1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự liên kết của nông dân vùng tây nam bộ trong các nhóm và tổ chức hợp tác để phát triển nông nghiệp hàng hóa

172 729 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự liên kết của nông dân vùng tây nam bộ trong các nhóm và tổ chức hợp tác để phát triển nông nghiệp hàng hóa
Tác giả Võ Thị Kim Sa
Người hướng dẫn PGS. TSKH. Bùi Quang Dũng, PGS. TS. Đặng Nguyên Anh, PGS. TS. Vũ Trọng Khải
Trường học Trường Cán bộ Quản lý Nông nghiệp và PTNT II
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 172
Dung lượng 2,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN VÀ TRI ÂN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Cácthông tin, số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực Những tài liệu thamkhảo được lựa chọn và nghiên cứu cẩn thận

Tôi chân thành cảm ơn PGS TSKH Bùi Quang Dũng và PGS TS ĐặngNguyên Anh đã tận tình hướng dẫn chuyên môn, gợi ý những tài liệu tham khảoquý báu, tạo điều kiện để tôi tham gia các buổi sinh hoạt khoa học, giúp tôi hoànthiện luận án

Lời tri ân tôi xin được gửi đến lãnh đạo Chi cục PTNT, Liên Minh HTXcác tỉnh An Giang, Sóc Trăng, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp.Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến lãnh đạo và nông dân tại các xãtrong mẫu nghiên cứu Luận án này sẽ trở nên vô nghĩa nếu không có những sốliệu quý giá từ thực tế

Lời cảm ơn chân thành tôi xin được trân trọng gửi đến PGS.TS Vũ TrọngKhải, người đã hỗ trợ chuyên môn và động viên tinh thần giúp tôi vượt qua đượcnhững khoảnh khắc khó khăn nhất Tôi trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu và đồngnghiệp Trường Cán bộ Quản lý Nông nghiệp và PTNT II đồng nghiệp đã tạo điềukiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận án

Tôi xin chân thành cám ơn lãnh đạo Liên Minh HTX Việt Nam Bộ Kếhoạch – Đầu tư, đặc biệt TS Nguyễn Minh Tú đã tạo cơ hội cho tôi tham luậntrong nhiều cuộc hội thảo góp ý hoàn thiện Luật Hợp tác xã sửa đổi Qua đó, tôiđược lắng nghe nhiều ý kiến khác nhau, được nhìn thực tế qua nhiều lăng kínhkhác nhau Tất cả góp phần bổ sung cho phần phân tích thực tiễn trong luận án

Đặc biệt quan trọng, tôi cảm ơn đại gia đình tôi, những người luôn nângbước tôi trên con đường sự nghiệp

Võ Thị Kim Sa

Trang 2

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN VÀ TRI ÂN I

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ ix

PHẦN MỞ ĐẦU 1

(1) Sự cần thiết nghiên cứu 1

(2) Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

(3) Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

(4) Câu hỏi nghiên cứu 4

(5) Các giả thuyết nghiên cứu 5

(6) Đóng góp của luận án 5

(7) Cấu trúc của luận án 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 7

1.1 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan 7

1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài 7

1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước 12

1.2 Các lý thuyết sử dụng trong luận án 17

1.2.1 Thuyết hành động xã hội 18

1.2.2 Thuyết lựa chọn hợp lý 20

1.2.3 Thuyết lựa chọn hợp lý có giới hạn 22

1.3 Xây dựng khung phân tích 23

1.4 Các khái niệm cơ bản sử dụng trong luận án 25

1.4.1 Nông dân và đặc điểm kinh tế nông hộ 25

Trang 3

1.4.2 Sự liên kết của nông dân 28

1.4.3 Nhóm và tổ chức hợp tác 34

1.5 Thiết kế nghiên cứu 40

1.5.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu 40

1.5.2 Thiết kế thang đo 41

1.5.3 Phương pháp thống kê kiểm định giả thuyết 44

1.5.4 Đơn vị khảo sát và thiết kế mẫu nghiên cứu 45

Tiểu kết chương 1 48

CHƯƠNG 2 TÍNH ĐA DẠNG CỦA MÔ HÌNH LIÊN KẾT THẾ GIỚI VÀ SỰ CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH HỢP TÁC TẠI VIỆT NAM 49

2.1 Quá trình hình thành và phát triển các mô hình liên kết trên thế giới 49

2.1.1 Sự hình thành phong trào hợp tác xã thế giới và các mô hình liên kết 49

2.1.2 Sự lan tỏa của phong trào hợp tác xã và những thay đổi khái niệm 56

2.2 Quá trình hình thành và phát triển phong trào hợp tác xã tại Việt Nam 59

2.2.1 Giai đoạn trước “Đổi mới” (1986) 60

2.2.2 Giai đoạn từ “Đổi mới” (1986) đến khi có Luật hợp tác xã (1996) 61

2.2.3 Giai đoạn từ khi có Luật hợp tác xã (1996) đến nay 62

2.3 Quá trình phát triển các hình thức liên kết trong sản xuất nông nghiệp tại vùng Tây - Nam bộ 63

Tiểu kết chương 2 64

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG LIÊN KẾT CỦA NÔNG DÂN TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI VÙNG TÂY – NAM BỘ 65

3.1 Lý do, cấp độ, nội dung và mức độ liên kết 65

3.1.1 Lý do tham gia hoặc không tham gia liên kết của nông dân 65

3.1.2 Các cấp độ liên kết của nông dân 73

3.1.3 Nội dung liên kết của nông dân trong sản xuất nông nghiệp 79

3.1.4 Mức độ tham gia liên kết của nông dân trong sản xuất nông nghiệp 83

Trang 4

3.2 Lợi ích của liên kết và các yếu tố ảnh hưởng 89

3.2.1 Lợi ích phi kinh tế từ liên kết 89 3.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của liên kết 92

3.3 Nhận thức của nông dân về tính đặc thù của các tổ chức hợp tác và vai trò,

nghĩa vụ, quyền lợi của thành viên 102

3.3.1 Nhận thức của nông dân về tính đặc thù của tổ chức hợp tác, vai trò,

nghĩa vụ và quyền lợi của thành viên 103

khẩu học, đặc điểm kinh tế hộ và yếu tố vùng 108 3.3.3 Những vấn đề nảy sinh từ nhận thức sai lệch của nông dân về tính đặc

thù của tổ chức hợp tác, vai trò, nghĩa vụ và quyền lợi của thành viên

112 3.4 Một số yếu tố thúc đẩy sự liên kết của nông dân trong sản xuất hàng hóa

115

3.4.1 Các yếu tố ảnh hưởng 115 3.4.2 Sự tác động của diện tích đất canh tác và số người lao động chính trong

nông hộ đối với sự liên kết của nông dân 117

Tiểu kết chương 3 118

CHƯƠNG 4 DỰ BÁO XU HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT

TRIỂN LIÊN KẾT TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA 119

4.1 Bối cảnh sản xuất nông nghiệp hàng hóa tại vùng Tây - Nam bộ 119 4.2 Dự báo xu hướng tất yếu của sự liên kết của nông dân dưới hình thức các

tổ chức hợp tác trong bối cảnh toàn cầu hóa 120 4.3 Định hướng một số giải pháp thúc đẩy sự liên kết của nông dân trong sản

xuất nông nghiệp hàng hóa 127

4.3.1 Hướng đến phát triển cấp độ liên kết cao nhất 127 4.3.2 Nâng cao nhận thức và thực hành của nông dân về giá trị hợp tác và

nguyên tắc của các tổ chức hợp tác 128 4.3.3 Hỗ trợ phát triển nông nghiệp hàng hóa 135

Trang 5

KẾT LUẬN 138

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN CỦA TÁC GIẢ 142

TÀI LIỆU THAM KHẢO 144

PHỤ LỤC 157

1 Phụ lục 1: Một số kết quả nghiên cứu 157

2 Phụ lục 2: Phương án đúng trong phần câu hỏi trắc nghiệm đo lường nhận thức 161

3 Phụ lục 3: Hộ nông dân sản xuất với quy mô lớn 162

4 Phụ lục 4: Bản khảo sát nhu cầu liên kết 164

Trang 6

DANH M C CÁC KÝ HI U VÀ CH VI T T T ỤC LỤC ỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT Ữ VIẾT TẮT ẾT TẮT ẮT

GDP Tổng sản phẩm nội địa

ILO Tổ chức Lao động Quốc tế

PTNT Phát triển nông thôn

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

BẢNG 1-1: CÁC KHÁI NIỆM ĐƯỢC THAO TÁC HÓA

43

Bảng 1-2: Mô hình phân tích thống kê 44

Bảng 1-3: Tỷ lệ chọn mẫu nghiên cứu trong các tổ chức hợp tác 47

Bảng 1-4: Sự phân bố mẫu nghiên cứu theo tỉnh 47

Bảng 2-1: Bảng so sánh ba mô hình liên kết tương ứng với ba dòng tư tưởng 50

Bảng 2-2: Ba quan điểm khác nhau về tính chất của kinh tế tập thể 57

Bảng 2-3: Sự chênh lệch trong mức độ hợp tác hóa giữa các vùng, 1987 63

Bảng 3-1: Lý do chính quyết định tham gia liên kết 66

Bảng 3-2: Lý do không tham gia liên kết 71

Bảng 3-3: Đặc điểm của nông hộ phân bố theo cấp độ liên kết 78

Bảng 3-4: Kiểm định về sự khác biệt trong diện tích đất canh tác trung bình giữa các cấp độ liên kết 78

Bảng 3-5: Phân bố mẫu nghiên cứu theo cấp độ liên kết và loại hình cây trồng 79

Bảng 3-6: Nội dung liên kết và mức độ tham gia liên kết của nông dân 80

Bảng 3-7: Mức độ gắn kết về mặt xã hội trong nhóm tương trợ và tổ chức hợp tác 84

Bảng 3-8: Số dịch vụ do các tổ chức hợp tác cung cấp mà nông dân sử dụng phân bố theo cấp độ liên kết 87

Bảng 3-9: Thu nhập trên công đất (1.000m2) phân bố theo cấp độ liên kết 93

Bảng 3-10: Sự tăng trưởng của kinh tế tập thể với tư cách là tổ chức 94

Trang 8

Bảng 3-11: Kiểm định sự khác biệt trong thu nhập trung bình giữa các cấp độ liên

kết 96 Bảng 3-12: Mức độ nhận thức của nông dân về liên kết 104 Bảng 3-13: Mức độ nhận thức của nông dân về tính đặc thù của tổ chức hợp tác, vai

trò, quyền lợi và trách nhiệm của thành viên 110 Bảng 3-14: Kiểm định về sự khác biệt trong mức độ nhận thức của nông dân về bản

chất các tổ chức hợp tác giữa các tỉnh nghiên cứu 112 Bảng 0-1: Đặc điểm của những người cung cấp thông tin 157 Bảng 0-2: Ba lý do phụ để nông dân lựa chọn tham gia liên kết phân bố theo cách

phân loại hành động xã hội của Weber 158 Bảng 0-3: Lý giải vì sao Nhà nước khuyến khích xây dựng tổ hợp tác và HTX 158 Bảng 0-4: Mức độ nhận thức của nông dân về các hình thức tổ chức hợp tác 159

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

HÌNH 1-1: CƠ CHẾ HÌNH THÀNH HÀNH ĐỘNG LỰA CHỌN CẤP ĐỘ LIÊN

KẾT 24

Hình 1-2: Sự tiến hóa của các cấp độ liên kết 35

Hình 1-3: Vị trí của hợp tác xã trong không gian xã hội [51] 37

Hình 1-4: Quy trình triển khai nghiên cứu 41

Hình 1-5: Các cấp độ liên kết của nông dân trong sản xuất nông nghiệp 42

Hình 2-1: Số lượng hợp tác xã theo thời gian 60

Hình 3-1: Lý do chính mà nông dân liên kết vào các tổ chức hợp tác phân theo loại hành động xã hội của Weber 70

Hình 3-2: Sự phân bố tỷ lệ dịch vụ sử dụng theo cấp độ liên kết 88

Hình 3-3: Sự tương quan giữa một vài nhân tố với mức độ liên kết của nông dân 115

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

Sự cần thiết nghiên cứu

Triết lý về sức mạnh liên kết ẩn chứa trong câu chuyện “bó đũa” vànhiều câu ca dao, tục ngữ Người ta có thể dễ dàng bẻ gãy từng chiếc đũa,nhưng khó có thể bẻ gãy cả bó đũa Tính ưu việt của sự liên kết thể hiện theophương thức cộng sinh Từ thuở xa xưa, tổ tiên của loài người đã biết hợpsức, hợp trí để vây bắt thú rừng làm thức ăn, để tránh thú dữ, để bảo vệ lãnhđịa, để khắc phục hậu quả của thiên tai … Xã hội càng phát triển thì nhu cầuliên kết càng cấp thiết hơn, hình thức liên kết càng đa dạng hơn, nội dung liênkết càng phong phú hơn

Phong trào hợp tác trên thế giới góp phần cải thiện đời sống của gần

một nửa dân số thế giới [138] Ông Kofi Annan, cựu Tổng thư ký Liên hiệp

quốc (LHQ), khẳng định: “Phong trào hợp tác xã là một trào lưu có tính tổ

chức lớn nhất trong xã hội dân sự, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đáp ứng toàn diện nhu cầu, nguyện vọng của con người Các giá trị của hợp tác xã như tinh thần tự lực, tương trợ, bình đẳng và đoàn kết chính là cội nguồn của phát triển bền vững” [140] Nghị quyết kỳ họp 64 của Đại hội

đồng LHQ lần thứ 64 ngày 11/02/2010 khẳng định “Công nhận rằng các hợp

tác xã, bằng nhiều hình thức khác nhau, thúc đẩy sự tham gia toàn diện vào việc cải thiện điều kiện vật chất và đời sống tinh thần của tất cả người dân, là nhân tố chính của phát triển kinh tế xã hội và góp phần giảm thiểu đói nghèo” [142] Để tôn vinh thành tựu của tổ chức hợp tác, nhất là hợp tác xã,

đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, LHQ chọn năm 2012 là năm Hợp tác xã

Quốc tế với thông điệp: “Hợp tác xã xây dựng thế giới thịnh vượng hơn”.

Nhận thấy tầm quan trọng của các tổ chức hợp tác, Nghị quyết số

13-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá IX (năm 2002) xác định “Kinh

tế tập thể phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng (…) ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân” [3] Nghị quyết số

Trang 11

26/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá X (năm 2008), một lần nữa

khẳng định “Tiếp tục đổi mới, phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác phù hợp với

nguyên tắc tổ chức của hợp tác xã và cơ chế thị trường nhằm hỗ trợ kinh tế hộ phát triển theo hướng gia trại, trang trại có quy mô phù hợp, sản xuất hàng hoá lớn” [4] Đặc biệt “giá trị” này càng trở nên vững chắc hơn khi Bộ

tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới quy định “ có tổ hợp tác hoặc

hợp tác xã hoạt động có hiệu quả” (tiêu chí số 13) như là một tiêu chuẩn để

xét đạt “danh hiệu” nông thôn mới [62] Nhiều địa phương khuyến khíchnông dân liên kết thành tổ hợp tác, hợp tác xã như là một trong những nhiệm

vụ chính trị quan trọng

Trong thực tế, các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất nôngnghiệp đã và đang được hình thành với nhiều tên gọi khác nhau Tại một sốnơi, mối liên kết này mang lại hiệu quả thiết thực cho những chủ thể tham gialiên kết Nhưng nhìn chung các tổ chức hợp tác của nông dân chưa đáp ứngyêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá Nếu xét về kết quả liên kết, tỷ lệ nôngsản tiêu thụ qua liên kết quá thấp, cụ thể như lúa hàng hóa 2,1%, chè 9%, rauquả 0,9% [6] Nếu xét về số lượng tổ chức hợp tác, đến ngày 30/06/2010 tạiViệt Nam có 18.244 hợp tác xã, với khoảng 7,8 triệu xã viên (chiếm khoảng9% tổng dân số) Có 3.744 hợp tác xã (chiếm 21%) đăng ký thành lập, nhưngkhông hoạt động, “hữu danh, nhưng vô thực” và hẳn nhiên không phát huyđược sức mạnh liên kết [31] Tỷ trọng đóng góp vào GDP của kinh tế tập thểvới nòng cốt là hợp tác xã giảm sút liên tục trong 15 năm qua từ 11% năm

1995 xuống còn 5,45% (năm 2009) [5]

Sự không tương xứng giữa một bên là yêu cầu và kỳ vọng của chủtrương, sự đầu tư của Nhà nước qua các chính sách hỗ trợ phát triển các tổchức hợp tác, với một bên là vai trò hạn chế của mối liên kết trong sản xuấtnông nghiệp hàng hóa trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đã đặt ra nhiều vấn đềcần được quan tâm nghiên cứu Đây là lý do chính khiến tôi đã đăng ký

nghiên cứu đề tài luận án với tên gọi “Sự liên kết của nông dân vùng Tây

Trang 12

-Nam bộ trong các nhóm và tổ chức hợp tác để phát triển nông nghiệp hàng hóa”.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu là mô tả thực trạng mối liên kết của nông dânvùng Tây Nam bộ trong các tổ chức hợp tác, phân tích một vài yếu tố thúcđẩy và làm hạn chế mối quan hệ liên kết trong sản xuất nông nghiệp, trên cơ

sở đó đề xuất một số giải pháp phát triển mối liên kết của nông dân trong các

tổ chức hợp tác nhằm nâng cao hiệu quả của sản xuất nông nghiệp hàng hóatrong bối cảnh toàn cầu hóa

- Nhận dạng các cấp độ liên kết (tương ứng với các hình thức nhóm và tổ chứchợp tác khác nhau) và phân tích sự tương quan giữa cấp độ liên kết, mức độliên kết với lợi ích của liên kết trong sản xuất nông nghiệp tại vùng Tây -Nam bộ;

- Phân tích các yếu tố làm hạn chế quá trình liên kết của nông dân trong sảnxuất nông nghiệp hàng hóa

- Phân tích các yếu tố thúc đẩy quá trình liên kết của nông dân trong sản xuấtnông nghiệp hàng hóa

- Đề xuất một số giải pháp phát triển các mối liên kết của nông dân trong sảnxuất nông nghiệp hàng hóa tại các tỉnh Tây - Nam bộ

Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu trong luận án là người nông dân với tư cách là

chủ nông trại gia đình trong sản xuất nông nghiệp Đối tượng nghiên cứu là

sự liên kết của nông dân trong các nhóm và tổ chức hợp tác nhằm thúc đẩy

Trang 13

sự phát triển nông nghiệp hàng hóa Sự liên kết của nông dân được nghiêncứu trên các khía cạnh: hình thức liên kết (cấp độ liên kết), mức độ liên kết,nội dung liên kết, lợi ích của liên kết và nhận thức của nông dân về vai trò,quyền và trách nhiệm của thành viên tham gia liên kết

Về không gian: Địa bàn nghiên cứu chính của luận án là vùng Tây

-Nam bộ, bao gồm 13 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, VĩnhLong, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Cà Mau,Bạc Liêu và thành phố Cần Thơ Các tỉnh này được đánh giá là tiến khánhanh từ nền sản xuất nông nghiệp tự cung, tự cấp sang nền sản xuất nôngnghiệp hàng hóa so với các vùng, miền khác trong cả nước

Về nội dung: Các mối quan hệ liên kết của nông dân vùng Tây - Nam

bộ chủ yếu tập trung ở ngành hàng lúa gạo và trái cây Trong nuôi trồng thủysản, sự liên kết của nông dân rất ít (3,4% có tham gia liên kết ngang) và thiếubền vững [37] Các số liệu thứ cấp từ báo cáo của các tỉnh trong phạm vi mẫunghiên cứu cũng cho kết quả tương tự Chính vì vậy, trong phạm vi hạn hẹpvề thời gian và kinh phí thực hiện luận án, tác giả đã xin được giới hạn phạm

vi nghiên cứu sự liên kết của nông dân trong việc sản xuất và tiêu thụ lúa vàtrái cây ở vùng Tây - Nam bộ

Câu hỏi nghiên cứu

a Lợi ích của liên kết có quan hệ ra sao với cấp độ liên kết và mức độ liên kết?

b Vì sao, mặc dù Đảng và Nhà nước khuyến khích phát triển các tổ chức hợptác của nông dân và đi kèm theo đó là nhiều chính sách, kinh phí đầu tư đểthúc đẩy mối quan hệ liên kết, nhưng dường như các mối liên kết của nôngdân thiếu hấp dẫn và không phát huy được sức mạnh liên kết trên diện rộng?

c Những yếu tố nào thúc đẩy sự liên kết của nông dân trong sản xuất nôngnghiệp hàng hóa, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa?

Trang 14

Các giả thuyết nghiên cứu

Ba giả thuyết của luận án:

a Lợi ích kinh tế mà nông dân nhận được trên một đơn vị canh tác có mối tươngquan thuận với cấp độ liên kết và mức độ liên kết mà nông dân tham gia trongsản xuất nông nghiệp

b Một trong những rào cản quá trình liên kết của nông dân trong sản xuất nôngnghiệp là mức độ nhận thức thấp của họ về bản chất tổ chức hợp tác, về vaitrò, quyền lợi và trách nhiệm của thành viên khi tham gia liên kết

c Tiềm năng phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa (quy mô đất canh tác)trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự chuyển đổi cơ cấu lao động từ lĩnh vựcnông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp trong quá trình hiện đại hóa, côngnghiệp hóa là những yếu tố thúc đẩy sự liên kết của nông dân trong sản xuấtnông nghiệp

Đóng góp của luận án

Luận án góp phần làm phong phú thêm sự vận dụng của thuyết lựachọn hợp lý có giới hạn vào thực tiễn Luận án minh chứng rằng sự lựa chọncác cấp độ liên kết khác nhau của nông dân không phụ thuộc vào mức độnhận thức của họ về các tính đặc thù của từng loại hình tổ chức hợp tác Sựlựa chọn này không phải là phi lý, theo cách nhìn nhận của người trong cuộc.Nhưng một khi họ đã trở thành thành viên của tổ chức hợp tác, thì chính sựnhận thức không đầy đủ (sai lệch) về vai trò, quyền và nghĩa vụ của thànhviên là một trong những lực cản lớn làm hạn chế tác dụng tích cực của liênkết

Tính mới, độc đáo là công trình nghiên cứu lần đầu tiên lượng hóa và

đo lường mức độ nhận thức của nông dân về đặc tính khác nhau của các hìnhthức tổ chức hợp tác diễn ra tại vùng Tây - Nam bộ nói riêng và Việt Nam nói

Trang 15

chung Luận án góp phần trang bị những kiến thức cần thiết cho các chủ thểliên kết để họ có thêm thông tin cần thiết khi lựa chọn loại hình liên kết vàduy trì tính bền vững của chúng Kết quả của luận án sẽ góp phần bổ sung vàonguồn tài liệu về bản chất các tổ chức hợp tác và có ý nghĩa trong việc hoànthiện khuôn khổ pháp lý về các hình thức tổ chức hợp tác tại Việt Nam.

Cấu trúc của luận án

Phần mở đầu giới thiệu lý do lựa chọn chủ đề nghiên cứu, mục đích,

đối tượng, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Chương 1 điểm qua và phân tích một vài công trình nghiên cứu trong

và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án Tất cả tạo thành nền tảng để tác

giả xây dựng khung lý thuyết và thiết kế nghiên cứu Chương 2 trình bày tính

đa dạng của phong trào hợp tác xã trên thế giới và sự chuyển đổi mô hình hợptác tại Việt Nam Những yếu tố mang tính lịch sử ảnh hưởng đến nhận thứccủa nông dân và làm hạn chế quá trình liên kết của họ trong các tổ chức hợp

tác hiện nay Chương 3 thể hiện kết quả nghiên cứu, kiểm định ba giả thuyết nghiên cứu Chương 4 phân tích xu hướng của sự liên kết của nông dân trong

bối cảnh toàn cầu hóa và gợi mở một số giải pháp để thúc đẩy phát triển mốiquan hệ liên kết của nông dân trong các tổ chức hợp tác nhằm phát triển nôngnghiệp hàng hóa

Phần kết luận trình bày những thành công, hạn chế của luận án và gợi

mở những chủ đề cần được nghiên cứu tiếp theo

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

1 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan

Thuật ngữ “liên kết”, như là sự gắn kết giữa các cá nhân bằng một hay

nhiều mối quan hệ, từ đó hình thành nên một mạng lưới được Marshall bànluận từ năm 1919 [112] Ông phân biệt hai loại liên kết: liên kết theo chiềungang giữa những người cùng trong một khâu của chuỗi giá trị và liên kếttheo chiều dọc giữa những chủ thể trong các công đoạn khác nhau của chuỗigiá trị

Các đặc tính của tổ chức hợp tác thu hút sự quan tâm của nhiều nhà

nghiên cứu như Paul [121], Sapiro [127], Knapp [109] Điểm tương đồngtrong các công trình nghiên cứu này là khi có cùng nhu cầu, một số nông dânliên kết với nhau theo chiều ngang, tạo ra dịch vụ chung và chính họ đượchưởng lợi nhiều hơn khi sử dụng dịch vụ chung nhờ vào lợi thế kinh tế quy

mô Aaron Sapiro (1924) nghiên cứu sự liên kết ngang của những nông dântrồng bông vải, thuốc lá và khoai tây… để hình thành chuỗi giá trị “phân phối

theo đơn đặt hàng” [96], [127] Luận án tiến sĩ của Werner Zvi Hirsch “Kinh

tế học của sự liên kết trong tiêu thụ nông sản” được xem là công trình nghiên

cứu toàn diện về chủ đề liên kết ngang của nông dân Sau đó, Hirsch minh

chứng lợi ích của liên kết ngang giữa nông dân trong 2 bài báo “Trong chừng

mực nào các hợp tác xã của nông dân có thể đi ngược lại chuỗi cung ứng vật

tư nông nghiệp?” và “Trong chừng mực nào các hợp tác xã của nông dân có thể tiến gần hơn đến thị trường tiêu thụ nông sản?” [111].

Về lợi ích kinh tế của liên kết, John D Black (1924) nghiên cứu mối

liên kết ngang của những người trồng nho Sun Maid tại California (Hoa Kỳ)

và cho rằng liên kết ngang giúp nông dân gia tăng giá trị nông sản nhờ chế

Trang 17

biến nho khô và xây dựng thương hiệu Sun Maid [111] John D Black đã liệt

kê 16 điểm hạn chế mà kinh tế hộ không thể đạt được mức độ thỏa mãn caonhất, nếu như họ hành động đơn lẻ Đó cũng chính là 16 ưu thế1 để hình thành

và phát triển mối liên kết ngang giữa các hộ nông dân Ông khẳng định rằngnông dân càng liên kết sâu và rộng với nhau để hình thành hợp tác xã hay các

tổ chức phi hợp tác xã tổ chức hợp tác không có tư cách pháp nhân - tươngứng với nhóm tương trợ và tổ hợp tác được đề cập trong luận án này thì họcàng có nhiều cơ hội tham gia thành công vào thị trường [111]

Ferto và Szabo [93] [135] nghiên cứu mối liên kết của nông dân ởHungaria trong sản xuất nông nghiệp, ngành sản xuất gặp nhiều rủi ro nhất.Từng nông hộ cá thể gặp nhiều khó khăn, không đủ sức cạnh tranh để tồn tại

và phát triển trong cơ chế thị trường Dựa vào kết quả phân tích 2 tình huống:hợp tác xã Mórakert (trái cây và rau xanh) và hợp tác xã dịch vụ ngành sữa,Ferto và Szabo đưa ra kết luận rằng sự liên kết theo chiều ngang giữa cácnông dân mang lại nhiều lợi ích cho nông dân như giảm chi phí giao dịch,tăng sức mạnh thị trường Sự liên kết theo chiều ngang là điều kiện tiên quyếtđể nông dân tham gia vào chuỗi liên kết dọc Nghiên cứu sự liên kết của nôngdân Hungaria rất có giá trị tham khảo trong luận án, bởi vì bối cảnh nghiêncứu khá tương đồng với quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa, tậptrung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường của nước ta

Liên kết không chỉ mang lại lợi ích kinh tế, mà còn cả lợi ích xã hội

cho các chủ thể Các mối quan hệ liên kết cùng với các chuẩn mực xã hội, mànhờ đó các cá nhân phối hợp hành động để đạt được những mục đích chungtạo nên “chất keo gắn kết” các cá nhân lại với nhau Từ năm 1916, LydaJudson Hanifan cho rằng sự liên kết giữa các cá nhân trên cơ sở tình thân hữu

và sự thông cảm lẫn nhau hình thành nên vốn xã hội [18] Coleman khẳng

sản xuất theo nhu cầu thị trường, 4) quản lý chi phí mua vật tư và nông cụ, 5) ổn định sản xuất, 6) bảo quản, sơ chế và chế biến, 7) huy động vốn, 8) phân loại nông sản, 9) điều tiết tiêu thụ theo sản xuất, 10) quản lý dòng lưu thông nông sản trên thị trường, 11) giảm thiểu cạnh tranh, 12) bảo vệ môi trường, cải thiện quản lý kinh tế hộ, 13) tận dụng, khai thác phụ phẩm nông nghiệp, 14) nghiên cứu, 15) khuyến nông, 16) ứng dụng công nghệ mới.

Trang 18

định rằng trong xã hội có rất nhiều trường hợp các cá nhân liên kết với nhautrên cơ sở niềm tin, hình thành một mạng lưới xã hội với những chuẩn tắcriêng để hành động vì mục tiêu chung Họ thiết lập và duy trì những mối quan

hệ liên kết như thế để tìm kiếm lợi ích Trong trường hợp này vốn xã hộiđược hình thành như là một “sản phẩm phái sinh” từ quan hệ liên kết[Coleman, 104]

Theo Gwangseog Hong và Thomas Sporleder [101], so với những loại

hình tổ chức kinh tế khác, các tổ chức hợp tác của nông dân sản sinh lượng

vốn xã hội cao hơn vì nó gắn kết với cộng đồng dân cư bao gồm những chủ

thể có nhu cầu chung và động cơ thỏa mãn nhu cầu chung bằng những hànhđộng tập thể Bản thân tổ chức hợp tác của nông dân chứa đựng nguồn vốn xãhội dồi dào hơn và chính nguồn vốn xã hội phong phú này là nhiên liệu chủyếu cho các tổ chức hợp tác vận hành

Về tác dụng của vốn xã hội, Anderson và Jack [ 81] cho rằng mỗi tổchức đều sản sinh ra vốn xã hội và sử dụng nó một cách có ý thức hay vô thứctrong quá trình hoạt động của mình Nhiều tác giả như Bourdieu, Portes,Putnam dùng khái niệm nguồn lực để định nghĩa vốn xã hội nhằm khẳng địnhgiá trị của nguồn vốn xã hội [60] Vì là một loại nguồn lực nên vốn xã hội cóthể làm gia tăng hoặc làm suy giảm các loại vốn khác Onyx và Leonard minhhọa dòng chuyển hóa của vốn xã hội vào phát triển cộng đồng [119] Tương

tự, theo Putnam vốn xã hội có thể nâng cao tính hiệu suất của xã hội bằngcách cung cấp những hành động phối hợp giữa các chủ thể khác nhau

Vốn xã hội có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế [ 18] TheoGabre-Madhin [95], người Ethiopian rất khéo léo khai thác vốn xã hội trongcác giao dịch kinh tế Dyer [91] có cùng nhận định rằng vốn xã hội góp phầngiảm chi phí giao dịch trong sản xuất và đưa ra bằng chứng các công ty sảnxuất và hệ thống phân phối xe ô tô của Nhật Bản có giá thành thấp hơn cáccông ty của Mỹ, vì họ không chi trả quá nhiều cho việc bảo đảm tính pháp lý

Trang 19

của các hợp đồng, mà thay vào đó sử dụng các giao kèo trên quan hệ tintưởng và thân quen

Liên kết ngang giữa nông dân trong nhiều trường hợp có thể tạo ra lợi

ích âm Một vài công trình nghiên cứu [122], [101] cảnh báo về những giới

hạn nguy hiểm của liên kết ngang Knapp [110] cho rằng tinh thần liên kết

không có biên giới Tổ chức nào đóng cửa, không sớm thì muộn tổ chức ấy sẽ

xơ cứng trong ý tưởng và cạn kiệt thị trường (do thị trường chủ yếu của tổchức hợp tác là thị trường nội bộ) Các tổ chức hợp tác của nông dân có thể bịchi phối bởi quan hệ huyết thống, họ tộc, thân hữu…Nếu chúng không đượcvận hành minh bạch và khách quan thì dễ dẫn đến việc hình thành các nhómlợi ích trong lòng tổ chức hợp tác của nông dân

Liên quan đến nhận thức của nông dân đối với các hình thức tổ chức

hợp tác, Knaap [109] cho rằng các tổ chức hợp tác là một loại hình tổ chức

đặc thù, rất khác biệt so với những tổ chức kinh tế phổ biến trong xã hội Vìvậy, không có gì đáng ngạc nhiên nếu có sự hiểu biết không đúng, quan điểmsai lầm hay định kiến sai lệch về tính đặc thù của loại hình tổ chức đặc biệtnày Knaap liệt kê 15 điều dễ làm cho người ta nhầm tưởng về tổ chức hợp

tác Đây là điểm nhấn quan trọng để tác giả luận án này dùng Thuyết lựa

chọn hợp lý có giới hạn làm nền tảng phân tích nhận thức của nông dân,

nhất là nông dân Việt Nam chịu ảnh hưởng quá nặng nề từ mô hình hợp tác

xã “kiểu cũ” tồn tại trước khi Luật Hợp tác xã có hiệu lực vào năm 1997(trình bày tại 6.1.2) Hẳn nhiên, đây cũng là một gợi ý hết sức quý báu để tácgiả thiết kế thang đo mức độ nhận thức của nông dân về các loại hình tổ chứchợp tác trong sản xuất nông nghiệp

Về phương pháp nghiên cứu , Osterberg và Nilsson đã tiến hành

nghiên cứu nhận thức của nông dân trong việc tham gia vào quá trình quản trịhợp tác xã tại Thụy Điển bằng phương pháp định lượng Các tác giả sử dụngbảng câu hỏi để đo lường nhận thức của 2.250 người đối với các tính chất đặcthù của tổ chức hợp tác Kết quả nghiên cứu cho thấy những nông hộ nào tự

Trang 20

hoạt động có hiệu quả thường không gắn bó với hợp tác xã và ít hiểu đúng vềbản chất thực thụ của hợp tác xã Hay nói cách khác, những nông dân khôngthể quản lý kinh tế hộ hiệu quả thì rất cần và đặt niềm tin cao vào tổ chức hợptác [120]

Đánh giá lợi ích của nông dân tham gia liên kết, công trình nghiên cứuquan điểm và nhận thức của xã hội đối với sự liên kết trong các hợp tác xãcủa nông dân ở Kenya [116], các tác giả đã xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệmgồm 12 câu để đo lường mức độ nhận thức của xã hội về mối liên kết củanông dân Kết quả nghiên cứu như sau: có 37% những người được hỏi cómức độ nhận thức cao, 37% những người được hỏi có nhận thức trung bình

và 26% nông dân có nhận thức thấp Đặc biệt, mức độ nhận thức của nôngdân về sự liên kết trong hợp tác xã không có sự khác biệt giữa nhóm nông dân

là xã viên hợp tác xã và nhóm nông dân không là xã viên [116]

Nhận thức thấp và sai lệch là một trong những nguyên nhân làm hạnchế quan hệ liên kết giữa nông dân Công trình nghiên cứu nhận thức củanông dân về hợp tác xã tại bang Enugu, Nigeria [79] đã khảo sát thực nghiệm2.000 nông dân ngẫu nhiên, cho thấy rằng chỉ có 124 nông dân là xã viêntrong hợp tác xã (chiếm 6,2%), 500 nông dân khác có nghe về hợp tác xã,nhưng không tham gia (chiếm 25%) Phần lớn nông dân (68,8%) chưa từngnghe về hợp tác xã Trong nhóm xã viên hợp tác xã có đến 105/124 nông dân(chiếm 85%) tham gia hợp tác xã vì mục đích chính là để nhận được sự tài trợcủa nhà nước; 15% nông dân còn lại tham gia hợp tác xã để sử dụng dịch vụ

do hợp tác xã cung cấp Trong nhóm 500 nông dân đã nghe nói đến hợp tác

xã, nhưng họ không tham gia: (i) 75% không tin rằng hợp tác xã có thể giảiquyết các nhu cầu của nông hộ; và (ii) 25% không tin tưởng vào các chươngtrình của nhà nước Kết quả nghiên cứu khá tương đồng với các nhận định

trong báo cáo tổng kết thi hành luật HTX năm 2003 [5]: “nhận thức chưa đầy

đủ và chưa thống nhất về bản chất và tính ưu việt của tổ chức hợp tác xã kiểu mới, hạn chế của Luật Hợp tác xã, tổ chức thực hiện Luật và chính sách hỗ

Trang 21

trợ hợp tác xã, tâm lý xã hội vẫn còn bị ảnh hưởng của mô hình hợp tác xã kiểu cũ nên còn hoài nghi về hiệu quả và vai trò của tổ chức hợp tác xã”

Mỗi công trình nêu trên nhìn nhận vấn đề nghiên cứu từ một góc độkhác nhau và bằng những phương pháp khác nhau Các công trình củaOsterberg và Nilsson [120], Moland John, và Williams Thomas [116] vàAgbo [79] sử dụng phương pháp định lượng để đo lường mức độ nhận thứccủa nông dân về lợi ích và tính đặc thù của tổ chức hợp tác Phương phápnghiên cứu của các công trình nghiên cứu trên đã ảnh hưởng rất nhiều đếncách thức tác giả thiết kế nghiên cứu cho luận án này

Tại Việt Nam, phong trào hợp tác của nông dân hình thành muộn hơn

so với phong trào hợp tác thế giới khoảng trên 100 năm Một số công trìnhnghiên cứu của Đào Xuân Cần và đồng nghiệp [7], Nguyễn Tiến Quân [40],Nguyễn Minh Tú (1997) [68], Nguyễn Văn Ty [71] mang tính chất giới thiệu

mô hình hợp tác xã của nhiều nước khác nhau để nhấn mạnh vai trò của các

tổ chức tương trợ và hợp tác xã trong xã hội Một số công trình nghiên cứukhác như của Chữ Văn Lâm [29], Chu Tiến Quang [42], Nguyễn Minh Tú(2002) [69] nhấn mạnh tính đặc thù của tổ chức hợp tác tại Việt Nam

Liên quan đến nội dung liên kết giữa nông dân, Phạm Thị Kim Oanh

và Trương Hoàng Minh [37] đã có công trình nghiên cứu 3 nhóm nông dânnuôi cá tra: nhóm hộ nuôi cá tra riêng lẻ, nhóm hộ xã viên và hội viên chi hội(liên kết ngang) và nhóm hộ liên kết với doanh nghiệp thủy sản (liên kết dọc).Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 3,4% hộ nông dân tham gia liên kếtngang và 4,1% số hộ tham gia liên kết dọc Nghiên cứu đi đến kết luận rằngnuôi cá tra theo hình thức riêng lẻ là kém hiệu quả hơn so với cấp độ liên kếtngang và liên kết dọc Tỷ lệ số hộ nuôi cá bị thua lỗ cao nhất ở hình thứcriêng lẻ (30%), kế đến là liên kết ngang (21%) và thấp nhất ở cấp độ liên kếtdọc (16%) Mặc dù, nhóm tác giả này chưa phân tích thấu đáo nguyên nhân

Trang 22

nào cản trở quá trình liên kết của nông dân, nhưng kết quả nghiên cứu của đềtài nêu trên giúp giới hạn được nội dung nghiên cứu cho luận án này

Về vai trò kinh tế của quan hệ liên kết trong sản xuất nông nghiệp,

nhiều công trình nghiên cứu được triển khai với mục đích tìm kiếm các giảipháp giải quyết nghịch lý giữa sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ với nhu cầucủa công nghiệp chế biến nông sản và thị trường trong bối cảnh hội nhập kinh

tế thế giới Các công trình đều xuất phát từ hiện tượng nông dân Việt Namđang gặp nhiều khó khăn trong hội nhập thị trường do sản xuất quy mô nhỏ,trình độ thấp, không thể tự tiếp cận với các nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài(vốn, công nghệ, khuyến nông…), ứng dụng khoa học công nghệ, vay vốn từngân hàng, nhất là không đủ số lượng hàng hóa để đàm phán với các doanhnghiệp Trong đề tài nghiên cứu Vai trò của hợp tác xã đối với kinh tế hộ xãviên trong nông thôn Việt Nam, Chu Tiến Quang [41] khẳng định hợp tác xã

là một phương thức tổ chức các hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân cùngtham gia theo nguyên tắc cùng hợp sức, hợp vốn và cùng hành động tập thểđể thực hiện những công việc mà từng hộ riêng lẻ khó thực hiện hoặc khôngthực hiện được Muốn hợp tác xã phát triển bền vững thì phải bắt đầu từ pháttriển kinh tế hộ xã viên Hợp tác xã cung cấp các dịch vụ phục vụ nhu cầuphát triển sản xuất và đời sống của chính xã viên là một trong những động lựctạo ra sự gắn kết các xã viên với nhau và thúc đẩy sự hợp tác

Nhóm tác giả Nguyễn Duy Cần, Võ Hồng Tú và Nguyễn Văn Sánh [8]nhận định trở ngại lớn nhất trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở An Giang làthiếu nguồn cung ứng giống tốt, nguồn vốn đầu tư hạn chế, giá cả vật tư nôngnghiệp luôn biến động, giá tiêu thụ nông sản thấp, bấp bênh… Theo đánh giácủa nhóm tác giả, mối liên kết “4 nhà” còn lỏng lẻo, mức độ tham gia liên kếtcủa các chủ thể còn hạn chế Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việchình thành mối liên kết hữu cơ, quy hoạch các vùng nông sản hàng hóa, xâydựng và hoàn chỉnh khung pháp lý, tạo điều kiện để các bên thực hiện ký kếthợp đồng và xử lý các vi phạm phát sinh

Trang 23

Dương Ngọc Thí [58] mô tả 6 mô hình liên kết dọc phổ biến trongngành chè và đưa ra một số đề xuất về lựa chọn loại hình liên kết, thiết lập cơchế, xây dựng chính sách và khẳng định rằng cho dù áp dụng hình thức liênkết nào thì cũng nên có một tác nhân chủ đạo – đó chính là doanh nghiệp.Tương tự, Nguyễn Trọng Khương [28] phác họa các lợi ích kinh tế mà ngườinông dân nhận được khi liên kết với doanh nghiệp để từ đó đưa ra các giảipháp liên quan đến phát triển thể chế phù hợp Bảo Trung [66], trong luận ántiến sĩ của mình, kết luận rằng sản xuất theo hợp đồng được xem là hình thứcgiao dịch tiên tiến Đây là mô hình liên kết của nông dân với thị trường thôngqua chủ thể doanh nghiệp

Các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên có điểm chung là tìm lờigiải cho bài toán của nông dân từ bên ngoài nông dân: Nhà nước và doanhnghiệp Một điều băn khoăn là với đặc điểm sản xuất quy mô nhỏ, liệu nôngdân có quan tâm ký kết các hợp đồng sản xuất (những khái niệm mang tínhpháp lý quá xa lạ với nông dân) với doanh nghiệp chế biến nông sản lớn haykhông? Liệu các doanh nghiệp có sẵn sàng và đủ nguồn lực để ký kết và quản

lý hàng ngàn, thậm chí hàng trăm ngàn hợp đồng tiêu thụ nông sản với từ hộnông dân nhỏ, lẻ, phân tán trên không gian rất rộng hay không? Các côngtrình nghiên cứu này đều gợi mở ý tưởng rằng để có thể tham gia vào thịtrường hiệu quả hơn và thâm nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị nông sản thì cáchình thức liên kết giữa các nông dân (liên kết theo chiều ngang) là vô cùngcần thiết

Sức sống của mối liên kết xuất phát từ nội lực, nhà nước đóng vai trò

hỗ trợ, chứ không phải là nhân vật chính trong việc định hình và nuôi dưỡngcác tổ chức hợp tác Đề tài cấp bộ (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn)

“Vai trò của chính quyền cấp xã với việc thúc đẩy phát triển HTX và liên kết

“bốn nhà” theo QĐ 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ” [52] dochính tác giả thực hiện năm 2004 đi đến kết luận rằng lối thoát cho nông

Trang 24

nghiệp quy mô nhỏ là hình thành và phát triển các tổ chức hợp tác (như hợptác xã, tổ hợp tác) để gia tăng sức mạnh của kinh tế hộ.

Lợi ích xã hội của các mối liên kết xã hội trong các tổ chức hợp tác

được một số tác giả đề cập đến như Trần Hữu Dũng [ 18], Trần Hữu Quang[44], [45], Nguyễn Tuấn Anh [2], Hoàng Bá Thịnh [59] và Ngô Đức Thịnh[60] Hệ quả của sự sụp đổ của chế độ "tập thể hóa nông nghiệp" là hộ giađình được giải phóng, các thiết chế gia đình, làng xã được hồi sinh, các mạnglưới xã hội được tái xác lập, các nguồn lực xã hội, vốn xã hội được giải phóng[60] Các tổ chức nêu trên có vai trò quan trọng không chỉ hỗ trợ vật chất chocác thành viên khi họ gặp khó khăn, mà còn là chỗ dựa tinh thần cho cácthành viên theo Chữ Văn Lâm [29], Chu Tiến Quang [41], Nguyễn Minh Tú[70] Tác giả Bế Quỳnh Nga cho rằng trong nền kinh tế chuyển đổi, ở nôngthôn Việt Nam xuất hiện rất nhiều tổ chức tự nguyện mang tính chất kinh tế,

mà ở đó các thành viên kết nối được với nhau trên cơ sở trao đổi kinhnghiệm, thông tin và thị trường [33] Các mối liên kết đa chiều ấy chắc chắn

sẽ tạo ra các nguồn vốn xã hội, góp phần thúc đẩy xã hội nông thôn phát triển.Muốn có được vốn xã hội thì phải có những chi phí hoặc “đầu tư” để nuôidưỡng và duy trì [59] Tuy nhiên, Trần Hữu Quang [44] và Ngô Đức Thịnh[60] cảnh báo không nên “chính trị hóa” hay “nhà nước hóa” các mạng lưới

xã hội vốn rất phong phú, đa chiều ở làng xã, khiến mạng lưới xã hội ngàycàng mang tính một chiều, áp đặt từ trên xuống Luận án này sẽ đặt một phầntrọng tâm nghiên cứu vốn xã hội như là “sản phẩm phái sinh” trong một loạihình tổ chức đặc thù: tổ chức hợp tác của nông dân

Kết luận trong đề tài nghiên cứu cơ sở khoa học thành lập hợp tác xã vàhiệp hội người sản xuất cà phê Việt Nam, Trần Thị Quỳnh Chi cho rằng hợptác xã có thể mang đến nhiều điều lợi cho nông dân Tuy nhiên, các hợp tác

xã nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay đang đối mặt với nhiều khó khăn như:thiếu vốn, khả năng quản lý kém, trình độ khoa học kỹ thuật thấp, khó tiếp

cận thông tin thị trường, Tác giả Quỳnh Chi [9] nhấn mạnh “hợp tác xã là

Trang 25

mô hình tổ chức kinh tế phù hợp nhất của người dân nông thôn, là con đường

để các hộ nông dân, hộ tiểu chủ và người dân nông thôn liên kết lại, hỗ trợ lẫn nhau phát triển sản xuất kinh doanh, thoát khỏi đói nghèo” Đề tài đề xuất

giải pháp “cần có các biện pháp tiếp tục thúc đẩy quá trình củng cố, đổi mới

hợp tác xã cả về tổ chức, quản lý và hoạt động theo mô hình hợp tác xã kiểu mới, tạo ra động lực mới ngay trong từng hợp tác xã” Các đề xuất đặt ra

nhiều câu hỏi ngỏ, chưa có lời giải đáp thấu đáo, đặc biệt là câu hỏi “vì sao tỷ

lệ nông dân tham gia liên kết thấp?”

Trong thực tế, nhu cầu liên kết của nông dân rất cao Kết quả nghiêncứu tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang [65] cho thấy 88% hộ nông dântrong địa bàn nghiên cứu có nhu cầu hợp tác trong sản xuất nông nghiệp, đặcbiệt đối với các hộ trồng lúa thì nhu cầu hợp tác lên đến 92% Một lần nữa,câu hỏi vì sao tỷ lệ nông dân tham gia vào các hình thức liên kết thấp, trongkhi nhu cầu hợp tác của họ rất cao chưa có lời giải đáp

Tác giả bài báo khoa học “Hợp tác xã trong nông nghiệp yếu kém, vìsao?” [26] đã phân tích hai nguyên nhân chính cản trở quá trình phát triển hợptác xã là quy mô sản xuất của hộ nông dân nhỏ và trình độ của cán bộ hợp tác

xã yếu Tiến sĩ Vũ Trọng Khải nhấn mạnh hai chính sách có tính chất đột phá,vừa “cởi trói” vừa “thúc đẩy” hợp tác xã phát triển là tích tụ ruộng đất và đào

tạo nông dân Kế thừa gợi mở “ quy mô sản xuất nhỏ, nhu cầu tiếp cận thị

trường thấp nên mức độ gắn kết của nông dân với hợp tác xã thấp” từ bài báo

ngắn nêu trên, luận án nỗ lực khám phá thêm mức độ nhận thức của nông dân

có ảnh hưởng như thế nào đến quyết định tham gia liên kết của nông dân?

Luận án này là sự kế tục của chuyên đề “Vai trò kép của hợp tác xã và

vị trí của nó trong không gian xã hội”, do chính tác giả thực hiện năm 2011

Chuyên đề đã phân tích ý niệm vai trò kép - cấu trúc đặc biệt của tổ chức

hợp tác xã - được Tonnies và những người kế tục phân tích từ nữa đầu thế kỷ

XX vào bối cảnh Việt Nam Điểm độc đáo của chuyên đề là xác định vị trí

Trang 26

của hợp tác xã trong không gian xã hội Từ đó tác giả đã phân tích 3 nhómquan niệm sai lầm về bản chất hợp tác xã trong chuyên đề nêu trên

Tóm lại, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nêu trên xemxét vấn đề nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau, làm cho bức tranh chung về

sự liên kết của nông dân trở nên sinh động Các công trình nghiên cứu trongnước trước đây chưa giải thích thấu đáo câu hỏi vì sao ở một vài trường hợp,

sự liên kết của nông dân mang lại nhiều hiệu quả kinh tế và lợi ích xã hội chothành viên và cho cộng đồng, nhưng tại nhiều nơi khác tổ chức hợp tác hoạt

động không hiệu quả? Ứng dụng Lý thuyết lựa chọn hợp lý có giới hạn và kế

thừa có chọn lọc phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với nghiên cứuđịnh tính trong một vài công trình nghiên cứu đi trước, luận án này hướng đến

lý giải sự hạn chế trong nhận thức của nông dân là một trong những trở ngạilàm hạn chế tính hiệu quả của sự liên kết giữa nông dân và từ đó tìm kiếmmột vài giải pháp thúc đẩy sự liên kết của nông dân trong sản xuất nôngnghiệp hàng hóa tại vùng Tây - Nam bộ

2 Các lý thuyết sử dụng trong luận án

Nội dung chính của luận án là phân tích những lý do ẩn chứa phía sauquyết định lựa chọn không tham gia hay tham gia liên kết (nếu tham gia, thìlựa chọn cấp độ liên kết nào) của người nông dân trong sản xuất nông nghiệp.Ngoài ra, luận án cố gắng phát hiện một vài yếu tố thúc đẩy và yếu tố làm hạnchế quyết định tham gia liên kết của nông dân Xuất phát từ giả thuyết nghiêncứu rằng mặc dù lựa chọn tham gia liên kết, nhiều nông dân không am hiểuđầy đủ bản chất tổ chức hợp tác, vai trò, quyền lợi và trách nhiệm của thànhviên và để xây dựng khung phân tích và trả lời các câu hỏi nghiên cứu, tác giả

đã sử dụng ba lý thuyết Xã hội học: (i) Thuyết hành động xã hội, (ii) Thuyết

lựa chọn hợp lý; và (iii) Thuyết lựa chọn hợp lý có giới hạn.

Trang 27

2.1 Thuyết hành động xã hội

Theo Max Weber, hành vi của con người chỉ được xem là hành động

xã hội khi mà chủ thể gán cho hành vi của mình một ý nghĩa chủ quan và cótính đến hành vi của người khác trong quá khứ, hiện tại hay tương lai Hànhđộng lựa chọn cấp độ liên kết của nông dân là hành động xã hội, có chủ đích,xuất phát từ nhận thức của chủ thể [80], [115]

Có nhiều yếu tố ẩn chứa phía sau mỗi hành động xã hội của cá nhân.Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cũng khác nhau giữa những cá nhân khácnhau Hành động của cá nhân trong xã hội được McConnell ví von là nhữngmảnh riêng lẻ tạo nên một bức tranh ghép hình sinh động, đầy màu sắc [105]

Elster cho rằng tất cả hiện tượng xã hội phức tạp đều có thể được giảithích bằng các hành động của các cá nhân thành viên trong xã hội đó John

Scott đã trích dẫn phát biểu của Jon Elster như sau: “Đơn vị cơ bản của đời

sống xã hội là hành động của cá nhân Để giải thích thiết chế xã hội hay sự

di động xã hội, nhà xã hội học cần căn cứ vào các hành động xã hội và sự tương tác xã hội của các cá nhân trong xã hội đó” [107]

Nhiệm vụ của người nghiên cứu xã hội là phân tích hành động xã hộicủa con người được hình thành ra sao và nó góp phần tạo lập, duy trì và thậmchí hủy diệt các mối quan hệ xã hội như thế nào [ 124] Một mặt, phía sauhành động lựa chọn cấp độ liên kết của mỗi nông dân luôn tồn tại những

nguyên nhân chủ quan, mà luận án nỗ lực lý giải ( cấp độ vi mô) [138] Mặt

khác, kết quả của hành động từng nông dân riêng lẻ tạo thành hiện tượng xã

hội và ảnh hưởng đến cấu trúc xã hội như một thể thống nhất (cấp độ vĩ mô)

Việc phân loại hành động xã hội theo sự hợp lý giữa “phương tiện” và

“mục đích” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giải thích lý do lựa chọncấp độ liên kết của nông dân

a Hành động hợp lý phương tiện- mục đích là hành động được thực hiện với sựcân nhắc, tính toán, lựa chọn công cụ, phương tiện sao cho đạt kết quả tốt

Trang 28

nhất [128] Ví dụ điển hình cho loại hành động xã hội là khi người nông dâncân nhắc, phân tích, đối chiếu nhiều hình thức liên kết mà họ biết và quyếtđịnh lựa chọn một hình thức để tham gia với mong muốn đạt được sự hài lòngcao nhất.

b Hành động hợp lý giá trị hướng đến mục tiêu tối đa hóa giá trị tuyệt đối Chủthể của loại hành động này sử dụng phương tiện hợp lý để đạt mục đích đãđược định sẵn [106] Hành động xã hội được xem là hợp lý bởi vì cá nhân cốgắng tìm “con đường” hữu hiệu nhất để theo đuổi mục đích cho sẵn Tìnhhuống này lý giải hành động cán bộ bằng mọi cách vận động thành lập tổchức hợp tác chỉ vì để hoàn thành “nhiệm vụ chính trị” hay để đáp ứng yêucầu trong Bộ tiêu chí về xây dựng nông thôn mới

c Hành động cảm tính xuất phát từ trạng thái cá nhân bị tình cảm chi phối Chủthể của hành động thiếu sự cân nhắc, suy xét, phân tích mối quan hệ giữaphương tiện thực hiện và mục đích kỳ vọng của hành động Thiếu vắng lý trí,không tính toán cẩn trọng về phương pháp thực hiện hành động, chủ thể củaloại hành động này hoàn toàn để tình cảm bộc phát dẫn dắt Ví dụ, có nhiềunông dân tham gia tổ chức hợp tác vì “cả nể” cán bộ đến vận động, trong khi

họ không thật sự hiểu rõ lợi ích, quyền và nghĩa vụ khi gia nhập tổ chức Loạihành động xã hội này thường không được coi là hợp lý trong ý nghĩa bìnhthường của thuật ngữ “hợp lý” [83] Weber lập luận rằng do sự “suy giảm vềbản năng” ở con người nên phần nhỏ hành vi của họ mang tính bẩm sinh.Ngay cả những bản năng còn sót lại này cũng bị biến dạng theo đặc thù vănhóa, được sắp xếp lại theo hình mẫu văn hóa [19] Đó là lý do mà Weber biệnminh rằng loại hành động này cũng mang tính chất của hành động xã hội

d Hành động theo truyền thống xảy ra khi chủ thể của hành động không nghĩ tớiviệc lựa chọn phương pháp hay phương tiện khác để hành động, bởi vì “mọingười đều làm như thế cả” [23] Nếu mọi cá nhân cảm thấy trách nhiệm cầnphải tuân thủ các quy định thì trật tự xã hội được tạo ra và duy trì Tuy nhiên,

Trang 29

nếu mọi người đều đi theo “lối mòn” có sẵn thì sẽ không có “con đường” mớiđược tạo lập Dù không phổ biến, nhưng cũng có nông dân tham gia tổ chứchợp tác vì thấy những người hàng xóm tham gia và họ “làm theo”.

Thuyết lựa chọn hợp lý có nguồn gốc từ kinh tế học và xuất phát từ giảđịnh rằng tất cả các hành động cơ bản của cá nhân đều mang tính hợp lý.Thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào tiền đề cho rằng con người hoạch định hànhđộng của mình một cách có chủ đích, có tính toán để sử dụng các phương tiệnmột cách tối ưu nhằm đạt được kết quả cuối cùng tốt nhất Tức là, trước khiquyết định một hành động nào đó, con người luôn thận trọng tính toán cáckhoản chi phí – lợi ích, cái mất – cái được, cái hại – cái lợi của từng phương

án và lựa chọn phương án tốt nhất Nói cách khác, hành động của cá nhân ởtrạng thái bình thường luôn hợp lý theo góc nhìn của họ

Geogre Homans được xem là một trong những người tiêu biểu xâydựng Thuyết lựa chọn hợp lý trong xã hội học Xuất phát từ các nguyên lý rút

ra từ tâm lý học hành vi, Homans lập luận rằng mọi sự diễn giải các hiệntượng xã hội dưới góc độ xã hội học nên bắt nguồn từ cơ sở của các giả định

vi mô “Một cách trực tiếp hay gián tiếp, các nguyên lý của tâm lý học hành

vi là cầu nối để giải thích các hiện tượng xã hội ” [100] Ông cố gắng lượng

hóa giá trị của các lựa chọn theo mô hình toán học Theo ông, khi cá nhânđứng trước những phương án khác nhau và cần lựa chọn phương án tốt nhấtđể hành động thì họ sẽ tính toán hai đại lượng: (i) giá trị lợi ích kỳ vọng; và(ii) xác suất để phương án đó xảy ra Phương án nào có tích số giữa hai đạilượng trên càng cao thì càng có nhiều ưu thế hơn trong việc lựa chọn [23]

Jon Elster tóm lược nội dung cơ bản của Thuyết lựa chọn hợp lý rằngkhi đối diện với một số hành động, cá nhân hợp lý thường chọn hành động mà

họ tin rằng có khả năng mang lại kết quả cuối cùng tốt nhất [23]

Trang 30

Những người ủng hộ Thuyết lựa chọn hợp lý thường giải thích rằng các

tổ chức xã hội sở dĩ tồn tại lâu dài là vì chúng đáp ứng được lợi ích của cácthành viên Tất nhiên, cá nhân phải chi trả (vật chất hoặc phi vật chất) để cóđược tư cách thành viên trong tổ chức xã hội Đối với một cá nhân nào đó,nếu “chi phí” phải trả cho việc trở thành thành viên trong tổ chức vượt quá

“lợi ích” kỳ vọng mà cá nhân đó có thể nhận được từ tổ chức thì quyết địnhgia nhập tổ chức của cá nhân này không còn hợp lý nữa

Ứng dụng Thuyết lựa chọn hợp lý trong xã hội học không chỉ đơnthuần là sử dụng mô hình kinh tế để giải thích các hiện tượng xã hội Vượt rakhỏi khái niệm mang ý nghĩa vật chất của kinh tế học, “lợi ích” mà cá nhânnhận được khi hành động không chỉ là tiền, lợi nhuận, mà còn có thể là nhữnglợi ích phi kinh tế như gia tăng vốn con người và vốn xã hội, chẳng hạn giatăng sự hiểu biết, an tâm vì là thành viên của tổ chức, thắt chặt tình làng,nghĩa xóm, gia tăng lòng tự hào vì “tiên phong, gương mẫu” trong các phongtrào tại địa phương, sự “được lòng” … Tương tự như vậy, “chi phí” của hànhđộng không phải chỉ gói gọn trong vốn đầu tư (vốn góp), giá trị hiện vật, màcòn là thời gian, chia sẻ ý tưởng, sự phục tùng những quy tắc, sự tuân thủđiều lệ của tổ chức…

Các kinh tế gia lý giải cách thức mà con người lựa chọn hành động mộtcách hợp lý dưới góc độ vi mô Trong khi đó, các nhà xã hội học ứng dụngThuyết lựa chọn hợp lý để thiết lập mối quan hệ nhân - quả ở cấp độ vi mô và

vĩ mô Sự lựa chọn của cá nhân là kết quả của sự tương tác giữa cá nhân đóvới môi trường xã hội Đến lượt mình, hành động xã hội tác động ngược trởlại đến môi trường xã hội Trong thực tế, Thuyết lựa chọn hợp lý với các biếnthể của nó được triển khai trên nhiều cấp độ từ hành động xã hội của cá nhân,đến chức năng của hệ thống xã hội và mối tương tác giữa cá nhân, nhóm, thiếtchế và hệ thống xã hội [129]

Trang 31

2.3 Thuyết lựa chọn hợp lý có giới hạn

Bên cạnh những thành công nêu trên, Thuyết lựa chọn hợp lý có nhữnghạn chế nhất định Mô hình này giả định rằng chủ thể của hành động biết rất

rõ và chắc chắn tất cả chi phí và lợi ích trước khi cân nhắc để đưa ra quyếtđịnh hợp lý Tuy nhiên, đây chỉ là sự khái quát của lý thuyết Thực tiễn cuộcsống đa dạng và khó tiên lượng hơn nhiều Hay nói cách khác, sự lựa chọnhợp lý thường có giới hạn [130], [98]

Theo Herbert Simon, cá nhân khó có thể đạt được sự lựa chọn tối ưu,

mà chỉ là sự lựa chọn hài lòng nhất do ba lý do chủ yếu sau đây Thứ nhất, cánhân có thể không biết trước tất cả phương án để đưa vào danh sách lựa chọn

và họ phải tự xây dựng các phương án trong quá trình suy nghĩ để đi đếnquyết định Quá trình xây dựng các phương án lựa chọn mang tính chủ quan,phụ thuộc vào mức độ nhận thức của cá nhân Thứ hai, giả dụ rằng cá nhânbiết rõ tất cả những phương án thì không có gì bảo đảm rằng cá nhân đó biếtđược một cách đầy đủ sự khác biệt giữa các phương án Thứ ba, việc tiênlượng chi phí và lợi ích cũng phụ thuộc vào chủ quan của cá nhân [98]

Có những chi phí tiềm ẩn mà chủ thể của hành động có thể không nhậnbiết và không lượng hóa được Lợi ích mà chủ thể mong đợi nhận được saukhi quyết định cũng chịu ảnh hưởng của yếu tố tâm lý và mang tính chủ quanrất cao [85] Hơn thế, tương lai là điều gì đó không chắc chắn Trong nhiềutrường hợp, cá nhân không thể nào ước lượng xác suất kết quả xảy ra khi họ

ra quyết định lựa chọn Kết quả lựa chọn là hợp lý dựa trên cơ sở tiên đoánchủ quan của chủ thể hành động, phụ thuộc rất lớn vào nhận thức, lượngthông tin, kiến thức, kinh nghiệm, năng lực phán đoán…của bản thân chủ thểcủa hành động xã hội

Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới(WTO) và toàn cầu hóa, người nông dân luôn trăn trở, cân nhắc thận trọng

“chi phí” và “lợi ích”, tính toán thiệt – hơn, suy tính làm thế nào để giảm chiphí sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh và gia tăng giá trị cho sản phẩm do

Trang 32

mình sản xuất được Quá trình lựa chọn tham gia các cấp độ liên kết diễn raphức tạp và bị chi phối bởi nhiều yếu tố chủ quan và khách quan.

Thuyết lựa chọn hợp lý có giới hạn đã gợi ý để tác giả đặt ra nghi vấn

“liệu người nông dân có đủ kiến thức, năng lực phân tích khi lựa chọn các

cấp độ liên kết hay không?” Liệu những kinh nghiệm tiêu cực được tích lũy

từ những thất bại của mô hình hợp tác xã “kiểu cũ” trong cơ chế kinh tế kếhoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp có ảnh hưởng đến việc quyết định lựachọn cấp độ liên kết của nông dân hiện nay hay không? Liệu trào lưu pháttriển công ty ồ ạt trong thời gian gần đây có làm méo mó nhận thức của nôngdân về loại hình tổ chức hợp tác hay không?

3 Xây dựng khung phân tích

Để thực hiện luận án, tác giả xây dựng khung phân tích riêng trên nền

tảng kết hợp giữa lập luận của Weber về Hành động xã hội, cách diễn giải

khá tương đồng của Coleman và Elster về mối quan hệ vĩ mô – vi mô trong

Thuyết lựa chọn hợp lý và Thuyết lựa chọn hợp lý có giới hạn của Simon.

Đối chiếu với lý thuyết của Weber, hành vi lựa chọn cấp độ liên kết củanông dân trước hết được xem như là hành động xã hội Vận dụng cách phântích của Coleman, luận án tìm kiếm những nguyên nhân làm cho các hìnhthức liên kết của nông dân thiếu hấp dẫn và chưa phát huy được sức mạnhliên kết trong các yếu tố xã hội mang tầm vĩ mô như: dấu ấn lịch sử, bối cảnh

toàn cầu hóa, môi trường pháp lý, chính sách hỗ trợ của Nhà nước… (mối

quan hệ từ A đến D trong Hình 1 -1)

Cơ chế hình thành hành động liên kết được diễn giải như sau Đầu tiên,người nông dân tiếp nhận một lượng thông tin nhất định từ môi trường bênngoài (có thể từ sáng lập viên, cán bộ khuyến nông, cán bộ chính quyền, cán

bộ đoàn thể, nông dân khác, phương tiện thông tin đại chúng, văn bản phápluật …) về chủ trương, chính sách của Nhà nước, về các hình thức liên kết …

(mối quan hệ từ A đến B trong Hình 1 -1)

Trang 33

Hình 1-1: Cơ chế hình thành hành động lựa chọn cấp độ liên kết

Người nông dân xử lý thông tin và hình thành nhận thức về các đặctrưng, những ưu thế, cũng như bất lợi của từng loại hình liên kết (không liênkết, nhóm tương trợ, tổ hợp tác, hợp tác xã…) Theo Thuyết lựa chọn hợp lý,nông dân sẽ dựa vào nhận thức chủ quan để phân tích xem hình thức liên kếtnào phù hợp với đặc điểm nông hộ của mình như: diện tích canh tác, loại hìnhcanh tác, nguồn lực tài chính, số người lao động chính của gia đình… Niềmtin được hình thành trên cơ sở nhận thức chủ quan của chủ thể Niềm tin củacon người không phải là tiền định hoặc có sẵn Nếu người nông dân tin rằngliên kết là cách thức tốt, mang lại lợi ích cao hơn chi phí (kinh tế và phi kinhtế) thì họ mong muốn tham gia liên kết và ngược lại Niềm tin đủ mạnh thìmong muốn sẽ xuất hiện Nếu chưa đủ thông tin cần thiết để quyết định thì,hẳn nhiên, họ sẽ hành động như Elster mô tả là tìm kiếm thêm thông tin từnhiều nguồn khác nhau để củng cố lòng tin của mình [92] Vậy, hành động xã

hội là kết quả của nhận thức, niềm tin và mong muốn (mối quan hệ B đến C

trong Hình 1 -1)

Trang 34

Đến lượt mình, hành động xã hội của mỗi cá nhân không chỉ giới hạntrong phạm vi cá nhân mà nó ảnh hưởng sâu, rộng đến môi trường xã hội

(mối quan hệ C đến D trong Hình 1 -1) Nhận thức đúng thì hành động đúng

và kết quả là xã hội vận hành trong ổn định, trật tự và phát triển bền vững Đó

là sự hợp lý Nhận thức sai lệch thì hẳn nhiên hành động lệch lạc và hậu quả

là xuất hiện những vấn đề “loạn nhịp” trong xã hội Đó cũng là sự hợp lý

4 Các khái niệm cơ bản sử dụng trong luận án

là bộ phận cấu thành nên vị thế xã hội của họ Khái niệm “nông dân không có

đất cắm dùi” không tương thích với phân tích tại luận án này

Đối với nông dân, đất đai là nguồn lực khan hiếm và có giới hạn nhấtđịnh Đất đai là phương tiện sinh nhai chứ không phải là một tư bản sinh lợi.Trong trường hợp, những người có đất “chủ đất” nếu xét dưới khía cạnhquyền kiểm soát; “người có quyền sử dụng đất” (nếu xét theo cách diễn giảicủa Luật Đất đai) nhưng cho mượn, cho thuê, cầm, cố đất… để nhận địa tôhoặc “hoa hồng” hoặc vay nợ, mà không trực tiếp khai thác đất để sản xuấtnông nghiệp thì không được đưa vào định nghĩa nông dân

Giới hạn của luận án là nghiên cứu sự liên kết của nông dân trongngành trồng trọt (sản xuất lúa và cây ăn trái), ngành sản xuất chủ yếu dựa vào

nguồn lực đất đai Chình vì vậy, nông dân là người có quyền sử dụng (chủ

Trang 35

đất), quyền kiểm soát đất nông nghiệp và trực tiếp quản lý, khai thác hoạt động sản xuất nông nghiệp trên diện tích đất ấy của mình

4.1.2 Đặc điểm của kinh tế nông hộ

a Hộ nông dân: một đơn vị kinh tế không thể chia cắt

Theo kinh tế gia Alexandre Chayanov, khi nói tới kinh tế nông dân

đồng nghĩa với kinh tế hộ gia đình nông dân, một đơn vị kinh tế không thể

chia cắt Kinh tế nông dân là một hệ thống, trong đó đất đai, sức lao động và

tư liệu sản xuất được kết hợp với nhau theo quá trình phát triển của gia đình[89]

b Khai thác và tận dụng sức lao động của nông hộ

Một đặc tính kinh tế nổi bật của kinh tế nông hộ là sự tự khai thác vàtận dụng tối đa sức lao động của gia đình Người nông dân tham gia sản xuấtnông nghiệp như là làm công việc gia đình chứ không phải làm kinh doanh[20] và [67] Người nông dân không hạch toán công lao động gia đình vào chiphí sản xuất, mà “lấy công làm lời” Mục đích của kinh tế nông hộ khôngphải là giá trị của một đơn vị lao động (ngày công) mà là thu nhập cả nămtrên một đơn vị diện tích đất

c Sự quá độ

Trong xã hội truyền thống, hệ thống nông nghiệp tự cung, tự cấp giữvai trò chủ đạo Sản xuất chủ yếu để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chínhnông hộ [43] Nếu người nông dân sản xuất nhiều hơn cái mà gia đình họ cần,

sự trù phú chỉ có thể dẫn tới sự lãng phí, dư thừa vô ích Đây chính là sự dưthừa tương đối của một nền kinh tế nghèo khổ mà Frank Ellis đã mô tả chính

xác: “Nghịch lý khi cho rằng những người đi săn có được sự dư giả, mặc dù

họ ở trong tình trạng nghèo nàn tuyệt đối Các xã hội tư bản hiện đại, mặc dù giàu có về của cải, lại luôn rơi vào tình trạng khan hiếm” [20]

Trang 36

Đối ngược hoàn toàn với nền nông nghiệp sản xuất để tiêu dùng tronggia đình, là nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa phục vụ thị trường [14] [15].Việc sản xuất nông nghiệp hàng hóa, được tiến hành như những “doanhnghiệp” gia đình Giả dụ khi người nông dân đạt được thái cực “sản xuất hànghóa” thì tính chất tự cung, tự cấp sẽ biến mất Lúc đó, một cách tự nhiên,

“người nông dân” buộc phải nhường chỗ cho “nhà kinh doanh”, dù là mộtnhà kinh doanh quy mô nhỏ, nhưng dù sao cũng là nhà kinh doanh [22] [67]

Sự thay đổi này không diễn ra ngay tức thì mà nó diễn ra rất chậmchạp, chậm đến mức người nông dân không cảm nhận được Xét trên khíacạnh thực tế, họ vẫn suy nghĩ và quản lý sản nghiệp của mình như người nôngdân hơn là nhà kinh doanh Chính vì vậy, việc thay đổi cách thức ứng xử vớisản phẩm (sản xuất sản phẩm để tiêu dùng) và thích nghi xu hướng mới (sảnxuất sản phẩm để bán) của nông dân cũng diễn ra từ từ và hình thành nên tínhliên tục Đó là sự quá độ như cách diễn giải của Ellis F và Vũ Trọng Khải[20] và [27]

d Sự gắn bó cục bộ với thị trường

Mối quan hệ giữa nông dân và thị trường là sự gắn bó cục bộ Nếuchẳng may bị tách ra khỏi thị trường thì hộ gia đình nông dân vẫn tồn tạiđược với những gì mình sản xuất được

Tham gia thị trường, người nông dân phải chịu áp lực do xu hướngbiến động giá cả và cung cầu Thị trường mà người nông dân phải đối mặtkhông được hình thành một cách có tổ chức, bị phân tán về không gian, thiếuphương tiện vận chuyển và thông tin nghèo nàn Một yếu tố thiết thực ở đây

là năng lực thích ứng với yêu cầu của thị trường của nông dân thấp Đây

chính là một trong những động lực hình thành và phát triển sự liên kết giữa

nông dân với nhau trong sản xuất nông nghiệp hàng hóa

Trang 37

4.2 Sự liên kết của nông dân

4.2.1 Khái niệm sự liên kết

Sự liên kết là một trong những khái niệm căn bản của xã hội học Liênkết là sự hợp nhất, sự phối hợp hay sự sáp nhập của nhiều bộ phận khác nhauthành một chỉnh thể [141] Về mặt lý luận, từ năm 1893 trong tác phẩm “Phân

công lao động trong xã hội”, Emile Durkheim đã trăn trở với câu hỏi lớn:

“Điều gì gắn kết các cá nhân với nhau để tạo thành xã hội?” [90] Mỗi con

người, trước hết là những cá nhân vị kỷ cố hữu Ý thức tập thể như niềm tin

và chuẩn mực hình thành nên mối “liên kết xã hội” Durkheim sử dụng khái

niệm “đoàn kết xã hội” để mô tả mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau, giữa

cá nhân với nhóm xã hội Nếu như không có “đoàn kết xã hội" thì các cá nhânriêng lẻ, biệt lập không thể tạo thành xã hội với tư cách là một chỉnh thể

Trong “Từ điển Xã hội học”, Marshall Gordon định nghĩa liên kết là

một kiểu quan hệ của các bộ phận trong cùng hệ thống, nhờ đó, một mặt, các

bộ phận này hành động tập thể để tạo tính ổn định, tránh các nguy cơ làm phávỡ hệ thống, mặt khác, các bộ phận này hợp tác với nhau để xây dựng chứcnăng mới của hệ thống với tư cách là một thực thể thống nhất [113] Diễn giải

trong tác phẩm “Định nghĩa các thuật ngữ Xã hội học”, Tomovic cho rằng

liên kết là một quá trình tổ chức lại (tái cấu trúc) các bộ phận riêng lẻ để tạothành một cấu trúc mới, có ý nghĩa, mà trong đó các bộ phận nằm trong mốiquan hệ qua lại phù hợp [141] Nói cách khác, một thể chế (chỉnh thể hay hệthống) được tạo ra nhờ sự liên kết giữa các yếu tố bộ phận theo một kiểu cấutrúc nào đó và vận hành theo cơ chế tương thích với cấu trúc đó để tạo ranhững đặc tính mới vốn không có trong các yếu tố cấu thành Đó chính là tínhbội sinh (tính trội hay lợi ích) của sự liên kết [25]

Từ các khái niệm trên, sự liên kết giữa nông dân là sự thiết lập các

mối quan hệ giữa các chủ thể (người nông dân) để hình thành nên một đơn vị tập thể (nhóm hay tổ chức hợp tác) với cấu trúc đặc trưng, trong đó một mặt các chủ thể này (người nông dân) hành động theo cam kết chung nhằm bảo

Trang 38

đảm duy trì sự tồn tại và phát triển kinh tế riêng của nông hộ, mặt khác các chủ thể này hợp tác để xây dựng các chức năng mới (dịch vụ chung) của đơn

vị tập thể, nhằm tối đa hóa lợi ích (tính bội sinh) của chủ thể cấu thành nhưng không xóa bỏ tư cách riêng của họ Đây chính là tính nhị nguyên về

mặt sở hữu (sở hữu riêng của thành viên và sở hữu tập thể) trong mối quan hệliên kết

4.2.2 Sản xuất nông nghiệp hàng hóa và nhu cầu liên kết

Sản xuất nông nghiệp hàng hóa đòi hỏi mỗi loại nông sản phải có khốilượng đủ lớn và ổn định, chất lượng đồng đều, giá thành sản xuất hợp lý, đặcbiệt là phải bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm theo yêu cầu củathị trường Việc bảo quản, sơ chế nông sản như sấy lúa, đóng gói trái cây, bảo

ôn sữa bò tươi, bảo quản lạnh rau xanh, lên men trái cacao… đặt ra nhu cầuliên kết rất cấp bách, bởi vì nó vượt ra khỏi khả năng của từng nông hộ Từng

hộ nông dân với quy mô sản xuất nhỏ như hiện nay không thể tạo dựngthương hiệu cho nông sản Để đáp ứng yêu cầu của thị trường trong và ngoàinước, nhiều nông dân cần phải liên kết trong tất cả các khâu từ mua nguyênvật liệu, sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến và tiêu thụ để giảm chi phígiao dịch, gia tăng giá trị nông sản

Hình thành mối liên kết ngang giữa nông dân còn là nhu cầu của doanhnghiệp chế biến và tiêu thụ nông sản để họ hình thành vùng nguyên liệu ổnđịnh về số lượng và đồng nhất về chất lượng Nếu nông dân liên kết thành các

tổ chức hợp tác thì doanh nghiệp sẽ giảm chi phí quản lý do chỉ cần ký hợpđồng với một tổ chức hợp tác thay vì phải ký hợp đồng với hàng trăm, thậmchí hàng ngàn hộ nông dân riêng lẻ

Tóm lại, liên kết giữa nông dân với nhau là nhu cầu thiết yếu trong

dòng chảy của sản xuất nông nghiệp hàng hóa Hay nói cách khác, sản xuất

nông nghiệp hàng hóa đã tạo nên “chất keo” liên kết những người nông dântrong các tổ chức hợp tác với nhiều cấp độ khác nhau

Trang 39

4.2.3 Các kiểu liên kết

a Đoàn kết cơ học và đoàn kết hữu cơ

Theo Durkheim, đời sống xã hội bắt nguồn từ hai yếu tố: sự tươngđồng trong ý thức và sự phân công lao động Tương ứng với chúng là hai kiểuđoàn kết xã hội: đoàn kết cơ học và đoàn kết hữu cơ - hai cách thức gắn kết

cá nhân vào trong xã hội Kiểu đoàn kết cơ học là khi các cá nhân gắn bó với

nhau dựa trên sự thuần nhất, đơn điệu của các giá trị và niềm tin Sức mạnh

của ý thức tập thể có khả năng chi phối và điều chỉnh suy nghĩ, tình cảm vàhành động của các cá nhân trong cộng đồng [90]

Khi xã hội phát triển và hình thành sự phân công lao động, các cá nhânkhông nhất thiết thực hiện những nhiệm vụ giống nhau và cũng không cầnthiết phải chia sẻ cùng một quan điểm thì sự gắn kết của các cá nhân không vìthế mà tan rã Kiểu đoàn kết hữu cơ dần được hình thành và phát triển Đoànkết hữu cơ là kiểu đoàn kết dựa trên sự phong phú, đa dạng của các mối liên

hệ, tương tác giữa các cá nhân và các bộ phận cấu thành nên xã hội Trongkiểu đoàn kết hữu cơ, tính chất và mức độ chuyên môn hóa càng cao thì các

bộ phận trong xã hội càng phụ thuộc, gắn bó và đoàn kết chặt chẽ với nhau.Các quan hệ xã hội chủ yếu mang tính chất trao đổi và được luật pháp, khếước xã hội kiểm soát và bảo vệ [124], [102]

Dùng ánh sáng của khái niệm đoàn kết xã hội của Durkheim vào thực

tiễn xã hội, chúng ta thừa nhận rằng sự liên kết của các hộ nông dân để hình

thành các nhóm và tổ chức hợp tác nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của cá nhân, của hộ gia đình, của cộng đồng, của xã hội… là xu hướng tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội.

b Liên kết kinh tế và liên kết phi kinh tế

Khi đề cập đến liên kết của nông dân trong sản xuất nông nghiệp hàng

hóa tức là đề cập đến liên kết kinh tế Liên kết kinh tế là sự chủ động nhận

Trang 40

thức và thực hiện mối liên hệ kinh tế khách quan giữa các chủ thể kinh tếtrong nền kinh tế xã hội, nhằm thực hiện mối quan hệ phân công và hợp táclao động để đạt lợi ích kinh tế [21]

Xã hội nông dân một phần mang đặc trưng của các hoạt động phi kinh

tế Nhiều trao đổi qua lại giữa các gia đình nông dân bắt nguồn từ mối quan

hệ tình cảm nên nó không tuân thủ quy tắc “ngang giá” Ví dụ, nông dân Atặng cho nông dân B một số tàu lá dừa để lợp lại căn bếp Đến khi thu hoạchthanh long, nông dân B chọn lựa những trái ngon nhất mang biếu nông dân Ađể tỏ lòng biết ơn Các tặng phẩm hoặc sản vật trao đổi không giống nhautrong mọi trường hợp Cách thức trao đổi qua lại cũng không giống nhau,không lặp lại Sự liên kết kiểu này được hình thành trên nền tảng tinh thầnthiện nguyện và không được ràng buộc bởi khế ước, hợp đồng hay cam kếtthỏa thuận Sự liên kết phi kinh tế được tạo lập và duy trì nhằm đảm bảo chotất cả các thành viên của cộng đồng tồn tại được, không phụ thuộc vào cáchoạt động sản xuất hàng năm của từng gia đình

Mối quan tâm chính của luận án là các mối liên kết kinh tế trong sản

xuất hàng hóa của nông dân Mặc dù các mối liên kết kinh tế được đảm bảo

bằng các khế ước xã hội (chính thức hoặc phi chính thức), nhưng nó chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các đặc tính của mối quan hệ phi kinh tế như tâm lý “có qua có lại”, tính cộng đồng, lòng tin …đặc thù của xã hội nông dân

c Liên kết dọc và liên kết ngang

Dưới một góc độ khác, mối liên kết kinh tế có thể được chia thành hai

loại: liên kết dọc và liên kết ngang Liên kết dọc là liên kết giữa hai hay nhiều

chủ thể tham gia những khâu khác nhau trong chuỗi giá trị hàng hóa Nôngdân liên kết với doanh nghiệp để sản xuất theo hợp đồng, để mua vật tư nôngnghiệp hay tiêu thụ nông sản, để góp vốn cổ phần, liên doanh, liên kết vớidoanh nghiệp bằng quyền sử dụng đất của mình [61] Hộ nông dân với diệntích canh tác nhỏ hầu như không có cơ hội tham gia vào liên kết dọc

Ngày đăng: 04/12/2013, 10:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Nguyên Anh (1997), “Về vai trò di cư nông thôn - đô thị trong sự nghiệp PTNT hiện nay”, Tạp chí Xã hội học, số 1/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vai trò di cư nông thôn - đô thị trong sự nghiệp PTNT hiện nay”, "Tạp chí Xã hội học
Tác giả: Đặng Nguyên Anh
Năm: 1997
2. Nguyễn Tuấn Anh (2011), “Vốn xã hội và sự cần thiết nghiên cứu vốn xã hội ở nông thôn Việt Nam hiện nay”, bài viết trong khuôn khổ đề tài Vốn xã hội và vai trò của nó trong việc thích ứng và phát triển kinh tế ở nông thôn Bắc Trung Bộ trong thời kỳ đổi mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn xã hội và sự cần thiết nghiên cứu vốn xã hội ở nông thôn Việt Nam hiện nay”, bài viết trong khuôn khổ đề tài
Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh
Năm: 2011
3. Ban Chấp hành trung ương khóa IX, Hội nghị lần thứ năm (2002), Nghị quyết số 13 -NQ/TW về “tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể” ngày 18 tháng 03 năm 2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị "quyết số 13 -NQ/TW về “tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể”
Tác giả: Ban Chấp hành trung ương khóa IX, Hội nghị lần thứ năm
Năm: 2002
4. Ban Chấp hành trung ương khóa X, Hội nghị lần thứ bảy (2008), Nghị quyết số 26-NQ/TW về “nông nghiệp, nông dân và nông thôn” ngày 5 tháng 8 năm 2008, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 26-NQ/TW về “nông nghiệp, nông dân và nông thôn”
Tác giả: Ban Chấp hành trung ương khóa X, Hội nghị lần thứ bảy
Năm: 2008
5. Bộ Kế hoạch – Đầu tư (2010), Báo cáo tổng kết thi hành luật HTX năm 2003, kèm theo tờ trình số 107 /TTr-CP, ngày 07 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết thi hành luật HTX năm 2003, kèm theo tờ trình số 107 /TTr-CP, ngày 07 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ
Tác giả: Bộ Kế hoạch – Đầu tư
Năm: 2010
6. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2011), Báo cáo về việc triển khai thực hiện Quyết định 80/2002/QĐ-TTg Thủ tướng Chính phủ về khuyến khích tiêu thụ nông sản qua hợp đồng, ngày 27 tháng 10 năm 2012 Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về việc triển khai thực hiện Quyết định 80/2002/QĐ-TTg Thủ tướng Chính phủ về khuyến khích tiêu thụ nông sản qua hợp đồng
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Năm: 2011
7. Đào Xuân Cần, …, Võ Thị Kim Sa (biên dịch) (2012), Phong trào hợp tác xã một số nước trên thế giới và Việt Nam, Nhà Xuất bản Thông tin vàtruyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào hợp tác xã một số nước trên thế giới và Việt Nam
Tác giả: Đào Xuân Cần, …, Võ Thị Kim Sa (biên dịch)
Năm: 2012
8. Nguyễn Duy Cần, Võ Hồng Tú và Nguyễn Văn Sánh (2011), “Liên kết “4 nhà” trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo: trường hợp nghiên cứu ở tỉnh An Giang”, Tạp chí Khoa học Đại học Vĩnh Long, số 2011:20a, Vĩnh Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết “4 nhà” trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo: trường hợp nghiên cứu ở tỉnh An Giang”, "Tạp chí Khoa học Đại học Vĩnh Long
Tác giả: Nguyễn Duy Cần, Võ Hồng Tú và Nguyễn Văn Sánh
Năm: 2011
9. Trần Thị Quỳnh Chi (2010), Nghiên cứu cơ sở khoa học thành lập HTX và hiệp hội người sản xuất cà phê Việt Nam- 2010, Đề tài cấp Viện, Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học thành lập HTX và hiệp hội người sản xuất cà phê Việt Nam- 2010
Tác giả: Trần Thị Quỳnh Chi
Năm: 2010
10. Chính phủ (2007), Nghị định 151/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2007 về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 151/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2007 về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
11. Công ty Bảo vệ thực vật An Giang (2011), Báo cáo tổng kết vùng nguyên liệu của nhà máy Vĩnh Bình, An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết vùng nguyên liệu của nhà máy Vĩnh Bình
Tác giả: Công ty Bảo vệ thực vật An Giang
Năm: 2011
12. Nguyễn Mạnh Cường (2008), Các nguyên tắc cơ bản để hình thành và quản trị các tổ chức dân sự tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nguyên tắc cơ bản để hình thành và quản trị các tổ chức dân sự tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường
Năm: 2008
13. Bùi Quang Dũng (2007), “Xã hội dân sự: khái niệm và các vấn đề”, Tạp chí triết học số 2), tr. 35-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội dân sự: khái niệm và các vấn đề”, "Tạp chí triết học
Tác giả: Bùi Quang Dũng
Năm: 2007
14. Bùi Quang Dũng (2007), Xã hội học nông thôn, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học nông thôn
Tác giả: Bùi Quang Dũng
Năm: 2007
15. Bùi Quang Dũng (2009), Kinh tế nông dân: khái niệm và các vấn đề, Tạp chí Xã hội học, số 4 108) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế nông dân: khái niệm và các vấn đề
Tác giả: Bùi Quang Dũng
Năm: 2009
16. Bùi Quang Dũng, Đặng Thị Việt Phương (2011), “Một số vấn đề về ruộng đất qua cuộc điều tra nông dân 2009 – 2010”, bài tham luận trình bày trong ngày Xã hội Nam Bộ năm 2011, Bình Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về ruộng đất qua cuộc điều tra nông dân 2009 – 2010”
Tác giả: Bùi Quang Dũng, Đặng Thị Việt Phương
Năm: 2011
17. Hương Trần Kiều Dung, Isabelle Maguer và đồng nghiệp (2009), Phong trào HTX ở Việt Nam, dự án Gret/AID-Cooperative Tổ chức nghiên cứu chuyển giao công nghệ Pháp), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào HTX ở Việt Nam
Tác giả: Hương Trần Kiều Dung, Isabelle Maguer và đồng nghiệp
Năm: 2009
18. Trần Hữu Dũng (2006). “Vốn xã hội và phát triển kinh tế”, Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn tổ chức, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn xã hội và phát triển kinh tế”, "Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn tổ chức
Tác giả: Trần Hữu Dũng
Năm: 2006
19. Endruweit G., Trommsdorff do PGS. TS. Trịnh Duy Luân và nhóm nghiên cứu Xã hội học thực hiện dự án dịch thuật (2002), Từ điển Xã hội học, Nhà Xuất bản Thế giới, Hà Nội (trang 188 – 189) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Xã hội học
Tác giả: Endruweit G., Trommsdorff do PGS. TS. Trịnh Duy Luân và nhóm nghiên cứu Xã hội học thực hiện dự án dịch thuật
Năm: 2002
20. Frank Ellisdo, Vũ Trọng Khải và nhóm đồng nghiệp dịch (1993), Kinh tế hộ gia đình nông dân và phát triển nông nghiệp, Nhà xuất bản Nông nghiệp (trang 14) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hộ "gia đình nông dân và phát triển nông nghiệp
Tác giả: Frank Ellisdo, Vũ Trọng Khải và nhóm đồng nghiệp dịch
Năm: 1993

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1-1: Cơ chế hình thành hành động lựa chọn cấp độ liên kết - Sự liên kết của nông dân vùng tây   nam bộ trong các nhóm và tổ chức hợp tác để phát triển nông nghiệp hàng hóa
Hình 1 1: Cơ chế hình thành hành động lựa chọn cấp độ liên kết (Trang 30)
Hình 1-2: Sự tiến hóa của các cấp độ liên kết - Sự liên kết của nông dân vùng tây   nam bộ trong các nhóm và tổ chức hợp tác để phát triển nông nghiệp hàng hóa
Hình 1 2: Sự tiến hóa của các cấp độ liên kết (Trang 41)
Hình 1-3: Vị trí của hợp tác xã trong không gian xã hội [51] - Sự liên kết của nông dân vùng tây   nam bộ trong các nhóm và tổ chức hợp tác để phát triển nông nghiệp hàng hóa
Hình 1 3: Vị trí của hợp tác xã trong không gian xã hội [51] (Trang 43)
Hình 1-4: Quy trình triển khai nghiên cứu - Sự liên kết của nông dân vùng tây   nam bộ trong các nhóm và tổ chức hợp tác để phát triển nông nghiệp hàng hóa
Hình 1 4: Quy trình triển khai nghiên cứu (Trang 47)
Hình 1-5: Các cấp độ liên kết của nông dân trong sản xuất nông nghiệp - Sự liên kết của nông dân vùng tây   nam bộ trong các nhóm và tổ chức hợp tác để phát triển nông nghiệp hàng hóa
Hình 1 5: Các cấp độ liên kết của nông dân trong sản xuất nông nghiệp (Trang 48)
Bảng 2-5: Bảng so sánh ba mô hình liên kết tương ứng với ba dòng tư tưởng Mô hình liên kết - Sự liên kết của nông dân vùng tây   nam bộ trong các nhóm và tổ chức hợp tác để phát triển nông nghiệp hàng hóa
a ̉ng 2-5: Bảng so sánh ba mô hình liên kết tương ứng với ba dòng tư tưởng Mô hình liên kết (Trang 56)
Hình  2 -6 thể hiện sự thăng trầm của hợp tác xã và gắn với mỗi giai  đoạn phát triển khác nhau là sự biến chuyển trong tư duy về nhận thức bản  chất hợp tác xã và vai trò của nó trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước - Sự liên kết của nông dân vùng tây   nam bộ trong các nhóm và tổ chức hợp tác để phát triển nông nghiệp hàng hóa
nh 2 -6 thể hiện sự thăng trầm của hợp tác xã và gắn với mỗi giai đoạn phát triển khác nhau là sự biến chuyển trong tư duy về nhận thức bản chất hợp tác xã và vai trò của nó trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước (Trang 66)
Hình 3-7: Lý do chính mà nông dân liên kết vào các tổ chức hợp tác phân  theo loại hành động xã hội của Weber - Sự liên kết của nông dân vùng tây   nam bộ trong các nhóm và tổ chức hợp tác để phát triển nông nghiệp hàng hóa
Hình 3 7: Lý do chính mà nông dân liên kết vào các tổ chức hợp tác phân theo loại hành động xã hội của Weber (Trang 76)
Hình 3-9: Sự tương quan giữa một vài nhân tố với mức độ liên kết của  nông dân - Sự liên kết của nông dân vùng tây   nam bộ trong các nhóm và tổ chức hợp tác để phát triển nông nghiệp hàng hóa
Hình 3 9: Sự tương quan giữa một vài nhân tố với mức độ liên kết của nông dân (Trang 122)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w