1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong tục cấm kị của người trung quốc (có so sánh với việt nam)

178 375 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi lẽ thông qua việc nghiên cứu phong tục cấm kị của người Trung Quốc và so sánh với Việt Nam, chúng tôi không những được sử dụng các phương pháp và kiến thức đã học để đi sâu tìm hiểu

Trang 1

Nguyễn Tuấn Nghĩa

PHONG TỤC CẤM KỊ CỦA NGƯỜI TRUNG QUỐC (CÓ SO SÁNH VỚI VIỆT NAM)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CHÂU Á HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS Lê Đình Khẩn

Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2012

Trang 2

Xin được cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã hết lòng ủng hộ Đặc biệt, xin được bày tỏ lòng tri ân đối với thầy Lê Đình Khẩn, người đã trực tiếp hướng dẫn chúng tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 10 năm 2012

Học viên Nguyễn Tuấn Nghĩa

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 2

MỤC LỤC 3

DANH MỤC HÌNH 7

DANH MỤC BẢNG 9

DẪN NHẬP 11

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 11

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 12

3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 13

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 14

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 15

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU 16

7 BỐ CỤC 18

Chương Một: LÍ THUYẾT VỀ CẤM KỊ 19

1.1 TÊN GỌI VÀ KHÁI NIỆM 20

1.2 NGUỒN GỐC VÀ PHÁT SINH 32

1.3 BẢN CHẤT VÀ ĐẶC TRƯNG 46

1.4 CHỨC NĂNG VÀ Ý NGHĨA 53

1.5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHÂN LOẠI 57

Chương Hai: NHỮNG CẤM KỊ THƯỜNG NGÀY Ở TRUNG QUỐC 64

2.1 ĂN 66

2.1.1 Cấm kị đối với thức ăn 66

2.1.2 Cấm kị đối với vật dụng dùng trong ăn uống 70

Trang 4

2.1.3 Cấm kị đối với cách ăn uống và làm bếp 71

2.1.4 Cấm kị đối với thời gian ăn uống 74

2.1.5 Cấm kị đối với địa điểm ăn uống, làm bếp 76

2.2 MẶC 77

2.2.1 Cấm kị đối với trang phục 77

2.2.2 Cấm kị đối với cách ăn mặc, may vá và phơi phóng 81

2.2.3 Cấm kị đối với vị trí phơi phóng và sắp xếp trang phục 82

2.3 Ở 83

2.3.1 Cấm kị đối với vị trí nhà 84

2.3.2 Cấm kị đối với cấu trúc bên trong nhà 88

2.3.3 Cấm kị đối với cách cư trú 90

2.4 NHÌN 91

2.4.1 Cấm kị liên quan với con người 91

2.4.2 Cấm kị liên quan với động vật 92

2.4.3 Cấm kị liên quan với thực vật 94

2.4.4 Cấm kị liên quan với hiện tượng thiên nhiên 95

2.5 NGHE 96

2.5.1 Cấm kị âm thanh của con người 97

2.5.2 Cấm kị âm thanh của động vật 97

2.5.3 Cấm kị âm thanh của các hiện tượng thiên nhiên 99

2.6 CẢM GIÁC 99

Cấm kị đối với cảm giác của cơ thể 100

2.7 NÓI VIẾT 101

2.7.1 Cấm kị đối với từ ngữ 101

2.7.2 Cấm kị đối với cách ăn nói 108

2.8 ĐỤNG CHẠM 109

Cấm kị đối với đối tượng đụng chạm 109

2.9 ĐI ĐỨNG 112

2.9.1 Cấm kị đối với cách thức đi đứng 112

Trang 5

2.9.2 Cấm kị đối với vị trí đi đứng 112

2.10 NẰM NGỒI NGỦ NGHỈ 115

2.10.1 Cấm kị đối với vật dụng phục vụ việc nằm ngồi ngủ nghỉ 115

2.10.2 Cấm kị đối với cách thức nằm ngồi ngủ nghỉ 116

2.10.3 Cấm kị đối với vị trí nằm ngồi ngủ nghỉ 117

2.11 VỆ SINH 118

2.11.1 Cấm kị đối với đối tượng của việc vệ sinh 118

2.11.2 Cấm kị đối với vật dụng để làm vệ sinh 119

2.11.3 Cấm kị đối với cách thức vệ sinh 120

2.11.4 Cấm kị đối với thời điểm vệ sinh 121

2.11.5 Cấm kị đối với địa điểm vệ sinh 122

2.12 TÌNH DỤC 123

2.12.1 Cấm kị đối với đối tượng quan hệ 123

2.12.2 Cấm kị đối với cách thức quan hệ 123

2.12.3 Cấm kị đối với thời điểm quan hệ 124

2.12.4 Cấm kị đối với địa điểm quan hệ 126

2.13 GIAO TẾ 127

2.13.1 Cấm kị đối với đối tượng kết giao 128

2.13.2 Cấm kị đối với tặng phẩm 132

2.13.3 Cấm kị đối với cách giao tế 133

2.13.4 Cấm kị đối với thời điểm viếng thăm, tiếp đón 136

2.14 UỐNG THUỐC 136

2.14.1 Cấm kị đối với cách thức chế biến thuốc 136

2.14.2 Cấm kị đối với địa điểm sử dụng thuốc 138

2.15 ĐI XA 138

2.15.1 Cấm kị đối với người đồng hành 139

2.15.2 Cấm kị đối với thời điểm đi xa 139

2.15.3 Cấm kị đối với cách thức đi xa 141

Trang 6

Chương Ba:

PHONG TỤC CẤM KỊ VÀ GIỚI TRẺ NGÀY NAY 142

3.1 THÁI ĐỘ VÀ NHẬN ĐỊNH VỀ PHONG TỤC CẤM KỊ 145

3.1.1 Thái độ của bản thân đối với cấm kị 145

3.1.2 Thái độ của gia đình đối với cấm kị 148

3.1.3 Nhận định của bản thân về cấm kị 150

3.2 NHẬN THỨC VÀ HIỂU BIẾT VỀ PHONG TỤC CẤM KỊ 153

3.2.1 Tự đánh giá về mức độ hiểu biết phong tục cấm kị 153

3.2.2 Nguồn thông tin về phong tục kiêng kị 155

3.2.3 Nhận thức về một số vấn đề cấm kị 157

3.2.4 Hiểu biết về một số phong tục cấm kị 160

KẾT LUẬN 164

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 171

A TIẾNG VIỆT 171

B TIẾNG ANH 173

C TIẾNG HOA 173

D INTERNET 175

PHỤ LỤC: BẢNG KHẢO SÁT THÔNG TIN 176

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

5) 2.1 Đôi đũa - vật dụng thiết yếu trong bữa ăn 70 baby.qq.com

6) 2.2 Mũ xanh - thứ người Trung Quốc kị đội 78 tieba.baidu.com

7) 2.3 Chùa miếu - nơi cư ngụ của thần linh 83 bjaround.lotour.com

9) 2.5 Cú mèo - “chim đen kêu tiếng ác” 97 www.tumblr.com

10) 2.6 Hắt hơi - dấu hiệu chẳng lành 99 www.chinahelpnet.com 11) 2.7 Khổng Tử - thiên hạ kiêng tên 101 apphistory.news.ifeng.com12) 2.8 Nữ nhân - “hồng nhan họa thủy” 110 9276072.blog.hexun.com 13) 2.9 Táo Quân - thần Bếp của gia đình 112 news.xinhuanet.com

14) 2.10 Bậu cửa - vị trí thiêng liêng của gia đình 116 www.yigui114.com

15) 2.11 Chổi tre không dùng quét phòng khách 118 www.bamboo.cn

16) 2.12 Bìa một quyển “Tố Nữ kinh” 125 www.ebookcn.com

17) 2.13 Tướng thuật của người Trung Quốc 129 www.china.com.cn

18) 2.14 Ấm sắc thuốc cũng có điều cấm kị 136 www.amazon.cn

Trang 8

19) 3.1 Biểu đồ thể hiện niềm tin đối với phong

tục cấm kị

145 Nguyễn Tuấn Nghĩa

20) 3.2 Biểu đồ tỉ lệ gia đình và người thân bắt

buộc tuân thủ các cấm kị

149 Nguyễn Tuấn Nghĩa

21) 3.3 Biểu đồ thể hiện nhận định về tương lai

của các phong tục cấm kị

152 Nguyễn Tuấn Nghĩa

22) 3.4 Biểu đồ thể hiện việc tự đánh giá hiểu

biết cá nhân về phong tục cấm kị 153 Nguyễn Tuấn Nghĩa

23) 3.5 Biểu đồ các nguồn thông tin về cấm

kị có ảnh hưởng đến cá nhân

155 Nguyễn Tuấn Nghĩa

24) 3.6 Biểu đồ so sánh kết quả kiểm tra hiểu

biết về một số phong tục cấm kị

162 Nguyễn Tuấn Nghĩa

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

1) 1.1 Các nhóm trong phạm trù “cấm kị” 28 Nguyễn Tuấn Nghĩa 2) 2.1 Hệ thống “tam đẳng cửu lưu” 128 Tư liệu

3) 3.1 Sự quan tâm đối với phong tục cấm kị 144 Nguyễn Tuấn Nghĩa 4) 3.2 Niềm tin đối với phong tục cấm kị 145 Nguyễn Tuấn Nghĩa 5) 3.3 Sự tuân thủ các phong tục cấm kị 146 Nguyễn Tuấn Nghĩa

6) 3.4 Mức độ tìm hiểu các phong tục cấm kị

trước khi làm việc quan trọng 146 Nguyễn Tuấn Nghĩa

7) 3.5 Các nội dung cấm kị được quan tâm 147 Nguyễn Tuấn Nghĩa

8) 3.6 Niềm tin và sự chấp hành của gia đình và

người thân đối với cấm kị

148 Nguyễn Tuấn Nghĩa

9) 3.7 Sự bắt buộc của gia đình và người thân

đối với việc tuân thủ các cấm kị

148 Nguyễn Tuấn Nghĩa

10) 3.8 Sự trừng phạt đối với việc vi phạm các

150 Nguyễn Tuấn Nghĩa

13) 3.11 Quan điểm về việc dạy con cái phong tục

cấm kị

151 Nguyễn Tuấn Nghĩa

14) 3.12 Nhận định về tương lai của các phong tục

cấm kị

151 Nguyễn Tuấn Nghĩa

15) 3.13 Tự đánh giá hiểu biết cá nhân về phong

tục cấm kị

152 Nguyễn Tuấn Nghĩa

16) 3.14 Tự đánh giá hiểu biết về nguồn gốc các

phong tục cấm kị 153 Nguyễn Tuấn Nghĩa

17) 3.15 Đánh giá sự phong phú của nguồn thông

tin về cấm kị

154 Nguyễn Tuấn Nghĩa

Trang 10

18) 3.16 Các nguồn thông tin về cấm kị có ảnh

hưởng đến cá nhân

155 Nguyễn Tuấn Nghĩa

19) 3.17 Các nguồn thông tin về cấm kị mà cá

nhân chủ động tìm đến

156 Nguyễn Tuấn Nghĩa

20) 3.18 Hiểu biết về khái niệm “phong tục cấm kị” 157 Nguyễn Tuấn Nghĩa

21) 3.19 Nhận thức về không gian có nhiều cấm kị 158 Nguyễn Tuấn Nghĩa

22) 3.20 Nhận thức về thời gian có nhiều cấm kị 158 Nguyễn Tuấn Nghĩa

23) 3.21 Nhận thức về đối tượng thường bị xã hội

cấm kị

159 Nguyễn Tuấn Nghĩa

24) 3.22 Đối tượng cấm kị của bản thân người

được hỏi

159 Nguyễn Tuấn Nghĩa

25) 3.23 Kết quả kiểm tra hiểu biết về “tháng Âm

lịch đáng sợ nhất”

160 Nguyễn Tuấn Nghĩa

26) 3.24 Kết quả kiểm tra hiểu biết về lí do kiêng

quét nhà ngày Tết 161 Nguyễn Tuấn Nghĩa

27) 3.25 Kết quả kiểm tra hiểu biết về các biện

pháp ứng phó với nhật thực

161 Nguyễn Tuấn Nghĩa

Trang 11

DẪN NHẬP

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

“Phong tục cấm kị của người Trung Quốc (có so sánh với Việt Nam)” là

đề tài mà chúng tôi vốn yêu thích và ấp ủ từ lâu Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp Đại học với tên gọi “Con số biểu trưng trong văn hóa Trung Hoa”, chúng tôi lưu ý thấy người Trung Quốc từ sớm đã có quan niệm rất rõ ràng về các con số đen đủi, xấu xa trong cuộc sống, cũng chính là một bộ phận trong cái mà họ gọi là “cấm kị”

Cùng lúc khảo sát thực tế xã hội Việt Nam, chúng tôi cũng nhận thấy nhiều nét tương đồng thú vị bên cạnh những khác biệt rất căn bản trong nhận thức của hai dân tộc cho cùng một đối tượng kể trên Có thể nói, chính các kết quả bất ngờ của khóa luận là gợi ý đầu tiên thu hút chúng tôi đến với đề tài luận văn này

Đối với học viên cao học Châu Á học chuyên sâu về Trung Quốc như chúng tôi, đây là một lựa chọn đúng đắn Bởi lẽ thông qua việc nghiên cứu phong tục cấm

kị của người Trung Quốc và so sánh với Việt Nam, chúng tôi không những được sử dụng các phương pháp và kiến thức đã học để đi sâu tìm hiểu về văn hoá Trung Hoa nói riêng và văn hoá phương Đông nói chung mà còn có cơ hội tuyệt vời để bản thân mở rộng hiểu biết về một lĩnh vực tinh thần xa xưa và vô cùng quan trọng

Không những thế, qua quá trình tìm hiểu và đánh giá sơ bộ, chúng tôi còn nhận thấy đề tài hứa hẹn mang lại nhiều đóng góp có giá trị về mặt khoa học và thực tiễn Mặc dù cấm kị là vấn đề đã được không ít học giả chú ý nghiên cứu từ khá lâu nhưng ở Việt Nam, đây vẫn là một lĩnh vực tương đối mới và chưa được quan tâm đúng mức Các tài liệu bằng tiếng Việt bàn về phong tục cấm kị của Việt Nam và của Trung Quốc tuy đã có nhưng tuyệt đại đa số là mô tả mà chưa thấy nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ khoa học Thực tế đó cho thấy một công trình nghiêm túc về vấn đề này là cần thiết và hữu ích

Trang 12

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Mục đích đầu tiên của luận văn là mô tả các phong tục cấm kị thường gặp trong cuộc sống hàng ngày của người Trung Quốc Nhưng không chỉ dừng lại ở việc mô tả đơn thuần, chúng tôi còn tiến hành xác minh tính chính xác và đầy đủ của các nội dung ấy thông qua các nguồn tài liệu có thể tiếp cận được, đồng thời sắp xếp các nội dung cấm kị tương tự nhau về nguyên tắc vào cùng một nhóm để khái quát các nội dung này ở một cấp độ cao hơn Cùng lúc, các phong tục cấm kị tương

tự của người Việt Nam được đem ra đối chiếu để xác định sự tương đồng và khác biệt, cũng như những ảnh hưởng (nếu có) trong các phong tục ấy

Mục đích tiếp theo của luận văn là tìm hiểu sức sống của phong tục cấm kị ở Trung Quốc và Việt Nam trong thời đại ngày nay thông qua thái độ và nhận thức của giới trẻ của hai quốc gia này Sau đó, dựa trên các kết quả thu hoạch được, luận văn có thể đưa ra một số nhận định bước đầu về hiện trạng của phong tục cấm kị ở Trung Quốc, Việt Nam và nêu ra một số gợi ý về xu thế vận động, biến đổi của nó trong tương lai

Ngoài ra, luận văn không chỉ minh họa sống động cho các vấn đề lí thuyết về cấm kị mà mặt khác còn tiến hành kiểm chứng tính chân xác của các lí thuyết đã có,

từ đó cho phép khám phá và đưa ra một số nhận định, ý kiến đóng góp, bổ sung nhất định về phương diện lí luận cho lĩnh vực này Thậm chí nghiên cứu còn được

hi vọng có thể tìm ra một số nét đặc thù nào đó của văn hóa Trung Hoa và phương Đông trên nền tảng lí thuyết chung do các nhà khoa học Tây phương khởi xướng

Cuối cùng, với luận văn này, hi vọng có thể góp thêm một nguồn tư liệu hữu ích cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu hơn, hoặc chí ít cũng là một tài liệu tham khảo có giá trị đối với các độc giả có quan tâm đến vần đề thú vị này

Trang 13

và Wilhelm Wundt [Britannica Online 2012: Taboo]

Cống hiến lớn lao mà các nhà khoa học tiền bối đã thực hiện chính là xây dựng một cơ sở lí thuyết quan trọng cho vấn đề cấm kị và đặt nó vào vị trí khởi nguyên của tôn giáo và văn hóa nhân loại Tuy nhiên, đối với vấn đề cụ thể là

“phong tục cấm kị của người Trung Quốc” thì chúng tôi, trong tầm hiểu biết và

tiếp cận thông tin tương đối hạn chế của mình, vẫn chưa tìm thấy công trình nào tiêu biểu do các nhà nghiên cứu phương Tây thực hiện

Ở Trung Quốc, phong tục dân gian là lĩnh vực rất được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là từ giai đoạn 1976 cho đến nay [任骋 2004: 序 (1)] Hiện nay, về cơ bản các học giả Trung Quốc đã tập hợp khá đầy đủ và chi tiết các phong tục cấm kị quan trọng, nổi bật của đất nước mình và xuất bản thành các ấn phẩm riêng biệt với tên gọi thường gặp là “Trung Quốc dân tục văn hóa - Cấm kị” Một số công trình không những miêu tả nội dung của cấm kị mà còn đi sâu phân tích một cách có hệ thống và bài bản, về phương diện lí luận đã có những đóng góp nhất định trên cơ sở

kế thừa và tiếp thu các lí thuyết kinh điển của giới khoa học phương Tây

Tại Việt Nam, vấn đề này đã được một số tác giả như Triều Sơn, Hoàng Minh Thảo, Trần Duy Khương quan tâm nhưng cũng chỉ mới bắt đầu bằng việc biên dịch và tổng hợp tài liệu bằng tiếng Trung sang tiếng Việt Điều đáng nói là bản thân phong tục cấm kị của Việt Nam cũng chưa được nghiên cứu một cách độc lập, chuyên sâu và bài bản, chủ yếu vẫn là các ấn phẩm có tính thực dụng dùng tham khảo trước khi tiến hành các việc hệ trọng như cưới hỏi, tang ma, cất nhà v.v

Trang 14

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn này, giống như tên gọi của nó, là

phong tục cấm kị của người Trung Quốc

Thoạt nghe, có vẻ đây là một đề tài khá đơn giản và dễ dàng, nhưng một khi bắt tay vào tìm hiểu mới nhận thấy sự phong phú và đa dạng đến kinh ngạc của nó Dường như cấm kị có mặt mọi lúc, mọi nơi và tồn tại trên mọi phương diện của cuộc sống Khi chúng ta ở nhà, đến trường, đi làm hay vui chơi, lễ bái đều phải tuân theo một số qui định kiêng kị Ngày lễ, ngày tết, lúc ốm đau, khi sinh nở cũng có không ít thứ phải kiêng khem Rồi cả những thứ rất đỗi bình thường như đôi đũa, cái bát, con chó, con mèo cũng ẩn chứa những qui định cấm kị mà người xưa truyền dạy Có thể nói, bao quanh chúng ta luôn có những điều kiêng kị, chỉ có điều là chúng ta có nhận thức được chúng hay không mà thôi

Do đó, trình bày và phân tích cặn kẽ về tất cả các phong tục cấm kị của một cộng đồng vốn đã rất khó khăn lại càng trở nên gian nan, thậm chí là bất khả thi, đối với một đất nước rộng lớn, đông đúc và giàu truyền thống như Trung Quốc Vậy nên, trong khuôn khổ của một luận văn Cao học theo qui định, chúng tôi xin được giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình trong các cấm kị đối với cuộc sống hàng ngày của bất kì người bình thường nào, nghĩa là cấm kị đó phải phổ biến trong xã hội chứ không quá chuyên biệt, đặc thù như kiểu cấm kị của một nhóm người đặc biệt hay một nhóm ngành nghề, tôn giáo Như vậy, có thể cụ thể hóa như sau:

(1) Về thời gian: thường nhật, nghĩa là không đề cập tới cấm kị trong các khoảng thời gian đặc biệt như lễ tết, sinh nở, cưới hỏi, ma chay v.v.; (2) Về không gian: lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam;

(3) Về chủ thể: nhân dân tất cả các tộc người đang sinh sống trong lãnh thổ hai nước trên;

(4) Về lĩnh vực: sinh hoạt đời thường, không bao gồm các cấm kị quá riêng biệt của một nhóm cấp bậc, ngành nghề, tôn giáo v.v

Trang 15

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Nghiên cứu về phong tục cấm kị của người Trung Quốc nói riêng và các dân tộc trên thế giới nói chung là một việc làm rất cần thiết và ý nghĩa Nó không những phát lộ một mảng văn hoá quan trọng của đời sống dân tộc, mà thông qua đó, còn giúp hiểu hơn về cách nhìn, cách nghĩ, tâm lí và quan niệm của dân tộc ấy Quan trọng hơn, nghiên cứu các phong tục cấm kị của người Trung Quốc kèm theo so sánh với phong tục cấm kị của người Việt Nam không những giúp chúng ta hiểu sâu sắc về nền văn hóa Trung Hoa và những ảnh hưởng của chúng trong đời sống của người Trung Quốc mà còn giúp chúng ta hiểu hơn về nền văn hóa của chính mình, vốn có nhiều nét tương đồng và ảnh hưởng thông qua quá trình giao lưu tiếp xúc văn hoá lâu đời trong lịch sử, từ đó hình thành phong cách ứng xử có văn hoá

Trên cơ sở kế tục thành quả của các nghiên cứu đi trước, đồng thời vận dụng những phương pháp, kiến thức đã được học, kết hợp tư duy của bản thân, luận văn một mặt củng cố, bổ sung và làm rõ thêm các nội dung trọng yếu đã có của vấn đề, mặt khác cung cấp một cái nhìn sâu hơn về chúng để từ đó tiến tới một số đóng góp nhất định trên phương diện lí thuyết Nghiên cứu còn giúp chứng tỏ phong tục tập quán, một trong những nhân tố quan trọng bậc nhất của xã hội loài người, tuy muôn màu muôn vẻ nhưng vẫn tuân thủ những qui luật phát sinh và phát triển nhất định

Trong thời đại ngày nay, khi thế giới bước vào kỉ nguyên mới của toàn cầu hóa và hội nhập, hiểu biết về các phong tục cấm kị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nghiên cứu dựa trên quan điểm khoa học và các dữ liệu được khảo sát thực tế cung cấp cơ sở cần thiết để tiến tới phân loại và đề xuất loại trừ các loại hình cấm kị mê tín có hại, đồng thời duy trì, thậm chí phát huy một số phong tục cấm kị có giá trị, ý nghĩa nhất định Cùng lúc, thông qua những nhận định bước đầu về hiện trạng và xu hướng vận động của phong tục cấm kị ở Trung Quốc, Việt Nam, luận văn có thể đưa ra một số gợi ý và kiến nghị cho công tác bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc

Cuối cùng, luận văn có thể góp thêm một tài liệu hữu ích cho các nghiên cứu liên quan cũng như các độc giả có quan tâm đến vần đề này

Trang 16

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU

Để đạt được các mục tiêu mà nghiên cứu đã đề ra, các phương pháp chủ yếu được sử dụng xuyên suốt luận văn này là:

• Phương pháp định nghĩa và phân loại;

• Phương pháp mô tả và so sánh;

• Phương pháp phân tích và tổng hợp;

• Phương pháp xác suất và thống kê

Các tài liệu chính được sử dụng ở đây là:

(Lí Thiếu Lâm 2006: Trung Hoa dân tục văn hóa - Trung Hoa cấm kị NXB

Nhân dân Nội Mông Cổ.)

Trang 17

Trong khi các tài liệu về phong tục cấm kị của Trung Quốc được biên soạn tập trung, phong phú và đầy đủ thì nguồn tư liệu về phong tục kiêng kị của Việt Nam vẫn còn khá ít ỏi và tản mát, sơ sài và rời rạc Một số sách với tên gọi đại loại như “Phong tục dân gian kiêng kị” hay “Các nghi lễ và kiêng kị của Việt Nam” thì chủ yếu là hướng dẫn qui trình và thủ tục thực hiện các sự kiện hệ trọng như cưới hỏi, tang ma, lễ tết, cúng bái v.v Vậy nên, ngoài các ấn phẩm nói trên, chúng tôi còn tham khảo từ các nguồn tài liệu khác, đặc biệt các sách vở chuyên ngành nhân học, dân tộc học, văn hóa học cùng các tài liệu tổng hợp về phong tục tập quán, nghi lễ truyền thống v.v

Riêng đối với vấn đề lí thuyết về cấm kị, bên cạnh các nội dung lí luận sẵn

có trong các tác phẩm về cấm kị bằng tiếng Trung kể trên, chúng tôi còn tham khảo trực tiếp các sách vở kinh điển về lĩnh vực này như “Cành Vàng” của James G Frazer, “Vật tổ và Cấm kị” của Sigmund Freud Nhân đây, chúng tôi cũng xin tỏ lòng khâm phục và biết ơn sâu sắc tới cuộc cách mạng công nghệ thông tin và những người tiên phong góp sức vì sự nghiệp nâng cao tri thức của nhân loại qua mạng lưới internet Chính sự hỗ trợ hữu hiệu, mạnh mẽ và kịp thời của các công cụ nghiên cứu điện tử cùng nguồn tài liệu vô giá chia sẻ trên mạng, bao gồm các tác phẩm kinh điển về đề tài mà chúng tôi không thể tiếp cận theo những cách thông thường, mà luận văn này mới hoàn chỉnh và trọn vẹn hơn

Ngoài ra, để đảm bảo tính khoa học và chuẩn mực trong suốt quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi còn thường xuyên sử dụng các tài liệu hướng dẫn về phương pháp nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước như: “Lôgic học và Phương pháp luận Nghiên cứu Khoa học”, “Kĩ năng viết Khóa luận và Luận văn ở Đại học”,

“Cẩm nang Sau Đại học”, “Social Research Methods”, tập bài giảng “Phương pháp Nghiên cứu Khoa học” của GS TSKH Trần Ngọc Thêm v.v

Trang 18

1.5 Đối tượng và phân loại

Chương Hai: NHỮNG CẤM KỊ THƯỜNG NGÀY Ở TRUNG QUỐC 2.1 Ăn

Trang 19

Như đã nhắc đến trong phần lịch sử vấn đề, các nhà khoa học như Sigmund Freud, William Robertson Smith, James G Frazer và Wilhelm Wundt chính là những người tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu vấn đề này Theo Bách khoa toàn thư Britannica thì các trước tác quan trọng của lĩnh vực nghiên cứu này gồm có

“Vật tổ và Cấm kị” (1913) của Freud, tác phẩm kinh điển “Cấm kị” (1956) của Franz Baermann Steiner, “Thanh khiết và Hiểm nguy” (1966) của Mary Douglas [Britannica Online 2012: Taboo] Có thể nói, các lí thuyết về cấm kị mà các nhà khoa học tiền bối đưa ra có ý nghĩa lớn lao cả về khía cạnh thực tiễn lẫn phương diện lí luận, một mặt tác động sâu sắc đến sự hiểu biết của chúng ta về một trong những vấn đề có tính nền tảng của văn hóa nhân loại, mặt khác cung cấp những tiền

đề và cơ sở quan trọng để nhận thức vấn đề cấm kị một cách khoa học và đúng đắn

Trang 20

1.1 TÊN GỌI VÀ KHÁI NIỆM

Về tên gọi, “taboo” là thuật ngữ được giới khoa học thế giới thống nhất dùng

để chỉ khái niệm cấm kị, vốn có nguồn gốc từ cách đọc “tapu” của cư dân Polynesian Nam Thái Bình Dương (tiếng Tongan

thì gọi là “tabu”, tiếng Hawaii thì gọi là “kapu”)

Tất cả các tài liệu đều ghi công thuyền trưởng

người Anh James Cook là người phương Tây đầu

tiên tiếp thu khái niệm “taboo” từ cư dân đảo

Tonga (nghĩa là Thân Thiện) trong lần ghé thăm

vào năm 1771 và được ghi chép trong chuyến hải

trình thứ ba của ông Sau khi James Cook giới

thiệu thuật ngữ mới này vào tiếng Anh, nó bắt đầu

được lưu hành rộng rãi và trở thành tên gọi thông

dụng cho khái niệm cấm kị [Jones 2005: 8947]

Tại Trung Quốc, các nhà nghiên cứu phát hiện từ “cấm kị” được sử dụng sớm nhất là trong các tài liệu thời nhà Hán Cụ thể là trong “Hán thư - Nghệ văn chí” có đoạn: “Kẻ hậu thế học theo nhưng bị cấm kị dẫn dắt nên dựa vào tiểu xảo, mặc chuyện người mà phó thác cho quỉ thần” “Hậu Hán thư - Lang Hồng truyện” thì viết: “Thần sinh trưởng ở nơi thôn dã, không hiểu biết những điều cấm kị, phơi bày ruột gan, viết chẳng lựa lời” Điều đó chứng tỏ từ “cấm kị” đã được người Trung Quốc sử dụng từ sớm trước khi chính thức xuất hiện trong các thư tịch này [任骋 2004: 第一节 禁忌的含义; Triều Sơn 2010: 10; Cao Quốc Phiên 1998: 346]

Mặc dù từ “cấm kị” được tìm thấy xưa nhất trong các sách vở thời Hán nhưng theo ghi nhận của các tác giả trong “Cội nguồn văn hóa Trung Hoa” thì hiện tượng kiêng kị cũng như các qui định về những việc không được làm đã xuất hiện

từ rất sớm Ví dụ như trong giáp cốt văn thời Thương, Chu, dân ca thời Xuân Thu

và tản văn thời Chiến Quốc “Kinh Thi” cũng có một câu thơ cấm chỉ tay vào cầu vồng, “Chu Lễ” thì nhắc đến kị húy của vua [Đường Đắc Dương 2003: 1238-1239]

Hình 1.1: James Cook

[www.britannica.com]

Trang 21

Hiện nay, giới nghiên cứu phong tục tập quán dân gian Trung Quốc đại đa số nhất trí từ “cấm kị” của Trung Quốc và thuật ngữ “taboo” là tương đương Tuy nhiên, theo tác giả Nhậm Sính thì có một số ý kiến từ giới tôn giáo học Trung Quốc cho rằng taboo chỉ là một chủng loại của cấm kị và lập luận rằng taboo vốn chỉ liên quan tới các cấm kị thiêng liêng chứ không bao gồm các cấm kị ô uế Nhưng theo Frazer và Freud thì thuở sơ khai người nguyên thủy vốn không tách bạch khái niệm thần thánh và ô uế mà chỉ có ý thức giản đơn về thứ “nguy hiểm”, “có tính ma quỉ”

và “không thể tiếp xúc” [Frazer 2007: 366; Freud 2000: 128] nên về cơ bản vẫn có thể chấp nhận hai tên gọi này là tương đồng Nhậm Sính còn lưu ý thuật ngữ

“taboo” hiện dùng có khác biệt với nguyên gốc của nó và bản thân khái niệm này cũng có biến đổi trong những giai đoạn cụ thể của lịch sử phát triển [任骋 2004: 第一

节 禁忌的含义]

Sâu hơn, các nhà nghiên cứu Trung Quốc còn có sự phân biệt khá rạch ròi giữa bản thân hai chữ “cấm” và “kị” trong từ “cấm kị” Theo phân tích và cách giải thích của Nhậm Sính, “cấm” 禁 với hình chữ trên là “lâm” dưới là “thị”, trong đó

“lâm” hàm nghĩa “quân vương”, còn “thị” hàm ý là “thông báo” nên kết hợp có ý nghĩa là những ngăn cấm do ngoại lực áp đặt, cụ thể là vua chúa (xã hội) hoặc thần thánh (tôn giáo); còn “kị” 忌 trên là “kỉ” - “bản thân”, dưới là “tâm” - “bên trong” nên hợp lại để chỉ những điều kiêng cữ do chính mình tự ý thức để kiềm chế bản thân [任骋 2004: 第一节 禁忌的含义]

Ngoài ra, ở Trung Quốc cũng tồn tại một từ rất gần nghĩa “cấm kị” là từ “kị húy” 忌讳, vốn rất phổ biến ở các vùng làng quê Sau khi phân tích, Nhậm Sính cho rằng “kị húy” gần với “kị” hơn “cấm”, nghĩa là có tính tự kiềm chế bản thân hơn là

bị bắt buộc Giải thích lí do “kị húy” phổ biến trong người dân nơi làng quê hơn

“cấm kị”, tác giả cho rằng người dân quê vốn rất tin vào các điều kiêng cữ trong cuộc sống và rất có ý thức phòng tránh nên rất tự nhiên, cách nói “kị húy” vốn có

Trang 22

sắc thái tự giác cao sẽ được sử dụng rộng rãi và thường xuyên hơn ở khu vực nông thôn, nơi các tập tục cấm kị vẫn còn ảnh hưởng lớn [任骋 2004: 第一节 禁忌的含义]

Ở Việt Nam, chúng tôi chưa thấy tài liệu nào nghiên cứu và tranh luận, xác định hay khẳng định cách dịch chính xác của “taboo” trong tiếng Việt là gì Dường như người Việt khá thoải mái và cùng lúc chấp nhận hai từ “cấm kị” và “kiêng kị”

là tương đương với “taboo” Trong “Anh - Việt Từ điển” của Nguyễn Văn Khôn,

“taboo” được dịch là “điều cấm kị”, “cấm kị” [Nguyễn Văn Khôn 1952: 1500]; còn

“Lạc Việt Từ điển 2002” thì dịch là “cấm kị” hay “kiêng kị” Tuy nhiên, khi trình bày về phong tục thì đa số các tác giả Việt Nam thường sử dụng cách gọi “kiêng kị”

và “kiêng cữ” hơn là “cấm kị”, ví dụ như Phan Kế Bính trong “Việt Nam phong tục”, Toan Ánh trong “Nếp cũ” hay Phạm Côn Sơn trong “Văn hóa Lễ tục ABC”

Có lẽ cách phân biệt giữa “cấm kị” và “kị húy” của Trung Quốc cũng có thể

áp dụng cho hai từ “cấm kị” và “kiêng kị” của Việt Nam, trong đó “kiêng kị” cũng giống “kị húy”, thông dụng trong văn nói và dân gian hơn là từ “cấm kị” Tuy nhiên,

để thống nhất về mặt thuật ngữ, luận văn sẽ chủ yếu sử dụng từ “cấm kị”, nhưng các

từ như “kiêng kị”, “kiêng cữ” đôi chỗ vẫn được sử dụng với ý nghĩa tương đương

Mặc dù tên gọi quốc tế của “cấm kị” đã được thống nhất cao nhưng cách hiểu về cùng một khái niệm ấy lại rất đa dạng, thể hiện ở vô số các định nghĩa khác nhau Dưới đây là cách giải thích về cấm kị của một số nhà khoa học lừng danh và một số định nghĩa trích từ các từ điển, bách khoa toàn thư và tài liệu chuyên môn có

uy tín trên thế giới

(1) Northcote W Thomas, trong “Bách khoa toàn thư Britannica”:

“Một cách nghiêm ngặt, taboo chỉ là:

a) đặc trưng thiêng liêng (hay không thuần khiết) của người hoặc vật;

b) kiểu hạn chế phát xuất từ đặc trưng trên; và

c) sự thiêng liêng (hay sự không thuần khiết) nảy sinh do vi phạm điều cấm.”

[Freud 2000: 66]

Trang 23

(2) James George Frazer:

ma thuật giao cảm không chỉ có những nguyên lí tích cực mà cũng còn có một số lượng lớn những nguyên lí tiêu cực, có nghĩa là những điều bị ngăn cấm; hệ thống đó không chỉ riêng gì, điều nên làm mà còn cả điều gì không được làm Những nguyên lí tiêu cực này là những điều cấm

kị Thậm chí toàn bộ học thuyết về điều cấm kị, nói gọn lại, cũng có vẻ chỉ là một cách áp dụng riêng biệt của ma thuật giao cảm và của những qui luật lớn của nó về tương đồng và về tiếp xúc.”

đoán nảy sinh từ những đặc tính trên, và

cuối cùng căn cứ theo ý nghĩa của nó, cấm

kị bao gồm những cái gì thiêng liêng siêu

phàm, đồng thời cũng lại rất nguy hiểm,

Trang 25

(4) Tân Bách khoa toàn thư Britannica:

“Cấm kị là sự ngăn cấm một hành động hay việc sử dụng một đối tượng mà căn cứ theo sự phân biệt mang tính nghi lễ thì hoặc là thiêng liêng

và được dâng cúng hay là nguy hiểm, ô uế và bị nguyền rủa.”

[Safra 1998: 483-484]

(5) Bách khoa toàn thư Tôn giáo:

“Cấm kị là một cấm đoán hoặc hạn chế có tính xã hội được thừa nhận bởi phương tiện siêu xã hội (sẵn có) hay một mệnh lệnh mà xã hội thừa nhận

và được tuyên bố là có hiệu lực cấm đoán như vậy.”

[Jones 2005: 8947]

(6) Bách khoa toàn thư Thế giới:

“Cấm kị là một hành động, sự vật, người hoặc nơi chốn bị cấm đoán bởi luật lệ hoặc văn hóa.”

[Jacobs 2002: 4]

(7) Từ điển Tân Thế giới Webster - Bản Đại học:

“1 a) Trong một số tộc người Polynesian, một cấm kị thiêng liêng được gắn với những người, vật, hay hành động và khiến chúng trở nên không thể tiếp xúc, không thể đề cập b) Hệ thống phát triển cao hoặc sự thực hiện các cấm kị như vậy

2 a) Bất kì cấm đoán hay hạn chế nào của xã hội mà bắt nguồn từ qui ước hay truyền thống b) Sự thay thế một từ hay một cụm từ nào đó vì những hạn chế như vậy.”

[Agnes and David 2007: 1456]

Trang 26

(8) Từ điển Oxford - Bản Cao cấp:

làm, sử dụng hay nói về một đối tượng cụ thể nào đó vì cho rằng như vậy là xúc phạm hay đáng hổ thẹn

2) Một thỏa thuận chung cam kết không làm việc gì hay nói điều gì.”

(10) Đại từ điển Tiếng Việt:

“Cấm kị: (Động từ) Kiêng giữ, không được phạm đến

làm những việc nào đó, vì có hại hoặc cho là có hại đối với sức khỏe

2) Tránh điều gì, cái gì, vì sợ có điều không hay, theo tín ngưỡng

[Hoàng Phê 2008: 158, 650]

Trang 27

Vạn Kiến Trung trong “Đồ văn Trung Quốc dân tục - Cấm kị” viết:

“Cấm kị chính là việc ngăn cấm một hành vi nào đó của con người, nếu phá vỡ điều cấm kị thì chắc chắn sẽ phải trả giá.” [万建中 2004: 6]

Lí Thiếu Lâm trong “Cấm kị Trung Hoa” thì cho rằng:

“Cấm kị là người ta vì tránh một tai họa do lực lượng siêu nhiên hay một sự vật nguy hiểm gây ra theo nhận thức chủ quan mà hạn chế người, vật,

từ ngữ, hành động nào đó hay tự mình né tránh.” [李少林 2006: 2]

Nhà nghiên cứu Nhậm Sính của Trung Quốc trong phần bàn về khái niệm

“cấm kị” trong cuốn “Cấm kị dân gian Trung Quốc” thì định nghĩa như sau:

“Cấm kị, một mặt là chỉ những thứ “thần thánh” hay “ô uế”, “nguy hiểm”, mặt khác lại chỉ qui định cấm kị, tức là một loại mô thức khống chế hành vi “cấm chỉ” về lời nói và hành động hay “ức chế” về mặt tâm lí Các sự vật cấm kị và qui định cấm kị hoàn toàn liên kết với nhau, thực sự thì chúng là một chứ không phải hai thứ khác nhau Bởi lẽ trên thực tế, qui định cấm kị ra đời là kết quả của việc con người nhận thức (phản ánh tâm lí) các sự vật cấm

kị Vậy nên nói cách khác, cấm kị là những thứ thiêng liêng, ô uế, nguy hiểm cùng các qui định cấm kị hình thành từ thái độ mà con người có đối với

Vậy là sau khi điểm qua một số tài liệu của cả phương Tây, Trung Quốc và Việt Nam, điều có thể nhận thấy rõ ràng là ngoài cốt lõi của khái niệm là sự cấm đoán và giới hạn đối với những đối tượng cụ thể ra thì mỗi định nghĩa lại có những cách diễn giải rất riêng Một số định nghĩa tương đối ngắn gọn như định nghĩa của Bách khoa toàn thư Thế giới, Từ điển Từ Hải, Đại từ điển Tiếng Việt, Vạn Kiến Trung, một số khác lại khá chi tiết như định nghĩa của Freud, Tân Bách khoa toàn thư Britannica, Bách khoa toàn thư Tôn giáo, Từ điển Oxford, Từ điển Tiếng Việt

Trang 28

và định nghĩa của Lí Thiếu Lâm, ngoài ra còn có một vài định nghĩa rất chi tiết của

Từ điển Tân Thế giới Webster và học giả Nhậm Sính Có thể dễ dàng nhận thấy sự phức tạp trong định nghĩa của Bách khoa toàn thư Tôn giáo với những khái niệm rất trừu tượng cùng lúc với sự đơn giản, thậm chí sơ sài trong các định nghĩa của Bách khoa toàn thư Thế giới, Từ Hải và Đại từ điển Tiếng Việt Về cách định nghĩa, trong khi Northcote W Thomas, Freud, Tân Bách khoa toàn thư Britannica và tác giả Nhậm Sính bám sát nguyên nghĩa của “taboo” trong ngôn ngữ Polynesian khi nêu các tính chất “thần thánh”, “ô uế”, “nguy hiểm” thì các định nghĩa còn lại chủ yếu liệt kê các loại đối tượng và cơ sở hình thành các cấm kị

Sau khi phân tích, có thể nhận thấy một số yếu tố tương đối nổi bật thường xuất hiện trong các định nghĩa ấy Thứ nhất là sự ngăn cấm và hạn chế, thể hiện ở dạng hành động và qui định Thứ hai là các đối tượng bị cấm kị, hạn chế, bao gồm mọi thứ từ người, sự vật, hành động, hiện tượng v.v mà trong đó tính chất “thần thánh”, “ô uế” và “nguy hiểm” được xem là đặc trưng Thứ ba là các cơ sở và phương thức hình thành cấm kị, gồm có xã hội, văn hóa và luật lệ Đây có lẽ chính

là những yếu tố cơ bản nhất khi nói về khái niệm cấm kị Tuy gặp nhau ở các điểm chung ấy, nhưng mỗi định nghĩa vẫn có những nét riêng như chúng ta đã thấy và do

đó vẫn chưa có định nghĩa nào được chấp nhận hoàn toàn

Trước thực tế đó, tác giả Nhậm Sính cho rằng một định nghĩa hoàn chỉnh, đầy đủ và súc tích là mơ ước của những người làm khoa học nhưng thực tế thì vô cùng khó khăn Đại đa số các trường hợp, từ ngữ để chỉ một khái niệm nào thì cũng chính là định nghĩa đơn giản và sáng sủa nhất của khái niệm đó (như cây, nước, lửa v.v.), vì thế càng thuyết minh càng giải thích thì càng mù mờ rối rắm Nhà nghiên cứu này còn nhận định rằng thuật ngữ thì tương đối ổn định chứ cách giải thích thì

có tính biến động, do đó việc tìm kiếm một định nghĩa ổn định hoàn toàn là việc làm phí công Tuy nhiên, chính Nhậm Sính cũng phải thừa nhận là trong bất kì nghiên cứu nào cũng cần một cách hiểu nhất định nếu không sẽ trở nên mơ hồ và mông lung [任骋 2004: 关于禁忌的概念]

Trang 29

Chúng tôi nhận thấy rằng khái niệm cấm kị, sau một quá trình phát triển lâu dài của loài người, đã có nhiều điểm mới Mặc dù cách hiểu ban đầu về cấm kị gắn liền với “thần thánh”, “dơ bẩn” và “hiểm nguy” là không sai, nhưng nó chỉ phản ánh cách hiểu trong phạm vi khá hẹp là nền văn hóa Polynesian và một giai đoạn lịch sử nhất định Nếu như áp đặt cách hiểu này cho toàn bộ khái niệm cấm kị vốn phổ biến với muôn màu muôn vẻ trên toàn thế giới thì e là còn một số thiếu sót khó tránh khỏi Ví dụ như phong tục không ăn Tết trong ngày mùng Hai tại huyện Bồ Điền tỉnh Phúc Kiến, tục kiêng lửa ăn nguội trong Tết Hàn Thực tại Trung Quốc, hay như tục kiêng ăn rau cần trong ngày Tết của người vùng Cao Xá, Việt Nam v.v

là hoàn toàn không tồn tại lí do phòng tránh một hậu quả nào đó mà đơn thuần chỉ mang tính kỉ niệm sự kiện Đây rõ ràng vẫn là một bộ phận của phong tục dân gian

và cũng có tính chất cấm kị, thế nhưng không hề thần bí hay ô uế, nguy hiểm Do

đó, việc cập nhật và bổ sung vào định nghĩa cấm kị để có một cách hiểu đầy đủ hơn

là rất cần thiết

Trên cơ sở kế thừa các định nghĩa cũ, đồng thời nghiên cứu, bổ sung một số yếu tố và nhận định mới, tạm thời có thể đưa ra một định nghĩa về khái niệm “cấm kị” như sau:

“Cấm kị là các qui định ngăn cấm được hình thành và tồn tại lâu dài trong dân gian dựa trên niềm tin và cách lí giải chủ quan, phi khoa học.”

Để đưa ra định nghĩa nói trên, trước tiên chúng tôi tiến hành xem xét phạm trù “cấm kị” trên phạm vi rộng nhất, nghĩa là toàn bộ các cấm đoán mà con người

có Sau đó, tiến hành phân tích và chia nhóm dựa trên tính chất chủ quan - khách quan và tính chất thần bí - thế tục, kết quả thu được như sau:

Bảng 1.1: Các nhóm trong phạm trù “cấm kị”

THẦN BÍ CHỦ QUAN THẦN BÍ KHÁCH QUAN THẦN BÍ

THẾ TỤC CHỦ QUAN THẾ TỤC KHÁCH QUAN THẾ TỤC

Trang 30

Trong đó, chúng tôi định nghĩa như sau:

(a) Cấm kị chủ quan nghĩa là các cấm kị do con người đặt ra theo suy nghĩ và mục đích chủ quan của mình mà không dựa trên cơ sở nhận thức khoa học

Ví dụ: Kiêng gõ chén vì giống ăn mày, sợ mạt vận

(b) Cấm kị khách quan bao gồm các cấm kị theo bản năng tự nhiên và các cấm kị do con người đặt ra dựa trên nhận thức khách quan và khoa học, hậu quả khi phạm phải là hoàn toàn có thật

Ví dụ: Cấm kết hôn cận huyết vì thoái hóa gen

(c) Cấm kị thần bí nghĩa là các cấm kị có liên quan đến các yếu tố siêu nhiên như linh hồn, thần thánh, ma quỉ, vận mệnh v.v

Ví dụ: Kiêng nhắc đến ma quỉ vì sợ bị ám

(d) Cấm kị thế tục nghĩa là các cấm kị gắn với cuộc sống tự nhiên và bình thường của con người mà không liên quan đến các yếu tố thần bí

Ví dụ: Cấm đốt lửa trong rừng vì sợ hỏa hoạn

Trên cơ sở đó, chúng tôi loại bỏ cấm kị “khách quan thần bí” vì không tồn tại cấm kị nào vừa khách quan khoa học lại vừa thần bí cả Do đó, còn lại ba loại chính

là cấm kị chủ quan thần bí, cấm kị chủ quan thế tục và cấm kị khách quan thế tục

Sau khi xem xét, chúng tôi cho rằng các cách định nghĩa trước đây thường chỉ giới hạn “cấm kị” trong nhóm cấm kị chủ quan thần bí, nghĩa là chỉ tính đến các cấm kị có yếu tố duy tâm, mê tín mà bỏ sót một bộ phận khác, tuy chiếm số lượng ít

ỏi nhưng vẫn thực sự tồn tại, chính là nhóm cấm kị chủ quan thế tục Đó cũng chính

là nhóm của các cấm kị kiểu như mùng Hai không ăn Tết, Hàn Thực kiêng đốt lửa

mà bên trên đã nhắc đến Bởi lẽ, các phong tục cấm kị này vẫn được người dân tuân theo nhưng không hề liên quan đến yếu tố thần bí, chỉ đơn giản là do con người tự tạo ra nhằm phục vụ một mục đích đời thường của mình mà thôi Như vậy, một định nghĩa đầy đủ về “cấm kị” ở đây cần có cả hai nhóm cấm kị chủ quan thần bí và cấm kị chủ quan thế tục mà loại bỏ các cấm kị có tính khách quan thế tục

Trang 31

Không dừng lại ở đó, tiếp tục nghiên cứu, người viết còn nhận ra vấn đề cốt lõi của “cấm kị” chính là yếu tố chủ quan phi khoa học trong nhận thức của người sáng tạo và tuân thủ cấm kị Các nhà nghiên cứu thường lấy một ví dụ kinh điển là việc cho tay vào lửa để chứng tỏ rằng việc không cho tay vào lửa không phải là một phong tục cấm kị mà chỉ đơn giản là một qui tắc thông thường [Frazer 2007: 48; Freud 2000: 203] Vấn đề không đơn giản như vậy, bởi lẽ một số cấm kị rõ ràng là phù hợp với quan điểm khoa học, điển hình như cấm kị loạn luân, nhưng hậu quả không thể dễ dàng nhận thức như việc cho tay vào lửa, do đó chúng thường bị nhuốm màu sắc thần bí và được lí giải theo ý thức chủ quan phi khoa học của con người thời cổ, và tự nhiên trở thành cấm kị được tuân thủ trong cộng đồng

Ngoài ra, cũng rất dễ thấy hiện tượng cấm kị là phổ biến và vô cùng đa dạng Dường như bất cứ thứ gì cũng có thể trở thành cấm kị nếu người ta tin rằng việc cấm kị đem lại một hiệu quả gì đó Vậy nên, không thể đơn giản khu biệt cấm kị trong một số người, vật, nơi chốn nào đó cũng như một vài yếu tố “thần thánh”, “ô uế” và “nguy hiểm” Những thứ “thần thánh”, “ô uế” và “nguy hiểm” hiển nhiên thường bị xem là cấm kị, nhưng điều đó không có nghĩa là tất cả cấm kị đều phải có những tính chất nói trên Vậy nên, cấm kị phải là toàn bộ đối tượng và qui định ngăn cấm có liên quan được hình thành và tồn tại lâu dài trong dân gian dựa trên niềm tin và cách lí giải chủ quan, phi khoa học

Trang 32

1.2 NGUỒN GỐC VÀ PHÁT SINH

Nguồn gốc của cấm kị là vấn đề được các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới đặc biệt quan tâm Bởi lẽ, biết được nguồn gốc của cấm kị là làm sáng tỏ một trong những nền tảng tinh thần của nhân loại Do đó các nhà khoa học từ các chuyên môn khác nhau như dân tộc học, tôn giáo học, xã hội học, tâm lí học v.v đều ra sức truy tìm nguồn gốc của cấm kị Kết quả là rất nhiều giả thuyết đã được đưa ra nhằm giải đáp câu hỏi đầy bí ẩn này của lịch sử loài người Dưới đây, chúng tôi sẽ trình bày qua một số ý kiến tiêu biểu

Trong phần nói về nguyên nhân cấm kị trong “Phong tục - Lễ nghi dân gian Trung Quốc”, các tác giả Hồng Phi và Kim Thoa cho rằng “Sự kiêng kị đối với dân gian là do sự sùng bái và sợ sệt các thế lực thần bí, siêu tự nhiên và cũng là do sự kinh sợ tự mình không có cách chiến thắng được các loại tai họa và nguy hiểm đem đến cho trăm họ” [Hồng Phi và Kim Thoa 2005: 395]

Tác giả Lí Thiếu Lâm trong “Trung Hoa dân tục văn hóa - Trung Hoa cấm kị” thì nêu ra quá trình hình thành và phát triển của cấm kị, trong đó nhấn mạnh hai yếu tố “nhu cầu đấu tranh giữa con người với tự nhiên” và “tác dụng của sự sợ hãi, lạc hậu và mê tín” Tác giả nhận định cấm kị ban đầu sinh ra từ nhu cầu thích ứng với sự đấu tranh của con người chống lại thiên nhiên, đầu tiên là những cấm đoán đối với thức ăn độc hại và kiêng kị liên quan đến các loài mãnh thú nguy hiểm với bầy người Do quá yếu ớt trước tự nhiên nên con người phải chọn giải pháp chạy trốn và kiêng cấm những thứ nguy hiểm đấy mà không có giải pháp nào khác Sau

đó, khi năng lực tư duy phát triển hơn, người nguyên thủy bắt đầu lí giải về các hiện tượng sống - chết, vui - buồn v.v và nảy sinh quan niệm về linh hồn và ma quỉ Tôn giáo dần định hình, trong đó thần linh thì quản lí tự nhiên, ma quỉ và linh hồn thì chi phối bản thân Chúng trở thành lực lượng siêu nhiên và cơ sở tư tưởng chủ yếu nhất

để cấm kị dựa vào, làm cho nội dung của cấm kị trở nên phong phú và rộng lớn Từ đấy cấm kị mượn quyền uy của quỉ thần mà được chấp hành nghiêm túc, lại do quần chúng tuân thủ và lưu truyền mà tồn tại lâu dài [李少林 2006: 4-11]

Trang 33

Nhà nghiên cứu Nhậm Sính, sau khi khảo sát cẩn thận các ý kiến, đã tổng kết thành bốn giả thuyết chính về cội nguồn cấm kị [任骋 2004: 第一节 禁忌的由来], gồm:

1) Thuyết lực lượng siêu nhiên;

2) Thuyết dục vọng;

3) Thuyết nghi thức;

4) Thuyết giáo huấn

Cụ thể:

(1) Thuyết lực lượng siêu nhiên

Theo quan niệm của cư dân Nam Thái Bình Dương, “mana” là một sức mạnh siêu nhiên thần bí vô cảm tồn tại trong vũ trụ và có thể trú ngụ trong người, động vật, cây cối và các sự vật khác Mana có thể hiểu như sinh lực hay vận may và có thể tác động tới số phận của con người Các thủ lĩnh và nhân vật cao quí có mana mạnh hơn những người khác và do đó được tin là nguy hiểm và cấm kị tiếp xúc đối với những người bình thường [Kottak 2001: 305-306] Họ còn cho rằng các loại thần linh ma quỉ đều có mana đáng sợ và vì vậy cần phải tuân theo những điều cấm

kị để tránh xúc phạm và thoát khỏi sự trừng phạt khủng khiếp của chúng Mana ở đây khá giống với khái niệm “vía” của người Việt, vốn cho rằng “có người lành vía, người dữ vía, có người yếu vía, người cứng vía Cho nên, khi gặp người có vía độc, khi chạm vía thì phải đốt vía, trừ vía, giải vía ” [Trần Ngọc Thêm 2004: 247]

Theo Wundt, “cấm kị chắc là biểu hiện và kết quả của tín ngưỡng của các dân tộc nguyên thủy vào quyền lực ma quỉ” [Freud 2000: 73] Vương Sung (27-97) thời Hán trong “Luận hành” cũng cho rằng nguồn gốc của cấm kị liên quan tới sự

sợ hãi của con người đối với các lực lượng siêu nhiên Nhậm Sính cho rằng thuyết này thực tế là từ phương diện lịch sử phát triển tín ngưỡng của nhân loại mà nhận thức và truy tìm nguồn gốc của cấm kị, chủ yếu xem xét trạng thái nguyên thủy của cấm kị và trạng thái cấm kị thời nguyên thủy [任骋 2004: 第一节 禁忌的由来]

Trang 34

(2) Thuyết dục vọng

Freud cho rằng nếu chỉ từ phương diện tín ngưỡng để truy tìm nguồn gốc của cấm kị là không đủ Trong “Vật tổ và Cấm kị” ông nói: “Cả nỗi sợ hãi và ma quỉ đều không thể được đánh giá là những cái cuối cùng trong tâm lí học, những cái luôn loại trừ sự hồi qui xa hơn nữa” [Freud 2000: 73-74] Freud cho rằng lí luận của Wundt trên thực tế không thể truy tìm một cách chính xác nguyên nhân nguyên thủy của cấm kị hoặc làm rõ căn nguyên sâu thẳm nhất của nó Do đó, Freud đã tiến hành tìm kiếm nguồn gốc của cấm kị trên phương diện tâm lí học

Ông cho rằng “Cấm kị là một cấm đoán thái cổ, được áp đặt từ bên ngoài (do

uy thế) và được thiết lập để chống lại những dục vọng mạnh mẽ của con người” [Freud 2000: 86] Và ông còn quả quyết rằng “Ở đâu có cấm đoán, thì ở sau lưng nó phải có một thèm khát, và nó sẽ tái hiện với một nhận định mới” [Freud 2000: 133] Vậy là Freud chỉ ra rằng bản thân cấm kị là một tình cảm mâu thuẫn do sự cấm đoán quá mức một thứ gì đó mà ai cũng muốn Trong “Vật tổ và Cấm kị”, ông viết:

“Cái gì mà không ai thèm muốn thì người ta chẳng cần phải cấm đoán làm gì, và dù thế nào, thì cái bị cấm đoán nghiêm ngặt cũng sẽ là đối tượng của thèm muốn v.v các ham muốn mạnh nhất của họ là giết chết vua chúa và tăng lữ, là lao vào loạn luân, là hành hạ người chết và các hành vi tương tự khác” [Freud 2000: 132]

Nhậm Sính nhận định, ở đây Freud đã chú ý tới sự ức chế đối với dục vọng trên phương diện tâm lí Ham muốn là nhu cầu bản năng của con người, nhưng khi trở thành con người xã hội thì phải thực hiện một sự ức chế nào đó đối với chúng

Ví dụ ăn uống và tình dục là hai nhu cầu lớn cùa con người, nhưng con người không thể tùy ý thỏa mãn Sự ức chế đối với ham muốn này chính là gốc gác căn bản của cấm kị Đương nhiên, dục vọng không chỉ là ăn uống và tình dục, những việc như động chạm sự vật gì đó hay khống chế sự việc nào đó v.v đều có thể qui vào phạm trù của dục vọng Do vậy Nhậm Sính kết luận thuyết dục vọng cũng rất bao quát và chủ yếu truy tìm nguồn gốc của cấm kị trên bình diện tâm lí học, đồng thời cường điệu mặt ức chế trong cấm kị [任骋 2004: 第一节 禁忌的由来]

Trang 35

(3) Thuyết nghi thức

Qui định cấm đoán buộc con người tuân theo vô điều kiện được gọi là cấm kị theo nghi thức Lí do của cấm kị này, nếu có, thì chính là muốn đảm bảo hoàn thành nghi thức nào đó một cách trọn vẹn và thuận lợi Thậm chí có lúc người ta còn chẳng quan tâm đến hậu quả tai hại mà việc vi phạm cấm kị đem lại mà chỉ chú trọng xem việc chấp hành cấm kị liệu có được làm đúng theo những qui định của nghi thức một cách đầy đủ hay không Nghi thức chính là biểu hiện của những chế ước xã hội cổ xưa nhất và đại diện cho một loại qui định xã hội vô lí Wundt cũng cho rằng taboo là pháp điển bất thành văn cổ xưa nhất của loài người và cổ xưa hơn thần linh, quay ngược về các thời đại trước tôn giáo [Freud 2000: 66]

Freud nói: “Một phần những cấm đoán ấy có thể hiểu được căn cứ vào mục đích của nó, một phần khác trái lại, xem ra không thể hiểu nổi, ngớ ngẩn và vô nghĩa Chúng tôi gọi những qui định đó là “nghi lễ” và cho rằng sự vận dụng cấm kị cho phép nhận ra sự khác biệt của bản thân chúng” [Freud 2000: 77] Ernst Cassirer trong “Luận về con người” cũng chỉ ra rằng: “Chiếm hữu một vật hoặc người - chiếm hữu một miếng đất hoặc đính hôn với một cô gái thì phương pháp cổ xưa nhất chính là dựa vào một kí hiệu cấm kị để thể hiện”

Nhậm Sính cho rằng ở đây thuyết nghi thức trên thực tế giảng giải nguồn gốc của cấm kị dựa trên tính qui định của xã hội, trong đó cấm kị chính là một dạng phôi thai của khế ước xã hội Thuyết nghi thức từ góc độ của xã hội học mà thuyết minh cho nguồn gốc của cấm kị Qui định của nghi thức thường mang tính tùy tiện nào đó, có lúc thủ lĩnh bộ tộc (tù trưởng) hay đại diện thần quyền (pháp sư) có quyền tuyên bố thứ gì là cấm kị (xem thêm “Cành Vàng”), thế nhưng sau khi cấm kị hình thành lại có một sức mạnh ràng buộc không thể chống trả Người ta vì nhu cầu

xã hội hóa nên thường không chú ý xem xét tính hợp lí của các cấm kị loại này mà phục tùng một cách tuyệt đối Thêm vào đó, nó còn dựa vào quyền uy của xã hội, tôn giáo, tông pháp và phương thức cưỡng chế mà lưu truyền lâu dài về sau Nguồn gốc của các cấm kị này vốn là từ các qui định cổ xưa và vô lí nên người đời sau nói chung là khó có thể hiểu được tại sao như vậy [任骋 2004: 第一节 禁忌的由来]

Trang 36

(4) Thuyết giáo huấn

Giáo huấn là nhận thức từ thất bại hoặc sai lầm, quá trình nhận thức kiểu này

là một loại quá trình suy luận quan hệ nhân quả Do sự mê muội của con người và trình độ khoa học kém phát triển trong thời kì đầu, loại suy luận này thường tạo ra sai lệch, từ đó hình thành lí giải sai lầm của cộng đồng đối với một loại nguyên nhân ngẫu nhiên Sự dạy dỗ xuất phát tự nhận thức sai lầm tập thể này cũng là một trong những nguyên nhân hình thành cấm kị

Chu Thiên Thuận trong “Tôn giáo nguyên thủy” nói: “Tôn giáo nguyên thủy

sở dĩ có thể sản sinh ra vô số hạn chế cấm kị con người đấu tranh với tự nhiên và nghi thức rườm rà chính là do con người khi tranh đấu với tự nhiên đã gặp phải thất bại và tổn thất v.v Người ta trong một hay vài lần thất bại hoặc tổn thất sẽ mất đi lòng tin, thần bí hóa tâm lí không dám tích cực đấu tranh với thế giới tự nhiên nữa, hoặc trong tâm lí phòng ngừa mà phóng đại tuyệt đối hóa một nguyên nhân ngẫu nhiên, kết quả trở thành giới luật và nghi thức hạn chế con người trong hành động”

Thu Phố trong “Luận cấm kị” in trong “Chiến tuyến Tư tưởng” kì 1 năm

1987 viết rằng: “Bất kể là cấm kị cổ xưa hay gần đây thì sự phát sinh đều có đặc trưng chung là lấy một nguyên nhân ngẫu nhiên mà cho rằng đó là qui luật nội tại phổ biến và đúng đắn, một người nếu nói năng thuyết phục mà truyền ra thì mọi người sẽ nghe theo và cũng tin là thật, từ đấy dần hình thành cấm kị của cộng đồng”

Nhậm Sính nhận xét thuyết giáo huấn là từ phương diện nhận thức truy tìm nguồn gốc của cấm kị Nó chỉ ra rằng sự hình thành cấm kị đã phản ánh một sự sai lệch nào đó trong nhận thức cuộc sống của con người, thế nhưng trong quá trình phát triển nhận thức của con người lại là một quá trình không thể thiếu được Tuy nhiên từ ý nghĩa này mà xem xét thì nó có một số ý nghĩa thực tiễn và kinh nghiệm nhất định Nhưng nhìn chung thì nội dung giáo huấn còn xa rời thực tế bởi vì phương thức tư duy của nó là nguyên thủy, ma thuật và phi khoa học, do đó rất dễ rơi vào cạm bẫy mê tín Nói về hiệu quả khách quan thì loại cấm kị này thường trở thành một dạng phòng ngừa không cần thiết hoặc thái quá [任骋 2004: 第一节 禁忌的

由来]

Trang 37

Tác giả Nhậm Sính, sau khi trình bày về bốn học thuyết lớn về nguồn gốc của cấm kị, nhận xét rằng các cách truy nguyên và nhận thức này vốn xuất phát từ nhu cầu nghiên cứu của bốn ngành khoa học khác nhau là tín ngưỡng, tâm lí, xã hội

và nhận thức Mỗi chuyên ngành lại đem lí luận riêng của mình để xem xét, do đó chắc chắn tồn tại thiếu sót và thiên lệch Vì vậy, tác giả đề xuất kết hợp cả bốn phương diện để cùng truy tìm nguồn gốc thì mới có thể tương đối toàn diện và kết luận rằng cả bốn lí thuyết này đều có giá trị và ý nghĩa trong việc nghiên cứu về cấm kị [任骋 2004: 第一节 禁忌的由来]

Sau khi tìm hiểu tương đối kĩ về các cách giải thích về nguồn gốc của cấm kị nói trên, chúng tôi cho rằng đây là một vấn đề rất phức tạp và nhiều khó khăn Phức tạp ở ở chỗ, cấm kị là một hiện tượng phổ biến trên toàn thế giới với muôn hình muôn vẻ, mỗi một dân tộc, mỗi một nhóm người lại có những cấm kị rất riêng và khác biệt, mỗi cấm kị lại có nội dung, mục đích, xuất xứ và hoàn cảnh ra đời khác nhau, do đó rất có thể tồn tại nhiều nguồn gốc và phương thức hình thành cấm kị khác nhau Khó khăn là ở chỗ, thời điểm xuất hiện cấm kị được suy đoán là từ những buổi bình minh của xã hội loài người, do đó không thể trực tiếp quan sát và kiểm nghiệm, còn việc nghiên cứu những tộc người đang sống trong trạng thái sơ khai cũng không hề đơn giản do phần lớn họ cũng không nhận thức được chính xác nguồn gốc của các cấm kị mà chỉ tuân thủ và thực hành một cách máy móc

Trên cơ sở nhận thức các vấn đề trên và tiếp thu lí luận của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi đã tiến hành sắp xếp các dữ kiện và phác thảo một tiến trình phát triển của nhân loại nói chung và của các cấm kị nói riêng, cụ thể như sau:

Về cơ bản, cuộc sống bắt buộc mỗi sinh vật phải đưa ra sự lựa chọn của mình, lựa chọn đó có thể đúng đắn hoặc sai lầm Nếu đó là một lựa chọn đúng đắn, sinh vật ấy sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển Ngược lại, nếu đó là một lựa chọn sai lầm, nó

sẽ phải trả giá, thậm chí bằng cả mạng sống của mình Vậy là, để có thể tồn tại tốt hơn, các sinh vật buộc phải đặc biệt ghi nhớ các lựa chọn đúng đắn để lặp lại và không quên các lựa chọn sai lầm để tránh xa, từ đó hình thành nên thói quen của một vài cá thể, sau đó là tập quán của cả một bầy đàn

Trang 38

Trong giai đoạn trước khi tiến hóa thành loài người, tổ tiên của chúng ta vẫn

là một thành viên của thế giới loài vật Điều đó có nghĩa là, tổ tiên xa xưa cũng hành xử hệt như loài vật Với trí tuệ và nhận thức của loài vật, họ bắt chước theo hành động của các cá thể bố mẹ và tự mình hành động theo trí nhớ, thói quen của bản thân bên cạnh những bản năng hình thành sau nhiều thế hệ thông qua những trải nghiệm thực tế đã được ghi nhớ và chuyển hóa thành tập quán của giống nòi Để tồn tại trong môi trường tự nhiên khắc nghiệt, bản năng sinh tồn và trải nghiệm bản thân mách bảo cho họ tránh né những lựa chọn sai lầm theo cách tự nhiên nhất Vậy là trong giai đoạn này, tổ tiên con người đã có những cấm kị theo bản năng tự nhiên Đúng như Reichmayer đã nói: “Các hiện tượng xã hội được phân tích truy nguyên theo các yếu tố bản năng vô thức là những cái được di truyền từ loài thú đến loài người nguyên thủy và tồn tại mãi đến con người hiện đại” [Freud 2000: 11]

Trong số các bản năng đó thì bản năng tranh giành ưu thế duy trì nòi giống khiến các loài giống nhau ở chỗ “chỉ cho phép một cá thể giống đực trưởng thành hiện diện trong một bầy Một khi con đực lớn lên, thì sẽ diễn ra một cuộc chiến đấu giành quyền thống trị, và kẻ mạnh nhất sẽ chiếm đoạt quyền tối thượng trong cộng đồng bằng cách giết chết hoặc đánh đuổi mọi kẻ khác” [Freud 2000: 207] Tổ tiên động vật của loài người hẳn đã hành động y như vậy, tương tự những gì ngày nay quan sát được ở các loài linh trưởng vốn gần gũi với tổ tiên xa xưa của chúng ta Vậy là “mỗi một kẻ bị xua đuổi ấy có thể lập ra một bầy tương tự trong đó bản thân cấm đoán tính giao cũng chính là từ sự ghen tuông của thủ lĩnh, và với thời gian, xuất phát từ những bối cảnh như trên, điều đó trở thành lệ mà ngày nay được ý thức thành luật pháp: không được quan hệ tình dục với người cùng họ Sau khi xác lập Totem giáo thì các lệ đó chuyển sang một hình thức khác: không được quan hệ tình dục với người cùng vật tổ” [Freud 2000: 207-208]

Vậy có nghĩa là, thay vì tranh đấu với nhau như các loài vật khác để giành quyền giao phối, con người nguyên thủy với trí tuệ và ngôn ngữ sơ khai của mình

đã từng bước nhận thức và bắt đầu tự giác tuân thủ qui luật của bầy đàn, cũng tức là chấp nhận thực tế này như một cấm kị của xã hội ban sơ Chính từ đây, cấm kị loạn

Trang 39

luân xuất hiện, thực chất là một bước chuyển căn bản từ ý thức của loài vật sang ý thức của giống người, biến một qui luật tự nhiên do bản năng thôi thúc thành một qui ước xã hội do nhận thức ràng buộc, và một cấm kị theo bản năng tự nhiên hoá thành một cấm kị chủ quan và thế tục Đó cũng chính là cơ sở để Freud tuyên bố:

“Cấm kị là một cấm đoán thái cổ, được áp đặt từ bên ngoài (do uy thế) và được thiết lập để chống lại những dục vọng mạnh mẽ của con người” [Freud 2000: 86]

Khi trí óc phát triển hơn, người nguyên thủy bắt đầu quan sát và nhận thức

về các mối liên hệ phức tạp hơn trong cuộc sống Loài người giờ đây không chỉ đơn giản phản ứng lại các đối tượng nguy hiểm theo phản xạ một cách bản năng như loài vật mà bắt đầu có sự suy diễn và kết nối trừu tượng về nguyên nhân của sự hiểm nguy Học giả Pháp Lévy-Bruhl trong “Tư duy nguyên thủy” từng nói: “Đối với người nguyên thủy, không có bất cứ thứ gì là ngẫu nhiên cả” [Triều Sơn 2010: 7] Nếu như con vật không chú tâm truy tìm căn nguyên của những gì xảy ra quanh

nó thì con người, với trí tuệ phát triển cao hơn của mình, đã bắt đầu tìm kiếm cách lí giải hợp lí cho những thứ quanh mình Những câu hỏi đầu tiên đã hình thành trong đầu của những người nguyên thủy từ lúc đó

Và khi truy tìm nguyên nhân của sống - chết, mạnh - yếu, vui - buồn - sợ hãi v.v câu trả lời thường được người nguyên thủy qui cho một thế lực tồn tại bên trong con người Bởi lẽ, người nguyên thủy, bằng những quan sát trực quan và cụ thể, lấy làm khó hiểu tại sao cùng một thể xác ấy, từ trạng thái hoạt bát và năng động trong phút chốc lại chuyển sang trạng thái bất động và chết chóc Rõ ràng, họ không nhận thấy sự thay đổi đáng kể nào về ngoại hình của thể xác, chỉ có những thứ bên trong

đã im lặng và ngừng hoạt động, vậy hẳn là có thứ gì đó bên trong đã thay đổi, và cái bên trong đó chắc hẳn là nhỏ bé nhưng đầy uy lực Tương tự ở các loài vật, sự hung

dữ và mạnh mẽ của hổ báo hay sự nhanh nhẹn và khéo léo của hươu nai đã biến đi đâu sau khi chúng chết, vậy ắt hẳn là cái “mạnh mẽ và hung tợn” hay “nhanh nhẹn

và khéo léo” ấy đã bỏ đi và để lại cái thể xác bất động, yếu ớt và vô hại kia Có lẽ chính từ đây, những khái niệm mơ hồ về cái gọi là linh hồn bắt đầu xuất hiện

Trang 40

Rồi họ tò mò tự hỏi cái gì đã tạo ra những đứa trẻ Và thật dễ dàng, thông qua quan sát những gì mình ăn, những gì mình tiếp xúc hoặc thậm chí là những gì mình thấy trong những giấc mơ, người nguyên thủy ngây ngô cho rằng những đứa trẻ được sinh ra từ những thứ mà người mẹ đã ăn vào bụng, hay đụng chạm vào, hoặc mơ mộng thấy Vô số truyền thuyết thần kì về các bà mẹ do mơ thấy loài vật chui vào bụng hay dẫm đạp lên dấu vết của chúng, hoặc ăn một loại thức ăn nào đó

để rồi sinh ra cả một bộ tộc là những minh chứng rất rõ ràng cho lối suy nghĩ thơ ngây rất phổ biến ấy Ngay cả câu chuyện Trang Chu hóa bướm nổi tiếng dường như cũng ít nhiều mang âm hưởng của cái tư duy rất đỗi nguyên sơ đó của loài người [庄子: 南华真经—齐物论] Totem có lẽ đã hình thành từ những suy nghĩ giản đơn như vậy, và tên gọi đầu tiên của con người có lẽ cũng bắt đầu như thế Do đó,

“một khi đứa trẻ sinh ra, người mẹ sẽ cho biết bà tin là bà được đầu thai sinh đứa bé

ở nơi thần linh nào Theo đó mà xác định vật tổ của đứa con” [Freud 2000: 192]

Không chỉ lí giải về thứ làm ra sự sống bên trong thể xác và lai lịch của lũ trẻ, người nguyên thủy còn chú ý mối liên hệ giữa các hiện tượng tự nhiên và các yếu tố xung quanh mình Với năng lực trí tuệ phát triển, tuy ở mức độ hạn chế, họ đã ý thức rằng mọi thứ đều có nguyên nhân của nó và tích cực đi tìm những nguyên nhân

đó Vì vậy, từ khi nắm được nguyên nhân tạo ra lửa và khống chế nó, người nguyên thủy càng tin rằng có một cơ chế tương tự nào đó để tạo ra những thứ khác như mưa, gió, ngày đêm v.v Và tương tự như cách suy luận ngây thơ về nguồn gốc của những đứa con, họ chắc đã tin rằng những thứ đơn giản, như tiếng cóc nhái kêu hay điệu múa của loài công, chính là nguyên nhân đem tới những hiện tượng thiên nhiên nào đó như mây mưa sấm chớp Vậy là họ bắt đầu tập tành điều khiển tự nhiên vĩ đại bằng cách mô phỏng những hành vi của động vật bởi họ tin rằng nếu con vật có quyền năng tác động tới tự nhiên thì họ cũng có thể bắt chước được, và kết quả thì không phải là lúc nào cũng thất bại Vậy là với cách nghĩ ngây ngô ấy, con người có

lẽ đã manh nha tư tưởng khống chế thiên nhiên, và cũng kể từ lúc này, một vài cá nhân bắt đầu thực hành và thuần thục cái mà chúng ta ngày nay gọi là “ma thuật”, đồng thời trở thành những pháp sư đầu tiên trong lịch sử loài người

Ngày đăng: 11/05/2021, 21:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w