sử dụng công cụ pháp luật trong hoạt động quản lý nhằm đạt được yêu cầu, mục đích BVR nhà nước đã đặt ra (Hà Công Tuấn, 2002)
1.1.2 Đặc điểm quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng
Thứ nhất, tính đặc thù của đối tượng quản lý là rừng
Rừng là nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo và có tính chất quyết định trong việc bảo vệ môi trường sinh thái toàn cầu, rừng bao gồm các yếu thực vật, động vật, vi sinh vật, đất rừng, các yếu tố này có quan hệ liên kết cùng tạo nên hoàn cảnh rừng đặc trưng
Rừng gắn bó chặt chẽ với đời sống của người dân sống trong rừng và gần rừng, diện tích rừng quốc gia được chia thành 3 loại theo chức năng và công dụng của các yếu tố để quản lý bao gồm: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất
Vì vậy, QLNN trong lĩnh vực BVR phải áp dụng những cơ chế, chính sách, các quy
Trang 18định pháp luật khác nhau phù hợp với mục đích chủ yếu đối với từng loại rừng QLNN trong lĩnh vực BVR phải tiến hành đồng bộ các công cụ quản lý, phát huy sức mạnh của cộng đồng các công cụ quản lý, phát huy sức mạnh của cộng đồng để đạt được mục tiêu và chương trình hành động BVR (Hà Công Tuấn, 2006)
Thứ hai, chủ thể chịu sự quản lý của nhà nước đối với bảo vệ rừng
Chủ thể chịu sự QLNN trong lĩnh vực BVR trực tiếp và chủ yếu nhất là chủ rừng Chủ rừng là cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân, các tổ chức kinh tế như lâm trường, công ty lâm nghiệp, các ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, các
tổ chức cá nhân nước ngoài được nhà nước giao, cho thuê rửng là chủ thể chịu sự quản lý của nhà nước
Mỗi loại chủ thể nói trên có những đặc trưng riêng: các ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được nhà nước giao rừng, giao đất để phát triển rừng Các
tổ chức kinh tế được nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê đất để phát triển rừng hoặc công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, nhận chuyển quyền sử dụng rừng, nhận chuyển quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng Các hộ gia đình, cá nhân trong nước được nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê đất để phát triển rừng hoặc công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, nhận chuyển quyền sử dụng rừng, nhận chuyển quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng Các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư tại Việt Nam được nhà nước cho thuê rừng, cho thuê đất để phát triển rừng nên QLNN trong lĩnh vực BVR đòi hỏi nhà nước phải chú trọng nghiên cứu, áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp với những đối tượng chủ thể cụ thể Mặt khác phải coi trọng và tăng cường biện pháp giáo dục, thuyết phục và giải thích pháp luật, chế độ, chính sách của đảng, nhà nước, đồng thời kết hợp BVR với phát triển kinh tế - văn hóa nông thôn miền núi (Hà Công Tuấn, 2006)
Thứ ba, Khách thể quản lý
Khách thể QLNN trong lĩnh vực BVR là trật tự QLNN về BVR, trật tự này được quy định trước hết và chủ yếu trong các quy định của pháp luật về BV&PTR như quy định về tổ chức máy quản lý, quyền định doạt của nhà nước, quyền và
Trang 19nghĩa vụ của các chủ thể chịu sự quản lý…nhằm đạt được mục đích QLBVR của nhà nước
1.1.3 Nguyên tắc quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng
1.1.3.1 Bảo đảm sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước
Rừng có vai trò rất to lớn đối với cuộc sống của con người, đối với nền kinh
tế cho thấy việc nhà nước thống nhất quản lý trong lĩnh vực BVR là cần thiết, điều
đó sẽ đảm bảo cho việc duy trì mục tiêu chung của xã hội
Quyền quản lý tập trung thống nhất của nhà nước được thực hiện theo luật pháp và được thể hiện trên nhiều mặt như: quyền giao đất, giao rừng, cho thuê rừng đối với các tổ chức hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn bản, quyền định giá rừng, quyển chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, quyền kiểm tra giám xác việc thực hiện nghĩa vụ của chủ rừng và xử lý những hành vi vi phạm luật BV&PTR
Để đảm bảo quyền quản lý tập trung thống nhất của nhà nướctrong lĩnh vực BVR thì nhà nước phải nắm và sử dụng tốt các công cụ quản lý cũng như các phương pháp quản lý thích hợp, nếu sử dụng tốt các công cụ quản lý và phương pháp quản lý thì quyền quản lý tập trun thống nhất của nhà nước được duy trì ở mức
độ cao, ngược lại nếu có những thời điểm nào đó, việc sử dụng các công cụ quản lý không đồng bộ, các phương pháp quản lý không thích ứng thì hiệu lực và hiệu quả quản lý trong lĩnh vực BVR sẽ giảm đi, tình trạng vi phạm BVR tăng lên Điều đó
sẽ gây hậu quả không tốt đối với xã hội và làm suy giảm quyền quản lý tập trung thống nhất trong lĩnh vực BVR của nhà nước (Luật BV&PTR, 2004)
1.1.3.2 Bảo đảm sự phát triển bền vững
Hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR phải bảo đảm phát triển bền vững về KT-XH, môi trường, ANQP, phù hợp với chiến lược phát triển KT-XH, chiến lược phát triển lâm nghiệp, đúng quy hoạch, kế hoạch BV&PTR của cả nước và địa phương, tuân thủ theo quy chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quy định (Luật BV&PTR, 2004)
Trang 201.1.3.3 Bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa các lợi ích
Bảo đảm hài hòa lợi ích giữa nhà nước với chủ rừng, giữa lợi ích kinh tế của chủ rừng với lợi ích phòng hộ, bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, bảo đảm cho người làm nghề rừng sống chủ yếu bằng nghề rừng
Việc đảm bảo kết hợp hài hòa giữa các lợi ích được thực hiện thông qua công tác quy hoạch rừng, chình sách tài chính trong lĩnh lực BVR và các quy định
về quyền, nghĩa vụ của nhà nước và của chủ rừng (Luật BV&PTR, 2004)
1.1.3.4 Bảo đảm tính kế thừa và tôn trọng lịch sử
QLNN của chính quyền phải tuân thủ việc kế thừa các quy định của pháp luật của nhà nước trước đây, cũng như lịch sử trong QLNN về BVR qua các thời kỳ (Luật BV&PTR, 2004)
1.1.4 Nội dung quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng
1.1.4.1 Ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật trong lĩnh vực quản lý
bảo vệ rừng
Văn bản pháp luật trong lĩnh vực QLBVR là những văn bản không chỉ cung cấp thông tin mà còn có thể ý chí mệnh lệnh của các cơ quan QLNN đối với người khai thác, thực hiện rừng nhằm thực hiện các chủ trương, quy định của nhà nước
Công tác xây dựng văn bản pháp luật là một nội dung quan trọng không thể thiếu đối với hoạt động QLNN trong lĩnh vực quản lý BVR Dựa trên việc ban hành các văn bản pháp luật này, nhà nước buộc các đối tượng khai thác, sử dụng rừng phải thực hiện các quy định về khai thác, sử dụng rừng theo một khuôn khổ do nhà nước đặt ra, văn bản pháp luật trong QLBVR biểu hiện quyền lực của cơ quan QLNN về rừng, nhằm lập lại một trật tự pháp lý theo mục tiêu của các cơ quan quản
lý, văn bản pháp luật nói chung và văn bản pháp luật trong lĩnh vực BVR nói riêng mang tính chất nhà nước, nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân Vì vậy văn bản pháp luật trong QLBVR vừa thể hiện được ý chí của nhà nước vừa thể hiện được nguyện vọng của đối tượng khai thác, sử dụng rừng
Trang 21Văn bản QLNN trong lĩnh vực BVR có hai loại: văn bản quy phạm pháp luật
và văn bản pháp quy
Văn bản quy phạm pháp luật bao gồm các văn bản luật và dưới luật Các văn bản luật bao gồm Luật, Hiến pháp pháp luật, các quy định của hiến pháp là căn cứ cho tất cả các ngành luật, còn luật là các văn bản có giá trị sau hiến pháp nhằm cụ thể hóa các quy định của hiến pháp
Văn bản pháp quy là các văn bản dưới luật như Nghị định, Chỉ tiêu, Quyết định, Thông tư, Quy chế chứa đựng các quy tắc xử sự chung được áp dụng nhiều lần do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo một trình tự thủ tục nhất định nhằm cụ thể hóa luật, pháp lệnh, văn bản pháp quy được ban hành nhằm đưa ra các quy phạm pháp luật thể hiện quyền lực của nhà nước được áp dụng vào thực tiễn Đó là phương tiện để quản lý nhà nước, để thể chế hóa và thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, quyền làm chủ của nhân dân, mặt khác nó cung cấp các thông tin quy phạm pháp luật mà thiếu nó thì không thể quản lý được, văn bản pháp quy nhằm hướng dẫn thực hiện quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, giải thích các chủ trương, chính sách và đề ra các biện pháp thi hành các chủ trương đó (Luật BV&PTR, 2004)
Thông tin quản lý có thể được truyền tải dưới các loại hình truyền thông, fax,… nhưng văn bản vẫn giữ một vị trí quan trọng, nó là phương tiện truyền đạt thông tin chính xác và bảo đảm các yêu cầu về mặt pháp lý chặt chẽ nhất Ngoài ra, văn bản pháp luật trong lĩnh vực BVR còn là cơ sở để giúp cho các cơ quan quản lý tiến hành kiểm tra, thanh tra giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, hộ gia đình cá nhân khai thác, sử dụng rừng, kiểm tra là một khâu tất yếu để đảm bảo cho việc khai thác, sử dụng rừng đạt hiệu quả, nếu không có kiểm tra thì các Nghị quyết, Nghị định, Chỉ thị được ban hành chỉ là hình thức
1.1.4.2 Quy hoạch, xây dựng kế hoạch bảo vệ rừng trên phạm vi cả nước và từng địa phương
Quy hoạch, kế hoạch BV&PTR là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật
và pháp lý của nhà nước về tổ chức quản lý, khai thác, sử dụng rừng một cách đầy
Trang 22đủ hợp lý khoa học và có hiệu quả cao nhất Thông qua quy hoạch mà các loại rừng được sử dụng theo đúng mục đích nhất định và hợp lý Các thành tựu khoa học công nghệ không ngừng được áp dụng đề nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng rừng Hiệu quả khai thác, sử dụng đất được thể hiện ở hiệu quả kinh tế xã hội và môi trường mà quy hoạch, kế hoạch BV&PTR là cơ sở để đạt được kết quả đó
Quy hoạch rừng đảm bảo sự quản lý thống nhất của nhà nước, nó không chỉ
có ý nghĩa trước mắt mà còn có ý nghĩa lâu dài Nhờ có quy hoạch, tính chủ động sáng tạo trong khai thác, sử dụng rừng của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được nâng cao khi họ được giao quyền sử dụng rừng
Quy hoạch rừng tạo cơ sở pháp lý cho việc giao rừng, cho thuê rừng, đất rừng để đầu tư trồng rừng kinh tế góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo ANQP
Quy hoạch rừng là công cụ hữu hiệu giúp cho nhà nước nắm chắc được diện tích 3 loại rừng mà xây dựng chính sách khai thác, sử dụng rừng một cách đồng bộ, hạn chế sự chồng chéo trong quản lý, ngăn chặn các hiện tượng chuyển mục đích sử dụng rừng tùy tiện
Kết quả của công tác quy hoạch phải đảm bảo 3 điều kiện: kỹ thuật, kinh tế, pháp lý Điều kiện về mặt kinh tế được thể hiện ở hiệu quả của việc khai thác, sử dụng rừng; điều kiện về mặt kỹ thuật thể hiện ở mặt công việc chuyên môn như điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ 3 loại rừng; điều kiện về mặt pháp lý là quy hoạch phải tuân theo các quy định của pháp luật, theo sự phân công, phân cấp của nhà nước đối với công tác quy hoạch
Công tác quy hoạch rừng đã được khẳng định trong Luật BV&PTR năm
2004, theo đó nhà nước thống nhất quản lý rừng theo đúng quy hoạch
Về thẩm quyền lập quy hoạch: Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) lập quy hoạch, kế hoạch BV&PTR trong phạm vi cả nước trình chính phủ quyết định Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp lập quy hoạch, kế hoạch BV&PTR của địa phương mình
Trang 23Nội dung của công tác quy hoạch là: nghiên cứu, tổng hợp, phân tích tình hình về điều kiện tự nhiên KT-XH, ANQP, quy hoạch sử dụng đất, hiện trạng tài nguyên rừng Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch BV&PTR kỳ trước, dự báo nhu cầu về rừng, lâm sản Xác định phương hướng, mục tiêu bảo vệ, phát triển và
sử dụng rừng trong kỳ quy hoạch Xác định diện tích và sự phân bố các loại rừng trong kỳ quy hoạch Xác định các biện pháp quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển các loại rừng Xác định các giải pháp thực hiện quy hoạch BV&PTR Dự báo hiệu quả của quy hoạch
Kế hoạch BV&PTR là chi tiêu cụ thể hóa quy hoạch Công tác kế hoạch tập trung những nguồn lực hạn hẹp vào giải quyết có hiệu quả những vấn đề trọng tâm của kế hoạch trong từng thời kỳ
Nội dung của kế hoạch sử dụng đất là: phân tích, đánh giá việc thực hiện kế hoạch BV&PTR kỳ trước Xác định nhu cầu về diện tích các loại rừng và các sản phẩm, dịch vụ lâm nghiệp Xác định các giải pháp, chương trình, dự án thực hiện kế hoạch BV&PTR Triển khai kế hoạch BV&PTR năm năm đến từng năm (Luật BV&PTR, năm 2004 )
1.1.4.3 Tổ chức điều tra, xác định, phân định ranh giới các loại rừng trên bản đồ
và trên thực địa đến đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn
Theo Điều 4 Luật BV&PTR sửa đổi bổ sung năm 2004 thì căn cứ vào đặc điểm, tính chất và mục đích sử dụng, rừng được chia thành ba loại:
Rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hoá, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, góp phần bảo
vệ môi trường, bao gồm:
Trang 24di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm:
- Vườn quốc gia;
- Khu bảo tồn thiên nhiên gồm có khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn các loài - sinh cảnh;
- Khu bảo vệ cảnh quan gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh;
- Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học
Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm:
kê diện tích và trữ lượng của từng loại rừng, lập bản đồ rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh theo hướng dẫn của Bộ NN&PTNT và Tổng cục Địa chính
Việc điều tra phân loại rừng được thực hiện theo quy định của pháp luật cứ 5 năm một lần, xác định được diện tích và trữ lượng rừng của từng địa phương và trong cả nước
1.1.4.4 Thống kê rừng, kiểm kê rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và đất để phát triển rừng
Bộ NN&PTNT và UBND các cấp có trách nhiệm thống kê, kiểm kê theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp trong toàn quốc hoặc trên địa bàn địa phương quản lý theo quy định tại khoản 4 Điều 7 Luật BV&PTR và Điều 4, Điều 5,
Trang 25Điều 6 của Quyết định số 245/1998/QĐ-TTg ngày 21 tháng 12 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ
Theo quy định của pháp luật hiện hành cơ quan Kiểm lâm các cấp có tổ chức thực hiện và tham mưu cho Bộ NN&PTNN và UBND cung cấp thống kê, theo dõi diễn biến diện tích rừng và đất lâm nghiệp hàng năm (Chỉ thị số 32/2000/CT-BNN-
KL ngày 27/3/2000 của Bộ NN&PTNT, có quy định tại Quyết định số TTg ngày 03/01/2001 thì quy định định kỳ 5 năm tổ chức Tổng kiểm kê tài nguyyên một lần
10/2001/QĐ-Chính vì vậy, bắt đầu từ năm 2002 đến nay, công tác thống kê theo dõi diễn biến diện tích rừng và đất lâm nghiệp được thực hiện hàng năm Các cơ quan có thẩm quyền trên có quyền và nghĩa vụ công bố số liệu và diện tích các loại rừng trong toàn quốc
* Nội dung kiểm kê, thống kê và lập hồ sơ quản lý rừng
Kiểm kê rừng:
- Khoanh vẽ các trạng thái rừng thông qua việc giải đoán ảnh viễn thám hoặc ảnh máy bay có độ phân giải cao theo các mẫu khoá ảnh kết hợp với việc điều tra bổ sung trên thực địa, tổng hợp xây dựng bản đồ số về hiện trạng rừng theo đơn vị hành chính cấp xã, huyện, tỉnh Sử dụng công nghệ tin học để chồng xếp các lớp thông tin bản đồ chuyên đề về hiện trạng rừng lên lớp bản đồ địa hình đã phân chia
lô quản lý, khoảnh, tiểu khu, bản đồ quy hoạch 3 loại rừng để xác định ranh giới 3 loại rừng và ranh giới các trạng thái rừng trong lô quản lý
- Tính toán diện tích rừng và trữ lượng rừng của các trạng thái rừng theo các đơn vị quản lý đất lâm nghiệp tiểu khu, khoảnh, lô quản lý và phân tích, đánh giá,
so sánh, tổng hợp lập các bảng biểu kiểm kê diện tích các trạng thái rừng và trữ lượng rừng theo đơn vị hành chính, theo 3 loại rừng và theo chủ quản lý rừng
- Tổng hợp độ che phủ rừng theo đơn vị hành chính
Thống kê rừng:
Trang 26- Tổng hợp về diện tích rừng và đất lâm nghiệp theo sổ sách và hồ sơ quản lý rừng có đến cuối năm và thống kê diện tích đó theo đơn vị hành chính, theo 3 loại rừng và chủ quản lý rừng; tổng hợp các nguyên nhân gây biến động diện tích rừng
- Tổng hợp về trữ lượng rừng theo sổ sách và hồ sơ quản lý rừng có đến cuối năm và thống kê trữ lượng rừng đó theo đơn vị hành chính, theo 3 loại rừng và chủ quản lý rừng; tổng hợp biến động trữ lượng rừng do biến động về diện tích rừng hoặc do biến động trữ lượng rừng bình quân/ha
- Tổng hợp độ che phủ rừng theo đơn vị hành chính
Lập hồ sơ quản lý rừng:
- Lập hồ sơ quản lý rừng theo từng tiểu khu và thể hiện cụ thể cho từng lô quản lý; trong hồ sơ quản lý rừng thể hiện đầy đủ về diện tích, trữ lượng, trạng thái, mục đích sử dụng và chủ quản lý của lô rừng Hồ sơ quản lý rừng bao gồm bản đồ địa hình VN-2000 và các lớp thông tin bản đồ chuyên đề về hiện trạng rừng; quy hoạch 3 loại rừng; đường ranh giới tiểu khu, khoảnh, lô quản lý; các tài liệu điều chế rừng và các ghi chép về biến động rừng, các biểu thống kê rừng, đất rừng trong tiểu khu
- Lập hồ sơ quản lý rừng theo kết quả kiểm kê rừng định kỳ 05 năm một lần trên lô quản lý hoặc theo các điều tra chuyên đề khác (nếu có); những biến động về diện tích rừng, trữ lượng rừng được cập nhật, ghi chép thường xuyên, kịp thời vào
hồ sơ quản lý rừng
* Trình tự và phương pháp tiến hành kiểm kê rừng:
+ Kiểm kê diện tích rừng: Xác định ranh giới 3 loại rừng, ranh giới và số hiệu
lô quản lý, khoảnh, tiểu khu và ranh giới các chủ quản lý rừng
+ Kiểm kê trữ lượng rừng: Xác định chỉ tiêu trữ lượng bình quân
+ Tổng hợp các biểu kiểm kê rừng: Các loại biểu kiểm kê rừng và cách lập như sau:
- Biểu 1/KKR - Kiểm kê diện tích rừng theo 3 loại rừng;
- Biểu 2/KKR - Kiểm kê diện tích rừng theo chủ quản lý;
- Biểu 3/KKR - Kiểm kê trữ lượng rừng theo 3 loại rừng;
Trang 27- Biểu 4/KKR - Kiểm kê trữ lượng rừng theo chủ quản lý;
- Biểu 5/KKR - Tổng hợp độ che phủ rừng theo đơn vị hành chính
+ Kiểm tra kết quả kiểm kê rừng: Việc kiểm tra, thẩm định kết quả kiểm kê
rừng được thực hiện theo quy định sau:
Chủ rừng tự kiểm tra trong quá trình thực hiện;
Cán bộ lâm nghiệp xã hoặc kiểm lâm địa bàn kiểm tra ngẫu nhiên 20% diện tích từ kết quả kiểm kê rừng của xã, phát hiện những thiếu sót để tiến hành bổ sung, hoàn chỉnh trước khi trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã phê duyệt báo cáo kết quả kiểm kê rừng của xã để gửi báo cáo lên Ủy ban nhân dân huyện;
Hạt Kiểm lâm huyện chủ trì kiểm tra ngẫu nhiên 20% diện tích từ kết quả kiểm kê rừng của cấp xã và tự kiểm tra đối với kết quả kiểm kê rừng của huyện trước khi trình Chủ tịch UBND huyện phê duyệt báo cáo kết quả kiểm kê rừng của huyện để gửi báo cáo lên Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn tỉnh chủ trì kiểm tra ngẫu nhiên 10% diện tích từ kết quả kiểm kê rừng của cấp huyện và tự kiểm tra đối với kết quả kiểm kê rừng của tỉnh trước khi trình Chủ tịch UBND tỉnh ký duyệt;
Kết quả kiểm tra phải được lập thành văn bản
Nội dung, phương pháp kiểm tra theo quy định về quản lý chất lượng các công trình điều tra rừng của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
* Kiểm kê, thống kê rừng ngoài quy hoạch 3 loại rừng và kiểm kê, thống kê cây trồng phân tán: nội dung, trình tự và phương pháp kiểm kê, thống kê tương tự
như phương pháp kiểm kê rừng và thống trên rừng nêu ở trên
* Trình tự và phương pháp tiến hành thống kê rừng
Lập biểu thống kê rừng: Từ năm tiếp theo sau năm kiểm kê rừng, tiến hành lập các biểu thống kê rừng với những nội dung chính dưới đây:
- Biểu 1A/TKR - Thống kê diện tích rừng theo 3 loại rừng;
- Biểu 1B/TKR - Thống kê trữ lượng rừng theo 3 loại rừng;
- Biểu 2A/TKR - Thống kê diện tích rừng theo chủ quản lý;
- Biểu 2B/TKR - Thống kê trữ lượng rừng theo chủ quản lý;
Trang 28- Biểu 3/TKR- Thống kê diễn biến diện tích rừng theo nguyên nhân;
- Biểu 4/TKR- Tổng hợp độ che phủ rừng theo đơn vị hành chính
Các bước tiến hành:
Ủy ban nhân dân tỉnh giao cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức, chỉ đạo, đôn đốc việc báo cáo thống kê rừng tại địa phương vào đầu tháng 09 hàng năm
Ủy ban nhân dân huyện giao cho Hạt Kiểm lâm huyện tổ chức, chỉ đạo, đôn đốc báo cáo thống kê rừng trên địa bàn huyện vào đầu tháng 10 hàng năm
Uỷ ban nhân dân xã giao cho cán bộ Lâm nghiệp xã hoặc Kiểm lâm địa bàn,
từ ngày 01 tháng 11 (trừ năm kiểm kê rừng), thực hiện thống kê rừng và nộp báo cáo kết quả thống kê rừng chậm nhất vào ngày 15 tháng 11 hàng năm;
- Sau khi nhận được báo cáo kết quả thống kê rừng của Uỷ ban nhân dân cấp
xã, Hạt Kiểm lâm huyện thực hiện việc thống kê rừng của địa phương và nộp báo cáo lên Chi Cục Kiểm lâm tỉnh chậm nhất vào ngày 30 tháng 11 hàng năm;
- Sau khi nhận được báo cáo kết quả thống kê rừng của cấp huyện, Chi cục Kiểm lâm tỉnh thực hiện việc thống kê rừng của địa phương và nộp báo cáo lên Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Cục Kiểm lâm chậm nhất vào ngày 15 tháng 12 hàng năm;
- Sau khi nhận được báo cáo kết quả thống kê rừng của tỉnh, Cục Kiểm lâm tổng hợp số liệu thống kê rừng của các vùng, toàn quốc và trình Bộ trưởng Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố chậm nhất vào ngày 31 tháng 12 hàng năm
* Trình tự và phương pháp tiến hành lập hồ sơ quản lý rừng
Trang 29Sau khi tiến hành điều tra rừng, cán bộ Lâm nghiệp xã hoặc Kiểm lâm địa bàn tập hợp các kết quả, các số liệu thành Sổ quản lý từng tiểu khu rừng và được cập nhật vào Hồ sơ quản lý rừng cấp xã
Cán bộ tổng hợp quản lý rừng ở Hạt Kiểm lâm huyện, Chi cục Kiểm lâm tỉnh có trách nhiệm cập nhật sổ sách, bản đồ, số liệu trong hồ sơ quản lý rừng của cấp mình
1.1.4.5 Giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng
Việc giao đất, giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng rừng được quy định tại Điều 7 Luật Bảo vệ vệ phát triển rừng năm 2004; Luật Đất đai năm 2003; Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính phủ; Thông tư liên tịch số 62/2000/TT-BNN-TĐC của Bộ NN&PTNT và Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và môi trường)
Theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật trên, nhà nước khuyến khích việc giao đất, cho thuê đất có rừng và đất trồng rừng cho các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn theo quy hoạch của nhà nước và phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để sử dụng có hiệu quả trong QLBVR của từng loại rừng nhằm mục đích ổn định, lâu dài
Theo khoản 3 Điều 76 Luật Đất đai ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2003 thì thời hạn giao đất, cho thuê đất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, làm muối cho các
tổ chức kinh tế, hộ gia đình cá nhân; người Việt Nam định cư ở nước ngoài không quá 50 năm Đối với những dự án lớn nhưng thu hồi vốn chậm, dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn theo thời hạn giao, cho thuê đất là không quá 70 năm Việc giao đất lâm nghiệp phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, với quỹ đất và quy hoạch của địa phương, vào nhu cầu, vào mục đích sử dụng của tổ chức đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
Theo khoản 3 Điều 75 Luật Đất đai thì “Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức cá nhân nước ngoài sử dụng đất dùng sản xuất được kết hợp kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái - môi trường dưới tán rừng” Đây là một hướng đi mới kích khích các tổ chức kinh tế, người nước ngoài đầu tư vào hoạt động sản xuất Lâm nghiệp nói chung và bảo vệ rừng nói riêng
Trang 30Nhưng theo quy định tại khoản 5 Điều 76 và khoản 5 Điều 77 thì chỉ có tổ chức kinh tế mới được thuê đất rừng phòng hộ và rừng đặc dụng thuộc khu vực được kết hợp với cảnh quan du lịch sinh thái dưới tán rừng
Thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng nhằm phát huy sức mạnh của toàn xã hội Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng để thúc đẩy tiến trình quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng bền vững, kết hợp giữa bảo vệ rừng với phát triển kinh tế, xã hội; an ninh, quốc phòng và xóa đói, giảm nghèo
Giao rừng, cho thuê rừng gắn với giao đất lâm nghiệp cho các thành phần kinh tế, đặc biệt là cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư thôn, buôn, bon để quản lý, bảo vệ và sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích phát triển lâm nghiệp là một chủ trương, chính sách lớn có tính chiến lược của Đảng và Nhà nước Đây là bước chuyển biến căn bản trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, làm cho rừng có chủ thực sự, người dân bảo vệ được rừng, yên tâm quản lý và đầu tư phát triển rừng trên diện tích rừng, đất rừng được giao, được thuê Tuy nhiên, hiệu quả của việc tổ chức thực hiện công tác này trong thời gian qua còn nhiều hạn chế như giao rừng, cho thuê rừng nhưng chưa có chính sách quy định cụ thể và phù hợp về quyền hưởng lợi trên diện tích rừng được giao, được thuê; việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp chậm và chưa gắn với việc giao rừng, còn lúng túng trong triển khai thực hiện; việc quản lý hồ sơ giao rừng, cho thuê rừng còn chưa được chặt chẽ; nhiều diện tích rừng giàu, trung bình chưa được khai thác và sử dụng hợp lý, trong khi đó áp lực dân số ngày càng gia tăng, đời sống của phần lớn người dân sống ở trong rừng và gần rừng còn gặp nhiều khó khăn dẫn đến tình trạng rừng bị phá, bị khai thác trái phép, đất rừng bị xâm lấn, tranh chấp và sử dụng không theo quy hoạch, kế hoạch
Lập và quản lý hồ sơ giao, cho thuê rừng và đất để phát triển rừng; tổ chức đăng ký, công nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, quyền sử dụng rừng
Trang 311.1.4.6 Quản lý, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực quản lý bảo vệ rừng
Con người là nguồn lực cơ bản và quan trọng nhất quyết định trong mọi hoạt động quản lý của Nhà nước trong đó có lĩnh vực BVR Nếu công tác quản lý, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực nói chung cũng như trong lĩnh vực BVR nói riêng và không chú trọng sẽ không tương xứng với sự phát triển dẫn tới Nhà nước khó đạt được mục tiêu quản lý đề ra
Hiện nay công tác quản lý, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực nói chung cũng như trong lĩnh vực BVR nói riêng đang được Nhà nước rất quan tâm (Luật BVR&PTR, 2004)
Tổ chức việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ; quan hệ hợp tác quốc tế và đào tạo nguồn nhân lực trong bảo vệ rừng được coi như một nội dung quan trọng trong chính sách, pháp luật của Việt Nam về bảo vệ rừng
Trong hoạt động quan hệ hợp tác quốc tế, Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập trở thành thành viên của nhiều công ước, điều ước quốc tế về bảo vệ rừng và bảo tồn như: Công ước về buôn bán quốc tế các loại động, thực vật quý hiếm (CITES) năm 1973, công ước đa dạng sinh học (CBD) năm 1992 (Việt Nam ký kết 2 công ước này vào năm 1994), Công ước bảo vệ đất ngập nước, công ước kiểm soát buôn bán quốc tế các loại thực vật, động vật hoang dã nguy cấp, hiệp định khu vực các nước Đông Nam Á về kiểm soát ô nhiễm khói mù xuyên biên giới do cháy rừng, cháy đất gây ra Nhà nước bước đầu xây dựng pháp luật nhằm chuyển hóa các quy định về pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia để hài hòa các quy định của pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế
Điều đó được khẳng định trong khoản 8 Điều 7 Luật BV&PTR năm 2004, Nghị định 11/2000/NĐ-CP và Nghị định 48/2002/NĐ-CP về chế độ quản lý và danh mục các loài thực vật, động vật nguy cấp, quý hiếm Các văn bản pháp luật trên góp phần đẩy nhanh quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế, đồng thời quy định nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế và bảo vệ rừng Các cơ quan quản lý khoa học nòng cốt được giao nhiệm vụ thực hiện các công ước trên là Bộ Khoa học công nghệ và môi trường, Bộ
Trang 32NN&PTNT và các cơ quan khoa học như Trung tâm khoa học tự nhiên Quốc gia (Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật), Đại học Quốc gia Hà Nội (Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường) … đã có sự phối hợp hành động tương đối tốt với các tổ chức quốc tế như Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF), Hiệp hội quốc
tế về bảo tồn thiên nhiên (IUCN) và nhiều tổ chức khác
Hợp tác quốc tế về bảo vệ rừng trên phương diện hợp tác xây dựng và hoàn thiện các chính sách, thể chế pháp luật quốc gia được thực hiện chủ yếu thông qua các dự án như: dự án VIE/94/2003 về tăng cường năng lực pháp luật tại Việt Nam được ký kết và thực hiện giữa Bộ Tư pháp, đại diện nước CHXHCN Việt Nam và Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP), trong đó có đề cập đến vấn đề pháp luật môi trường; dự án “cải cách hành chính lâm nghiệp” (REAS) và dự án
“phát triển lâm nghiệp xã hội” (SFDP) được ký kết giữa Bộ NN&PTNT Việt Nam với Bộ hợp tác và phát triển kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức
Nằm trong khuôn khổ các hoạt động hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường thiên nhiên trong đó đặc biệt là môi trường rừng ở Việt Nam, Chính phủ Việt Nam hết sức chú trọng đến công tác hợp tác đào tạo cán bộ trong cơ quan QLNN nhằm nâng cao năng lực quản lý, kiến thức và kinh nghiệm quản lý cũng như khả năng thực thi các chính sách, thể chế của nhà nước về bảo vệ rừng Hàng năm, nhà nước Việt Nam đã thực hiện nhiều chương trình hỗ trợ đào tạo với các tổ chức quốc tế: UNDP, FAO, PAM, WB, WWF, ADB, EU, SIDA bằng việc cử cán bộ đi học tập nghiên cứu ở nước ngoài hoặc đón chuyên gia nước ngoài vào Việt Nam để đào tạo
Tuy nhiên các văn bản pháp luật về bảo vệ rừng về nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, đào tạo nguồn nhân lực cho bảo vệ rừng chưa tập trung thành một hệ thống còn nằm rải rác ở các văn bản pháp luật khác nhau và mới chỉ mang tính chất định hướng Hơn thế nữa, các vấn đề về nguồn nhân lực như sự thiếu hụt các cán bộ có trình độ ngoại ngữ kết hợp với chuyên môn giỏi, có kinh nghiệm
về bảo tồn,… luôn là những trở lực lớn của Việt Nam trên con đường hội nhập và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ rừng Do vậy việc hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này là một điều hết sức cần thiết và quan trọng
Trang 331.1.4.7 Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng
Công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật là nhiệm vụ chung của hệ thống chính trị, đây là những nội dung của công tác giáo dục chính trị tư tưởng đòi hỏi các cấp các ngành trong phạm vi quyền hạn, trách nhiệm của mình xây dựng chương trình hành động và triển khai thực hiện hiệu quả công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về Quản lý rừng, Bảo vệ rừng và Phòng cháy chữa cháy rừng đến mọi tầng lớp nhân dân
Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, bảo đảm tính linh hoạt, đồng bộ, toàn diện, phù hợp với từng đối tượng nhằm đạt được mục đích đề ra; củng cố phát huy cơ chế phối hợp hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật giữa các ngành, các cấp; nâng cao trách nhiệm, phát huy tính chủ động của các cơ quan trong tuyên truyền quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng;
Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật phải được tiến hành thường xuyên, nội dung, hình thức, thời gian, địa điểm tuyên truyền, phổ biến pháp luật phải phù hợp với phong tục tập quán và điều kiện thực tiễn tại địa phương và đồng bào các dân tộc
Hàng năm các cấp các ngành phải tổ chức tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm về hiệu quả công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật đã được triển khai theo kế hoạch
1.1.4.8 Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng
Đây là nội dung thể hiện chức năng kiểm tra, giám sát của nhà nước đối với quản lý, sử dụng rừng
Thanh tra, kiểm tra rừng nhằm đảm bảo cho việc quản lý, sử dụng rừng được tuân theo đúng pháp luật Quá trình thanh tra, kiểm tra ngoài việc phát hiện những sai phạm để xử lý còn có tác dụng chấn chỉnh lệch lạc, ngăn ngừa những sai phạm
có thể xảy ra Ngoài ra, cũng có thể phát hiện những điều bất hợp lý trong chủ trương, chính sách, pháp luật để có kiến nghị bổ sung chỉnh sửa kịp thời Thanh tra,
Trang 34kiểm tra có thể thực hiện thường xuyên hoặc đột xuất, có thể khi có hoặc không có dấu hiệu vi phạm
Xử lý sai phạm là biện pháp giải quyết của các cơ quan nhà nước khi có hành
vi vi phạm trong quá trình quản lý, sử dụng rừng Xử lý vi phạm có thể bằng biện pháp hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự (Luật BV&PTR, 2004)
Trong đời sống kinh tế - xã hội, các yêu cầu của pháp luật thường được các chủ thể pháp luật: công dân, cán bộ công chức, cơ quan, tổ chức, nhà nước, xã hội
tự giác nghiêm chỉnh thực hiện Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong
xã hội vẫn xảy ra nhiều hành vi vi phạm pháp luật Để đấu tranh có hiệu quả đối với các vi phạm pháp luật đó thì pháp luật là cơ sở pháp lý hữu hiệu nhất
Vi phạm pháp luật được hiểu là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Các quy phạm hiện hành về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng bao gồm hai mức độ hành chính và hình sự
Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ được áp dụng trong trường hợp cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước có hành vi cố ý hay vô ý vi phạm các quy định của nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Các hành vi này có thể đã gây hoặc chưa gây thiệt hại cụ thể đối với rừng, lâm sản, môi trường và hệ sinh thái rừng mà chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật
Lâm sản ở đây được hiểu bao gồm: thực vật rừng, động vật rừng (chim, thú, lưỡng cư, bò sát, côn trùng; sau đây gọi là động vật hoang dã) và các sản phẩm của chúng Lâm sản gồm lâm sản thông thường và lâm sản quý hiếm hiếm Gỗ: gồm gỗ tròn, gỗ xẻ, gỗ đẽo; có đơn vị tính khối lượng là mét khối (m3)
Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản nay được thay thế bằng Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản Theo tinh thần của Nghị định này thì các hành vi vi phạm pháp luật về bảo
Trang 35vệ rừng bị xử phạt vi phạm hành chính bao gồm: phá rừng trái phép; khai thác rừng trái phép; phát đốt rừng trái phép; vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng; vi phạm quy định về phòng trừ sâu hại rừng; chăn thả trái phép gia súc vào rừng; săn bắt trái phép động vật rừng; gây thiệt hại đến vùng đất; vận chuyển mua bán trái phép lâm sản, vi phạm quy định về chế biến gỗ và lâm sản; vi phạm thủ tục trình kiểm lâm sản
Hình thức xử phạt chủ yếu là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền tùy thuộc vào từng loại và mức độ vi phạm
Pháp luật quy định cho ngành kiểm lâm những quyền hạn lớn, song lại có những trói buộc trong phạm vi thẩm quyền Chẳng hạn khi phát hiện thấy dấu hiệu
vi phạm pháp luật về QLBVR, được quyền kiểm tra hiện trường Nhưng trong nhiều trường hợp, những tang vật, phương tiện vi phạm được cất giấu trong nhà ở thì kiểm lâm các cấp lại không được thẩm quyền ra lệnh khám nơi cất giấu mà chỉ có Cục trưởng Cục cảnh sát kinh tế, trưởng phòng cảnh sát kinh tế, trưởng phòng cảnh sát hình sự cấp tỉnh, trưởng công an cấp huyện, đội trưởng đội quản lý thị trường
Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng như cảnh sát nhân dân, hải quan, thuế, quản lý thị trường, thanh tra chuyên ngành có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với cơ quan kiểm lâm trong việc kiểm tra, thanh tra, ngăn chặn các vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; khi phát hiện hành vi
vi phạm thì lập biên bản, chuyển giao hồ sơ, tang vật cho cơ quan kiểm lâm xử lý theo quy định của pháp luật
Kiểm lâm tiếp thu hồ sơ xử lý chịu trách nhiệm thanh toán những chi phí hợp
lý trong quá trình bắt giữ, bảo quản tang vật cho cơ quan chuyển giao hồ sơ
Trường hợp một người cùng một lúc thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực xử lý của các ngành khác thì chuyển toàn bộ hồ sơ vụ vi phạm đến UBND cấp có thẩm quyền ở xảy ra vi phạm xử lý
Truy cứu trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực bảo vệ rừng được áp dụng đối với các chủ thể có năng lực, trách nhiệm hình sự đã mắc lỗi cố ý hoặc vô ý vi phạm
Trang 36các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà vượt quá mức xử phạt vi phạm hành chính
Theo Bộ luật hình sự số 12/2017/QH14 ngày 30/6/2017 về sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/5/2015 nêu rõ tại Điều
232 các trường hợp và mức phạt với từng trường hợp cụ thể
1.1.5 Bộ máy quản lý và công cụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng
có lĩnh vực bảo vệ rừng Bộ NN&PTNT là cơ quan chỉ đạo chuyên ngành trong lĩnh vực bảo vệ rừng, đứng đầu là Bộ trưởng Bộ NN&PTNT chịu trách nhiệm trước chính phủ trong hoạt động QLBVR trên phạm vi toàn quốc Tổng cục Lâm nghiệp
là cơ quan trực thuộc Bộ NN&PTNT quản lý Nhà nước và thực thi nhiệm vụ QLNN
về Lâm nghiệp trong phạm vi cả nước Cục Kiểm lâm là cơ quan trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp có chức năng thâm mưu, giúp Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp thực hiện QLNN về BVR, đảm bảo việc thực hiện pháp luật về BV&PTR và quản lý lâm sản thuộc phạm vi QLNN của Tổng cục Lâm nghiệp
b Cấp Tỉnh:
UBND tỉnh thông qua hoạt động chấp hành – điều hành của mình thực hiện chức năng QLNN trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, hành chính – chính trị trong phạm vi địa phương, là cơ quan giúp việc Chính phủ QLNN trong lĩnh vực BVR trên địa bàn quản lý Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Sở NN&PTNN) là
cơ quan chỉ đạo chuyên ngành trong lĩnh vực QLNN về rừng và đất lâm nghiệp,
Trang 37đứng đầu là giám đốc Sở NN&PNTT Chi cục Kiểm lâm thuộc Sở NN&PTNT là cơ quan nòng cốt giúp cho giám đốc Sở NN&PTNT thực hiện chức năng QLBVR và tham mưu cho Chủ tịch UBND tỉnh xử lý các hành vi vi phạm Luật BV&PTR không thuộc thảm quyền xử lý của Chi cục Kiểm lâm theo quy định của pháp luật
1.1.5.2 Các công cụ quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng
a Công cụ pháp luật:
Luật BV&PTR năm 2004, Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định 99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 của Chính phủ nay được thay thế bằng Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản đây là công cụ quản lý rất quan trọng đối với hoạt đông QLNN trong lĩnh vực BVR, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan Nhà nước, của tổ chức, cá nhân với tư cách là chủ rừng, pháp chế và
kỹ luật trong hoạt động QLBVR, thể hiện tính chất dân chủ xã hội chủ nghĩa Là cơ sở pháp lý quy định cơ cấu tổ chức, cơ cấu hoạt động của các cơ quan QLNN, là cơ sở pháp lý cho xã hóa công tác BVR, là cơ sở pháp lý thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm luật BVR, qua đó đảm bảo pháp chế và kỷ luật trong hoạt động BVR
b Công cụ quy hoạch, kế hoạch:
Quy hoạch, kế hoạch QLBVR cũng là một trong những công cụ quan trọng đối với hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR Quy hoạch, kế hoạch QLBVR đảm bảo cho sự lãnh đạo tập trung quản lý thống nhất của Nhà nước trong lĩnh vực BVR, là căn cứ quan trọng cho việc sử dụng và phát triển 3 loại rừng
c Công cụ tài chính:
Công cụ tài chính là tổng hợp các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính của các chủ thể KT-XH Nó tác động vào các đối tượng sử dụng rừng (chủ rừng) thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm sử dụng rừng của họ, cho phép thực hiện quyền bình đẳng giữa các đối tượng
sử dụng rừng (chủ rừng) Công cụ tài chính được sử dụng đối với hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR như: thuế tài nguyên và phí dịch vụ môi trường rừng được nhà nước xây dựng và tổ chức thực hiện
Trang 381.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo
vệ rừng
1.1.6.1 Về công tác ban hành văn bản và tổ chức thực hiện
Nhà nước không thể tổ chức thực hiện đường lối của Đảng và quản lý xã hội một cách có hiệu quả nếu không thực hiện quản lý bằng pháp luật, các quyền tự do dân chủ của công dân không thể thực hiện nếu không có pháp luật ghi nhận và bảo
vệ Đảng ta xác định nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân Chính
vì thế cho nên pháp luật sẽ có tác động mạnh mẽ đến công tác quản lý Một hệ thống pháp luật đồng bộ, rõ ràng cụ thể làm cho công tác quản lý được hiệu quả và thuận lợi
Ngoài ra, pháp luật còn xác lập, củng cố và hoàn thiện những cơ sở pháp lý của nhà nước, đặc biệt đối với hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR nhằm phát huy cao nhất hiệu lực của cơ quan quản lý Để đạt được điều đó, pháp luật phải xác định
rõ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động cũng như thẩm quyền của cơ quan Nhà nước Pháp luật của nhà nước ta hiện nay phải là cơ sở để hoàn thiện bộ máy nhà nước phù hợp với cơ chế mới mà trước hết phải cải cách một bước nền hành chính quốc gia
Luật BVR hiện nay cho thấy vẫn còn có một số hạn chế làm giảm hiệu lực của cơ quan Nhà nước Đó là luật BVR được xây dựng trong điều kiện kinh tế đang từng bước hoàn thiện, chưa lường trước được sự chuyển biến của tình tình vì vậy luật còn quy định chung chung Mặt khác việc hướng dẫn thực hiện luật còn chậm, thiếu đồng bộ và cụ thể làm cho các cấp lúng túng trong việc thi hành bởi vậy hiệu quả QLNN trong lĩnh vực BVR vẫn còn thấp, vì vậy cần sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ những nội dung sau: sửa đổi Điều 3 cho phù hợp với Luật Đa dạng sinh học; Điều 4 cho phù hợp với Luật Đất đai, bãi bỏ quy định trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch BV&PTR của UBND cấp xã tại Điều 17; khoản 3, Điều 19 về điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch BV&PTR; bãi bõ trách nhiệm lập phương án giao rừng, cho thuê
Trang 39rừng của UBND cấp xã, bổ sung thẩm quyền giao rừng, cho thuê rừng cho UBND cấp huyện tại Điều 28; bổ sung quy định về định giá rừng khi giao và cho thuê rừng làm cơ sớ pháp lý cho việc tính tiền sử dụng rừng và tiền thuê rừng, bổ sung cộng đồng dân cư thôn là chủ rừng tại Điều 5; sửa đổi quy định thu hồi rừng đối với rừng
là tổ chức tại Điều 26; sửa đổi quy định về giá rừng tại Điều 33; bổ sung nội dung tài chính về BV&PTR hoặc tài chính về lâm nghiệp vào BV&PTR năm 2004 Pháp luật có thể làm nâng cao hiệu quả hoặc làm giảm hiệu lực quản lý Chính vì vậy kiện toàn hệ thống pháp luật trong lĩnh vực BVR nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung là vấn đề cấp bách hiện nay
1.1.6.2 Công tác quy hoạch và giao đất giao rừng để bảo vệ rừng và phát triển rừng
Xuất phát từ đặc trưng và mục đích quản lý, rừng quốc gia được phân chia thành ba loại: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất Mỗi loại rừng cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật tác động để bảo vệ riêng như: bảo tồn các loại động vật, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm; biện pháp khoanh nuôi; tái sinh rừng tự nhiên; cải tạo rừng; vệ sinh rừng Mỗi loại rừng có quy chế quản lý và sử dụng khác nhau như mức độ khai thác sử dụng tài nguyên; việc giao đất, cho thuê đất; chế độ khoán bảo
vệ rừng; chính sách đầu tư, hỗ trợ của nhà nước trong công tác bảo vệ rừng, chính sách về quyền hưởng các lợi ích về rừng Các biện pháp nghiệp vụ kỹ thuật đó nhằm đảm bảo quá trình sinh trưởng và phát triển tự nhiên của rừng theo quy luật sinh học của động vật, thực vật và các yếu tố tự nhiên khác của rừng Mục đích của việc bảo
vệ rừng là phục vụ con người, nên các chủ thể quản lý khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ rừng cần lưu ý những điểm sau:
- Coi việc xây dựng, ban hành đầy đủ và tổ chức thực hiện nghiêm túc quy trình kỹ thuật, quy phạm quản lý kỹ thuật trong công tác bảo vệ rừng
- Quy hoạch tổng thể diện tích rừng và đất lâm nghiệp, phân chia cụ thể lâm phận rừng quốc gia thành các loại rừng ổn định trên bản đồ và trên thực địa, xác định rõ ranh giới, đóng mốc cố định các loại rừng, tiểu khu, khoảnh, lô trạng thái
Trang 40- Thành lập cơ chế chính sách quản lý các loại rừng theo mục tiêu sử dụng chủ yếu của ba loại rừng, bảo đảm cho việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật vừa có tính khái quát vừa bảo đảm tính cá biệt đối với mỗi loại rừng
1.1.6.3 Năng lực cán bộ làm công tác quản lý và về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng
Cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận của bộ máy nhà nước do Nhà nước thành lập để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước thông qua hoạt động chấp hành, điều hành Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan hành chính nhà nước do Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh và nhiều văn bản dưới luật quy định Mặt khác, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan hành chính nhà nước do vị trí, tính chất của nó trong hệ thống các cơ quan quyết định Quyền hạn của các cơ quan hành chính nhà nước là phương tiện pháp lý cần thiết mà nhà nước quy định
để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao
Tóm lại, cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước một cách trực tiếp hay gián tiếp, trong phạm vi thẩm quyền của mình thực hiện hoạt động chấp hành, điều hành và tham gia vào các chức năng quản lý nhân danh quyền lực nhà nước
Thi hành pháp luật trong QLBVR có một vai trò quan trọng trong việc quy định cơ cấu tổ chức của cơ quan đối với lĩnh vực bảo về rừng Cơ quan thẩm quyền chung và cơ quan thẩm quyền chuyên môn
Cơ quan có thẩm quyền chung trong lĩnh vực bảo vệ rừng bao gồm Chính phủ và UBND các cấp Chính phủ là cơ quan đứng đầu của hệ thống cơ quan hành pháp, thống nhất quản lý thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước Chính phủ có toàn quyền giải quyết, quyết định những vấn đề liên quan tới hoạt động trên phạm vi toàn quốc trong quyền hạn của mình, trong đó có lĩnh vực bảo vệ rừng; UBND là cơ quan có thẩm quyền chung, thông qua hoạt động chấp hành, điều hành của mình thực hiện chức năng trên lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, hành chính - chính trị trong phạm
vi địa phương, là cơ quan giúp việc chính phủ trong lĩnh vực bảo vệ rừng