1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh văn xuôi tự sự của lỗ tấn và nam cao

143 1,2K 18
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh văn xuôi tự sự của lỗ tấn và nam cao
Tác giả Lỗ Tấn, Nam Cao
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong nền văn học Trung Quốc, Lỗ Tấn là nhà tư tưởng của cách mạng, nhàvăn nghệ mở đầu cho cả một thời đại, là nhà khoa học lịch sử thực sự cầu thị, nhàgiáo dục gương mẫu, là người quốc tế chủ nghĩa thiết tha mong nhân loại được giảiphóng Thành tựu mo ̣i mặt đều có thể khiến Lỗ Tấn trở nên bất hủ và dường nhưnhững thành tựu của ông kết hợp một cách hài hòa với nhau, kết tinh thành một nhàvăn hóa lớn của dân tộc Không nghi ngờ gì nữa, ảnh hưởng của ông ngày càng rộng,càng sâu

Trong văn học thế giới, đạt được một địa vị vinh quang như Lỗ Tấn quả khôngnhiều Lỗ Tấn được coi là người đặt nền móng cho nền văn học mới, là người tiênphong, mở đường trong việc hiện đại hóa nền văn học Trung Quốc Với hai tập

truyện ngắn Gào thét và Bàng hoàng, Lỗ Tấn đã xác lập cho mình một vị trí quan trọng trong nền văn học hiện đại “Không có Gào thét, Bàng hoàng của Lỗ Tấn, thì

sẽ không có bước vững chắc nhất trong giai đoạn thứ nhất trên hành trình hiện đạihóa tiểu thuyết Trung Quốc, tiểu thuyết Lỗ Tấn có ý nghĩa vạch thời đại trên lịch sửvăn học Trung Quốc đã được thể hiện ở đó”[90 ;117]

Lỗ Tấn có mô ̣t vi ̣ trí quan tro ̣ng trong nền văn ho ̣c thế giới Trong thâ ̣p niên 20của thế kỷ XX, những tiểu thuyết của Trung Quốc được người nước ngoài di ̣ch ra hầu

hết là tác phấm của Lỗ Tấn Hiê ̣n nay, hầu như các nước trên thế giới đều đã di ̣ch AQ

chính truyện Tác phẩm của Lỗ Tấn đã được di ̣ch sang hơn 12 thứ tiếng trên thế giới

như: Nga, Nhâ ̣t, Đức, Tây Ban Nha, Triều Tiên, A- râ ̣p, Thái Lan Ở Viê ̣t Nam, năm

1944, tác phẩm Lỗ Tấn đã đựợc GS Đặng Thai Mai dịch và giới thiệu đến bạn đọc

qua tập tiểu luận Lỗ Tấn, thân thế văn nghệ do nhà xuất bản Thời đại ấn hành Từ đó

đến nay, nghiên cứu về Lỗ Tấn đã đạt được những thành tựu lớn với nhiều chuyên

luận như: Lỗ Tấn, thân thế văn nghệ (Đặng Thai Mai, Nxb Thời đại năm 1944), Lỗ

Tấn chủ tướng của cách mạng văn hoá Trung Quốc (Lê Xuân Vũ, Nxb 1958), Lỗ Tấn nhà lý luận văn học (Phương Lựu, Nxb Đại học và THCN, 1977)… Ngoài ra,

nhiều nhà nghiên cứu cũng chọn Lỗ Tấn làm đề tài tốt nghiệp tiến sỹ, thạc sỹ của

mình, tiêu biểu là các luận án tiến sỹ Thi pháp truyện ngắn Lỗ Tấn (Lê Huy Tiêu, 1988), Nhân vật trong truyện ngắn Lỗ Tấn (Trần Lê Hoa Tranh, 2006), Nghệ thuật tự

sự của Lỗ Tấn qua hai tập truyện ngắn “Gào thét” và “Bàng hoàng” (Nguyễn Thị

Mai Chanh, 2008) Cùng với các chuyên luận, luận án tiến sỹ là các bài viết đăng trêncác tạp chí uy tín cũng như nhiều luận văn thạc sỹ trong các trường đại học có khoaNgữ văn hoặc khoa Ngôn ngữ và văn hoá Trung Quốc Điều này chứng tỏ Lỗ Tấn có

Trang 2

một sức hút lớn đối với độc giả Việt Nam.

1.2 Nam Cao là một nhà văn hiện thực có vị trí quan trọng trong văn học ViệtNam giai đoạn 1930-1945, đặc biệt là trong trào lưu văn học hiện thực phê phán

“Tác phẩm của Nam Cao phần lớn ra đời trong những năm chiến tranh thế giới lầnthứ hai, đánh dấu bước phát triển của trào lưu văn học hiện thực phê phán trong mộtthời kỳ tưởng chừng như bế tắc”[58; 471] Sáng tác của ông đã vượt qua được nhữngthử thách khắc nghiệt của thời gian, đúng như một nhà nghiên cứu nhận xét "càng thửthách lại càng ngời sáng" Thời gian càng lùi xa, tác phẩm của Nam Cao cùng tưtưởng nhân đạo cao cả và vẻ đẹp của nghệ thuật điêu luyện, độc đáo càng chứngminh được sức mạnh nghệ thuật to lớn của nó

Gần nửa thế kỷ qua, con người và tác phẩm của Nam Cao đã thu hút sự chú ýcủa các nhà nghiên cứu, lý luâ ̣n, phê bình, cùng với mô ̣t khối lượng đô ̣c giả tương đốilớn Có thể nói, Nam Cao là mô ̣t trong số những nhà văn lớn của thế kỷ XX đượcnghiên cứu nhiều nhất và đạt thành tựu rực rỡ nhất ta ̣i Viê ̣t Nam với hơn 200 côngtrình nghiên cứu lớn nhỏ

1.3 Như vậy, Lỗ Tấn và Nam Cao là những nhà văn có vị trí quan trọng trongnền văn học hiện đại Trung Quốc và Việt Nam Tìm hiểu văn xuôi tự sự Trung Quốc

và Việt Nam, không thể không nghiên cứu sáng tác của hai cây bút bậc thầy này.Sáng tác của Lỗ Tấn và Nam Cao, từ đề tài, chủ đề, tư tưởng đến hình thức nghệthuật, có những nét tương đồng, và tất nhiên cũng có nhiều điểm khác biệt cơ bản,

tạo nên phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn Lựa chọn đề tài So sánh văn xuôi tự

sự của Lỗ Tấn và Nam Cao, chúng tôi mong muốn được góp phần tìm hiểu sâu hơn

giá trị tư tưởng, nghệ thuật sáng tác của mỗi nhà văn, qua đó, nhận thức đầy đủ vàsâu sắc hơn những cống hiến vẻ vang của họ đối với tiến trình lịch sử của mỗi dântộc Chúng tôi hy vọng, qua việc khám phá những nét tương đồng và những sác tháikhác nhau của văn xuôi Lỗ Tấn và Nam Cao, có thể đưa Nam Cao đến gần hơn vớiđọc giả Trung Quốc cũng như giúp độc giả Việt Nam có có thể biết thêm nhiều hơnnữa về nhà văn bậc thầy Lỗ Tấn của Trung Quốc Đây cũng là việc làm thiết thực đểchúng tôi có thể giảng dạy tốt hơn văn học Việt Nam, góp phần giữ gìn và phát triểntình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam và Trung Quốc

1 Lịch sử vấn đề

Vấn đề nghiên cứu Lỗ Tấn và Nam Cao đã được các nhà nghiên cứu Trung Quốc

và Việt Nam nghiên cứu tương đối hệ thống qua hàng trăm, hàng ngàn công trình có

uy tín Tuy nhiên, theo tài liệu mà chúng tôi có được, việc so sánh Lỗ Tấn và NamCao chỉ xuất hiện qua một vài bài báo có tính chất đơn lẻ hoặc một vài luận văn tốtnghiệp đại học, thạc sỹ ở Việt Nam Ở Trung Quốc chưa có công trình nghiên cứu so

Trang 3

sánh nào về hai nhà văn này Có thể kể ra đây công trình của Phạm Tú Châu với bài

viết Đôi điều so sánh giữa Chí Phèo và AQ đăng trên Tạp chí văn học số 1 năm 1992.

Trong bài viết này, nhà nghiên cứu đã chỉ ra một vài điểm tương đồng và khác biệt ởhai nhân vật bất hủ của hai nền văn học Qua việc phân tích hai nhân vật AQ và ChíPhèo, Phạm Tú Châu đi đến nhận định: “Lỗ Tấn và Nam Cao cùng cho thấy hànhđộng phản kháng của cả hai nhân vật đều chưa được ánh sáng của trí tuệ, của lý tínhsoi rọi, chỉ là những cơn cảm tính bốc hoả lên đầu, những xung động thần kinh, chonên không nhằm một mục đích nào lớn hơn là miếng ăn, rượu uống hàng ngày choriêng mình”[18; 46] Nhà nghiên cứu cũng lí giải về sự xuất hiện của hai nhân vậtnày là mang tính tất yếu: “Trong một xã hội nào cũng vậy, hễ có AQ ắt có Chí Phèo

và ngược lại Hai tính cách tưởng như đối lập này lại thống nhất với nhau, bổ sungcho nhau khiến cho bức tranh về xã hội nông thôn sản xuất nhỏ và thành thị nôngthôn cũng dạng như thế thêm sinh động, phong phú”[18; 47] Bài nghiên cứu nhìnchung đã chỉ ra được những nét cơ bản nhất về hai nhân vật bất hủ AQ và Chí Phèo.Chúng tôi sẽ trở lại bài viết này trong quá trình triển khai luận án Trong chuyên luận

Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao, Trần Đăng Suyền viết: “Vẫn còn tồn tại ý kiến cho

rằng Chí Phèo được viết dưới ảnh hưởng của A.Q.chính truyện Song, trong thực tế, khi Nam Cao viết Chí Phèo (1941) thì thiên truyện vừa nổi tiếng của Lỗ Tấn chưa

được dịch ra tiếng Việt Và Nam Cao, theo sự làm chứng của Tô Hoài – người bạnthân thiết, gần gũi của ông – còn chưa biết tới tác phẩm đó Nhưng sự gần gũi giốngnhau về loại hình của hai tác phẩm được nảy sinh từ những hoàn cảnh lịch sử xã hộigiống nhau, từ những xung đột cuộc sống có phần tương tự như nhau là không thể

nghi ngờ Trong những tác phẩm viết về nông dân,Chí Phèo là một hiện tượng nổi

bật, kết tinh tư tưởng và tài năng nghệ thuật của Nam cao, xứng đáng là một kiệt táctrong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam”[83,153-154] Luận văn thạc sỹ của Trần Lê

Hoa Tranh với đề tài Tìm hiểu những điểm tương đồng và dị biệt về mặt thi pháp

nhân vật phụ nữ trong truyện Lỗ Tấn và Nam Cao (Đại học KHXH và Nhân văn Tp

Hồ Chí Minh năm 1998) là một công trình nghiên cứu dày dặn nhưng cũng chỉ dừnglại ở việc so sánh thi pháp nhân vật phụ nữ Nhìn chung, giới nghiên cứu Việt Namthừa nhận truyện ngắn của Lỗ Tấn và Nam Cao có sự tương đồng rất lớn nhưng chưa

có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống Đó chính là không gian của Luận áncủa chúng tôi

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Bản luận án của chúng tôi đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

- Nêu những nét khái quát về bối cảnh của nền văn học hiện đại Trung Quốc vàViệt Nam để làm rõ cơ sở xuất hiện các nhà văn Lỗ Tấn (Trung Quốc) và Nam Cao

Trang 4

(Việt Nam); chỉ ra sự tương đồng và cả sự khác biệt về vị trí, tầm vóc của từng nhàvăn đối với nền văn học hiện đại của mỗi dân tộc

- Trên cơ sở phân tích các sáng tác cụ thể, luận án tập trung vào việc chỉ ra cácđiểm giống và khác nhau trong sáng tác của Lỗ Tấn và Nam Cao về phương diện nộidung và phương diện nghệ thuật; đồng thời, lý giải vì sao lại có sự giống nhau vàkhác nhau như vậy

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Do mục tiêu của luận án, ở công trình này, chúng tôi chỉ tâ ̣p trung vào việc sosánh sáng tác của Lỗ Tấn và Nam Cao qua truyện ngắn và truyện vừa Cụ thể là, qua

các tập Gào thét, Bàng hoàng của Lỗ Tấn với tổng cộng 25 truyện và toàn bộ truyện

ngắn của Nam Cao trước cách ma ̣ng tháng Tám năm 1945

Ngoài ra, để có được cái nhìn toàn diê ̣n về sự nghiê ̣p sáng tác của Lỗ Tấn vàNam Cao cũng như thấy rõ được tính đa da ̣ng, phong phú của các trào lưu văn ho ̣chiện thực Trung Quốc và Việt Nam, luâ ̣n án cũng tiến hành so sánh, đối chiếu vớimột số tác phẩm cùng thời của những nhà văn Trung Quốc và Viê ̣t Nam khác

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được hiệu quả cao trong triển khai đề tài, luận án của chúng tôi sử dụngphối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp so sánh lịch sử - loại hình: Đây là phương pháp sử dụng nhiềunhất và phù hợp nhất trong việc so sánh Lỗ Tấn và Nam Cao Vận dụng phương phápnghiên cứu này, chúng tôi sẽ đặt sáng tác của hai nhà văn trong bối cảnh lịch sử xãhội hai nhà văn sinh sống, vào sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa hiện thựctrong tiến trình văn học Trung Quốc và văn học Việt Nam Từ đó giúp người viết cóthể tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong sáng tác của hai nhà văn này

- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phương pháp này được dùng để phân tíchcác dẫn chứng, từ đó, tổng hợp, khái quát thành các luận điểm, luận cứ Việc so sánhsáng tác của Lỗ Tấn và Nam Cao được nghiên cứu trên nhiều phương diện, từ nộidung đến hình thức Vì vậy, cần đi sâu phân tích từng phương diện đó, đồng thời,cũng cần phải có sự tổng hợp khái quát hóa để có nhận xét tổng quát về nó, để chỉ ranhững vấn đề tương đồng và dị biệt về mặt thi pháp sáng tác của hai nhà văn

- Phương pháp hệ thống: Sáng tác của Lỗ Tấn và Nam Cao, được nhìn nhận nhưnhững hệ thống, được cấu trúc bởi nhiều yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗlẫn nhau Vì vậy, so sánh sáng tác của hai nhà văn này không thể không vận dụngphương pháp hệ thống Những vấn đề cụ thể trong sang tác của hai nhà văn này đượctriển khai trong luận án vì vậy luôn được đặt trong mối quan hệ hệ thống

6 Đóng góp mới của luận án

Trang 5

Luận án chính là công trình đầu tiên đặt ra vấn đề so sánh một cách hệ thống vềsáng tác của hai nhà văn: Lỗ Tấn và Nam Cao Trên cơ sở bối cảnh của hai nền vănhọc hiện đại Trung Quốc và Việt Nam, thông qua việc phân tích các sáng tác cụ thểcủa hai nhà văn, bản luận án đã chỉ ra, đồng thời có những kiến giải về sự giống vàkhác nhau ở các phương diện nội dung và nghệ thuật trong sáng tác của hai nhà văn Luận án cũng góp phần làm phong phú thêm lịch sử nghiên cứu Lỗ Tấn và NamCao, đặc biệt ở lĩnh vực văn học so sánh, có ý nghĩa quan trọng đối với việc giao lưuvăn học, văn hóa giữa hai quốc gia Qua đó, luận án cũng góp phần thiết thực vàoviệc tìm hiểu nền văn học hiện đại của Trung Quốc và Việt Nam, vun đắp và củng cốtình hữu nghị giữa hai dân tộc

7 Cấu trúc của Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, Luận án của chúng tôi gồm

3 chương:

Chương 1: Sáng tác của Lỗ Tấn và Nam Cao trong bối cảnh nền văn học hiện đạiTrung Quốc và Việt Nam

Chương 2: Nội dung tư tưởng của văn xuôi tự sự Lỗ Tấn và Nam Cao

Chương 3: Hình thức nghệ thuật của văn xuôi tự sự Lỗ Tấn và Nam Cao

Trang 6

Chương 1 SÁNG TÁC CỦA LỖ TẤN VÀ NAM CAO TRONG BỐI CẢNH NỀN VĂN HỌC HIỆN ĐẠI

TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM

1.1 Khái quát tình hình văn học hiện đại Trung Quốc từ 1919 đến 1949 và văn học hiện đại Việt Nam từ 1900 đến 1945

1.1.1 Bối cảnh chung

Có thể nói, trước thế kỉ XX, chưa từng có một nền văn học nào như văn họcphương Tây đã va đập vào văn học của Trung Quốc mạnh như vậy, và có sự ảnhhưởng tới mức không có chỗ nào là không len lỏi vào Cho đến nay, văn học của cácnước thế giới vẫn đang chịu sự ảnh hưởng của văn học Âu Mỹ Nhà văn Trung Quốcvẫn tự giác hoặc không tự giác, trực tiếp và gián tiếp tiếp nhận văn học phương Tây.Khi đại bác của các cường quốc mở ra cánh cửa Trung Quốc, văn học không thểkhông chịu sự ảnh hưởng của văn học phương Tây, nhất là cánh cửa rộng mở nhưvăn học cách mạng “Ngũ Tứ”, văn học phương Tây đã như những trận hồng thủytràn vào văn học truyền thống Trung Quốc Văn học cách mạng “Ngũ Tứ” mạnh dạntiếp thu văn học phương Tây, lấy tiếng nói không ôn hòa của văn học phương Tâyđối lập, phủ nhận tiếng nói ôn hòa của truyền thống Trung Quốc (Lỗ Tấn)

Dưới ảnh hưởng của văn học nước ngoài, văn học hiện đại Trung Quốc pháttriển mạnh mẽ Sự ảnh hưởng này to lớn và sâu sắc từ lý luận đến sáng tác và khắpcác lĩnh vực như: thơ ca, tiểu thuyết, kịch, tản văn và phong trào văn học, đến cảtuyệt đại đa số tác gia, thậm chí mấy thế hệ tác gia và hơn nữa, xuyên suốt các thời

kỳ của lịch sử văn học hiện đại Trung Quốc

Mác có nói: “Trình độ thực hiện của lí luận ở một quốc gia, quyết định vào líluận đã thỏa mãn trình độ nhu cầu của quốc gia này” Khi phong trào văn học hiệnđại Trung Quốc bùng nổ, Trung Quốc đã rơi vào một xã hội nửa phong kiến nửathuộc địa, cách mạng Tân Hợi đã tuyên cáo thất bại, xã hội sa đọa thối nát, cần tiếnhành sự cải tạo triệt để Trung Quốc đang nằm trong cái nôi lịch sử của cách mạngchủ nghĩa dân chủ mới và cũ Trào lưu tư tưởng và văn học của nó lấy hạt nhân là tự

do dân chủ của giai cấp tư sản phương Tây đang trong thời kỳ phát triển Chủ nghĩaMác Lê-nin mang thế giới quan và văn học của giai cấp vô sản quốc tế đều thích hợpvới nhu cầu cách mạng chủ nghĩa dân chủ mới của Trung Quốc chống đế quốc vàchống phong kiến một cách triệt để ở các mức độ khác nhau, thích hợp cho nhu cầucủa văn học cách mạng và cách mạng văn học Vì vậy, những trào lưu văn học đó đãđược giới thiệu rất nhanh chóng đến Trung Quốc, ảnh hưởng đến cách mạng TrungQuốc và tác gia hiện đại Trung Quốc Về mặt khách quan, việc cải tạo Trung Quốc

cũ cũng cần tư tưởng lý luận và văn học mới; về mặt chủ quan, nhà văn hiện đạiTrung Quốc cũng khát khao thử vận dụng các lý luận mới, văn học mới của nước

Trang 7

ngoài để đạt được thành công mới trong sáng tạo nghệ thuật.

Có thể nói, nhà văn hiện đại Trung Quốc tiếp thu sự ảnh hưởng của văn họcnước ngoài một cách phức tạp đa nguyên, hầu như tiếp thu tất cả các nhà văn nổitiếng của nước ngoài Nhìn từ sáng tác, bất kể là đề tài, chủ đề, tình tiết nhân vật, hay

là hình thức nghệ thuật, phương pháp sáng tác, thủ pháp biểu hiện, ngôn ngữ, phongcách v.v đều đã chịu ảnh hưởng rất sâu sắc

Những nội dung quan trọng của tinh thần thời kỳ “Ngũ Tứ” như: chủ nghĩa nhânđạo, giải phóng cá tính, bình đẳng nam nữ, tự do luyến ái, phê phán chủ nghĩa phongkiến đều nêu ra dưới sự ảnh hưởng của những trào lưu mới nước ngoài; việc đềxướng “văn học cách mạng” càng chỉ rõ sự chỉ đạo của chủ nghĩa Mác Lê-nin

Văn học nước ngoài đã đẩy mạnh việc hiện đại hóa của văn học Trung Quốc Ởphương diện nhân vật, văn học truyền thống cổ đại Trung Quốc trên cơ bản là viếtnhững câu chuyện vui buồn tan hợp của đế vương tướng lĩnh, tài tử giai nhân Và môtíp của nó thường là: công tử rơi vào cảnh khó, gặp gỡ tình cờ với giai nhân, thề ướctrăm năm, trải qua nhiều giày vò, thi cử đỗ đạt, đại đoàn viên Văn học hiện đạiTrung Quốc khác xa với nền văn học này, lấy công nhân, nông dân, trí thức và phụ

nữ bình thường làm nhân vật chính, đã triệt để phá vỡ mô típ tình tiết của “đại đoànviên” Không thể phủ nhận, tiếp nhận sự ảnh hưởng của văn học nước ngoài là nhân

tố quan trọng thực hiện sự đột phá này

Về phương pháp sáng tác, văn học hiện đại Trung Quốc đã chịu ảnh hưởng củacác trào lưu văn học nước ngoài khác nhau, bao gồm ba phương pháp sáng tác như:chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện đại Ba phương pháp đóxuất hiện ở Trung Quốc gần như đồng thời, nhưng đã hình thành cao trào trong thời

kỳ khác nhau Lỗ Tấn đã từng tôn sùng và giới thiệu những nhà văn chủ nghĩa lãngmạn và chủ nghĩa hiện thực như: Goethe, Byron, Shelley, Pushkin, Lermontov

MikhailIurievich, Nikolai Vasilievich Gogol, Henrik Johan Ibsen v.v trong Văn hóa

thiên chí luận và Thuyết về thơ Mara vào năm 1907 của ông Ngày vùng dậy của văn

học hiện đại Trung Quốc cũng trong thời gian văn học hiện đại chủ nghĩa phương

Tây xuất hiện với số lượng lớn tại Trung Quốc Nhật ký người điên của Lỗ Tấn là

một hình ảnh thu nhỏ trong tình hình này, có thể thuyết minh tốt nhất tình hình này:

Nhật ký người điên đã xuất phát từ lịch sử và hiện thực, vạch trần bản chất tệ nạn ăn

thịt người của chế độ và lễ giáo phong kiến, trên cơ bản là chủ nghĩa hiện thực,nhưng lại mơ ước một xã hội lí tưởng “ở tương lai không tha thứ những người ăn thịtngười”, lại có nhân tố chủ nghĩa lãng mạn; áp dụng thủ pháp chủ nghĩa tượng trưng,đồng thời lại mang một chút dư âm của chủ nghĩa hiện đại Do vậy, chúng tôi có thểnhìn ra một điều quan trọng: ở phương Tây, hiện đại chủ nghĩa chống truyền thống,đối lập với những phương pháp sáng tác truyền thống Khi nhà văn hiện đại TrungQuốc tiếp nhận nó, đã hòa hợp và bổ sung cho những phương pháp sáng tác truyềnthống của mình để càng tốt càng hay Văn học cổ Trung Quốc có truyền thống tốt về

khuynh hướng hiện thực và khuynh hướng lãng mạn lâu dài, như Kinh thi, khuynh

hướng hiện thực của Đỗ Phủ, Khuất Nguyên; khuynh hướng lãng mạn của Lý Bạchv.v ; Song, về bản chất chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn của phương Tây

Trang 8

lại có đặc điểm không giống với khuynh hướng hiện thực và lãng mạn của truyềnthống cổ Trung Quốc: nó có ý thức hiện đại rõ ràng như: tự do dân chủ, giải phóng cátính v.v và tinh thần chống chủ nghĩa phong kiến, vạch trần những mặt trái, bấtcông của xã hội tư bản cùng với những kỹ xảo mới hiện đại, muôn hình muôn vẻ.Các nhà văn hiện đại Trung Quốc tiếp nhận những phương pháp sáng tác này Hiệnđại chủ nghĩa không có trong văn học truyền thống Trung Quốc, nhà văn hiện đạiTrung Quốc đã tiếp nhận phương pháp sáng tác này, khiến cho sáng tác của họ càng

có ý thức hiện đại rõ ràng, hơn nữa đã mở rộng tầm nhìn sáng tác, khiến cho tácphẩm của họ càng có sự cuốn hút về nghệ thuật Trước văn học cách mạng1, ngoài LỗTấn, năm 1915, Trần Độc Tú đã từng đề xướng “sau này nên hướng về chủ nghĩa tảthật” Sau này, hiện thực chủ nghĩa đã được nhiều nhà văn tiếp nhận, xuất hiện mộtloạt nhà văn phái nhân sinh và tác phẩm chủ nghĩa hiện thực như: “vị nhân sinh”,

“biểu hiện nhân sinh”, “cải lương nhân sinh” Chủ nghĩa hiện thực mau chóng hìnhthành cao trào trong thời kỳ “Ngũ Tứ” Chủ nghĩa lãng mạn trở thành trào lưu từ năm

1919, với Nữ thần của Quách Mạt Nhược Chủ nghĩa lãng mạn hình thành một cao

trào trong thời kỳ này, không thể tách rời với những tinh thần tiến lên như bão táp,phá vỡ tất cả cái cũ Chủ nghĩa hiện thực, những đề xướng lý luận thật sự và hìnhthành cao trào trong sáng tác là vào sau giữa thập niên 20 đến đầu giữa thập niên 30,bắt đầu từ năm 1924, Lỗ Tấn đã áp dụng nhiều hơn phương pháp sáng tác của chủ

nghĩa hiện thực trong tiểu thuyết của mình, như Miếng xà phòng, Cao lão phu tử,

Tiếc thương những ngày đã mất, v.v là những kiệt tác của chủ nghĩa hiện thực.

Cuối thập niên 20 đến đầu giữa thập niên 30, nhà văn Trung Quốc như Thi Trập Tồn,

Mộ Thì Anh, Lưu Niệt Âu v v đã chịu sự ảnh hưởng của văn học hiện đại chủnghĩa của nước ngoài như Nhật Bản và Mỹ, dịch rất nhiều tiểu thuyết hiện đại chủnghĩa Những nhà thơ phái hiện đại như: Đái Vọng Thư, Hà Kỳ Phương, Từ Chí Ma,Vương Độc Thanh v.v… đã sáng tác theo khuynh hướng chủ nghĩa hiện đại Tào Vũcũng chịu sự ảnh hưởng của Eugene O’Neill - nhà văn sáng tác kịch chủ nghĩa hiện

đại, sáng tác kịch Nguyên Dã nổi tiếng, đã hình thành một cao trào văn học chủ nghĩa

hiện đại của Trung Quốc

Về thủ pháp biểu hiện, sự tiếp nhận văn học nước ngoài đã đem lại cho văn họcTrung Quốc nhiểu kỹ xảo mới mẻ Người kể chuyện của tiểu thuyết chương hồitruyền thống Trung Quốc chịu ảnh hưởng của người bình truyện, người kể truyện cơbản đều là những người toàn trí toàn năng (không có gì không biết, không có gì khônglàm được), vượt qua tất cả nhân vật trong truyện, biết nhiều hơn tất cả nhân vật trongtruyện Sự tiếp nhận của văn học nước ngoài đã đột phá mô típ trần thuật đơn nhấtnày, khiến cho tiểu thuyết của Trung Quốc có nhiều mô típ người kể truyện Miêu tảcảnh vật và tâm lý càng tinh tế, tỉ mỉ và rõ mồn một, có dung lượng nhiều hơn, nhất làthêm vào thủ pháp miêu tả tiềm thức nhân vật Còn mượn thủ pháp Montage (tiếng

1 Tháng 1 năm 1917, tháng 4 năm 1918, Hồ Thích viết Văn học cải lương và xây dựng văn học

cách mạng luận, đề xướng văn bạch thoại, đã mở đầu cho văn học cách mạng Rồi sau hơn 30 năm,

văn học Trung Quốc không những khai thác cho mình một con đường riêng, mà còn thâu tóm tất cả thành tựu của văn học Trung Quốc trong thế kỷ 20, là một đỉnh cao rất khó vượt qua cho tới nay.

Trang 9

Pháp có nghĩa là lắp ghép cắt nối biên tập lại) trong phim ảnh nước ngoài; tiếp nhậnthủ pháp nhìn lại, phát hiện, thay đổi đột ngột v.v của kịch nói nước ngoài; từ vănhọc chủ nghĩa hiện đại tiếp nhận những thủ pháp như: thay đổi cảm giác, giao thoathời gian, thay đổi không gian v.v để tăng cường và thể hiện khả năng về nhịp sốngvới tốc độ nhanh, phương pháp thể hiện càng đa dạng hóa.

Về ngôn ngữ, văn học hiện đại Trung Quốc đã học hỏi ngôn ngữ văn học nướcngoài, nâng cao tính chuẩn xác, thể hiện sự vật phức tạp với những ý tưởng giàu sứcthể hiện Thí dụ Tiền Chung Thư đã áp dụng tài tình ý tưởng “Vi thành” (thành baoquanh) của ngạn ngữ tiếng Pháp, làm tên cuốn sách để nổi bật chủ đề

Về phong cách sáng tác, các tác giả nước ngoài thường cũng có sự ảnh hưởng rõrệt đối với nhà văn hiện đại Trung Quốc Như văn đoàn Trầm Chung đã chịu sự ảnhhưởng nhà văn chủ nghĩa lãng mạn Hope Deman của Đức, tên văn đoàn đặt theo tên

kịch bản Trầm Chung của Hope Deman, những tác phẩm của họ đã thể hiện phong

cách chủ nghĩa lãng mạn đậm đặc Nhà văn phái Tân cảm giác Nhật Bản đã ảnhhưởng trực tiếp đến nhà văn phái Tân cảm giác của Trung Quốc Lỗ Tấn đã chịu sựảnh hưởng của nhà văn Nga Nikolai Vasilievich Gogol, phong cách tiểu thuyết củaông súc tích kín đáo, hài hước mỉa mai Quách Mạc Nhược chịu sự ảnh hưởng củanhững nhà thơ của nước Anh như: Shelley, Byron v.v phong cách thơ của ôngkhoáng đạt hào phóng

Văn hóa Việt Nam tiếp xúc với văn hóa phương Tây từ rất sớm, vào khoảng thế

kỷ XVI, khi các giáo sĩ Kitô đi truyền đạo, khi các thuyền buôn phương Tây đi tìmthị trường Đây cũng là thời gian ra đời chữ quốc ngữ, thứ chữ mượn chữ cái Latinh đểghi âm tiếng Việt

Nhưng văn hóa phương Tây chỉ thực sự ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam từđầu thế kỷ XX, sau những đợt khai thác thuộc địa Lớp văn hóa phương Tây tuymỏng, nhưng sức tác động của nó là rất lớn Đây là sự gặp gỡ của nông thôn và thànhthị, của nông nghiệp và công nghiệp, của phương Đông và phương Tây, của ViệtNam và thế giới Kết quả của sự gặp gỡ này là văn hóa Việt Nam rời quỹ đạo khuvực, chuyển sang quỹ đạo văn hóa thế giới Con tàu văn hóa Việt Nam bắt đầu rờivùng biển nhà để ra khơi

Cùng với sự khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đã tiến hành xây dựng hạ tầng

cơ sở, như hệ thống đường bộ xuyên Việt, đường sắt, cầu cống v.v Ngoài ra, họcũng khởi động các ngành công nghiệp chế biến và tiêu dùng Một số đô thị cũngđược xây dựng theo kiến trúc của các thành phố hiện đại với sự phát triển côngthương nghiệp Ở các thành phố này, dần dần hình thành một tầng lớp thị dân hiệnđại Họ sẽ là chủ - khách thể của nền văn hóa đô thị đang dần dà bỏ lại sau các địnhdanh phương Đông và trung đại Tuy nhiên, cơ sở công thương nghiệp còn kém pháttriển đã làm cho tầng lớp thị dân này chưa có một nhu cầu văn hóa cao, có tính chấthiện đại Và, để bù lại điều đó, lớp trí thức - những phần tử ưu tú nhất của tầng lớpthị dân - đã phải vay mượn, học tập, tiếp nhận ở văn hóa phương Tây tiến bộ

Về giáo dục, ban đầu người Pháp bảo lưu chế độ giáo dục và thi cử theo Nhogiáo vì nghĩ rằng, với mục đích trị bình, Nho giáo sẽ giúp xã hội Việt Nam ổn định

Trang 10

trở lại Nhưng chẳng bao lâu sau, trước nhu cầu cần viên chức hành chính, thôngngôn, thư ký cho các cơ quan, xí nghiệp, công ty , họ đã bãi bỏ chế độ khoa cử vàxây dựng hệ thống giáo dục theo kiểu phương Tây: từ tiểu học, trung học tới đại học.Ngoài ra, người Pháp còn mở một số cơ sở nghiên cứu khoa học như Viện Pasteur ởSài Gòn (1891), Viện Hải Dương học (tục gọi là Nhà Cá) ở Nha Trang (1896),Trường Viễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội (1898)

Chữ quốc ngữ tuy xuất hiện đã lâu, nhưng chỉ tồn tại trong một phạm vi hẹp làcộng đồng Kitô giáo Mãi đến giữa thế kỷ XIX, (ở Nam Bộ) và đầu XX (ở Bắc Bộ),chữ quốc ngữ mới có cơ hội phát triển tăng tốc Điều tưởng như nghịch lý là bấy giờngười hô hào học chữ quốc ngữ lại chính là những nhà nho, những người trước đâyghét cay ghét đắng thứ chữ không phải của thánh hiền này Có điều họ là những nhànho duy tân, thấy quốc ngữ dễ học, dễ truyền bá tư tưởng canh tân đất nước, nên họnhảy qua được bóng của mình, dẹp được thành kiến cố hữu của mình Mặt khác,người Pháp cũng thấy sự tiện lợi này trong việc truyền bá tư tưởng của họ Thế là,các trường dạy tiếng quốc ngữ bắt đầu được thành lập, và chữ quốc ngữ được dùngtrong văn bản giấy tờ chính thức, được sử dụng trên báo chí ấn phẩm Chữ quốc ngữ,

vì thế, đã trở thành phổ thông, một phương tiện hữu hiệu để lưu trữ và phát triển tiếng Việthiện đại

Chữ quốc ngữ ra đời cũng thúc đẩy sự phát triển của báo chí Đầu tiên chỉ lànhững tờ công báo in bằng chữ Pháp và chữ Hán, sau đó xuất hiện các tờ bằng chữ

quốc ngữ ở Nam Kỳ như Gia định báo (1865), Phan Yên báo, Nông cổ mín đàm (1901), Lục tỉnh tân văn (1907) Rồi báo chí phát triển ở tất cả các địa phương, các

ngành nghề, các giới Trong đó những tờ báo có đóng góp lớn vào xây dựng văn hóadân tộc như Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Phụ Nữ tân văn, Hữu Thanh,Thực nghiệp dân báo, Phong Hóa, Ngày Nay v.v Sự phát triển của báo chí đã thúcđẩy sự phát triển của tiếng Việt, khiến nó trở nên hoàn thiện hơn về ngữ pháp, được

bổ sung thêm những từ mới, nhất là những thuật ngữ khoa học, biến tiếng Việt thànhmột ngôn ngữ hiện đại vừa mềm dẻo, tinh tế để có thể diễn tả được mọi sắc thái tìnhcảm tinh vi của nội tâm con người, vừa đủ sáng sủa, khúc chiết để diễn đạt một cáchlogic những vấn đề khoa học, triết học Tiếng Việt, nhờ thế, sau cách mạng thángTám năm 1945 đã có thể được dùng để giảng dạy ở cấp đại học Đây là một điều hếtsức kỳ lạ so với các nước ở Châu Phi sau khi giành độc lập mà vẫn phải dùng tiếngAnh hoặc tiếng Pháp để viết văn, làm thơ và dạy học

Cuối cùng, sự phát triển của báo chí và tiếng Việt đã thúc đẩy sự phát triển củavăn học nghệ thuật Văn học nghệ thuật giai đoạn này ra đời như là kết quả của sựgiao thoa văn hóa Đông và Tây, Việt Nam và Pháp Nó đã tiến một bước dài trên conđường hiện đại hóa, thế giới hóa Tất nhiên, đây chỉ là bước khởi đầu cho một cuộc

"hành quân xa" của văn học nghệ thuật Việt Nam Nhưng thế nào là hiện đại hóa ?

Từ đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam vận động mạnh mẽ theo hướng đại hóa, tức làkhẳng định nền văn học này thoát khỏi những đặc trưng của văn học trung đại, tạonên được những đặc điểm, tính chất của một nền văn học hiện đại, theo mô hình củavăn học phương Tây Nói một cách thô thiển thì thế giới hóa, hiện đại hóa là người ta

Trang 11

có gì thì mình có nấy Người có tiểu thuyết thì ta cũng có tiểu thuyết, người có kịchnói thì ta cũng có kịch nói, người có điện ảnh thì ta cũng có điện ảnh Rồi thì tânnhạc, vẽ sơn dầu, sơn mài, thể thao, thời trang v.v Tuy nhiên, một điều quan trọngkhác là chất lượng thẩm mỹ Có thể nói, văn hóa nghệ thuật giai đoạn này đạt đếnmột chất lượng thẩm mỹ rất cao Nhiều tác phẩm văn học, hội họa, âm nhạc sẽ sốngmãi với thời gian, nhiều tên tuổi nhà văn, nhạc sĩ, họa sĩ sẽ lưu danh trong lịch sử vănhóa Việt Nam như những nhà cách tân tiên phong.

Tóm lại, lớp văn hóa phương Tây đã có những đóng góp to lớn cho văn hóa ViệtNam Trước hết, nó mang đến cho văn hóa Việt Nam những giá trị mới như tự do,bình đẳng, dân chủ là những giá trị nhân văn thuộc về con người phổ quát mà tưtưởng Ánh sáng nêu ra Sau đó, nó giúp người Việt phát triển được ý thức cá nhân,coi cá nhân như một giá trị Sự phát triển của cá nhân không đối lập mà hỗ trợ cho sựphát triển của xã hội Chính sự thức tỉnh của ý thức cá nhân đã là một trong nhữngđộng lực phát triển của văn hóa giai đoạn này Cuối cùng, lớp văn hóa phương Tâygóp phần đưa văn hóa Việt Nam chuyển từ quỹ đạo văn hóa khu vực sang quỹ đạovăn hóa thế giới Từ đây, văn hóa Việt Nam bắt đầu tham gia vào quá trình hội nhậpthế giới

Lớp văn hóa phương Tây từ sau năm 1945, khi Việt Nam giành được độc lập,không phải đã chấm dứt, mà vẫn tiếp tục được bổ sung và làm dày thêm Tuy nhiên,lúc này sự phương Tây hóa không còn đơn tuyến nữa, mà là đa tuyến, không chỉ quamột ngả Pháp, mà còn qua các ngả như Liên Xô, Đông Âu, Nhật Bản, ASEAN, Mỹv.v Bởi vậy, thuật ngữ hiện đại hóa, thế giới hóa không còn trùng khít với thuật ngữ

"phương Tây hóa" nữa Lớp văn hóa phương Tây sau năm 1945 có thể phong phú và

đa dạng hơn, sẽ bổ trợ tốt hơn cho văn hóa Việt Nam

Sau khi tiếp xúc, văn hoá Việt Nam như nhào nặn lại, làm lại hoàn toàn Theocác nhà lịch sử văn hoá, hoà nhập, vừa là đặc trưng, là tính nội tại, vừa là điều kiệnsống còn của văn hoá Lịch sử mỗi nền văn hoá không chỉ là sự phát triển tự thân của

nó, mà còn là lịch sử của mối quan hệ giữa nó với các nền văn hoá khác Riêng ởViệt Nam lịch sử đã hai lần biết tới một sự cấy ghép văn hoá ngoại lai như vậy,nhưng cả hai lần, văn hoá Việt Nam đều không mất đi, không bị đồng hoá, trong khicải biến vẫn giữ được sắc thái của riêng mình Nếu sau khi tiếp xúc với văn hoáTrung Hoa, Việt Nam vẫn có những thời kỳ phát triển độc đáo, như văn hoá Lý-Trần, văn hoá cuối Lê đầu Nguyễn, thì sau khi làm một cuộc thay máu hoàn toàndưới ảnh hưởng văn hoá Pháp, nền văn hoá Việt Nam nửa đầu thế kỷ vẫn đẻ ra được

những đứa con bụ bẫm, như nền tiểu thuyết hiện đại, phong trào Thơ Mới v.v.

Theo nhà sử học Nhật Tsubôi thì một trong những đòi hỏi cấp bách nhất đặt ra

với nhiều nước ở phương Ðông hồi cuối thế kỷ XIX là phải “tạo điều kiện thuận lợi

cho sự phát triển một kiểu tư duy khả dĩ thức tỉnh ý thức dân tộc trước sự bành trướng của phương Tây” Và để đáp ứng đòi hỏi đó, ở Nhật Bản đã đưa ra khẩu hiệu

“Hoà hồn dương tài”, ở Triều Tiên có “Ðông đạo tây khí”, ở Trung Quốc có

“Trung thể tây dụng” Bằng cách diễn tả khác nhau, các khẩu hiệu đó có phần cốt lõi

giống nhau: đó là những cố gắng của trí thức mỗi nước nhằm tìm cách hoà hợp văn

Trang 12

hoá Ðông -Tây và tạo cho đất nước một sự thích ứng với hoàn cảnh [107; 184-185].

Việt Nam tuy không có những khẩu hiệu rõ ràng tức là không được đưa lên phươngdiện ý thức, song sự tiếp nhận văn minh phương Tây vẫn cứ ngấm ngầm xảy ra, dần

dà tự phát mà xảy ra, cái tinh thần thấy ở các khẩu hiệu nói trên ở Nhật Bản, ở TrungHoa, vẫn là điều được thực hiện ở Việt Nam Những nỗ lực “tuỳ tâm Âu hoá” khởi đi

từ các nhà nho trong Ðông Kinh Nghĩa Thục và Phan Chu Trinh, đến những năm sau,càng được nhiều người thấy là phải và thành tâm tin theo Nói như Trần Văn Giàu

“Tư tưởng về sự điều hoà đạo đức phương Ðông với khoa học phương Tây để tạo cho Việt Nam một lớp thượng lưu mới, tạo cho Việt Nam điều kiện đi tới phú cường – tư tưởng đó trong những năm 20 và 30 khá là phổ biến trong các báo chí chứ không riêng gì trên Nam Phong”[45; 526]

1.1.2 Văn học hiện đại Trung Quốc từ 1919 đến 1949

Nền văn học Trung Quốc có lịch sử từ rất lâu đời với nhiều tên tuổi, nhiều kiệttác đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo giới nghiên cứu trên phạm vi toàn thếgiới Bước sang thế kỷ XX, văn học từ hình thức đến nội dung đều có sự thay đổi vàcách tân vĩ đại, tuyên cáo sự chấm dứt của nền văn học cổ đại và đánh dấu sự ra đờicủa nền văn học hiện đại Trung Quốc Ngay từ năm 1915, tạp chí Tân thanh niên1 đãcho đăng tải các bài viết phê phán chế độ phong kiến cổ hủ Năm 1917 cũng trên tờTân thanh niên có ý kiến kêu gọi "cách mạng văn học" Năm 1918, cũng tờ Tân thanh

niên cho đăng tải truyện ngắn bạch thoại đầu tiên Nhật ký người điên của Lỗ Tấn Theo cuốn Lịch sử văn học hiện đại Trung Quốc do nhóm tác giả của Đại học sư

phạm Bắc Kinh và Đại học Nhân dân Trung Quốc biên tập và là giáo trình được dùngchính thức trong chương trình đào tạo sinh viên chuyên ngành Văn học thì, "từ khi

Nhật ký người điên của Lỗ Tấn xuất bản năm 1918 - tác phẩm đầu tiên viết bằng

bạch thoại của Trung Quốc, văn học Trung Quốc đã chính thức bước vào phạm trùvăn học hiện đại"[149; 59]

Tuy nhiên, theo các giáo trình văn học sử, và cũng là cách phân kỳ được đa sốcác nhà nghiên cứu văn học hiện đại Trung Quốc chấp nhận, văn học hiện đại TrungQuốc bắt đầu từ phong trào Ngũ tứ năm 1919 Phong trào Ngũ tứ làm ranh giới chohai cuộc cách mạng, đó là thời kì kết thúc cách mạng dân chủ cũ do giai cấp tư sảnlãnh đạo và mở đầu cuộc cách mạng dân chủ mới do giai cấp vô sản lãnh đạo Vănhọc hiện đại là bộ phận hữu cơ trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng vô sản Vận mệnhcủa nó gắn liền chặt chẽ với vận mệnh của dân tộc Trung Hoa

1 Tạp chí Tân thanh niên (《新青年》杂志): do Trần Độc Tú làm chủ biên Được thành lập trong bối cảnh lịch sử: sau cách mạng Tân hợi, giai cấp phong kiến có ý đồ khôi phục lại ngai vàng, nhà nước cộng hòa của giai cấp dân chủ tư sản chưa thể ra đời Tư tưởng khi thành lập tạp chí Tân thanh niên là: tuyên truyền chủ nghĩa dân chủ, phản đối tư tưởng và hoạt động khai sáng của chủ nghĩa phong kiến Tạp chí Tân thanh niên đề cao ngọn cờ dân chủ và khoa học, đề xướng văn học mới, phản đối văn học cũ, đề xướng văn học bạch thoại, phản đối văn ngôn, đối với tư tưởng phong kiến mê tín kịch liệt phản đối và phê phán Đây chính là nội dung chủ yếu trong hoạt động tuyên truyền đương thời của Tân thanh niên, cũng là hoạt động chủ yếu của hoạt động văn hóa mới Chủ biên của tạp chí Tân thanh niên là Trần Độc Tú, Lỗ Tấn làm đại biểu của chủ nghĩa dân chủ.

Trang 13

Có thể khẳng định rằng, với sự nỗ lực của các nhà văn, từ khi ra đời cho đếnnăm 1949, văn học hiện đại Trung Quốc đã trải qua nhiều chặng đường lịch sử gay

go phức tạp, vừa xây dựng vừa đấu tranh, vừa củng cố vừa phát triển và trong mỗimột giai đọan lịch sử, nền văn học đó đều ghi lại những thành tựu rực rỡ, thể hiệnnhững bước tiến nhanh và mạnh của một nền văn học vừa thoát khỏi những đêm dàicủa nền văn học viết bằng văn ngôn

Ở đây, chúng tôi chia quá trình phát triển của lịch sử văn học hiện đại TrungQuốc ra làm 3 thời kỳ như sau:

Thời kỳ Ngũ tứ từ 1919 đến 1927

Về mặt tổ chức, thời kỳ này đã hình thành mặt trận văn hóa thống nhất Mặt trận

này bao gồm trí thức cộng sản như Lý Đại Chiêu, Trần Độc Tú, Đặng Trung Hạ vàcác trí thức dân chủ khác như Hồ Thích, Lỗ Tấn

Đến năm 1921, sau khi Đảng cộng sản Trung Quốc ra đời, dưới sự lãnh đạo trựctiếp của Đảng Cộng sản, có hơn 100 đoàn thể văn học lớn nhỏ được thành lập khắp nơitrên toàn quốc, trong đó đáng chú ý hơn cả là sự xuất hiện của Hội nghiên cứu văn học1

và Sáng tạo xã2 Hai tổ chức này đại diện cho hai dòng văn học đương thời: hiện thựcchủ nghĩa và lãng mạn chủ nghĩa "Hội nghiên cứu văn học" có tôn chỉ là "xây dựng nềnvăn học vị dân sinh", đề xướng phương pháp sáng tác chủ nghĩa hiện thực Hội nhằmvào đối tượng đại chúng lao khổ với những đề tài có ý nghĩa xã hội "Sáng tạo xã" ngượclại, đề xướng chủ nghĩa lãng mạn với khẩu hiệu "Văn học cách mạng", yêu cầu văn họcphản ánh đời sống công nông binh, sáng tác theo tinh thần của chủ nghĩa hiện thực xãhội chủ nghĩa

Về phương diện sáng tác, thời kỳ này thu được nhiều thành tựu có ý nghĩa

Ở thể loại tiểu thuyết, các tác phẩm của Lỗ Tấn như Nhật ký người điên, Khổng

Ất Kỷ, AQ chính truyện, Lễ cầu phúc đã gây được những tiếng vang lớn trên văn

đàn Các tác phẩm của ông đã phơi bày bộ mặt xấu xa của xã hội phong kiến, mổ xẻbản chất người bóc lột người của xã hội Trung Quốc thời kỳ đó Ngoài ra, các tiểuthuyết của Diệp Thánh Đào, Tưởng Quang Từ cũng thể hiện được những vấn đề mà

xã hội hiện đại quan tâm, đặc biệt là vấn đề giải phóng con người rất được các nhàvăn quan tâm khai thác

Về thơ, thành tựu của thời kỳ này tiêu biểu là tập thơ Nữ thần của Quách Mạt

Nhược - một tập thơ thể hiện triệt để tinh thần phủ nhận xã hội cũ, kêu gọi sáng tạomột xã hội mới thời đại Ngũ tứ, mở đầu cho dòng thơ lãng mạn cách mạng Trung

1 Hội nghiên cứu văn học( 文学研究会): thành lập năm 1921 tại Bắc Kinh, do Thẩm Nhạn Băng, Trịnh Chấn Đạc, Diệp Thiệu Quân sáng lập

2 Sáng tạo xã( 创造社): Thành lập năm 1921, do Quách Mạt Nhược, Úc Đạt Phu sáng lập.

Trang 14

Quốc Ngoài ra, tác phẩm của Tưởng Quang Từ, Lưu Đại Bách, Lưu Bán Nông, VănNhất Đa, Tạ Băng Tâm sáng tác về đề tài ca ngợi nhân dân lao động, chống đếquốc xâm lược cũng chiếm được sự quan tâm rất lớn của độc giả.

Các thể loại như kịch nói, tản văn, tạp văn cũng là những thể loại quan trọng đang

được phát triển ở thời kỳ này với các tên tuổi lớn Về kịch có: Hồng Trâm (vở Triệu

Diêm Vương), Điền Hán (vở Nửa đêm trong tiệm cà phê, Đêm bắt hổ), Quách Mạt

Nhược (vở Trác Văn Quân, Vương Chiêu Quân) Về tạp văn, tiêu biểu là sáng tác của

Lỗ Tấn với các tập: Nấm mồ, Gió nóng, Hoa cái; Cù Thu Bạch với Hành trình qua xứ

đói và Lịch sử tâm hồn ở Thủ đô đã đem lại cho thể tạp văn những thành tựu mới.

Nhìn chung, có thể khẳng định rằng, văn học thời kỳ này đã có những đổi mớitrong quá trình phát triển của nó Nội dung đều đã thể hiện tinh thần triệt để chốngphong kiến, đế quốc, ca ngợi và mơ ước một xã hội mới không có giai cấp, không ápbức bóc lột ra đời, tập trung phản ánh đời sống nhân dân lao động Về mặt hình thức,văn bạch thoại - tiếng nói hàng ngày của đại chúng chiếm ưu thế, thay thế cơ bản chovăn ngôn

Thời kỳ 1927-1937

Đây là thời kỳ văn học trong hoàn cảnh nội chiến cách mạng lần thứ hai ở TrungQuốc Sau khi nội chiến thứ nhất thất bại, bọn Tưởng Giới Thạch càng ra sức cấu kếtvới bọn đế quốc để xây dựng nền thống trị phát xít của chúng Trung Quốc thời kỳnày hình thành hai khu vực: khu vực do Quốc dân Đảng thống trị và khu căn cứ địa

do Đảng cộng sản nắm quyền Tình hình này đã tạo cho văn học hai khu vực hoạt độngdưới nhiều hình thức

Trong khu Quốc dân Đảng, phong trào văn học cách mạng ngày càng lớn mạnhtrong sự khủng bố, đàn áp Đội ngũ văn nghệ sĩ cảm thấy cần thiết phải đoàn kết tất

cả các lực lượng văn nghệ lại thành một mặt trận thống nhất Do đó, với sự nỗ lực

của các nhà văn đi đầu, tháng 3/1930, Hội liên minh các nhà văn cánh tả 1 được thành

lập ở Thượng Hải Hội có 50 nhà văn, trong đó có các nhà văn lớn như Lỗ Tấn, MaoThuẫn, Điền Hán, Hạ Diễn Đảng cộng sản thông qua Cù Thu Bạch và Lỗ Tấn đểlãnh đạo Hội Dưới lãnh đạo của Tả liên, phong trào văn nghệ phát triển mạnh mẽ

Về sáng tác, nhiều tác phẩm có giá trị xuất hiện do các nhà văn đã hoàn thành

quá trình cải tạo tư tưởng, vững bước đi theo cách mạng Tiểu thuyết có: Chuyện cũ

viết lại của Lỗ Tấn, tập truyện đánh dấu bước phát triển của chủ nghĩa hiện thực cách

1 Gọi tắt là "Tả liên": Liên minh các nhà văn cánh tả của Trung Quốc, là một trong những tổ chức

do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo, thành lập tại Thượng Hải vào thập niên 30 của thế kỷ

XX, mục đích là đấu tranh để giành lấy mặt trận tuyên truyền với Quốc dân Đảng, thu hút được sự ủng hộ của quảng đại dân chúng Lãnh đạo Tả liên là Lỗ Tấn.

Trang 15

mạng của Lỗ Tấn Mao Thuẫn cũng góp tiểu thuyết Nửa đêm, đánh dấu thành tựu mới của văn học vô sản Ba Kim cũng góp mặt với bộ ba tiểu thuyết: Gia, Xuân, Thu Lão Xá có Lạc đã tường tử Về thơ cũng đã xuất hiện nhiều nhà thơ trẻ tuổi, nội dung

ca ngợi cách mạng vô sản, triệt để chống phong kiến, với các tập như: Hài nhi tháp của Ân Phu, các tập Cuộc sống, Lời ca gang thép, Bài ca ru em của Bồ Phong Kịch cũng phát triển và có nhiều thành tựu như Lôi vũ, Nhật xuất của Tào Ngu; Khúc

nhạc xuân của Điền Hán, Truyện Thu Cận của Hạ Diễn

Nhìn chung, thời kỳ này là thời kỳ trưởng thành của nền văn học cách mạng.Nội dung các tác phẩm này đã thể hiện rõ khuynh hướng xã hội chủ nghĩa Một số tácphẩm hiện thực xuất sắc đã xuất hiện Đề tài được mở rộng, từ chỗ bị bó hẹp trongđời sống cá nhân thời Ngũ tứ đã phát triển đến chỗ miêu tả cuộc đấu tranh giải phóng

rộng lớn ở nông thôn và thành thị như tác phẩm Được mùa của Diệp Tử, Nhật xuất

của Tào Ngu Nhân dân lao động xuất hiện ngày càng nhiều trong các tác phẩm vănhọc nghệ thuật và đó là những nhân tố mới đặt cơ sở cho nền văn học cách mạng saunày

Để lãnh đạo phong trào văn học trong thời kỳ này, năm 1938, Đảng đã thành lập

Hội văn nghệ chống địch toàn quốc do Quách Mạt Nhược, Mao Thuẫn, Ba Kim phụ

trách, là một mặt trận thống nhất rộng rãi của giới văn nghệ

Thành tựu trong thời kỳ này cũng đáng được chú ý Thành tựu về thơ có: Tiếng

chiến đấu của Quách Mạt Nhược, các bài thơ ngắn của Quang Vị Nhiên, Tang Khắc

Gia, tập thơ Gửi người chiến đấu của Điền Gian cùng các sáng tác của Vương Quý

và Lý Quý Về kịch có vở Khuất Nguyên, Hổ Phù, Đường đệ chi hoa của Quách Mạt Nhược; vở Vi trùng phát xít của Hạ Diễn; vở Bạch Mao Nữ của Hạ Kính Chi và Đinh

Nghị Tiểu thuyết tuy không phát triển mạnh như thơ và kịch nhưng cũng có những

thành tựu đáng kể với các tác giả: Trương Thiên Dực với tiểu thuyết Ông Hoách,

Trang 16

Triệu Thụ Lý với các tác phẩm: Chú Hai Đen lấy vợ, Lý Hữu Tài làm vè, Sự biến đổi

ở Lý Gia Trang; Chu Lập Ba với Mưa to gió lớn; Mao Thuẫn với Sa đọa Đáng chú

ý hơn cả là Bài nói chuyện tại cuộc tọa đàm văn nghệ ở Diên An của Mao Trạch

Đông được xem như là một tác phẩm lý luận văn nghệ của chủ nghĩa Mác Lê nin Từđây, quan niệm văn nghệ phục vụ công nông binh đã trở thành phương hướng sángtác chung của các văn nghệ sỹ

Trong 30 năm đó, nhờ có sự thâm nhập đời sống của nhân dân lao động cùngkhổ, hòa mình với cách mạng mà đội ngũ văn nghệ ngày càng đông đảo Nhiều vănnghệ sỹ cũng đã hy sinh nơi chiến trường, thể hiện khí phách người chiến sỹ như CùThu Bạch, Ân Phu Văn học hiện đại Trung Quốc đã gặt hái được nhiều thành côngvới nhiều nhà văn gây được dấu ấn mạnh mẽ trên văn đàn, trở thành đối tượng đượcnghiên cứu rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Anh,Pháp, Nga, và Việt Nam

Tại Việt Nam, văn học hiện đại Trung Quốc cũng chiếm được sự quan tâm lớncủa một lớp độc giả và các nhà nghiên cứu Theo chúng tôi được biết, văn học hiệnđại Trung Quốc được chính thức giới thiệu tại Việt Nam vào năm 1944 với chuyên

luận: Lỗ Tấn, thân thế, sự nghiệp của giáo sư Đặng Thai Mai Là người đầu tiên đặt

nền móng cho sự nghiệp nghiên cứu Lỗ Tấn nói riêng và văn học hiện đại TrungQuốc tại Việt Nam, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, Đặng Thai Mai đã giới thiệucho văn đàn một tên tuổi lớn của văn học hiện đại Trung Quốc - đại văn hào Lỗ Tấn

Từ đó đến nay, văn đàn Việt Nam liên tục xuất hiện các công trình nghiên cứu, cácbài viết về Lỗ Tấn, Tào Ngu, Quách Mạt Nhược, Ba Kim, thể hiện sự yêu mến củagiới nghiên cứu Việt Nam đối với nền văn học này Ở Việt Nam, Lỗ Tấn còn được sosánh với các nhà văn đỉnh cao của dòng văn học hiện thực phê phán 1930-1945 nhưNam Cao, Ngô Tất Tố Điều này một mặt nào đó khẳng định vị trí của ông trong tráitim của người dân Việt Nam

Như vậy, có thể thấy rằng văn học hiện đại Trung Quốc là văn học của thời đại

“Lỗ Tấn” Sự khởi đầu của văn học hiện đại Trung Quốc đã gắn chặt với tên tuổi của

Lỗ Tấn Sự thống nhất giữa nhà văn vĩ đại và nhà tư tưởng vĩ đại của Lỗ Tấn đã thểhiện đặc điểm không thể tách rời giữa văn học hiện đại và tư tưởng cách mạng LỗTấn tiêu biểu cho linh hồn Trung Quốc - linh hồn dân tộc hiện đại Trung Quốc.Không thể phủ nhận được, ông cũng chính là một trong những người dựng lên linhhồn dân tộc Trung Quốc hiện đại Với những đóng góp đó, cần khẳng định rằng, LỗTấn đã đặt nền móng cho sự phát triển của văn học hiện đại Trung Quốc Các nhàvăn kể cả cùng thời và đến sau của nền văn học hiện đại Trung Quốc tiếp nối tưtưởng nghệ thuật của Lỗ Tấn, hình thành các trào lưu nghệ thuật khác nhau Chẳng

Trang 17

hạn như văn học chủ nghĩa hiện thực cách mạng mà ông khai sáng đã trở thành tràolưu chính của văn học hiện đại Trung Quốc Lỗ Tấn là trọng tâm của nghiên cứu vănhọc hiện đại Trung Quốc, là đề tài không bao giờ cũ Nói cách khác, Lỗ Tấn chính là

mê lực cuốn hút của văn học Trung Quốc Không thể phủ nhận, trên thực tế, Lỗ Tấn

đã trở thành biểu tượng cho văn hóa dân tộc hiện đại Trung Quốc, là niềm tự hào củangười dân Trung Quốc trong quá khứ, hiện tại và tương lai

1.1.3 Văn học hiện đại Việt Nam từ 1900 đến 1945

Có thể thấy rằng, những năm “bản lề” giữa thế kỷ XIX và thế kỷ XX cũng lànhững năm “bản lề” giữa hai thời kỳ văn học Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đãchính thức bước vào công cuộc hiện đại hóa Chúng tôi tạm chia thành hai giai đoạn:

Thời kì 1900- 1930: giai đoạn giao thời.

Từ đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp ra sức củng cố địa vị thống trị và khai tháckinh tế trên các thuộc địa, trong đó có Việt Nam Mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam

và thực dân Pháp, giữa nông dân với địa chủ phong kiến ngày càng sâu sắc Nhân dânViệt Nam khổ nhục vì tình trạng mất nước, khắp nơi nổi dậy đấu tranh, giành độc lậpdân tộc Về văn học, với sự phức tạp của lịch sử, có thể có nhiều cách để nhìn nhận,phân loại các sáng tác mà tập thể tác giả trong Văn học Việt Nam 1900-1945 gọi tênlà: văn học yêu nước và văn học nô dịch; văn học công khai hợp pháp và văn học bímật; văn học tư sản và văn học phong kiến Nhóm tác giả này gọi văn học giai đoạnnày là văn học giao thời

Tính chất giao thời “không chỉ là sự tồn tại song song của hai thứ văn học cũ vàmới lưu hành ở hai địa bàn văn học khác nhau, do hai lực lượng sáng tác đáp ứng nhucầu của hai loại công chúng khác nhau, mà còn là sự hiện diện của hai bên trong chủ

đề, trong hình tượng nghệ thuật, trong ngôn ngữ, phản ảnh sự chuyển biến từ nền vănhọc cổ truyền có tính chất của một vùng ở Đông phương sang nền văn học cận hiệnđại có tính chất phổ biến cho cả thế giới”[58; 287] Như vậy, giai đoạn này có thể nói

là giai đoạn bản lề rất quan trọng đối với sự phát triển của lịch sử văn học Việt Nam, làgiai đoạn văn học cận đại chuẩn bị các điều kiện cho sự ra đời của nền văn học hiện đại.Các nhà văn như Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc, Tản Đà, Trần Tuấn Khải,

Hồ Biểu Chánh là những gương mặt quan trọng làm nên diện mạo của văn học thời

kỳ này

Giai đoạn thứ hai: 1930 - 1945

Ở giai đoạn này, những mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam và thực dân Pháp,giữa nông dân và địa chủ phong kiến trở nên gay gắt hơn bao giờ hết, phơi bày rõhơn hết bộ mặt tàn bạo của giai cấp thống trị và tình trạng khốn cùng của nhân dânlao động Sau hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có

Trang 18

những biến đổi sâu sắc Đô thị mở rộng, các thị trấn mọc lên ở nhiều nơi, quan hệ tưsản được hình thành và cá nhân trở thành một thực thể Việt Nam lúc này đã có đủ cơ

sở xã hội, văn hóa, tư tưởng cho nền văn học hiện đại ra đời Cũng từ đây, nền vănxuôi quốc ngữ mới phát triển, đạt đến độ trưởng thành nhất định Các thể văn phóng

sự và tiểu thuyết hiện đại mới có cơ hội được ra đời nhờ ảnh hưởng của văn họcphương Tây qua một lớp nhà văn Tây học đầu tiên là Hồ Biểu Chánh, Trọng Khiêm,Phạm Duy Tốn

Có thể nói, chặng đường 1930-1945 là bước nhảy vọt cơ bản cả về lượng và vềchất của mọi trào lưu, mọi thể loại, từ tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch nói, kịch thơ đến

lý luận phê bình; là sự nở rộ của khuynh hướng sáng tác thuộc phạm trù chủ nghĩahiện thực đến chủ nghĩa lãng mạn Đó cũng là sự xuất hiện các dấu hiệu đầu tiên củanghệ thuật tượng trưng siêu thực Thời kỳ này có thể phân thành 3 chặng như sau:

Chặng đường 1930-1935

Trong bộ phận văn học công khai, đây là khoảng thời gian mà văn học lãng mạnvới thơ mới và văn chương Tự lực văn đoàn chiếm ưu thế Văn đàn xuất hiện một sốcây bút hiện thực như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Tam Lang, Tú Mỡ bước đầu thu hút và chiếm được cảm tình của độc giả Nguyễn Công Hoan bắt đầucầm bút sáng tác từ trước năm 1930 Ông sáng tác cả truyện ngắn và truyện dài,nhưng có sở trường đặc biệt ở thể loại truyện ngắn trào phúng Có thể thấy, NguyễnCông Hoan là đại diện tiêu biểu cho dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam

chặng 1930-1935 Năm 1935 ông cho xuất bản tập truyện Kép Tư Bền, gây được một

tiếng vang lớn trên văn đàn, làm nổ ra cuộc tranh luận giữa hai phái “nghệ thuật vịnghệ thuật” và “nghệ thuật vị nhân sinh”, đứng đầu là Hoài Thanh và Hải Triều Vũ

Trọng Phụng cũng có truyện ngắn đăng báo từ năm 1930 Ngoài tập kịch Không một

tiếng vang, hai thiên phóng sự Kỹ nghệ lấy Tây và Cạm bẫy người đã gây một tiếng

vang lớn, làm cho Vũ Trọng Phụng trở nên nổi tiếng và được phong cho danh hiệu

“ông vua phóng sự đất Bắc” (Mai Xuân Nhân)

Tam Lang là nhà văn đầu tiên viết phóng sự và trở nên nổi tiếng với tập Tôi kéo

xe năm 1932.

Tú Mỡ là nhà thơ trào phúng Với tác phẩm Dòng nước ngược, ông đã phê phán

những thối nát, những tập tục hủ lậu trong xã hội thực dân phong kiến

Tuy nhiên, có thể thấy rằng, ở giai đoạn này, các nhà văn đều tập trung vào phêphán bất công trong xã hội nhưng tính chiến đấu chưa cao, nền tảng nhân đạo chủnghĩa chưa vững Đây cũng là thời kỳ khẳng định vị trí của văn học hiện thực đãđược manh nha từ mười mấy năm đầu thế kỷ với các thể loại chủ yếu như tiểu thuyết,truyện ngắn, kịch Thể loại phóng sự cũng đã xuất hiện và gặt hái được những thành công

Trang 19

nhất định

Chặng đường 1936 -1939

Đây là thời kỳ tình hình chính trị xã hội rất thuận lợi cho sự phát triển của vănhọc Việt Nam Dưới sự chỉ đạo thống nhất của Quốc tế cộng sản, phong trào dân chủphát triển mạnh mẽ trên toàn cầu, các dân tộc đoàn kết lại nhằm cô lập bọn phát xítđang ráo riết chuẩn bị cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai Đảng Cộng sản được hoạtđộng công khai Nhiều cuộc bãi công biểu tình đã nổ ra trong các thành phố lớn vàcác khu công nghiệp mà không bị đàn áp trắng trợn như trước nữa Chế độ kiểmduyệt sách báo cũng đã bị bãi bỏ Những sách báo tiến bộ và cách mạng đã phát triểnkhắp Bắc Trung Nam Việt Nam, có sức ảnh hưởng rất lớn

Văn học hiện thực phê phán đến chặng đường này đã vượt lên, phát triển rầm rộ

và có phần lấn át văn học lãng mạn Tài năng của Vũ Trọng Phụng và Nguyễn CôngHoan thực sự đã vươn tới đỉnh cao Cũng cần phải kể đến các cây bút như Lan Khai,

Vi Huyền Đắc, Trọng Lang đã góp phần làm nên thành tựu rực rỡ của văn họcchặng đường này Các tác giả thời kỳ này chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng vănhóa phương Tây, đặc biệt là văn hóa văn học Pháp nên sáng tác của họ không nhữngthể hiện những đặc điểm của chủ nghĩa hiện thực mà còn mang đậm tính chất hiện đại

từ tư tưởng, quan niệm nghệ thuật đến nội dung và hình thức biểu hiện

Những tác phẩm thời kỳ này có tính chiến đấu cao, nhiều cây bút đã đưa hẳn các

sự kiện chính trị, có tính thời sự nóng hổi vào sáng tác của mình như Vũ Trọng

Phụng với Giông tố, Số đỏ; Ngô Tất Tố với Tắt đèn, Nguyễn Công Hoan với Bước

Chặng đường 1940-1945

Tháng 9 năm 1939, Đại chiến thế giới lần thứ hai bùng nổ, chấm dứt thời kỳMặt trận dân chủ Thực dân Pháp cùng với phát xít Nhật tiếp tục tiến hành các chínhsách phát xít hóa, kiểm soát nghiêm ngặt, gắt gao các nhà xuất bản, sách báo tiến bộ

và cách mạng bị cấm đoán Tuy nhiên, Mặt trận Việt minh được thành lập, phongtrào cách mạng vẫn âm ỉ, thỉnh thoảng lại bùng lên, ngày càng phát triển mạnh mẽ,tiến tới cuộc khởi nghĩa cách mạng tháng 8 năm 1945

Ở giai đoạn này, bên cạnh các nhà văn đã xuất hiện ở giai đoạn trước xuất hiệnthêm nhiều cây bút trẻ như Tô Hoài, Nam Cao, Kim Lân, Bùi Hiển Rất nhiều truyện

Trang 20

ngắn mô tả con người và cuộc sống ở nông thôn Bùi Hiển cũng được chú ý khi xuất

bản tập truyện Nằm vạ (1941) Kim Lân cũng là cây bút truyện ngắn, có những trang

viết đặc sắc về đời sống làng quê

Tác giả được đặc biệt chú ý ở giai đoạn này là Nam Cao Ông đã sáng tác nhiềutruyện ngắn hay về đề tài người nông dân và người trí thức Những tác phẩm xuất sắc

của ông có: Chí Phèo (1941), Đời thừa (1943), Lão Hạc (1943), Một đám cưới (1944), trong đó, truyện ngắn Chí Phèo xứng đáng là một kiệt tác.

Phải thấy rằng, đóng góp lớn nhất của văn học hiện thực phê phán thời kỳ

1940-1945 là thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết Đến thời kỳ này, văn học đã có nhữngbước tiến dài trên con đường hiện đại hóa, với những gương mặt tiêu biểu và những ángvăn kiệt xuất Nam Cao là cây bút tiêu biểu nhất trong chặng đường cuối cùng từ 1940-

1945 Sáng tác của ông đã làm phong phú thêm nền văn xuôi hiện đại Việt Nam, hoàn tấtquá trình hiện đại hóa văn học dân tộc

Như vậy, việc khái quát về đời sống văn học Việt Nam trong tiến trình hiện đạihóa giúp chúng ta thấy được Nam Cao xuất hiện ở chặng cuối của tiến trình hiện đạihóa Sự xuất hiện của Nam Cao đã khẳng định văn học Việt Nam đạt đến đỉnh caocủa hiện đại hóa, đặc biệt ở kĩ thuật sáng tác Đúng như nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu

trong bài viết về Sống mòn đã liên tục khẳng định về đóng góp của Nam Cao đối với

nền văn học hiện đại Việt Nam: "Truyện không có kết thúc: đời sống con ngườikhông bao giờ kết thúc, nó mở Đó là một đóng góp mới của Nam Cao lúc đươngthời về cấu trúc tiểu thuyết" [52; 341] Qua nhân vật Thứ, nhà nghiên cứu cũng đã điđến khẳng định kĩ thuật xây dựng nhân vật - một trong những thành công lớn củaNam Cao: "Như vậy, Thứ được soi rọi từ nhiều điểm nhìn: Thứ đối thoại với số phận,với bản thân, với xã hội để nhận thức bản thân mình Đó là một đóng góp của NamCao với tiểu thuyết hiện đại Việt Nam" [52; 342]

Ở bản luận án này, người viết so sánh sáng tác của Lỗ Tấn và Nam Cao ở thểloại văn xuôi tự sự Vì thế, việc tìm hiểu cuộc đời và tư tưởng của hai nhà văn là hếtsức cần thiết trong việc luận giải sự giống và khác nhau trong sáng tác của họ

1.2 Khái quát về sự nghiệp sáng tác văn học của Lỗ Tấn và Nam Cao

Lỗ Tấn và Nam Cao đều sinh ra trong thời kỳ hai nước Trung Việt dưới chế độphong kiến chuyên chế suy tàn nhưng cực kỳ tàn bạo Cả cuộc đời của Lỗ Tấn khaokhát cho con người được giải phóng, được tự do Ông thương những con người trênquê hương đất nước mình phải chịu bất hạnh, nhưng lại giận họ không biết đấu tranh("ai kỳ bất hạnh, nộ kỳ bất tranh") Để cứu những con người bất hạnh ở đất nướcTrung Hoa, Lỗ Tấn quyết tâm bỏ nghề y để theo nghề viết, để "hát cho họ nghenhững bài hát lạc điệu của chính họ" Đó là trái tim và cũng là sứ mệnh của những

Trang 21

con người vĩ đại, mang đậm chất nhân văn Sinh sau Lỗ Tấn, trên đất nước Việt Nam,

từ không khí nóng hổi hơi thở của cuộc sống, năm 1943 Nam Cao gia nhập Hội vănhóa cứu quốc Ông viết về số phận con người, về quê hương mình với một ý thứctrách nhiệm cao cả, như một sứ mệnh tôn giáo thiêng liêng Cả cuộc đời Lỗ Tấn vàNam Cao là một quá trình phấn đấu không khoan nhượng cho một nhân cách cao đẹp

- nhân cách trong cuộc đời và nhân cách trong sáng tạo nghệ thuật, và không chỉ bằngngòi bút mà còn bằng nghĩa cử, không sợ gian nan, không nề nguy hiểm đến tínhmạng, dám đấu tranh cho con người Hai ông có nhiều điểm gặp gỡ về cuộc đời và tưtưởng gửi gắm trong văn chương Ở đây chúng tôi chỉ điểm qua vài nét về cuộc đời

và tư tưởng thuận lợi cho việc phân tích, đánh giá và khái quát, so sánh về sáng tácnghệ thuật của hai nhà văn này

1.2.1 Sự nghiệp sáng tác văn học của Lỗ Tấn

Lỗ Tấn tên thật là Chu Thụ Nhân, tự là Dự Tài, Lỗ Tấn là bút danh của ông khi

viết Nhật ký người điên đăng trên tạp chí Tân thanh niên năm 1918 Ông xuất thân

trong một gia đình sĩ đại phu phong kiến đã sa sút Cha của Lỗ Tấn tên là ChuPhương Nghi, học đến tú tài nhưng không ra làm quan Mẹ của Lỗ Tấn tên là LỗThụy, người thôn quê, tự học đến trình độ có thể xem sách được Bà là người có ảnhhưởng sâu sắc đến Lỗ Tấn và bút danh của ông chính là lấy từ họ mẹ, thể hiện tìnhyêu và niềm kính phục sâu sắc người mẹ hiền của mình

Lỗ Tấn thông minh, hiếu học, thông thạo Tứ thư, Ngũ Kinh, Sử ký Ngoài ra, tuổi

thơ của ông cũng được bà nội kể cho nghe nhiều câu chuyện dân gian, những điều nàygóp phần nuôi dưỡng lòng ham mê nghệ thuật của Lỗ Tấn ngay từ thuở nhỏ

Sớm phát hiện ra sách giáo khoa thuở đó răn dạy học trò những điều bất nhân bất

nghĩa, đặc biệt những truyện kể trong Nhị thập tứ hiếu, làm nảy sinh trong ông lòng

căm ghét lễ giáo phong kiến và ông nuôi ước mơ sẽ đấu tranh để chống lại nó

Năm 1898, Lỗ Tấn tới Nam Kinh, đúng năm xảy ra cuộc Biến pháp Mậu Tuất.

Lỗ Tấn ban đầu theo học ở trường Thủy sư - trường chuyên đào tạo kỹ sư hàng hảicủa Trung Quốc Học chưa đầy một năm, cảm thấy không thích thú gì với nhữngmôn học ở đây, ông đã chuyển qua trường Khoáng lộ, đào tạo kỹ sư hầm mỏ Vàothời gian này, Lỗ Tấn thu nhận được nhiều kiến thức khoa học tự nhiên và xã hội củaphương Tây, đọc được nhiều sách báo nói về tự do dân chủ Đặc biệt, ông chịu ảnh

hưởng sâu sắc quan điểm tiến hóa của Đác uyn qua cuốn Thiên diễn luận của Hớclây1

1 Tên sách tiếng Anh là: Evolution and Ethics của Thomas Henry Huxley (1825-1895), nhà sinh vật học người Anh, học trò của Darwin.

Trang 22

do Nghiêm Phục1 dịch Lỗ Tấn nhìn nhận sự phát triển của xã hội cũng theo conđường tiến hóa như vậy Ông cho rằng, xã hội cũ, mà ở đây ám chỉ xã hội phong kiếnchắc chắn sẽ sớm qua đi, và một kỷ nguyên mới sẽ đến Ông có niềm tin rằng, sinhmệnh lớp sau sẽ có ý nghĩa hơn, hoàn thiện hơn sinh mệnh lớp trước, tương lai chắcchắn sẽ sáng sủa hơn hiện tại và lực lượng mới sẽ thay thế lực lượng cũ Từ đó, ông

ca ngợi sự đổi mới, chủ trương phải vươn lên, kêu gọi sự phản kháng chống lạicường quyền bạo lực, đấu tranh đòi giải phóng khỏi mọi sự ràng buộc cổ truyền của

xã hội cũ

Với sự nỗ lực của bản thân, ông tốt nghiệp trường Khoáng lộ vào tháng 3 năm

1902 với tấm bằng xuất sắc, được cử sang du học ở Nhật

Đến Nhật Bản, trước tiên ông học ngành thuốc với mục đích đưa Trung Quốcngày một cường thịnh, và cũng do sự ám ảnh bởi cái chết của người cha nhà nghèokhông có tiền mua thuốc và khám chữa bệnh Ông từng nói: "Mộng của tôi rất đẹp,tôi định bụng tốt nghiệp về nước sẽ chạy chữa cho những con bệnh bị lừa bịp nhưcha tôi, lúc chiến tranh sẽ xin vào quân y, mặt khác sẽ thôi thúc quốc dân đồng bàotin tưởng vào một cuộc duy tân"[27; 47]

Tuy nhiên, trong một buổi xem phim thời sự nói về chiến tranh Nga Nhật có cảnhmột người Trung Quốc làm gián điệp bị Nhật chém đầu để thị chúng, những ngườiđồng bào Trung Quốc vừa xem vừa cười đùa chế nhạo, điều đó làm cho Lỗ Tấn liêntưởng đến một căn bệnh của người Trung Quốc cần phải chữa trị gấp, gấp gáp hơn cảviệc chữa bệnh bằng thuốc - đó là việc chữa căn bệnh tinh thần cho quốc dân đồngbào Ông quyết tâm bắt tay vào hoạt động văn học với lí do: Nếu dân còn mê muội,hèn nhát thì thân thể dù có cường tráng đến mấy cũng chỉ làm được cái thứ mà người

ta sẽ đem ra để chém thị chúng như vậy mà thôi! Đó cũng chính là lý do năm 1907,

Lỗ Tấn manh nha ý tưởng thành lập tạp chí văn nghệ lấy tên là Tân sinh, nhưng dothiếu tiền và phương tiện nên ý tưởng không thực hiện được Sau đó, ông tham gia

viết cho các tạp chí khác, trong đó có hai bài viết đáng được chú ý là: Bàn về sự thiên

lệch của văn hóa và Sức mạnh của dòng thơ Mara.

Ở Nhật, ông tích cực tham gia hoạt động của tổ chức Quang Phục hội với tôn chỉ

là chống lại triều đại Mãn Thanh

Năm 1908, do hoàn cảnh gia đình, Lỗ Tấn phải quay về Trung Quốc làm việc

1 Nghiêm Phục: tiếng Trung là: 严复(1854.1.8—1921.10.27) Tên khai sinh là Tôn Quang, sau đổi tên là Nghiêm Phục, dân tộc Hán, quê ở Hậu Quan, tỉnh Phúc Kiến, là một nhà tư tưởng phổ cập kiến thức mới, nhà phiên dịch và nhà giáo dục, là một trong những “người Trung Quốc tiên tiến” học hỏi và tìm kiếm chân lý phương Tây trong lịch sử cận đại Trung Quốc 原名宗光,字又 陵,后改名复,字几道,汉族,福建侯官人,是清末很有影响的资产阶级启蒙思想家,翻 译家和教育家,是中国近代史上向西方国家寻找真理的“先进的中国人”之一。

Trang 23

kiếm tiền nuôi mẹ và em Ông từng làm giáo viên các môn hóa học và sinh học, mônvạn vật và sinh lý học, từng làm hiệu trưởng trường Sư phạm Thiệu Hưng, làm kiểm sự

Bộ giáo dục Trung Quốc tại Bắc Kinh

Tuy nhiên, cách mạng Tân Hợi đi vào bế tắc, nhiệm vụ cách mạng không hoànthành đã làm tiêu tan mọi ước mơ của Lỗ Tấn, làm ông chán chường và thất vọng.Ông dồn tâm sức vào nghiên cứu văn cổ, kinh Phật, tranh gỗ , và có đóng góp rấtlớn đối với học thuật Trung Quốc

Năm 1917, cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ mở ra con đường giải phóng choloài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử Sau đó không lâu, chính quyền Xôviết tuyên bố xóa bỏ mọi điều ước bất bình đẳng mà đế quốc Nga đã kí với TrungQuốc trước đây, và sẵn sàng giúp đỡ phong trào giành độc lập dân tộc của TrungQuốc

Cách mạng tháng Mười có ảnh hưởng sâu sắc đến các tầng lớp trí thức TrungQuốc, nhiều người hướng về Nga, học tập cách mạng Nga và tiếp thu chủ nghĩa Mác

Lỗ Tấn đã từng thất vọng với cách mạng Tân Hợi nhưng thành công của cách mạng

tháng Mười Nga đã làm cháy lên trong ông một niềm hi vọng mới Nhật ký người điên

xuất bản năm 1918 là phát súng đầu tiên bắn vào dinh lũy của chủ nghĩa phong kiến,báo hiệu phong trào Văn hóa Ngũ tứ ra đời vào năm 1919 Từ đó, ông lao vào hoạtđộng sáng tác, tuyên truyền với tư thế chiến sỹ tiên phong trên mặt trận đó

Năm 1921, Đảng cộng sản Trung Quốc được thành lập Cùng năm đó, kiệt tác

AQ chính truyện ra đời, gây tiếng vang lớn trên văn đàn, đưa tên tuổi Lỗ Tấn nổi

tiếng trên toàn thế giới

Năm 1926, vụ thảm sát của chính quyền Đoàn Kỳ Thụy đối với một số nữ sinhvốn là những học trò giỏi mà Lỗ Tấn yêu quý làm cho Lỗ Tấn vô cùng căm giận, ông

đã viết nhiều bài báo vạch trần tội ác của chính phủ Đoàn Kỳ Thụy, ca ngợi lòng yêunước và tinh thần đấu tranh bất khuất của thanh niên Chính sự kiện này đã làm chochính quyền Đoàn Kỳ Thụy theo dõi, buộc ông phải về dạy học ở Hạ Môn Tuynhiên, với khát khao được gắn bó với cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân, năm

1927 ông lại trở về Quảng Châu, giữ chức trưởng khoa Văn học của Đại học TônTrung Sơn Chẳng bao lâu, khi Tưởng Giới Thạch gây ra cuộc khủng bố trắng đàn ápthanh niên yêu nước và quần chúng nhân dân, ông đã phẫn uất xin từ chức và nhận rarằng: chỉ có giai cấp vô sản là có tương lai Từ đó, ông đứng vững trên lập trường củagiai cấp vô sản để sáng tác và hoạt động xã hội

Tháng 7 năm 1927, dưới sự truy nã ráo riết của Quốc dân đảng, Lỗ Tấn cùng với

bà Hứa Quảng Bình về Thượng Hải Sống trong không khí đấu tranh cách mạng, LỗTấn đã dồn tâm sức vào hoạt động văn học, giới thiệu văn học Nga Xô viết, văn học

Trang 24

phương Tây và tranh khắc gỗ nước ngoài Đồng thời bắt tay vào dịch hệ thống lýluận văn học mác xít Năm 1930, Lỗ Tấn cùng với Úc Đạt Phu, Mao Thuẫn, QuáchMạt Nhược thành lập "Hội liên hiệp các nhà văn cánh tả" ("Tả liên") dưới sự lãnhđạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Trong thời gian sống ở Thượng Hải, tổng cộng là 9 năm, Lỗ Tấn đã làm việc hếtsức mình Riêng về hoạt động văn học, ông viết nhiều tạp văn, một số truyện ngắn vàdịch thuật những tác phẩm văn nghệ tiến bộ, đặc biệt là văn học Nga Ông cũng chútrọng công tác bồi dưỡng cho các nhà văn trẻ, biên tập cho các nhà xuất bản và báochí Vì bệnh lao quá nặng, lại làm việc không ngừng nghỉ, nhiều người khuyên ôngnên nghỉ ngơi để dưỡng bệnh, nhiều người bạn Nga cũng mời ông qua Nga nghỉdưỡng, nhưng ông đều từ chối với lý do, thà làm gấp một ít công việc mà sống ít đimấy năm, còn hơn sống thêm mấy tuổi mà chẳng làm được gì Lỗ Tấn từ trần ngày

19 tháng 10 năm 1936, ở Thượng Hải Trên linh cữu của ông che phủ một lá cờ cóthêu ba chữ “dân tộc hồn”, mang đến sự tiếc nuối cho hàng triệu con tim yêu mến nhàvăn trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân Việt Nam

1.2.2 Sự nghiệp sáng tác văn học của Nam Cao

Nam Cao (1917-1951) chiếm vị trí đặc biệt trong văn học hiện đại Việt Nam Sựnghiệp sáng tác của ông là kết tinh độc đáo, đánh dấu sự trưởng thành của nền văn

học nước nhà với những áng văn không thể nào quên như Chí Phèo, Lão Hạc, Giăng

sáng, Đời thừa, Một đám cưới, Sống mòn, Đôi mắt

Ông chỉ vẻn vẹn có 34 năm tuổi đời Với khoảng thời gian sống với văn chươngkhông dài, nhưng dường như ông đã cháy hết mình để để lại cho đời những áng vănbất hủ Có phần giống với Lỗ Tấn, về lĩnh vực sáng tác, ông để lại một số lượng tácphẩm không quá nhiều: trên dưới 60 truyện ngắn, 2 cuốn tiểu thuyết và một số tácphẩm thuộc các thể loại khác nhưng giá trị của những áng văn này lại vô cùng lớn,trường tồn mãi với thời gian mà nhắc đến văn học hiện thực, người ta không thểkhông nhắc đến ông và những sáng tác của ông Tác phẩm của ông cũng được tuyểnchọn để giảng dạy trong các trường học từ bậc phổ thông đến đại học Riêng ở bậcđại học, ông được giảng dạy như một tác giả lớn của nền văn học Việt Nam Cácnhân vật của ông đã trở thành thân thuộc đối với mỗi người dân đất Việt, nhiều hình

tượng trở thành điển hình như: Chí Phèo, Thị Nở, Bá Kiến, Lão Hạc, Thứ, Hộ cũng

giống như những AQ, Tường Lâm, Khổng Ất Kỷ, Tử Quân, Quyên Sinh, Nhuận Thổcủa Lỗ Tấn ở Trung Quốc Ông vinh dự được nhận giải thưởng cao quý nhất của ViệtNam: Giải thưởng Hồ Chí Minh trong đợt đầu tiên năm 1996 Viết về ông, giớinghiên cứu Việt Nam và nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã phải tốn nhiều bútmực “Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn” (Trần

Trang 25

Đăng Suyền), với những sáng tác giàu "sức chứa và sức mở" (Phong Lê), đã vượt quađược thử thách khắc nghiệt của thời gian."càng thử thách càng ngời sáng" (TrầnĐăng Suyền).

Quê Nam Cao ở làng Đại Hoàng, tỉnh Hà Nam - một vùng quê quanh năm xảy

ra các vụ kiện tụng giữa những bọn giàu có thế lực Nông dân thì rất phổ biến là tìnhtrạng đói kém, mất mùa, phải bỏ quê hương đi tha phương cầu thực Điều này đãđược phản ánh rất rõ trong các trang sách của Nam Cao

Sinh ra ở quê nghèo, gia đình cũng thuộc vào dạng nghèo, Nam Cao là ngườicon duy nhất trong gia đình được đi học Cuộc sống của ông ngay từ nhỏ là nhữngtrải nghiệm về đói nghèo, bệnh tật, cơm ăn chẳng đủ no Vì thi trượt bậc ThànhChung1, ông bỏ làng quê đi Sài Gòn kiếm sống với những khát khao lớn Tuy nhiên,bệnh tật lại đưa ông về làng Đại Hoàng, nơi chôn nhau cắt rốn của mình Ông ôn thilại, và đậu bậc Thành Chung Nhưng do sức khỏe yếu nên không được nhận làm côngchức Ông xin dạy học ở một trường học tư do một người họ hàng mở ra Chính vì cókhoảng thời gian này, ông thấm thía hơn với đời sống cơ cực của người trí thức tiểu

tư sản nghèo trong một xã hội ngột ngạt và bế tắc Khi phát xít Nhật xâm lược ĐôngDương, trường học bị đóng cửa, Nam Cao đã sống chật vật bằng nghề viết văn, làmgia sư, có khi thất nghiệp Năm 1943, Nam Cao gia nhập nhóm "Văn hóa cứu quốc"

bí mật cùng một số nhà văn như Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng,Nguyễn Đình Thi Khi phong trào Văn hóa cứu quốc và phong trào cách mạng ở HàNội bị khủng bố mạnh, Nam Cao trở về quê và tham gia phong trào Việt Minh ở địaphương Trong Cách mạng tháng Tám, Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở địaphương, sau đó được bầu làm chủ tịch xã Không lâu sau, Nam Cao được điều độngcông tác tại Hội văn hóa cứu quốc Ông từng làm thư ký toà soạn của tạp chí Tiên phong,

cơ quan của Hội

Tháng 11 năm 1951, ông hy sinh trên đường đi công tác vào vùng địch hậu liên khu 3

Về sáng tác, Nam Cao thành công ở dòng văn chương hiện thực phê phán.Nhưng đây không phải là lựa chọn ngay từ ban đầu của ông Thời kỳ mới cầm bút,Nam Cao chịu ảnh hưởng khá rõ của văn học lãng mạn Tuy nhiên, không lâu sau đó,ông đã trở về với cuộc sống đời thực và gắn bó với dòng văn học hiện thực phê phán

Sự chuyển biến của Nam Cao từ xu hướng nghệ thuật lãng mạn đến khuynh hướngnghệ thuật hiện thực là cả một quá trình phấn đấu gian khổ nhưng quyết liệt Để xác

1 Bậc Thành Chung: Là tên của một bằng cấp ở Việt Nam vào thời Pháp thuộc, còn gọi là văn bằng cao đẳng tiểu học Nghĩa là sau khi học hết tiểu học, thi đỗ Văn bằng Tiểu học, thì lên học Cao đẳng tiểu học, học 4 năm thì sẽ thi lấy Văn bằng Cao đẳng tiểu học, còn gọi là Bằng Thành Chung Vào thời thuộc Pháp, người thi đậu Bằng Thành Chung là thông thạo tiếng Pháp, được nhà nước Pháp tuyển dụng làm công chức cho Pháp

Trang 26

định cho mình một quan điểm sống và viết đúng đắn, Nam Cao đã trải qua không ít

những dằn vặt, băn khoăn Điều này được thể hiện rõ trong truyện ngắn Giăng sáng.

Truyện đã thể hiện sinh động tâm trạng đấu tranh day dứt của một nhà văn giữa haicon đường: mơ mộng và thực tế, lãng mạn và hiện thực, để rồi khẳng định sức mạnhcủa văn học nghệ thuật chính là bắt nguồn từ đời sống và phục vụ đời sống Qua hình

tượng nhân vật Điền với những đấu tranh tư tưởng của anh, Giăng sáng có giá trị như

một bản tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn Nó đánh dấu một bước chuyển biếntrong nhận thức tư tưởng cũng như quan điểm nghệ thuật của Nam Cao Tác phẩm

Chí Phèo năm 1941 đã khẳng định vị trí cao quý của Nam Cao trên văn đàn Việt

Nam, đồng thời cắm mốc đánh dấu nhà văn đã đi theo con đường của chủ nghĩa hiệnthực

Về quan điểm sáng tác, Nam Cao là một trong số ít những nhà văn hiện đại ViệtNam đầu tiên có quan điểm sáng tác rất rõ ràng Đời văn của ông đã chứng tỏ, ông là

một con người làm việc nghiêm túc Đúng như Hà Văn Đức trong Văn học Việt Nam

1900-1945 khẳng định: "Là một nhà văn có nhân cách và có ý thức trách nhiệm về

ngòi bút của mình, Nam Cao không thích sự dễ dãi với những lối mòn sẵn Ông quanniệm nghệ thuật muốn thành công phải tìm tòi, sáng tạo" [58; 474] Quan điểm sángtác của Nam Cao đã trở thành một lời nhắc nhở cho lớp lớp thế hệ các nhà văn ViệtNam

Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc, một nhà nhân đạo lớn Với hai đề tài chủyếu về nông dân và trí thức, Nam Cao đã chỉ ra những ám ảnh đáng sợ của đời sốngcon người trước cái đói Đó là tình trạng thê thảm của cả một xã hội trong thời kỳthực dân phong kiến Việt Nam trước khi giành được độc lập Đến với những trangvăn của Nam Cao, bạn đọc luôn cảm thấy thương cho những số phận nông dânnghèo, trí thức nghèo "Nam Cao là nhà văn của những người nông dân nghèo khổ vàbất hạnh, nhà văn của những người khốn khổ - tủi nhục nhất trong xã hội thực dân -phong kiến Trái tim nhân đạo và cái nhìn sắc sảo của ông đã thấu hiểu những hoàncảnh thiếu nhân tính làm cho con người bị tha hóa Viết về những con người dưới đáycủa xã hội, Nam Cao đã bộc lộ sự cảm thông lạ lùng của một trái tim nhân đạo lớn"[83;115] Nhận định trên đây một mặt khẳng định tư tưởng chói ngời trong các tácphẩm của Nam Cao: tư tưởng nhân đạo sâu sắc, một mặt chỉ ra cho chúng ta thấyđược chất "lạ" trong tư tưởng nhân đạo của ông: sự lên án hoàn cảnh xã hội đã đẩycon người vào tình trạng tha hóa Những trí thức như Điền, Hộ, Thứ đã phải sốngmột cuộc đời đến lo cơm áo hàng ngày là đủ mệt Hoàn cảnh sống thiếu thốn vềmiếng cơm manh áo đã làm mai một cả nhân cách, quan điểm sống và những ước

mơ, khát vọng chính đáng của họ Hình tượng người nông dân bất hủ Chí Phèo với

Trang 27

một số phận thương tâm trong cái vòng đời người - quỷ - người ấy đã là một bản cáotrạng đanh thép về tình trạng xã hội bất công tàn bạo đã cướp đi phần nhân tính củamỗi con người Viết văn với một tình thương lớn đối với loài người, Nam Cao đòihỏi để cho mỗi cá nhân được phát triển đến tận độ với một ý thức đầy trách nhiệm vàtrong mối quan hệ mật thiết với sự phát triển chung của xã hội và loài người Có thểnói, "tư tưởng nhân văn và sâu sắc đó chưa từng có trong nền văn học hiện đại ViệtNam trước cách mạng Đó là một tư tưởng lớn vượt ra ngoài cả thời đại NamCao"[83; 122]

Đương nhiên, cũng cần phải nói thêm rằng, bên cạnh những thành công lớn vềmặt tư tưởng và nghệ thuật, sáng tác của Nam Cao vẫn có những hạn chế nhất định

Đó chính là sự hạn chế trong cách nhìn nhận, đánh giá về người nông dân Ông mớichỉ nhìn thấy ở họ cuộc sống hiện thực tăm tối chứ không nhìn thấy được sức mạnhtiềm tàng của người nông dân ở một đất nước nông nghiệp như Việt Nam Bởi lẽ,thời đại Nam Cao, hiện thực đã không chỉ còn đen tối như nhà văn miêu tả Rất nhiềunhững người nông dân đã được giác ngộ và đi theo cách mạng, nhưng hình bóng họchưa xuất hiện trong tác phẩm của Nam Cao Mặt khác, cấu trúc khép kín của tácphẩm, việc quá nhấn mạnh đến các chi tiết xấu trong ngoại hình nhân vật, đặc biệtkhi miêu tả nhân vật nông dân cũng là những hạn chế của ngòi bút Nam Cao Ngườiviết xin được mượn lời của một nhà nghiên cứu làm lời kết cho phần viết này củamình: "Tuy không tránh khỏi những hạn chế nhưng về cơ bản, Nam Cao xứng đáng

là nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn trong nền văn học hiện đại Việt Nam Cái gốc, nềntảng vững chắc của chủ nghĩa hiện thực Nam Cao là chủ nghĩa nhân đạo Chính điều

đó đã làm cho sáng tác của ông hòa nhập vào dòng văn học ưu tú, tiến bộ nhất củadân tộc ta mọi thời đại"[83; 123]

1.2.3 Vị trí của Lỗ Tấn và Nam Cao trong nền văn học hiện đại Trung Quốc và Việt Nam

Lỗ Tấn là một hiện tượng văn hóa của thế kỷ XX Di sản của ông không chỉ củaTrung Quốc, mà thuộc về toàn thế giới Không chỉ ở châu Á mà còn ở châu Âu, châuMỹ , Lỗ Tấn cũng chiếm được sự quan tâm nghiên cứu rất lớn của học giả NhậtBản có bài phát biểu đầu tiên về Lỗ Tấn năm 1919, trước khi văn đàn Trung Quốcxuất hiện bài phát biểu đầu tiên của Mao Thuẫn 1 năm Mỹ, Hàn Quốc ở thập niên 20bắt đầu có giới thiệu và nghiên cứu về Lỗ Tấn Việt Nam do lí do chiến tranh, vàothập niên 40 của thể kỉ XX mới có cơ hội giới thiệu Lỗ Tấn Đối với riêng nền vănhọc hiện đại Trung Quốc, Lỗ Tấn không chỉ là người mở đường, người đặt nền móngcho nền văn học hiện đại, mà bóng dáng của ông còn bao trùm lên cả thế kỷ XX Vàđiều cần nhấn mạnh là, tất cả các sáng tác của ông, từ truyện ngắn đến tạp văn, tản

văn, thơ ca, đều toát lên tinh thần hết sức hiện đại Chỉ với 33 truyện ngắn (tập Gào

Trang 28

thét 14 truyện, tập Bàng hoàng: 11 truyện, tập Cố sự tân biên: 8 truyện), tác giả Mao

Thuẫn phải thốt lên là "mỗi truyện một vẻ" Thông thường người ta hiểu rằng đây là

sự khác nhau về mặt hình thức, nhưng phải thấy là, với các truyện của Lỗ Tấn, nộidung tư tưởng cũng khác hẳn nhau Lỗ Tấn là "kỹ sư tâm hồn của thời đại mình"

Bên cạnh truyện ngắn, Tạp văn cũng chiếm một số lượng khá lớn trong di sản văn

học Lỗ Tấn Theo nhà nghiên cứu Trần Xuân Đề, Lỗ Tấn có 650 bài tạp văn được thuthập trong 16 tập, chia làm hai loại: Một loại thiên về nghị luận và một loại thiên về

trữ tình, tự sự Có thể kể đến một số tác phẩm như: Quan niệm của tôi về tiết liệt,

Nôra đi rồi thì ra sao, Dạo bút dưới đèn, Kỷ niệm Lưu Hòa Trân, Hoa hồng không

hoa… Nội dung chiếm lĩnh hầu hết những bài tạp văn này là quan điểm của nhà văn

về xã hội Trung Quốc thông qua những vấn đề mà ông đề cập như vấn đề người phụ

nữ, vấn đề “người ăn thịt người” hay thái độ xót xa về tình cảnh của đất nước Trung

Quốc thời phong kiến Tính chiến đấu phản đế, phản phong thể rất rõ trong những tácphẩm này, đồng thời Lỗ Tấn đã kế thừa tư tưởng vô sản như một phương tiện hữuhiệu để tăng tính chiến đấu cho các tác phẩm của mình Lỗ Tấn còn có tập thơ văn

xuôi Cỏ dại giàu tính hiện đại, nói về cuộc đấu tranh không khoan nhượng chống thế

lực đen tối đang ám ảnh, thể hiện nỗi u uất và buồn đau, nỗi căm hờn và tinh thầnchiến đấu Ngoài ra, Lỗ Tấn còn sáng tác kịch, viết nghiên cứu lý luận phê bình vàdịch nhiều tác phẩm của văn học Nga sang tiếng Trung Nhưng, truyện ngắn và tạpvăn vẫn được coi là những thành công rực rỡ nhất trong sự nghiệp văn học của ông.Khi tiếp xúc với văn chương Lỗ Tấn, một điều rất dễ nhận ra là ông đã tiếp thu vàsàng lọc đủ mọi thứ tư tưởng triết học và văn học xuất hiện ở Trung Quốc vào đầuthế kỷ XX để có thể hình thành một tư tưởng văn nghệ, một phong cách văn chươngcho riêng mình Dọc theo chiều dài của thể kỷ XX cho đến tận hôm nay, tư tưởng vănnghệ và phong cách văn chương ấy vẫn in đậm dấu ấn trong hàng loạt tác phẩm củacác thế hệ nhà văn Trung Hoa

Nam Cao là đại biểu ưu tú nhất cho trào lưu văn học hiện thực phê phán ViệtNam 1930-1945 Kể từ thời điểm bắt đầu nghiệp văn năm 1936 cho đến khi vĩnh biệtcõi đời (1951), Nam Cao chỉ có 15 năm gắn bó với văn chương So với các tác giảcùng thời, gia tài của Nam Cao để lại cho hậu thế không phải là quá lớn Chỉ hai tiểu

thuyết Sống mòn và Truyện người hàng xóm, mấy chục truyện ngắn và ký, một vở kịch Đóng góp Nhưng với số lượng tác phẩm khiêm nhường ấy, tác phẩm của Nam

Cao lại luôn ám ảnh người đọc, tạo cho người đọc khả năng đồng sáng tạo với tácgiả Ở đây chúng tôi sẽ làm rõ vị trí của Nam Cao ở thể loại truyện ngắn Không thểphủ nhận, thể loại truyện ngắn đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận từ NguyễnCông Hoan, Thạch Lam, Nguyên Hồng Khi Nam Cao lần đầu tiên xuất hiện trên

Trang 29

văn đàn, cũng như khi ông lên đến đỉnh cao từ Chí Phèo đến Sống mòn, ông đã thừa

hưởng những kinh nghiệm và thành tựu trước đó trong sự vận động và phát triển củaquá trình văn học 1930-1945 Nam Cao tham dự vào chặng cuối của quá trình ấy Và

có thể nói, đến truyện ngắn của Nam Cao thì những cách tân thể loại mới này mangtính chất toàn diện và triệt để, thực sự đưa truyện ngắn Việt Nam lên vị trí cao nhất,hoàn tất quá trình hiện đại hóa thể loại truyện ngắn từ đầu thế kỷ XX đến 1945 Sángtác của Nam Cao đã thực sự trở thành "những dòng văn xuôi mọc cánh", với nhiềutác phẩm trở thành mẫu mực

Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam đã cho rằng nhiều sáng tác của Nam Cao khôngthua kém gì sáng tác của các nhà văn trên thế giới Sáng tác của Nam Cao cũng đãvượt ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đến với thế giới và trở thành đối tượng nghiên cứu,

so sánh của nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài như tôi Nam Cao là một trong nhữngnhà văn hàng đầu của thế kỷ đã góp phần cách tân và hiện đại hóa nền văn xuôi Việtnam trên hành trình văn học của thế kỷ XX

Như vậy có thể thấy rằng, truyện ngắn của Lỗ Tấn và Nam Cao có nhiều điểmgặp gỡ Di sản mà họ để lại không phải lớn về số lượng mà là sự giàu có về nội dung

tư tưởng và giá trị nghệ thuật Hai nhà văn sống trong một thời kỳ mà đất nước TrungHoa và Việt Nam cùng ở trong một tình thế: sự xâm nhập của phương Tây và sựchuyển biến của xã hội thoát khỏi chế độ phong kiến Và hai nền văn học đều đứngtrước sự đòi hỏi phải hiện đại hóa

Về tư tưởng, cả hai nhà văn đều đặt ra những vấn đề rất lớn như đạo làm người,

về những người nông dân nghèo và những trí thức nghèo không chỉ thiếu thốn về vậtchất mà còn bị lăng nhục một cách tàn nhẫn về tinh thần Hai nhà văn cùng có niềmsay mê khám phá đề tài về người nông dân, trí thức và phụ nữ Đến với sáng tác của

Lỗ Tấn và Nam Cao, chúng tôi có thể khẳng định rằng, họ là những nhà văn bậc thầycủa nghệ thuật xây dựng điển hình nhân vật của hai nền văn học Trung Quốc và ViệtNam Nhân vật của họ có sức trường tồn với thời gian và tác giả của nó xứng đáng lànhững đại diện xuất sắc của hai nền văn học này Ở đây, chúng tôi chỉ trình bày mộtcách khái quát vị trí và những đóng góp của hai nhà văn ở thể loại truyện ngắn trongnền văn học hai nước, từ đó lấy căn cứ để luận giải các thành công về nội dung tưtưởng và nghệ thuật sáng tác của hai nhà văn ở thể loại này

*

* *Dường như vào đầu thế kỉ XX, không khí thời đại không chờ đợi để các nhà vănthai nghén trường thiên tiểu thuyết Có một điểm chung ở cả Lỗ Tấn và Nam Cao, hainhà văn này chủ yếu viết truyện ngắn Ở đây, người viết xin được nói qua về sự khác

Trang 30

nhau trong cách gọi tên thể loại này của hai nước Việt Nam phân thành hai loại:truyện ngắn và tiểu thuyết Trung Quốc phân thành hai loại: tiểu thuyết ngắn (nguyênvăn tiếng Trung là: 短篇小说) và tiểu thuyết dài (nguyên văn tiếng Trung là: 长篇小说) Như vậy, theo cách phân loại như trên, về mặt bản chất, thể loại truyện ngắn củaViệt Nam sẽ tương đương với thể loại tiểu thuyết ngắn trong cách phân loại củaTrung Quốc Ông chỉ để lại cho đời vẻn vẹn có 25 thiên tiểu thuyết nhưng thực sự đãgây một tiếng vang lớn trên văn đàn Nhà nghiên cứu Lý Di và Trịnh Gia Kiện, tiếpnối các nghiên cứu của các bậc tiền bối, khẳng định đóng góp của Lỗ Tấn như sau:

"Hai tập truyện ngắn Gào thét và Bàng hoàng của Lỗ Tấn là những tác phẩm kinh

điển của tiểu thuyết bạch thoại của văn học hiện đại Trung Quốc Hai bộ truyện này

đã phá vỡ phạm trù tiểu thuyết truyền thống, hoàn thành hình thức nghệ thuật của tiểuthuyết hiện đại Nếu không có những tìm tòi đổi mới của Lỗ Tấn, tiểu thuyết củachúng ta hôm nay e rằng khó có thể có được bộ mặt phồn thịnh và mới mẻ như vậy

Sự hấp dẫn của nghệ thuật tiểu thuyết trong hai tập Gào thét và Bàng hoàng xứng

đáng để chúng ta tiếp tục nghiên cứu"1[155; 97] Như vậy, từ nhận định này của hainhà nghiên cứu của Đại học Sư phạm Bắc Kinh, chúng ta có thể thấy được phần nàođóng góp của Lỗ Tấn ở thể loại truyện ngắn Đó là đóng góp của người tìm đường,tạo động lực cho tiểu thuyết hiện thực ra đời

Lỗ Tấn là nhà văn dùng bạch thoại đầu tiên để sáng tác truyện ngắn trong phong

trào Văn học ngũ tứ Nhật ký người điên của ông năm 1918 là ngọn cờ tiên phong

trong phong trào đó Ông tiếp thu tinh hoa của văn ngôn pha lẫn bạch thoại, trong đóbạch thoại không phải là thứ khẩu ngữ chung chung mà là ngôn ngữ nghệ thuật, giàuphong cách độc đáo, vừa dồi dào vừa giản dị, vừa khái quát vừa cụ thể, ngắn gọnnhưng không giản đơn, sinh động chứ không giả tạo

Với Gào thét và Bàng hoàng, Lỗ Tấn đã đặt được nền móng cơ bản nhất cho sự

phát triển tư tưởng của dân tộc Trung Hoa Ông đã kéo người Trung Quốc ra khỏinhững chướng ngại, cản trở của các kiểu tư tưởng lí luận, khiến cho họ, trước tiên,cảm nhận được sự đói khát về tinh thần và tư tưởng, nhìn vào mình, nhìn thẳng vàomâu thuẫn xã hội - nhân sinh, xây dựng cho mình những theo đuổi tinh thần chânchính từ thể nghiệm nhân sinh chân thực của bản thân Đây là việc khắc phục hiệntượng dị hóa thường gặp ở một lớp người Trong lịch sử Trung Quốc hiện đại, chưa

có bất cứ người nào như ông: đọc và lí giải rộng và sâu các hiện tượng văn hóa tư

1 Nguyên văn: 鲁迅的小说集《呐喊》与《彷徨》是中国现代白话小说的奠基之作和经典之作,他们实现了对传统小说 的革命性突破,完成了现代小说的艺术转型,没有鲁迅的筚路蓝缕之功,我们今天的小说恐怕不会有如此繁荣 和创新的局面。《呐喊》、《彷徨》的艺术魅力,值得我们反复咀嚼、回味。

Trang 31

tưởng sống động muôn hình muôn vẻ của xã hội Trung Quốc, vạch rõ các hiện tượngsai lệch văn hóa nghiêm trọng của đủ các hạng người trong các giai tầng xã hội Tính

ưu việt của tư tưởng ông chính là điểm không cho phép bất cứ người nào bám vàogiáo điều lý luận mà vứt bỏ thể nghiệm cuộc sống đối với bản thân, đối với môitrường sống mà mình đang tồn tại, không cho phép bất cứ người nào lấy kết luận đãhình thành thay thế cho tư duy độc lập và sự thay đổi độc lập; nhưng đồng thời tưtưởng ông lại rộng mở đón nhận những thành quả văn hóa toàn nhân loại, không vì

sự phủ định hàm hồ làm nó đánh mất đi khả năng được dân tộc Trung Hoa lý giải vàvận dụng Với tính phong phú và có phần như phức tạp của tư tưởng Lỗ Tấn, sự điêuluyện của ngòi bút hiện đại, tác phẩm của Lỗ Tấn liên tục trong suốt thời gian từ lúc

ra đời cho đến nay, đã chiếm được sự quan tâm của nhiều học giả trên toàn thế giới

Về tư tưởng, chúng ta thấy rằng, sinh ra vào một thời đại có thể nói là hỗn loạn,

Lỗ Tấn viết truyện ngắn nói riêng và tản văn, tạp văn nói chung đều không phải vìmục đích làm nghệ thuật mà ông viết là để cải tạo "quốc dân tính" cho dân tộc TrungHoa Đó là căn bệnh trầm kha từng ăn sâu bám rễ vào biết bao thế hệ với biểu hiện

của phép thắng lợi tinh thần và thói ăn thịt người Nhật ký người điên, chủ đề của nó

là đánh đổ lễ giáo đạo đức phong kiến, một thứ lễ giáo “ăn thịt người” Toàn truyện

cố nhiên nói chuyện ăn thịt người, nhưng cái chỗ dụng ý là tố cáo sự khốc hại tànnhẫn của lễ giáo đạo đức cũ, nhiều khi bắt người ta phải chết, như Thân Sinh vì hiếu

mà phải chết, Nhạc Phi vì trung mà phải chết Những người cải lương trước Lỗ Tấnđều chủ trương thuyết “Trung học vi thể, Tây học vi dụng”, cho đến những ngườiđồng thời với Lỗ Tấn tuy có phản đối Khổng Tử, đả kích Tống Nho, nhưng đến toàn

bộ lễ giáo đạo đức của Trung Quốc, không ai dám đả động đến Lỗ Tấn mạnh dạnđứng ra làm việc này cũng như đánh một vố nặng vào xương sống phong kiến làm nó

bị một cái chí mạng thương Nói như nhà nghiên cứu Phan Khôi: "Cái truyện ngắnnày là một tiếng còi báo hiệu của cách mạng tư tưởng hay cách mạng văn hoá TrungQuốc Đứng về phía văn học mà nói, thì khi nó vừa đăng báo xong, liền được côngnhận là áng văn sáng tác thứ nhất đặt nền móng cho văn học mới Trung Quốc"[5;33]

Tuy nhiên, không phải vì thế mà Lỗ Tấn xem nhẹ vấn đề nghệ thuật Tác phẩmcủa ông không phải là những áng văn tuyên truyền, giáo huấn mà ngược lại, nó là

"những tòa lâu đài chứa đựng tinh thần thời đại" Lương Duy Thứ nhận xét: "Tómlại, bằng sức khái quát nghệ thuật cao, cấu trúc tác phẩm Lỗ Tấn đạt đến sự vữngchãi trong một hình thức biểu hiện đơn thuần, bình dị, vừa chứa đựng một nội dungphong phú phức tạp, vừa xa lạ với cái đồ sộ kiểu cách không cần thiết" [91; 30] Rõràng là, Lỗ Tấn có kế thừa kết cấu chương đoạn của tiểu thuyết cổ điển, nhưng vận

Trang 32

dụng vào truyện ngắn của mình không hề cầu kỳ, đồ sộ Một số truyện ngắn có kết

cấu chương hồi như Nhật ký người điên, AQ chính truyện là sự kế thừa của truyền

thống nhưng không còn tính chất rườm rà như trong tiểu thuyết cổ điển, ngược lại,kết cấu chương hồi của tiểu thuyết cổ điển có tác dụng giúp cho người đọc dễ dàngnắm bắt được diễn biến của câu chuyện Xét về phương diện mục đích sáng tác của

Lỗ Tấn, cách kết cấu truyện như trên đã có tác dụng rất lớn trong việc chĩa mũi nhọnvào các căn bệnh tinh thần của người Trung Hoa một cách chính xác, dễ hiểu Vớikiểu kết cấu này, Lỗ Tấn đã làm mới thể loại tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc, đưa

vào văn học Trung Quốc một thể loại tiểu thuyết chương hồi hiện đại Với AQ chính

truyện, Lỗ Tấn đã thành công khi chỉ ra một cách cụ thể, rõ ràng về một trong hai

biểu hiện quan trọng của quốc dân tính Trung Hoa: phép thắng lợi tinh thần Ôngkhẳng định: "Theo nhận thức của tôi, Trung Quốc nếu không làm cách mạng thì thôi,chứ đã làm cách mạng chắc chắn sẽ thành công Nhân vật AQ của tôi cũng sẽ là nhưvậy, nhân cách cũng không chỉ là vấn đề hai mặt Kỷ nguyên dân quốc đã qua rồi,không có cách nào để tìm lại nữa, nhưng về sau nếu lại cách mạng, tôi tin rằng sẽkhông có một người nào làm cách mạng như AQ lại xuất hiện"1[155; 122] Đó chính

là niềm tin của Lỗ Tấn vào con người Trung Quốc, cũng như niềm tin vào mùa xuân

sẽ đến trên đất nước Trung Hoa vĩ đại Vào một thời kỳ lịch sử nhiều biến động nhưthời kỳ Lỗ Tấn, có được niềm tin như vậy đã thể hiện tinh thần chiến đấu của Lỗ Tấn đốivới việc xây dựng một đất nước Trung Hoa mới

Như vậy, có thể thấy rằng, với những đóng góp cho sự phát triển của văn họchiện đại Trung Quốc cũng như riêng thể loại truyện ngắn, Lỗ Tấn là nhân vật số mộtcủa nền văn học hiện đại Trung Quốc Hơn thế nữa, ông còn là "danh thủ truyện ngắnthế giới" (Phadeep)

*

* *Trong giáo trình Văn học Việt Nam 1900-1945, nhà nghiên cứu Hà Văn Đứcnhận định: "Nam Cao có một vị trí đặc biệt trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-

1945 Những tác phẩm của Nam Cao phần lớn ra đời trong chiến tranh thế giới lầnthứ hai, đánh dấu bước phát triển của trào lưu văn học hiện thực phê phán trong mộtthời kì tưởng chừng như bế tắc"[58; 471] Nhận định này đã cho ta thấy được vị tríquan trọng của Nam Cao trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam, đặc biệt là ở thểloại truyện ngắn Thực vậy, Nam Cao đến với văn đàn khi đã có các tên tuổi lớn củadòng văn học hiện thực phê phán như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng

1 Nguyên văn: 据我的意思,中国倘不革命,既然革命,就会做的。我的阿 Q 的运命,也只能如此,人格也恐怕并 不是两个。民国元年已经过去,无可追踪了,但此后倘再有改革,我相信不会有阿 Q 似的革命党出现。

Trang 33

Phụng, Nguyên Hồng Nhưng bằng tài năng sáng tạo của mình, Nam Cao vẫn có điềukiện tỏa sáng, trở thành đỉnh cao của dòng văn học hiện thực phê phán giai đoạn1940-1945.

Truyện ngắn của Nam Cao để lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc Giớinghiên cứu đã tốn không ít bút mực cho các trang truyện của ông Là người nướcngoài yêu mến đất nước - con người và văn chương Việt Nam, tôi có vinh dự đượctiếp cận tác phẩm của ông trong khoảng thời gian tương đối dài Với hạn chế củangười đọc tác phẩm không phải bằng ngôn ngữ mẹ đẻ, nhưng tôi cũng cảm nhậnđược phần nào những thông điệp sâu sắc mà nhà văn gửi gắm trong trang truyện của

mình Tôi đồng cảm và xót thương những Chí Phèo (Chí Phèo), những Hộ (Đời

thừa), những Điền (Giăng sáng) Trong đó, truyện ngắn Chí Phèo đã trở thành tác

phẩm bất hủ của dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam 1930-1945 ở thể loạitruyện ngắn Ôi sao mà các nhân vật trong truyện ngắn ông lại có số phận giống sốphận của những AQ, những Nhuận Thổ, những Tử Quân, những Quyên Sinh của

Lỗ Tấn ở quê hương tôi đến thế! Đây chính là một trong những lí do rất quan trọng

đã thúc đẩy tôi viết cho được đề tài này Về hiện tượng Nam Cao và Lỗ Tấn, trướcđây đã có ý kiến cho rằng Nam Cao của Việt Nam chịu ảnh hưởng của Lỗ Tấn do sựgiống nhau đến đáng ngờ giữa AQ và Chí Phèo Nhưng giả thiết này đã được bác bỏ,được minh chứng qua thời điểm tiếp nhận Lỗ Tấn ở Việt Nam, cũng như việc ông có

tiếp xúc hay không với AQ chính truyện của Lỗ Tấn trước khi viết tác phẩm Chí

Phèo Nhiều bài viết đã so sánh AQ và Chí Phèo, tiêu biểu là bài viết Đôi điều so sánh giữa Chí Phèo và AQ của nhà nghiên cứu Phạm Tú Châu Tuy nhiên, chúng tôi

cho rằng, dù cho việc ảnh hưởng của Nam Cao với Lỗ Tấn là không có, nhưng hai tácgiả có thể so sánh được với nhau ở phương diện nội dung tư tưởng hay hình thứcnghệ thuật thì đều chứng tỏ một điều: Nam Cao của văn học hiện đại Việt Nam cũng

là một tác giả hết sức thành công, đã sáng tạo được những hình tượng nhân vật bất hủvới một nghệ thuật già dặn Nam Cao là nhà văn có nhiều đóng góp trong văn họchiện đại Việt Nam giai đoạn 1930-1945 Nhà văn Lê Văn Trương đã lột tả đượcphong cách sáng tác, đồng thời là đóng góp của Nam Cao đối với nền văn học hiệnđại Việt Nam: "Ông Nam Cao đã không hạ mình xuống bắt chước ai, không nói cáingười ta đã nói, không tả theo cái lối người ta đã tả Ông đã dám bước vào làng vănvới những cạnh sắc của riêng mình"[105; 327] "Với Nam Cao, tiểu thuyết và nhất làtruyện ngắn Việt Nam đã đạt tới độ hoàn thiện, thực sự hiện đại, hòa nhập vào quỹđạo của văn học thế giới"[84; 52]

Tiểu kết

Chúng ta đã luận bàn về vị trí của Lỗ Tấn và Nam Cao trong bối cảnh văn học

Trang 34

hiện đại Trung Quốc và Việt Nam Văn chương của họ là tiếng nói của hai dân tộcđang trong quá trình hiện đại hóa đất nước, đấu tranh để thoát khỏi những ràng buộccủa lễ giáo phong kiến tồn tại từ ngàn năm trên đất nước mình Tác phẩm của họ làtiếng nói của những tâm hồn biết yêu thương, chia xẻ với đồng loại, là những nhịpđập của những con người chứa chan lòng nhân đạo Chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc khihướng tới con người cùng khổ, vì thế, cũng là một điểm gặp gỡ rất căn bản giữa hainhà văn So sánh sáng tác của Lỗ Tấn, Nam Cao ở văn xuôi tự sự, đặc biệt tập trungvào thể loại truyện ngắn, chúng tôi mong muốn sẽ qua đó chỉ ra được sự giống vàkhác nhau trong quan niệm về nhân sinh của hai tác giả, từ đó đi vào lí giải nguyênnhân của sự giống và khác nhau đó

Lỗ Tấn và Nam Cao là đại biểu xuất sắc của nền văn học Trung Quốc và ViệtNam trong quá trình hiện đại hóa, dưới sự tác động của văn hóa phương Tây Lỗ Tấn

là người mở đầu cho văn học hiện đại Trung Quốc, điều day dứt, trăn trở nhất củangòi bút ông là vấn đề dân tộc, thức tỉnh tinh thần dân tộc - một dân tộc vĩ đại, nhưng

bị cầm tù bởi “phép thắng lợi tinh thần” Ông cũng quan tâm đến vấn đề nhân cách,nhân văn, nhưng những vấn đề đó cũng gắn chặt với vấn đề dân tộc Ông là nhà vănchiến sĩ, là chủ tướng của cách mạng văn hóa Trung Quốc Còn Nam Cao, khôngphải là nhà văn mở đầu như Lỗ Tấn, mà là cây bút xuất hiện ở chặng đường cuốicùng (1940-1945), hoàn thiện và kết tinh quá trình hiện đại hóa nền văn học ViệtNam nửa đầu thế kỷ XX Nam Cao cũng có tinh thần dân tộc, nhưng tâm huyết củaông dồn vào cuộc cách mạng trong văn chương Ông là một cây bút thức tỉnh sâu sắc

về ý thức cá nhân, luôn trăn trở day dứt về vấn đề nhân cách, về sự sống và cái chếttrong đời sống tinh thần của con người; đồng thời luôn có ý thức tìm tòi, cách tântrong sáng tạo nghệ thuật Sự giống và khác nhau cơ bản nói trên của Lỗ Tấn và NamCao đã dẫn tới những điểm tương đồng và khác biệt của nội dung và nghệ thuật trongvăn xuôi tự sự của hai nhà văn sẽ được chúng tôi khảo sát ở những chương tiếp theo

Chương 2:

NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CỦA VĂN XUÔI TỰ SỰ

LỖ TẤN VÀ NAM CAO

Trang 35

2.1 Tư tưởng Lỗ Tấn và Nam Cao trong văn xuôi tự sự viết về người trí thức

Nếu như Nam Cao ngoài truyện ngắn còn để lại cho đời một thiên tiểu thuyết bất

hủ là Sống mòn thì Lỗ Tấn lại khác hẳn, ông chỉ sáng tác truyện ngắn Có thể do đặc

trưng của thể loại là ngắn gọn nên ngôn ngữ của các nhà văn càng cô đọng, súc tíchthì nội dung chuyển tải được càng nhiều và càng sâu sắc Đương nhiên, điều nàycũng phụ thuộc rất nhiều vào cá tính sáng tạo và tài năng sử dụng ngôn ngữ của cácnhà văn Lịch sử đã chứng minh rằng, các nhà văn lớn thường là các nhà ngôn ngữ tài

ba Lỗ Tấn và Nam Cao là hai nhà văn như vậy Sáng tác của họ là những trang vănđầy trí tuệ với nhiều triết lý được chuyển tải bằng ngôn ngữ sinh động

2.1.1 Sự thức tỉnh tinh thần dân tộc trong văn xuôi tự sự của Lỗ Tấn viết về đề tài trí thức

Trong truyện ngắn Lỗ Tấn, viết về đề tài trí thức có 15 truyện, bày tỏ sự quantâm nóng bỏng của ông đối với số phận trí thức cận hiện đại Trung Quốc Bản thân làmột trong những người tiêu biểu cho tầng lớp trí thức, ông đối với cuộc sống, tưtưởng và tình cảm của trí trức có những thể nghiệm và cảm nhận nhất định Tuynhiên, ông đã vượt qua được những trí thức cùng thời đại, có thể phân tích về trí thứcmột cách sâu sắc và lạnh lùng Nhân vật trí thức có thể phản ánh tư tưởng của ông,thể hiện nhân cách, phong cách và tư tưởng sâu sắc của ông

Như trên đã khẳng định, hai đề tài chủ yếu trong sáng tác của Lỗ Tấn là đề tài vềngười nông dân và đề tài về trí thức Trong đề tài về người trí thức, tiêu biểu có các

thiên truyện: Nhật ký người điên (1918), Khổng Ất Kỷ (1919), Mẩu chuyện nhỏ (1920), Luồng ánh sáng(1922), Tiếc thương những ngày đã mất (1925), Cao phu

tử (1925), Ngọn đèn sáng mãi (1925), Miếng xà phòng (1924), Tết đoan ngọ (1922), Con người cô độc (1925)

Cảm nhận chung khi đến với các tác phẩm của Lỗ Tấn, có thể nói là sự ám ảnhngười đọc bởi nỗi bức xúc, dằn vặt khôn nguôi trước cái mầm ung nhọt đang kéođến, làm tê liệt nhân dân Trung Quốc hàng thế kỷ Con người trong xã hội tù túng,ngột ngạt ấy rơi vào những bi kịch đau đớn Họ bị kéo ghì xuống, bị giết chết mọiước mơ, khát vọng, bị chà đạp, bị mê hoặc không thể ngóc đầu lên được Trong số

đó, hình tượng người trí thức với tấn bi kịch tinh thần nặng nề và sâu sắc đã trở thànhmột vấn đề bức xúc, mang ý nghĩa xã hội lớn Ngòi bút của Lỗ Tấn đã lách sâu vàotận cùng khối bi phẫn ấy để phát hiện những dạng, những kiểu bi kịch của những loạitrí thức khác nhau trong xã hội Trung Quốc đương thời: trí thức phong kiến, trí thứctiểu tư sản, trí thức chiến sĩ dân chủ Hiểu được những tấn bi kịch của nhân vật tríthức trong truyện ngắn Lỗ Tấn sẽ thấy được nỗi lòng của Lỗ Tấn với đồng bào mình

Nó góp một phần lớn vào việc thể hiện tư tưởng vượt thời đại của nhà văn

2.1.1.1 Phê phán loại nhân vật trí thức bất tài, bất lực, nhu nhược, đớn hèn

Trang 36

Lỗ Tấn dành một số lượng rất lớn các tác phẩm của mình để viết về loại trí thứckhư khư bảo vệ lễ giáo phong kiến, trở thành kẻ thù của phong trào văn hóa mới Saukhi phong trào Ngũ tứ dần lắng xuống, thế lực phản động thừa cơ phục hồi địa vị củanền văn hóa phong kiến Hiểu rõ vai trò to lớn của trí thức trong cách mạng văn hóa,

Lỗ Tấn đã vạch trần bộ mặt giả dối của loại trí thức này, rung lên một hồi chuông cảnhtỉnh cho tầng lớp trí thức nói chung trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ

Cao Cán Đình trong Cao phu tử là người phát ngôn của thế lực phong kiến, y là

cái bóng thu nhỏ của những người theo "chủ nghĩa Quốc túy" Chúng đã dùng cáiquốc học làm tê liệt thanh niên, dày xéo lên sự tiến bộ của nền văn hóa mới

Tứ Minh trong Miếng xà phòng là một nhân vật tầm thường, người đã từng đề

xướng tân học nhưng gặp thất bại, cuối cùng quay trở về con đường hủ bại, ra sứcbảo vệ đạo đức giả dối của phong kiến

Trương Bái Quân trong Huynh đệ, bề ngoài là một trí thức tỏ ra có nhân cách, có

đạo đức, cao thượng Xưa nay y không hề để ý đến tiền tài, nhưng thâm tâm lại bịtiền tài chi phối Đó chính là loại trí thức bị cái nhân nghĩa đạo đức giả dối của lễgiáo phong kiến nặn lên, loại người văn dốt vũ dát như thế mà còn ôm lấy cái quốctúy mục nát ngăn cản trào lưu mới đang cuồn cuộn dâng lên

Để làm rõ sự không phù hợp của nền tảng tư tưởng cũ nát trong tầng lớp trí thứcnày, Lỗ Tấn đã mạnh dạn chỉ ra các bi kịch mà họ vấp phải Đó là bi kịch vỡ mộngcông danh khoa cử, bi kịch của sự bế tắc, quẩn quanh không lối thoát

Bi kịch vỡ mộng công danh khoa cử là tấn bi kịch muôn thuở của tầng lớp tríthức phong kiến, những kẻ đã mang nặng tư tưởng lập thân bằng con đường côngdanh khoa cử Khao khát tìm kiếm công danh và mộng tưởng đỗ đạt làm quan ăn sâuvào máu thịt của họ, giờ trở thành một thứ nọc độc làm cho người trí thức phong kiến

chết dần chết mòn cả về thể xác và tinh thần, tiêu biểu là Khổng Ất Kỷ (Khổng Ất

Kỷ) và Trần Sỹ Thành (Luồng ánh sáng) Cả hai có điểm chung là nuôi mộng công

danh, khát khao được làm quan để đè đầu cưỡi cổ người khác, nhưng kết quả, cả haicùng vỡ mộng Khổng Ất Kỷ rơi vào cảnh nghèo đói, túng quẫn đến cực độ, dẫn đếntình trạng bị bào mòn về nhân cách Trần Sỹ Thành thì chết trong uất ức Có thể thấyrằng, những gì họ thu được là sự ám ảnh đến tận cuối đời một cái mộng công danhkhoa cử Để rồi, một kẻ biến mất không biết là còn sống hay đã chết, một kẻ vì đauđớn phải nhảy xuống sông tự tử Cả cuộc đời nuôi mộng công danh nhưng thi mãikhông đỗ, đến một chút tú tài cũng không gỡ được như Khổng Ất Kỷ, mười sáu lầnthi không đỗ của Trần Sỹ Thành là những sự vỡ mộng vô cùng lớn của lớp trí thứcnày Những "chi hồ giả dã" của Khổng Ất Kỷ chính là sự đeo đẳng dai dẳng về conđường hoạn lộ Sự choáng váng, mặt tái nhợt của Trần Sỹ Thành sau mỗi lần xem xét

Trang 37

kết quả thi là dấu hiệu cao nhất của trạng thái vỡ mộng Khi con người không thể đạtđược mộng tưởng, khát khao của bản thân, tất yếu sẽ dẫn đến chán chường, thấtvọng, Nếu không có bản lĩnh để vượt qua, chắc chắn con người sẽ rất dễ rơi vào thấtvọng và bi kịch Hai nhân vật này không những chỉ rơi vào bi kịch của sự vỡ mộng

mà còn bị trượt dài về nhân cách Hậu quả đầu tiên mà họ phải đối mặt là sự túngquẫn Không đỗ đạt đồng nghĩa với không tiền tài, địa vị, Khổng Ất Kỷ phải lần hồixin ăn, chờ mong sự bố thí của người khác Nhưng xin ăn, lại thích rượu nhưng lườinhác lao động, lão đã đi ăn cắp và kết quả, bị đánh cho què chân Lão trở thành thằng

hề cho mọi người cười chê và khinh rẻ Sự tồn tại của lão như chiếc bóng vật vờ củamột chế độ khoa cử phong kiến đã lạc hậu, suy tàn Lão biến mất cùng với bi kịch vỡmộng của mình trong sự thờ ơ của mọi người xung quanh Đối diện với sự vỡ mộng

về công danh, thi cử, Trần Sĩ Thành lại rơi vào một trạng thái khác, có thể gọi đây là

hệ quả của bi kịch vỡ mộng Đó là giấc mộng về kho báu mà tổ tiên để lại Bi kịchnối tiếp bi kịch, Trần Sỹ Thành đi từ vỡ mộng này đến vỡ mộng khác Hắn trở nênđiên loạn khi chạy theo những câu nói khe khẽ vô nghĩa lý mà hắn tự tưởng tượng ra.Cuối cùng, hắn đào được một cái xương quai hàm đang nhe răng cười vào mình, đóchính là sự đối diện với bi kịch của bản thân Khi bi kịch đã lên đến cực điểm, conngười không còn chỗ bấu víu, không còn gì để hy vọng, họ cần một con đường giảithoát Sự ám ảnh đã dẫn Trần Sỹ Thành đến cái chết, có người gọi đó là do ảo giác

Lỗ Tấn qua cái chết của Khổng Ất Kỷ và Trần Sỹ Thành đã nêu lên tính tất yếucủa nó Ông đã chỉ ra rất rõ rằng, khi chế độ phong kiến đã bị lịch sử khước từ vai tròcủa nó thì tất yếu những sản phẩm do nó tạo ra sẽ mất đi Cái chết ở đây đối với cánhân là bi kịch, nhưng đối với xã hội, nó là dấu hiệu về cái cũ đã hết thời Người tríthức phong kiến, nạn nhân của chế độ phong kiến lỗi thời đã bị đầu độc và bị tiêudiệt bởi chính xã hội ung nhọt ấy Chế độ khoa cử của xã hội phong kiến ru họ trongnhững giấc mộng lớn và dìm chết họ trong cái thối nát của nó Bên cạnh nguyên nhân

từ chế độ xã hội, Lỗ Tấn còn chỉ ra một nguyên nhân rất căn bản ở đây là: Người tríthức vỡ mộng còn do họ quá u mê, tăm tối trong nhận thức về xã hội, về quan hệ củacon người và cộng đồng Thời đại mà họ sống có thể nói phức tạp nhất trong lịch sử

xã hội Trung Quốc nhưng thực sự, họ lại không biết đâu là đúng, đâu là sai, đâu làánh sáng, đâu là bóng tối Chính họ trở thành hòn đá cản trở sự đổi mới của xã hội và

tự đào hố chôn mình Với loại hình nhân vật này, Lỗ Tấn đã tỏ rõ thái độ thẳng thắnphê phán sự u mê, mù quáng của họ, bộc lộ thái độ phủ định tuyệt đối đối với xã hộiphong kiến Trung Quốc đương thời

Bên cạnh đó, có thể thấy rằng, mòn mỏi, quẩn quanh là trạng thái tinh thầnthường thấy của tầng lớp trí thức không tìm thấy địa vị của mình trong xã hội Ở

Trang 38

những đất nước như Trung Quốc, Việt Nam đầu thế kỷ XX, chế độ Nho học đã đếnhồi cáo chung, trí thức nho học không có được địa vị như thời kỳ phong kiến hưngthịnh Ở đây, Lỗ Tấn đã tập trung vào các bi kịch như bế tắc trong phương pháp,đường lối cách mạng; bi kịch tha hóa về nhân cách và lối sống

Trước hết, có thể thấy rằng, bi kịch bế tắc về phương pháp, đường lối cách mạng

là một trong những vấn đề mà Lỗ Tấn rất quan tâm Đây là bi kịch của tầng lớp tríthức - chiến sỹ dân chủ Trong tác phẩm, họ là những nhân vật điên: người điên ở

Nhật ký người điên và Cây trường minh đăng Loại trí thức này đã nhận thấy được

đầy đủ và sâu sắc sự thối nát của xã hội phong kiến Họ không dao động, không bếtắc trong tư tưởng khi cả xã hội quay lưng lại với họ Hành động của họ kiên quyết,

tư tưởng của họ rạch ròi nhưng họ vẫn rơi vào bi kịch bởi không giác ngộ được quầnchúng Tư tưởng tiến bộ: dẹp quách xã hội ăn thịt người dã man, thổi tắt ngọn đèntượng trưng cho ý thức hệ phong kiến hủ lậu, trì trệ nhưng họ bị mọi người coi lànhững đứa con bất trị Về cơ bản, tư tưởng của họ rất đúng và có ý nghĩa nhất địnhtrong hiện đại hóa xã hội Họ mang trong mình tư tưởng muốn cải cách, tư tưởng làmmới xã hội của Lỗ Tấn Tuy nhiên, họ dường như đã bế tắc khi tìm cách giải quyếtcác vấn đề đó Cái bế tắc của họ trước tiên do nguyên nhân khách quan: là sự u mêcủa người dân Trung Quốc từ ngàn năm trước Người chiến sỹ dân chủ bị chính cộngđồng mình xa lánh, hắt hủi, họ bị tách ra khỏi cuộc sống, không có cơ hội truyền đạt

tư tưởng, suy nghĩ của mình Trong mắt người dân, họ là cái vạ, là người điên đángchết chứ không phải là "người chiến sỹ trên mặt trận chống lại cái cổ hủ, lạc hậu"như bản thân người điên nghĩ về bản thân họ Điều đó đã khẳng định sự gian khổ, lâudài của việc tìm đường để không những không bị mọi người xa lánh mà còn tác độngđến tư tưởng của họ Vì thế, ngoài nhiệt huyết mà người chiến sỹ trong hai câuchuyện này có được, cái họ cần có là đường lối, là phương pháp đấu tranh Lỗ Tấn đãcho chúng ta thấy rằng, hai nhân vật này đã thiếu cái cần thiết nhất trong các cuộcđấu tranh là đường lối, là phương pháp Sự đấu tranh kia diễn ra quá đơn lẻ, riêng rẽ.Bởi vậy nhiệt huyết chỉ có thể dừng lại ở đó chứ không thể tạo thành một cuộc đấutranh thu hút đông đảo quần chúng tham gia Lỗ Tấn chỉ ra rằng, tư tưởng lớn của

người điên trong Nhật ký người điên chỉ được chứa đựng trong một hình thức vô

cùng nhỏ bé không tương xứng, chỉ được mô phỏng bằng tiếng kêu yếu ớt: "Cácngười thay đổi đi, thành tâm mà thay đổi đi Các người nên biết rằng, tương lai người

ta không dung thứ những kẻ ăn thịt người đâu", hoặc "Hãy cứu lấy các em" Đó làtiếng kêu của một người cho rằng mình hết sức tỉnh táo, còn cộng đồng lại gọi đó làngười điên Những tiếng kêu vô cùng đáng thương như rơi vào hư không bởi họ vôcùng cô độc, không có một tổ chức lãnh đạo, một phương pháp luận dẫn đường Cách

Trang 39

thức đấu tranh nhỏ lẻ, manh mún, theo kiểu quan niệm chỉ cần “thổi tắt đèn đi” là cóthể thiêu đốt hoàn toàn một chế độ đã tồn tại hàng ngàn năm ở một đất nước rộnglớn Và như vậy, việc đấu tranh không có phương pháp, không có đường lối rõ ràng

đã đem đến một kết quả tất yếu: họ không những không thay đổi được xã hội mà cònlàm cho cá nhân mình bị mất tác dụng Đối với những con người này, họ chỉ có thểthành công khi gây được lòng tin và thuyết phục được nhân dân tin vào tư tưởng của

họ Đương nhiên, khi sự nghiệp đó không thành, bi kịch lại xuất hiện Lỗ Tấn đã chỉ

rõ tầm quan trọng của việc phải tu dưỡng về tư tưởng, mọi thay đổi cần thay đổi đầutiên từ tư tưởng của con người Ông nhấn mạnh một điều: muốn cải cách xã hội phảicải cách tư tưởng của con người Con đường ấy muốn làm được sẽ vô cùng gian nanchứ không thể là một sớm một chiều Đó là tư tưởng tiến bộ của Lỗ Tấn, là đóng gópcủa ông đối với xã hội, qua đề tài trí thức Ông gióng lên một hồi chuông cho tầnglớp trí thức: Người trí thức cần tỉnh táo và bản lĩnh để không đánh mất mình Xã hội

đã thay đổi, thế giới quan đã thay đổi, con người nhất định phải thay đổi Tuy nhiên,việc thay đổi ấy không thể là sự thay đổi theo nghĩa xấu, nghĩa là nhất định không thể

để mình rơi vào tha hóa, sống ngược lại những gì tốt đẹp đã có và phần nào đanghình thành

Có thể nói, sáng tác về đề tài trí thức của Lỗ Tấn đã cho ta thấy rất rõ một điều:

Bi kịch tha hóa là bi kịch đau đớn nhất của con người Đa số các nhân vật trí thứccủa Lỗ Tấn khi không thực hiện được hoài bão, lý tưởng của bản thân dễ dàng trởnên bất mãn, tuyệt vọng Là những con người không có bản lĩnh, rốt cục, họ đều rơivào trạng thái tha hóa, bị xói mòn về nhân phẩm Họ tự đi ngược lại với hoài bão vàkhát vọng tốt đẹp ban đầu của bản thân Đau đớn hơn, họ biến mình thành nạn nhâncủa chính những gì trước đây họ thù ghét Đơn cử như Phương Huyền Xước, khiphong trào cách mạng nổ ra thì anh đã tích cực tham gia, hăng hái nhiệt tình Nhưng

do sự mơ hồ về cuộc đời với thuyết một chín một mười của mình, sau này PhươngHuyền Xước bị biến thành một kẻ ích kỷ, chỉ lo vun vén cho bản thân Trường họccủa ông diễn ra phong trào bãi khóa, đòi tăng lương của giáo viên, nhưng bản thânông làm kẻ ngoài cuộc, những mong người khác đấu tranh, nếu thành công thì mình

sẽ được hưởng thành quả chung đó Ngoài ra, thái độ dửng dưng, vô tình trước khókhăn của người khác là một biểu hiện đáng phê phán Chúng ta thấy sự đớn hèn củangười trí thức qua cái cách ông Phương làm bộ buồn rầu, muốn giúp nhưng khôngbiết làm sao mà giúp được khi một người bạn hỏi vay tiền đã bộc lộ rõ sự tha hóa vềđạo đức của người trí thức Đó là thói đạo đức giả hiệu Chúng ta cũng gặp hiệntượng tương tự ở Ngụy Liên Thù và Lã Vĩ Phủ Người thì để đánh mất đi lòngthương người cao đẹp, sống thu mình lại sao cho khỏi bận bịu đến bản thân, chấp

Trang 40

nhận dạy từ viết thi văn, kinh thi với một thái độ bàng quan, vô trách nhiệm Ngườithì chìm đắm trong lối sống bê tha, phóng túng, sống chỉ vì tiền và luồn cúi dưới chân

kẻ khác và cuối cùng thì chết trong tủi cực Lã Vĩ Phủ đã từng có thời là biết độnglòng trước gia cảnh của cô bé Thuận, anh đã đừng cố gắng đem lại niềm vui cho cô

bé bằng cách ăn hết bát chè kiều mạch Anh là người cẩn trọng và chu đáo trong côngviệc khi dời mộ cho đứa em khỏi bị nước xói lở Nhưng khi đối mặt với những cáiung nhọt, xấu xa của xã hội, anh đã nghi ngờ chính bản thân mình, sống đơn điệuhơn, vô tình hơn Đặc biệt, Ngụy Liên Thù là nhân vật trượt dài hơn cả trong sự thahóa Lối sống cô độc, khép mình của anh đã để lại hậu quả lớn về nhân cách, lốisống Người đọc không thấy ở nhân vật này một sự kháng cự, dù là rất nhỏ như Lã VĩPhủ Anh cho rằng, mình phải sống vì còn nhiều việc phải làm, nhưng anh đã làmnhững gì? Tất cả còn lại cho Liên Thù là một đám tang trơ trụi Đây cũng là một bikịch đánh dấu sự kết thúc cho hàng chuỗi bi kịch trước đó

Như vậy, thái độ của Lỗ Tấn khi miêu tả những tấn bi kịch này của người trí thứcgiúp chúng ta thấy rằng: Số phận của người trí thức Nho học trong xã hội phong kiến

đã suy tàn vô cùng bi thảm Họ, nói như nguyên Chủ tịch nước Giang Trạch Dân là

"con đẻ của cuộc vật lộn quyết định sự tồn vong của dân tộc, giữa ánh sáng và bóngtối, giữa tiến lên và tụt lùi, giữa cách mạng và phản động" Do vậy, không còn mộtcách nào khác, muốn cứu lấy bản thân mình, muốn tồn tại trong một điều kiện xã hộimới, họ phải thay đổi, phải cải tạo tư tưởng, phải đặt mình trong mối quan hệ với xãhội, sống có trách nhiệm không chỉ với bản thân mà với cả thời cuộc Có như vậymới có thể tồn tại được, và là sự tồn tại có ý nghĩa Thời cuộc dưới cái nhìn tiến bộcủa Lỗ Tấn đã thay đổi rồi, và người trí thức Nho học, với những nhược điểm nhưvậy, đương nhiên phải thay đổi để có thể thích ứng được với cuộc sống mới

2.1.1.2 Vấn đề cải tạo người trí thức

Đó chính là việc chỉ ra yêu cầu tư tưởng người trí thức cần thoát khỏi tình trạng

“tư tưởng trống rỗng” và “lay chuyển quyết tâm.”

Một trong những dạng trí thức mà Lỗ Tấn quan tâm là trí thức tiểu tư sản xuấthiện trong và sau phong trào Ngũ tứ Lớp trí thức này có ưu điểm là đã tiếp thu được

ít nhiều tư tưởng cách mạng, đề xướng cải cách xã hội, đòi giải phóng cá tính, thíchtìm tòi cái mới, nhạy cảm với thời cuộc, hăng hái hoạt động Tuy nhiên, ở họ cũngtồn tại không ít nhược điểm, đó là sự dễ dàng dao động, thỏa hiệp, sợ gian khó, xa rời

thực tế, gặp thất bại thì bi quan chán nản Lã Vĩ Phủ trong Trên lầu tiệm rượu, Ngụy Liên Thù trong Người cô độc, Phương Huyền Xước trong Một gia đình hạnh

phúc là những nhân vật tiêu biểu cho dạng thức nhân vật này.

Vốn là người có lí tưởng về cuộc sống, Lã Vĩ Phủ hăng hái cải cách xã hội, đã

Ngày đăng: 04/12/2013, 10:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

văng vẳng nổi liên hồi, hình như nó hợp thành một vòm mây đặc vang rộn âm thanh, xen lẫn với những đám hoa tuyết bay múa phấp phới mà ôm ấp lấy cả cái thị trấn này - So sánh văn xuôi tự sự của lỗ tấn và nam cao
v ăng vẳng nổi liên hồi, hình như nó hợp thành một vòm mây đặc vang rộn âm thanh, xen lẫn với những đám hoa tuyết bay múa phấp phới mà ôm ấp lấy cả cái thị trấn này (Trang 140)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w