1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của truyền thông đại chúng đến đời sống sinh viên tp hcm hiện nay (khảo sát tại trường đh khxhnv, đh khtn, đh văn lang, đh văn hiến)

151 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài việc tiếp nhận thông tin phục vụ cho các hoạt động này từ gia đình, nhà trường và xã hội, thì sinh viên luôn tiếp cận và sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng như là một c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS TRẦN HỮU QUANG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2012

Trang 3

Bảng 1: Học lực so sánh theo ngành học Trang 26 Bảng 2: Cách thức theo dõi truyền hình của các nhóm sinh viên phân tích 35

theo các chỉ báo (chỉ tính trên số sinh viên có xem truyền hình)

Bảng 3: Mức độ đọc báo của sinh viên trong mẫu khảo sát 37 Bảng 4: Thời lượng đọc báo mỗi ngày của sinh viên trong mẫu khảo sát 39

tính theo các chỉ báo

Bảng 5: Cách thức đọc báo của sinh viên trong mẫu khảo sát 41 Bảng 6: Mức độ nghe radio của sinh viên trong mẫu khảo sát 43 Bảng 7: Cách nghe đài phát thanh của sinh viên trong mẫu khảo sát (chỉ tính trên

số sinh viên có nghe) 44

Bảng 8: Thời lượng truy cập mạng internet của sinh viên trong mẫu khảo sát 48 Bảng 9: Tương quan về hành vi theo dõi các phương tiện truyền thông 53

đại chúng của sinh viên theo mức độ hàng ngày

Bảng 10: Mức độ xem thời sự trong và ngoài nước trên truyền hình của 56

sinh viên (chỉ lấy mức độ hàng ngày)

Bảng 11: Những việc nhà báo cần làm phân theo các chỉ báo 78 Bảng 12: Các nhóm mô thức tiếp nhận truyền thông đại chúng 82

phân theo các chỉ báo

Bảng 13: Mức độ theo dõi thông tin hàng ngày trên các phương tiện 83

của các nhóm mô thức

Bảng 14.1: Các nội dung theo dõi trên truyền hình của các nhóm mô thức 84

theo mức độ hàng ngày

Bảng 14.2: Các nội dung theo dõi trên báo in và báo mạng của các 85

nhóm mô thức theo mức độ hàng ngày

Bảng 15: Cách sử dụng thông tin của các nhóm mô thức 92 Bảng 16: Tỷ lệ các nhóm trong cách thể hiện quan điểm đối với 108

chủ đề chủ quyền biển đảo, an ninh quốc phòng

Biểu đồ 1: Kết quả khảo sát địa điểm truy cập mạng internet của 47

người Việt Nam năm 2011

Trang 4

với tính cách, tâm lý

Biểu đồ 3: Tỷ lệ các nhóm mô thức dùng mạng xã hội để tham gia 106

vào cộng đồng xã hội Biểu đồ 4: Tỷ lệ các nhóm mô thức trong việc dùng internet để giải trí 116

Hộp 1: Người Việt Nam quan tâm điều gì trên mạng trong năm 2011? 52

Hộp 2: Vận dụng tối đa sức mạnh của Facebook 101

Hộp 3: Khó xin việc vì chia sẻ quá nhiều trên Facebook 102

Hộp 4: Tác động của phương tiện truyền thông lên công chúng 110

Trang 5

Phần Mở đầu

I.Tính cấp thiết của đề tài Trang 01

II.Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 04

III.Đối tượng và khách thể nghiên cứu 05

IV.Phương pháp và kỹ thuật thu thập thông tin 05

Phần Cơ sở lý luận I.Vài nét về tình hình nghiên cứu 07

II.Một số khái niệm liên quan 11

1.Truyền thông 11

2.Truyền thông đại chúng 12

3.Phương tiện truyền thông đại chúng 13

4.Mô thức tiếp nhận truyền thông đại chúng 15

5.Đời sống sinh viên 15

6.Tác động và tác động của truyền thông đại chúng đến đời sống sinh viên 16

III.Những cách tiếp cận lý thuyết 17

1.Cách tiếp cận lối sống 17

2.Cách tiếp cận chức năng luận trong nghiên cứu truyền thông đại chúng 19

3.Cách tiếp cận “sử dụng và hài lòng” trong nghiên cứu truyền thông đại chúng 22

VI.Giả thuyết nghiên cứu 23

V Khung phân tích 24

Phần Kết quả nghiên cứu Chương I – Mức độ tiếp nhận và cách thức sử dụng truyền thông đại chúng của sinh viên I.Tình hình tiếp nhận truyền thông đại chúng của sinh viên 27

1.Các loại phương tiện truyền thông đại chúng 27

1.1.Truyền hình 27

1.2.Báo in 28

Trang 6

1.4.Máy vi tính và mạng Internet 29

2.Mức độ tiếp nhận và cách thức sử dụng truyền thông đại chúng 30

2.1.Truyền hình 30

2.1.1.Về mức độ tiếp nhận 30

2.1.2.Về cách thức theo dõi 34

2.2.Báo in 36

2.2.1.Về mức độ tiếp nhận 36

2.2.2.Về cách thức đọc báo 39

2.3 Đài phát thanh 42

2.3.1.Về mức độ nghe 42

2.3.2.Về cách thức nghe 44

2.4.Báo điện tử, máy vi tính, Internet 45

2.4.1.Về mức độ tiếp nhận 45

2.4.2.Về cách thức theo dõi 49

II.Tương quan giữa các hành vi xem truyền hình, nghe đài phát thanh, đọc báo in và đọc báo mạng 52

Chương II - Các nội dung truyền thông và nhận xét của sinh viên I.Các nội dung thường được theo dõi 54

1.Tin tức, thời sự 55

2.Văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao 58

3.Giáo dục, khoa học, kỹ thuật 60

4.Pháp luật, an ninh trật tự 62

5 Thông tin về hôn nhân, gia đình, tình yêu, giới tính 63

6.Các thông tin thiết dụng khác 64

II.Nhận xét của sinh viên về truyền thông đại chúng 69

1.Về nội dung truyền thông 70

2.Về phương tiện truyền thông 73

3.Về nhà truyền thông 75

Trang 7

I.Các mô thức tiếp nhận truyền thông đại chúng của sinh viên 84

1.Nhóm theo dõi thông tin tổng hợp 84

2.Nhóm theo dõi tin tức thời sự, giải trí và mở mang kiến thức 86

3.Nhóm theo dõi thông tin thiết thực và hưởng thụ văn hoá và giải trí 88

4.Nhóm ít đọc, ít nghe, ít xem 89

II.Vai trò của các nhóm mô thức trong quá trình tiếp nhận truyền thông đại chúng 91

Chương IV – Tác động của truyền thông đại chúng đến đời sống sinh viên và ý nghĩa của chúng I.Về truyền thông và giao tiếp 95

II.Về sự gia tăng cái tôi và tâm lý cá nhân 98

III.Về sự tham gia vào không gian xã hội 105

IV.Về thói quen tra cứu tài liệu và tiếp nhận tri thức 111

V.Về giải trí 115

Phần Kết luận I.Kết luận 119

II.Vài ý kiến mang tính khuyến nghị 125

Trang 8

Phần Mở đầu

Trong vài thập niên trở lại đây, nhân loại đã chứng kiến sự thay đổi và phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông như báo chí, truyền hình, phát thanh và gần đây là sự phổ biến rộng rãi của Internet và điện thoại di động Các tiến bộ công nghệ về in ấn, xuất bản, tin học, viễn thông đã giúp cho các phương tiện truyền thông đại chúng phát triển và xâm nhập sâu rộng vào hầu hết mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội – từ chính trị, văn hóa, kinh tế, văn học nghệ thuật cho đến chuyện học hành, giải trí của công chúng

Truyền thông đại chúng là một trong những nét đặc trưng nổi bật nhất của xã hội hiện đại Nó làm thay đổi mọi mặt trong đời sống của các cá nhân, gia đình và cộng đồng Làm thay đổi từ phương pháp tư duy, tập quán sinh hoạt cho đến các mối quan hệ giữa con người với con người Các phương tiện truyền thông đại chúng đã làm cho con người không còn sống như trước nữa, bộ mặt xã hội cũng không ngừng biến đổi nhờ vào lĩnh vực này

Vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng được xem như là các công

cụ có khả năng liên kết cả loài người với nhau trở thành một cộng đồng thông qua việc tiếp nhận và phản hồi các thông tin thu nhận được trong quá trình truyền tải thông tin của các phương tiện này

Khi nghiên cứu về truyền thông, chủ đề ảnh hưởng hay tác động xã hội của các phương tiện truyền thông đại chúng thường nhận được nhiều sự chú ý và tranh luận [Trần Hữu Quang, 2006] Do đó, cũng xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về vai trò và tác dụng của các phương tiện truyền thông Nhưng hầu hết đều thừa nhận vai trò không thể thiếu của các phương tiện truyền thông đại chúng trong xã hội hiện đại Các phương tiện này là công cụ cung cấp cho chúng ta mọi thông tin Hầu như tất cả các cá nhân trong xã hội đều có nhu cầu tiếp cận và sử dụng ít nhất một loại

Trang 9

phương tiện truyền thông đại chúng trong một ngày Con người cũng sẽ khó hình dung là mình sẽ thế nào nếu thiếu các phương tiện truyền thông

Những năm qua, trong bối cảnh của công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế về mọi mặt của đời sống xã hội, hệ thống thông tin truyền thông và các phương tiện truyền thông đại chúng của nước ta đã phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng Các phương tiện truyền thông đại chúng góp phần ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều tầng lớp dân cư khác nhau trong việc cung cấp thông tin và kiến thức, trong đó có nhóm dân cư là sinh viên

Sinh viên là một bộ phận ưu tú có trình độ tiên tiến nhất trong thanh niên, là một tầng lớp xã hội đã được tuyển chọn qua các kỳ thi, có sức khỏe, có văn hóa, có nhạy cảm với cuộc sống, được giáo dục, đào tạo chuẩn bị cho hoạt động lĩnh vực nghề nghiệp trong tương lai Họ là lực lượng trí thức trẻ, biết cách tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật Họ là những người đang chuẩn bị để gia nhập vào đội ngũ trí thức của xã hội

Để đạt được những điều này, sinh viên sẽ phải tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau trong thời gian học tập tại nhà trường và ngoài xã hội như hoạt động học tập, hoạt động vật chất, hoạt động tinh thần, hoạt động chính trị xã hội Trong đó, hoạt động học tập là quan trọng nhất Ngoài việc tiếp nhận thông tin phục vụ cho các hoạt động này từ gia đình, nhà trường và xã hội, thì sinh viên luôn tiếp cận và

sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng như là một công cụ chính thức đáp ứng cho các nhu cầu của mình Câu hỏi đặt ra là truyền thông đại chúng có phải là nguồn cung cấp thông tin chủ yếu đồng thời phản ánh đúng và đầy đủ nhu cầu của sinh viên trong đời sống của họ hay không?

Tiện ích mà các phương tiện truyền thông đại chúng mang lại cho sinh viên hiện nay có thể giúp cho họ có những hiểu biết sâu rộng trong mọi lĩnh vực, cập nhật thông tin một cách nhanh chóng và chính xác Bên cạnh đó các phương tiện này còn giúp sinh viên đáp ứng được nhu cầu giao lưu kết bạn với nhiều người không những trong nước mà cả trên toàn thế giới, tạo dựng được nhiều mối quan hệ trong công

Trang 10

việc cũng như học tập, hay giúp họ thư giãn làm giảm bớt đi những căng thẳng mệt nhọc Tuy nhiên, mức độ tiếp nhận kiến thức của sinh viên hiện nay là nhiều hay ít? Việc sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng để đáp ứng nhu cầu giải trí, học tập của sinh viên là một điều tất yếu trong xu hướng toàn cầu hóa, hiện đại hóa của đất nước Tuy nhiên, trong việc đáp ứng nhu cầu này, ngoài những mặt tích cực, các phương tiện truyền thông đại chúng còn có thể mang đến nhiều tác động tiêu cực làm ảnh hưởng đến các hoạt động của sinh viên, chẳng hạn như sự xâm nhập của các trang web xấu, những hình ảnh xấu, văn hóa phẩm đồi trụy, thô tục… làm ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng Việc tiếp cận và sử dụng phương tiện truyền thông đại chúng mà không đúng mục đích phục vụ cho các hoạt động trong đời sống còn làm cho sinh viên mất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến việc học hành Vậy sinh viên hiện nay đang sử dụng truyền thông đại chúng ra sao và theo những

mô thức nào? Tác động của truyền thông đại chúng mang ý nghĩa gì đối với đời sống sinh viên?

Một trong những đặc trưng cơ bản nhất của truyền thông đại chúng là tạo ra một không gian rộng mở cho tất cả mọi người tham gia và hội nhập Vậy sinh viên hiện

có đang sử dụng truyền thông đại chúng như là công cụ để bước vào một không gian công cộng để hội nhập và tạo ra một ý thức cộng đồng mang tính công dân hay không?

Sinh viên về cơ bản là đồng nhất ở lứa tuổi và trình độ học vấn, nhưng truyền thông đại chúng có tác động đồng đều lên các nhóm sinh viên có những đặc điểm nhân khẩu xã hội khác nhau hay không?

Để có được kết luận cho những câu hỏi trên, tác giả đã chọn nghiên cứu về “Tác động của truyền thông đại chúng đến đời sống sinh viên thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Xã hội học

Trang 11

II Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Thông qua việc hiểu được mức độ tiếp của sinh viên ra sao, họ đang theo dõi những nội dung nào, có nhận xét gì về truyền thông đại chúng, họ sử dụng truyền thông đại chúng theo những thói quen nào, theo những mô thức nào đề tài nhắm đến việc thấy được những tác động của truyền thông đại chúng đến đời sống sinh viên và có được cơ sở khoa học để gợi ý và hướng dẫn sinh viên sử dụng và khai thác thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng một cách có hiệu quả nhất Qua đó, nhà trường cũng hiểu được sinh viên mình đang theo dõi truyền thong đại chúng như thế nào? Đồng thời đưa ra những khuyến nghị với giới truyền thông những gì họ cần làm để tăng hiệu quả truyền thông cho nhóm sinh viên và đáp ứng được các nhu cầu của họ Do đó, tác giả cho rằng cần phải có những nhận định khách quan về sự tác động của truyền thông đại chúng đến đời sống của sinh viên

Để có được những nhận định khách quan này, tác giả cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau đây

Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài bao gồm việc nghiên cứu các tài liệu, ứng dụng tiếp cận xã hội học và các cách tiếp cận liên ngành, ứng dụng các lý thuyết về lối sống, lý thuyết về truyền thông đại chúng để hình thành nên mô hình phân tích

lý thuyết, thao tác hóa các khái niệm nhằm hình thành các chỉ báo đo lường, thiết lập giả thuyết

Phân tích và làm rõ tác động của truyền thông đại chúng đến đời sống sinh viên dựa trên các nội dung sau đây: Những đặc điểm nhân khẩu – xã hội của sinh viên; Ứng xử truyền thông của sinh viên như mức độ tiếp nhận các phương tiện truyền thông đại chúng của sinh viên cũng như cách thức sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng của sinh viên, mục tiêu tìm kiếm và theo dõi thông tin, thói quen sử dụng thông tin của sinh viên sau khi tìm kiếm để phục vụ cho đời sống của họ; Loại hình hóa cách tiếp nhận và sử dụng truyền thông đại chúng của sinh viên theo các đặc trưng của họ; Nhận định về các tác động của truyền thông đại chúng đến đời sống sinh viên và ý nghĩa của các tác động này

Trang 12

III Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những tác động của các phương tiện truyền

thông đại chúng đến đời sống của sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Khách thể nghiên cứu của đề tài chính là những sinh viên đang tham gia học tập tại các trường đại học – cao đẳng tại thành phố Hồ Chí Minh

Địa bàn khảo sát của đề tài được giới hạn trong khuôn khổ bốn trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Tp.HCM, Đại học Văn Lang và Đại học Văn Hiến

Thu thập và tổng hợp thông tin từ những tài liệu sẵn có Cụ thể là các cuốn sách, tạp chí, bài viết, công trình nghiên cứu về đời sống của sinh viên, phương tiện truyền thông đại chúng và nội dung truyền thông mà sinh viên là đối tượng được phản ánh

+ Chọn trường: lựa chọn bốn trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh có chủ

đích với tiêu chí loại hình tổ chức (khối trường) là công lập và ngoài công lập nhằm

so sánh sự khác biệt giữa hai loại hình này

+ Chọn ngành học: lựa chọn ngành học thuận tiện có chủ đích là khoa học tự nhiên

– kỹ thuật và khoa học xã hội nhằm mục đích so sánh những sự khác biệt

Trang 13

+ Chọn sinh viên: lựa chọn sinh viên thuận tiện có chủ đích (hỏi trực tiếp bất kỳ

sinh viên nào mà chúng tôi gặp tại trường, được thực hiện từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 01 năm 2012) theo tiêu chí giới tính, năm theo học, ngành học và khối trường theo học Có phân biệt học lực, nơi xuất cư, hoàn cảnh gia đình sau khi thu thập thông tin nhằm so sánh những sự khác biệt

là 400, phân bố đều cho bốn trường nêu trên theo tiêu chí cân bằng về giới tính (50 nam, 50 nữ); năm theo học (50 sinh viên năm thứ hai, 50 sinh viên năm cuối) cho mỗi trường; 200 sinh viên học ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật, 200 sinh viên học ngành khoa học xã hội

Thông tin từ tài liệu có sẵn sau khi tổng hợp sẽ được trích dẫn và đối chiếu với nội dung phân tích của đề tài

Dữ liệu thu thập từ 400 bản câu hỏi được xử lý và trích xuất dưới dạng thống kê

mô tả, phân tích tương quan, phân tích phân loại Số liệu được trình bày dưới dạng bảng, biểu đồ và đồ thị

Trang 14

Phần Cơ sở lý luận

Hiện nay ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về đối tượng sinh viên là khá nhiều Tuy nhiên, các chủ đề nghiên cứu về ảnh hưởng và tác động của phương tiện truyền thông đại chúng đối với đời sống của sinh viên còn ít Do đó, tác giả gặp nhiều khó khăn trong việc tìm và tập hợp các tài liệu liên quan đến đề này của mình Tuy nhiên cũng có vài công trình nghiên cứu về các phương tiện truyền thông mà đối tượng công chúng là học sinh – sinh viên như:

Lại Thị Hải Bình cho rằng trong những năm qua, hệ thống báo chí của nước ta

đã trưởng thành về cả số lượng và chất lượng Báo chí có ảnh hưởng sâu rộng đến tất cả tầng lớp dân cư, trong đó có học sinh – sinh viên Báo chí dành cho đối tượng này phong phú và đa dạng Qua phân tích nội dung các báo trên từ năm 2003 đến

2005 và tập trung vào các vấn đề như: tìm hiểu các vấn đề lý luận về vai trò của báo chí đối với đời sống xã hội và đối với việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh – sinh viên; qua khảo sát nội dung của các tờ báo, Hải Bình đã rút ra kết luận, nhận định và đánh giá vai trò của báo chí đối với việc hình thành phát triển nhân cách của đối tượng công chúng là học sinh – sinh viên; nêu ra các giải pháp có tính định hướng nhằm nâng cao vai trò của báo chí trong việc định hình nhân cách cho học sinh – sinh viên

Kết quả của đề tài giúp chúng tôi nắm bắt rõ ràng hơn các nội dung chính của các tờ báo mà sinh viên thường theo dõi Việc phân tích quá trình hình thành và phát triển nhân cách của sinh viên là một trong các cơ sở giúp đề tài của chúng tôi đánh giá được sự tác động của truyền thông đại chúng đến đời sống sinh viên Trong một nghiên cứu khác, Nguyễn Quý Thanh cho rằng Internet là một công

cụ hữu hiệu bổ trợ cho quá trình học tập của sinh viên Tuy nhiên, cho dù nó đã tạo

Trang 15

những sự thay đổi nhất định trong cách học tập của sinh viên, mặc dù không được như chúng ta mong đợi Đề tài cũng cho thấy tầm quan trọng của việc phổ cập và tạo điều kiện cho sinh viên có thể truy cập Internet phục vụ cho việc học là một việc

vô cùng cần thiết Việc này phải được thực hiện một cách đồng bộ từ phía giáo viên, sinh viên cũng như các nhà quản lý giáo dục Trong đề tài của chúng tôi, các kết quả của Nguyễn Quý Thanh giúp cho việc đưa ra các định hướng sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng đối với sinh viên

Tác phẩm “Chân dung công chúng truyền thông’’ của Trần Hữu Quang tiến tới việc nhận diện và khảo sát những mô thức tiếp nhận của các tầng lớp công chúng ở thành phố Hồ Chí Minh đối với phương tiện truyền thông đại chúng trong bối cảnh đang diễn ra nhiều chuyển biến kinh tế - xã hội Tác phẩm đã giới thiệu chi tiết tình hình truyền thông đại chúng tại thành phố Hồ Chí Minh – một trung tâm thông tin – báo chí lớn của cả nước Tiếp đó, phân tích chi tiết mức độ và cách thức sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng của công chúng bằng cách khái quát tình hình trang bị phương tiện tiếp nhận thông tin đại chúng trong dân cư, phân tích các nội dung thường được công chúng theo dõi, tương quan giữa ba hành vi đọc báo, xem truyền hình và nghe đài phát thanh cũng như thái độ của công chúng đối với sự đổi mới của báo chí và đưa ra những nhận định về mức độ và cách sử dụng truyền thông đại chúng của công chúng Ở chương cuối, tác giả đã nhận diện và phân loại các nhóm công chúng trong việc tiếp nhận truyền thông đại chúng bằng cách phân tích các trục nội dung thường được theo dõi và nêu lên một số các nhân tố ảnh hưởng Đồng thời, đưa ra các nhận định về sự khác biệt về mô thức tiếp nhận truyền thông đại chúng của các tầng lớp xã hội, về hiệu quả không đồng đều của truyền thông đại chúng, về vai trò của báo in và đưa ra giả thuyết về mô hình văn hóa hiện nay Từ đó, tác giả kết luận truyền thông đại chúng là một thiết chế xã hội mới, thông tin có vai trò quan trọng trong công cuộc đổi mới, hiệu quả không đồng đều của truyền thông đại chúng dẫn đến xu hướng cải tạo cơ cấu xã hội cũng như khả năng góp phần tạo động lực xã hội cho quá trình phát triển đất nước

Trang 16

Tác giả đã vẽ nên một bức tranh khá trọn vẹn về công chúng thành phố Hồ Chí Minh thông qua việc phân tích tình hình tiếp nhận cũng như loại hình hóa các mô thức tiếp nhận truyền thông đại chúng của công chúng Những kết quả này đã là nền tảng cho những phân tích của chúng tôi về tác động của truyền thông đại chúng đến sinh viên Đề tài cũng giúp chúng tôi học hỏi được nhiều kinh nghiệm trong việc phân loại sinh viên theo các nhóm mô thức

Công trình nghiên cứu “Văn hóa nghe nhìn của giới trẻ’’ (do Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh cấp kinh phí và được thực hiện bởi Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ) cho rằng, sự phát triển của truyền thông, truyền hình, băng đĩa và gần đây nhất là Internet đã đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết như: chương trình, công chúng, thị hiếu, các vấn đề trong quản lý, giáo dục, nhất là với giới trẻ Trong khi đó, các công trình nghiên cứu về nghe nhìn là chưa nhiều Giới trẻ với những đặc điểm về phát triển tâm lý có những nhu cầu riêng Họ là đối tượng cần được quan tâm nhưng không có công trình nào nghiên cứu một cách kỹ lưỡng về ảnh hưởng của truyền hình cũng như băng đĩa đối với giới trẻ Do đó, đề tài đã đặt ra nhiều câu hỏi như: giới trẻ hiện nay có mối quan tâm như thế nào đối với truyền hình và băng đĩa? Nhu cầu của họ ra sao? Các chương trình truyền hình hay loại băng đĩa nào được họ ưu thích và những ước mong của họ về truyền hình

và băng đĩa trong tương lai? Những người làm truyền hình và sản xuất băng đĩa cần biết ý kiến của giới trẻ để đáp ứng được nhu cầu này với chất lượng ngày càng nâng cao Để trả lời cho các câu hỏi trên, đề tài đã phân tích các vấn đề truyền thông đại chúng và truyền hình, băng đĩa cùng một số các nhận xét về truyền hình, băng đĩa ở Việt Nam hiện nay Đề tài cũng phân tích cụ thể tình hình văn hóa nghe nhìn của giới trẻ thông qua các khảo sát trong lĩnh vực truyền hình và lĩnh vực băng đĩa Đồng thời đưa ra các dự báo về xu hướng phát triển của truyền hình và băng đĩa; khuyến nghị xuất phát từ thực tế hoạt động của truyền hình và từ thị trường băng đĩa

Trang 17

Những kết quả của đề tài này, nhất là phân tích về nhu cầu, mong muốn, khả năng đáp ứng của nhà sản xuất với giới trẻ giúp chúng tôi xây dựng được những ý tưởng ban đầu cho phân tích những nhận xét của sinh viên về truyền thông đại chúng

Trong một quan điểm về định kiến giới trong quảng cáo trên phương tiện truyền thông đại chúng, Lê Sĩ Hải đã góp phần tìm hiểu những định kiến giới trong quảng cáo hiện nay, đặc biệt đi sâu tìm hiểu ý nghĩa đằng sau các thông điệp quảng cáo tác động đến định kiến giới trong xã hội Từ đó, tác giả mong muốn cung cấp một cách nhìn (mà lâu nay ít người để ý) về cơ chế tác động của quảng cáo, những thực trạng

sử dụng hình ảnh quảng cáo trên các phương tiện truyền thông đại chúng cũng như

mô thức tiếp nhận của công chúng Đồng thời thông qua nghiên cứu này, ở chừng mực nào đó, tác giả mong muốn sẽ tác động đến các nhà quản lý, những người làm quảng cáo nhằm phát huy những hình ảnh tích cực góp phần nâng cao vị thế, vai trò của người phụ nữ, đồng thời hạn chế những hình ảnh có tác động đến tình trạng phân biệt giới trong xã hội Qua kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số kết luận như: (1) quảng cáo thường khai thác những hình ảnh đặc sắc, mang yếu tố liên quan đến văn hóa xã hội để đưa lên các phương tiện truyền thông đại chúng nhằm lôi kéo

sự theo dõi của công chúng; (2) vai trò, phong cách của mỗi giới được sử dụng trong quảng cáo có xu hướng tập trung vào những quan niệm truyền thống đã gắn cho giới nam và giới nữ; (3) những ý nghĩa sâu xa ẩn chứa trong các thông điệp quảng cáo được sử dụng để khơi gợi ý thức về mặt tình cảm, từ đó khách hàng phải gắn kết với hàng hóa Tuy nhiên, cơ chế này lại gây ra hai phản ứng trái ngược nhau là tích cực và tiêu cực; (5) công chúng có cách ứng xử khác nhau đối với quảng cáo tuy theo mục đích, cách thức xem quảng cáo, đồng thời phụ thuộc vào các đặc điểm nhân khẩu – xã hội như nghề nghiệp, giới tính, học vấn Từ đây, tác giả đã loại hình hóa được bốn nhóm ứng xử với quảng cáo: nhóm thụ động, nhóm chọn lọc, nhóm xa lánh và nhóm hài lòng, tác giả cũng xác định có hai nhóm khách hàng khác nhau là: nhóm người tiêu dùng gắn bó hoàn toàn với hàng hóa và nhóm người tiêu dùng ít gắn bó vời hàng hóa; (6) quảng cáo hàng ngày lặp đi lặp lại đã tác

Trang 18

động đến quan điểm về giới của công chúng, theo đó tác động này có thể củng cố định kiến về giới hoặc giảm bớt các định kiến tùy thuộc vào từng nhóm xã hội khác nhau

Một trong những hạn chế của đề tài này là việc loại hình hóa các mô thức tiếp nhận quảng cáo của công chúng chưa được rõ ràng và thuyết phục về ý nghĩa thống

kê Điểm hạn chế này sẽ được chúng tôi khắc phục trong đề tài của mình bằng việc thực hiện các kỹ thuật phân tích phân loại dữ liệu bậc cao Hơn nữa, ý tưởng về việc phân tích cơ chế tác động của quảng cáo đến định kiến giới cũng gợi cho chúng tôi những phác thảo ban đầu về tác đông của truyền thông đại chúng đến đời sống sinh viên

Ngoài ra, còn có thể kể đến các tác giả như E.G Smirnova với đề tài “Nghiên cứu Xã hội học về các ấn phẩm, đài phát thanh và vô tuyến truyền hình ở các nước

Tư bản phát triển'', Nxb Đại học Quốc gia Moscow, 1984 (Nguyễn Quý Thanh dịch) hay “Truyền thông đại chúng là sự giao tiếp giữa các nhóm xã hội lớn’’ do Nguyễn Quý Thanh dịch theo cuốn “Giao tiếp và sự tối ưu hóa hoạt động chung’’ của hai tác giả G Andreeva và I Januoscheka đồng chủ biên, Nxb Đại học Tổng hợp Moscow, 1987

Hiểu theo nghĩa chung nhất, trừu tượng nhất thì truyền thông là quá trình truyền

dữ liệu giữa các đơn vị chức năng [Hoàng Phê, 2000] Có thể nói truyền thông là một dạng hoạt động căn bản của bất kỳ một tổ chức mang tính xã hội nào Trong xã hội loài người, truyền thông là điều kiện tiên quyết để hình thành nên một cộng đồng hay một xã hội Kể từ khi có xã hội loài người thì đã có truyền thông Con người sở dĩ có thể sống được với nhau, giao tiếp với nhau, trước hết là nhờ vào hành vi truyền và nhận thông tin giữa người này và người khác để giữ mối liên lạc

Trang 19

với nhau, trong đó chủ yếu là thông qua ngôn ngữ Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường xuyên trao đổi thông tin với nhau lúc nói chuyện, đối đáp, tranh luận trong gia đình, đi làm, vui chơi hay học hành kể cả công việc đọc sách, báo, xem phim, nghe nhạc đều là những hành vi nằm trong các quá trình truyền thông

Truyền thông là một quá trình truyền đạt, tiếp nhận và trao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối liên hệ giữa con người với con người Quá trình truyền thông này

có thể diễn ra trong không gian hay diễn ra theo thời gian

Truyền thông thường được thực hiện thông qua ngôn ngữ, nhưng cũng có thể thông qua động tác, cử chỉ hay điệu bộ để biểu lộ một thái độ hay một cảm xúc nào

đó

Là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, truyền hình, phát thanh, internet

Điểm mấu chốt để xác định xem một hành vi có nằm trong quá trình truyền thông đại chúng hay không không phụ thuộc vào chỗ sử dụng thiết bị nào, mà là cần xem hành vi đó có nằm trong quá trình truyền tải và tiếp nhận thông tin thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng hay không

Truyền thông đại chúng là một quá trình xã hội đặc thù bao gồm ba thành tố chính:

- Hoạt động truyền thông (ví dụ như đi săn tin tức, quay phim, chụp hình, viết bài, đăng bài, phát sóng ),

- Các nhà truyền thông (gồm các tổ chức truyền thông như các tờ báo, đài phát thanh, đài truyền hình, các phóng viên, biên tập viên ),

- Công chúng độc giả, khán giả hoặc thính giả

1 Trần Hữu Quang (2006), Xã hội học Báo chí, Nxb Trẻ, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, TT Kinh tế châu Á Thái

bình dương

Trang 20

3 Phương tiện truyền thông đại chúng

Các phương tiện truyền thông đại chúng bao gồm báo chí, phát thanh, truyền hình được dùng như là các công cụ kỹ thuật hay những kênh mà phải nhờ vào đó người ta mới có thể thực hiện quá trình truyền thông đại chúng, nghĩa là tiến hành truyền tải thông tin đến công chúng Giúp công chúng theo dõi được các tin tức, thời sự, và mở mang kiến thức

Nhà nghiên cứu truyền thông Charles Wright đã định nghĩa các phương tiện truyền thông đại chúng như sau: đây là những phương tiện thông tin nhắm đến những công chúng tương đối rộng rãi, dị biệt, nặc danh và không có quan hệ gì với các nhà truyền thông; nội dung thông tin được phát ra công cộng; cách phát hành ấn phẩm hoặc giờ phát sóng được tính toán sao cho để đến được khối lượng công chúng đông đảo nhất; và nhà truyền thông là (hoặc hoạt động trong) một tổ chức chính thức, tổ chức này thường có một bộ máy tương đối phức tạp và có vốn đầu tư tương đối lớn [Trần Hữu Quang, 2006, tr20]

Các phương tiện truyền thông đại chúng đóng vai trò quan trọng vì:

- Chúng là kênh chủ yếu cung cấp thông tin thời sự, kiến thức và giải trí cho người dân, và đã trở thành một bộ phận hữu cơ không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của mọi cá nhân trong xã hội;

- Chúng là công cụ hữu hiệu để quản lý, điều hành và cải cách xã hội;

- Chúng trở thành một định chế có những quy tắc và chuẩn mực riêng của mình trong lòng xã hội, và có những quan hệ mật thiết với các định chế khác trong

xã hội

Phương tiện truyền thông đại chúng đầu tiên là báo chí ra đời tại châu Âu từ thế

kỷ 17 Ngày nay, người ta cho rằng có những loại phương tiện truyền thông đại chúng cơ bản là báo chí, truyền hình, đài phát thanh, điện ảnh, xuất bản; nhiều tác giả còn đưa vào cả lĩnh vực sản xuất băng đĩa Và hiện nay, chúng ta cần kể tới cả internet và điện thoại di động

Internet và điện thoại di động là hai phương tiện truyền thông có thể được xếp vào nhóm các phương tiện truyền thông đại chúng mới Hai phương tiện này, tự bản

Trang 21

thân chúng mang nhiều chức năng cùng lúc, tùy thuộc vào mục đích sử dụng của người dùng – điều mà các phương tiện truyền thông đại chúng truyền thống (báo in, truyền hình và đài phát thanh) không làm được Trước hết, là chức năng truyền thông liên cá nhân, mà biểu hiện là gửi thư điện tử Hoạt động này giúp các cá nhân hay tổ chức liên lạc với nhau kèm theo nhiều tiện ích đa dạng hơn

Chức năng tiếp theo là phương tiện truyền thông tập thể Hiện nay, rất nhiều cơ quan, đơn vị, thậm chí là chính quyền cũng sử dụng những mạng nội bộ vào việc quản lý công việc và nhân viên Điển hình là các cuộc họp trực tuyến trên mạng Chức năng thứ ba là phương tiện truyền thông đại chúng Việc đưa thông tin từ báo in lên báo mạng thực chất chỉ là sự thay đổi về kỹ thuật đưa tin từ báo giấy sang các thiết bị điện tử Những thiết bị này có khả năng cập nhật tin tức nhanh chóng, truyền tin đi xa hơn, đến nhiều nơi hơn, khả năng tương tác với người dùng đa dạng hơn

Điện thoại đi động ngày nay có nhiều chức năng hiện đại bao gồm cả việc thực hiện truy cập mạng internet một cách dễ dàng Và như vậy, cùng với internet, nó cũng là một phương tiện truyền thông có khả năng kéo dài các giác quan của chúng

ta qua cả không gian và thời gian Tức là thông tin được truyền đi với tốc độ cực nhanh, gần như ngay tức khắc khi người dùng thực hiện các thao tác gửi thông tin Thông tin này cũng có thể được lưu trữ từ thời điểm này sang thời điểm khác Hai phương tiện này giúp chúng ta nghe được và thấy được những việc xảy ra ngoải khả năng của các giác quan

Với khả năng có thể thực hiện một phần những chức năng trên, internet và điện thoại di động nên được xem là những phương tiện truyền thông đại chúng kiểu mới trong xã hội hiện nay Hơn nữa, internet đã trở thành một định chế trong xã hội, có những quy tắc, chuẩn mực riêng và cũng có những mối quan hệ với các định chế xã hội khác Và điện thoại di động đang là một trong các phương tiện chứa đựng định chế đó

Trang 22

4 Mô thức tiếp nhận truyền thông đại chúng 2

Sinh viên thông thường có rất nhiều cách thức khác nhau trong việc tiếp xúc và

sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng Từ việc mua báo ở đâu và như thế nào, đọc báo nào, đọc mục gì, đọc như thế nào cho đến việc có mở tivi hay đài phát thanh không, thường mở vào lúc nào, trong bao lâu, xem hay nghe cùng với ai,

để làm gì hoặc có sử dụng Internet không, dùng để làm gì,

Trước một thực tế hết sức đa dạng và phân tán đó, lẽ tất nhiên, thoạt đầu chúng

ta cần phải khảo sát và mô tả thật chi tiết sự đa dạng đó Tiếp theo, đề tài này cố gắng thực hiện một bước nữa và khái quát lại những ứng xử đa dạng đó, bằng cách

đi tìm và nhận diện ra những mô thức tiếp nhận chủ yếu của giới công chúng là sinh

viên đối với các phương tiện truyền thông đại chúng mà chúng tôi sẽ gọi là mô thức tiếp nhận truyền thông đại chúng Đây là khái niệm được dùng để chỉ phương thức

và mục đích sử dụng các phương tiện này trong cuộc sống hàng ngày của sinh viên

Đề tài sẽ nhận diện và lý giải những mô thức khác nhau đó

Đời sống là các hoạt động sống nhằm bảo vệ, duy trì và tái sản xuất ra đời sống của bản thân con người gồm đời sống vật chất và đời sống tinh thần Những hoạt động sống cơ bản gồm: hoạt động lao động, hoạt động sinh hoạt (ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí, nuôi dạy con cái, giao tiếp trong gia đình và ngoài xã hội…), hoạt động chính trị xã hội, hoạt động văn hóa tinh thần (giáo dục, khoa học, nghệ thuật, thể dục thể thao…)

Theo tác giả thì đời sống sinh viên là những hoạt động phản ánh có tính chủ quan và chọn lọc những nội dung và phương thức hoạt động của đời sống xã hội, hình thành nên một tổng thể, một hệ thống những đặc điểm chủ yếu đặc trưng cho

2 Khái niệm này được thao tác lại theo khái niệm tương tự của PGS.TS Trần Hữu Quang trong “Chân dung công chúng truyền thông” xuất bản năm 2001

Trang 23

giới sinh viên, những đặc điểm này được biểu hiện trong định hướng giá trị, trong những hoạt động giao tiếp ứng xử, sinh hoạt cá nhân đặc thù của sinh viên

Đời sống của sinh viên là những hoạt động và cách thức sinh viên tham gia vào các quan hệ xã hội bằng những hoạt động của mình Sự lựa chọn được xác định dựa trên cơ sở sinh viên biết đánh giá hoạt động sống của mình trong tương quan với điều kiện sống

Đề tài này chỉ tập trung và việc khảo sát những lĩnh vực sau đây trong đời sống sinh viên như: hoạt động truyền thông và giao tiếp; hoạt động gia tăng cái tôi và tâm

lý cá nhân; hoạt động tham gia vào không gian xã hội; hoạt động tra cứu tài liệu và tiếp nhận tri thức; và hoạt động giải trí Phần lớn các hoạt động sống của sinh viên đều dựa vào các phương tiện truyền thông đại chúng

Theo Từ điển Tiếng Việt [Hồng Mây, Ngọc Sương, Minh Mẫn, tr 681], tác động

là làm cho một đối tượng nào đó có những biến đổi nhất định Trong tiếng Anh

[Oxford Learner’s Pocket Dictionary, tr 220], tác động (Impact) là sự ảnh hưởng

mạnh mẽ của một điều gì đó lên một người hoặc điều gì khác

Theo chúng tôi, tác động của truyền thông đại chúng đến đời sống sinh viên là

sự ảnh hưởng của nội dung truyền thông đến các lĩnh vực thuộc về đời sống sinh viên và làm cho sinh viên có những thay đổi nhất định về nhận thức và hành vi Nhưng trong khuôn khổ đề tài này, tác giả lựa chọn đo lường, khảo sát sự tác động của truyền thông đại chúng đến đời sống sinh viên thông qua cách nhìn nhận

và phương thức tiếp nhận thông tin của bản thân sinh viên Do đó, thuật ngữ tác động trong đề tài này được đo lường theo cách ứng xử truyền thông của sinh viên thông qua cách thức tiếp nhận và thói quen sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng của sinh viên; cách sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng trong đời sống sinh viên; các nội dung sinh viên thường theo dõi, cũng như nhận xét của sinh viên về truyền thông đại chúng Từ đó, loại hình hóa các mô thức tiếp nhận

Trang 24

truyền thông đại chúng đang tồn tại trong giới sinh viên hiện nay Đồng thời phân tích ý nghĩa tác động của truyền thông đại chúng đến đời sống sinh viên thông qua các hoạt động sống của họ Như vậy cách nhìn nhận của sinh viên đối với truyền thông đại chúng được tác giả hiểu là tác động

III Những cách tiếp cận lý thuyết

Tiêu biểu cho cách tiếp cận này là các tác giả như I.V.Bestuzhez–Lada, A.P.Butenko, I.T.Levukin… Những tác giả theo cách tiếp cận này cho rằng không thể loại trừ bản thân hoạt động sống ra khỏi lối sống Họ coi lối sống như là sự thống nhất các hình thức hoạt động sống và một số điều kiện sống quan trọng nhất Theo các tác giả này thì “lối sống là phạm trù xã hội học, chỉ sự thống nhất hữu cơ các hình thức hoạt động sống và những điều kiện nhất định”

Theo A.P.Butenko, tác giả có quan điểm nhận được nhiều sự đồng tình cũng như

có sự đầy đủ nhất đã đưa ra nhận định: “Lối sống là một phương thức hay đặc điểm của toàn bộ hoạt động sống của một cá nhân xác định, một nhóm xã hội hay toàn xã hội Phương thức này trước hết chịu sự tác động của phương thức sản xuất, mức sống, toàn bộ các điều kiện địa lý – tự nhiên và lịch sử - xã hội cũng như các định hướng giá trị” Ông cho rằng, lối sống cho ta thấy con người ra sao, sống vì cái gì,

họ làm gì và cuộc sống của họ biểu hiện qua những hành động nào

Thực chất lối sống không bao gồm những điều kiện sống cụ thể nào đó mà là tổng hòa toàn bộ các hình thức hoạt động sống của con người trong quá trình sản xuất các phúc lợi vật chất và tinh thần cũng như trong các lĩnh vực chính trị - xã hội

và sinh hoạt gia đình Các hoạt động sống được coi là lối sống và là các biểu hiện của lối sống Tuy nhiên, không phải bất cứ hoạt động sống nào, không phải toàn bộ các hoạt động sống của con người đều được coi là lối sống, mà chỉ những hoạt động sống và phương thức tiến hành các hoạt động sống nào lặp đi lặp lại, có tầm ảnh hưởng mạnh và độ phổ biến cao trong đa số cá thể của một nhóm, một cộng đồng

Trang 25

người hay trong toàn xã hội thì mới được coi là lối sống và các biểu hiện của lối sống Và các hình thức của hoạt động sống này có mối liên hệ qua lại xác định, được tạo lập thành hệ thống do tác động của hàng loạt nhân tố, trước hết là lập trường xã hội, phương hướng giá trị và bởi vậy nó có tính hoàn chỉnh nội tại, có sự thống nhất hữu cơ Mặt khác, có thể hiểu lối sống là tất cả những hoạt động sống và phương thức tiến hành các hoạt động sống được một bộ phận lớn hoặc toàn thể các nhóm, các cộng đồng người chấp nhận và thực hành trong một khoảng thời gian tương đối ổn định Sẽ không thể khám phá được các hoạt động sống nếu tách rời những hoạt động sống, phương thức tiến hành những hoạt động ấy khỏi môi trường sống và những mối liên hệ lịch đại và đồng đại của nó

Cũng có quan điểm gần giống với quan điểm của Butenko, các nhà xã hội học như I.T.Levukin, T.M.Dridre cho rằng lối sống là một hệ thống xác định gồm những hình thức hoạt động sống ổn định và lặp đi lặp lại, hệ thống có sự thống nhất nội tại Lối sống là phương thức mà con người tổ chức hoạt động sống của mình, tính tích cực sống trong những điều kiện cụ thể, tức là trong hệ thống các quan hệ kinh tế- xã hội và giai cấp xác định, trong một môi trường xung quanh xác định về lịch sử - văn hóa

Những luận điểm của các tác giả trên cho thấy, hầu hết các quan điểm đều cho rằng đời sống hay lối sống là tổng hòa các phương thức của toàn bộ hoạt động sống của con người, nhưng lại có sự khác biệt giữa các quan niệm với nhau Từ những khái niệm trên giúp cho tác giả đề tài có thể rút ra được một số điểm đáng lưu ý như sau

Đời sống là tổng thể những đặc trưng cơ bản nhất, điển hình nhất, ổn định nhất của những hình thức hoạt động sống của con người Được quy định bởi hoàn cảnh khách quan của xã hội, bởi những điều kiện sống của giai cấp, của dân tộc… và có khả năng lựa chọn của con người về một hình thức hoạt động nào đó, những phương thức có mục đích rõ ràng, những định hướng giá trị của con người tạo nên mặt chủ quan của lối sống Hiện nay sinh viên có rất nhiều cơ hội để khẳng định bản thân trong một môi trường xã hội hoàn toàn mới Lối sống tự do suy nghĩ, tự do

Trang 26

trong việc tiếp cận nguồn thông tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng rất dễ làm cho các bạn trẻ tiếp thu những luồng văn hóa mới vì họ là tầng lớp rất nhạy bén trong việc tiếp cận và lĩnh hội những cái mới lạ từ các nền văn hóa khác

Việc tiếp cận và sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng như là một công cụ để phát triển trí thức, cập nhật những thành tựu và tinh hoa văn hóa của nhân loại, giúp cho sinh viên mở rộng hiểu biết và tăng thêm các mối quan hệ trong

xã hội Nhưng trong thực tế lại không hoàn toàn như vậy, có nhiều sinh viên sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng làm công cụ để giải trí làm tiêu tốn thời gian, sức lực và tiền bạc Với tính năng “mở”, các phương tiện này có thể dẫn đến sự thay đổi đáng kể trong suy nghĩ, quan niệm sống của nhiều sinh viên, từ đó

có thể dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng như suy nhược sức khỏe, kết quả học tập sút kém, lừa lọc lẫn nhau, mua bán những đồ ảo trên mạng bằng tiền thật…Và làm thay đổi những giá trị nhân cách trong lối sống của giới trẻ trong các vấn đề tế nhị của cuộc sống như quan hệ tình dục trước hôn nhân…

Cách tiếp cận này giúp cho tác giả đề tài có được một cái nhìn cụ thể hơn trong việc phân tích cách nhìn nhận của sinh viên đối với truyền thông đại chúng Từ đó thấy được những tác động của truyền thông đại chúng đến đời sống của sinh viên trong thời đại ngày nay

Theo quan điểm chức năng luận, xã hội được quan niệm như một tổng thể trong

đó bao gồm nhiều bộ phận có liên hệ với nhau, mỗi bộ phận đều có những chức năng riêng của mình; trong các bộ phận đó có các phương tiện truyền thông đại chúng Quan điểm chức năng luận thường nhấn mạnh đặc biệt tới các “nhu cầu” của một xã hội Truyền thông đại chúng được coi là một định chế xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu duy trì tính ổn định, tính liên tục của một xã hội, cũng như nhu cầu thích nghi và hội nhập của các cá nhân trong xã hội ấy

Trang 27

Theo Robert Merton, chúng ta không bao giờ được phép kết luận về những ảnh hưởng xã hội của của các phương tiện truyền thông đại chúng nếu chỉ căn cứ vào những tuyên bố và những ý định công khai của các tổ chức này Merton luôn nhấn mạnh rằng, đối với mỗi hoạt động xã hội, chúng ta cần phân biệt rõ giữa mục tiêu công khai nhắm đến, với hiệu quả thực sự xảy ra (tức là chức năng) – bởi lẽ hai cái này có thể không trùng nhau Nói cách khác, các chức năng xã hội của các phương tiện truyền thông đại chúng không nhất thiết tương ứng với các mục tiêu công khai

mà nhà truyền thông muốn nhắm tới [Trần Hữu Quang, 2006, tr 354] Merton gọi những hiệu quả mà người ta muốn đạt được là những chức năng “công khai” (manifest), còn những hiệu quả xảy ra mà người ta không ngờ đến là những chức năng “tiềm ẩn” (latent)

Harold Lasswell, một trong những tác giả tiên phong nghiên cứu về truyền thông đại chúng, đã nêu lên ba chức năng quan trọng của giới truyền thông đại chúng, đó là: theo dõi môi trường xã hội (nói cách khác là chức năng phát hiện và truyền đạt thông tin); nối kết các bộ phận xã hội với nhau trong việc ứng xử với môi trường xã hội; truyền tải di sản xã hội từ thế hệ này sang thế hệ khác (tức là phổ biến các giá trị và chuẩn mực trong xã hội) [Trần Hữu Quang, 2006, tr 355]

Còn theo Charles Wright, người ta có thể liệt kê ra năm chức năng của phương tiện truyền thông đại chúng như: Chức năng đầu tiên là báo động cho mọi người dân biết một mối nguy hiểm nào đó để họ tìm cách đối phó Chức năng thứ hai là

đáp ứng các nhu cầu thực tế hàng ngày của người dân trong xã hội Chức năng này được chúng tôi áp dụng để mô tả những đánh giá của sinh viên về truyền thông đại chúng Chức năng thứ ba là củng cố uy tín của những người luôn cố gắng theo dõi

tin tức thời sự Chức năng thứ tư là nâng cao một hình ảnh xã hội nào đó, hay hợp thức hóa một vị trí xã hội nào đó Chức năng thứ năm là củng cố sự kiểm soát của

xã hội, thúc đẩy việc tôn trọng các quy tắc và chuẩn mực của xã hội

Xét về mặt xã hội học, thì truyền thông đại chúng là một trong những định chế góp phần vào quá trình xã hội hóa cá nhân Chính là thông qua các kênh truyền thông này mà các giá trị xã hội, các quy tắc, luật lệ thành văn hay bất thành văn của

Trang 28

xã hội được phổ biến và nhắc đi nhắc lại cho mọi người cùng biết, thuyết phục mọi người cùng đồng tình và cùng nhau tuân thủ Truyền thông đại chúng là một phương tiện có khả năng đưa cá nhân hội nhập vào xã hội, và làm cho mọi người

trong xã hội trở nên gắn kết với nhau Nội dung này được chúng tôi dùng để phân tích sự gia tăng cái tôi và tâm lý cá nhân và sự tham gia vào không gian xã hội của sinh viên

Trong lý thuyết chức năng, Robert Merton còn phân biệt giữa “chức năng” và

“phản chức năng” Chức năng là cái làm cho hệ thống duy trì sự tồn tại của mình và

tiếp tục vận hành trôi chảy Điều này thể hiện trong phần phân tích về vai trò của truyền thông liên cá nhân nhằm thực hiện quá trình truyền thông diễn ra được trọn vẹn Còn phản chức năng là cái gì gây cản trở quá trình đó Một hoạt động có thể

vừa có những chức năng lẫn những phản chức năng

Người ta có thể nghiên cứu những chức năng và phản chức năng của những thông tin do các phương tiện truyền thông đại chúng phát đi đối với những tầng lớp công chúng cụ thể để khảo sát vai trò của truyền thông đại chúng trong xã hội Nói cách khác, đây là hướng nghiên cứu về ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đối với hệ thống văn hóa của xã hội Truyền thông đại chúng trong một quốc gia có thể tác động lên thái độ và ứng xử của người dân, có thể góp phần bảo tồn và phát triển nền văn hoá dân tộc hoặc ngược lại Truyền thông đại chúng từ nước ngoài đưa vào trong một quốc gia có thể làm phong phú thêm cho bản sắc văn hóa địa phương nhưng đồng thời cũng có thể là hiểm họa “xâm lược” về văn hóa, dần dà làm mất đi những truyền thống văn hóa của địa phương

Chính là để hạn chế những phản chức năng của truyền thông đại chúng, mà người ta luôn nhấn mạnh đến trách nhiệm (về mặt xã hội học thì đây là chức năng) hướng dẫn dư luận của các nhà truyền thông Chức năng này được thực hiện thông qua việc chọn lọc các tin tức để đăng tải, cùng với việc cung cấp những giải thích và bình luận cần thiết kèm theo các tin tức cho bạn đọc, cho khán thính giả

Trang 29

3 Cách tiếp cận “sử dụng và hài lòng” trong nghiên cứu truyền thông đại chúng

Trong xu hướng nghiên cứu chức năng luận, có một lối tiếp cận thường được sử dụng gọi là lối tiếp cận “sử dụng và hài lòng”, mà một trong những tác giả đầu tiên

áp dụng là Malcom Wiley Trước đây, thay vì đặt câu hỏi là các phương tiện truyền thông đại chúng đã làm gì cho công chúng, thì lối tiếp cận này đặt một câu hỏi ngược lại: công chúng đã làm gì với các phương tiện truyền thông đại chúng? Jean Cazeneuve đã tóm tắt lối tiếp cận này như sau: “điều này có nghĩa là các thông điệp chỉ tác động trong chừng mực mà người nhận thực sự tiếp nhận thông điệp, và do

đó trước hết cần phải khảo sát sự tiếp nhận này, nói khác đi, cần khảo sát xem công chúng chờ đợi gì, đòi hỏi gì nơi các phương tiện truyền thông đại chúng, và các phương tiện này có thể đáp ứng được những nhu cầu nào của họ” [Trần Hữu Quang,

2006, tr 358] Nội dung này cũng được chúng tôi áp dụng khi phân tích những nhận xét của sinh viên về truyền thông đại chúng Phát triển trong những năm 1960 –

1970, lối tiếp cận này giả định rằng những nhóm công chúng khác nhau có thể có những kiểu hài lòng (gratifications) khác nhau về các phương tiện truyền thông, tùy thuộc vào cách thức mà họ sử dụng, tiếp nhận, cũng như tùy thuộc vào các nhu cầu của họ

Elihu Katz cho rằng công chúng là những tác nhân xã hội có khả năng chọn lọc

và sử dụng các thông tin mà họ tiếp nhận từ các phương tiện truyền thông đại chúng, chứ không phải là những người chỉ biết nhìn và nghe một cách thụ động Các nhóm công chúng có thể có những cách hiểu khác nhau khi tiếp nhận cùng một sản phẩm thông tin, hay cùng một nội dung thông điệp Xu hướng nghiên cứu này tập trung vào việc khảo sát mức độ chú ý của công chúng, cách họ lựa chọn các chương trình, cách họ hiểu, cách họ chấp nhận và cách họ ghi nhớ các nội dung thông điệp, dựa trên một giả định căn bản là các tầng lớp công chúng đều có khả

năng tri giác một cách có chọn lọc (selective perception) Nội dung này được áp

Trang 30

dụng phân tích khi xác định các mô thức tiếp nhận truyền thông đại chúng của sinh viên

Lợi thế của lối tiếp cận này là đi tới chỗ giúp chúng ta loại hình hóa (typologize) các thái độ và ứng xử nơi công chúng đối với truyền thông đại chúng Do đó, trong

đề tài này lối tiếp cận “sử dụng và hài lòng” giúp tác giả nhận diện được các loại thái độ của sinh viên đối với truyền thông đại chúng

Giả thuyết 1: Truyền thông đại chúng là nguồn cung cấp thông tin chủ yếu

Việc tiếp nhận và sử dụng truyền thông đại chúng đã trở thành thói quen của sinh viên trong những hoạt động sống của họ

Giả thuyết 2: Mức độ tiếp nhận và cách thức sử dụng truyền thông đại chúng

của các nhóm sinh viên khác nhau là khác nhau Điều này thể hiện qua tình hình tiếp nhận truyền thông đại chúng của sinh viên Do đó, các nội dung mà sinh viên thường theo dõi là đa dạng Chính vì vậy, sinh viên sẽ có những nhận định khác nhau về nội dung truyền thông, về phương tiện truyền thông và về nhà truyền thông

Giả thuyết 3: Vì nội dung truyền thông sinh viên theo dõi là đa dạng nên cũng

sẽ có những mô thức tiếp nhận và theo dõi truyền thông đại chúng khác nhau giữa các nhóm sinh viên khác nhau Mô thức tiếp nhận truyền thông đại chúng khác nhau chứng tỏ truyền thông đại chúng tác động đến đời sống sinh viên diễn ra ở những trạng thái khác nhau Đồng thời, các yếu tố về đặc điểm nhân khẩu – xã hội tạo nên

sự khác biệt giữa các nhóm sinh viên trong việc chịu tác động của truyền thông đại chúng Trong quá trình truyền thông, vai trò của các nhóm sinh viên là quan trọng trong việc truyền tải thông tin Điều này chứng tỏ truyền thông đại chúng không tác động trực tiếp đến bản thân sinh viên mà thông qua vai trò của các nhóm sinh viên

và các đặc trưng của họ

Giả thuyết 4: Truyền thông đại chúng tác động đến nhiều lĩnh vực thuộc đời

sống sinh viên và mang nhiều ý nghĩa khác nhau

Trang 31

V Khung phân tích

Sự phát triển của TTĐC

Mức độ tiếp nhận và

cách thức sử dụng

TTĐC của sinh viên

Các nội dung truyền thông và nhận xét của sinh viên

Các mô thức tiếp nhận truyền thông đại chúng của sinh viên

Đời sống sinh viên

và tâm

lý cá nhân

Tham gia vào không gian xã hội

Thói quen tra cứu tài liệu

và tiếp nhận tri thức mới

Giải trí

Trang 32

Phần Kết quả nghiên cứu

Dữ liệu phân tích của luận văn này được thu thập bằng các phương pháp điều tra như phát bản câu hỏi và phỏng vấn sâu dưới dạng tự do (thực chất là các cuộc nói chuyện ngắn) Dữ liệu được phân tích bằng nhiều phương pháp thống kê khác nhau Mẫu khảo sát được lựa chọn theo phương pháp thuận tiện có chủ đích nên không mang tính chất đại diện thống kê cho toàn sinh viên thành phố Hồ Chí Minh Do đó, những phân tích và kết luận của đề tài này chỉ mang tính chất nêu vấn đề và thử trả lời các câu hỏi, giả thuyết mà thôi Tuy vậy, chúng tôi tin chắc rằng, những phân tích, nhận định, dự báo từ những giả thuyết của cuộc nghiên cứu này vẫn có thể góp phần là cơ sở cho thực tiễn của các cuộc nghiên cứu có quy mô lớn hơn sau này Dưới đây là những chỉ báo chung thể hiện đặc điểm của mẫu nghiên cứu Trong các chương tiếp theo, các chỉ báo chung này sẽ được phân tích cùng với các chỉ báo khác nhằm đưa ra được những kết quả chứng minh cho các giả thuyết mà đề tài đã nêu

Như trong phần phương pháp chọn mẫu nêu trên, các chỉ báo chung được chúng tôi nêu ra nhằm đánh giá xem truyền thông đại chúng có tác động gì giống và khác nhau đến các nhóm đối tượng sinh viên

Về khối trường: đề tài lựa chọn khảo sát và phân tích bốn trường đại học trên địa

bàn thành phố Hồ Chí Minh với tổng số 400 sinh viên được khảo sát từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 01 năm 2012 Trong đó đề tài phân biệt hai khối trường là công lập và ngoài công lập, đồng thời phân nhóm hai trường thuộc khối công lập là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (100 sinh viên), Đại học Khoa học Tự nhiên (100 sinh viên) thuộc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh; hai trường thuộc khối ngoài công lập là Đại học Văn Lang (100 sinh viên) và Đại học Văn Hiến (100 sinh viên)

Về ngành học: đề tài phân biệt hai khối ngành học cơ bản là khối ngành khoa học tự

nhiên – kỹ thuật (Đại học Khoa học Tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh; Đại học Văn Lang) và khối ngành khoa học xã hội (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành

Trang 33

phố Hồ Chí Minh; Đại học Văn Hiến) Tỷ lệ sinh viên được khảo sát giữa hai khối ngành này là 50% - 50%

Về giới tính: trong mẫu khảo sát, cơ cấu giới tính gồm 50 sinh viên nam và 50 sinh

viên nữ cho mỗi trường

Về năm theo học: trong mẫu khảo sát, cĩ 50% đối tượng nam – nữ sinh viên đang

theo học năm thứ hai (tức là sinh năm 1992) và 50% đang theo học năm cuối (tức là sinh năm 1990)

Về học lực: Cũng trong mẫu khảo sát này, sinh viên cĩ học lực (theo người trả lời)

giỏi là 5,3%, khá 39,5%, trung bình 54,3%, yếu 1%

Khoa học xã hội 4,5 52,0 43,0 0,5 100

Nguồn: Dữ liệu của luận văn, khảo sát từ 11.2011 đến 01.2012

Kết quả bảng thống kê trên cho thấy học lực của hai nhĩm ngành là khá chênh nhau Xét về tổng quan, nhĩm sinh viên khoa học xã hội học tốt hơn nhĩm sinh viên khoa học tự nhiên và kỹ thuật Sinh viên khối ngành này cĩ tỷ lệ học giỏi cao hơn sinh viên khoa học xã hội, nhưng lại thấp hơn ở mức học lực khá và cao hơn ở mức học lực trung bình và yếu

Về nơi ở trước khi lên đại học: trong mẫu khảo sát cĩ 55,8% sinh viên đến từ các

vùng thị trấn, thị xã, thành phố và 44,2% sinh viên đến từ các vùng sâu, vùng xa, nơng thơn

Về hồn cảnh gia đình: trong mẫu khảo sát cĩ 8,0% sinh viên xuất thân từ gia đình

khá giả, 77,5% cĩ điều kiện kinh tế thuộc mức trung bình, và 14,5% sinh viên xuất thân từ gia đình cĩ điều kiện kinh tế thuộc dạng nghèo Các mức tự đánh giá về hồn cảnh gia đình là do nhận định chủ quan của người trả lời

Trang 34

Chương I – Mức độ tiếp nhận và cách thức sử dụng

truyền thông đại chúng của sinh viên

Chương này trình bày tình hình, mức độ tiếp nhận, cách thức sử dụng truyền thông đại chúng của sinh viên cũng như là mối tương quan giữa các hành vi xem truyền hình, đọc báo in, đọc báo mạng và nghe đài phát thanh

I Tình hình tiếp nhận truyền thông đại chúng của sinh viên

Trong mẫu khảo sát này, kết quả thống kê tình hình tiếp nhận (sở hữu hoặc không sở hữu nhưng có đang tiếp cận và sử dụng cho các mục đích khác nhau) các loại phương tiện truyền thông đại chúng cho thấy: có 39,4% sinh viên xem truyền hình hàng ngày (trong số 85% có xem), 82,8% sinh viên có dùng internet hàng ngày (trong số 99% có dùng), 17,6% sinh viên có nghe đài phát thanh hàng ngày (trong

số 71,7% có nghe), và 22% sinh viên có đọc báo mua hoặc mượn hàng ngày (trong

Trong đề tài này, chúng tôi có phân biệt truyền hình thành hai loại khác nhau (về mặt kỹ thuật) là truyền hình thường (tức là truyền hình chỉ xem được các kênh miễn phí) và truyền hình cáp/kỹ thuật số/vệ tinh (tức là truyền hình xem phải trả tiền phí

sử dụng) bởi sự đa dạng thông tin là khác nhau giữa hai loại truyền hình này

Theo kết quả ở trên, trong số sinh viên 85% có xem truyền hình thì có 34,76% sinh viên đang xem truyền hình thường, 65,24% sinh viên đang xem truyền hình trả

Trang 35

phí Trong số xem truyền hình thường, sinh viên khối trường công lập chiếm 62,3%, còn lại là sinh viên khối ngoài công lập Xét theo ngành học thì có 36,8% sinh viên theo học ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật thường xuyên theo dõi truyền hình thường, 53,3% theo dõi truyền hình trả phí Trong khi đó, sinh viên khối ngành khoa học xã hội theo dõi truyền hình thường chiếm 63,2%, theo dõi truyền hình trả phí chiếm 46,7%

Theo năm đang theo học, trong số sinh viên đang học năm thứ hai, có 23% xem truyền hình thường, 77% xem truyền hình trả phí Trong số sinh viên năm cuối có 32,6% xem truyền hình thường, 67,4% xem truyền trả phí Tính theo giới tính, trong

số sinh viên nam, có 27,9% xem truyền hình thường, 82,1% xem truyền trả phí Trong số sinh viên nữ có 30,8% xem truyền hình thường, 69,2% xem truyền trả phí

1.2 Báo in

Trong thời đại ngày nay, một tờ báo có lẽ là người bạn đồng hành không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi người dân thành phố Hồ Chí Minh Mỗi ngày mua hoặc mượn một hay nhiều tờ báo để theo dõi thông tin trở thành tập quán phổ biến Báo in là công cụ cung cấp thông tin khá nhanh chóng với lượng thông tin đa dạng, phong phú, là nguồn tri thức đáng tin cậy cho nhiều người Sinh viên cũng là nhóm công chúng của báo in

Theo thống kê từ dữ liệu khảo sát của đề tài, sinh viên khối ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật đọc báo in thấp hơn sinh viên khối ngành khoa học xã hội một tỷ

lệ nhỏ Cụ thể theo từng trường, sinh viên trường Đại học Khoa học Tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh đọc báo nhiều nhất (28%), Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh là 27,2%, Đại học Văn Hiến là 24,6% và sinh viên trường Đại học Văn Lang đọc báo ít nhất (20,1%) Sinh viên đang học năm thứ hai cũng đọc báo nhiều hơn sinh viên đang học năm cuối (53,7% so với 46,3%) Điều này có

vẻ hợp lý vì sinh viên năm cuối phải chuẩn bị tốt nghiệp nên ít thời gian đọc báo hơn chăng?

Trang 36

Xét theo giới tính, thì có 54,5% sinh viên nam thường xuyên đọc báo, lượng sinh viên nữ đọc báo trong mẫu khảo sát chỉ chiếm 45,5%

Theo số liệu khảo sát của đề tài, có 71,7% (các mức độ từ hàng ngày đến ít khi nghe) sinh viên đang nghe đài phát thanh Trong đó, sinh viên cả hai khối ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật lẫn khoa học xã hội đều nghe đài phát thanh với tỷ lệ khá cân bằng nhau Nếu tính theo từng trường thì sinh viên Đại học khoa học Tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh nghe đài phát thanh nhiều nhất (30,9%), sinh viên Đại học Văn Lang nghe ít nhất (19,6%), còn sinh viên hai trường Đại học Văn Hiến

và Đại học khoa học Xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh nghe đài khá cân bằng nhau (24% và 25,5%)

Sinh viên đang học năm thứ hai nghe đài phát thanh nhiều hơn (50,5%) sinh viên đang học năm cuối Nữ sinh viên cũng nghe nhiều hơn (53,6%) nam sinh viên

Để đạt được kết quả học tập tốt, sinh viên phải sử dụng nhiều công cụ khác nhau phục vụ cho nhu cầu của mình Máy vi tính là một công cụ hỗ trợ đắc lực và hiệu quả cho quá trình học tập và tiếp thu kiến thức cũng như thực hành những gì mình

đã học tập được Theo số liệu khảo sát của đề tài, trong số 99% sinh viên có sử dụng máy vi tính thì có 33,27% sinh viên có sử dụng máy vi tính không có kết nối Internet và 66,73% sinh viên có sử dụng máy vi tính (bao gồm cả máy tính bảng) có kết nối Internet

Xét theo giới tính thì tỷ lệ sinh viên nam dùng máy vi tính thường và máy vi tính

có kết nối mạng Internet nhiều hơn sinh viên nữ, phân tổ khối trường cũng cho thấy sinh viên hệ công lập chiếm tỷ lệ cao hơn sinh viên hệ ngoài công lập Nếu tính theo

Trang 37

năm đang theo học hoặc khối ngành đang theo học thì số liệu thống kê cho tỷ lệ khá cân bằng nhau.

Như vậy, chúng tôi đã điểm sơ lược tình hình trang thiết bị truyền thông đại chúng của sinh viên bốn trường đại học Những nét cơ bản này sẽ giúp chúng tôi phân tích rõ hơn mức độ tiếp nhận cũng như cách thức sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng của sinh viên Đồng thời, xác định được những nội dung chính yếu mà sinh viên thường theo dõi Qua đó, dễ dàng hơn cho việc phân tích những tác động của truyền thông đại chúng đến đời sống sinh viên ở các chương tiếp theo

Tivi hay truyền hình ngày nay đã trở thành một phương tiện không thể thiếu của mỗi hộ gia đình, cá nhân trong xã hội Thậm chí trong ngay cả các cơ quan công sở Nhà nước hay tư nhân cũng đều có những chiếc máy thu hình được đặt ở nơi tiếp khách, bộ phận lễ tân, phòng chờ… Không nằm ngoài nhu cầu chung ấy, sinh viên cũng dễ dàng trang bị cho mình một chiếc máy thu hình bằng cách gom tiền cùng nhau chẳng hạn (giá thị trường một chiếc máy thu hình loại bình thường cũng rất rẻ,

có loại chỉ khoảng 300.000đ/chiếc, nhưng vẫn tích hợp khả năng thu và phát các kênh truyền hình trả phí) Hay dễ dàng tiếp cận hơn nữa là ở các nơi công cộng, các

tụ điểm tập trung vui chơi, các sảnh học tập hoặc giải lao của các trường đại học, thậm chí là các quán cơm “bụi”… sinh viên cũng có thể tiếp cận và theo dõi thông tin trên truyền hình một cách dễ dàng

2.1.1 Về mức độ tiếp nhận

Theo thống kê từ dữ liệu của đề tài, khá nhiều sinh viên xem hàng ngày (39,4%), trong đó sinh viên khối trường công lập và ngoài công lập có tỷ lệ xem chênh lệch

Trang 38

không đáng kể, sinh viên khối ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật xem nhiều hơn sinh viên khối ngành khoa học xã hội (44,5% so với 34,4%)

Xét theo học lực, ở mức độ xem hàng ngày, sinh viên giỏi có tỷ lệ thấp nhất nhưng cũng đạt 31,6%, sinh viên có học lực yếu có tỷ lệ cao nhất, lên tới 75% Nam sinh viên xem nhiều hơn nữ sinh viên (42% so với 36,8%) Còn nếu xét theo hoàn cảnh gia đình của các sinh viên thì sinh viên xuất thân từ gia đình có mức sống khá giả xem truyền hình hàng ngày nhiều nhất (84,4%), sinh viên xuất thân từ gia đình nghèo xem ít nhất, nhưng cũng chiếm tới 31,6%

Khi trả lời câu hỏi thường xem truyền hình ở đâu và trong khoảng thời gian bao lâu, thì có tới 76,4% sinh viên thường theo dõi truyền hình tại nhà hoặc phòng trọ (trong đó có 51,9% là theo dõi thông tin cùng với người thân trong gia đình, 12,1% chỉ theo dõi truyền hình một mình và 22,9% lúc thì theo dõi một mình lúc thì theo dõi cùng với người khác) Truyền hình tại các địa điểm khác ít được sinh viên theo dõi, như 7,3% thường xem ở nhà bạn bè, 3,3% xem ở quán cà phê, 3,5% xem ở bất

kỳ chỗ nào có mở truyền hình, 1,5% xem ở những nơi công cộng, 2,5% xem tại trường lớp của mình

Tính theo tổng thời gian của những sinh viên có theo dõi truyền hình hàng ngày thì có 64,5% theo dõi dưới một giờ, 25,7% theo dõi từ một giờ đến hai giờ, 4,6% theo dõi từ hai giờ đến ba giờ, và 5,3% theo dõi trên ba giờ mỗi ngày Kết quả này cho phép chúng tôi tính được bình quân mỗi sinh viên theo dõi truyền hình khoảng

81 phút mỗi ngày

Khi phân tích chỉ báo “thời gian xem truyền hình” theo các phân tổ khối trường, khối ngành đang theo học, năm đang theo học, hay giới tính, học lực thì lại cho tỷ lệ chênh lệch nhau khó rõ ở từng mức độ

(1) ở mức độ xem dưới 60 phút, sinh viên các trường công lập chiếm tỷ lệ 54,1% còn lại là sinh viên các trường ngoài công lập; sinh viên đang học năm thứ hai xem nhiều hơn sinh viên đang học năm cuối (56,1% so với 43,9%); sinh viên nữ xem truyền hình ở mức độ này cao hơn sinh viên nam (53,6% so với 46,4%); tính theo học lực thì giữa các nhóm sinh viên không có sự chênh lệch nhiều khi nhóm học lực

Trang 39

khá có tỷ lệ cao nhất là 27,8%, nhóm học lực trung bình có tỷ lệ thấp nhất là 21,7%, trong khi đó, nhóm học lực giỏi cũng có tỷ lệ là 23,8%

(2) ở mức độ xem truyền hình từ một giờ đến hai giờ thì sinh viên xuất thân từ gia đình khá giả có tỷ lệ cao nhất là 37,5%, ngược lại, sinh viên xuất thân từ gia đình nghèo chỉ có 13,8% Tính theo học lực, dù nhóm sinh viên giỏi có tỷ lệ thấp nhất là 14,3% nhưng cũng không chênh lệch nhiều với các nhóm học lực còn lại Các phân tổ khác không có khác biệt là bao nhiêu

(3) ở mức độ xem truyền hình từ hai giờ đến ba giờ một ngày thì nhóm sinh viên công lập (64,3%) xem nhiều hơn nhóm sinh viên ngoài công lập (35,7%), ở hai nhóm sinh viên của hai khối ngành đang theo học cũng cho tỷ lệ tương tự Ở khoảng thời gian này, sinh viên nam và nữ lại có tỷ lệ cân bằng Tính theo học lực, chỉ có sinh viên khá và trung bình theo dõi ở mức độ này nhưng cũng không có chênh lệch đáng kể

(4) ở mức độ xem truyền hình trên ba giờ một ngày, sự khác biệt chỉ diễn ra ở phân tổ hoàn cảnh gia đình khi sinh viên xuất thân từ gia đình khá giả có tỷ lệ là 12,5% Trong khi đó, sinh viên xuất thân từ gia đình nghèo chỉ có 1,7% là theo dõi trên ba giờ/ngày Ngoài ra, có một điều đáng chú ý là sinh viên xuất thân từ các vùng thị trấn/thị xã/thành phố luôn chiếm tỷ lệ cao hơn sinh viên xuất thân từ các vùng sâu/vùng xa/ nông thôn ở các mức độ, đặc biệt ở mức độ xem truyền hình trên

ba giờ một ngày (93,8% so với 6,3%) Sự khác biệt này có thể được giải thích là: sống ở nơi đô thị nên sinh viên có nhiều điều kiện tiếp cận và do đó xem truyền hình nhiều hơn những sinh viên sống ở vùng nông thôn Cách giải thích này có lẽ không xác đáng, bởi sinh viên xuất thân các vùng đô thị thường có thời gian học nhiều các hình thức ngoài giờ mà sinh viên xuất thân từ các vùng nông thôn ít có điều kiện tiếp cận (các giờ học phụ đạo, học thêm, học nhóm, học kỹ năng…) Nếu phân tích chỉ báo “Địa điểm xem truyền hình” theo các phân tổ như trên thì hầu như các nhóm sinh viên đều theo dõi truyền hình tại nhà hoặc phòng trọ Các địa điểm khác chiếm tỷ lệ rất thấp

Trang 40

Như trên đã nói, bình quân một ngày, mỗi sinh viên xem truyền hình khoảng 81

phút, tức là 1 giờ 21 phút Con số này nếu đem ra so sánh với thời lượng bình quân

một người dân tại thành phố Hồ Chí Minh theo dõi truyền hình một ngày tại thời điểm năm 19973 [Trần Hữu Quang, 2001] thì chỉ ít hơn đúng một phút Nghĩa là,

việc xem truyền hình đã là một thói quen phổ biến của thế hệ sinh viên ngày nay tại thành phố Hồ Chí Minh, cho dù, có điều kiện xuất thân sinh sống khác nhau, học ở những khối trường khác nhau, ngành nghề khác nhau, hay thậm chí là học lực khác nhau Sự so sánh này là hợp lý về mặt thừa kế thống kê nghiên cứu của các đề tài có trước, nhưng lại khập khiễng nếu tính theo mốc thời gian và mẫu nghiên cứu Bởi con số của thời điểm năm 1997, theo chúng tôi thì cũng chỉ có mức độ tin cậy tương đối, đến nay có lẽ đã thay đổi nhiều (thời điểm hiện tại, chúng tôi không có dữ liệu nào nói về thời lượng xem truyền hình hàng ngày của người dân thành phố Hồ Chí Minh)

Theo số liệu khảo sát năm 2003 của Trung tâm nghiên cứu Văn hoá và Văn học, thì có tới 99,5% sinh viên thường xuyên sử dụng và theo dõi thông tin trên truyền hình [Đỗ Nam Liên, 2005] Nếu đem con số này so sánh với 85% (bao gồm cả xem truyền hình thường và truyền hình trả phí) của đề tài này, phải chăng tỷ lệ sinh viên tiếp nhận và theo dõi truyền hình đang giảm dần, trong khi phương tiện này ngày càng phát triển cả về kỹ thuật và khả năng đáp ứng nhu cầu Thực chất, chúng tôi đưa hai con số này đứng cạnh nhau chỉ để thấy rằng, truyền hình là công cụ mà sinh viên dễ dàng tiếp cận và sử dụng Nhưng theo kết quả trong khảo sát của đề tài thì

số sinh viên cho rằng truyền hình giúp họ biết được nhiều thông tin nhất chỉ chiếm 8,6%

3 Năm 1997, có một cuộc khảo sát Xã hội học về cách ứng xử và thái độ của các giới công chúng đối với các

phương tiện truyền thông đại chúng tại thành phố Hồ Chí Minh do PGS.TS Trần Hữu Quang chủ trì Mục đích của cuộc khảo sát này là nhận diện và khảo sát những mô thức tiếp nhận của các tầng lớp công chúng ở thành phố Hồ Chí Minh đối với các phương tiện truyền thông đại chúng trong bối cảnh đang diễn ra nhiều chuyển biến kinh tế - xã hội: xét dưới góc độ truyền thông đại chúng là một công cụ quan trọng của quá trình phát triển Năm 2001, PGS.TS Trần Hữu Quang đã tổng hợp lại kết quả của cuộc khảo sát này và xuất bản thành tập sách có tên là: Chân dung công chúng truyền thông

Ngày đăng: 11/05/2021, 21:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w