Tính cấp thiết của đề tài Trong tiến trình đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa “vì mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ
Trang 1-
LÊ MAI HƯƠNG
TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC NHÂN SINH CỦA HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG
LÊ HỮU TRÁC
Chuyên ngành : TRIẾT HỌC
Mã số : 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS TRỊNH DOÃN CHÍNH
TP HỒ CHÍ MINH - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu Kết quả
nghiên cứu là trung thực và chưa được ai công bố
Người cam đoan
LÊ MAI HƯƠNG
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn 5
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 6
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 6
6 Kết cấu của luận văn 7
PHẦN NỘI DUNG Chương 1 : ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG LÊ HỮU TRÁC 8
1.1 Điều kiện lịch sử xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII với sự hình thành tư tưởng của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác 8
1.1.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh (Lê trung hưng) 8
1.1.2 Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh 14
1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác 24
1.2.1 Văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam với sự hình thành tư tưởng Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác 24
1.2.2 Ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống xã hội Việt Nam và sự hình thành tư tưởng Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác 30
Trang 41.2.3 Học thuyết âm dương - ngũ hành với sự hình thành tư tưởng
của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác 44
1.3 Cuộc đời và sự nghiệp của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác 51
1.3.1 Cuộc đời của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác 52
1.3.2 Sự nghiệp của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác 61
Kết luận chương 1 65
Chương 2 : NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ TRONG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC NHÂN SINH CỦA HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG LÊ HỮU TRÁC 67
2.1 Thế giới quan và phương pháp luận triết học - cơ sở hình thành những quan niệm về đạo đức nhân sinh trong tư tưởng của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác 67
2.1.1 Vấn đề bản chất của thế giới trong tư tưởng của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác 68
2.1.2 Vấn đề phương pháp luận trong tư tưởng của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác 78
2.2 Quan điểm về đạo đức nhân sinh - vấn đề chủ đạo trong tư tưởng của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác 87
2.2.1 Những vấn đề về nhân sinh quan trong tư tưởng của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác 88
2.2.2 Những quan điểm về đạo đức trong tư tưởng của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác 98
2.2.3 Quan điểm về chính trị, xã hội trong tư tưởng của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác 106
Trang 52.3 Giá trị và ý nghĩa lịch sử trong tư tưởng đạo đức nhân sinh
của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác 116
2.3.1 Giá trị tư tưởng đạo đức nhân sinh của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác trong sự phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam 117
2.3.2 Ý nghĩa lịch sử trong tư tưởng đạo đức nhân sinh của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác 123
Kết luận chương 2 127
KẾT LUẬN CHUNG 130
PHỤ LỤC 133
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa “vì mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [14, tr.99] cùng với các nhiệm vụ trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, củng cố an ninh - quốc phòng, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh quan hệ quốc tế, phát triển khoa học - công nghệ… Đảng, Nhà nước và nhân dân ta còn có một nhiệm vụ không kém phần quan trọng đó là giữ gìn, xây dựng và phát triển nền văn hóa truyền thống của dân tộc - nền tảng tinh thần của xã hội Bởi lẽ, một đất nước muốn phát triển hài hòa và bền vững cần phải có sự phát triển một cách
đồng bộ cả về kinh tế, chính trị và văn hóa - xã hội Trong Phương hướng,
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 do Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ X đã viết: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh
tế quốc tế Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội” [13, tr.213] Chính vì thế, việc tìm hiểu, nghiên cứu và phát huy những giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc, từ đó vạch ra ý nghĩa lịch
sử to lớn của nó đối với cuộc sống hôm nay là một việc làm hết sức cần thiết
Theo xu thế phát triển tất yếu của nhân loại, đất nước ta cũng đang trong tiến trình hội nhập, giao lưu và hợp tác quốc tế trên tất cả các lĩnh vực Người dân Việt Nam có cơ hội được giao lưu, tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến cũng như với nhiều nền văn hóa khác
Trang 7nhau trên thế giới Vấn đề đặt ra là làm thế nào để một mặt vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa của thời đại; mặt khác phải bảo tồn những giá trị truyền thống của dân tộc Đây thực sự là một thách thức to lớn với Đảng và nhân dân ta Nhận thức được tầm quan trọng về vai trò của sự phát triển văn hóa đối với sự phát triển xã hội, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa
là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển xã hội.” [12, tr.110], “Trong điều kiện kinh tế thị trường và mở cửa giao lưu quốc tế phải đặc biệt giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và tiếp thu truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc Tiếp thu tinh hoa của các dân tộc trên thế giới, làm giàu đẹp thêm nền văn hóa Việt Nam” [12, tr.111] Vì vậy, việc kế thừa, tiếp thu, chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại trên cơ sở bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hóa tinh thần của cha ông ta để lại là vấn
đề đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học
Tư tưởng Việt Nam là một bộ phận của nền văn hóa truyền thống dân tộc Trong tiến trình hình thành và phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam, giai đoạn thế kỷ XVII - XVIII là một trong những giai đoạn đặc biệt, bởi đó là thời kỳ khủng hoảng với cuộc chiến Nam - Bắc triều đến Trịnh - Nguyễn phân tranh Ở giai đoạn này đã xuất hiện nhiều nhà tư tưởng lỗi lạc như: Hương Hải thiền sư, Chân Nguyên thiền sư, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm… và một đại diện tiêu biểu nữa là Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác Ông được biết đến không chỉ là một đại danh y với công trình y học
đồ sộ, mà ông còn là một nhà tư tưởng xuất sắc tiến bộ, thấm nhuần tinh thần nhân đạo và tính chất nhân văn sâu sắc Chính những thành tựu đó đã
Trang 8khẳng định vị trí của ông trong lịch sử y học cũng như trong lịch sử tư tưởng dân tộc Do đó việc nghiên cứu tư tưởng của ông về mặt đạo đức, nhân sinh để từ đó rút ra những bài học lịch sử, là vấn đề có ý nghĩa nhất định với sự nghiệp giáo dục con người Việt Nam trong quá trình phát triển
và hội nhập quốc tế hiện nay
Xuất phát từ những lý do như trên tôi chọn đề tài: “Tư tưởng đạo
đức nhân sinh của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác” làm luận văn
Thạc sỹ triết học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Là một đại danh y, một nhà tư tưởng lớn ở thế kỷ XVII - XVIII, cuộc đời và tư tưởng của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học với các công trình phong phú khác nhau từ trước tới nay Có thể khái quát các công trình đó theo các hướng chủ yếu sau:
Thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về tư tưởng triết học
của Lê Hữu Trác trong tiến trình phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVII-XVIII Trong đó có các công trình tiêu biểu như:
Lịch sử tư tưởng Việt Nam của tác giả Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993; Lịch sử tư tưởng Việt Nam của Nguyễn Đăng Thục, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1992, tập VI - VII; Đại cương lịch sử
tư tưởng triết học Việt Nam của Nguyễn Hùng Hậu (chủ biên) - Doãn
Chính - Vũ Văn Gầu, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, 2002 … Tác phẩm
Lịch sử tư tưởng Việt Nam do tác giả Nguyễn Tài Thư làm chủ biên đã
dành một chương với tiêu đề “ Lê Hữu Trác - Nhà tư tưởng lớn trưởng thành từ nghiệp y” để trình bày, phân tích và đánh giá những quan điểm, những tư tưởng của Lê Hữu Trác trong quá trình làm nghề y Nguyễn Tài Thư đã viết: “Lê Hữu Trác là một hiện tượng đặc biệt ở thế kỷ XVIII Tự mình đi con đường riêng Tự mình ý thức được đầy đủ việc làm của mình
Trang 9Không sợ người khác, không sợ khó khăn vất vả, nói lên tiếng nói tự đáy lòng Chính vì vậy mà cả thế giới quan và nhân sinh quan đều đạt tới đỉnh cao của tư tưởng, của tư duy và lối sống, có ảnh hưởng lớn đối với đương
thời và hậu thế.” [45, tr.459] Trong Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập VI - VII,
Nguyễn Đăng Thục bàn về sự khủng hoảng của ý thức hệ phong kiến xã hội Việt Nam trong giai đoạn này, đưa đến sự xuất hiện của một số các nhà
tư tưởng tiêu biểu như: Hương Hải thiền sư, Chân Nguyên thiền sư, Lê Quý
Đôn, Lê Hữu Trác…; tác giả Nguyễn Hùng Hậu trong tác phẩm Đại cương
lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam đã trình bày một cách khái quát tư
tưởng triết học của Lê Hữu Trác, và đưa ra nhận xét: “Nhìn chung, tư tưởng của ông có những yếu tố duy vật và biện chứng nhưng tương đối đơn giản theo kiểu âm dương ngũ hành” [19, tr.203]
Thứ hai, ở lĩnh vực nghiên cứu về y học cũng có khá nhiều các
công trình viết về sự nghiệp y học của Lê Hữu Trác Điển hình có các tác
phẩm: Thân thế và sự nghiệp y học của Hải Thượng Lãn Ông, tác giả Lê Trần Đức, Nxb Y học và Thể dục thể thao, Hà Nội, 1966; Hải Thượng Lãn
Ông và tác phẩm Lãn Ông tâm lĩnh của GS,BS Nguyễn Văn Thang, Nxb
Y học, 1998; Sách thuốc Việt Nam do Nguyễn Văn Minh dịch, Nxb Khai
Trí, 1971; Hải Thượng Lãn Ông - Nữ công thắng lãm do Lê Trần Đức biên
dịch, Nxb Phụ Nữ, 1971… Đây là những tác phẩm tập hợp, phiên dịch, chú giải những bài thuốc, những phương pháp chữa bệnh của Lê Hữu Trác
để truyền tải đến người đọc Bộ sách Hải Thượng Y tông tâm lĩnh gồm 4
tập, Nxb Y học, Hà Nội, 2005 Bốn tập Y tông tâm lĩnh khái quát toàn bộ công trình nghiên cứu của Lê Hữu Trác về y học gồm 28 tập và 66 quyển; đồng thời cũng chứa đựng triết lý âm - dương, những đạo lý của người thầy thuốc
Thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu về Lê Hữu Trác trên lĩnh
vực văn hóa Những nghiên cứu về ông ở lĩnh văn hóa gồm có: Hải
Trang 10Thượng Lãn Ông - Nhà y học lớn, nhà văn hóa lớn của GS, BS Nguyễn
Văn Thang, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1995; Danh nhân y học Việt
Nam của tác giả Lê Minh Quốc, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2000; Nguyễn
Dữ - Lê Hữu Trác - Ngô Gia Văn Phái - Phạm Thái - Lê Thánh Tông: Tuyển chọn và trích dẫn những bài phê bình, bình luận văn học của các nhà văn, nhà nghiên cứu của Việt Nam và thế giới do Vũ Tiến Quỳnh làm
chủ biên, Nxb Văn nghệ, 1994; Mấy suy nghĩ về thơ văn Lê Hữu Trác, Tạp chí Văn học tháng 9 năm 1964 của tác giả Nguyễn Huệ Chi; Một nhà danh
nho và danh y của nước ta ngày xưa, tác giả Nguyễn Trọng Thuật, Tạp chí
Nam Phong số 69-70 và 77-80 năm 1923-1924 Đây là các công trình nghiên cứu về Lê Hữu Trác trong lĩnh vực văn hóa - văn học
Các công trình nghiên cứu về Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác tuy chỉ là bước đầu nhưng đây thực sự là tài liệu quý báu để tác giả kế thừa, học tập Lê Hữu Trác không chỉ là một danh y, một nhà tư tưởng mà ông còn là một nhà thơ, một nhà văn lớn Với trí tuệ và học thức uyên thâm của mình, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác để lại trong lòng người đọc sự thán phục, lòng ngưỡng mộ về tài năng và y đức của ông Trong luận văn này người viết chỉ trình bày và phân tích những tư tưởng cơ bản trên cơ sở
kế thừa những thành tựu đi trước với mong muốn làm sáng tỏ hơn những giá trị cao cả mà tư tưởng Lê Hữu Trác để lại
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích:
Đề tài được nghiên cứu với mục đích tìm hiểu những quan điểm của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác về thế giới, nhân sinh, đạo đức, chính trị, xã hội; từ đó rút ra những giá trị và ý nghĩa lịch sử tư tưởng của ông đối với sự hình thành và phát triển của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam nói chung cũng như với thực tiễn y học nước ta nói riêng
Nhiệm vụ:
Trang 11Để đạt được mục đích mà đề tài đặt ra, người viết phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, trình bày và phân tích bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam
ở thời kỳ thế kỷ XVII - XVIII, thời kỳ khủng hoảng trong lịch sử nước nhà, thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, cơ sở xã hội hình thành tư tưởng của Lê Hữu Trác
Trình bày, phân tích đặc điểm đời sống văn hóa tinh thần xã hội Việt Nam thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, tiền đề lý luận hình thành tư tưởng của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác
Thứ hai, trình bày và phân tích tư tưởng cơ bản của Hải Thượng
Lãn Ông Lê Hữu Trác qua các vấn đề thế giới quan, nhân sinh quan, các quan điểm về đạo đức, chính trị, xã hội… Từ đó đánh giá và rút ra ý nghĩa lịch sử của nó đối với sự hình thành tư tưởng triết học Việt Nam
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời luận văn còn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp lịch sử và lô-gic, đối chiếu so sánh… để nghiên cứu và trình bày luận văn
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Về mặt khoa học, qua việc tìm hiểu, nghiên cứu tư tưởng của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác với những nội dung cơ bản về vấn đề nhân sinh, đạo đức, chính trị, xã hội…giúp người đọc hiểu một cách hệ thống tư tưởng của Hải Thượng Lãn Ông Những giá trị nhân văn, tinh thần nhân đạo trong những triết lý chữa bệnh của ông mà luận văn rút ra góp phần làm sáng tỏ thêm vai trò của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác trong quá trình hình thành lịch sử tư tưởng Việt Nam; đặc biệt là trong giai đoạn thế
kỷ XVII-XVIII, giai đoạn khủng hoảng trong lịch sử Việt Nam
Trang 12Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên chuyên ngành Triết học, Sử học, Văn hóa học và những ai quan tâm, muốn tìm hiểu về lịch sử tư tưởng Việt Nam, đặc biệt về tư tưởng đạo đức nhân sinh của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo; đề tài được trình bày thành 2 chương và 6 tiết
Trang 13Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG LÊ HỮU TRÁC
1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ XÃ HỘI VIỆT NAM THẾ KỶ XVII - XVIII VỚI
SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG LÊ HỮU TRÁC
Quá trình phát triển lịch sử tư tưởng của dân tộc Việt Nam luôn gắn liền và chịu sự chi phối bởi tiến trình phát triển kinh tế, chính trị và
xã hội của đất nước Đó chính là sự phản ánh tồn tại xã hội của ý thức xã hội Tồn tại xã hội nào thì ý thức xã hội ấy, tồn tại xã hội quyết định nội dung, tính chất, đặc điểm, xu hướng phát triển của các hình thái ý thức
xã hội Chính vì thế, từng giai đoạn phát triển của lịch sử kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam cũng sẽ có hệ tư tưởng đặc trưng phản ánh nó Đúng như C Mác và Ph Ăngghen đã nói: “Chính con người khi phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình, đã làm biến đổi cùng với hiện thực đó của mình cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình Không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức” [27, tr.38] Trong các thời kỳ lịch sử Việt Nam, giai đoạn Trịnh - Nguyễn phân tranh được đánh giá là thời kỳ sôi động nhất với nhiều diễn biến phức tạp, nhiều mâu thuẫn chính trị đan xen, tất yếu dẫn đến sự ra đời của nhiều khuynh hướng tư tưởng khác nhau hay chính là các hình thái ý thức xã hội Trong bối cảnh rối ren đó, đã xuất hiện nhiều nhà tư tưởng với những khuynh hướng khác nhau, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác là một trong số đó
1.1.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh (Lê trung hưng)
Sau khi vua Lê Hiến Tông băng hà, chính quyền nhà Lê thực sự suy kiệt Năm 1522, Thái phó Nhân quốc công Mạc Đăng Dung tự quyền
Trang 14phế vua Chiêu Tông, lập Lê Xuân (Cung Hoàng) lên làm vua Đến năm
1527, Mạc Đăng Dung bức vua Lê phải nhường ngôi, lập ra nhà Mạc Chính quyền nhà Mạc cố gắng củng cố, ổn định tình hình chính trị, giữ vững an ninh trong nước; mong muốn nhanh chóng tạo ra một lớp người
có học thức mới trung thành với nhà nước mới bằng cách mở khoa thi Hội để chiêu mộ nhân tài Nhưng trước tình hình rối loạn trong nước, thêm vào đó là sự phá hoại của phong kiến phương Bắc, Mạc Đăng Dung
tỏ ra lúng túng, sợ hãi khiến cho nhân dân và nhiều quan lại chán nản, phẫn nộ Nhà Mạc dần rơi vào thế cô lập; tệ nạn tham nhũng, hạch sách nhân dân ngày càng lan rộng và gia tăng trong hàng ngũ quan lại
Kể từ khi nhà Mạc lên nắm quyền, nhiều quan lại cũ trong triều đình nhà Lê đã phản ứng kịch liệt, các phe phái phong kiến đối lập núp dưới chiêu bài khôi phục nhà Lê nổi lên ở nhiều nơi Năm 1532, An Thành hầu Nguyễn Kim dựa vào sự giúp đỡ của vua Ai Lao, mộ quân luyện tập và tôn một người con của vua Chiêu tông tên là Ninh lên làm vua Một triều đình mới của nhà Lê hình thành ở Thanh Hóa, sử gọi là Nam Triều để phân biệt với Bắc Triều của nhà Mạc Cuộc chiến tranh giữa Nam Triều và Bắc Triều kéo dài hơn 60 năm gây ra biết bao cảnh đau thương, tang tóc, mùa màng bị tàn phá, già trẻ bồng bế nhau chạy tan tác, kêu khóc, chết đói đầy đường Đỉnh điểm của cuộc chiến tranh Nam
- Bắc Triều là trận đánh xảy ra vào năm 1592, Trịnh Tùng đem quân tiến
ra Bắc khiến nhà Mạc thua to Cuộc chiến kết thúc, nhà Mạc sụp đổ Đất Thăng Long rơi vào tay Nam Triều
Tuy cuộc chiến của Nam - Bắc Triều kết thúc, nhưng lại châm ngòi cho sự bùng nổ cuộc chiến tranh mới, đó là sự phân liệt Đàng Trong - Đàng Ngoài Năm 1545, sau khi Nguyễn Kim bị tướng nhà Mạc đầu độc giết hại, Trịnh Kiểm được đưa lên thay thế, chỉ huy mọi việc Người con thứ của Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng thấy Trịnh Kiểm có ý muốn đoạt
Trang 15quyền họ Nguyễn, bèn theo sự gợi ý của trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhờ chị mình là Ngọc Bảo (vợ của Trịnh Kiểm) xin cho vào trấn đất Thuận Hóa và được vua chấp thuận Năm 1558, Nguyễn Hoàng đặt dinh cơ ở làng Ái Tử tỉnh Quảng Trị Ông là người khôn ngoan lại có tính nhân đức, thu nhận được nhiều hào kiệt, lòng người ai cũng mến Đến năm 1559, Nguyễn Hoàng được vua cho vào trấn cả đất Quảng Nam
mở rộng thêm địa giới cai quản của họ Nguyễn Với vị trí trọng điểm chiến lược, Thuận Quảng đã được nhà Nguyễn đầu tư khai phá, xây dựng thành cơ sở cát cứ của mình Thuận Quảng là vùng đất đã được sát nhập vào lãnh thổ của Đại Việt từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV Trong thời Lê
sơ, Thuận Quảng là vùng đất xa xôi dùng làm nơi đày ải của những tù nhân
bị ghép và tội lưu viễn châu và lưu cận châu Nhà Lê đã sử dụng những tội nhân và những tù binh bắt được trong các cuộc chiến tranh với Trung Quốc
và Chiêm Thành để tiến hành chính sách khai khẩn đất đai lập đồn điền Trong số 43 đồn điền được thiết lập dưới thời Lê sơ đã có tới 4 sở thuộc về vùng đất Thuận Quảng, đó là Triệu Phong, Tân Bình, Thăng Hoa và Tư Nghĩa Vào thời Minh thuộc, phủ Tân Bình mới có 37 xã, 2.132 hộ gia đình, 4.738 nhân khẩu; phủ Thuận Hóa mới có 2 châu (Thuận châu và Hóa châu) 11 huyện, 79 xã, 1.470 gia đình, 5.662 nhân khẩu, thì đến sau đời Hồng Đức, riêng thừa tuyên Thuận Hóa đã có tới 2 phủ, 8 huyện, 4 châu,
90 tổng, 74 xã, 7 thôn, 26 trang Riêng thừa tuyên Quảng Nam mới thành lập từ năm 1471 cũng đã có tới 3 phủ, 9 huyện, 68 tổng, 485 xã Miền đất Thuận Quảng có lịch sử khai thác lâu đời nhưng cho đến thế kỷ XVI, vùng đất này vẫn bị coi là vùng biên viễn xa xôi, xứ sở đày ải của những tội nhân
và những tù binh Đặc biệt về trình độ kinh tế ở đây còn rất lạc hậu và thấp kém Cho đến thời Mạc, phú thuế đất Ô Châu chỉ toàn là các loại lâm thổ sản và các sản phẩm tự nhiên Ngày vùng đất Quảng Nam mới sát nhập, tuy đồng ruộng rộng lớn hơn, sản phẩm phong phú hơn, nhưng nói chung đời
Trang 16sống kinh tế ở đây hãy còn thấp kém Tuy tình hình kinh tế ở Thuận Quảng còn lạc hậu nhưng vùng đất này lại vẫn còn nhiều khả năng khai thác và phát triển Đó là điều kiện tốt cho họ Nguyễn xây dựng cơ sở cát cứ Thời gian đầu chính sách của họ Nguyễn, bên ngoài vẫn giữ đầy đủ quan hệ thần thuộc với Nam triều, giúp họ Trịnh tiêu diệt kẻ thù chung là nhà Mạc Nhưng bên trong họ Nguyễn đã lo khai thác và xây dựng Thuận Quảng thành một vùng kinh tế độc lập thực hiện ý đồ cát cứ lâu dài và củng cố địa
vị thống trị của dòng họ ngay trên mảnh đất mới khai phá Khi vào trấn thủ Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng đã đem theo những người đồng hương ở Tống Sơn và những người nghĩa dũng ở Thanh Hóa cùng đi Những người này, vào buổi ban đầu đã đóng một vai trò quan trọng trong việc khai phá đất đai, đồng thời họ cũng là chỗ dựa tinh cậy của Nguyễn Hoàng Sau khi ổn định tình hình ở đây, Nguyễn Hoàng đã đem quân ra Thăng Long giúp vua Lê suốt 8 năm để dẹp tàn quân của nhà Mạc; đồng thời cũng trấn áp các cuộc nổi dậy chống lại họ Trịnh ở Đại An Năm 1600, Nguyễn Hoàng trở về Thuận Quảng và từ đó tách khỏi triều Lê - Trịnh Để thoát khỏi sự nghi ngờ của chúa Trịnh, Nguyễn Hoàng đã gả con gái Ngọc Tú cho Trịnh Tráng (con của Trịnh Tùng); cho con trai là Nguyễn Phúc Nguyên vào trấn giữ Quảng Nam, còn mình giữ đất Thuận Hóa Bên ngoài Trịnh - Nguyễn thì giả vờ hòa hiếu, nhưng bên trong đã ngấm ngầm chuẩn bị cho cuộc chiến lâu dài và ác liệt gần 50 năm
Nguyễn Phúc Nguyên lên nối nghiệp cha sau khi Nguyễn Hoàng chết vào năm 1613 Ông tổ chức lại chính quyền, chỉ nộp phú thuế theo
lệ, chuẩn bị đồn lũy kiên cố, lương thảo đầy đủ Năm 1620, họ Trịnh đem quân vào Thuận Hóa, Nguyễn Phúc Nguyên không chịu nộp thuế nữa, lấy cớ đó họ Trịnh lại đem quân vào đánh Thuận Hóa vào năm
1627, mở màn cho cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn Như vậy, từ năm
1600, mâu thuẫn giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn đã phát
Trang 17triển tới mức độ gay gắt Thêm vào đó việc Nguyễn Phúc Nguyên lên thay Nguyễn Hoàng càng đẩy nhanh công cuộc cát cứ và cắt đứt dần quan hệ lệ thuộc vào họ Trịnh Quan hệ giữa hai bên càng trở nên căng thẳng Hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn đã chia cắt đất nước và
xô đẩy nhân dân vào cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn” Sự tranh chấp quyền lực giữa hai họ Trịnh - Nguyễn bắt nguồn từ khi Trịnh Kiểm nắm toàn bộ binh quyền, ám hại Nguyễn Uông Cả hai phe đều mượn danh vua Lê để lấn át tiêu diệt lẫn nhau, chính sự tranh giành quyền lực như thế đã làm cho mâu thuẫn giữa hai dòng họ càng trở nên sâu sắc Mâu thuẫn đó chính là nguyên nhân cốt lõi cho việc bùng nổ chiến sự Đỉnh điểm cuộc chiến giữa hai tập đoàn phong kiến là 7 trận đánh trong
gần nửa thế kỷ (từ năm 1627 đến 1672) Trận thứ nhất diễn ra vào năm
1627, Trịnh Tráng thay mặt vua Lê triệu hồi Nguyễn Phúc Nguyên về
giải trình tại sao không nộp thuế 3 năm Sau khi triệu tập hai lần Nguyễn Phúc Nguyên vẫn không về; Trịnh Tráng lấy cớ đó đem 5000 quân đi hỏi tội Quân Nguyễn do Nguyễn Phúc (cháu Nguyễn Phúc Nguyên) thống
lĩnh quân đội, chỉ huy kháng cự Trận thứ hai năm 1633, một trong
những người con của Nguyễn Phúc Nguyên tên là Anh, trấn thủ đất Quảng Nam có ý tranh quyền đã liên kết với họ Trịnh, đề nghị quân Trịnh tấn công vào cửa sông Nhật Lệ, Anh sẽ làm nội ứng khi có pháo lệnh Quân Trịnh đem quân vào đợi 10 ngày không thấy tín hiệu, quân sĩ mệt mỏi, bị quân Nguyễn đánh bại Còn Anh không được cử đi đánh vì
chúa Nguyễn đã nghi ngờ Trận thứ ba năm 1643, nhân cơ hội anh em
họ Nguyễn đánh nhau, chúa Trịnh cho quân vào đánh chiếm được cửa Nhật Lệ, nhưng vì thời tiết khắc nghiệt, quân sĩ bệnh nhiều nên Trịnh Tráng phải lui binh Năm 1644, quân Trịnh nhờ sự trợ giúp của người Hà Lan đem quân đánh chúa Nguyễn bằng đường thủy, nhưng bị quân
Nguyễn đánh bại Trận thứ tư năm 1648, cuộc tấn công lần này của chúa
Trang 18Trịnh đã gây nên nhiều thảm họa vì hai bên đều sử dụng kĩ thuật cao Trịnh Tráng tiến hành đánh vùng nam Bố Chính, cho quân thủy đánh cửa sông Nhật Lệ Phía nhà Nguyễn do Nguyễn Phúc Tần chỉ huy, cho một cánh quân phục kích ở Cẩm La để chặn đường rút; Nguyễn Hữu Tiến chỉ huy đại binh cùng 100 con voi tấn công vào trại quân Trịnh Quân Trịnh thua đau, mất nhiều tướng lĩnh, chết 25.000 quân và bị bắt sống 3.000 quân Như vậy, chúa Trịnh đã 4 lần đem quân tấn công chúa Nguyễn
nhưng đều thất bại Trận thứ năm, năm 1655, Nguyễn Phúc Tần đem
quân ra tấn công bắc Bố Chính và Nghệ An Một loạt trận đánh kéo dài
ác liệt, gây tổn thất nặng nề cho hai đàng Hai tập đoàn phong kiến Trịnh
- Nguyễn đánh nhau nhùng nhằng, không phân được thắng bại từ năm
1658 đến năm 1660 Trận thứ sáu năm 1661, Trịnh Tạc lại cử đại binh
đưa vua Lê Thần Tông vào đánh chúa Nguyễn; Nguyễn Phúc Tầm sai Nguyễn Hữu Dật chia quân ra chống giữ Quân Trịnh đánh mấy tháng liền không được, quân mệt mỏi, lương thực hết, Trịnh Tạc đành phải thu
quân về Trận thứ bảy năm 1672, quân Trịnh tràn vào tấn công lũy Trần
Ninh rất hăng, tưởng mấy lần đã phá được, nhưng với sự chống trả quyết liệt của quân Nguyễn, quân Trịnh đành phải rút quân về Bảy cuộc giao tranh giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn, hai bên đều bất phân thắng bại, quân sĩ hao tổn, nhân dân khổ cực; hai họ Trịnh - Nguyễn đành phải ngưng chiến, lấy sông Gianh thuộc Châu Bố Chính (nay là Quảng Bình) làm ranh giới chia cắt Đàng Trong, Đàng Ngoài Đến năm 1771, một cuộc khởi nghĩa đã bùng nổ ở đất Tây Sơn do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo Sau 15 năm khởi nghĩa, đánh nam, dẹp bắc, quân Tây Sơn đã đánh đổ ba tập đoàn phong kiến thống trị Nguyễn, Trịnh, Lê làm chủ cả đất nước Nguyễn Huệ bước lên ngôi vua lấy hiệu là Quang Trung
Trang 19Chiến tranh giữa hai họ Trịnh - Nguyễn là một cuộc nội chiến kéo dài suốt hàng chục năm trời, đưa cả nước vào vòng binh đao, khói lửa Cuộc chiến dường như bất phân thắng bại vì cuối cùng hai bên lấy sông Gianh làm giới tuyến phân chia hai miền Nam - Bắc làm Đàng Trong - Đàng Ngoài Nhưng dù hai bên có thắng hay không thắng thì hậu quả của cuộc tranh chấp này gây ra rất nhiều đau thương tổn thất cho nhân dân trong cả nước Nó đã thu kiệt sức của nhân dân, tàn phá nhiều ruộng đồng của xóm làng, giết hại đồng bào vô tội Kéo cả nước vào cuộc chiến tranh đẫm máu tương tàn, chia cắt hai miền đất nước Xét về binh lực tuy họ Trịnh có hơn họ Nguyễn, nhưng cuộc nội chiến đã kết thúc với sự tấn công thất bại của quân Trịnh và sự chống trả thắng lợi của quân Nguyễn Quân Trịnh thất bại trước hết là do phải chiến đấu xa căn cứ, đường sá chuyển lương và hành quân hết sức khó khăn Nguyên nhân sâu xa hơn là tình hình nhà Trịnh nội bộ thường lục đục, con cái thường hay tranh giành quyền lực, đánh giết lẫn nhau Họ Trịnh lại còn bận đối phó với những lực lượng thù định của họ Mạc vẫn thường xuyên nổi lên Họ Nguyễn mặc dù binh lực yếu hơn nhưng họ đã xây dựng được một hậu phương vững mạnh, tương đối ổn định, dễ dàng huy động sức người, sức của cho cuộc chiến lâu dài với họ Trịnh
1.1.2 Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh
Có thể nói, chưa bao giờ xã hội Việt Nam lại rơi vào khủng hoảng trầm trọng như thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh Nền cai trị của
họ Trịnh ở miền Bắc và họ Nguyễn ở miền Nam, cũng như những cuộc nội chiến liên miên đã làm cho đời sống của nhân dân ngày càng trở nên cùng quẫn Nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân đã nổ ra nhưng đều bị dập tắt Thêm vào đó là sự phát triển của chế độ tư hữu lớn về ruộng đất
ở đầu thế kỷ XVI đã dẫn đến sự phá sản của chính sách quân điền, sự thu
Trang 20hẹp ruộng đất công làng xã và sự suy sụp của nông nghiệp Chính quyền nhà Lê ngày càng tỏ ra bất lực trong việc cai trị đất nước, vì thế nền kinh
tế trở nên sa sút trầm trọng là một điều tất yếu Xem xét theo quan điểm của triết học Mác-Lênin, đời sống kinh tế - chính trị xã hội luôn có mối quan hệ biện chứng với đời sống văn hóa tinh thần; vì thế một khi nền kinh tế đã trở nên sa sút, chính trị khủng hoảng, xã hội loạn lạc sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ và tác động tiêu cực đến đời sống tư tưởng của nhân dân Việt Nam
Tình hình kinh tế, chính trị - xã hội ở Đàng Ngoài:
Sau khi dẹp xong các dư đảng của nhà Mạc, với mưu đồ muốn nắm toàn bộ quyền hành, họ Trịnh tước hết thực quyền của vua Lê, quy định chặt chẽ các chế độ bổng lộc của nhà vua; đồng thời thành lập một
số cơ quan giúp việc cho mình Hình thành chế độ gọi là “Vua Lê - Chúa Trịnh” mà thực quyền nằm trong tay phủ chúa Bộ máy nhà nước thời Lê
- Trịnh ở Đàng Ngoài chứa đựng nhiều mâu thuẫn nội bộ giữa hai dòng
họ cũng như giữa quan lại và nhân dân Chúa Trịnh giữ nguyên bộ luật Hồng Đức, bổ sung thêm một số điều về kiện tụng, xét xử; mặt khác ban hành nhiều chiếu lệnh nhằm giải quyết nhiều vấn đề mới do thực tế Đàng Ngoài đặt ra Những cuộc chiến tranh phong kiến đương thời đã làm mất tác dụng của chính sách “ngụ binh ư nông” Nhà Lê - Trịnh cần một lực lượng quân sự thường trực trung thành với chính quyền của mình Quân đội được chia thành hai bộ phận chính: quân Túc vệ bao gồm những binh
sĩ đã theo họ Trịnh chống nhà Mạc từ trước và những người mới được chiêu mộ, chủ yếu từ ba phủ Thanh Hóa và mười hai huyện ở Nghệ An Đây là lực lượng chủ yếu chuyên bảo vệ trung thành phủ Chúa cũng là lực lượng quân sự chính trong các cuộc chiến tranh của Chúa Nguyễn Ngoại binh hay nhất binh tuyển từ đinh tráng của hai phủ Ninh Bình và bốn trấn quanh kinh thành theo chế độ tình nguyện Chính quyền Lê -
Trang 21Trịnh duy trì chính sách hòa hợp với các dân tộc ít người Tiếp tục thuần phục và giữ quan hệ hòa hiếu với nhà Thanh Đầu thế kỷ XVIII tình hình đất nước ổn định, chúa Trịnh tỏ ra tự chủ hơn trong quan hệ với nhà Thanh, khéo léo dành lại chủ quyền ở một số vùng bị nhà Thanh chiếm giữ trước đó như Vị Xuyên ở Tuyên Quang, Thủy Vĩ ở Hưng Hóa Ngoài
ra nhà Lê - Trịnh còn đặt lại quan hệ với Ai Lao ở Tây Nam
Các xứ Đàng Ngoài, đặc biệt là vùng đồng bằng là nơi chịu nhiều nhất những tai họa do chiến tranh phong kiến đưa lại Ruộng công làng
xã dần dần bị bọn cường hào địa phương lũng đoạn, các phe phái tranh nhau chiếm đoạt ruộng đất làm của riêng dưới nhiều hình thức khác nhau Sự thu hẹp của ruộng đất công chứng tỏ rằng ruộng đất tư hữu đã phát triển cao độ Việc mua bán ruộng đất, kiện tụng về ruộng đất luôn luôn là chuyện rắc rối ở làng xã Không những phải hứng chịu những tai họa do chiến tranh gây ra, nhân dân ta thời đó còn phải hứng chịu hậu quả từ thiên tai, lụt lội, hạn hán thường xuyên đe dọa Từ năm 1580 đến
1640 đã xảy ra 14 lần thiên tai trong đó có 6 nạn đói lớn, 6 lần lụt lội Từ năm 1680 đến 1740 lại càng khó khăn hơn khi liên tiếp xảy ra 24 lần thiên tai, 14 nạn đói lớn, 7 lần thủy tai Để duy trì và bảo vệ cuộc sống của mình, nhân dân đã phải ra sức lao động sáng tạo, khẩn hoang đất đai
Một nét đặc sắc trong tình hình ruộng đất ở Đàng Ngoài đương thời là sự phát triển của chế độ sở hữu ruộng đất làng xã Cuộc sống bấp bênh trong thời điểm loạn lạc, chiến tranh, thiên tai thường xuyên đe dọa
đã tạo điều kiện cho sự phát triển của tục cúng ruộng cho chùa hay cho làng Hầu như làng xã nào cũng có ít nhiều ruộng “hậu thần”, “hậu Phật” này Sự phát triển của chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất đã dẫn đến sự thay đổi chế độ thuế Năm 1716, nhà nước Lê - Trịnh bắt đầu quy định chia đều thuế khóa và phú dịch cho cả đinh và điền cùng chịu Năm
1719, chúa Trịnh Cương đã khẳng định: “ Nay ruộng trong nước không
Trang 22kể ruộng công hay tư, đều thi hành việc khám xét đo đạc, rồi liệu lượng
bổ ngạch thuế, để cho giàu nghèo giúp đỡ lẫn nhau, nặng nhẹ gánh vác đều nhau, định làm phép thường mãi mãi.” [30, tr.409] Theo lệ thuế mới, tất cả các loại ruộng đất tư, ruộng làng xã đều phải chịu thuế Dĩ nhiên các quan lại, theo phẩm hàm được miễn một diện tích nhất định
Tóm lại mà xét, thì những công việc của họ Trịnh sửa đổi ở miền Bắc cũng nhiều, và có thể chia ra làm ba thời kỳ:
Thời kỳ thứ nhất vào khoảng Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng và Trịnh Tráng Lúc bấy giờ còn phải đánh họ Mạc ở phía bắc, rồi lại chống với
họ Nguyễn ở phía Nam, cho nên trong thời kỳ ấy chỉ có việc chiến tranh
ở ngoài mà thôi, còn những công việc trong nước không sửa sang được mấy
Thời kỳ thứ hai là vào khoảng Trịnh Tạc, Trịnh Căn và Trịnh Cương Lúc bấy giờ việc chiến tranh đã yên, trong nước bình trị, cho nên trong thời kỳ ấy các chúa mới sửa sang và chỉnh đốn lại những phép tắc, luật lệ, việc thuế khóa, sự học hành, thi cử…
Thời kỳ thứ ba là vào khoảng Trịnh Giang, Trịnh Doanh và Trịnh Sâm Vì Trịnh Giang thất chính cho nên trong thời kỳ này có lắm giặc giã, quan quân phải đánh đông dẹp bắc trong ba bốn năm trời, thành ra không làm được việc gì ích lợi, đến nỗi dân nghèo, nước yếu, chính trị điêu tàn, bởi vậy cho nên chẳng bao lâu mà nhà Trịnh đổ, nhà Lê cũng mất
Tình hình kinh tế, chính trị - xã hội ở Đàng Trong:
Với ý đồ tách Đàng Trong ra khỏi sự thống trị của vua Lê - chúa Trịnh, Nguyễn Hoàng và những người nối nghiệp nhà Nguyễn một mặt cũng cố việc phòng thủ đất Thuận Quảng, chống lại những cuộc tấn công của quân Trịnh, mặt khác tìm cách mở rộng lãnh thổ xuống phía nam Cho đến giữa thế kỷ XVIII, họ Nguyễn đã làm chủ một vùng đất rộng
Trang 23lớn từ phía nam dải Hoành Sơn cho đến mũi Cà Mau Hình thành mười hai đơn vị hành chính gọi là dinh Mỗi dinh quản hạt một phủ, dưới phủ
có huyện, tổng, xã Thủ phủ ban đầu đóng ở xã Ái Tử thuộc Cựu Dinh, năm 1570 dời vào xã Trà Bát (Triệu Phong, Quảng Trị) Năm 1626 dời vào xã Phước Yên sau đó dời sang Kim Long đều thuộc tỉnh Thừa Thiên, cuối cùng vào khoảng năm 1687 dời vào Phú Xuân, Huế Thời Nguyễn Phúc Khoát, Phú Xuân được gọi là đô thành Quân đội của chúa Nguyễn gồm ba loại: quân túc vệ hay thân quân, quân chính quy ở các dinh và thổ binh hay tạm binh Các loại quân đều chia thành cơ, đội, thuyền Tất
cả dân đinh từ 18 đến 50 tuổi đều phải ghi tên vào sổ đinh và trình lên để phủ, huyện xét duyệt lấy lính
Đàng Trong là vùng đất mới khai phá nên việc quản lý của nhà nước còn lỏng lẻo, người dân có điều kiện phát huy hết sức lao động, nâng cao năng suất Không như đất đai ở các xứ Đàng Ngoài, đất đai ở Đàng Trong rất màu mỡ và trù phú Tuy tệ chiếm công tư vi ở Đàng Trong ngày càng phát triển, người nghèo không có đất để canh tác; nhưng sản xuất nông nghiệp (chẳng hạn như ở Thuận Quảng) rất phát triển, người dân luôn được những vụ mùa bội thu không chỉ là thóc, gạo
mà các sản vật hoa màu, cây ăn trái cũng có quanh năm Trong những thế kỷ đầu, do thuế khóa nhẹ, đời sống người dân khá cao Đến năm
1669, chúa Nguyễn tiến hành đo đạc lại ruộng đất, chính thức ban hành phép thu thuế Bên cạnh đó, nghĩa vụ binh dịch cũng rất nặng nề; người dân bị bắt làm phu canh gác, quét dọn cho các quan Một đặc điểm ở Đàng Trong là các quan chức địa phương hàng năm phải nộp cho chúa nhiều loại tiền: lĩnh bằng, nhận ấn, lễ mừng sinh nhật, giỗ tết… Vì thế, quan lại phải thu tiền của dân Tuy nhiên, do những điều kiện đặc biệt của Đàng Trong, nhân dân nghèo đói đi lưu vong có thể tìm đến các vùng đất hoang, khai khẩn, lập nghiệp và sống cuộc đời ít nhiều tự do,
Trang 24dù cho không phải lúc nào cũng nhiều tốt đẹp Mâu thuẫn xã hội tạm thời được giải quyết, đó là lí do làm cho cuộc khủng hoảng xã hội ở Đàng Trong đến muộn hơn so với Đàng Ngoài
Những công việc mà họ Nguyễn làm ở phía Nam quan trọng cho nước Nam ta hơn cả, là việc mở mang bờ cõi khiến cho đất đai phát triển trù phú, dân số tăng lên, đất đai bị bỏ hoang được những người nghèo khai phá
Trong bối cảnh đất nước bị chia cắt, cuộc hỗn chiến giữa hai thế lực phong kiến Trịnh - Nguyễn kéo dài gần 50 năm, kinh tế công thương nghiệp ở thế kỷ XVII - XVIII vẫn có những bước phát triển Tình hình quốc tế và khu vực cũng có những tác động mạnh mẽ đến kinh tế hàng hóa ở thời điểm này Việc buôn bán cùng những tham vọng mở rộng thị trường ở vùng Phương Đông của các quốc gia châu Âu đã gây nên nhiều biến động ở khu vực Các thương thuyền phương Tây và của các nước Trung Quốc, Nhật Bản… qua lại thường xuyên tạo nên không khí nhộn nhịp tại các bến cảng, thúc đẩy sự tăng trưởng của các ngành sản xuất hàng hóa trong nước, mở ra cơ hội cho sự phồn vinh của các đô thị ở thời điểm này
Khi cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn diễn ra ác liệt chính là lúc ngoại thương rất phát triển Trong gần nửa thế kỷ kéo dài cuộc chiến tranh phi nghĩa, họ Trịnh và họ Nguyễn đều ra sức tìm kiếm sức chi viện quân sự bên ngoài Các loại vũ khí như súng, đạn dược, thuốc nổ hay các nguyên liệu như diêm tiêu, chì, kẽm… là những mặt hàng chính quyền đặt mua của các công ty Các lái buôn phương Tây đến Việt Nam trong thời điểm này không nhằm buôn bán vũ khí nhưng để việc buôn bán thuận lợi, họ phải mang đến loại hàng chiến lược này và sau đó còn nhúng sâu vào hoạt động vũ trang hòng chiếm độc quyền trên thị trường Khi chiến tranh kết thúc, chính quyền phong kiến ở cả Đàng Trong và
Trang 25Đàng Ngoài đều kém mặn mà với các công ty tư bản Về khách quan, tại các nước phương Tây, sang thế kỷ XVII, tình hình chính trị không ổn định Các cuộc chiến tranh giành giật thuộc địa giữa Hà Lan và Tây Ban Nha, giữa Anh và Pháp; các cuộc cách mạng tư sản ở mỗi nước cũng gây nên những biến động lớn về chính trị làm cho tình hình buôn bán của công ty tư bản bị ảnh hưởng Trong lúc mệt mỏi vì những khó khăn trong kinh doanh, lúc này ngay sát nước ta, thị trường Trung Quốc lại hé
mở ở Quảng Đông Đây là thị trường khổng lồ hứa hẹn nhiều tiềm năng
mà lái buôn phương Tây vẫn luôn nhằm tới Tất cả những yếu tố khách quan và chủ quan tác động trong một thời điểm đã khiến các công ty tư bản lần lượt chuyển hướng rồi bỏ thị trường Đàng Trong và Đàng Ngoài Nền ngoại thương nhất thời hưng khởi đã suy tàn vào cuối thế kỷ XVIII
Hoạt động thủ công nghiệp khá nhộn nhịp ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài Ở Đàng Ngoài, chúa Trịnh lập nhiều xưởng lớn chuyên đúc súng, đóng thuyền các loại, làm đồ trang sức, mũ áo, giày dép cho vua chúa, quan lại Ban đầu, các lò đúc tiền được đặt ở hai phường Nhật Chiêu và Cầu Giền thuộc kinh thành; về sau chúa phải cho các xứ lập xưởng đúc tiền riêng, thậm chí cho phép người Hoa mở xưởng đúc tiền
Ở Đàng Trong, chúa Nguyễn cũng lập nhiều xưởng đóng thuyền
ở khắp nơi, đặt Nhà đồ chuyên chế tạo vũ khí, làm đồ trang sức, đồ gỗ phục vụ chúa, đặt ti Nội pháo tượng lấy dân hai xã Phan Xá và Hoàng Giang lành nghề đúc súng vào làm (vừa đúc đại bác vừa đúc súng tay) Ở thế kỷ XVII, một người Bồ Đào Nha là Giaođa Crudo bị đắm thuyền, dạt vào bờ được dân Việt cứu sống, đã giúp chúa Nguyễn đúc súng lớn theo kiểu phương Tây đương thời
Các xưởng thủ công nhà nước đã làm được nhiều sản phẩm có chất lượng cao, nhiều loại vũ khí, thuyền lớn nhưng sử dụng chế độ công
Trang 26tượng, bắt thợ khéo trong nhân dân làm công tượng suốt đời Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển sáng tạo chung của thợ thủ công
Hoàn cảnh mới của đất nước đã làm tăng nhu cầu về hàng thủ công Khắp các làng xã, đâu đâu cũng hình thành những nghề thủ công, những thợ thủ công chuyên các nghề rèn, mộc, nề, dệt vải lụa, kéo tơ, đúc chuông, tô tượng, chạm trổ, làm đá, làm gốm, làm đồ trang sức, làm chiếu… Sau đây là một vài nghề chính: làm gốm, kéo tơ, dệt lụa tổ chức sản xuất chủ yếu mang tính chất gia đình Nghề làm đường, rèn sắt, làm giấy và các nghề thủ công cổ truyền phổ biến khác như dệt chiếu, làm nón, nhuộm, đúc đồng, khảm trai, chạm vàng bạc v v…cũng tăng cường hoạt động, sản xuất ra hàng loạt mặt hàng khác nhau, phục vụ cuộc sống Nhìn chung thủ công nghiệp nhân dân ở các thế kỷ XVII - XVIII vừa mở rộng, vừa phát triển, đáp ứng ở một mức độ nhất định nhu cầu của nhân dân trong nước và nhu cầu của thương nhân nước ngoài, đi sâu hơn vào nền kinh tế thị trường có tính quốc tế Bên cạnh đó phải kể đến tình trạng nghèo nàn và tâm lý sính ngoại của cư dân không cho phép các ngành nghề thủ công phát triển lên khi nhu cầu bên ngoài giảm xuống
Việc khai thác kim loại phát triển nhanh chóng ở thế kỷ XVII - XVIII Ở Đàng Ngoài, hàng loạt mỏ được khai thác: Đồng có ở Tụ Long (Tuyên Quang), Tống Tinh, Vụ Nông, Sảng Mộc, Liêm Tuyền (Thái Nguyên), Trình Lạn, Ngọc Uyển (Hưng Hóa), Hoài Viễn (Lạng Sơn; Bạc: Nam Xưởng, Long Sinh (Hà Giang); Vàng: Kim Mã, Tam Lộng (Thái Nguyên); Kẽm: Côn Minh (Thái Nguyên); Thiếc: Vụ Nông (Thái Nguyên)
Kim loại thu được trở thành một nguồn lợi cho thương nhân, phục vụ việc đúc tiền, đúc súng đạn, làm đồ trang sức và các vật dụng hàng ngày của nhân dân Thương nhân Đàng Ngoài lén lút chở đồng vào
Trang 27bán cho Đàng Trong Việc khai thác hầm mỏ đã trở thành một bộ phận quan trọng của thủ công nghiệp Do tính chất của công việc, ở đây đã hình thành một phương thức tập trung, thuê mướn có tính tư nhân
Các chợ mọc lên ở khắp nơi, hầu như mỗi làng đều có chợ hoặc các cụm làng chia phiên trong tuần để họp chợ Mỗi huyện có khoảng từ
14 - 22 chợ làng, chợ chùa, chợ huyện, các làng thủ công chuyên nghiệp như Vân Chàng, Xuân Cầu, Thổ Hà… đều có chợ riêng Nhiều chợ lớn nổi tiếng trong vùng như chợ Lim, chợ Nành, Châu Cầu, Bình Vọng, Phương Đình, “Bí Giang, Lâm Xá, Trạo Hà, An Lâm … là nơi người và hàng hóa tụ họp đông đúc”, “phố Kỳ Lừa buôn bán đông đúc”, chợ Gia Hội, chợ An Cựu, chợ Đại Lộc, chợ Diên Sinh, chợ Trà Quang, chợ An Thái, chợ Vĩnh Thế, chợ Phú Thịnh, chợ Yên Lương, chợ phủ Thiên Trường, chợ Côi Sơn, chợ Kỳ Bố, chợ Hội Xuyên, chợ Đông Am, chợ Hàm Giang, chợ Đại Phúc, chợ Phú Xá, chợ Ba Đồn, chợ Nghèn, chợ Cày, chợ Vực, chợ Nài, chợ Vĩnh, chợ Đô Lương, chợ Sóc, chợ Bảo Lân, chợ Dương Xá, chợ Cầu Quan, chợ Sen, chợ Du Trường v.v… Các trung tâm chính trị của Xứ thường có chợ lớn như Vị Hoàng ở Sơn Nam, Tỉnh ở Thanh Hóa, Nông Nại ở Biên Hòa, Bến Nghé ở Gia Định, thị trấn
Hà Tiên… Theo sử cũ, bấy giờ ở Đàng Ngoài có tám chợ lớn phải nộp thuế cho nhà nước Từ thế kỷ XVI - XVIII, việc buôn bán với thương nhân nước ngoài phát triển rầm rộ và mở rộng hơn hẳn những thế kỷ trước Bên cạnh các thương nhân Trung Quốc, Giava, Xiêm quen thuộc
và ngày càng đông đảo, xuất hiện các thuyền buôn Nhật Bản và đặc biệt
là các thuyền buôn Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp, Anh Mặc dù sự xuất hiện của các thương nhân Nhật Bản và phương Tây chưa nhiều, chưa đều đặn và liên tục, nhưng đã đánh dấu thời kỳ Đại Việt đi vào luồng giao lưu buôn bán quốc tế Việc buôn bán này ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển của công thương nghiệp trong nước, mở rộng tầm nhìn và sự hiểu
Trang 28biết của người dân Việt Sự khởi sắc của nền kinh tế hàng hóa làm cho nền kinh tế Việt Nam bớt đi tính chất tự túc tự cấp, nông nghiệp thuần túy và địa phương chủ nghĩa Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự phát triển của công thương nghiệp đương thời, trong đó chủ trương mở cửa của các chính quyền Đàng Trong cũng như Đàng Ngoài có ý nghĩa rất quan trọng cũng như nhân tố phát triển thương nghiệp tư bản chủ nghĩa của phương Tây đã trở thành một tác nhân lớn Tuy nhiên, nền kinh tế Đại Việt đương thời, do nhiều hạn chế, đã không tạo cơ sở cho sự phát triển mạnh mẽ và liên tục của công thương nghiệp, chưa tạo được một thế đứng tự chủ và chủ động trong giao thương với bên ngoài Đó là lý
do chủ yếu dẫn đến sự suy tàn của nó ở cuối thế kỷ XVIII Sự phát triển của kinh tế công thương nghiệp trong các thế kỷ XVII - XVIII tuy chưa rầm rộ, tự do liên tục và đạt đến trình độ tự mình vươn lên, vượt qua mọi ràng buộc, song đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển của chế độ phong kiến Đại Việt
Tóm lại, từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XVIII là giai đoạn mà lịch sử Việt Nam có nhiều diễn biến phức tạp nhất Tình hình chính trị,
xã hội lâm vào các cuộc khủng hoảng, kinh tế sa sút, đời sông nhân dân ngày càng khó khăn Trong khi đó, các thế lực phong kiến luôn đàn áp, tranh giành lẫn nhau; chính quyền trung ương ngày càng sa đọa Rải rác khắp nơi trong cả nước, sự nổi dậy của nông dân và tộc người thiểu số càng góp phần làm lung lay nền thống trị của nhà Lê Hoàn cảnh rối ren, loạn lạc của xã hội Việt Nam giai đoạn này đã tác động sâu sắc, mạnh
mẽ đến các nhà tư tưởng, các tầng lớp sĩ phu Đàng Trong và Đàng
Ngoài Vấn đề xã hội ấy đã đặt ra cho các nhà tư tưởng thời kỳ này là
làm thế nào tìm kiếm cho mình một hướng đi, một con đường đi đúng đắn để giúp dân, cứu nước Chính vì vậy, thời kỳ này đã xuất hiện các
nhà tư tưởng tiêu biểu: Hương Hải thiền sư, Chân Nguyên thiền sư, Lê
Trang 29Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, đặc biệt có Lê Hữu Trác - một đại danh y, đồng thời cũng là một nhà tư tưởng nổi tiếng với những lý luận về y đức, nhân sinh, xã hội…
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG LÊ HỮU TRÁC
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm những quan điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng, truyền thống…, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định Trong bối cảnh rối ren, loạn lạc của giai đoạn thế kỷ XVII - XVII, tình hình đời sống văn hóa tinh thần xã hội Việt Nam cũng có những biến chuyển nhộn nhịp Vị trí độc tôn của Nho giáo trong các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, sử học, y học, khoa học kỹ thuật… không còn như trước vì chịu ảnh hưởng từ sự khủng hoảng trong đời sống chính trị,
xã hội Chính điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự du nhập của các nền văn hóa khác, tác động mạnh mẽ tới văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam Với vai trò là ý thức xã hội, đời sống văn hóa tinh thần trong giai đoạn Trịnh - Nguyễn phân tranh đã phản ánh một cách khái quát toàn bộ đời sống xã hội của người Việt Nam trong giai đoạn này, đồng thời nó đã tác động mạnh mẽ đến sự hình thành tư tưởng của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác
1.2.1 Văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam với sự hình thành tư tưởng Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác
Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác được biết đến không chỉ là một nhà y học mà còn là một nhà văn hóa, nhà tư tưởng lớn của lịch sử
tư tưởng Việt Nam Chính vì thế tư tưởng của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác là sự kế thừa truyền thống văn hóa dân tộc, thể hiện ở ý chí
Trang 30độc lập sáng tạo, tinh thần yêu nước nồng nàn và lòng nhân ái yêu thương con người
Trước khi Việt Nam chịu sự thống trị của các thế lực phong kiến phương Bắc, cũng như sự chi phối của các luồng tư tưởng Nho - Phật - Lão; dân tộc Việt Nam đã có một lịch sử văn minh, văn hóa lâu đời và rực rỡ Đó là nền văn minh sông Hồng và việc hình thành nhà nước sơ khai - nhà nước Văn Lang (khoảng năm 700 - 258 trước Công nguyên)
và nhà nước Âu Lạc (khoảng năm 257 - 208 trước Công nguyên); với
“trình độ văn hóa khá cao, có xã hội tổ chức thành quy củ, tồn tại lâu dài hình thành hàng ngàn năm” [17, tr.106], có phong tục tập quán, có ngôn ngữ, chữ viết, tín ngưỡng, tôn giáo, có công cụ kỹ thuật sản xuất cùng với các phương thức sinh hoạt văn hóa tinh thần phong phú hình thành từ rất sớm, qua các nền văn hóa Phùng Nguyên (2000 - 1500 trước Công nguyên), Đồng Đậu (1500 - 1100 trước Công nguyên), Gò Mun, Sơn Vi, Hòa Bình, Đông Sơn (khoảng thế kỷ VII trước Công nguyên đến thế kỷ
II sau Công nguyên) “biểu hiện bằng các món dụng cụ, trang sức, trống đồng, thạp đồng, mũi tên đồng, thành quách, …mà người Việt Nam hiện đại rất tự hào” [18, tr.57]
Về kinh tế, từ xa xưa nước ta nằm trong chiếc nôi của nền văn minh nông nghiệp lúa nước vùng Đông Nam Á, một trong những nền văn minh ra đời khá sớm với kỹ thuật trồng lúa nước vào loại tối cổ của nhân loại Do vị trí địa lý thuận lợi, điều kiện tự nhiên khí hậu nhiệt đới
ẩm gió mùa thích hợp với việc định cư sinh sống bằng nghề trồng trọt đã quy định nên những mô thức nhất định cho văn hóa Việt Nam buổi đầu Ngoài ra, người Việt cổ còn biết chế tạo và sử dụng sản xuất bằng đồng sau đó là bằng sắt, biết chăn nuôi gia súc… Chính những yếu tố đó đã dần hình thành một ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết rất mạnh mẽ
Trang 31đến mức gần như một nguồn lực nội sinh tiềm tàng cho quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc
Về phương diện ứng phó với môi trường tự nhiên, làng - nước có vai trò thiêng liêng nhằm đoàn kết, tập hợp các cá nhân lại với nhau, đồng tâm hiệp lực để chống lại tác hại của thiên tai, lũ lụt Nếu như hệ thống các con sông lớn mang lại nguồn nước dồi dào phục vụ cho sản xuất nông nghiệp thì đồng thời mùa nước lớn lũ lụt trở thành mối nguy hại hàng đầu đe dọa đời sống và tính mạng của người dân, thậm chí là sự hưng suy của cả dân tộc Bên cạnh đó tính cộng đồng còn thể hiện sâu sắc qua lịch sử chống giặc giữ nước Do vị trí địa lý chiến lược, tài nguyên phong phú nên từ xưa nhân dân ta phải đương đầu với nhiều thế lực ngoại xâm Vốn là một nước đất không rộng, người không đông, lại
bị đặt trước vực thẳm của sự tồn vong, dân tộc Việt Nam phải đoàn kết toàn dân và có một lòng yêu nước nồng nàn, huy động mọi nguồn lực để đánh giặc Truyền thuyết Thánh Gióng đã phản ánh rõ nét sức mạnh đoàn kết không gì lay chuyển được của dân tộc ta thời dựng nước
Trong lĩnh vực tư tưởng, người Việt cổ đã biết ý niệm về sự đối xứng, biết tư duy phân loại và tổng hợp, đặc biệt đã hình thành tư duy phân đôi lưỡng hợp với những quan niệm về thế giới và nhân sinh, về cội nguồn của dân tộc rất phong phú và sâu sắc như quan niệm về tứ phủ, quan niệm về cha rồng - mẹ tiên, về Thần trụ trời…và các cặp khái niệm phân đôi lưỡng hợp như “cao - thấp”, “khô - ướt”… Họ cũng đã tin vào sự luân hồi, tuần hoàn của vạn vật và sự tồn tại linh hồn của con người sau khi chết
Tín ngưỡng dân gian Việt Nam từ cổ xưa đã bao hàm: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng sùng bái con người Con người cần sinh sôi, mùa màng cần tươi tốt để duy trì và phát triển sự sống, nên các tín ngưỡng đã nảy sinh và luôn luôn tồn tại gắn liền với
Trang 32đời sống của nhân dân Người Việt Nam vốn thuộc dòng dõi con Rồng, cháu Tiên nên trong các tín ngưỡng tuyền thống, tín ngưỡng phụng thờ
tổ tiên là phổ biến nhất, gần như trở thành một tôn giáo của người Việt Nam Nhà nào cũng thờ Thổ công là vị thần trông coi gia cư, giữ gìn họa phúc cho cả nhà Làng nào cũng thờ Thành hoàng là vị thần cai quản che chở cho nhân dân trong làng Tín ngưỡng phụng thờ tổ tiên được toàn dân tin theo đã ảnh hưởng lớn đến sự truyền bá của đạo Thiên chúa, song
đã có ảnh hưởng tốt đến quan hệ gia tộc, quan hệ giữa người với người Tục thời những người có công với nước với làng cũng phát triển hơn trước Nhà nước đã cử một số viên quan đi về các địa phương biên soạn các thần tích, thần xã để vừa xác định công lao của những người đã khuất vừa thừa nhận tính hợp pháp của sự tôn thờ Từ đó việc tổ chức những ngày kỷ niệm các vị thần này cũng trở nên phong phú hơn, long trọng hơn với ý nghĩa nhắc nhở mọi người “uống nước nhớ nguồn” Sự phát triển của các tín ngưỡng cổ truyền có tính địa phương, tự do đó không thể không kéo theo sự gia tăng tinh thần mê tín, dị đoan, thờ cúng tùy tiện mang tính chất “vạn vật hữu linh” nguyên thủy Các tôn giáo bên ngoài du nhập vào Việt Nam từ các thế kỷ trước cho đến giai đoạn này không làm mất đi tín ngưỡng dân gian bản địa mà hòa quyện vào nhau làm cho cả hai phía đều có những biến thái nhất định Bên cạnh một số yếu tố tích cực có ích nhiều ý nghĩa cộng đồng, sự phát triển tín ngưỡng nhân gian cổ truyền cũng thể hiện sự khủng hoảng tinh thần của nhân dân Đại Việt đương thời Sự khủng hoảng này tăng lên ở những thập niên của chiến tranh nông dân vào nửa cuối thế kỷ XVIII
Việc hình thành một nền văn hóa và hình thức nhà nước phôi thai sớm cùng với việc dân tộc ta liên tiếp phải chống lại các cuộc xâm lăng của các thế lực phong kiến phương Bắc, đã giúp cho dân tộc ta hình thành ý thức về quốc gia dân tộc, về tinh thần độc lập, tự chủ và tinh
Trang 33thần yêu nước rất sớm thể hiện trong bài thơ thần của Lý Thường Kiệt
như một bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của dân tộc:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư! [62, tr.321]
Tinh thần yêu nước và ý chí độc lập dân tộc được Lê Hữu Trác kế thừa và phát triển trong những quan điểm, những lý luận của mình về y học, ông đã biết chắt lọc, dung hợp các nguồn tư tưởng trong quá khứ của dân tộc với triết lý nhân sinh của Nho, Lão, Phật và hệ thống lý luận
y học của Trung Quốc cổ đại để hình thành hệ tư tưởng cho riêng mình
Từ trước cho đến thế kỷ XVII - XVIII, nền y học Việt Nam cơ bản vẫn mang tính cổ truyền được xây dựng trên cơ sở kinh nghiệm dân gian Trong thế kỷ XVIII, nền y học cổ truyền Việt Nam được nâng lên một tầm cao do có được một nhà y học nổi tiếng, một người thầy vĩ đại nhất của nền
y học truyền thống Việt Nam là danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác Ông có học vấn uyên bác, là một nhà y học luôn coi trọng kinh nghiệm chữa bệnh trong dân gian, có óc sáng tạo, độc lập nghiên cứu tìm tòi các vị thuốc dân gian, kết hợp với việc nghiên cứu về thời tiết, khí hậu, cùng đặc điểm sinh lý của cơ thể con người Qua nghiên cứu và kinh nghiệm, ông đã tìm ra được phương pháp hữu hiệu trong chẩn đoán bệnh và điều trị bệnh cho con người chuyên bằng phương thuốc cổ truyền được lấy từ các loài cỏ cây có sẵn trong thiên nhiên Lê Hữu Trác đã có công sưu tầm, phát hiện và
bổ sung thêm công hiệu của hơn 300 vị thuốc Nam và thu thập được gần ba nghìn phương thuốc của các bậc thầy thuốc đông y trước đây và của dân gian Lê Hữu Trác coi đạo làm thuốc là việc giữ gìn tính mệnh cho con người Sau bao năm tìm tòi nghiên cứu và chữa bệnh cho nhân dân, ông đã
để lại cho nền y học Việt Nam một tác phẩm y học vô giá là bộ Hải
Trang 34Thượng y tông tâm lĩnh gồm 28 tập, 66 quyển, đúc kết tinh hoa của y học
cổ truyền Tác phẩm y học vô giá này, đã toát lên sự vận dụng sáng tạo và
sự phát huy cao độ những thành tựu của nền y học dân tộc cổ truyền, xây dựng nên thành một hệ thống của toàn bộ lý, pháp, phương, dược trong cách chữa bệnh cứu người của nền y học Việt Nam Xuất phát từ thực tế tình hình đất nước ở thế kỷ XVII - XVIII, chiến tranh kéo dài giữa các tập đoàn phong kiến là cơ sở cho nền khoa học quân sự ở thời kỳ này có những bước tiến mới cả về lý luận lẫn thực tiễn Tựu chung lại, trên toàn bộ mọi phương diện, nền văn hóa dân tộc của Việt Nam trong các thế kỷ XVII - XVIII, tuy có bị hạn chế phần nào do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, nhưng
nó vẫn thể hiện một sức sống mạnh mẽ vốn tiềm ẩn từ bên trong của toàn dân tộc với những nội dung tiến bộ và mang tính dân tộc sâu sắc
Tuy bị chi phối và thống trị bởi giai cấp phong kiến phương Bắc, nhưng tư tưởng truyền thống của dân tộc ta vẫn được duy trì, phát huy và gặt hái được một số thành tựu nhất định Lê Hữu Trác đã kế thừa, vận dụng những thành tựu, những triết lý truyền thống đó để phát triển sự nghiệp của mình Với tấm lòng yêu thương con người, ông luôn đề cao đạo đức của người thầy thuốc Đã nhiều lần ông nhấn mạnh: “nghề thuốc
là một nghề thanh cao, là một nghề có lòng nhân…”, “đạo làm thuốc là một nhân thuật có nhiệm vụ giữ gìn tính mạng người ta, phải lo cái lo của người, vui cái vui của người, chỉ lấy việc giúp người, làm phận sự của mình mà không cầu lợi kể công” [48, tr.26] Trong đối nhân xử thế, ông đặt ra cho mình những quy tắc cần thiết đối với một người thầy thuốc chân chính Ông luôn khiêm tốn, không hề tự cao tự đại, khoe khoang luôn tranh thủ sự đồng tình của người khác để cầu học hoặc thu kết quả trong việc làm Ông tận tình cứu chữa, kể cả trường hợp có oán thù, cũng “không vì oán thù mà khác chí…” Nói chung theo Lãn Ông
Trang 35phương châm xử thế của người thầy thuốc là: “quên mình cứu chữa người ta, ngoài ra tất cả chỉ là mây trôi” [48, tr.10]
1.2.2 Ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống xã hội Việt Nam
và sự hình thành tư tưởng Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác
Bên cạnh việc kế thừa những tu tưởng văn hóa truyển thống của nhân loại, Lê Hữu Trác còn chịu sự ảnh hưởng khá sâu sắc từ những tư tưởng Trung Quốc, nhất là trong lĩnh vực y học, cụ thể là giáo lý của Nho - Lão
Nho gia là một trong những trường phái triết học lớn của Trung Quốc thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc do Khổng Tử (551 - 479 tr.CN) - nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà giáo dục lớn sáng lập Chữ “nho” bắt nguồn từ chữ “nhân” (nghĩa là người), đứng bên chữ “nhu” (nghĩa là cần dùng, chờ đợi) Cho nên, chữ “nho” bao hàm hai nghĩa: nghĩa thứ nhất
“nho” tức là người mà xã hội cần để giúp người giúp đời; nghĩa thứ hai
“nho” là người học thấu đạo thánh hiền chờ đợi đem tài trí giúp đời Nho gia, Nho giáo, Nho học là những khái niệm, theo quan niệm thông thường là có ý nghĩa tương đồng, nhưng thực ra giữa chúng cũng có sự khác biệt Nho gia là khái niệm chỉ một trường phái triết học như nhiều trường phái khác trong “Bách gia chư tử” thời Tiên Tần Tên gọi này
được bắt đầu ghi lại trong Hán thư, Nghệ văn chí Nho giáo nghĩa là đạo
Nho, như tên gọi đạo Phật, đạo Lão…, trong cục diện “tam giáo”, nhưng thực chất, Nho giáo không phải là một tôn giáo theo đúng nghĩa của nó
Nó không có hệ thống giáo lý, giới luật, giáo hội và tín đồ chặt chẽ như các tôn giáo khác, nhưng với sự ảnh hưởng rộng lớn của nó trong dân chúng và việc tôn sùng các bậc tiền hiền của Nho - được coi là những bậc thánh hiền, đạo Nho hiển nhiên được coi như một tôn giáo Còn khái niệm Nho học chính là dùng để chỉ học thuyết của Nho giáo Tư tưởng của Nho giáo được thể hiện trong các tác phẩm được coi là kinh điển của
Trang 36Nho học đó là Tứ thư gồm: Luận ngữ, Trung dung, Đại học, Mạnh Tử và Ngũ kinh gồm: Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Xuân thu Từ thời Hán trở về sau người ta còn nói đến Thập tam kinh trong kinh sách của Nho là Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Xuân thu, Chu lễ, Nghi lễ, Công Dương, Cốc Lương, Hiếu kinh, Luận ngữ, Nhĩ Nhã, Mạnh Tử Quá trình hình thành phát triển của Nho giáo,
từ thời Xuân thu - Chiến quốc đến thời kỳ phong kiến có thể khái quát thành ba giai đoạn chính; đó là Nho thời kỳ Tiên Tần, Nho thời kỳ Lưỡng Hán và Nho thời kỳ Tống - Minh - Thanh
Nho gia thời kỳ Tiên Tần là học phái đại biểu cho lợi ích của giai
cấp chủ nô đang suy tàn thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc Người sáng lập
ra Nho gia là nhà tư tưởng nổi tiếng Khổng Khâu và nhân vật đại biểu thứ hai của Nho gia là Mạnh Kha Do vậy học thuyết của Nho gia còn gọi là Nho học hay đạo Khổng - Mạnh Khổng Tử đã đề xướng cương lĩnh chính trị đạo đức “khắc kỷ phục lễ” hy vọng cải biến xã hội, phục hồi chế độ tông pháp và cơ sở kinh tế chế độ “tỉnh điền” thời kỳ Tây Chu
và toàn bộ kiến trúc thượng tầng của xã hội ấy Khổng Tử thiết lập một
hệ thống triết học bắt đầu từ sự đề cao đạo “trung hòa”, “trung dung” đi đến quan điểm “Thiên lý”, “Thiên mệnh”; coi đó là lý màu nhiệm lưu hành trong trời đất, chi phối vạn vật Ông nhấn mạnh quan điểm tri mệnh, úy mệnh, thuận mệnh và tin vào số mệnh “tử sinh hữu mệnh, phú
quý tại thiên” (Luận ngữ, Nhan Uyên, 5) Trong hệ thống tư tưởng của
mình Khổng Tử cũng đề xuất những vấn đề về nhận thức và lý luận về giáo dục, ông nhấn mạnh “tính tương cận”, “hữu giáo vô loại”, chủ trương giáo dục đạo lý nhân nghĩa để đào tạo ra mẫu người lý tưởng, người quân tử Điểm mấu chốt cuối cùng trong triết học Khổng Tử là tư tưởng “đức trị” hay “nhân trị” Ông chủ trương “vi chính dĩ đức”, tức lấy cái đức để làm chính trị, dùng đức nhân để thu phục thiên hạ, thi hành
Trang 37rộng rãi phương pháp lễ trị, để trị nước với cương lĩnh “khắc kỷ phục lễ” nhằm phục hồi chế độ tông pháp nhà Chu, bảo vệ lợi ích và địa vị thống trị của giai cấp quý tộc chủ nô Người thứ hai của Nho gia thời kỳ Tiên Tần, tiếp tục những tư tưởng của Khổng Tử là Mạnh Kha (372 - 289 tr.CN) Đứng trên lập trường của giai cấp quý tộc chủ nô, Mạnh Tử đã quy các vấn đề của triết học Nho gia vào “nhân chính” - một học thuyết chính trị đặc sắc Mạnh Tử giương cao ngọn cờ “pháp tiên vương”, đề xướng “vương đạo”, “nhân chính”, bảo vệ chế độ “tỉnh điền” tuyên truyền nhân nghĩa, dân bản: “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” mong muốn khôi phục lại chế độ nô lệ, bảo vệ lợi ích cho giai cấp quý tộc cũ Vấn đề then chốt trong triết học Mạnh Tử là học thuyết về tính thiện Theo Mạnh Tử, tính thiện là bản nguyên tinh thần vốn có, là thiên
lý trời phú cho con người Nó được thể hiện qua bốn đức lớn là nhân, nghĩa, lễ, trí Về lịch sử - xã hội, Mạnh Tử theo quan điểm lịch sử tuần hoàn với thuyết “nhất trị nhất loạn”, đề cao vai trò của các vĩ nhân, anh hùng Mạnh Tử nói chung đã tiếp nối một cách xuất sắc tư tưởng của Khổng Tử, làm cho Nho giáo trở thành “đạo thống”, được lưu truyền rộng rãi và có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tinh thần xã hội Trung Quốc cổ đại
Nho gia thời kỳ Lưỡng Hán: Đại biểu là Đổng Trọng Thư (179 -
104 tr.CN) Ông đã có công khôi phục và hệ thống hóa tư tưởng Nho học thời kỳ Tiên Tần, nhất là phần triết lý đạo đức nhân sinh của Khổng - Mạnh, kết hợp tư tưởng Nho học với chủ nghĩa thần bí trong thuyết Âm dương ngũ hành, phục hồi lý luận chính trị thần quyền thời Tây Chu; tạo nên hình thái mới của Nho học được coi là giai đoạn phát triển lớn thứ hai của Nho gia, trở thành hệ tư tưởng thống trị của xã hội phong kiến thời kỳ Lưỡng Hán về sau Đổng Trọng Thư đã đề ra lý luận thần học
“trời và người hợp nhất”, “trời trao chính quyền”, “trời với người cảm
Trang 38hứng” Ông cho rằng trật tự tự nhiên và trật tự xã hội đều sắp đặt theo ý chí của thần; thân thể, ý thức và tính tình con người đều do thần ban cho
Về luân lý đạo đức, Đổng Trọng Thư đã có công khái quát các phạm trù đạo đức của Khổng - Mạnh thành hệ thống các phạm trù đạo đức chính trị và trở thành nguyên tắc đạo đức chính trị cơ bản của một xã hội phong kiến, đó là thuyết “tam cương” “ngũ thường”, “ngũ luân” Tam cương là ba giềng mối chính trrong quan hệ xã hội gồm “quân vi thần cương”, “phụ vi tử cương”, “phu vi thê cương” Ngũ luân tức năm luân loại trật tự thứ bậc xã hội: vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè Ngũ thường là năm đức tính luôn phải có của con người và là năm điều quy phạm luân lý đạo đức phong kiến: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Về chính trị - xã hội, Đổng Trọng Thư đã đưa ra lý luận về lịch sử có tính tuần hoàn và duy tâm chủ nghĩa Đổng Trọng Thư quan niệm một cách máy móc rằng, sự thay đổi của các triều đại trong lịch sử chẳng qua là sự biến đổi tuần hoàn theo thứ tự của “tam thống”, “tam chính”; do đó một vương triều xuất hiện đều thay đổi lịch pháp, màu sắc cờ xí, quần áo, chứng tỏ đã nhận được thiên mệnh thống trị nhân dân Còn trật tự căn bản của xã hội phong kiến, “cương thường” của xã hội phong kiến là không thay đổi
Nho học thời kỳ Tống - Minh - đầu Thanh (960 - 1840): Để duy trì
và củng cố nền thống trị phong kiến tập quyền, giai cấp thống trị đời Tống - Minh và đầu nhà Thanh đã chủ trương độc tôn Nho học, phản đối Pháp gia, cạnh tranh kế thừa tư tưởng của các học phái Phật giáo, Đạo gia sáng tạo nên một hình thái mới của Nho gia gọi là Lý học hay Đạo học Lý học của Nho gia trở thành hình thái ý thức quan phương của xã hội phong kiến thời kỳ Tống - Minh - Thanh Nó đã phát triển tư tưởng của Nho gia qua hệ thống các nguyên lý, các cặp phạm trù trên các lĩnh vực bản thể luận, nhân thức luận và đạo đức nhân sinh như “đạo” và
Trang 39“khí”, “lý” và “khí”, “tâm ” và “vật”, “trí” và “hành”, “trí tri cách vật”,
“thiên lý”, “nhân dục”, “tam cương ngũ thường”; với các nhà tư tưởng tiêu biểu như Trình Hạo, Trình Di, Chu Hy, Lục Cửu Uyên, Vương Thủ Nhân, Đới Chấn, Nhan Nguyên… Đặt nền móng cho Lý học của Nho học Tống Minh phải kể từ Hàn Dũ (768 - 824), Lý cao (722 - 841) và bắt đầu hình thành từ Chu Đôn Di (1017 - 1073), Thiệu Khang Tiết (1011 - 1077) thời Bắc Tống Nhưng Lý học thật sự phát triển đến đỉnh cao là thời kỳ Tống - Minh và bắt đầu nhà Thanh; được coi là giai đoạn phát triển thứ ba của Nho giáo Từ sau cuộc chiến tranh Nha phiến năm 1840, trước sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản và văn minh, kĩ thuật phương Tây, Trung Quốc bước vào thời kỳ cận đại và trở thành một nước nửa thuộc địa nửa phong kiến Nho giáo cũng mất dần vai trò lịch sử của nó
và đi tới suy vong
Nho giáo là một học thuyết duy tâm khách quan Có người do không nắm được bản chất của Nho giáo đã cho rằng Nho giáo là một học thuyết vô thần Thực ra, tuy Nho giáo, nhất là Khổng Tử, có lúc quan niệm trời như là một thế giới có sự vận hành tự nhiên (Thiên hà ngôn tai!
Tứ thời hành yên, vạn vật sinh yên - Luận ngữ, Dương hóa, 18), có lúc
kính trọng quỷ thần nhưng xa lánh quỷ thần, nhưng bản chất tư tưởng của Khổng Tử không phải là duy vật hay vô thần Đúng là ông không coi trọng, không đi sâu nghiên cứu vấn đề quan hệ giữa thể xác và linh hồn, vấn đề có hay không có cuộc sống sau khi con người chết đi, có hay không có ma quỷ, nhưng tư tưởng của ông vẫn là duy tâm và thần bí thể hiện ở khái niệm “mệnh trời” (Thiên mệnh) Khổng Tử cho rằng: “Người quân tử có ba điều sợ: sợ mệnh trời, sợ bậc đại nhân, sợ lời thánh nhân”
(Luận ngữ, thiên Quý thị ) [6, tr.293] Ông còn nói: “sống chết có mệnh,
giàu sang ở trời” (Luận ngữ, thiên Nhan Uyên) [6, tr.293], “không biết
mệnh thì không phải là người quân tử”, “năm mươi tuổi thì biết được
Trang 40mệnh trời” (Luận ngữ, thiên Nghiêu viết) [6, tr.293] Tư tưởng này của
Khổng Tử đến Hán Nho thì phát triển thành thuyết duy tâm mục đích luận thần học với luận đề “Thiên nhân cảm ứng”, cho tất cả đều do trời định Điều này thể hiện sự bất lực của Nho giáo; và do bất lực đó mà từ Hán Nho về sau, khuynh hướng vương quyền kết hợp với thần quyền ngày một rõ Nho giáo với nội dung như trên hoàn toàn không phù hợp với một xã hội vừa mới thoát thai từ thời Văn Lang - Âu Lạc, với chế độ lạc hầu, lạc tướng như xã hội nước ta hồi đầu Bắc thuộc Dân ta lúc bấy giờ không cần Nho giáo Nho giáo vào nước ta là do tầng lớp thống trị Trung Quốc áp đặt Thế nhưng tình hình về sau có khác Khi nền tảng và
cơ cấu xã hội Việt Nam ít nhiều đã mang tính chất của phương Bắc thì Nho giáo lại là một yêu cầu, một thứ học thuật tư tưởng mà người trong nước cần phải tiếp thu Nho giáo du nhập vào Việt Nam thời Bắc thuộc không còn là Nho giáo Khổng - Mạnh nguyên thủy mà là Nho giáo đã được Hán Nho cải tạo cho thích hợp với chế độ phong kiến trung ương tập quyền nhà Hán Trên cơ sở về “đạo”, “thiên lý”, “thiên mệnh”,
“trung dung”, “trung thứ”, “nhân”, “nghĩa”, “lễ”, “tứ”, “dũng”, “hiếu”… của Khổng - Mạnh, Đổng Trọng Thư đã cải tạo, kết hợp với thần học,
“sấm vĩ”, thần bí hóa tư tưởng Nho học thành một trào lưu tư tưởng phản động, thống trị trong đời sống xã hội phong kiến thời Lưỡng Hán, với tư tưởng “Thiên bất biến đạo diêc bất biến”, “Thiên nhân cảm ứng”,
“Vương quyền thần thụ”, “Tam cương ngũ thường”, “Tính tam phẩm”,
“Dương tôn âm ti”, “Tam thống tam chính” trong quan điểm về vũ trụ
và nhân sinh, trong tư tưởng về chính trị và đạo đức xã hội Nho giáo thời kỳ này vừa là công cụ tinh thần phục vụ cho bộ máy quan liêu, vừa được thần bí hóa để lợi dụng yếu tố mê tín của nhân dân Từ thời nhà Tấn đến nhà Lương, do loạn lạc ở Trung Quốc nên Nho học ở nước ta thời kỳ này không có những bước tiến bộ nào Đến thời kỳ Tùy - Đường,