1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người kơho (nghiên cứu trường hợp thôn măng line, phường 7 và xã tà nung, đà lạt, lâm đồng)

190 106 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 190
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nghiên cứu bước đầu trong lĩnh vực truyền thông, các phương tiện truyền thông và ảnh hưởng của truyền thông đến đời sống văn hóa tinh thần dưới góc độ xã hội học cho đến nay vẫn ch

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ NHƯ THÚY

ẢNH HƯỞNG CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN

CỦA NGƯỜI KƠHO

(Nghiên cứu trường hợp thôn Măng line, phường 7 và Xã Tà Nung, Đà Lạt, Lâm Đồng)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ NHƯ THÚY

ẢNH HƯỞNG CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN

CỦA NGƯỜI KƠHO

(Nghiên cứu trường hợp thôn Măng line, phường 7 và Xã Tà Nung, Đà Lạt, Lâm Đồng)

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

DẪN NHẬP 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 4

2.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4

2.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 4

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 6

5 Các phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu 6

6 Bố cục của luận văn 8

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 9

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

1.1.1 Những nghiên cứu về đồng bào dân tộc thiểu số 9

1.1.2 Những nghiên cứu về truyền thông đại chúng và những thay đổi văn hóa xã hội trên thế giới cũng như ở Việt Nam 12

1.1.3 Những nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thần 19

1.2 Cơ sở lý luận và phương pháp luận 21

1.3 Cách tiếp cận trong nghiên cứu 24

1.3.1 Cách tiếp cận lối sống 24

1.3.2 Cách tiếp cận văn hóa 25

1.4 Một số khái niệm cơ bản 26

1.4.1 Ảnh hưởng 26

1.4.2 Truyền thông và đại chúng 26

1.4.3 Các phương tiện truyền thông đại chúng 27

1.4.4 Dân tộc Kơho 27

1.4.5 Văn hóa 28

1.4.6 Khái niệm đời sống văn hóa 29

1.4.7 Văn hóa tinh thần 29

1.4.8 Đời sống tinh thần 30

1.5 Giả thuyết nghiên cứu 30

1.6 Mô hình khung phân tích 31

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨUVÀ MỨC SỐNG CỦA CÁC CÁ NHÂN 32

2.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu 32

Trang 4

2.2 Báo chí, phát thanh, truyền hình Đà lạt 35

2.3 Vài nét về cuộc nghiên cứu thực nghiệm 37

2.3.1 Mô tả mẫu điều tra 37

2.3.2 Điều kiện sống 40

Chương 3 ẢNH HƯỞNG CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI KƠHO 44

3.1 Các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của người Kơho 44

3.1.1 Các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống trong gia đình người Kơho 44

3.1.2 Các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống trong cộng đồng, thôn/bản của người Kơho 47

3.2 Truyền thông đại chúng ngày càng mở ra nhiều khả năng lựa chọn trong việc vui chơi, giải trí, theo dõi thông tin và sinh hoạt văn hóa 53

3.2.1 Mức độ theo dõi các phương tiện truyền thông đại chúng của người Kơho 54

3.2.2 Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho 58

3.2.2.1 Ảnh hưởng của truyền hình 59

3.2.2.2 Ảnh hưởng của truyền thanh (radio) 66

3.2.2.3 Ảnh hưởng của báo in 70

3.2.3 Những đánh giá về ảnh hưởng của truyền hình (tivi), phát thanh và báo in đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho 73

3.3 Nhu cầu để nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho và sự đầu tư vào các cơ sở, dịch vụ truyền thông 75

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81

1 Kết luận 81

1.1 Truyền thông đại chúng mở ra nhiều cơ hội mới bên cạnh các hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống 81

1.2 Ảnh hưởng mạnh từ truyền hình và xu hướng yếu hơn của đài phát thanh và báo in trong đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho 83

1.3 Các hoạt động sinh hoạt văn hóa tinh thần của người Kơho đều nằm trong mối quan hệ gia đình, cộng đồng, làng/xã 85

1.4 Xu hướng “thiếu thông tin” của người Kơho và nhu cầu trùng tu, duy trì, phát triển các giá trị văn hóa truyền thống 86

2 Những khuyến nghị và đề xuất 88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC A 94

Trang 5

PHỤ LỤC B 116

Trang 6

LỜI CÁM ƠN

Quá trình ngồi trên ghế giảng đường giúp cho bản thân tôi học được nhiều kiến thức trong sách vở, học được những kinh nghiệm sống, kinh nghiệm thiết lập các quan hệ xã hội,… để từ đó chuẩn bị cho mình một hành trang với đầy đủ những

kỹ năng, tri thức và thái độ để bước vào cuộc sống với bao khó khăn Điều đó cũng cho thấy rằng “học” không phải là một khái niệm đơn giản, mà đó là một khái niệm cần rất nhiều yếu tố như phải có người dạy học, người dẫn dắt, hướng dẫn và yếu tố người học cùng với các phương tiện kỹ thuật, các bài giảng,… và giữa chúng luôn

có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau, có tác động qua lại lẫn nhau để cùng phát triển, tiến bộ Tuy nhiên, trong đó phải nói đến vai trò của người Thầy, người Thầy giữ vị trí rất quan trọng, vì người Thầy sẽ định hướng, hướng dẫn chúng ta giải quyết các vấn đề, giúp chúng ta tiến tới những tri thức mới, tầm cao mới

Để hoàn thành bài luận văn Thạc sĩ này, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Hữu Quang, người đã dành nhiều thời gian và công sức để đọc, chỉnh sửa và góp ý cho tôi cả về nội dung cũng như cách thức tiến hành thu thập, xử lý thông tin và cách thức trình bày Nếu không có những ý kiến đóng góp quý báu của PGS.TS Trần Hữu Quang thì tôi sẽ không hoàn thành được luận văn này Tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành đến quý Thầy giáo, Cô giáo thuộc Khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh; quý Thầy giáo, Cô giáo thuộc viện Phát triển bền vững vùng Nam bộ, các Thầy giáo trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, đại học Công đoàn đã nhiệt tình chỉ bảo, truyền đạt những kiến thức chuyên môn cho tôi trong suốt thời gian ngồi trên ghế nhà trường Nhân đây tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn đến các em sinh viên lớp XHH K30; lớp XHH K31 (Đại học Đà Lạt)-những người đã giúp chúng tôi thu thập thông tin tại địa bàn Tôi cũng xin cám ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu trường Đại học Đà Lạt; tập thể quý Thầy, Cô khoa Xã hội học và Công tác xã hội (Đại học Đà Lạt) đã góp ý và tạo điều kiện về mặt thời gian cho tôi đi học và nghiên cứu Tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến gia đình tôi gồm ba mẹ, anh, chị, em và chồng, con tôi đã luôn ở bên tôi để động viên, chia sẽ những lúc tôi gặp khó khăn tưởng chừng như bỏ cuộc, kết quả này xem như một món quà tôi dành tặng đến những người thương yêu nhất của tôi!

HVCH: Nguyễn Thị Như Thúy

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, đề tài nghiên cứu này chưa có ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác

Số liệu được phân tích và dẫn chứng trong đề tài là kết quả nghiên cứu thực nghiệm mà tôi đã tiến hành thực hiện tại thôn Măng line, phường 7 và xã

Tà Nung, Đà Lạt, Lâm Đồng từ tháng 09 năm 2009 đến tháng 12 năm 2011

Đà Lạt, ngày 29 tháng 12 năm 2011

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Như Thúy

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

Con người là trung tâm của xã hội, là chủ thể sáng tạo ra sản phẩm để duy trì

sự tồn tại và phát triển của xã hội Đồng thời con người cũng chính là chủ thể của những thay đổi trong đời sống xã hội; vì vậy để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người thì chính bản thân họ không ngừng tìm tòi, sáng tạo ra cái mới; không chỉ

là công cụ, tư liệu sản xuất mà cả trong nhu cầu thông tin liên lạc Trong đó phải kể đến những thành quả trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đặc biệt là sự ra đời của các phương tiện truyền thông đại chúng ở thế kỷ XX

Các phương tiện truyền thông đại chúng là một trong những sản phẩm của quá trình lao động, sáng tạo của con người để đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc, vui chơi giải trí, theo dõi thông tin hay sinh hoạt văn hóa,…

Từ khi mới ra đời, các phương tiện truyền thông đại chúng đã nhanh chóng xâm nhập vào đời sống của công chúng trên tất cả các phương diện như kinh tế, văn hóa, xã hội,… và đã tạo ra những thay đổi, khởi sắc mới trong đời sống của công chúng không phân biệt địa vị, vai trò, tuổi, nghề nghiệp,… Hơn nữa việc đáp ứng nhu cầu về đời sống văn hóa tinh thần là một trong những vấn đề nổi bật hàng đầu, bởi việc đáp ứng nhu cầu về văn hóa tinh thần góp phần vào việc bồi dưỡng những giá trị bên trong của con người, giúp họ có được một cơ thể khỏe mạnh, một trí não hoàn thiện, một tâm hồn trong sáng

Đặc biệt ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của con người là một trong những chỉ báo quan trọng để nhìn nhận được sự phát triển, tiến bộ của con người trong quá trình tiếp thu, tiếp biến các giá trị văn hóa mới cũng như bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng, xã hội Thông qua đó chúng ta có thể thấy được sự phát triển hài hòa, bổ sung cho nhau hay

là sự khác biệt, khập khiễng giữa các giá trị văn hóa truyền thống với các giá trị văn hóa mới do các phương tiện truyền thông mang lại Đồng thời điều này cũng cho thấy vai trò của từng phương tiện truyền thông đại chúng trong đời sống văn hóa tinh thần mà giới công chúng quan tâm

Tuy nhiên, lĩnh vực này ở Việt Nam hầu như chưa được nghiên cứu nhiều

và chuyên sâu Với ý nghĩa đó, chúng tôi tiến hành tìm hiểu “ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho” trên hai địa bàn là

Trang 9

thôn Măng line và xã Tà Nung (Đà Lạt, Lâm Đồng) để thấy được những vấn đề đó Điều này được chúng tôi trình bày, phân tích trong ba chương chính: chương 1 Cơ

sở lý luận và phương pháp luận; chương 2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và mẫu điều tra; chương 3 Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho ở thôn Măng line và xã Tà Nung; và phần kết luận, khuyến nghị Thông qua ba chương này, người đọc có thể hình dung ra một bức tranh toàn cảnh về sự phát triển của các phương tiện truyền thông đại chúng và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho cũng như việc duy trì

và phát triển các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống trong nhóm công chúng là người Kơho, đồng thời cũng cho thấy được sự ảnh hưởng không đồng đều giữa các loại phương tiện truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của họ

Trang 10

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

Trang 11

ấn, điện tử, viễn thông, tin học,… đã trở thành những “đôi hia bảy dặm” giúp cho các phương tiện truyền thông đại chúng phát triển và xâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội – từ kinh tế, văn hóa, chính trị, nghệ thuật, cho đến sản xuất, buôn bán, học hành, giải trí” để thấy được vai trò và sức mạnh của các

phương tiện truyền thông đại chúng trong sự phát triển không ngừng của xã hội Điều kiện sống được ngày một nâng cao thì đời sống vật chất và tinh thần của người dân cũng ngày càng được cải thiện

Chúng ta biết rằng, đời sống văn hóa tinh thần là hoạt động không thể thiếu được trong đời sống con người Hoạt động này không trực tiếp làm ra của cải vật chất, nhưng nó có vai trò quan trọng trong việc cân bằng đời sống, giúp con người

có được những giây phút thảnh thơi, thư giãn, giải tỏa được sự căng thẳng của trí não; góp phần phục hồi, tái tạo sức lao động Đời sống văn hóa tinh thần còn có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành và hoàn thiện nhân cách, định hình lối sống của con người Dù ở nhiều mức độ khác nhau, nhưng mỗi cá nhân đều có nhu cầu văn hóa tinh thần, và việc hưởng thụ đời sống văn hóa tinh thần cũng có nhiều biểu hiện khác nhau qua các thời kỳ, điều này gắn liền với sự phát triển của truyền thông đại chúng, các phương tiện và điều kiện giải trí về văn hóa – tinh thần ngày càng phát triển mạnh mẽ, tạo điều kiện cho việc đáp ứng nhu cầu của mỗi thành viên trong xã hội Thông qua quá trình tiếp cận các phương tiện giải trí, đặc biệt là qua các thông điệp truyền thông, các khuôn mẫu và giá trị văn hóa cũng được phổ biến

và tác động đến nhận thức, hành vi của mỗi người

Trang 12

Trong xu thế đó, giới công chúng – không phân biệt điều kiện địa lý, địa vị, vai trò hay cơ cấu xã hội khác nhau đều được các phương tiện truyền thông đại chúng truyền tải những nội dung thông tin cần thiết Điều đó cũng chứng tỏ rằng, Đảng và Nhà nước, các cơ quan ban ngành đã và đang cố gắng từng bước hoàn thiện mạng lưới truyền thông nhằm đáp ứng nhu cầu mong đợi của đông đảo công chúng Tây Nguyên nói chung và Lâm Đồng nói riêng là vùng nằm trong sự quan tâm và đầu tư đó

Mặt khác, Tây Nguyên là một vùng có diện tích khá rộng với số dân sinh sống khá đông, và tập trung chủ yếu là đồng bào các dân tộc ít người, để tạo dựng một đất nước phát triển vững mạnh và toàn diện; đồng thời tăng cường tinh thần đoàn kết các dân tộc anh em Trong những năm qua, chính sách của Đảng và nhà nước luôn hướng về các đồng bào dân tộc ít người, đặc biệt là việc đầu tư chăm sóc đời sống vật chất cũng như tinh thần Tuy nhiên, đồng bào dân tộc ít người sinh sống tại các huyện vùng sâu, vùng xa nên việc đáp ứng được nhu cầu truyền thông đại chúng còn gặp nhiều trở ngại, phải chăng điều đó sẽ làm cho nhu cầu tiếp nhận truyền thông đại chúng của đồng bào dân tộc ít người còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế? Và từ đó làm cho mức độ ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho nói riêng chưa thực sự mạnh và đi sâu vào cuộc sống của họ

Trên địa bàn Tây Nguyên, Lâm Đồng là tỉnh có dân cư sinh sống là đồng bào dân tộc ít người chiếm tỷ lệ cao nhất, cụ thể có ba tộc người bản địa là dân tộc Kơho, dân tộc Mạ và dân tộc Churu Trong đó Kơho là tộc người chiếm số lượng đông nhất Khoảng 112.926 người Kơho sinh sống trên đất Lâm Đồng (theo số liệu tổng điều tra tháng 4/1999, cư dân Kơho trên toàn quốc là 129.723 người); theo các nhà dân tộc học, người Kơho bao gồm nhiều nhóm địa phương như Kơho Srê chiếm lượng đông nhất, cư trú chủ yếu tại Gung Ré, Bảo Thuận, Đinh Lạc huyện Di Linh; Kơho K’Yòn sống chủ yếu tại hai xã thuộc huyện Di Linh là Đinh Trang Hòa và Tân Thượng; Kơho Nộp sống chủ yếu tại hai xã Sơn Điền và Gia Bắc huyện Di Linh; Kơho Chil sống chủ yếu trên đại bàn ba xã Đầm Ròn huyện Đam Rông, các

xã Đạ Sar, Đạ Chais, Long Lanh của huyện Lạc Dương và một phần nhỏ ở một số

Trang 13

xã thuộc huyện Lâm Hà; Kơho Lạch sống chủ yếu ở xã Lát huyện Lạc Dương và một số khu vực nhỏ cận Đà Lạt1

Những nghiên cứu bước đầu trong lĩnh vực truyền thông, các phương tiện truyền thông và ảnh hưởng của truyền thông đến đời sống văn hóa tinh thần dưới góc độ xã hội học cho đến nay vẫn chỉ chủ yếu tập trung vào giới công chúng tại các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh Còn việc nghiên cứu mảng

đề tài này dưới góc độ xã hội học trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên còn nhiều hạn chế, và các nghiên cứu hướng vào giới công chúng là đồng bào dân tộc ít người thì lại càng hiếm hoi; vì vậy cần có những công trình nghiên cứu cụ thể hơn nhằm mô

tả và phản ánh được nhu cầu tiếp nhận truyền thông đại chúng của đồng bào dân tộc

ít người, những ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của họ, từ đó có thể đưa ra các giải pháp và khuyến nghị nhằm không ngừng hoàn thiện và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho đồng bào các dân tộc ít người tại các tỉnh Tây Nguyên

Xuất phát từ những ý tưởng đó, chúng tôi muốn đi sâu tìm hiểu ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho tại thôn Măng line (Phường 7, Đà Lạt) và xã Tà Nung (Đà Lạt) dưới góc nhìn xã hội học để

có thể trả lời được một số câu hỏi mà tác giả đặt ra như: Nhu cầu tiếp nhận truyền thông đại chúng của người Kơho hiện nay như thế nào? Người Kơho dành bao

nhiêu thời gian cho việc theo dõi các phương tiện truyền thông? Người Kơho dành

sự quan tâm của mình tới những nội dung nào trên các phương tiện truyền thông?

Từ đó đi tìm những ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho ra sao? Có hay không các hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần truyền thống xen lẫn với các hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần mới do truyền thông đại chúng mang lại? Có sự khác biệt nào trong ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho ở thôn Măng line (Phường 7, Đà Lạt) và xã Tà Nung (Đà Lạt) hay không? Những nội dung mới của truyền thông mang lại có tương thích với cuộc sống của người Kơho hay không?

Những thông tin chúng tôi thu thập được hy vọng sẽ được sử dụng làm tài liệu tham khảo, đồng thời kết quả này sẽ là một phần cho việc hình thành một công trình nghiên cứu có quy mô lớn hơn Xuất phát từ những ý tưởng đó, chúng tôi chọn

1 Vài nét về văn hóa các dân tộc thiểu số Tây Nguyên ở Lâm Đồng Sở Văn hóa Thông tin Lâm Đồng 2005,

tr 7

Trang 14

đề tài “Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho (Nghiên cứu trường hợp thôn Măng line (Phường 7, Đà Lạt) và xã Tà

Nung (Đà Lạt)” làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình

2 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu được chúng tôi xác định là “Ảnh hưởng của truyền

thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho”

Khách thể nghiên cứu được chúng tôi xác định là người Kơho có độ tuổi từ

18 đến 60 tuổi đang sinh sống tại thôn Măng line (Phường 7, Đà Lạt) và xã Tà Nung (Đà Lạt , Lâm Đồng)

Sở dĩ chúng tôi chọn hai điểm khảo sát này vì thôn Măng line nằm gần trung tâm thành phố Đà Lạt, nơi đã diễn ra quá trình đô thị hóa khá sớm; còn xã Tà Nung

là một xã vùng ven, nằm khá xa so với trung tâm thành phố Đà Lạt (phần này sẽ được trình bày trong phần khái quát địa bàn nghiên cứu ở chương 2) Từ những khác biệt về vị trí địa lý và sự phát triển nói chung của hai địa bàn như vậy chúng tôi muốn tìm hiểu xem có sự khác biệt nào trong ảnh hưởng của truyền thông đại

chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho hay không

2.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Với đối tượng nghiên cứu trên chúng tôi tiến hành khảo sát tại thôn Măng line (Phường 7, Đà Lạt) và xã Tà Nung (Đà Lạt, Lâm Đồng) Đây là vùng có dân cư sinh sống chủ yếu là người Kơho

Thời gian khảo sát thu thập thông tin tại hiện trường từ tháng 9/2009 đến tháng 12/2009

Trong khuôn khổ của đề tài luận văn cao học, chúng tôi giới hạn nội dung nghiên cứu truyền thông đại chúng ở việc khảo sát ba loại phương tiện hưởng thụ văn hóa là:

(1) Truyền hình (Ti vi); (2) Truyền thanh (Radio); (3) Báo in

Chúng tôi muốn chọn ba loại phương tiện truyền thông này để khảo sát vì lý do: Truyền hình, truyền thanh và báo in là ba loại phương tiện truyền thông ra đời khá sớm ở Việt Nam và trên thế giới, và nó có thể truyền tải những nội dung thông tin cần thiết và bổ ích đến đông đảo công chúng không phân biệt địa vị xã hội hay các đặc điểm cá nhân Vấn đề này ở các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí

Trang 15

Minh, Hà Nội đã được nghiên cứu khá nhiều Tuy nhiên, chúng tôi muốn tìm hiểu xem ở nông thôn, đặc biệt ở khối công chúng là đồng bào dân tộc ít người, cụ thể là người Kơho thì vấn đề này được tiếp nhận như thế nào, mức độ ra sao, nội dung và thời lượng, điều kiện tiếp nhận như thế nào, mục đích dùng đến các phương tiện này

là gì

Từ ba nội dung trên, chúng tôi giới hạn nội dung nghiên cứu ở việc khảo sát

sự ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho qua ba hoạt động chính là:

(1) Hoạt động vui chơi, giải trí; (2) Hoạt động theo dõi thông tin; (3) Hoạt động sinh hoạt văn hóa

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở khảo sát hai trường hợp, mục tiêu cụ thể mà đề tài hướng đến là: Khảo sát, mô tả và nhận diện nhu cầu tiếp nhận truyền thông đại chúng của người Kơho trên các phương diện mức độ, nội dung, thời lượng, điều kiện tiếp nhận

Khảo sát, mô tả những giá trị trong đời sống văn hóa tinh thần truyền thống

và những ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho trên ba phương diện là hoạt động vui chơi giải trí, hoạt động theo dõi thông tin, hoạt động sinh hoạt văn hóa Tìm hiểu xem phải chăng có sự khác biệt giữa ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho ở thôn Măng line và xã Tà Nung

Tìm hiểu những khó khăn và thuận lợi của ảnh hưởng truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho ở thôn Măng line và xã Tà Nung

Những kết quả nghiên cứu được sẽ góp phần vào việc dự báo về xu hướng ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho hiện nay, đồng thời chúng tôi hy vọng sẽ có được những thông tin tư liệu cho bạn đọc có thể tham khảo

Nhiệm vụ mà đề tài hướng đến là làm rõ thực trạng đời sống văn hóa tinh thần truyền thống và những ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho trên hai địa bàn khảo sát

Trang 16

4 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa lý luận của đề tài

Đề tài này mong muốn đóng góp vào lý luận của chuyên ngành xã hội học về truyền thông nói chung và những nghiên cứu về ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho nói riêng thông qua việc nhận diện thực trạng, nhu cầu sử dụng và tâm thế tiếp nhận các phương tiện truyền thông đại chúng

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho và các yếu tố tác động đến đời sống văn hóa tinh thần của họ, mà cụ thể là ba hoạt động chính bao gồm vui chơi giải trí, theo dõi thông tin

và sinh hoạt văn hóa, chúng tôi hy vọng sẽ giúp cho các nhà quản lý có một cách nhìn trung thực và khách quan hơn, đồng thời hiểu rõ thực trạng, từ đó đưa ra những khuyến nghị về chính sách nhằm đáp ứng tốt hơn những nhu cầu và mong muốn của

họ, từng bước nâng cao khả năng tiếp nhận truyền thông đại chúng và những ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần cho đồng bào dân tộc ít người, một thành phần dân tộc đã và đang góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế của đất nước

Bên cạnh đó, với đề tài này, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần cung cấp thêm những nguồn dữ liệu để các khóa sau có thể tham khảo và đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần trong giới công chúng là đồng bào dân tộc ít người

5 Các phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu

Đề tài là một cuộc khảo cứu thực nghiệm xã hội học, vì vậy chúng tôi chọn một số phương pháp nghiên cứu chuyên ngành đã được đào tạo để áp dụng trong đề tài, cụ thể như sau

Phương pháp thu thập và xử lý thông tin, tư liệu thứ cấp sẵn có: Phương

pháp này xuất phát từ việc tìm đọc và chắt lọc các tư liệu thông qua sách báo, Internet, tạp chí, các báo cáo khoa học, các thống kê, báo cáo tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của thôn Măng line, xã Tà Nung về truyền thông và dân tộc ít người, những nghiên cứu về ảnh hưởng, tác động của truyền thông đến đời sống văn hóa

Trang 17

tinh thần của người dân, đặc biệt trong giới công chúng là đồng bào dân tộc ít người

Các tư liệu này được chúng tôi tổng thuật, lược thuật theo các chủ đề thông qua phần tổng quan tài liệu để thấy rõ những mặt mạnh, mặt yếu của các nghiên cứu trước, đồng thời nắm bắt được những phương pháp mà các tác giả khác sử dụng để rút kinh nghiệm cho bản thân trong quá trình triển khai nghiên cứu thực địa Từ đó

có một cái nhìn tổng quát và toàn diện cho vấn đề nghiên cứu của mình

Phân tích các tư liệu sẵn có về điều kiện địa lý kinh tế, văn hóa xã hội, chính trị của thôn Măng line (Phường 7) và xã Tà Nung (Đà Lạt) nhằm bổ sung cho phần

phân tích bảng hỏi và phỏng vấn sâu

Phương pháp thu thập và xử lý thông tin định lượng: Đây là phương pháp

thu thập thông tin dựa trên bản câu hỏi ăng-kết Bản hỏi bao gồm 45 câu hỏi chính;

trong đó có cả câu hỏi mở, câu hỏi đóng, câu hỏi vừa mở vừa đóng

Về cách chọn mẫu: Do không có điều kiện triển khai trên một lượng mẫu

lớn, chúng tôi đã chọn điểm khảo sát là ở thôn Măng line (Phường 7, Đà Lạt) và xã

Tà Nung (Đà Lạt) tiến hành chọn mẫu chỉ tiêu để lấy ra 120 trường hợp (60 mẫu/điểm) phỏng vấn có độ tuổi từ 18 đến 60 tuổi(cơ cấu mẫu sẽ được phân tích cụ thể ở chương 2)

Thông qua đội ngũ cộng tác viên (các bạn đồng nghiệp, các em sinh viên xã hội học K30, xã hội học K31 - Trường Đại học Đà Lạt) được tập huấn, chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp đối với từng đơn vị mẫu

Từ kết quả khảo sát tại thực địa thông qua bản câu hỏi, các thông tin định lượng được xử lý cho ra các số liệu thống kê mô tả và phân tổ theo các yếu tố như cộng đồng, gia đình nhằm khảo sát tác động của những nhân tố này trong việc hưởng thụ các giá trị văn hóa làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của mình Các câu hỏi mở được phân nhóm và tiến hành mã hóa, xử lí như câu hỏi đóng

Phương pháp thu thập và xử lý thông tin định tính: Phỏng vấn sâu bán cơ cấu

14 đối tượng, cụ thể như sau:

 Hai cuộc phỏng vấn sâu bán cơ cấu dành cho trưởng thôn, xã

 Hai cuộc phỏng vấn sâu bán cơ cấu dành cho người phụ trách phòng văn hóa thông tin

Trang 18

 10 cuộc phỏng vấn sâu bán cơ cấu dành cho người dân ở thôn Măng line và

xã Tà Nung trong độ tuổi từ 18 đến 60 tuổi

Để tiến hành phỏng vấn sâu bán cơ cấu với đối tượng là cán bộ thôn, xã và người dân trong độ tuổi từ 18 đến 60 tuổi, chúng tôi liệt kê những vùng chủ đề

chính (Các vùng chủ đề này sẽ được trình bày ở phần phụ lục của luận văn) và xem

đây là trọng tâm của vấn đề để từ đó đi sâu tìm hiểu các nội dung mà đề tài quan tâm thông qua cuộc trò chuyện thân mật, vui vẻ cùng người dân Các thông tin định tính được trích dẫn vào luận văn để bổ sung và làm phong phú thêm cho các nhận định, các thông tin từ kết quả xử lý số liệu

6 Bố cục của luận văn

Đề tài này được chúng tôi trình bày qua ba phần:

 Dẫn nhập

 Phân tích nội dung từ những kết quả chúng tôi nghiên cứu thực địa tại thôn Măng line, (Phường 7) và xã Tà Nung (Đà Lạt, Lâm Đồng)

 Kết luận và khuyến nghị

Trang 19

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Cuộc sống của chúng ta ngày một nâng cao, cách mạng khoa học kỹ thuật ngày một phát triển và tác động mạnh đến đời sống của con người trên mọi phương diện Trong xu thế đó, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ngày càng giữ vai trò và vị trí quan trọng trong sự phát triển toàn diện của bộ mặt đất nước, trong đó việc đầu tư, chăm sóc các đồng bào dân tộc ít người ở Tây Nguyên là một trong những mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội

và phát huy khối đại đoàn kết dân tộc Sự phát triển không ngừng về mặt kinh tế – văn hóa – xã hội đã và đang từng bước nâng cao đời sống của người dân nơi đây

Do đó, những nhu cầu và mong muốn cải thiện và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cũng trỗi dậy trong mỗi con người Việc nghiên cứu truyền thông đại chúng nói chung và nhu cầu tiếp nhận truyền thông đại chúng của từng khối công chung nói riêng cũng đã được một số nhà nghiên cứu đề cập đến ở các mức độ khác nhau Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi tiến hành tổng thuật các công trình nghiên cứu theo ba vùng chủ đề chính là (1) Những nghiên cứu về đồng bào dân tộc ít người; (2) Những nghiên cứu về truyền thông đại chúng và những thay đổi văn hóa

xã hội trên thế giới cũng như ở Việt Nam; (3) Những nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thần Nội dung cụ thể được trình bày như sau

1.1.1 Những nghiên cứu về đồng bào dân tộc thiểu số

Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và Giao lưu văn hóa - Chương trình Thái

học Việt Nam thông qua công trình nghiên cứu Văn hóa và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam (2002) để trình bày về lịch sử, văn hóa, kinh

tế, xã hội nhằm nâng cao hiểu biết về các dân tộc ít người, góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc, tạo lập cơ sở khoa học cho các giải pháp hữu hiệu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố và nâng cao tinh thần đoàn kết dân tộc, thực hiện thành công các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Đây là chương trình áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, kết hợp dân tộc học với các ngành khoa học liên quan như sử học, xã hội học, ngôn ngữ học, văn hóa dân gian, địa lý, môi trường Đây là một công trình nghiên cứu bằng điều tra khảo sát

Trang 20

thực địa, và được tiến hành chủ yếu là các tỉnh miền Bắc như Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Yên Bái… Cũng trên tinh thần đó, tác giả Mai Quỳnh Nam với

bài viết Báo thiếu nhi dân tộc và công chúng thiếu nhi dân tộc (2005) đã đề cập đến

việc đọc báo của thiếu nhi dân tộc tại một số tỉnh phía Bắc Qua bài viết, chúng ta phần nào hiểu thêm được rằng, ít nhiều đã có một số loại phương tiện truyền thông

đã hướng đến một nhóm công chúng là dân tộc ít người ở những vùng cao, vùng sâu Điều này cũng minh chứng rằng báo chí không còn xa lạ với những nhóm công chúng là dân tộc Thông qua việc áp dụng phương pháp liên ngành trên, chúng tôi muốn vận dụng một phương pháp nghiên cứu chuyên ngành cụ thể xã hội học để tìm hiểu về nhu cầu tiếp nhận truyền thông đại chúng trong đồng bào dân tộc ít người, cụ thể là người Kơho tại thôn Măng line (Phường 7, Đà Lạt) và xã Tà Nung (Đà Lạt) một lĩnh vực văn hóa của đồng bào dân tộc ít người

Để hiểu sâu hơn về nhận thức của các dân tộc thiểu số, tác giả Trịnh Quang Cảnh phản ánh thực trạng đội ngũ trí thức là dân tộc thiểu số của nước ta hiện nay

trong cuốn Phát huy vai trò đội ngũ trí thức các dân tộc thiểu số nước ta trong sự nghiệp cách mạng hiện nay (2005) Theo tác giả Trịnh Quang Cảnh, trí thức người

dân tộc thiểu số là lực lượng trực tiếp tham gia lao động sáng tạo trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội vùng núi, vùng dân tộc thiểu số; trên tinh thần đó, tác giả cho biết rằng, lực lượng trí thức người dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, không đồng bộ về cơ cấu, thiếu kế hoạch đào tạo và đang có xu hướng giảm dần so với tri thức người Kinh Chất lượng của trí thức người dân tộc thiểu số không được bồi dưỡng thường xuyên Tình trạng sút kém về số lượng và chất lượng của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số có nguyên nhân sâu xa từ hiện trạng mang tính xã hội đó là sự sút kém về giáo dục ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số (đặc biệt vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn) trong nhiều năm qua Đồng thời, còn do sự thiếu hợp lý trong hoạch định chính sách xã hội đối với trí thức người dân tộc thiểu số, làm ảnh hưởng đến lòng nhiệt tình và hiệu quả công tác của trí thức người dân tộc thiểu số hiện tại cũng như trí thức tương lai đang được đào tạo ở các trường trung học, cao đẳng, đại học Công trình này được chúng tôi ứng dụng vào đề tài để xem học vấn có ảnh hưởng như thế nào đến nhu cầu tiếp nhận truyền thông đại chúng trong đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho trên địa bàn nghiên cứu

Trang 21

Sở Văn hóa Thông tin Lâm Đồng (2005) cho ra đời cuốn sách Vài nét văn hóa các dân tộc thiểu số Tây Nguyên ở Lâm Đồng, cuốn sách này tập hợp một số

công trình nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong những năm đã qua nhằm giới thiệu khái quát về các dân tộc bản địa Lâm Đồng; cũng như một số lĩnh vực văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của dân tộc Kơho, dân tộc Mạ và dân tộc ChuRu Theo thống kê mà tác giả cuốn sách đề cập thì

có ba tộc người bản địa ở Lâm Đồng, trong đó Kơho là tộc người chiếm số lượng đông nhất Khoảng 112.926 người Kơho sinh sống trên đất Lâm Đồng (theo số liệu tổng điều tra tháng 4/1999, cư dân Kơho trên toàn quốc là 129.729 người); số còn lại phân bố ở một số tỉnh lân cận như: Đồng Nai, Bình Thuận, Ninh Thuận Để giới

thiệu sâu hơn về dân tộc Kơho, tác giả Phan Ngọc Chiến (chủ biên) đã viết Người Kơho ở Lâm Đồng, đây là một nghiên cứu nhân học về dân tộc và văn hóa, được

Nhà xuất bản Trẻ giới thiệu vào năm 2005, bài viết này được trình bày cùng với nhiều bài viết của nhiều tác giả đến từ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Lạt Sách gồm có hai phần Phần I là những bài viết về những vấn đề học thuật và lý thuyết trong nhân học liên quan đến thành phần dân tộc, bản sắc dân tộc và văn hóa Mối tương quan giữa văn hóa và bản sắc dân tộc là một vấn đề đa dạng mà ngành nhân học, với những lý thuyết và phương pháp nghiên cứu riêng của nó, đã có những đóng góp quan trọng Phần II gồm những bài viết về một số khía cạnh sinh hoạt kinh tế, xã hội và văn hóa nổi bật của người Kơho và người Cil ở Lâm Đồng, cùng với một phân tích tài liệu thư tịch và điền dã về bản sắc và thành phần dân tộc của họ

Hai cuốn sách nói trên giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về các dân tộc ít người thông qua phong tục, tập quán, tín ngưỡng của họ; điều này sẽ giúp chúng tôi thuận lợi hơn trong việc thu thập thông tin thực tế tại địa bàn cũng như giúp chúng tôi thống nhất được cách viết về dân tộc Kơho

Cũng nghiên cứu về các dân tộc anh em, trong cuốn Việt Nam – Hình ảnh cộng đồng 54 dân tộc (2006) của Thông Tấn Xã Việt Nam và Sổ tay về các Dân tộc

ở Việt Nam (2008) của Viện Dân tộc học đã đem đến cho độc giả một bức tranh

toàn cảnh về 54 dân tộc của Việt Nam, cùng với những đặc điểm kinh tế, văn hóa,

xã hội phong tục, tập quán của các dân tộc Việt Nam Qua đó, “chân dung” của các dân tộc anh em được trình bày một cách khá tỉ mỉ, thể hiện được sự tiếp nối truyền

Trang 22

thống đoàn kết, đùm bọc nhau, dựng nước, giữ nước cả ngàn năm, là nâng cao và giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam được hình thành từ những đặc trưng văn hóa của

cả cộng đồng 54 dân tộc anh em Bằng những dẫn luận khá sắc sảo, hai cuốn sách này đã mang đến một bức tranh toàn cảnh về điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc Việt Nam; từ điều kiện địa lý, đến nơi cư trú, điều kiện sản xuất, ngôn ngữ, văn hóa, tập tục… của các dân tộc khác nhau Với những điều kiện khác nhau

ấy đã hình thành nên những nét riêng biệt về đời sống, văn hóa (phong tục, tập quán,…) của các dân tộc Tuy nhiên, tinh thần đoàn kết toàn dân đã làm cho cộng đồng dân tộc Việt Nam không ngừng lớn mạnh, vững vàng trên con đường dựng nước và giữ nước Đây là một công trình mang đậm tính dân tộc học, còn dưới góc

độ xã hội học vẫn còn là một vấn đề cần được quan tâm xem xét

Bài viết đã cung cấp phương pháp luận trong nghiên cứu về các dân tộc, là bài học mà chúng tôi muốn vận dụng để tìm hiểu sâu hơn về người Kơho trong việc tiếp nhận truyền thông đại chúng

1.1.2 Những nghiên cứu về truyền thông đại chúng và những thay đổi văn hóa xã hội trên thế giới cũng như ở Việt Nam

Việc nghiên cứu về mảng truyền thông đại chúng diễn ra rất nhiều trên thế

giới trên cả hai phương diện vi mô và vĩ mô “Còn ở Việt Nam cho đến nay, trên lĩnh vực nghiên cứu xã hội học về truyền thông đại chúng có lẽ chưa nhiều” (theo nhận định của tác giả Trần Hữu Quang trong cuốn Xã hội học về truyền thông đại chúng, 1997); và “ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu xã hội học về báo chí

đã ít, mà nghiên cứu xã hội học về phát thanh hay truyền hình thì lại càng hiếm hoi” (x các kết quả điều tra thăm dò ý kiến độc giả và tổng hợp ý kiến độc giả của các tờ báo Sài gòn giải phóng vào năm 1986, Khoa học và Phát triển 1986, Tuổi trẻ

1989 và 1995, Thời báo Kinh tế Sài gòn 1995 và 1997 của Trần Hữu Quang,

Nguyễn Thu Sa, Võ Công Nguyện, Đỗ Đình Tấn…- dẫn lại theo Trần Hữu Quang,

2000 Tóm tắt luận án Tiến sĩ xã hội học: Truyền thông đại chúng và công chúng – trường hợp Thành phố Hồ Chí Minh, trang 5)

Trên thế giới

Marshall McLuhan (1964) đưa ra quan điểm về vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng, coi đây là những công cụ giao lưu có khả năng liên kết cả loài người vào trong một thứ cộng đồng điện tử mới mà ông gọi là “ngôi làng toàn

Trang 23

cầu” (global village) ; và quan điểm này được tác giả Trần Hữu Quang luận giải và

trình bày trong cuốn Xã hội học về truyền thông đại chúng (1997) Đồng thời cũng

theo tác giả Trần Hữu Quang thì có những tác giả khác lại có cái nhìn hoài nghi hơn: họ lo ngại rằng những cá nhân hoặc những tập đoàn tư bản vốn nắm trong tay các phương tiện truyền thông đại chúng có thể sử dụng thứ quyền lực đặc biệt này

để khống chế và lũng đoạn lĩnh vực hoạt động này cho những mục tiêu và lợi ích riêng tư2 Khi nghiên cứu về quá trình phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng, Francis Balle đã nhận diện ra ba giai đoạn chính nơi tập quán và thái độ của công chúng mỗi khi có một phương tiện truyền thông mới ra đời3 Đó là: giai đoạn đầu, khi một phương tiện truyền thông vừa mới chào đời, công chúng thường tỏ ra rất hào hứng, phấn khích, và dành rất nhiều thời gian và tâm trí để theo dõi Nhưng sang giai đoạn kế tiếp, người ta bắt đầu cảm thấy chán vì đã theo dõi quá nhiều; lúc này, người ta bắt đầu tỏ ra hoài nghi và bắt đầu đòi hỏi nhiều hơn đối với nội dung các trang mục hoặc chương trình Và rồi cuối cùng chuyển sang giai đoạn thứ ba, khi mà việc theo dõi phương tiện truyền thông này đã đi vào tập quán trong nếp sống hàng ngày của họ rồi: lúc này người ta không còn bị mê hoặc dễ dàng như thời gian ban đầu nữa, bình tỉnh trở lại với thái độ “lý trí”, người ta biết phê bình nội dung chương trình này hay đề mục khác, biết chọn lọc những cái cần xem, và khôi phục lại những tập quán cũ đã có từ trước trong việc sử dụng ngân sách thời gian Đây là nguồn thông tin tư liệu quan trọng cho chúng tôi trong việc nghiên cứu nhu cầu tiếp nhận truyền thông đại chúng, đặc biệt đi sâu vào một số vấn đề như mức

độ, nội dung, thời lượng và điều kiện tiếp nhận của người Kơho, từ đó xem xét những ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho

Cuối thập niên 1920, khi phương tiện phát thanh bắt đầu được khai sinh tại Pháp, người ta cảm thấy rất hồ hởi và ai ai cũng nô nức mải mê nghe đài Cứ buổi chiều, sau giờ tan sở, ai cũng vội vàng về nhà để kịp nghe các chương trình phát thanh, chứ không ghé qua những quán rượu làm vài ly như trước nữa Đến mức mà năm 1927, ở miền Bắc nước Pháp, có lần nghiệp đoàn các nhà sản xuất rượu phải kiện lên chính quyền tỉnh và đề nghị dẹp bỏ các chương trình phát thanh, nhưng tất

Trang 24

nhiên là không đẹp được Đến sau năm 1945, khi nước Pháp vừa được giải phóng khỏi ách phát-xít Đức, ra-dô bắt đầu bị lu mờ vì sự hồi sinh của báo chí trong thời

kỳ sau chiến tranh Nhưng sau đó vài năm, thì người ta lại dần dần nhận thức trở lại nhu cầu nghe ra-dô trong sinh hoạt hàng ngày4 Còn khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa truyền hình và công chúng ở Pháp năm 1974 và năm 1977, Michel Souchon đã đối chiếu giữa cơ cấu các chương trình do đài truyền hình phát sóng, với cơ cấu các chương trình mà công chúng xem trong thực tế Qua đó, Souchon đã kết luận như sau: những thay đổi trong cách thiết kế các chương trình và trong cơ cấu các chương trình của đài truyền hình đã không có tác động đáng kể đối với cách thức

mà công chúng sắp xếp các chương trình mà họ xem thường xuyên5

Ở Anh, W.A.Belson đã thấy được sự thay đổi của công chúng khi theo dõi và khảo sát rất kỹ các ứng xử và thái độ của công chúng lúc mới có phương tiện truyền hình; cụ thể như: chỉ trong trong vòng hai năm liên tiếp sau khi mua chiếc máy thu hình, người ta đã giảm đi rất nhiều thời gian đọc báo, đọc sách cũng ít hơn, đi xem kịch hoặc xem phim ngoài rạp cũng thưa thớt hẳn đi, thậm chí giảm hẳn cả mật độ giao du với bạn bè Tuy nhiên, sau thời gian bị mê hoặc ban đầu này, công chúng truyền hình mới dần dần bắt đầu cảm thấy lo lắng trước một số hậu quả mà họ nghĩ

là do truyền hình gây ra Họ trách cứ ti vi hay là đưa ra nhiều cảnh bạo lực cho trẻ con xem, họ chê bai những chương trình vô bổ, mất thì giờ, trong khi có thể dành thời gian làm những chuyện có ích hơn… và Belson nhận thấy phải mất sáu năm sau khi mua chiếc ti vi thì công chúng mới khôi phục lại một cách bình thường những tập quán vốn có trước đây của họ, là lại tiếp tục đi xem kịch, đi xem phim, đến thăm bạn bè … nghĩa là đến giai đoạn này, công chúng truyền hình mới thực sự bước vào “tuổi trưởng thành”, coi ti vi như một phương tiện truyền thông bình thường như các phương tiện truyền thông khác, và biết chọn lọc những gì mà mình coi6

Ở Mỹ, một công trình điều tra nổi tiếng của ba tác giả là Lazarsfeld, Berelson

và Gaudet tiến hành vào năm 1940 ở bang Ohio, Mỹ Công trình này đã được xuất

4 Xem Francis Balle, sđd, tr 548 Dẫn lại Trần Hữu Quang 1997 Xã hội học về truyền thông đại chúng Đại

học Mở - Bán công, tr 107

5

Michel Souchon, Association francaise de Science politique, tháng 11-1-1978 Trích lại theo Francis

Balle, sđd, tr 535-537 Dẫn lại Trần Hữu Quang 1997 Xã hội học truyền thông đại chúng Đại học Mở -

Bán công, tr 121

6 Xem Francis Balle, sđd, tr 549-550 Dẫn lại Trần Hữu Quang 1997 Xã hội học về truyền thông đại chúng

Trang 25

bản dưới tên là People ’ s Choice (Sự lựa chọn của dân chúng)7 Đây là công trình nghiên cứu về mức độ ảnh hưởng của những chiến dịch vận động tranh cử tổng thống đối với dân chúng, để tìm hiểu coi người dân quyết định như thế nào khi đi bầu, và tại sao họ lại quyết định bầu cho một ứng cử viên nào đó Cuộc điều tra đã đặc biệt chú ý tới những nhân tố tác động tới ứng xử của người dân, nhất là các phương tiện truyền thông như báo chí và đài phát thanh Hay G.R.Funkhauser đã tiến hành một cuộc nghiên cứu đối chiếu giữa những vấn đề được công chúng Mỹ quan tâm nhất và những vấn đề được đăng tải nhiều nhất trên báo chí trong thời gian từ năm 1960 tới 1970 đã chứng minh rằng dư luận công chúng thực ra chỉ phản ánh lại quan điểm của các phương tiện thông tin đại chúng8

Ở Việt Nam

Trần Hữu Quang trong cuốn Xã hội học về truyền thông đại chúng (1997)

với mong muốn trang bị một số kiến thức và khái niệm chủ yếu trong lĩnh vực truyền thông, như khái niệm truyền thông, các phương tiện truyền thông đại chúng, truyền thông liên cá nhân, hay nêu lên một số lý thuyết và hướng tiếp cận khá phổ biến trong nghiên cứu truyền thông đại chúng; đồng thời, tác giả cuốn sách cũng đã phác họa được bức tranh về sự ảnh hưởng xã hội của truyền thông đại chúng trong đời sống xã hội Một vấn đề nổi bật mà chúng tôi tiếp cận được là cách sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng nơi các tầng lớp công chúng – tác giả đã mô tả các thái độ và ứng xử của công chúng trước các phương tiện truyền thông đại chúng Tuy nhiên cách phân tích này lại không quan tâm đủ tới các nhân tố xã hội

Cụ thể hơn, trong Truyền thông đại chúng và công chúng – trường hợp Thành Phố

Hồ Chí Minh (2000) (Khảo sát các mô thức tiếp nhận truyền thông đại chúng của

các giới công chúng), luận án Tiến sĩ xã hội học của tác giả Trần Hữu Quang đã trình bày nội dung tóm tắt gồm phần mở đầu và bốn chương: Chương 1: Lý thuyết tiếp cận và phương pháp luận nghiên cứu đề tài; Chương 2: Báo in, truyền hình và phát thanh ở Thành phố Hồ Chí Minh; Chương 3: Mức độ và cách tiếp cận các phương tiện truyền thông đại chúng của người dân Thành phố Hồ Chí Minh; Chương 4: Nhận diện và phân tích các mô thức tiếp nhận truyền thông đại chúng của các giới công chúng Thông qua công trình nghiên cứu của PGS TS Trần Hữu

7 Xem Judith Lazar, Sociologic de la communication de masse, Paris, Armand Colin, 1991, tr 90-95 Dẫn

lại theoTrần Hữu Quang.1997 Xã hội học về truyền thông đại chúng, tr 126

8

Dẫn lại Trần Hữu Quang 1997 Xã hội học báo chí, tr 420

Trang 26

Quang, chúng tôi muốn vận dụng một số lý thuyết tiếp cận và phương pháp nghiên cứu để khảo sát và lý giải ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho tại thôn Măng line (Phường 7, Đà Lạt) và xã Tà Nung (Đà Lạt, Lâm Đồng)

Trong khi đó, Trịnh Duy Luân (chủ biên) thông qua Phát triển xã hội ở Việt Nam (2002) đã trình bày về đời sống văn hóa tinh thần và hoạt động truyền thông

đại chúng Đặc biệt vấn đề hưởng thụ văn hóa ở các nhóm công chúng là hoạt động diễn ra trong thời gian rỗi – tức khoảng thời gian tự do ngoài thời gian dành cho việc lao động kiếm sống, đó là vui chơi, giải trí và bồi dưỡng tinh thần Qua bài viết, chúng tôi có thể kế thừa để xây dựng định hướng nghiên cứu của mình khi nghiên cứu về hoạt động trong thời gian rỗi của đồng bào dân tộc ít người tại thôn Măng line và xã Tà Nung

Trong khi đó, Claudia Mast (Trần Hậu Thái dịch) viết cuốn sách Truyền thông đại chúng – những kiến thức cơ bản (2003) với mong muốn mang đến cho

người đọc những vấn đề hết sức cơ bản đối với những người làm công tác truyền thông đại chúng Đó là những khái niệm về thông tin, các phương tiện thông tin; hoạt động thông tin; đối tượng thông tin, trách nhiệm, nghĩa vụ và đạo đức của nhà báo; nghề nghiệp báo chí và hoạt động truyền thông trong cơ chế thị trường Bằng các phương pháp và thủ thuật nghề nghiệp, tác giả đã phác họa toàn cảnh một bức tranh về những vấn đề truyền thông tại Đức Qua bài viết của tác giả giúp cho chúng tôi có thể biết thêm về cách thức khai thác thông tin cho mục đích truyền thông và mục đích nghiên cứu khoa học có liên quan đến truyền thông

X.A.MiKhaiLốp viết cuốn sách Báo chí hiện đại nước ngoài – Những quy tắc và nghịch lý (2004) để trình bày về một số lĩnh vực của báo chí và các phương

tiện thông tin đại chúng điển hình ở một số quốc gia, châu lục Qua đó, chúng tôi thấy được sự phát triển của báo chí hiện đại tại một số quốc gia giúp cho việc tổng

thuật tài liệu được dễ dàng hơn Hay Hồ Kim Xuyến thông qua Đánh giá hiệu quả truyền thông của tờ Newsletter – Bản tin đối ngoại thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tạp chí Xã hội học số 4 (92) (2005) để hướng tới đối tượng đặc

biệt hơn so với những nghiên cứu trước đó, họ là những chuyên gia, điều phối viên, những người phụ trách khu vực hợp tác quốc tế Tác giả bài viết đã sử dụng bộ công

cụ nghiên cứu trong lĩnh vực xã hội học như quan sát, phỏng vấn sâu và định lượng

Trang 27

– tác giả đã làm rõ việc nghiên cứu hiệu quả xã hội của một phương tiện truyền thông không chỉ dừng lại ở việc xem xét mức độ và cơ chế giao tiếp của các nhóm công chúng với phương tiện truyền thông đại chúng đó mà cần phải tìm hiểu xem

họ dành sự quan tâm tới những nội dung nào, mức độ của họ quan tâm ra sao Để tìm hiểu sâu hơn về các vấn đề đó trong những nhóm công chúng khác nhau sẽ như thế nào là một phần mà đề tài của chúng tôi muốn quan tâm tìm hiểu Võ Huỳnh

Tuấn Tài trình bày về Hiệu ứng xã hội của các Gameshow truyền hình đối với công chúng Thành phố Hồ Chí Minh (2005) với mục tiêu tìm hiểu thái độ của công

chúng Thành phố Hồ Chí Minh trước các Gameshow truyền hình hiện nay, qua nghiên cứu thực tiễn, tác giả đã vạch ra những điểm khác nhau trong mô thức ứng

xử với truyền thông của công chúng thông qua việc hưởng thụ các trò chơi truyền hình hiện nay

Cũng trên tinh thần nghiên cứu thực tiễn, Trần Hữu Quang thông qua Xã hội học báo chí (2006) để trình bày những nội dung chính yếu về truyền thông đại

chúng, trong đó bao gồm cách tiếp cận xã hội học đối với các quá trình truyền thông, đối với nghề làm báo và hoạt đông của nhà báo, những quan điểm và những phương pháp phân tích xã hội học về công chúng truyền thông và nội dung truyền thông, cũng như về các tác động xã hội của truyền thông đại chúng Đây là một cuốn sách nhằm cung cấp một cách tư duy phân tích xã hội học về hiện tượng truyền thông đại chúng nói chung, cũng như về đời sống báo chí nói riêng

Nguyễn Thị Hòa, Tôn Thu Huyền, Nguyễn Thạc Phương (dịch) và Vũ

Cương (hiệu đính) thông qua Quyền được nói – Vai trò của Truyền thông đại chúng trong phát triển kinh tế (2006) đã tổng kết những công trình của các nhà nghiên cứu

về truyền thông với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như truyền thông đại chúng và trách nhiệm chính trị, truyền thông và kinh tế thị trường với những góc độ và khía cạnh khác nhau, cuốn sách đã mang đến cho người đọc một bức tranh toàn cảnh về vai trò của truyền thông trong phát triển kinh tế ở các nước tư bản phương tây Đây là đóng góp quan trọng vào nhận thức của chúng ta về ảnh hưởng của truyền thông đến những kết quả phát triển trong những bối cảnh khác nhau, đưa ra bằng chứng về môi trường chính sách nào là cần thiết để giúp truyền thông có thể hỗ trợ chế độ chính trị và thị trường kinh tế, đồng thời nói lên tiếng nói của những người yếu thế

Trang 28

Lê Thanh Bình thông qua Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội

(2008) cho biết, ngày nay thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như sách, báo, phát thanh, truyền hình, Internet…, đông đảo công chúng trong xã hội không chỉ nhận được các thông điệp, mà xu hướng tương tác cũng mạnh hơn, nghĩa

là công chúng ngày càng tham gia nhiều hơn vào quá trình tạo ra các sản phẩm thông tin từ các phương tiện truyền thông Vai trò của kinh tế tri thức ngày càng cao, Internet thâm nhập vào mọi ngóc ngách đời sống xã hội Truyền thông đại chúng thực hiện chức năng tác động vào ý thức xã hội để hình thành và củng cố một

hệ thống tư tưởng chính trị lãnh đạo đối với xã hội với những định hướng cụ thể của

hệ thống đó Vì vậy, nó có nhiệm vụ liên kết các thành viên trong xã hội thành một khối đoàn kết Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, vai trò của thông tin càng có ý nghĩa to lớn trong một xã hội mở, sự hội nhập, tương tác, liên thông giữa các lĩnh vực, các ngành trong đời sống xã hội diễn ra rất đa dạng, phức tạp, chặt chẽ Vì vậy nghiên cứu về truyền thông đại chúng cũng như mối quan hệ liên thông giữa chúng với kinh tế, văn hóa, xã hội, phát triển nói chung và các khoa học khác như quản lý xã hội, dân số, môi trường là điều cần đáng quan tâm

Cũng trên thực tiễn nghiên cứu, tác giả Bùi Hoài Sơn thông qua Phương tiện truyền thông mới và những thay đổi văn hóa xã hội ở Việt Nam (2008) để trình bày

tầm quan trọng của các phương tiện truyền thông mới trong đời sống xã hội, đặc biệt là những ảnh hưởng của phương tiện truyền thông mới đến sự thay đổi văn hóa

xã hội ở Việt Nam như quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, điển hình là một số

đô thị lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Trên thực tế, các phương tiện truyền thông mới đều có tác động đến mọi ngõ ngách của cuộc sống hàng ngày, tuy nhiên đô thị mới là nơi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất vì nhiều lý do như hạ tầng viễn thông tốt và thuận tiện Bên cạnh đó, phương tiện truyền thông mới còn làm thay đổi bản chất của xã hội cũng như chính đời sống tâm lý, thói quen của mỗi con người Nó khiến cho xã hội chuyển động với một tốc độ nhanh hơn và các khoảng cách xã hội được thu hẹp hơn rất nhiều Nhiều nước trên thế giới lo ngại rằng việc các phương tiện truyền thông mới ra đời sẽ khiến thế giới trở nên bị “Mỹ hóa”, thì ở Việt Nam, việc nghiên cứu về các phương tiện truyền thông mới chưa được chú ý một cách đúng mức Cuốn sách này là một nghiên cứu về phương tiện truyền thông mới là Internet và điện thoại di động Bên cạnh đó, tác giả cũng mang đến cho

Trang 29

người đọc hiểu biết thêm về các văn bản pháp quy liên quan đến việc phát triển Internet tại Việt Nam

Một trong những phương tiện truyền thông đại chúng là báo chí, báo chí ra đời và phát triển khá sớm trong đời sống của con người Để tìm hiểu quá trình hoạt

động của loại phương tiện này, tác giả Đinh Thị Thúy Hằng trong bài viết Báo chí thế giới – xu hướng phát triển (2008) đã giới thiệu những lý luận, khái niệm, phạm

trù và hoạt động báo chí thế giới đang được phổ biến tại các trường đại học trên thế giới và trong giới nghiên cứu báo chí Trên tinh thần đó, khái niệm báo chí được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các loại hình báo chí như báo in, phát thanh, truyền hình và báo mạng điện tử Đồng thời tác giả cũng nhằm giới thiệu đến một

số lý luận báo chí được phổ biến ở một số nước trên thế giới nhưng ít được đề cập tại Việt Nam

Nhìn qua các công trình nghiên cứu nói trên chúng ta thấy được rằng việc nghiên cứu về truyền thông đại chúng và các phương tiện về truyền thông đại chúng

đã được quan tâm đến nhiều khía cạnh, từ những hiện tượng cụ thể đến những vấn

đề lý luận chung Tuy nhiên việc nghiên cứu truyền thông đại chúng trong đồng bào các dân tộc ít người tại các tỉnh Tây Nguyên còn nhiều hạn chế; đặc biệt những nghiên cứu dưới góc độ xã hội học về ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của giới công chúng là đồng bào dân tộc ít người trên phạm vi cả nước nói chung và tại các tỉnh Tây Nguyên nói riêng lại càng hiếm hoi

Vì vậy đề tài này là một nghiên cứu để bổ sung một mảng trong bức tranh nghiên cứu này

1.1.3 Những nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thần

Tác giả Mai Văn Hai thông qua bài viết Đời sống văn hóa tinh thần ở nước

ta hiện nay (Tạp chí Xã hội học số 2(74) (2001)) đã mô tả thực trạng đời sống văn hóa tinh thần ở nước ta và rút ra kết luận là “đời sống văn hóa tinh thần của người dân nước ta tuy đã có nhiều bước cải thiện song vẫn còn ở mức thấp Vì vậy cần phải quan tâm đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân trước cấp độ quản lí văn hóa trong thời gian tới” Bài viết này là một nguồn tư liệu quý giúp cho chúng

tôi thấy được mô hình văn hóa tinh thần của người dân nước ta và tìm ra mô hình văn hóa tinh thần cho nhóm đối tượng đặc thù là người dân tộc ít người Kơho

Trang 30

Bên cạnh đó, một số tác giả lại đi sâu nghiên cứu về văn hóa của từng nhóm đối tượng cụ thể như Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh (chủ biên) trong cuốn

Bình đẳng Giới ở Việt Nam (2008) cho biết, trong cuộc sống, con người cần và có

khả năng kết hợp hài hòa giữa công việc và nghỉ ngơi, giữa hoạt động kinh tế với hoạt động văn hóa – tinh thần trong thời gian rỗi Ngày nay, các phương tiện và điều kiện giải trí về văn hóa – tinh thần ngày càng phát triển mạnh mẽ, tạo điều kiện cho việc đáp ứng nhu cầu của mỗi thành viên trong xã hội Thông qua quá trình tiếp cận các phương tiện giải trí, đặc biệt là qua các thông điệp truyền thông, các khuôn mẫu và giá trị giới cũng được phổ biến và tác động đến nhận thức, hành vi của người xem Về việc sử dụng thời gian rỗi, đây là hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì và phát triển đời sống tinh thần của mỗi cá nhân Sử dụng thời gian rỗi là thước đo đánh giá khả năng tiếp cận các cơ hội làm phong phú đời sống tinh thần của phụ nữ và nam giới Truyền thông đại chúng ngày nay, đặc biệt là truyền hình có tác động mạnh mẽ đến nhận thức xã hội Và đời sống tinh thần thường được xem từ gốc độ nhu cầu tinh thần của cá nhân bao gồm thưởng thức nghệ thuật, hoạt động thể thao giải trí, du lịch, giao tiếp, hoạt động tín ngưỡng trong đó, việc giải trí được xem là bộ phận cấu thành quan trọng của nhu cầu tinh thần Trong nghiên cứu này, đời sống tinh thần của phụ nữ và nam giới được xem xét thông qua hoạt động như đọc sách báo, xem ti vi, nghe đài, chơi thể dục, thể thao, giao tiếp và đi chơi xa mà họ thực hiện trong thời gian rỗi Bài viết này đã đưa

ra các hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần, và trong khuôn khổ luận văn của mình, chúng tôi đã vận dụng để xem xét các hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần của người Kơho dưới ảnh hưởng của truyền thông đại chúng trên ba khía cạnh là hoạt động vui chơi giải trí, hoạt động theo dõi thông tin và hoạt động sinh hoạt văn hóa

Hay Đinh Thị Vân Chi thông qua Nhu cầu giải trí của thanh niên (2003) đã

xác định khái niệm thời gian rỗi, theo đó khái niệm này được xác định là đối tượng nghiên cứu của xã hội học và vai trò của giải trí ngày càng được khẳng định trong

xã hội hiện đại bởi nó hàm chứa cả hai khía cạnh sinh học và xã hội Trong nghiên cứu của mình về nhu cầu giải trí của thanh niên Việt Nam, tác giả đã đưa ra một khung lý thuyết, bao gồm việc xem xét đến nhu cầu, xu hướng giải trí của thanh niên theo nhóm tuổi và khu vực, đồng thời có tính đến mức độ đáp ứng của xã hội

Trang 31

đối với các nhu cầu giải trí đối với nhóm tuổi thanh niên9 Bài viết đã cung cấp cho chúng tôi thấy được vai trò của giải trí và các hoạt động diễn ra trong thời gian rỗi,

từ đó bổ sung cho bài viết của mình những nguồn tư liệu quý giá

1.2 Cơ sở lý luận và phương pháp luận

Để nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng dến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho ”, chúng tôi sử dụng lý thuyết cấu trúc chức

năng làm lý thuyết tổng quát cho quá trình nghiên cứu

 Lý thuyết cấu trúc chức năng

Lý thuyết cấu trúc chức năng được hình thành và phát triển ở Mỹ vào đầu thế kỷ XX, sau đó lan rộng ra các nước châu Âu Người có công đặt nền móng cho

lý thuyết này là E Durkheim và Malinowski khi hai ông đi sâu nghiên cứu các xã hội ở châu Âu và các nước khác để xem xét sự biến đổi và vận hành của chúng Lý thuyết này còn gắn với tên tuổi của nhà xã hội học người Mỹ Talcott Parsons

Talcott Parsons xem xã hội như một cấu trúc lớn do các tiểu cấu trúc hợp thành và mỗi cấu trúc có một chức năng Nói như vậy có nghĩa là xã hội là một hệ thống với nhiều bộ phận nhỏ khác nhau và mỗi bộ phận ấy đều đảm nhận những chức năng khác nhau, chúng cùng vận hành để tạo nên cái toàn bộ, ổn định của hệ thống Có thể hiểu được một bộ phận của hệ thống khi hiểu được cái cách mà nó đóng góp vào sự vận hành của hệ thống Sự đóng góp vào việc vận hành ổn định của hệ thống đựơc gọi là chức năng Các bộ phận có tầm quan trọng và chức năng khác nhau đối với hệ thống Chức năng luận nhìn xã hội như là sự phụ thuộc lẫn nhau vào sự thống nhất trong xã hội, nhờ đó mà xã hội mới tồn tại, vận hành và phát triển một cách bình thường

Trên cơ sở phân tích và ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống, lý thuyết cấu trúc chức năng cho rằng “các hiện tượng xã hội, các quy trình xã hội đã tồn tại bởi vì chúng có một chức năng tích cực nào đó để thực hiện trong xã hội” Như vậy xã hội

là một hệ thống cấu trúc lớn được vận hành và phát triển trên cơ sở sự thống nhất vận hành của các tiểu hệ thống, tiểu cấu trúc của nó, để thực hiện những chức năng nhất định nào đó Trên tinh thần đó, Parsons đã đưa ra bốn chức năng của các cấu trúc xã

hội là: Sự thích nghi (Adaptation): Sự phù hợp cấu trúc ở trong hoàn cảnh nhất định

trong xã hội, mỗi cấu trúc có một chức năng Đây là yếu tố căn bản của xã hội, nếu

9

Trần Thị Vân Anh và Nguyễn Hữu Minh (chủ biên), 2008 Bình đẳng Giới ở Việt Nam Nxb Khoa học xã

hội, tr 329

Trang 32

không có chức năng này thì xã hội sẽ bị phá vỡ Sự đạt được mục tiêu (Goal attainment): Tức là mỗi hành động đều được xác định bởi các mục đích, mục tiêu

cơ bản Có sự hội nhập (Integration): Mỗi cấu trúc có một chức năng và giữa chúng

có mối liên hệ biện chứng và hội nhập với nhau, không có một cấu trúc, chức năng

nào tồn tại độc lập Có tính tiềm tàng (Latency): Duy trì sự hội nhập giữa các yếu tố

và các định chế với nhau

Và theo các nhà xã hội học lý thuyết, chức năng được chia làm hai loại

chức năng căn bản và điển hình trong xã hội là: Chức năng công khai: Là loại chức năng mà mọi thành viên trong xã hội đều được biết một cách rõ ràng Chức năng tiềm ẩn: Là chức năng mà thuộc tính ẩn không phô diễn ra bên ngoài nên khó có thể

nhận biết được chúng

Còn theo Robert Merton, chúng ta không bao giờ được phép kết luận về những ảnh hưởng xã hội của các phương tiện truyền thông đại chúng nếu chỉ căn cứ vào những tuyên bố và những ý định công khai của các tổ chức này Merton luôn luôn nhấn mạnh rằng, đối với mỗi hoạt động xã hội, chúng ta cần phân biệt rõ giữa mục tiêu công khai nhắm đến với hiệu quả thực sự xảy ra bởi lẽ hai cái này có thể không thực sự trùng nhau Nói cách khác, các chức năng xã hội của các phương tiện truyền thông đại chúng không nhất thiết tương ứng với những mục tiêu công khai

mà nhà truyền thông muốn nhắm tới

Lý thuyết cấu trúc chức năng cho phép lý giải những chức năng của các phương tiện truyền thông đại chúng (ti vi, phát thanh và báo in) mà chúng tôi quan tâm nghiên cứu và sự ảnh hưởng của chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho qua ba hoạt động chính là vui chơi giải trí, theo dõi thông tin và sinh hoạt văn hóa; bởi lẽ công chúng mà chúng tôi hướng đến không phải là một khối thuần nhất, giống nhau về các đặc điểm cá nhân hay điều kiện kinh tế, mà trong họ vốn mang những đặc điểm khác nhau như cơ cấu về độ tuổi, cơ cấu học vấn,… họ vốn là một trong những bộ phận cấu thành nên tổng thể dân cư Vì vậy, nghiên cứu

về ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho trong những điều kiện khác nhau để thấy được ý nghĩa của các hoạt động trên đối với người Kơho về mặt cấu trúc, chức năng của nó và nhìn nhận mỗi người Kơho có những vai trò, đóng góp nhất định trong việc xây dựng đời sống văn hóa

Trang 33

tinh thần của mình ngày càng phong phú và lành mạnh hơn dưới sự tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng

Bên cạnh đó chúng tôi còn sử dụng một số lý thuyết khác làm cơ sở để vận

dụng giải thích vấn đề nghiên cứu như lý thuyết lựa chọn hợp lý, lý thuyết “sử dụng và hài lòng”

 Lý thuyết lựa chọn duy lý

Lý thuyết này gắn liền với tên tuổi của James S.Coleman, nhà xã hội học

người Mỹ với tác phẩm “ sự tái thiết xã hội một cách hợp lí” Theo lí thuyết này thì cần xem xét các sự kiện trong xã hội ở cấp độ chủ nghĩa cá nhân và là cấp độ vi mô

để lí giải các hiện tượng vĩ mô Định hướng chọn lựa hợp lý của S.Coleman thể hiện

rõ ý tưởng của ông là “hành động có mục đích của cá nhân hướng tới một mục tiêu, mục tiêu đó (và do đó cả hành động) định hình bởi các giá trị hay các sở thích”

Lý thuyết lựa chọn hợp lý cho phép chúng tôi xem xét nhu cầu tiếp nhận truyền thông đại chúng phù hợp với từng cá nhân trong xã hội và sự lựa chọn hợp lý của mỗi cá nhân theo tiến trình: SR (stimulusResponse) tức là từ kích thích đến phản ứng phù hợp với điều kiện và mong muốn của bản thân Lý thuyết lựa chọn hợp lý cho phép chúng ta đi sâu nghiên cứu bản chất ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho dưới các mức độ, loại phương tiện và thời lượng, nội dung, điều kiện tiếp nhận của người Kơho Lâm Đồng Sự lựa chọn truyền thông đại chúng của mỗi cá nhân sẽ góp phần làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của mình bên cạnh những giá trị tinh thần truyền thống

Lý thuyết “sử dụng và hài lòng” (usages and gratifications) do Malcom

Wiley áp dụng đầu tiên, sau đó còn một số tác giả khác cũng nghiên cứu về lý thuyết này như Jean Cazeneuve, Elihu Katz Lý thuyết này quan niệm rằng các giới công chúng có thể có những mức độ hài lòng khác nhau đối với các phương tiện truyền thông đại chúng, tùy thuộc vào việc mỗi người có những nhu cầu gì, và việc

họ sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng như thế nào Lý thuyết này cho phép phân tích rõ hơn nhu cầu tiếp nhận truyền thông đại chúng của người Kơho tại thôn Măng line và xã Tà Nung, ảnh hưởng của truyền thông đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho, đánh giá mức độ hài lòng và mong muốn của họ trong việc tiếp nhận truyền thông đại chúng

Trang 34

1.3 Cách tiếp cận trong nghiên cứu

Với yêu cầu về mặt nội dung và thời lượng của đề tài cũng như trên cơ sở của những lý thuyết áp dụng được, chúng tôi chọn hướng tiếp cận căn bản là hướng tiếp cận lối sống Hướng tiếp cận văn hóa là hướng tiếp cận sát thực vấn đề

1.3.1 Cách tiếp cận lối sống

Hoạt động sống của con người nói chung và những sinh hoạt văn hóa tinh thần nói riêng đều chịu sự chi phối của các điều kiện khách quan và các yếu tố bên trong thuộc về cá nhân Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi xác định các yếu tố khách quan ở đây là các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội (điều kiện vật chất, các thiết chế và tổ chức) và các yếu tố thuộc về cá nhân như tuổi, trình độ học vấn…

Khía cạnh truyền thông đại chúng và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho mà chúng tôi tìm hiểu đều nằm trong giới hạn “lối sống” bởi các dạng hoạt động của con người đều không thể tách rời các điều kiện khách quan và chủ quan, lối sống thể hiện trong đó những nét văn hóa riêng biệt

T Levukin và V Rejzema định nghĩa lối sống như sau: “Lối sống đó là một

hệ thống xác định gồm nhiều hình thức hoạt động sống ổn định và lặp đi lặp lại hệ thống, có sự thống nhất nội tại Lối sống là phương thức mà con người tổ chức hoạt động sống của mình, tính tích cực sống trong những điều kiện lịch sử cụ thể, tức là trong hệ thống các quan hệ kinh tế, xã hội và giai cấp xác định về mặt lịch sử văn hoá”10

K.Marx và F.Engels viết trong cuốn “Hệ tư tưởng Đức” về vấn đề lối sống như sau: “Cần xem xét phương thức sản xuất không chỉ về phương diện nó là sự tái sản xuất sự sống về thể chất của các cá thể Ở mức độ lớn hơn đây còn là phương thức hoạt động nhất định của họ, là lối sống nhất định của họ”11

Cũng trên tinh thần hoạt động thực tiễn, PGS.TS Trần Thị Kim Xuyến định nghĩa lối sống như sau: “Lối sống là cách thức cá nhân tham gia vào các quan hệ xã hội bằng những hoạt động của mình, là khả năng lựa chọn các phương thức cụ thể của hoạt động sống của mình Và sự lựa chọn đó được xác định trên cơ sở con

Trang 35

người biết đánh giá hoạt động sống của mình trong tương quan với điều kiện sống”12

Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho được xem xét trong thời gian rảnh rỗi của mỗi cá nhân Những sinh hoạt văn hóa tinh thần trong thời gian rảnh rỗi (mà cụ thể là mức độ theo dõi các phương tiện truyền thông đại chúng, loại hình, nội dung, thời gian và điều kiện tiếp nhận) được xem như những chỉ báo thích ứng của lối sống ở nông thôn được truyền tải thông qua sự kiểm soát chặt chẽ của cộng đồng, nhu cầu và những thoả mãn tiêu dùng văn hóa còn hạn chế và tính di động về thông tin cũng như con người chưa cao

1.3.2 Cách tiếp cận văn hóa

Mọi hoạt động và ứng xử trong đời sống của con người đều được quy định bởi những mô hình văn hóa nhất định Đồng thời quá trình tiếp biến văn hóa vẫn tiếp tục diễn ra, và mỗi cá nhân đều tiếp nhận những cái mới trong xã hội theo những cách riêng của mình và cộng đồng mình đang sinh sống Quá trình hội nhập này chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên ngoài với những mức độ thay đổi khác nhau Theo thời gian, các mô hình văn hóa được hình thành dựa trên từng nhóm cộng đồng, đồng thời chịu sự chi phối bởi các nhân tố bên trong và bên ngoài của nhóm cộng đồng họ đang sinh sống Chính những mô hình văn hóa này đã chi phối

và chỉ đạo các phương thức tư duy về ứng xử của mỗi cá nhân trong mỗi nhóm cộng đồng xã hội, chúng đưa ra những mô hình khuôn mẫu, nhờ đó con người có những phán đoán về thực tại và có tính chất định hướng cho con người những lề lối suy nghĩ và hành xử thích hợp trong các tình huống khác nhau trong đời sống xã hội13 Việc nghiên cứu về nhu cầu tiếp nhận truyền thông đại chúng của người Kơho ở Lâm Đồng sẽ thể hiện được xu hướng lựa chọn phù hợp với mình và ít nhiều bộc lộ được quá trình tiếp nhận những cái mới trong xã hội mà mình đang sinh sống, hay nói cách khác nó thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội trong mô hình văn hóa nhất định Mục đích của việc theo dõi các phương tiện truyền thông đại chúng

là một chỉ báo về tiếp nhận cái mới trong xã hội mà họ đang sinh sống

Trang 36

1.4 Một số khái niệm cơ bản

1.4.1 Ảnh hưởng

Theo Từ điển Tiếng Việt thì ảnh hưởng là một khái niệm dùng để chỉ: từ người, sự việc hoặc hiện tượng có thể làm dần dần có những biến đổi nhất định trong tư tưởng, hành vi, hoặc trong quá trình phát triển ở sự vật hoặc người nào

đó14

1.4.2 Truyền thông và đại chúng

Khái niệm “Truyền thông” : Theo nghĩa chung nhất và trừu tượng nhất, truyền thông là quá trình “truyền dữ liệu giữa các đơn vị chức năng”15 Truyền thông là “một quá trình truyền đạt, tiếp nhận và trao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối liên hệ giữa con người với con người”.16 Như vậy truyền thông là một mô thức giúp cho con người có thể tiến gần nhau hơn trong quá trình hội nhập, giao lưu

Khái niệm “đại chúng” trong thuật ngữ “truyền thông đại chúng” là một khái niệm khá mơ hồ và khó mà có được một định nghĩa chính xác, kể cả về số lượng lẫn về mặt tính chất Người ta không thể xác định được là phải đông đến số lượng bao nhiêu thì mới gọi là đại chúng

Blumer đã phân biệt bốn đặc điểm để nhận dạng khái niệm đại chúng: (1)Những người thuộc mọi thành phần xã hội, bất kể nghề nghiệp, trình độ học vấn, hay tầng lớp xã hội nào; (2) Những cá nhân nặc danh; (3) Các thành viên của đại chúng thường độc lập nhau xét về mặt không gian; (4) Hầu như không có hình thức

tổ chức gì, hoặc nếu có thì cũng lỏng lẻo, và do đó nó khó mà có thể tiến hành một hoạt động xã hội chung nào được17

Truyền thông trong tiếng Anh hiện đại để chỉ sự truyền đạt, thông báo, tuyên truyền, quảng bá thông tin Đó là quá trình trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau, để từ đó chia

sẻ ý tưởng hay hành động vì một mục đích nhất định Truyền thông đại chúng là hoạt động chuyển giao các thông tin có tính phổ biến trong xã hội một cách rộng rãi, công khai, thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng

Trang 37

Qua các phương tiện truyền thông đại chúng, đông đảo công chúng trong xã hội không chỉ nhận được các thông điệp, mà xu hướng tương tác cũng mạnh hơn, nghĩa là công chúng ngày càng tham gia nhiều hơn vào quá trình tạo ra các sản phẩm thông tin từ các phương tiện nói trên”18

1.4.3 Các phương tiện truyền thông đại chúng

Báo in: Báo là sản phẩm văn hóa tinh thần, gắn với công nghệ in ấn hàng

loạt, đó là những ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin thời sự và được phát hành rộng rãi cho công chúng trong xã hội

Báo có các loại: Nhật báo; báo thưa kỳ (hai ba ngày một kỳ, tuần báo, báo hàng tháng, báo nửa tháng)19

Đài phát thanh (Radio): Đài phát thanh là loại hình của truyền thông đại

chúng có nội dung thông tin được chuyển tải bằng âm thanh truyền qua làn sóng điện hoặc qua hệ thống dây dẫn, nhờ nguyên tắc phát thanh qua làn sóng điện nên

có thể truyền tải tin tức đến mọi nơi, mọi chỗ20

Truyền hình: Truyền hình là một trong các phương tiện truyền thông đại

chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh Về kỹ thuật có truyền hình số và truyền hình cáp21

1.4.4 Dân tộc Kơho

Cho đến nay có rất nhiều cách giải thích khác nhau về tên gọi “Kơho”, là tộc danh để chỉ một số nhóm địa phương được xếp chung vào một dân tộc (tộc người) trong thành phần 54 dân tộc ở Việt Nam Ngoài Kơho còn có môt số cách viết khác như Cơ ho, K’ho, Ka Ho,… nhưng tựu trung không có sự khác biệt lớn, chỉ có cách giải thích về tên gọi này là có nhiều ý kiến khác nhau Theo Bùi Minh Đạo thì hiện nay có hai thuyết giải thích ý nghĩa của tộc dân Kơho Thuyết thứ nhất do hai học giả người Pháp là G.Brochet và J Dournes khởi xướng vào năm 1953, cho rằng tộc danh Kơho là một từ do người Chăm đặt ra lúc đầu “dùng để chỉ toàn bộ các sắc dân khác người Chăm, cư trú ở miền núi, vùng cao, về sau chuyển sang chỉ sắc dân lớn nhất trong vùng, là tộc người đang nói đến” Tác giả trên cho rằng thuyết này được một số ấn phẩm của Nha công tác miền Thượng của chế độ Sài Gòn cũ tán

18

Lê Thanh Bình, 2008 Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr 8

19 Lê Thanh Bình, 2008 Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr 20

Trang 38

đồng và cũng được chia sẻ bởi tác giả Mạc Đường trong quyển sách Vấn đề dân tộc

ở Lâm Đồng Thuyết thứ hai do các tác giả Nguyễn Văn Diệu và Phan Ngọc Chiến

cũng được đưa ra trong cuốn sách trên, cho rằng theo truyền thuyết của người Xrê thì Kơho vốn là “tên người chủ làng đầu tiên đã khai khẩn vùng đất của nhóm Xrê,

về sau, trải qua một thời kỳ dài trong lịch sử, từ tên người, Kơho mới chuyển thành tộc danh” Thực ra trong vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng tác giả Mạc Đường cũng chia

sẻ ý kiến với các học giả người Pháp nhưng nội dung đưa ra có sự khác biệt với Bùi Minh Đạo đưa ra ở trên Ông cho rằng, “căn cứ trên những tài liệu điền dã dân tộc học, từ những năm 50 của thế kỷ này, các nhà nghiên cứu đã nhận định tộc danh Kơho bắt nguồn từ một khái niệm trong tiếng Chăm cổ có nghĩa tương ứng là người

ở “phía trên cao”, “người miền núi” Tộc danh Kơho được đặc trưng cho các nhóm dân tộc có chung một ngôn ngữ ở vùng núi Lâm Viên, là một tộc danh có tính tập hợp cao nhóm tộc người cùng ngôn ngữ trong một vùng địa lý dân cư cụ thể”… Như vậy, nguồn gốc danh xưng Kơho đã rõ phần nào, nó bắt nguồn từ cách gọi của người Chăm để chỉ những tộc người thuộc ngữ hệ Môn – Khmer sống gần với họ và không cùng ngôn ngữ với họ Những tộc người đó không chỉ là người Xrê, người Cil, người Lạch, người Nộp (hiện nay được gộp chung và tộc người Kơho) mà cả người Mạ, người Mnông, người Xtiêng … cũng có thể được người Chăm gọi là Kơho Nhưng người Chăm gọi những tộc người nói tiếng Môn–Khmer là “Kơho”

từ khi nào? Theo những tài liệu mà tác giả được biết thì sự xuất hiện tên gọi “Kơho”

có lẽ trong giai đoạn sau năm 1471 khi lãnh thổ của Champa đã bị thu hẹp lại chỉ còn vùng đất Nam Trung bộ Việt Nam ngày nay22

Trang 39

phong trong xã hội”23 Còn ở Việt Nam, tác giả Trần Ngọc Thêm qua quá trình

nghiên cứu, giảng dạy và kinh nghiệm thực tiễn của mình cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”24

Theo định nghĩa trên thì văn hóa là cơ sở cho việc xem xét các hoạt động sinh hoạt văn hóa tinh thần của người Kơho mà chúng tôi muốn hướng đến trong khuôn khổ đề tài này

1.4.6 Khái niệm đời sống văn hóa

Theo tác giả Nguyễn Phương Lan trong Tạp chí Văn hóa nghệ thuật (số

12-2004 tr.15) thì: “Đời sống văn hóa nằm trong đời sống xã hội, song hoạt động của

nó thẩm thấu vào mọi mặt của đời sống xã hội, bao gồm các lĩnh vực, các dạng thức hoạt động khác nhau, nhằm đáp ứng các nhu cầu của con người Đời sống văn hóa là tổng thể những yếu tố văn hóa vật chất và tinh thần nằm trong những cảnh quan văn hóa, những yếu tố hoạt động văn hóa, những sự tác động lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóa trong cộng đồng người, trực tiếp làm hình thành lối sống của con người trong xã hội”

Theo định nghĩa trên thì đời sống văn hóa là tổng thể những yếu tố văn hóa vật chất và tinh thần được bộc lộ qua quá trình sáng tạo, sự ứng dụng giá trị văn hóa

đó trong cuộc sống thực tiễn hàng ngày Định nghĩa này cho phép xem xét các khía cạnh văn hóa tinh thần của người Kơho qua các hoạt động sống, sinh hoạt chính yếu

mà đề tài nghiên cứu là hoạt động vui chơi giải trí, hoạt động theo dõi thông tin, hoạt động sinh hoạt văn hóa

1.4.7 Văn hóa tinh thần

Đó là những sản phẩm tinh thần bao gồm tri thức và tư tưởng, những giá trị - chuẩn mực, những mẫu hành vi, hình ảnh, hình tượng và nghi lễ, phong tục truyền thống25

23

Trần Đan Tâm (1999) Nhu cầu văn hóa của cư dân vùng mới đô thị hóa tại TP Hồ Chí Minh – Trường

hợp Q2 Luận văn Thạc sĩ xã hội học Hà Nội, tr 20

24 Giáo sư Trần Ngọc Thêm (1999) Cơ sở văn hóa Việt Nam Nxb Giáo dục, tr 10

25

Lê Tiêu La (2005) Văn hóa – Từ góc nhìn của Xã hội học Tạp chí Xã hội học số 3 (91) tr 40

Trang 40

1.4.8 Đời sống tinh thần

Thường được xem từ góc độ nhu cầu tinh thần của cá nhân bao gồm thưởng thức nghệ thuật, hoạt động thể thao giải trí, du lịch, giao tiếp, hoạt động tín ngưỡng trong đó việc giải trí được xem là bộ phận cấu thành quan trọng của nhu cầu tinh thần26 Trong nghiên cứu này, đời sống tinh thần của người Kơho được xem xét thông qua các hoạt động như vui chơi giải trí, hoạt động theo dõi thông tin

và hoạt động sinh hoạt văn hóa

1.5 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết 1: Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho không đồng đều nhau giữa thôn Măng line và xã Tà Nung do sự ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa diễn ra trên hai địa bàn khác nhau

Giả thuyết 2: Bên cạnh những hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần truyền thống của người Kơho, truyền thông đại chúng ngày càng mở ra nhiều khả năng lựa chọn trong việc vui chơi, giải trí, theo dõi thông tin và sinh hoạt văn hóa

Giả thuyết 3: Đối với người Kơho, ảnh hưởng của truyền thông qua truyền hình (tivi) đến đời sống văn hóa tinh thần mạnh hơn so với phát thanh và báo in

Giả thuyết 4: Nhu cầu và mong muốn của người Kơho trong việc nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của mình khá lớn nhưng sự đầu tư phát triển các cơ sở dịch vụ truyền thông hướng đến nhóm công chúng này còn thấp kém

26 Trần Thị Vân Anh và Nguyễn Hữu Minh (chủ biên) (2008) Bình đẳng Giới ở Việt Nam Nxb Khoa học xã

Ngày đăng: 11/05/2021, 21:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm