1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp giảm nghèo đa chiều cho các hộ nông dân trên địa bàn huyện thống nhất

106 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc thay đổi chuẩn nghèo đơn chiều dựa trên thu nhập sang tiếp cận đa chiều đã đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, như tỷ lệ hộ nghèo sẽ tăng lên, các chính sách giảm nghèo phải điều c

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Lê

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến quý Thầy Cô Trường Đại Học Lâm Nghiệp, Cơ sở 2 Trảng Bom - Đồng Nai Đặc biệt đối với quý Thầy Cô giảng viên đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian được tham gia học tập và đào tạo tại trường Hơn hết, tôi xin trân trọng biết ơn và cảm ơn đến Phó giáo sư- tiến sỹ Nguyễn Văn Tuấn - người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ cho tôi trong suốt thời gian thực tập nghiên cứu đề tài

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn đến các cán bộ công chức làm công tác giảm nghèo tại các xã trong huyện Thống Nhất, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Thống Nhất, đã cung cấp cho tôi các biểu mẫu, số liệu báo cáo, phiếu điều tra và kiến thức quý báo trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu

Mặc dù đã cố gắng hết sức trong khả năng có thể, song, vì thời gian cũng như kiến thức có hạn, vấn đề nghiên cứu sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự cảm thông và những thông tin đóng góp quý báu từ quý Thầy Cô, bạn bè, Cán bộ làm công tác giảm nghèo tại huyện Thống Nhất để luận văn được hoàn thiện hơn

Cuối cùng, xin kính chúc đến toàn thể quý Thầy Cô Trường Đại Học Lâm Nghiệp, Cơ cở 2 Trảng Bom - Đồng Nai, thầy hướng dẫn PGS-TS

Nguyễn Văn Tuấn, cùng toàn thể các bạn bè đồng nghiệp lời chúc sức khỏe, thành đạt./

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Lê

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG BIẺU vii

DANH MỤC HÌNH viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Sự cần thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu tổng quát 3

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Nội dung nghiên cứu 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀGIẢM NGHÈO ĐA CHIỀU 5

1.1 Cơ sở lý luận về nghèo đói và giảm nghèo đa chiều 5

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5

1.1.2 Vấn đề đo lường nghèo theo tiêu chuẩn đa chiều 9

1.1.3 Nội dung giảm nghèo theo hướng tiếp cận đa chiều 18

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả giảm nghèo đa chiều 21

1.2 Cơ sở thực tiễn về giảm nghèo đa chiều 24

1.2.1 Kinh nghiệm về giảm nghèo đa chiều ở một số nước trên thế giới 24

1.2.2 Kinh nghiệm thực tiễn về giảm nghèo đa chiều ở nước ta 27

1.2.3 Bài học kinh nghiệm cho huyện Thống Nhất 30

Chương 2 : ĐẶC ĐIỂM HUYỆN THỐNG NHẤT 33

Trang 4

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Thống Nhất 33

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 33

2.1.2 Các đặc điểm kinh tế, xã hội của huyện Thống Nhất 37

2.2 Phương pháp nghiên cứu 42

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 42

2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 44

2.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 44

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46

3.1 Thực trạng nghèo theo tiếp cận đa chiều tại huyện Thống Nhất 46

3.1.1 Quy định về chuẩn nghèo theo tiêu chí đa chiều được áp dụng tại huyện Thống Nhất 46

3.1.2 Tình hình hộ nghèo nghèo đa chiều tại huyện Thống Nhất 47

3.1.3 Thực trạng nghèo theo các tiêu chí của huyện Thống Nhất 49

3.1.4 Nguyên nhân nghèo theo tiêu chí đa chiều của huyện Thống Nhất 60

3.2 Tình hình và kết quả thực hiện chương trình giảm nghèo đa chiều của huyện Thống Nhất 61

3.2.1 Các chủ trương, kế hoạch và dự án giảm nghèo của huyện Thống Nhất 61

3.2.2 Kết quả thực hiện các chương trình, dự án giảm nghèo của huyện 63

3.2.3 Kết quả giảm nghèo đa chiều của huyện Thống Nhất 68

3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả giảm nghèo đa chiều của các hộ dân trên địa bàn huyện Thống Nhất 70

3.3.1 Hệ thống các chính sách Nhà nước 70

3.3.2 Điều kiện cơ sở hạ tầng Kinh tế - Xã hội của huyện Thống Nhất 72

3.3.3 Khả năng của ngân sách dành cho chương trình giảm nghèo 73

3.3.4 Các yếu tố thuộc về bản thân người nghèo 74

3.3.5 Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý các cấp 75

3.4 Đánh giá chung về thực hiện giảm nghèo đa chiều tại huyện Thống Nhất 77

Trang 5

3.4.1 Những thành công đạt được 77

3.4.2 Khó khăn, vướng mắc và tồn tại: 78

3.4.3 Nguyên nhân của những tồn tại yếu kém 79

3.5 Giải pháp cải thiện kết quả giảm nghèo đa chiều tại huyện Thống Nhất 80

3.5.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về giảm nghèo đa chiều trên địa bàn huyện 80

3.5.2 Tăng cường đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật 80

3.5.3 Đẩy mạnh việc thực hiện và nâng cao chất lượng chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế cho các hộ nghèo 82

3.5.4 Nâng cao năng lực công tác cho đội ngũ cán bộ công chức các cấp 83

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85

1 Kết luận 85

2 Khuyến nghị 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

HND: Hội nông dân

IPRCC: Trung tâm nghèo quốc tế ở Trung Quốc KHHGĐ: Kế hoạch hoá gia đình

LGDS: Luật phát triển xã hội

LPG: Khí hoá lỏng

MPI: Nghèo đa chiều

PTNT: Phát triển nông thôn

UBND: Ủy ban Nhân dân

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIẺU

Bảng 1.1: Các tiêu chí sử dụng đo lường trong MPI 10

Bảng 1.2: Chỉ số nghèo đa chiều 16

Bảng 2.1: Cơ cấu sử dụng đất huyện Thống Nhất (năm 2017) 36

Bảng 2.2: Đặc điểm dân số và lao động huyện Thống Nhất (2017) 37

Bảng 2.3: Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất huyện Thống Nhất 41

Bảng 3.1 Tiêu chí phân loại hộ của tỉnh Đồng Nai 46

Bảng 3.2 Biến động nghèo đa chiều theo năm của huyện 47

Bảng 3.3 Tình hình hộ nghèo đa chiều năm 2017 của huyện Thống Nhất phân theo đơn vị hành chính cấp xã 49

Bảng 3.4 Cơ cấu hộ nghèo theo mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản huyện Thống Nhất 52

Bảng 3.5 Mức độ thiếu hụt về chiều giáo dục của hộ nghèo trên địa bàn huyện Thống Nhất 53

Bảng 3.6 Mức độ thiếu hụt về nhu cầu y tế của hộ nghèo trên địa bàn huyện Thống Nhất 54

Bảng 3.7 Mức độ thiếu hụt về nhu cầu nhà ở của người nghèo trên địa bàn huyện Thống Nhất 56

Bảng 3.8 Mức độ thiếu hụt về đều kiện sống của người nghèo trên địa bàn huyện Thống Nhất Năm 57

Bảng 3.9 Mức độ thiếu hụt về nhu cầu tiếp cận thông tin của người nghèo trên địa bàn huyện Thống Nhất 59

Bảng 3.10 Nguyên nhân dẫn đến nghèo đa chiều của các hộ điều tra 61

Bảng 3.11 Kết quả thực hiện các hoạt động trong chương trình giảm nghèo của huyện Thống Nhất giai đoạn 2015-2017 64

Bảng 3.12 Kết quả giảm nghèo nhóm A của huyện thống Nhất 69

Bảng 3.13 Đánh giá của hộ điều tra về hệ thống chính sách giảm nghèo 71

Bảng 3.14 Đánh giá về khả năng của ngân sách cho hoạt động giảm nghèo 73

Bảng 3.15 Ý kiến đánh giá của hộ điều tra về năng lực công tác của đội ngũ cán bộ địa phương 76

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Bản đồ hành chính huyện Thống Nhất 33

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Sự cần thiết của đề tài

Đói nghèo là một trong những rào cản lớn làm giảm khả năng phát triển con người, cộng đồng cũng như mỗi quốc gia Người nghèo thường không có điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội như việc làm, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, thông tin, v.v…và điều đó khiến cho họ ít có cơ hội thoát nghèo Do vậy, mở rộng cơ hội lựa chọn và nâng cao năng lực cho người nghèo là phương thức tốt nhất để giảm nghèo bền vững

Ở Việt Nam, những năm trước đây, cách đo lường và đánh giá nghèo chủ yếu thông qua thu nhập Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy thành tiền Nếu người có thu nhập thấp dưới mức chuẩn nghèo thì được đánh giá thuộc diện hộ nghèo Đây chính là chuẩn nghèo đơn chiều do Chính phủ quy định Tuy nhiên, chuẩn nghèo hiện nay của Việt Nam được đánh giá là thấp so với thế giới Trên thực tế, nhiều hộ dân thoát nghèo nhưng mức thu nhập vẫn nằm cận chuẩn nghèo, do đó số lượng hộ cận nghèo vẫn rất lớn, tỷ lệ tái nghèo còn cao, hàng năm cứ 3 hộ thoát nghèo thì lại có 1 hộ trong số đó tái nghèo

Theo xu hướng nâng mức chuẩn nghèo quốc tế, trong giai đoạn

2016-2020, chuẩn nghèo của Việt Nam sẽ phải nâng cao hơn nữa để đảm bảo mức sống của người nghèo Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1614/QĐ-TTG ngày 15 tháng 9 năm 2015 Phê duyệt đề án tổng thể “chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường từ nghèo đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020” Ngày 19 tháng 11 năm 2015 Chính phủ ban hành Quyết định 59/2015/QĐ-TTg Ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 Theo đó chuẩn nghèo mới bao gồm tiêu chí

về mức thu nhập và mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản: y tế , giáo dục, điều kiện sống và khả năng tiếp cận thông tin…

Trang 10

Việc thay đổi chuẩn nghèo đơn chiều dựa trên thu nhập sang tiếp cận

đa chiều đã đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, như tỷ lệ hộ nghèo sẽ tăng lên, các chính sách giảm nghèo phải điều chỉnh cho phù hợp; xây dựng mới các chính sách hệ thống giải pháp giảm nghèo phù hợp tình hình mới

Huyện Thống Nhất là một huyện thuộc tỉnh Đồng Nai, được chia tách, điều chỉnh địa giới hành chính theo Nghị định 97/2003/NĐ-CP của Chính phủ, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2004 Là huyện thuần nông, kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp; xuất phát điểm thấp so với các địa phương khác trong tỉnh Lợi thế đang ở dạng tiềm năng chưa được khai thác triệt để

Trong những năm qua thực hiện chương trình giảm nghèo với sự nổ lực không ngừng của các ngành, các cấp và nhân dân trong huyện, công tác giảm nghèo của huyện đã đạt được những kết quả nhất định Kết quả Chương trình MTQG giảm nghèo đã góp phần ổn định xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với việc đảm bảo an sinh xã hội, góp phần thực hiện hoàn thành chương trình Nông thôn mới Tốc độ giảm nghèo thời gian qua được đánh giá là nhanh, vượt chỉ tiêu Tuy nhiên, chất lượng giảm nghèo chưa thật sự bền vững, số hộ vượt nghèo nằm trong lằn ranh dễ tái nghèo trở lại

Mặt khác hiện nay chuyển sang giảm nghèo theo hướng tiếp cận đa chiều sẽ đặt ra nhiều điều cần giải quyết, cách tiếp cận nghèo đa chiều còn mới mẻ, khác hẳn quan niệm về nghèo thu nhập, đòi hỏi cần có thời gian để chuyển đổi và thích ứng Khi tiếp cận đo lường nghèo đa chiều, khái niệm hộ nghèo sẽ khác về nội dung so với xác định chuẩn nghèo thu nhập như trước đây Trong khi đó, hệ thống chính sách giảm nghèo hiện hành vẫn dựa trên quy định tiêu chí hộ nghèo dựa vào thu nhập Một số chính sách hiện hành sẽ cần phải thay đổi cùng với yêu cầu sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật, do đó đòi hỏi phải có thời gian, lộ trình, bước đi cụ thể Cần tạo được sự

Trang 11

đồng thuận, thống nhất cao giữa các cấp, các ngành và cộng đồng, người dân trong tiếp cận nghèo đa chiều Tất cả những điều đó đòi hỏi phải nghiên cứu

kỹ lưỡng thấu đáo để đề xuất những giải pháp phù hợp, là người trực tiếp thực hiện tham mưu cho cấp ủy chính quyền địa phương về lĩnh vực này, tôi quyết

định chọn đề tài “Giải pháp giảm nghèo đa chiều cho các hộ nông dân trên địa bàn huyện Thống Nhất” làm luận văn thạc sỹ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở nghiên cứu về thực trạng, nguyên nhân dẫn đến nghèo đa chiều, thực trạng kết quả thực hiện chương trình giảm nghèo và các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả giảm nghèo tại địa bàn nghiên cứu, luận văn đề ra giải pháp cải thiện kết quả giảm nghèo đa chiều cho các hộ dân trên địa bàn huyện Thống Nhất – Đồng Nai

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiện trạng nghèo theo chuẩn

đa chiều và các kết quả của hoạt động của công tác giảm nghèo theo hướng tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện

Trang 12

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về mặt nội dung:

Nội dung chính của đề tài tập trung vào các khía cạnh: hiện trạng nghèo theo chuẩn đa chiều của huyện, thực trạng kết quả áp dụng các giải pháp giảm nghèo và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chương trình của huyện Thống Nhất

Nghiên cứu trên địa bàn huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và cơ sở thực thực tiễn về giảm nghèo nghèo đa chiều

- Thực trạng nghèo theo tiêu chí đa chiều và kết quả thực hiện chương trình giảm nghèo đa chiều trên địa bàn huyện Thống Nhất

- Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả giảm nghèo đa chiều ở huyện Thống Nhất – Đồng Nai

- Giải pháp cải thiện kết quả giảm nghèo đa chiều ở huyện Thống Nhất

Trang 13

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ

GIẢM NGHÈO ĐA CHIỀU 1.1 Cơ sở lý luận về nghèo đói và giảm nghèo đa chiều

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm về đói nghèo

Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa sự không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Nghèo có nghĩa dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” [2 ]

Hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993 đã đưa ra định nghĩa:

“Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương” [ 2 ]

Bên cạnh đó, nghèo còn được hiểu theo nghĩa tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng Định nghĩa này

có liên quan đến vấn đề bất bình đẳng trong xã hội Mức sống trung bình ở các nước là khác nhau, giữa các vùng, các địa phương là khác nhau nên nghèo theo quan niệm trên chỉ mang ý nghĩa tương đối mà không phải là chính xác cho mọi trường hợp

Ngoài ra, còn có rất nhiều quan niệm khác nhau về nghèo Theo Ngân hàng phát triển Châu Á: “Nghèo là tình trạng thiếu những tài sản cơ bản và cơ

Trang 14

hội mà mỗi con người có quyền được hưởng Mọi người cần được tiếp cậnvới giáo dục cơ sở và các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản Các hộ nghèo có quyền duy trì cuộc sống bằng chính lao động của họ và được trả công một cách hợp lý, cũng như được sự bảo trợ khi có biến động bên ngoài” [2]

Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả cho rằng nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt/không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người

Dựa trên những quan niệm về nghèo đói của các cá nhân và tổ chức trên thế giới, Việt Nam đã đưa ra các khái niệm cụ thể và được nghiên cứu ở

mức độ cá nhân và cộng đồng Nghèo là tình trạng của một bộ phận cư dân

nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống Đó là những hộ thiếu ăn từ 1 đến 2 tháng, thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cho cộng đồng

Thời gian qua, chuẩn nghèo, tỷ lệ nghèo và xác định đối tượng nghèo ở Việt Nam hoàn toàn dựa vào các tiêu chí thu nhập, trong đó chuẩn nghèo được xác định theo phương pháp “chi phí cho các nhu cầu cơ bản” Các nhu cầu cơ bản bao gồm chi cho nhu cầu tối thiểu về lương thực/thực phẩm và chi cho những nhu cầu phi lương thực/thực phẩm thiết yếu (giáo dục, y tế, nhà ở ) Cách tiếp cận theo thu nhập này không phù hợp với tính đa chiều của nghèo đói, bởi vì:

Thứ nhất, một số nhu cầu cơ bản của con người không thể quy ra tiền

(như tham gia xã hội, an ninh, vị thế xã hội, ) hoặc không thể mua được bằng tiền (tiếp cận giao thông, thị trường, đường xá và các loại cơ sở hạ tầng khác,

an ninh, môi trường, một số dịch vụ y tế/giáo dục công )

Thứ hai, với các hộ có có thu nhập trên chuẩn nghèo thì trong một số

trường hợp thu nhập đó sẽ không được chi tiêu cho những nhu cầu tối thiểu;

Trang 15

vì những lý do như không tiếp cận được dịch vụ tại nơi sinh sống, hoặc thay

vì chi tiêu cho giáo dục hoặc y tế, thu nhập có thể bị chi cho thuốc lá, bia rượu

và các mục đích khác Đặc biệt, khi Việt Nam đã trở thành nước có thu nhậptrung bình thấp vào năm 2010 với tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa và di cư rất nhanh, phương pháp này càng bộc lộ nhiều hạn chế

1.1.1.2 Khái niệm và chuẩn nghèo theo quan điểm đa chiều

Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế,

xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản [2]

Tuy nhiên, chuẩn nghèo đa chiều có thể là một chỉ số không liên quan đến mức thu nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản [11]

Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index) của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: y-tế, giáo dục và điều kiện sống, hiện là một thước

đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập

Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả với quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần được chú ý nhìn nhận là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu

cầu cơ bản của con người Nghèo đa chiều là tình trạng con người không

được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống

Khái niệm nghèo đa chiều được đề cập ở Việt Nam từ năm 2013 Đo lường nghèo đa chiều cần được áp dụng để dựng nên một bức tranh đầy đủ và

Trang 16

toàn diện hơn về thực trạng nghèo ở nước ta Ngày 19/11/2016 Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 17/2016/TT-BLĐTBXH hướng dẫn quy trình điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hàng năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020

Nghèo không chỉ được đo lường bằng thu nhập, chi tiêu mà còn bởi khả năng tiếp cận một cách đồng thời đến lương thực, nhà ở, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và các mức sống xã hội khác, ngay cả các chỉ báo phi vật chất Nói cách khác, nghèo được phản ánh bằng sự thiếu hụt phúc lợi xã hội ở các khía cạnh khác nhau và có thể được một bộ các chỉ báo đại diện

Tổng hòa các chỉ báo này phản ánh chất lượng cuộc sống Rõ ràng là có

sự quan hệ qua lại giữa các chỉ báo đói nghèo đa chiều chứ không chỉ đơn giản là quan hệ nhân quả giữa tình trạng nghèo về tiền bạc và các nhân tố khác Các mối quan hệ qua lại này giữa các chỉ báo nghèo đa chiều làm cho việc đo lường nghèo trở nên phức tạp hơn so với quan hệ nhân quả đơn giản thường được áp dụng trong nghiên cứu nghèo, khi mà tình trạng nghèo đơn chiều được coi như là kết quả của nhiều nhân tố khác Như vậy, nghèo đa chiều là sự thiếu hụt tổng hợp của hai hay nhiều loại vốn khác nhau của một người hoặc nhóm người: vốn sức khoẻ, vốn tâm lý, vốn thông tin, vốn con người, vốn xã hội, vốn văn hóa, vốn vật chất, vốn tự nhiên và vốn kinh tế

Nghèo đa chiều đưa ra cái nhìn về tình trạng nghèo một cách đa chiều

và toàn diện hơn, chỉ cần thiếu hụt một trong các loại vốn trên sẽ dẫn đến thiếu hụt những loại vốn khác Chúng đều có quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau Ví như thiếu vốn sức khỏe sẽ dẫn đến thiếu vốn tài chính

Ngày nay, vấn đề nghèo cần phải được xem xét và nhìn nhận theo nhiều góc độ khác nhau Khái niệm “nghèo đa chiều” đã ra đời trong đó xác định rõ nghèo đói không hẳn chỉ là đói ăn, thiếu uống, hoặc thiếu các điều

Trang 17

kiện sống, sinh hoạt khác mà nghèo đói còn được gây ra bởi các rào cản về xã hội và các tác nhân khác

Vì vậy, nghèo đa chiều có thể được hiểu là tình trạng con người không

được đáp ứng một hoặc một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống [2].

Như vậy sự nghèo khó không chỉ đơn thuần là nghèo về lương thực, thiếu các điều kiện sinh hoạt mà nó bao gồm các yếu tố kìm hãm cá thể đó không tiếp cận được đến các nguồn lực hoặc không biết và không thể tìm ra các giải pháp cho bản thân để thoát ra khỏi tình trạng hiện có

Do vậy, đề giải quyết vấn đề giảm nghèo, không chỉ dừng lại ở việc cung cấp lương thực, thực phẩm, tạo việc làm cho người lao động mà còn phải tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ cơ bản như giáo dục, y

tế, các nguồn vốn để phát triển sản xuất và đặc biệt là tạo cho người nghèo các cơ hội để có thể tự vươn lên thoát nghèo một cách bền vững

1.1.2 Vấn đề đo lường nghèo theo tiêu chuẩn đa chiều

1.1.2.1 Vấn đề đo lường nghèo đa chiều trên thế giới

Trong những năm trước đây nghèo đói thường được đo lường thông qua thu nhập hoặc chi tiêu Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được qui ra bằng tiền; Người nghèo hay

hộ nghèo là những đối tượng có mức thu nhập hoặc chi tiêu thấp hơn chuẩn nghèo Cách thức đo lường này đã duy trì trong thời gian dài và bắt đầu bộc lộ những hạn chế

Thứ nhất, một số nhu cầu cơ bản của con người không thể quy ra tiền

(như tham gia xã hội, an ninh, vị thế xã hội ) hoặc không thể mua được bằng tiền (tiếp cận giao thông, thị trường, đường xá và các loại cơ sở hạ tầng khác,

an ninh, môi trường, một số dịch vụ y tế/giáo dục công, )

Thứ hai, có những trường hợp hộ gia đình có tiền nhưng không chi tiêu

vào việc đáp ứng những nhu cầu tối thiểu (do cả những lý do khách quan như

Trang 18

không có sẵn dịch vụ hay lý do chủ quan như do tập tục văn hóa địa phương hay do chính nhận thức của người dân) Nghèo không chỉ được đo lường bằng thu nhập mà còn được đo lường bằng khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, thông tin, giáo dục,…

Mặc dù chưa có các chỉ tiêu cụ thể nhưng trong báo cáo Nghèo của Tổng cục Thống kê năm 2010 đã áp dụng chỉ số nghèo đa chiều cho trẻ em bao gồm các khía cạnh giáo dục, y tế, dinh dưỡng, nhà ở, nước sạch, vệ sinh, không làm việc trước tuổi lao động, vui chơi giải trí, hòa nhập xã hội và được

3.5 Nhiên liệu nấu ăn 3.6 Sở hữu tài sản

(Nguồn: Đề án nghèo đa chiều 2016 - 2020)

Như vậy, một phương pháp đo lường nghèo đa chiều có thể kết hợp nhiều tiêu chí khác nhau để nắm bắt được tính đa dạng và độ phức tạp của nghèo, qua đó cung cấp thông tin xây dựng những chính sách và chương trình phù hợp cho giảm nghèo Các chỉ tiêu đo lường sẽ được lựa chọn sao cho phù hợp với xã hội và hoàn cảnh thực tế của quốc gia

Trang 19

1.1.2.2 Cách tiếp cận đo lường nghèo đa chiều ở Việt Nam

Quan điểm về đo lường nghèo đa chiều

Tiếp cận đo lường nghèo đa chiều ở Việt Nam dựa trên những quan điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất là cách tiếp cận nghèo đa chiều tại Việt Nam là cách tiếp cận

theo quyền nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người Các nhu cầu

cơ bản này được coi là quan trọng ngang bằng nhau và con người có quyền được đáp ứng tất cả các nhu cầu này để có thể đảm bảo một cuộc sống bình thường Cách tiếp cận này khác một cách cơ bản với cách tiếp cận đơn chiều dựa trên thu nhập trong đó coi thu nhập bằng tiền là tiêu chí duy nhất đại diện cho nhu cầu của con người

Thứ hai là trong qua trình chuyển đổi phương pháp tiếp cập đo lường

nghèo từ đơn chiều sang nghèo đa chiều, chuẩn nghèo đa chiều và chuẩn nghèo thu nhập sẽ được sử dụng song song Chuẩn nghèo đa chiều sử dụng để

phản ánh ngưỡng thiếu hụt về các nhu cầu cơ bản của con người Việt Nam Chuẩn nghèo thu nhập thể hiện mức sống bằng tiền Chuẩn thu nhập sẽ được

dùng làm như tiêu chí bổ sung để phân loại đối tượng nghèo đa chiều thành cách đối tượng ưu tiên chính sách

Thứ ba là khi tiếp cận nghèo đa chiều phân tách rõ ràng 3 công việc: đo

lường và giám sát nghèo, xác định hộ nghèo, và xác định đối tượng thụ hưởng chính sách

Thứ tư là đo lường và giám sát nghèo sẽ được tiến hành độc lập bởi cơ

quan thống kê và sử dụng các chuẩn nghèo khách quan, được xây dựng trên

cơ sở khoa học, nhằm giám sát và đánh giá sự thay đổi tình trạng nghèo qua thời gian, không gian, và đối tượng, cung cấp thông tin cho hoạch định chính sách vĩ mô; cơ quan thống kê sẽ chịu trách nhiệm công bố tỷ lệ nghèo hàng năm, giai đoạn của cả nước cũng như từng địa phương

Trang 20

Thứ năm là việc xác định hộ nghèo và các đối tượng an sinh xã hội

khác được tiến hành bởi ngành Lao động, Thương binh và Xã hội từ nhận diện, lập danh sách phục vụ cho công tác quản lý, xác định đối tượng thụ hưởng, và hoạch định chính sách cả cấp trung ương và địa phương

Thứ sáu là việc xác định đối tượng thụ hưởng chính sách: mỗi chính

sách phụ thuộc vào nội dung và nguồn lực cụ thể sẽ xác định đối tượng thụ hưởng tương ứng; các đối tượng thụ hưởng cũng không nhận được sự hỗ trợ như nhau mà tùy thuộc nhu cầu mà sẽ được phân loại hỗ trợ cho phù hợp

Mục tiêu của Phương pháp đo lường nghèo đa chiều ở Việt Nam

Đo lường quy mô và mức độ nghèo: Trên cơ sở đó nhằm theo dõi tiến

trình giảm nghèo và đánh giá tác động của các chương trình, chính sách giảm nghèo và phát triển xã hội qua thời gian, giữa các vùng, các nhóm dân cư, đặc biệt là theo các chiều nghèo, đồng thời phục vụ cho hoạch định chương trình, chính sách phù hợp

Xác định đối tượng hộ nghèo:đặc biệt là những hộ nghèo nhất và các

thiếu hụt của họ để đặt mục tiêu, thiết lập ưu tiên, xây dựng và thực hiện các chương trình, chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội hiệu quả, phù hợp với các đối tượng và nhu cầu khác nhau

Xác định đối tượng thụ hưởng chính sách: Thông tin về tình trạng

nghèo và đối tượng nghèo kết hợp với các tiêu chí bổ sung khác sẽ giúp từng chương trình, chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội xác định được các đối tượng phù hợp nhất cho các hỗ trợ của mình Mỗi chính sách phụ thuộc vào nội dung và nguồn lực cụ thể sẽ xác định đối tượng thụ hưởng tương ứng; các đối tượng thụ hưởng cũng không nhận được sự hỗ trợ như nhau mà tùy thuộc nhu cầu sẽ được phân loại hỗ trợ cho phù hợp

Trang 21

Phương pháp đo lường nghèo đa chiều ở Việt Nam

Phương pháp luận đo lường nghèo đa chiều của Việt Nam áp dụng phương pháp Alkire&Foster do Tổ chức Sáng kiến phát triển con người và chống nghèo đói Oxford (OPHI) xây dựng Phương pháp này đã được sử dụng để tính Chỉ số nghèo đa chiều (MPI) trong Báo cáo Phát triển Con người của Liên hợp quốc từ năm 2010 Đây cũng là phương pháp đang được nhiều quốc gia sử dụng trong đo lường và giám sát nghèo, xác định đối tượng nghèo, đánh giá và xây dựng các chính sách giảm nghèo và phát triển xã hội

Theo phương pháp này, để đo lường nghèo đa chiều cần xác định khái niệm nghèo đa chiều của Việt Nam, xác định đơn vị đo lường là hộ hay người, xác định các chiều thiếu hụt, xác định các chỉ số đo lường và ngưỡng thiếu hụt trong từng chiều, xác định cách tính mức độ thiếu hụt và quy định chuẩn nghèo

đa chiều Như vậy, khái niệm nghèo đa chiều của Việt Nam được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống Chuẩn nghèo sẽ quy định nếu ở mức độ nào đó không được đáp ứng một số nhu cầu xã hội cơ bản thì một hộ gia đình sẽ bị coi là nghèo đa chiều

Các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống được quy định trong Hiến pháp

2013, Nghị quyết 15-NQ/TW, và Nghị quyết 76/2014/QH13 bao gồm nhu cầu

y tế, giáo dục, việc làm, nhà ở và thông tin, và an sinh xã hội Về đơn vị phân tích, Nghèo đa chiều sẽ được đo lường ở cấp hộ Tuy nhiên, số liệu vẫn cần thu thập ở cấp cá nhân đối với một số chỉ số thiếu hụt để xác định chính sách phù hợp cho cấp cá nhân (ví dụ các chính sách y tế, giáo dục ) Bên cạnh đó, có thể tổng hợp thông tin hộ thành thông tin của nhóm dân cư hay đơn vị hành chính để xác định những chính sách phù hợp ở cấp cộng đồng (ví dụ các chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng, xây dựng trường học, cơ sở y tế cho cấp quận/huyện, tỉnh/thành phố )

Trang 22

 Các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn

2016-2020

Theo quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, chuẩn nghèo theo tiếp cận nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 bao gồm các tiêu chí sau đây:

+ Tiêu chí nghèo về thu nhập

- Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị

- Chuẩn cận nghèo: 1.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn

và 1.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị

+ Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản

- Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin

- Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin

 Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng

cho giai đoạn 2016-2020

+ Hộ nghèo

- Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống (Đồng Nai có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 1.200.000 đồng trở xuống)

Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận

Trang 23

các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên (Đồng Nai có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.200.000 đồng đến 1.550.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số

đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên)

- Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống (Đồng Nai có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 1.450.000 đồng trở xuống);

Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên (Đồng Nai có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.450.000 đồng đến 1.900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số

đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.)

+ Hộ cận nghèo

- Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức

độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (Đồng Nai Khu vực nông thôn:

là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.200.000 đồng đến 1.550.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản)

- Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức

độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (Đồng Nai: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.450.000 đồng đến 1.900.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản)

Trang 24

+ Hộ có mức sống trung bình

- Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng (Đồng Nai: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.550.000 đồng đến 2.050.000 đồng)

- Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng(Đồng Nai: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.900.000 đồng đến 2.550.000 đồng)

Bảng 1.2: Chỉ số nghèo đa chiều

từ năm 1986 trở lại không tốt nghiệp Trung học cơ

sở và hiện không đi học

Hiến pháp năm 2013 NQ15/NQ-TWMột số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-

2020 Nghị quyết số 41/2000/QH (bổ sung bởi Nghị định

Hiến pháp năm 2013;

Luật Giáo dục 2005;

Luật bảo vệ, chăm sóc

và giáo dục trẻ em NQ 15/NQ-TW Một số vấn

đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020

10

2) Y tế 2.1 Tiếp

cận các

Hộ gia đình có người bị ốm đau nhưng không đi khám

Hiến pháp năm 2013 Luật khám chữa bệnh

Trang 25

dịch vụ y

tế

chữa bệnh (ốm đau được xác định là bị bệnh/chấn thương nặng đến mức phải nằm một chỗ và phải có người chăm sóc tại giường hoặc nghỉ việc/học không tham gia được các hoạt động bình thường)

10

2.2 Bảo

hiểm y tế

Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên từ 6 tuổi trở lên hiện tại không có bảo hiểm y tế

Hiến pháp năm 2013 Luật bảo hiểm y tế

2014

NQ15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-

4 cấp độ: nhà kiên cố, bán kiên cố, nhà thiếu kiên cố, nhà đơn sơ)

Luật Nhà ở;

NQ15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020

Luật Nhà ở;

Quyết định 2127/QĐ- Ttg của Thủ tướng

Trang 26

NQ15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-

Luật Viễn thông NQ15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-

và không nghe được hệ thống loa đài truyền thanh xã/thôn

Luật Thông tin truyền thông NQ15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020

- Những hộ có tổng điểm từ 30 đến dưới 50 điểm là hộ nghèo đa chiều

- Những hộ có tổng điểm từ 20 đến dưới 30 điểm là hộ cận nghèo đa chiều

1.1.3 Nội dung giảm nghèo theo hướng tiếp cận đa chiều

Tiếp cận giảm nghèo đã chiều đã hình thành nội dung các giải pháp giảm nghèo mới với mục tiêu nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu và nâng cao khả năng tiếp cận của người nghèo về các dịch vụ xã hội cơ bản

Trang 27

Theo đó, nội dung giảm nghèo bao gồm các khía cạnh chủ yếu sau đây:

1.1.3.1 Hỗ trợ, tạo điều kiện cải thiện sinh kế, phát triển các hoạt động sản xuất để nâng cao thu nhập của các hộ nghèo

Biểu hiện quan trọng nhất của đói nghèo chính là mức độ thu nhập thấp của các hộ nghèo Vì vậy, tạo các điều kiện để các hộ nghèo phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh, từng bước nâng cao thu nhập của mình là nội dung căn bản nhất trong các giải pháp giảm nghèo

Hiện nay ở nước ta, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho các hộ nghèo được thực hiện qua các hoạt động sau đây:

- Hỗ trợ cho hộ nghèo và cận nghèo vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất kinh doanh Các ưu đãi thể hiện trên các mặt: ưu đãi về lãi suất vay (từ 0% đến 50% so với lãi suất thương mại); ưu đãi về điều kiện vay vốn (không cần tài sản thế chấp); Ưu đãi về thời hạn vay vốn (theo chu kỳ sản xuất của từng loại cây trồng, vật nuôi)

- Tăng cường các chương trình khuyến nông, khuyến công: tăng cường cán bộ khuyến nông gấp 2 lần định mức; hỗ trợ 100% giống, vật tư cho việc xây dựng các mô hình khuyến nông cho các xã nghèo

- Hỗ trợ xuất khẩu lao động tại các hộ nghèo, địa phương nghèo: Ngân sách hỗ trợ đào tạo nghề, đào tạo ngoại ngữ và bồi dưỡng văn hóa để đưa lao động thuộc hộ nghèo, vùng nghèo đi xuất khẩu lao động

- Khuyến khích, hỗ trợ, ưu đãi đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại đầu tư sản xuất kinh doanh trên địa bàn các xã nghèo, huyện nghèo

1.1.3.2 Hỗ trợ phát triển giáo dục, đào tạo cho các hộ nghèo

Hoạt động này nhằm mục tiêu hỗ trợ hộ nghèo để họ có có cơ hội tiếp cận giáo dục đào tạo, nâng cao kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp để tìm kiến việc làm hoặc tự tạo việc làm, trên cơ sở đó mà tự phấn đấu vươn lên thoát nghèo một cách bền vững

Trang 28

Hiện nay ở nước ta, hoạt động hỗ trợ phát triển giáo dục đào tạo cho người nghèo tập trung trên các khía cạnh sau đây:

- Tổ chức các trường học nội trú cho học sinh các vùng nghèo; tăng cường thực hiện chính sách đào tạo cử tuyển

- Thực hiện các ưu đãi về giáo dục cho hộ nghèo: miễn giảm học phí, trợ cấp sinh hoạt phí cho học sinh thuộc các hộ nghèo; thực hiện chương trình cho vay vốn đi học các trường đào tạo chuyên nghiệp

- Ưu tiên, trợ cấp kinh phí cho hoạt động đào tạo nghề cho lao động thuộc các hộ nghèo

- Ưu tiên bố trí giáo viên đầy đủ, đảm bảo chất lượng cho các xã nghèo, huyện nghèo

1.1.3.3 Ưu tiên đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội hướng tới người nghèo, vùng nghèo

Đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội là một trong các nội dung cơ bản để thực hiện các giải pháp giảm nghèo bền vững Khi hệ thống cơ sở hạ tầng được phát triển, người nghèo sẽ có cơ hội để tiếp cận, sử dụng các công trình công cộng để phục vụ cho phát triển sản xuất và cải thiện đời sống, từng bước phấn đấu vươn lên vượt nghèo

Ở nước ta hiện nay, chính sách ưu tiên đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội cho các vùng nghèo thể hiện trên các khía cạnh sau:

- Ở cấp huyện: Ngân sách ưu tiên đầu tư xây dựng và phát triển các cơ

sở hạ tầng cơ bản cho các huyện nghèo, bao gồm:

+ Cơ sở giáo dục: Trường nội trú, trung tâm dạy nghề

+ Cơ sở y tế: Bệnh viện huyện, bệnh viện khu vực, trung tâm y tế dự phòng

+ Hệ thống đường giao thông: đường liên huyện, liên xã

+ Các công trình thủy lợi liên xã

Trang 29

+ Các trung tâm cụm xã

- Ở cấp xã: Ngân sách ưu tiên đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng

cơ sở thiết yếu (bao gồm cả kinh phí sửa chữa, nâng cấp, duy tu, bảo dưỡng các công trình đã được đầu tư), bao gồm:

+ Hệ thống trường học: trường mầm non, mẫu giáo, nhà bán trú dân nuôi

1.1.3.4 Thực hiện chính sách trợ giúp cho các hộ nghèo

Trợ giúp của Nhà nước là chính sách được thực hiện cho đối tượng là các hộ nghèo nhằm mục tiêu giúp đỡ để họ có thể đứng vững và từng bước vượt qua các khó khăn về sản xuất và đời sống, từng bước phấn đấu thoát nghèo

Chính sách trợ giúp cho các hộ nghèo ở nước ta hiện nay bao gồm:

- Hỗ trợ nhà ở cho các hộ nghèo

- Hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho hộ nghèo

- Trợ giúp pháp lý cho người nghèo

- Hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo

- Hỗ trợ đột xuất cho hộ nghèo

-

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả giảm nghèo đa chiều

1.1.4.1 Sự phù hợp của hệ thống chính sách của Nhà nước

Trang 30

Chính sách (bao gồm các chủ trương, nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp quy của Nhà nước) có tác động to lớn đến kết quả thực hiện các chương trình giảm nghèo cả ở tầm quốc gia và ở từng địa phương

Thứ nhất, các chính sách tạo điều kiện thu hút đầu tư phát triển hạ tầng

KTXH, phát triển SXKD, tạo việc làm và thu nhập, tạ nguồn kinh phí cho các hoạt động giảm nghèo và cũng tạo cơ hội cho người nghèo tự phân đấu vươn lên

Thứ hai, các chính sách tạo ra những định hướng chung, những nhận

thức chung, những nỗ lực chung của cả hệ thống chính trị cùng tham gia thúc đẩy thực hiện các chương trình giảm nghèo

Thứ ba, về các chính sách trực tiếp liên quan đến các hộ nghèo, vùng

nghèo (như CS dạy nghề, khuyến nông, khuyến công, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, việc làm cho hộ nghèo…) có ảnh hưởng tích cực trực tiếp đối với người nghèo nhằm cung cấp công cụ, trang bị được cho người nghèo khả năng tự thoát nghèo, khả năng tự vệ trước những khó khăn bất ngờ

1.1.4.2 Điều kiện cơ sở hạ tầng Kinh tế - Kỹ thuật – Xã hội

Sự phát triển cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm) là một trong những điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa, đưa các dịch vụ xã hội cơ bản

về các vùng miền xa xôi, hẻo lánh, giảm thiểu tình trạng nghèo đa chiều cho người dân

Cơ sở hạ tầng phát triển cũng tạo tiền đề cho sự phát triển kinh cho địa phương, từ đó mà người dân có cơ hội giao lưu buôn bán, phát triển kinh tế

hộ, cải thiện đời sống vật chất, tình trạng nghèo đa chiều phương diện chất lượng cuộc sống cũng được hạn chế, giảm thiểu

1.1.4.3 Khả năng của ngân sách dành cho chương trình giảm nghèo

Trang 31

Giảm nghèo là một chương trình tiếp cận đồng bộ từ nhiều khía cạnh khác nhau, bao gồm nhiều hoạt động đa dạng, cần sử dụng những nguồn lực rất lớn

Hiện nay, nguồn lực chủ yếu dành cho chương trình giảm nghèo là lấy

từ ngân sách Nhà nước trung ương và một phần từ ngân sách địa phương Bên cạnh nguồn lực từ ngân sách nhà nước

Do vậy, khả năng đáp ứng nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước (về số lượng và thời hạn) có vai trò hết sức quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả thực hiện chương trình giảm nghèo ở các địa phương

1.1.4.4 Các yếu tố thuộc về bản thân người nghèo

Các yếu tố thuộc về bản thân người nghèo như: nhận thức; kiến thức,

kỹ năng nghề nghiệp; ý chí phấn đấu vươn lên để thoát nghèo; của bản thân người nghèo có vai trò hết sức quan trọng đối với kết quả của các công tác giảm nghèo

Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến đói nghèo ở những vùng kinh tế nghèo, vùng sâu, vùng xa là do tính chủ động của người lao động còn thấp, chưa tự chủ trong nắm bắt kiến thức sản xuất tân tiến, công nghệ mới, người nghèo chưa quyết tâm tự thoát nghèo mà còn trông chờ, ỷ lại vào chính sách Nhà nước

Người nghèo thường là những người có trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định, mức thu nhập hầu như chỉ đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu, do vậy không có điều kiện nâng cao trình độ của mình trong tương lai dẫn đến rơi vào cảnh nghèo và khó có cơ hội thoát nghèo Bên cạnh

đó, trình độ học vấn thấp còn ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến sinh đẻ, giáo dục, nuôi dưỡng con cái… nên dễ tạo một chuỗi nghèo giai dẳng

từ đời này sang đời khác Trình độ học vấn thấp khiến người nghèo khó tiếp cận với pháp luật, chưa được bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp

Trang 32

Một số người nghèo còn mang nặng những quan niệm lạc hậu, suy nghĩ an phận, tư tưởng e ngại, không dám tiếp cận với các chính sách, các hoạt động cộng đồng, dẫn đến nghèo khía cạnh tham gia cộng đồng, không

có tiếng nói và không bảo vệ được quyền lợi của chính mình

1.1.4.5 Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý các cấp

Đội ngũ cán bộ quản lý các cấp luôn luôn đóng vai trò quyết định đối

với mọi chương trình của Nhà nước, trong đó có chương trình giảm nghèo Năng lực công tác của đội ngũ cán bộ quản lý được nhìn nhận trên các khía cạnh: kiến thức, kỹ năng và thái độ của họ đối với công tác của mình

Đội ngũ cán bộ quản lý cấp huyện, cấp xã có vai trò đặc biệt quan trọng chương trình giảm nghèo, bởi đây là đội ngũ cán bộ trực tiếp tiếp xúc với người nghèo, trực tiếp triển khai các chính sách ưu đãi, hỗ trợ; trực tiếp tư vấn giúp đỡ đối với người nghèo

Bên cạnh các cán bộ thuộc các cơ quan quản lý Nhà nước, tại các địa phương còn có sự tham gia tích cực của các cán bộ thuộc các tổ chức chính

trị- xã hội

1.2 Cơ sở thực tiễn về giảm nghèo đa chiều

1.2.1 Kinh nghiệm về giảm nghèo đa chiều ở một số nước trên thế giới

1.2.1.1 Kinh nghiệm của Mexico

Mexico ra mắt phương pháp đo lường nghèo đa chiều dựa theo phương pháp Alkire-Foster lần đầu tiên vào năm 2009 Phương pháp này được thiết

kế bởi Hội đồng đánh giá Chính sách phát triển Xã hội độc lập của Mexico theo yêu cầu của Luật phát triển Xã hội (LGDS) Đây là phương pháp đo lường nghèo cấp quốc gia đầu tiên giúp phản ánh đầy đủ bề rộng của nghèo ở cấp hộ gia đình, bao gồm các yếu tố xã hội như y tế, nhà ở, giáo dục, tiếp cận lương thực, cũng như thu nhập ở cấp quốc gia, bang và thành phố

Trang 33

Tất cả người dân được sơ đồ hóa dựa trên quyền xã hội: những người không thiếu hụt quyền xã hội nào và những người thiếu ít nhất 01 quyền (và những người không nghèo thu nhập)

- Dễ tổn thương về thu nhập: những người nghèo thu nhập mà không thiếu bất kỳ quyền lợi xã hội nào

Những chiều, trọng số và ngưỡng nghèo của phương pháp đo lường này tuân thủ theo Hiến pháp và Luật Phát triển Xã hội của Mexico Phúc lợi kinh tế và quyền lợi xã hội được xem là quan trọng ngang nhau nên mỗi chiều chiếm 50% trong phép đo này Trong số các quyền lợi xã hội, tất cả các chiều thành phận được Hiến pháp định nghĩa là các quyền (và các quyền này quan trọng ngang nhau) Từ đó, một trong số ngang được áp dụng vào mỗi chiều xã hội Các quy định của Mexico cũng đã chọn ra nhiều ngưỡng thiếu hụt Ví dụ, Hiến pháp khẳng định rằng cấp giáo dục tối thiểu ở Mexico phải là trung học [2]

1.2.1.2 Kinh nghiệm Colombia

Colombia là nước tiên phong sử dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều trong giảm nghèo Năm 2011, Chính phủ Colombia ban hành chiến lược giảm nghèo mới, chiến lược này đề ra các mục tiêu và kết quả đầu ra chắc chắn và mang tính ràng buộc Tổng thống Colombia, ông Juan Manuel Santos, tuyên bố một kế hoạch Phát tiển quốc gia mà trọng tâm là giảm nghèo Chính phủ dự định giảm 13% nghèo đa chiều vào cuối năm 2014 từ

Trang 34

35% trong toàn dân số vào năm 2018 xuống còn 22% năm 2014 Đây là kế hoạch Phát triển Quốc gia đầu tiên, đưa ra bởi Bộ Kế hoạch Colombia, có sử dụng phương pháp Alkire-Foster (AF) để đo nghèo đa chiều thông qua Chỉ số nghèo đa chiều Colombia (MPI-Comlombia)

Dựa trên tính linh hoạt vốn của phương pháp AF, MPI- Comlombia hỗ trợ các khía cạnh rộng hơn về nghèo và đã xác định 05 chiều với 15 tiêu chí:

Theo phương pháp này, một người được cho là nghèo đa chiều nếu anh

ta thiếu hụt ít nhất 33% các tiêu chí nêu trên, và được cho là nghèo cùng cực nếu thiếu hụt ít nhất 47% Cả chiều và tiêu chí đều được định nghĩa theo chính sách xã hội của Chính phủ Colombia Nghèo đa chiều ở Colombia đi cùng với phương pháp đo lường nghèo thu nhập ở nước này [2]

1.2.1.3 Kinh nghiệm của Brazil

Brazil cũng là nước tiên phong áp dụng MPI để xác định đối tượng trong chương trình Travessia – một chương trình giảm nghèo của bang Minas Gerais Chương trình này tập trung vào nghèo đa chiều sử dụng phương pháp Alkire-Foster Tới nay Travessia đã được áp dụng MPI ở 132 thành phố của Brazil Mục tiêu của chương trình là “ Thúc đẩy hòa nhập kinh tế xã hội của người dân nghèo nhất và dễ bị tỗn thương nhất thông qua vận dụng chính sách công trong vùng lãnh thổ” Chương trình Travessia sử dụng quy trình 02 bước khi lựa chọn người tham gia vào chương trình giảm nghèo Trước tiên, các thành phố dược lựa chọn dựa trên điểm số theo Chỉ số Phát triền con người Sau đó, các bảng câu hỏi được sử dụng để thu thập thông tin và phân tích để xác định ai nghèo theo MPI và để điều phối các dịch vụ xã hội có mục tiêu [2]

1.2.1.4 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Đề cương giảm nghèo và phát triển ở nông thôn trung Quốc 2020) do Ủy ban Trung ương đảng cộng sản Trung Quốc công bố tại cuộc

Trang 35

(2011-họp tối cao làm việc về giảm nghèo và phát triển năm 2011 Đề cương nhấn mạnh nhiệm vụ chính giữa 2011 và 2020: giúp người dân thoát nghèo và nâng cao mức sống nhanh hơn Đề cương yêu cầu sử dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều để nhận diện các đặc điểm của nghèo tại Trung Quốc Dựa trên mục đích này, Trung tâm giảm nghèo Quốc tế ở Trung Quốc (IPRCC) đang xây dựng một hệ thống thông tin địa lý (GIS) cho công tác giảm nghèo quốc gia (hệ thống sẽ xác định và giám sát nghèo đa chiều) cùng với các kế hoạch thử nghiệm hệ thống này ở vùng núi Ngũ Lĩnh GIS được kỳ vọng sẽ được hoàn thiện và đưa vào sử dụng từ năm 2014

Phương pháp đo này bao gồm các chiều và nhân khẩu học, kinh tế, xã hội, sinh thái học và môi trường, cả các chỉ số nghèo tiêu chuẩn (ví dụ như loại nhà ở, nước sinh hoạt, vệ sinh, điện sinh hoạt, tài sản, tiếp cận thị trường, đất sản xuất và bảo hiểm y tế) và các chỉ số về nguồn lực (như là chất lượng đất, an toàn môi trường và sinh thái) [2]

1.2.2 Kinh nghiệm thực tiễn về giảm nghèo đa chiều ở nước ta

Quận Ô Môn là quận nội ô trực thuộc thành phố Cần Thơ (được thành lập trên cơ sở tách ra từ huyện Ô Môn thành quận Ô Môn và huyện Cờ Đỏ theo Nghị định 05/2004/NĐ-CP của Chính phủ), đời sống về vật chất và tinh thần của người dân còn nhiều khó khăn thiếu thốn Trình độ dân trí, cán bộ quản lý ở cơ sở còn nhiều hạn chế Đặc biệt tỷ lệ hộ nghèo còn rất cao, tính đến tháng 8 năm 2016, toàn quận có 2.442 hộ nghèo (chiếm 7,31%), hộ cận nghèo là 1.177 hộ (chiếm 3,52%)

1.2.2.1 Kinh nghiệm của Đà Nẵng

Thành phố Đà Nẵng được biết đến như một điểm sáng trong công tác giảm nghèo với nhiều chính sách, chương trình hỗ trợ vượt trội Tỷ lệ nghèo chung của thành phố ở mức thấp (theo chuẩn nghèo thu nhập) Cuộc sống của

đa số người nghèo đã được cải thiện một cách đáng kể Trong đó phải kể đến,

Trang 36

qua 2 năm thực hiện Đề án giảm nghèo, thành phố Đà Nẵng đã vận động được hơn 1.400 tỷ đồng, giúp đỡ hơn 23.000 hộ thoát nghèo, về đích trước 2 năm so với mục tiêu đặt ra Thành công của Đà Nẵng trong công tác giảm nghèo là luôn bám sát tình hình, hoàn cảnh cụ thể của từng hộ nghèo, xác định đúng đối tượng cần hỗ trợ để tập trung giúp họ nhanh chóng thoát nghèo, vươn lên trong cuộc sống Với mức chuẩn hộ nghèo mới được áp dụng trong giai đoạn 2016-2020, Đà Nẵng hiện có 23.354 hộ nghèo, chiếm 9,18% tổng

số hộ dân toàn thành phố

Tăng trưởng kinh tế kèm theo đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh chóng

ở địa phương cũng đang đặt ra những vấn đề về nhu cầu giải quyết những khía cạnh nghèo đặc thù và những nhóm nghèo mới tại khu vực đô thị Bên cạnh đó, những thách thức giảm nghèo thường gắn liền với những bất lợi, yếu thế của người nghèo và các nhóm dễ bị tổn thương so với các nhóm dân cư khác về hòa nhập xã hội và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Chính vì vậy, với những kinh nghiệm, phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều được chia sẻ, đòi hỏi công tác giảm nghèo ở Đà Nẵng phải có sự đồng bộ, thống nhất giữa nhận diện nghèo và các biện pháp can thiệp

Được biết, theo mức chuẩn nghèo mới, mỗi năm Đà Nẵng phấn đấu sẽ

hỗ trợ từ 400 đến 600 hộ thoát nghèo, đến năm 2020 hoàn thành mục tiêu không còn hộ nghèo theo chuẩn mới Để đạt mục tiêu này, thành phố Đà Nẵng tiếp tục áp dụng nhiều chính sách đột phá như: Nâng mức hỗ trợ xây dựng nhà ở cho hộ nghèo, 100% hộ nghèo đang ở nhà tạm, nhà hư hỏng nặng

có đất ở ổn định được xây mới nhà ở, giảm 60% tiền thuê nhà khi thuê nhà thuộc sở hữu nhà nước, vận động các tổ chức, đoàn thể đẩy mạnh phong trào giúp đỡ nhau nguồn vốn phát triển kinh tế để thoát nghèo [2]

1.2.2.2 Kinh nghiệm của Hà Nội

Trang 37

Tuy không có số liệu trong quá khứ về tỷ lệ nghèo thành Phố Hà Nội, nhưng qua phân tích tình hình nghèo trong từng lĩnh vực của người dân, có thể thấy, giai đoạn 2010 – 2014 trong từng lĩnh vực của nghèo đa chiều đều

có xu hướng giảm tỷ lệ nghèo đa chiều nên có thể kết luận Hà Nội có xu thế giảm nghèo đa chiều phù hợp với xu hướng chung của cả nước

- Trong lĩnh vực chất lượng cuộc sống: Do nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng khá phát triển, là thủ đô của cả nước nên Hà Nội có được trang bị mạng lưới điện rộng khắp và an toàn, có chương trình chính sách hỗ trợ giá điện cho người nghèo nên không có tình trạng hộ gia đình không được sử dụng điện Với sự đầu tư xây dựng nhà ở cho người nghèo từ ngân sách nhà nước, tình trạng hộ gia đình sống trong ngôi nhà tồi tàn không còn tăng khả năng chống đỡ trước thiên tai bất ngờ của người nghèo

- Trong lĩnh vực giáo dục, số trường lớp tăng, đầu tư cho giáo dục luôn

là mối quan tâm hàng đầu của nhà nước và địa phương, giáo dục được ưu tiên đầu tư với mức bố trí ngân sách hàng năm đáng kể cùng sự quan tâm từ phía

hộ gia đình đầu tư điều kiện học hành cho con em Kết quả khả quan là tỷ lệ trẻ em nhập học tăng, tỷ lệ tốt nghiệp tăng, hầu hết trẻ đi học đúng độ tuổi trừ những trường hợp do điều kiện sức khỏe không đảm bảo Không có tình trạng trẻ không học hết 5 năm và thực tế tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông của huyện hàng năm rất cao

- Trong lĩnh vực y tế, tỷ lệ tử vong trẻ em giảm, số lượng trẻ em được tiêm chủng ngày càng được mở rộng Lĩnh vực dinh dưỡng cũng chứng kiến một sự giảm đáng kể trong tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng bao gồm giảm suy dinh dưỡng thể thấp còi, thể nhẹ cân, và không có tình trạng suy dinh dưỡng thể gầy mòn

Bên cạnh đó, kết cấu hạ tầng nông thôn cũng được chú trọng phát triển nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, tăng phúc lợi xã hội cho

Trang 38

cộng đồng dân cư Các cấp chính quyền rất quan tâm, chăm lo đời sống người dân Các dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục được đặt làm trọng tâm, qua đó góp phần nâng cao tuổi thọ và chất lượng dịch vụ y tế Đặc biệt là đối với các

hộ gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, hộ nghèo nhờ có các chính sách

hỗ trợ giảm nghèo của Nhà nước và địa phương đã từng bước tháo gỡ được khó khăn, thoát nghèo Những thành quả mà Hà Nội đạt được trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo là đáng được ghi nhận, các chính sách xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ hộ nghèo đang thực hiện là phù hợp và hiệu quả

Các cấp Hội nông dân (HND) đã tích cực xây dựng, củng cố tổ chức hội, đoàn kết, giúp nhau phát triển kinh tế Thông qua phong trào nông dân thi đua sản xuất – kinh doanh giỏi và tích cực tham gia, xây dựng nông thôn mới, nông dân đã ứng dụng tốt tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất, hình thành nhiều mô hình sản xuất tiên tiến, hướng tới “chất lượng và hiệu quả”, góp phần nâng cao cuộc sống kinh tế gia đình và tạo việc làm cho người lao động nông thôn Hàng năm nhờ vốn của Ngân hàng chính sách xã hội ủy thác qua HND xã và vốn từ Quỹ hỗ trợ nông dân giúp các hộ một phần vốn để tái đầu tư, mở rộng sản xuất Ngoài hỗ trợ nông dân phát triển kinh tế, các cấp HND trong huyện còn vận động hội viên nông dân đóng góp tiền, ngày công lao động để xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, cơ sở vất chất y tế, văn hóa… qua

đó đã góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt

và nâng cao đời sống của nhân dân trong Thành phố [2]

1.2.3 Bài học kinh nghiệm cho huyện Thống Nhất

Từ kinh nghiệm thực tế của các quốc gia trên thế giới và tình hình thực

tế về giảm nghèo đa chiều ở một số địa phương trên cả nước, các huyện, thị

xã thuộc tỉnh Đồng Nai, bài học rút ra cho huyện Thống Nhất về giảm nghèo

đa chiều như sau:

Trang 39

Thứ nhất, nâng cao vai trò lãnh đạo của cấp ủy chính quyền địa

phương, kiểm tra thường xuyên, động viên lực lượng nòng cốt của cả hệ thống chính trị tham gia thì chương trình giảm nghèo đạt kết quả cao

Thứ hai: Thực hiện tốt việc lồng ghép đồng thời cả 3 mặt: Kế hoạch

phát triển kinh tế - xã hội với kế hoạch thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững và cuộc vận động” ngày vì người nghèo” cũng như các hoạt động dân tự giúp dân phát triển sản xuất xây dựng đời sống văn hóa tại khu dân cư Trong chỉ đạo điều hành phối hợp, lồng ghép giữa các cấp, các ngành phải chặt chẽ, có cơ chế ràng buộc trách nhiệm do UBND quy định và chỉ đạo quyết liệt thì việc lồng ghép phối hợp tổ chức thực hiện mới mang lại hiệu quả Cụ thể hóa mục tiêu giảm nghèo vào các chỉ tiêu và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm nhằm phù hợp với thực tế ở địa phương Đẩy mạnh

sự phân cấp, trao quyền cho lãnh đạo xã, giao kế hoạch vốn trung hạn của chương trình để địa phương chủ động bố trí kế hoạch theo thứ tự ưu tiên phù hợp Tập trung ưu tiên nguồn lực cho các xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn, nhằm tạo điều kiện tốt nhất để người nghèo tiếp cận các chính sách, dịch vụ xã hội cơ bản

Thứ ba là cần có các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hỗ trợ

thị trường, phù hợp đặc điểm vùng, nhằm thu hút doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh và cơ

sở hạ tầng, đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ, nâng cao khả năng sản xuất hàng hóa gắn vào thị trường tại các địa bàn nghèo, khó khăn, có đông đồng bào dân tộc thiểu số Thúc đẩy việc kết nối phát triển kinh

tế - xã hội giữa vùng khó khăn với vùng phát triển

Thứ tư, phải xác định đúng đối tượng thụ hưởng từng chính sách, Đặc

biệt, cần chuyển đổi dần các chính sách hỗ trợ trực tiếp sang thực hiện các chính sách hỗ trợ có điều kiện gắn với đối tượng, địa bàn và thời hạn thụ

Trang 40

hưởng, để khuyến khích sự tích cực, chủ động tham gia của người nghèo Hỗ trợ tạo sinh kế mới cho hộ nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo bằng cách tăng nguồn vốn tín dụng ưu đãi cho họ; điều chỉnh đối tượng, mức vay, lãi suất, thời hạn cho vay phù hợp gắn với chính sách khuyến nông, công, lâm, ngư nghiệp, chuyển giao công nghệ… chú trọng việc xây dựng các mô hình giảm nghèo tiêu biểu để nhân rộng Cùng với đó thực hiện tốt giải pháp truyền thông, tuyên truyền, làm chuyển biến nhận thức trong cộng đồng, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành trong thực hiện mục tiêu giảm nghèo, khơi dậy sự tham gia hưởng ứng của cộng đồng, đặc biệt khơi dậy ý thức tự lập, chí thú làm ăn của bản thân người nghèo, khuyến khích họ tự vươn lên thoát nghèo, tự chủ trong sản xuất, kinh doanh; hạn chế tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước

Thứ năm luôn quan tâm kiện toàn, củng cố Ban chỉ đạo giảm nghèo các

cấp nhằm bảo đảm hoạt động tốt, giúp cho việc điều hành thực hiện chương trình đạt mục tiêu đề ra Đặc biệt cần quan tâm đến đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo các cấp vì có vai trò quan trọng trong việc tham mưu giúp Ban chỉ đạo các cấp thực hiện tốt công tác chỉ đạo điều hành, đây là lực lượng nòng cốt đưa chủ trương chính sách đến với người nghèo, giúp Ban chỉ đạo các cấp tiếp cận thực tế, tính năng động trong quản lý điều hành Ngoài ra cần phát huy tốt vai trò của Mặt trận và các tổ chức đoàn thể trong việc tham gia thực hiện chương trình

Ngày đăng: 11/05/2021, 21:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w