1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiếng cười trong văn học dân gian của người việt miền tây nam bộ

188 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 188
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn tập trung nghiên cứu văn hóa nhận thức và văn hóa ứng xử của người Việt Tây Nam Bộ được thể hiện qua tiếng cười trong văn học dân gian.. Các bài viết đã khái quát được những tí

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HÓA HỌC

MÃ SỐ: 60 31 70

Người hướng dẫn khoa học

TS ĐỖ HƯƠNG

TS TRẦN LONG



THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô ở Khoa Văn hóa học đã dạy bảo trong quá trình đào tạo cao học, để tôi có được những kiến thức như ngày hôm nay, cụ thể

là qua kết quả luận văn này

Tôi xin gửi lời tri ân đến chính quyền địa phương và bà con tỉnh An Giang

đã giúp đỡ đoàn thực tập trong việc sưu tầm, chỉnh lý và giới thiệu văn học dân gian

An Giang

Tôi xin gửi lời tri ân đến TS Đỗ Hương – người hướng dẫn ban đầu của luận văn này, đồng thời gửi lời chia buồn sâu sắc đến gia đình cô Tuy TS Đỗ Hương đã yên nghỉ nơi chín suối nhưng những bài giảng cùng những công trình nghiên cứu khoa học của cô vẫn còn mãi, và đóng góp một phần không nhỏ cho ngành Văn hóa học và trong lĩnh vực nghệ thuật

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Long – người đã tận tình hướng dẫn, khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Bên cạnh đó, tôi xin cảm ơn sự trợ giúp về mặt tư liệu và động viên của Th.S Phan Xuân Viện trong quá trình thực hiện luận văn

Và tôi không quên gửi lời cảm ơn trước sự động viên từ phía gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp

Mặc dù đã cố gắng hoàn thành luận văn nhưng chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy cô chỉ bảo

TP.HCM, ngày tháng 08 năm 2012

Tác giả

PHẠM THỊ VÂN PHƯƠNG

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 2

MỤC LỤC 3

QUY ƯỚC TRÌNH BÀY 5

DẪN LUẬN 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Mục đích chọn đề tài 7

3 Đối tượng nghiên cứu 7

4 Lịch sử vấn đề 7

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 10

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 10

7 Bố cục luận văn 11

CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 12

1.1 Các khái niệm 12

1.1.1 Cười và tiếng cười 12

1.1.2 Cơ chế tạo ra tiếng cười 14

1.1.3 Tiếng cười và ý thức con người 15

1.1.4 Tiếng cười và tính cách con người 20

1.2 Cơ sở hình thành tiếng cười 25

1.2.1 Tiếng cười xét ở góc độ mỹ học 25

1.2.2 Tiếng cười xét ở góc độ triết học 27

1.2.3 Tiếng cười xét ở góc độ xã hội học 31

1.3 Một số đặc điểm về văn học dân gian của người Việt Tây Nam Bộ 35

1.3.1 Không gian sáng tác và lưu truyền 35

1.3.2 Thời gian sáng tác và lưu truyền 38

Trang 4

1.3.3 Chủ thể sáng tạo 39

1.4 Tiểu kết 40

CHƯƠNG 2: NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ QUA TIẾNG CƯỜI DÂN GIAN 42

2.1 Tiếng cười thể hiện nhận thức về quy luật tự nhiên và hiện tượng trái quy luật 42

2.2 Tiếng cười thể hiện nhận thức về quy chuẩn xã hội và hiện tượng trái quy chuẩn 61

2.3 Tiểu kết 72

CHƯƠNG 3: ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ QUA TIẾNG CƯỜI DÂN GIAN 75

3.1 Tiếng cười thể hiện ứng xử của người Việt miền Tây Nam Bộ với môi trường tự nhiên 75

3.1.1 Ứng phó với những khó khăn, thử thách của tự nhiên Tây Nam Bộ 76

3.1.2 Tận dụng sự trù phú, giàu có của tự nhiên Tây Nam Bộ 85

3.2 Tiếng cười thể hiện ứng xử của người Việt miền Tây Nam Bộ với môi trường xã hội 98

3.2.1 Ứng xử trong phạm vi gia đình 98

3.2.2 Ứng xử trong phạm vi xã hội 106

3.3 Tiểu kết 126

KẾT LUẬN 128

TÀI LIỆU THAM KHẢO 133

TƯ LIỆU KHẢO SÁT 136

TƯ LIỆU INTERNET 141

PHỤ LỤC 144

Trang 5

QUY ƯỚC TRÌNH BÀY

1 Khi dẫn nguồn được trình bày theo cấu trúc: [Họ Tên tác giả + năm xuất bản:

số trang], ví dụ: [Nguyễn Phương Thảo 1997: 258] Nếu là tác giả phương Tây thì họ trước, tên viết tắt sau, ví dụ: [Claret Philippe 2007: 50] Thông tin

đầy đủ ghi trong Danh mục tài liệu tham khảo ở cuối luận văn

2 Nếu tài liệu là của một nhóm tác giả thì lấy tên tác giả chủ biên làm đại diện,

ví dụ: [Hoàng Phê (cb) 1999: 1499] hoặc lấy tên tác giả đầu tiên, sau đó thêm dấu “…”, ví dụ: [Mạc Đường… 1997: 243]

3 Nếu dẫn tham khảo nhiều trang liên tục với nhau thì ghi số trang đầu và số trang cuối, giữa các số trang cách nhau bằng dấu gạch ngang, ví dụ: [Vũ Ngọc Khánh… 2005: 500 – 505]

4 Với những tài liệu cùng một tác giả, cùng năm xuất bản thì dẫn nguồn theo quy ước 1 nhưng sau tên tác giả được kèm theo thứ tự a,b,c (sắp xếp thứ tự a,b,c dựa vào tên các tài liệu), ví dụ [Sơn Nam 2005a: 59]

5 Với các tài liệu internet thì đường dẫn được chú thích ở cuối trang (Footnote)

6 Sau mỗi tên truyện đều có đánh số thứ tự tương ứng với phần phụ lục Ví dụ: Cách bắt kỳ đà sống [47]

Trang 6

có ý định tìm hiểu về nó Dù cũng không ít công trình nghiên cứu về vùng đất này nhưng Nam Bộ vẫn là “ẩn số” luôn kích thích sự khám phá, tìm tòi để “giải mã” nó đối với nhiều nhà nghiên cứu Và điều gì, sức mạnh nào đã giúp các bậc tiền hiền san bằng chông gai để tạo nên sự trù phú của vùng đất này? Đó có phải là lưỡi gươm, là thanh kiếm đi mở cõi? Thực tế đã chứng minh rằng, “vũ khí” của cha ông

ta trong những thời khắc gian khó ấy chính là “tiếng cười” Ngạn ngữ có câu: “Một

nụ cười bằng mười thang thuốc bổ” Đối với cha ông ta ngày xưa vẫn thế Nụ cười như “liều thuốc” làm hồi sinh tâm trạng con người trước sự thất kinh, hãi hùng của hoàn cảnh; nụ cười như nguồn năng lượng tiếp sức cho bước chân thêm vững chãi

và đôi tay thêm rắn rỏi Ở bề nổi, tiếng cười dường như chỉ có thế, nhưng ẩn hiện đằng sau những tiếng cười ấy là một tâm hồn, một đời sống văn hóa và cả nhận thức của con người miền Tây Nam Bộ Và vì thế, nghiên cứu về tiếng cười của người Việt miền Tây Nam Bộ là chúng ta đang bước vào cuộc hành trình trên đất phương Nam để tìm hiểu về tính cách, sinh hoạt, văn hóa của những con người nơi đây

Chúng ta chỉ có thể thành công trong cuộc sống khi chúng ta hiểu rõ về bản thân Là người con của vùng đất Nam Bộ đã từng gắn bó với miền Tây và bị cuốn hút bởi nét hiền hòa của thiên nhiên, cái chân chất của con người nơi đây, vì vậy,

Trang 7

tìm hiểu về con người, tính cách, sinh hoạt… của người Việt miền Tây Nam Bộ là điều làm tôi thích thú Và thú vị hơn hết là nghiên cứu qua tiếng cười dân gian

Có thể nói, khi chọn “tiếng cười” trên những cứ liệu đã được sưu tầm là một lợi thế đối với chúng tôi trong công trình nghiên cứu này

2 Mục đích chọn đề tài

Người miền Tây hiền lành, chất phác, dễ nói, dễ cười và tất cả những điều đó

đã đi vào văn học dân gian một cách rất tự nhiên Nhưng khai thác tiếng cười ở mảng văn học dân gian không phải là mục đích cuối cùng của luận văn Thực tế, chúng tôi sử dụng tư liệu tiếng cười trong văn học dân gian như một phương tiện để

“giải mã” tính cách, đời sống tinh thần của người Việt nơi đây Cũng từ đó, cho thấy cái giá trị mà tiếng cười đã mang đến cho tâm hồn những người con ở vùng đất phương Nam này

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu ở đây không phải là văn học dân gian ở miền

Tây Nam Bộ mà là tiếng cười của người Việt miền Tây Nam Bộ Luận văn tập

trung nghiên cứu văn hóa nhận thức và văn hóa ứng xử của người Việt Tây Nam Bộ được thể hiện qua tiếng cười trong văn học dân gian Luận văn sẽ chỉ ra những đặc trưng văn hóa ẩn sau tính hài hước, dí dỏm, yêu đời của người Việt nơi đây

4 Lịch sử vấn đề

Dù là vùng đất non trẻ nhưng từ lâu Tây Nam Bộ đã thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học như Lê Ngọc Thúy, Huỳnh Công Tín, Nguyễn Phương

Thảo, Nguyễn Văn Hạnh, Mạc Đường Tuy nhiên, nghiên cứu về văn hóa cười

của cư dân miền Tây Nam Bộ thì cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào được công bố Mặt khác, dù người Việt chiếm tỉ lệ hơn 90% số dân ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, nhưng cho đến nay cũng chưa thấy một công trình nào nghiên cứu cụ thể

về văn hóa cười của người Việt miền Tây Nam Bộ

Gần đây, trên trang điện tử binhtrung.net có đăng bài viết của tác giả Trần

Minh Thương với đề tài Tiếng cười trong ca dao Tây Nam Bộ đã đề cập đến mảng

ca dao hài hước của người Việt miền sông nước Cửu Long, nhưng đề tài chỉ dừng lại ở việc khai thác các thủ pháp nghệ thuật tạo nên tiếng cười mà hoàn toàn không

Trang 8

làm nổi bật được đời sống văn hóa cũng như ứng xử của người Việt miền Tây Nam

Bộ trước môi trường tự nhiên, xã hội Và điểm đặc biệt là bài viết cũng chưa có ý thức nghiên cứu về văn hóa cười của cư dân Tây Nam Bộ, cụ thể là người Việt

Bài viết Chất hóm hỉnh trong ca dao tình yêu Nam Bộ của tác giả Đoàn Thị

Thu Vân đăng trên tạp chí Tài hoa trẻ1

có phân tích một số tính cách của người Việt miền Tây Nam Bộ qua mảng ca dao hài hước như: mộc mạc, chân chất; táo bạo, sỗ sàng; lạc quan yêu đời… Song, tác giả chỉ giới hạn trong mảng ca dao tình yêu và cũng chưa đi sâu vào nhận thức, ứng xử của những con người trên miền đất phương Nam Và công trình cũng chưa tập trung làm nổi bật được cơ chế, biểu hiện, ý nghĩa của tiếng cười qua cứ liệu văn học dân gian

Trở về trước, không chỉ trong mảng văn học dân gian mà cả những công trình văn học bác học, chúng tôi vẫn chưa thấy có một công trình nghiên cứu tương

tự với đề tài trên mà chỉ có những công trình nghiên cứu về vùng Tây Nam Bộ nói

riêng và Nam Bộ nói chung như Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII),

Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (năm 1820)

Công trình Trở về nguồn cội hoa đồng cỏ nội – biên khảo thi ca truyền miệng

(1974) của tác giả Minh Hương, thông qua thơ ca truyền miệng, tác giả nêu lên một

số đặc điểm văn hóa đồng bằng sông Cửu Long như: miếng ăn, tình cảm, thuật sống, tín ngưỡng, tập quán, thiên nhiên và con người nhưng không tập trung nghiên cứu ở mảng văn học dân gian hài hước

Công trình Nhà ở, trang phục, ăn uống của các dân tộc vùng đồng bằng

Sông Cửu Long (1993), thông qua việc trình bày một cách chi tiết về các kiểu nhà,

cách ăn, ở của các tộc người nơi đây, tác giả Phan Thị Yến Tuyết đã cho thấy sự tận dụng và đối phó với môi trường sông nước của cộng đồng cư dân sinh sống ở Tây Nam Bộ Tuy nhiên, tác giả công trình nghiên cứu trên phương diện dân tộc học chứ không chỉ tập trung trên cứ liệu văn học dân gian của người Việt Tây Nam Bộ

Trong Văn hóa dân gian Nam Bộ – những phác thảo (1997), tác giả Nguyễn

Phương Thảo đã có cái nhìn sơ bộ về văn hóa dân gian của vùng đất này từ cấu trúc làng xã, thiên nhiên Nam Bộ, các món ăn thảo dã đến lễ hội, tục thờ cúng Nhưng

1 http://www.dactrung.com/Bai-bv-475-Chat_hom_hinh_trong_ca_dao_tinh_yeu_Nam_Bo.aspx

Trang 9

qua tất cả các bài viết trong công trình, tác giả lại khai thác ở nhiều khía cạnh của cuộc sống chứ không chỉ dựa trên phương diện là tiếng cười trong văn học dân gian

Những bài viết trong tập kỷ yếu Tìm hiểu đặc trưng di sản văn hóa, văn nghệ

dân gian Nam Bộ (2004) của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam đã cho thấy đặc

trưng sông nước của Tây Nam Bộ Đặc biệt, bài viết “Văn hóa ứng xử dân gian

đồng bằng sông Cửu Long đối với môi trường thiên nhiên” của Vưu Nghị Lực đã

phác họa những quy tắc ứng xử dân gian của cư dân Tây Nam Bộ đối với môi

trường sông nước nơi đây Tuy nhiên, ngoài bài viết “Truyện Ba Phi và văn hóa dân

gian Nam Bộ” của Bùi Mạnh Nhị thì hầu hết các bài viết khác trong công trình này

không khai thác dựa trên phương diện tiếng cười trong văn học dân gian

Các bài viết trong Cảm nhận bản sắc Nam Bộ (2006) của Huỳnh Công Tín,

các tác giả đã nêu cảm nhận của mình về bản sắc Nam Bộ nhưng không dựa trên phương tiện là tiếng cười Đặc biệt, trong công trình có bài viết “Cái cười Nam Bộ

và Bắc Bộ” rất gần với đề tài luận văn Tuy nhiên, ở bài viết này, tác giả chỉ so sánh tiếng cười giữa hai miền Nam – Bắc Bộ dựa trên cứ liệu văn học dân gian nhưng chưa làm nổi bật được đặc điểm văn hóa Nam Bộ thông qua tiếng cười

Nói về tính cách của người Nam Bộ, tác giả bài viết “Tính cách Nam Bộ”

trên trang web my.opera.com có nhận xét về các tính cách của người Nam Bộ như

sau: “Ngoài tính hiếu khách, tính bộc trực, mạnh mẽ, hào phóng và đôn hậu, người

Nam Bộ còn biết bao nét đẹp truyền thống đáng trân trọng như tính nghĩa khí hào hiệp, tấm lòng nhân hậu, bao dung, tư chất thông minh và giàu nghị lực.”1 Còn tác

giả Trần Ngọc Thêm trong bài viết “Tính cách văn hóa người Nam Bộ như một hệ

thống”2 khái quát rằng bên cạnh tính sông nước, người Nam Bộ nổi bật với tính bao dung, tính năng động, tính trọng nghĩa, tính thiết thực Các bài viết đã khái quát được những tính cách nổi trội của người Nam Bộ, tuy nhiên, tác giả của các bài viết không dựa trên tiếng cười trong văn học dân gian để phân tích và chứng minh cho những luận điểm của mình

1 http://my.opera.com/alwayssomewhere/blog/show.dml/1647460

2

cach-van-hoa-nguoi-viet-nam-bo.html

Trang 10

http://www.vanhoahoc.edu.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/van-hoa-nam-bo/408-tran-ngoc-them-tinh-Nhìn chung, cách nhận thức, ứng xử, đời sống văn hóa, tính cách người Việt miền Tây Nam Bộ đã ít nhiều được các nhà khoa học đề cập đến trong các công trình nghiên cứu Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu về đời sống văn

hóa của người Việt miền Tây Nam Bộ theo hướng khai thác tiếng cười dân gian

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Trong quá trình khai thác tiếng cười trong văn học dân gian của người Việt

miền Tây Nam Bộ, người viết áp dụng phương pháp lịch sử Phương pháp này sẽ

giúp người viết có cái nhìn xuyên suốt về vùng đất và con người nơi đây tạo tiền đề quan trọng trong việc khai thác tính cách của người Việt miền Tây Nam Bộ thông qua nguồn văn học dân gian

Thứ hai, người viết sử dụng phương pháp hệ thống – cấu trúc để hệ thống

hóa những biểu hiện của tiếng cười trong các mặt của đời sống dựa trên cứ liệu văn học dân gian, làm nổi bật văn hóa nhận thức và văn hóa ứng xử của người Việt Tây Nam Bộ

Thứ ba, vận dụng cách tiếp cận liên ngành như sử dụng thành tựu của các

ngành khoa học khác như địa lý, lịch sử, xã hội học, dân tộc học đã góp phần giúp chúng tôi giải quyết được vấn đề đặt ra trong luận văn một cách toàn diện

Bên cạnh đó, đề tài áp dụng phương pháp tổng hợp các nguồn tư liệu và

dựa trên những nghiên cứu điền dã thực nghiệm của nhiều công trình khác và một phần của chính tác giả để phân tích tiếng cười của người Việt miền Tây Nam Bộ

Cuối cùng, chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh để so sánh tiếng cười

trong văn học dân gian của người Việt Nam Bộ và người Việt Bắc Bộ, từ đó làm nổi bật những đặc điểm tiếng cười trong văn học dân gian của người Việt miền Tây Nam Bộ

Luận văn sử dụng nguồn tư liệu đã được giới thiệu trong phần lịch sử vấn đề

và bổ sung thêm nhiều nguồn tài liệu tham khảo khác

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ý nghĩa khoa học

- Bổ sung lí luận tiếp cận văn hóa học trong nghiên cứu văn hóa dân tộc

- Luận văn làm rõ đặc điểm văn hóa nhận thức và văn hóa ứng xử của người

Trang 11

Việt Tây Nam Bộ, góp phần làm rõ tính cách dân tộc thông qua tiếng cười dân gian

- Đóng góp vào quá trình nghiên cứu tính cách cư dân Tây Nam Bộ

Ý nghĩa thực tiễn

- Luận văn giúp làm rõ hơn tiếng cười của cư dân Tây Nam Bộ, góp phần phục vụ các lĩnh vực như kinh doanh, giáo dục, viễn thông Bởi, nếu không hiểu được tính cách người Việt Tây Nam Bộ chúng ta sẽ khó chiếm lĩnh được thị trường

- Hiểu được văn hóa cười của người Việt miền Tây Nam Bộ sẽ cho ta những lối ứng xử phù hợp với con người nơi đây Không gì gần gũi với con người bằng văn hóa, mà văn hóa bao gồm cả lối ăn, nếp ở xuất phát từ tính cách của con người được quy định bởi các điều kiện tự nhiên và xã hội

- Muốn phát triển vùng đất nào hay muốn chung sống với những con người ở một vùng đất nào, thiết nghĩ, trước tiên việc hiểu được tính cách, văn hóa của con người nơi đó sẽ giúp ta dễ dàng đạt được mục đích

7 Bố cục luận văn

Không kể phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia làm ba chương

Với tiêu đề Những tiền đề lí luận và thực tiễn, bên cạnh việc định nghĩa

“tiếng cười”, chương một nêu cơ sở hình thành nên tiếng cười từ các góc độ mỹ học, xã hội và triết học Cuối cùng, chúng tôi nêu một số đặc điểm về văn học dân gian của người Việt miền Tây Nam Bộ, bởi tiếng cười là một bộ phận của văn học dân gian

Chương hai với tiêu đề Nhận thức của người Việt miền Tây Nam Bộ qua tiếng cười dân gian phân tích những biểu hiện tiếng cười của người Việt miền sông

nước Cửu Long trước các quy luật tự nhiên và các quy chuẩn xã hội Đồng thời, sự

so sánh tiếng cười trong văn học dân gian của người Việt ở Nam Bộ và Bắc Bộ cũng giúp làm nổi bật nhận thức của người Việt miền Tây Nam Bộ về tiếng cười

Chương ba, Ứng xử của người Việt miền Tây Nam Bộ qua tiếng cười dân gian chúng tôi sẽ phân tích ứng xử của người Việt miền Tây Nam Bộ với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, từ đó làm cơ sở để nghiên cứu văn hóa ứng xử

của người Việt miền Tây Nam Bộ trước môi trường tự nhiên và xã hội, làm nổi rõ các đặc điểm tính cách của con người nơi đây

Trang 12

CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Cười và tiếng cười

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, xuất bản năm 2003 thì:

“Cười đg 1 Cử động môi hoặc miệng, có thể kèm theo tiếng, biểu lộ sự vui thích

hoặc thái độ, tình cảm nào đó Bật cười Mỉm cười Vô duyên chưa nói đã cười (tng) Miệng cười tươi như hoa Cười nửa miệng (hơi hé môi, nhếch mép) Cười mỉa mai 2 Tỏ ý chê bai bằng những lời có kèm theo tiếng cười hoặc có thể gây cười; chế nhạo Không biết thì hỏi, chẳng ai cười Sợ người ta cười cho” [Hoàng Phê (cb)

1994: 224 – 225]

Trong tiếng Anh, từ “laugh” ở thể động từ có nghĩa là cười (make the sounds

and moverment usual in express lively amusement); ở thể tính từ là tức cười, nực cười (laughable = amusing); danh từ là sự cười đùa, tiếng cười (laughing = laughter): no laughing matter serious matter (không phải chuyện cười đùa) [Nguyễn Sanh Phúc 2000: 643]

Theo từ điển Lạc Việt, “laugh” ở thể danh từ có nghĩa là tiếng cười: To burst

into a laugh (cười phá lên); to have a good laugh (được cười một trận thỏa thích); to

force a laugh (gượng cười) Động từ của “laugh” có nghĩa là cười vui, cười cợt: to

laugh a bitter laugh (cười chua chát); to laugh oneself helpless (cười phát sặc) Từ

“laugh” đi kèm với các giới từ khác tạo thành những kiểu cười khác nhau như

laugh at (cười nhạo); laugh away (cười xua đuổi); laugh off (cười xòa); laugh down (cười át đi)…

Ngoài ra, trong tiếng Anh, từ “smile” ở thể danh từ có nghĩa là nụ cười, vẻ mặt tươi cười: smile on her face (vui vẻ trên gương mặt) Nội động từ của “smile”

nghĩa là mỉm cười: to smile happily (mỉm cười sung sướng) Ngoại động từ của

“smile” có nghĩa thể hiện (sự đồng ý) bằng một nụ cười: she smiled her approval (cô ta mỉm cười tán thành) Từ “smile” đi kèm với các giới từ khác thể hiện ý nghĩa

của từng tiếng cười như: smile away (cười để xua tan), smile on (cười để khuyến khích ai cái gì), smile somebody into doing something (cười để khiến ai làm việc gì) [Từ điển Lạc Việt]

Trang 13

Trong tiếng Pháp, từ “rire” có nghĩa là cười Mourir de rire (chết cười);

parler joyeusement tout en riant (cười cười nói nói); se boyauter (cười đứt ruột); rire par saccades (cười như nắc nẻ); se dilater la rate (cười nôn ruột); se gondoler (cười

Phê 2006: 224 – 225] Nhưng trên thực tế, chúng ta còn có những kiểu cười khác

nữa như: cười chua chát, cười khinh bỉ, cười thiện cảm, cười nghiêm khắc… Ở công trình nghiên cứu Hành trình vào thế giới folklore Việt Nam, Vũ Ngọc Khánh

cũng đã thống kê có 219 kiểu cười trong bảng từ vị cười Việt Nam [Vũ Ngọc Khánh 2005: 500 – 504]

Cười là một phản xạ tự nhiên Con người sinh ra đã biết cười Qua những nghiên cứu cho thấy, trẻ em cười từ 300 đến 400 lần mỗi ngày, trong khi người lớn thường chỉ cười khoảng 14 lần mỗi ngày Khi có một tác nhân gây cười, tín hiệu sẽ được truyền lên não và phản xạ cười sẽ được chuyển đến các cơ vận động để làm chúng ta cười Ở vẻ ngoài, cười là hiện tượng co một số cơ chung quanh miệng và hai mắt để biểu lộ tâm trạng thoải mái và sung sướng về tinh thần.1

Tuy nhiên, cần phân biệt cái cười sinh học và cái cười thẩm mỹ Cười sinh

học chỉ là “cử động môi hoặc miệng có thể kèm theo tiếng, biểu lộ sự vui thích hoặc

thái độ, tình cảm nào đó” [Hoàng Phê (cb) 1994: 224] Còn cái cười thẩm mỹ là thể

hiện của một loại tác động sinh lý nhưng lại có cái gốc từ sự trạng xã hội Và do vậy, tiếng cười thẩm mỹ có xã hội tính Nó biểu hiện trạng thái, tâm lí của con

người như vui mừng, thoải mái, sảng khoái… Và cái bật ra tiếng cười dĩ nhiên

1 http://ykhoa.net/yhoccotruyen/voha/vh045.htm

Trang 14

không thể là cái buồn lo hay những cái làm cho chúng ta phải căng thẳng tinh thần

Nói như vậy “không có nghĩa là tiếng cười tuyệt nhiên không lấy đề tài trong những

vấn đề chính trị, vấn đề đấu tranh chống áp bức, bóc lột” [Nguyễn Hồng Phong

đó tiếng cười được bật ra

1.1.2 Cơ chế tạo ra tiếng cười

Cơ chế được hiểu là phương thức, điều kiện để tạo nên một kết quả Cơ chế

tạo ra tiếng cười chính là phương thức, điều kiện để tạo nên cái cười

Tiếng cười được tạo ra bởi cái hài – “một trong những phạm trù mỹ học căn

bản, xác định giá trị thẩm mỹ thông qua việc phát hiện tính mâu thuẫn có ý nghĩa

xã hội của thực tại và thông qua thái độ phê phán đối với tính mâu thuẫn ấy, xuất phát từ lý tưởng thẩm mỹ” [Lại Nguyên Ân (cb) 1999: 32]

Trong lịch sử tư tưởng mỹ học, cái hài được nhiều học giả nhận định là kết quả của sự tương phản, bất đồng [Lại Nguyên Ân (cb) 1999: 33] Nói theo Aristote thì đó là sự mâu thuẫn giữa cái xấu và cái đẹp; theo Hegel là sự mâu thuẫn giữa cái quan trọng giả và cái quan trọng thật; Kant lại cho rằng đó là mâu thuẫn giữa cái nhỏ nhặt và cái cao cả; nhưng Jean Paul lại cho rằng đó là sự mâu thuẫn giữa cái vô nghĩa lý và cái hữu lý… [Lại Nguyên Ân (cb) 1999: 33]

“Cái hài là đặc tính vốn có của đời sống thực tại”, mà ở bất cứ nơi đâu, lúc

nào đều có thể chứa đựng những cái gây cười Tuy nhiên, tiếng cười chỉ bật ra khi

chủ thể phát hiện ra đối tượng gây cười hoặc “là dấu hiệu của quan hệ “suồng sã”

với đối tượng” Hay như “sự nhận biết của ta về đối tượng dưới cái mặt nạ bị biến

1 im-ting-ci-trong-th-nom-truyn-tng-thuc-hin-tng-h-xuan-hng&catid=63%3Avn-hc-vit-

http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=3298%3Ac-nam&Itemid=106&lang=vi

Trang 15

dạng đến độ không thể nhận biết” cũng là một trong những ngọn nguồn khoái cảm

của cái hài [Lại Nguyên Ân (cb) 1999: 33]

Với Đào Thản, cơ chế tạo ra tiếng cười là: “a) Những sự trái ngược, tương

phản, trái logic, oái oăm, trớ trêu của các sự việc, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội có liên quan đến con người; b) Những sự méo mó, lệch lạc và những sự nhầm lẫn, chồng chéo vô lý trong các mối quan hệ, trật tự đã có; c) Những biểu hiện của

sự khờ khạo, ngây ngô, ngốc nghếch của con người” [Triều Nguyên 2009: 13]

Cái cười còn được tạo ra bởi những cái mâu thuẫn, cái nghịch lý, trái khoáy,

trái lẽ thường được phơi bày một cách rất bất ngờ Hoặc “Điều nói ra tưởng là thật

mà không phải là thật, không phải là có thật nhưng lại là sự thật, cái ỡm ờ nửa nạc nửa mỡ ấy lại chính là cơ sở của tiếng cười” [Dẫn theo Đào Thản 1998: 13]

Đó có thể là cái cười châm biếm, phê phán… Còn đối với tiếng cười hài

hước thì việc tạo ra nó “đa dạng hơn, sắc bén hơn, lắm khi tinh vi hơn và đặc biệt là

giàu chất trí tuệ thực tế, không dùng đến những bức ảnh chụp nữa, mà đưa ra cho thấy những bức tranh với nhiều nét phác họa, tô điểm, thậm chí thêu dệt, theo cách nhìn, cách nghĩ chủ quan của người sáng tác” [Dẫn theo Đào Thản 1998: 11]

Về nội dung, tiếng cười mang tính nguyên hợp, nghĩa là trong tiếng cười có

thể hàm chứa nhiều tầng nghĩa, “kết hợp một cách suồng sã trong giọng cười sự

tâng bốc và sự chửi rủa, sự tán dương và sự sàm báng” [Lại Nguyên Ân 1999 : 33]

Có tiếng cười mỉa mai, cái cười hài hước, cái cười châm biếm… Ở cái cười mỉa mai, tiếng cười được che giấu phía sau cái mặt nạ nghiêm trang Ngược lại, ở hài hước, cái nghiêm túc được che giấu dưới mặt nạ cười cợt Trong khi đó, châm biếm lại là tiếng cười lật tẩy, tố cáo và đối tượng của nó chính là các thói hư tật xấu [Lại Nguyên Ân 1999: 33]

1.1.3 Tiếng cười và ý thức con người

“Cười là một đặc tính của con người” Như đã dẫn, đó là nhận xét của

Rabole – nhà văn chủ nghĩa Pháp Quả thật, nhờ biết cười và gắn tiếng cười với nhận thức, với trí tuệ nên có thể phân biệt con người và động vật ở chỗ con người biết cười Cười và pha trò, tạo ra tiếng cười là nhu cầu tất yếu của cuộc sống Từ rất lâu, y học đã phát hiện ra hiệu quả tích cực của tiếng cười đến sức khỏe của con

Trang 16

người Trong bài viết “Cười không chỉ là liều thuốc bổ!”1 của Lương y Võ Hà có

nêu: cười là hình thức vận động cơ thể có thể giảm stress, giảm đau và cải thiện nhiều chức năng sinh lý của cơ thể Theo bác sĩ William Fry, giáo sư về tâm thần

học trường Đại học Stanford đã có hơn 30 năm nghiên cứu về tiếng cười đã rút ra kết luận: cười 100 lần một ngày tương đương với 10 phút vận động chèo thuyền Theo những nghiên cứu của ông, cười làm gia tăng sự phóng thích những nội tiết tố

tích cực endorphin và serotonin Trong đó, serotonin có tác dụng chống trầm cảm

và mang lại các cảm giác hưng phấn, lạc quan2 Do đó, tính hài hước và tiếng cười

đặc biệt có khả năng cải thiện các điều kiện tâm lí Còn giáo sư Buchowski, người Anh, cho biết cười từ 10 đến 15 phút có thể tiêu thụ thêm 20% calori so với người

bình thường Cười có tác dụng làm gia tăng sự tiết mật, tăng sự co bóp của dạ dày

và ruột, nên rất tốt cho hệ tiêu hóa và bài tiết Đặc biệt, tiếng cười có hiệu quả tích

cực đối với các căn bệnh về tim mạch Theo nghiên cứu của bác sĩ Dean Ornish,

người Mỹ, một chuyên gia về bệnh tim cho biết tính lạc quan và sinh hoạt cộng

đồng là một trong những yếu tố quan trọng để các bệnh nhân tim mạch dễ phục hồi

Một báo cáo tại Hội nghị tim mạch Hoa Kỳ ngày 7.3.2004 cho biết, cười 10 phút có lợi ích cho sức khỏe tim mạch ngang bằng với 3 lần tập thể dục, mỗi lần 30 phút Tim mạch và việc lưu thông khí huyết có liên quan chặt chẽ với các chứng viêm

khớp Do đó, tiếng cười có tác dụng giảm đau và cải thiện tim mạch rất tích cực

Theo y học phương Đông, sự lạc quan, thoải mái dễ dẫn đến tâm bình, khí hòa, một điều kiện cơ bản của các phương pháp dưỡng sinh Với y học cổ truyền,

mỗi âm vận liên quan đến một loại khí, một hành hoặc một phủ tạng nhất định trong

cơ thể Chẳng hạn, buồn bã, u sầu thuộc Phế; vui vẻ, lạc quan thuộc Tâm Động tác

ho là tiếng của Phế thì cười là tiếng của Tâm, hoặc hô là âm vận thuộc tạng Tỳ thì A hoặc Ha là một âm vận liên quan đến khí hóa của Tâm hoặc tim mạch Do đó, trong

“Lục tự khí công”, âm A, Ha hoặc Kha là âm đặc trưng của tiếng cười đã được sử

dụng để chữa những chứng bệnh liên quan đến Tâm hoặc tim mạch

Trang 17

Không chỉ tốt cho sức khỏe, theo giáo sư Mark Van Vugt – Đại học Kent,

Mỹ còn cho biết tâm trạng thoải mái do tiếng cười mang lại còn xúc tiến sự hợp

tác và lòng vị tha, khiến cho con người dễ mở tấm lòng hơn.1

Theo quan niệm dân gian thì: “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ” Nó

có tác dụng làm hồi sinh lại một tâm hồn chai sạn bởi những nỗi đau; nó xua đi những ưu phiền, mệt nhọc trong cuộc sống; nó mang niềm lạc quan, vui sống đến cho con người… Và như thế, tiếng cười có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi con người và đối với cả cuộc sống của nhân loại Trong dân gian cũng đã từng lưu truyền câu ca dao:

Làm người có miệng có môi

Khi buồn thì khóc, khi vui thì cười

Hay như:

Không ăn, không nói, không cười

Nghiêng lưng mà chịu với người hôm mai

(Câu đố về cái phản) Tất cả đều cho thấy quan niệm của con người về tiếng cười Nó có ý nghĩa quan trọng trong đời sống con người, như một nhu cầu tất yếu cũng giống như chuyện ăn, chuyện nói vậy

Trong mối quan hệ giữa người với người, trong ngôn ngữ giao tiếp của xã hội, cũng không thể thiếu vắng tiếng cười :

Cười người chớ vội cười lâu, Cười người hôm trước hôm sau người cười

Trong tục ngữ có các câu:

+ Cơm cười người no

+ Ai ơi chớ vội cười nhau

Nhìn mình cho tỏ trước sau hãy cười

+ Chồng giận thì vợ làm lành

Miệng cười chúm chím: Thưa anh giận gì?

1 http://ykhoa.net/yhoccotruyen/voha/vh045.htm

Trang 18

+ Ở sao cho vừa lòng người

Ở rộng người cười, ở hẹp người chê

+ Cười là thuốc bổ ai ơi!

Dầu rằng lắm bạc thuốc cười khó mua

Và còn có cả bài ca dao liệt kê vô số kiểu cười trong thiên hạ:

Từ dân cho đến quan vua,

Không cười là bệnh người xưa dặn dò

Đến đây tôi bán rẻ cho, Tiền xu thang thuốc khỏi lo chờ hoài

Uống vào cười mãi suốt ngày, Cười không ăn uống, cười bày hàm răng

Cười khì, cười ngất, cười gần, Cười nôn, cười lén, cười lăn, cười thầm, Cười mủm mỉm, cười vang ầm, Cười lộn ruột, cười rần rần, cười chê

Cười chua chát, cười hề hề, Cười đau bụng, cười lộn mề, cười khinh

Cười ngặt nghẽo, cười một mình, Cười cợt, cười nụ, cười tình, cười om, Cười lơi, cười lả, cười ngon, Cười ra nước mắt, cười mòn cả răng

Cười chúm chím, cười bò lăn, Cười phá lên, cười dòn băng, cười mừng,

Cười hô hố, cười nhảy tưng, Cười tươi, cười rộ, cười sưng cả mồm, Cười ơi thuốc bổ quá ngon!

Mua về dành để sớm hôm luôn cười

Cười là thuốc bổ ai ơi!!!

Không chỉ trong văn học dân gian, trong âm nhạc cũng đã có nhiều ca khúc

đề cao tác dụng tiếng cười Tiêu biểu là bài hát Nụ cười của nhạc sĩ M.Pliaskovski,

một bài hát được hàng triệu trẻ em trên thế giới ưa thích Và hiện đã được đưa vào

Trang 19

chương trình âm nhạc lớp 9:

Cho trời sáng lên cùng với bao nụ cười

Cầu vồng thêm lung linh bao sắc ánh lên ở khắp nơi

Nụ cười tươi, chúng ta cùng chung niềm vui

Cho cuộc sống hôm nay hát bài ca yêu đời

Để làn mây không bay đi xa Những hạt mưa bay bay bên ta

Để làn nước từ con suối xanh thành dòng sông sóng xô

Tiếng cười sẽ luôn luôn bên ta Tiếng cười sẽ mãi mãi ngân xa Tiếng cười là bạn đường tháng năm của tuổi niên thiếu ta

Tiếng cười sẽ luôn luôn bên ta Tiếng cười sẽ mãi mãi ngân xa Tiếng cười là bạn đường tháng năm không thể nào xóa nhòa

Vào năm 2008, để cổ động cho thế vận hội Olympic Bắc Kinh, bức tường tọa lạc tại công viên Chaoyang đã treo đúng 2008 bức ảnh với những nụ cười rạng rỡ, thân thiện của người dân Trung Quốc Các ảnh này được tuyển lựa từ 4.000 ảnh từ khắp nơi gửi về dự thi Du khách có thể bình chọn cho nụ cười được yêu thích nhất tại nhiều bốt bỏ phiếu trong công viên.1

Bức tường nụ cười cổ động Olympic Bắc Kinh 2008

Cách đây hơn 13 năm, tại Ấn Độ, nghề dạy cười được khởi xướng bởi vị bác

sĩ nổi tiếng Madan Kataria Hiện nay, yoga cười (laughter yoga), một liệu pháp thư

1 http://vietbao.vn/Van-hoa/Buc-tuong-nu-cuoi-co-dong-Olympic-Bac-Kinh/40187644/181/

Trang 20

giãn kiểu yoga kết hợp với cười đã có mặt trên 60 quốc gia với nhiều huấn luyện viên được đào tạo tại Ấn Độ giảng dạy cho hàng ngàn học viên muốn được sống vui

và khỏe mạnh hơn

Như vậy, từ ngàn xưa đến tận hôm nay, tiếng cười đã được con người ý thức như một liều thuốc chữa nhiều căn bệnh, cả tâm bệnh lẫn bệnh lý

Và “Nếu như trong cuộc sống thực tại, con người vốn có quan niệm đời là bể

khổ, nhiều đau thương và nước mắt thì cũng chính con người luôn luôn có ý thức phải tìm đến hạnh phúc, niềm vui và tiếng cười để cân bằng lại” [Đào Thản 1998:

14]

Nhận thức của con người về tiếng cười trong ca dao cũng rất rõ: “Vui từ

trong cửa vui ra, buồn từ ngã bảy ngã ba buồn về” Con người cho rằng, nỗi buồn

là do hoàn cảnh khách quan mang đến; còn niềm vui, tiếng cười lại xuất phát từ chính tâm trạng của con người, do lòng người tạo ra Chính niềm lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống đã giúp con người khai thác được niềm vui để xua đi những nỗi buồn, những bất hạnh trong cuộc sống “trầm luân” Đó là tiếng cười có thể được xuất phát từ cái nhìn phóng đại, kiểu hành xử bất bình thường từ một lối tư duy yêu đời, lạc quan, yêu cuộc sống Tiếng cười cũng có thể là sự xuất phát từ cái trái tự

nhiên, sự mâu thuẫn với luận lý thông thường của đời sống, có nhiệm vụ “tống tiễn

quá khứ lạc hậu, lỗi thời” [Đào Thản 1998: 15] Và khi tiếng cười có tác dụng đẩy

lùi cái xấu, xóa bỏ cái chướng tai gai mắt thì lúc đó “Tiếng cười là vũ khí của kẻ

mạnh” [Dẫn theo Bùi Mạnh Nhị 2004: 204]

1.1.4 Tiếng cười và tính cách con người

Về khái niệm tiếng cười đã được chúng tôi giải thích ở mục 1.1.1 Đối với

khái niệm về tính cách, theo tác giả Hoàng Phê trong Từ điển Tiếng Việt có nêu như sau: “Tính cách d.1 Tổng thể nói chung những đặc điểm tâm lí ổn định trong

cách xử sự của một người, biểu hiện thái độ điển hình của người đó trong những hoàn cảnh điển hình” [Hoàng Phê (cb) 1994: 999]

Trong tiếng Anh, tính cách được định nghĩa là “tinh thần và phẩm chất đặc

trưng cho một cá nhân”.1 Wikipedia tiếng Anh coi cấu trúc tính cách là một hệ

1 http://www.oxforddictionaries.com/view/entry/m_en_gb0138140#m_en_gb0138140

Trang 21

thống các đặc điểm tương đối ổn định, được biểu hiện bằng những phản ứng cụ thể của một cá nhân với mọi người, với các loại kích thích và với môi trường.1

Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam nêu: “… tính cách là sự kết hợp độc

đáo các đặc điểm tâm lí ổn định của từng người Tính cách có khi gọi là tính nết, là nội dung của hành vi và quy định phương thức hành vi đặc trưng của người đó trong những điều kiện và hoàn cảnh sống nhất định, thể hiện thái độ của họ đối với thế giới xung quanh và bản thân [Dẫn theo Lại Nguyên Ân 1999: 334]”

“Tính cách dân tộc” và “bản sắc văn hóa” là hai khái niệm được nhắc đến

rất nhiều trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay, khi mà sự giao lưu và tiếp biến văn hóa diễn ra không ngừng và có nguy cơ khiến văn hóa của dân tộc bị mai một dần Nhưng kỳ thực, việc tìm hiểu về căn tính, cá tính, bản sắc, tính cách dân tộc đã có

từ rất lâu

“Tính cách dân tộc” (national character) là một vấn đề không dễ gì nắm bắt

được, thế nên, nó được các nhà nghiên cứu tiếp cận từ nhiều hướng khác nhau Các nhà nhân học văn hóa như Ruth Fulton Benedict, Margaret Mead đều cho rằng tính

cách dân tộc như một “tính cách văn hóa” (cultural character) Theo họ, tính cách

văn hóa chính là cá tính vượt trội trong nhóm dân tộc [Claret Philippe 2007: 14]

Trong khi đó, nhà phân tâm học Erich From (1900 - 1980) lại xem tính cách

dân tộc như một “tính cách xã hội” (social character), tức nhấn mạnh tầm quan

trọng của các nhân tố xã hội – lịch sử và vai trò của các nhân tố xã hội – kinh tế trong sự hình thành cá tính tập thể của các xã hội

Ở Việt Nam, tác giả Đỗ Lai Thúy cho rằng “tính cách dân tộc là một bản

chất không thay đổi nào đó, vốn sẵn có của tất cả mọi người trong một dân tộc nhất định, bản chất ấy phân biệt họ với tất cả những nhóm dân tộc khác, quyết định một cách kín đáo hành vi xã hội của họ” [Đỗ Lai Thúy 2005: 471] Tác giả Trần Ngọc

Thêm thì cho rằng “tính cách văn hóa” không trùng với “tính cách dân tộc”, nó

có thể bao gồm cả những gì liên quan tới con người nhưng không phải trực tiếp

thuộc về con người “Tính cách dân tộc là những đặc trưng bản sắc quan trọng

1

http://en.wikipedia.org/wiki/Character_structure

Trang 22

nhất, trực tiếp liên quan đến cách tư duy, cách ứng xử và cách hành động của con người” [Trần Ngọc Thêm 2005: 47]

Không phải chỉ được nghiên cứu một cách độc lập mà mối quan hệ giữa tính

cách và văn hóa còn được thể hiện trong cuốn Mô thức văn hóa (“Patterns of

Culture”, 1934) của Ruth Benedict Ông đã có những kết luận mang tính tổng thể cho văn hóa thế giới Theo Benedict, các nền văn hóa trên thế giới có thể được chia

thành hai mô thức: mô thức văn hóa kiểu Apollo (với đặc tính sống không cạnh tranh, lấy trung dung làm đạo đức) và mô thức văn hóa kiểu Dionysus (với đặc

tính nóng nảy, thích cạnh tranh, hiếu thắng, lấy ưu việt làm tiêu chuẩn đạo đức).1

“Tính cách dân tộc” được các nhà nghiên cứu đánh giá dựa trên một số tiêu

chí, bình diện khác nhau Theo tác giả Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hóa sử

cương thì người Việt Nam có một số phẩm chất sau: thông minh, giàu trực giác,

ham học, thích văn chương, ít mộng tưởng mà ưa thiết thực, cần cù, giỏi chịu đựng, hơi nông nổi và không bền chí, nhút nhát và chuộng hòa bình, rất giỏi bắt chước, thích ứng và có tài dung hóa [Đào Duy Anh 1998: 25]

Vào đầu thế kỷ XX, tác giả Nguyễn Văn Vĩnh trong một bài báo trên tạp chí

Đông Dương đã viết về người Việt Nam “có một thói lạ là gì cũng cười Người ta

khen cũng cười, người ta chê cũng cười Hay cũng hì, mà dở cũng hì, phải cũng hì, quấy cũng hì Nhăn răng hì một tiếng, mọi việc hết nghiêm trang” [Dẫn theo Bùi

Quang Huy 1996: 11]

Còn Trần Văn Giàu lại phân tích những giá trị nổi bật của người Việt Nam như: lòng yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa [Trần Văn Giàu 2000: 330]

Giáo sư Nguyễn Văn Huyên trong tác phẩm Văn minh Việt Nam (1944) đã nhận xét về tính cách của con người Việt Nam như sau: “chẳng thấy nơi nào trên

thế giới một dân tộc cần cù như vậy…, người Việt Nam có chất nghệ sĩ nhiều hơn khoa học Họ nhạy cảm hơn là lý tính”; dũng cảm: sẵn sàng hy sinh, dũng cảm cho

những sự nghiệp lớn [Dẫn theo Nguyễn Đắc Hưng 2009: 110]

Trong bài viết “Về tính cách người Việt Nam”, tác giả Nguyễn Văn Hạnh

1 http://www.vanhoahoc.edu.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=690&Itemid=47

Trang 23

xem cái cười như một đặc tính của người Việt Nam: “Rất đặc biệt cái cười của

người Việt Nam Vui, cười đã đành, mà không bằng lòng cũng cười, nguy hiểm cũng cười, không có nguyên cớ gì cũng cười Cái cười như một phản ứng chung đối với nhiều tình huống rất khác biệt Cười là một dấu hiệu, một kí hiệu đặc trưng, điển hình của tính cách Việt Nam Người Việt Nam cười hồn nhiên, cười như một lời chào hỏi, một cách tiếp nhận thế giới, một thái độ sống, một quan niệm sống”

[Nguyễn Văn Hạnh 2007: 236]

Một nghiên cứu được công bố gần đây của tổ chức các nền kinh tế mở (NEF)

đã xếp Việt Nam là quốc gia đứng thứ 12 trên toàn cầu và đứng đầu (hạnh phúc nhất) ở châu Á Bảng đánh giá, xếp hạng này căn cứ vào một số tiêu chuẩn như sự bằng lòng với cuộc sống, tuổi thọ trung bình, yếu tố môi trường Và như vậy, nói người Việt Nam lạc quan, hay cười không phải là một nhận định cảm tính1

Nhận định này còn được xác nhận qua con số thống kê các làng cười nổi tiếng tại Việt Nam Làng cười là những làng mà đa số người dân trong làng có khiếu trào phúng đặc biệt hay đùa giỡn, châm chọc những người xung quanh, hoặc

có một số đặc điểm nào đó về cách phát âm, tài kể chuyện [Vũ Ngọc Khánh 2005: 505] Nếu như ở nước Bungari có làng Gabrovo cả làng biết kể truyện cười thì ở nước ta có làng cười Văn Lang ở tỉnh Vĩnh Phú, làng cười Vĩnh Hoàng tỉnh Quảng Trị, làng cười Hòa Làng ở Bắc Ninh, Bắc Giang… Theo thống kê riêng ở xứ Bắc nước ta đã có 14 làng cười truyền thống: Đồng Sài, Trúc Ổ (huyện Quế Võ), Đông Yên, Hòa Làng, Dương Sơn (Tân Yên), Tiên Lục (huyện Lạng Giang)… [Vũ Ngọc Khánh 2005: 505 – 506]

Không chỉ ở vùng đồng bằng mới có những làng cười mà ở Việt Nam đâu

đâu cũng vang lên tiếng cười: “Dân cư vùng biển có nụ cười riêng, thích hợp với

cuộc đời sông nước, với các dụng cụ nghề nghiệp của họ, hình như khuynh hướng nói tục có phần nặng hơn” [Vũ Ngọc Khánh 2005: 519]

Không chỉ có “làng cười” mà còn có cả những “người cười” Đó là những

nhân vật do dân gian sáng tạo nên, họ là những ông Trạng nhưng chỉ là dân phong

1 http://www.ykhoanet.com/yhoccotruyen/voha/vh045.htm

Trang 24

mà không hề có chữ nghĩa khoa bảng, không có cờ biển sắc phong nhưng rất giỏi gây cười Bằng sự thông minh, láu lỉnh, tinh nghịch và cả tài khêu gợi được tiếng cười bằng lối nói, lối nghĩ, lối ứng xử hóm hỉnh…, họ đã đem đến cho dân gian những tràng cười sảng khoái Những ông Trạng này có thể kể đến như Trạng Gầu, tức Tống Trân cùng vợ là Cúc Hoa (quê ở Hưng Yên), Trạng Quét – Lê Quát, học trò của Chu Văn An (ở Thanh Hóa), Trạng Cờ – Võ Huyên, Trạng Bịu – Nguyễn Đăng Đạo, Trạng Gióng – Đặng Công Chất… [Vũ Ngọc Khánh 2005: 519]

Đi gần hơn với luận văn, chúng tôi nhận thấy tác giả Trương Thanh Tùng cho rằng trung thực, bộc trực, dễ tin là những tính cách rất đặc biệt của người Tây Nam Bộ [Trương Thanh Tùng 2004: 78]

Người Tây Nam Bộ là một trong những bộ phận cấu thành của dân tộc Việt Nam, do đó, nếu nói rằng người Tây Nam Bộ có tâm hồn phóng khoáng, lạc quan, thích cười giống như tính cách truyền thống của người Việt Nam cũng là điều dễ hiểu Nhưng có điều nó được biểu hiện trội hơn nay chìm hơn so với cái chung mà

thôi Tác giả Trần Thanh Tùng trong bài viết “Tính cách con người Tây Nam Bộ” cho rằng: “Văn hóa Tây Nam Bộ hôm nay, trong đó có tính cách con người mới

được hình thành mấy trăm năm nay chính là chồi lộc, hoa trái của hạt giống văn hóa truyền thống văn hóa Việt Nam” [Trương Thanh Tùng 2004: 71]

Và “những tính cách ấy được hình thành trong quá trình khai mở, xây dựng

và bảo vệ mảnh đất tận cùng phía Tây Nam tổ quốc này, nó chịu ảnh hưởng rất sâu sắc bởi hoàn cảnh địa lý, thiên nhiên và đặc điểm của sự hòa nhập, giao lưu giữa các dân tộc có mặt trên địa bàn” [Trương Thanh Tùng 2004: 81]

Cũng như các vùng miền khác, theo bước chân người đi mở cõi thì lời ru, câu hò, điệu lý…, tất cả như hơi thở không thể thiếu trong sinh hoạt của người bình dân và tất nhiên, trong đó không thể thiếu tiếng cười Chúng ta có thể bắt gặp hàng loạt trong văn học dân gian vô số tiếng cười của người miền Tây Nam Bộ:

+ Chuồn chuồn đậu ngọn cau lơ

Anh cười bả lả, em ngờ duyên anh

+ Nực cười con tạo trớ trêu

Chữ duyên chao chát, chữ tình lãng xao

Động từ “cười” còn kết hợp với nhiều tính từ khác làm nên những kiểu cười

Trang 25

khác nhau cho thấy người Tây Nam Bộ có một tâm hồn rất lạc quan, rất thích cười:

+ Chiều chiều ra đứng vườn cà

Thấy em cười lạt anh biết đà hết duyên

+ Cóc nghiến răng còn động lòng trời

Cũng vì em có điệu cười mỉm chi

Nếu như ở xứ Bắc có một số nhân vật Trạng đã được kể ở trên thì ở miền Tây Nam Bộ lại có các nhân vật với khiếu hài hước được rất nhiều người dân yêu thích như ông Bộ Ninh ở Cai Lậy (Tiền Giang), ông Sáu Mới ở Mỹ Tho (Tiền Giang), ông Bợm Bảy ở Cửu Long, ông Ó ở Bến Tre, bác Ba Phi ở Minh Hải…

Điều đó cho thấy người Tây Nam Bộ cũng rất thích bông đùa, thích cười Và tiếng cười của người miền Tây Nam Bộ chắc hẳn sẽ rất khác với người xứ Bắc

1.2 Cơ sở hình thành tiếng cười

1.2.1 Tiếng cười xét ở góc độ mỹ học

Cái hài là một hiện tượng thẩm mỹ khách quan thuộc phạm trù nghiên cứu của mỹ học Cái hài được xem là một trong những phương tiện biểu hiện của tình cảm thẩm mỹ trong sự đối xứng có tính chất tương đối với cái bi

Các nhà mỹ học đều thống nhất cái hài được sinh ra từ những mâu thuẫn của những mặt đối lập Theo Aristote, đó là mâu thuẫn giữa cái xấu và cái đẹp;

theo Kant, đó là sự mâu thuẫn giữa cái cao cả và cái nhỏ nhen; còn Tsenushevsky lại cho rằng đó là mâu thuẫn giữa sự trống rỗng bên trong với vẻ ngoài tham vọng… Tóm lại, cái hài có nguồn gốc từ những mâu thuẫn trong đời sống xã hội

Nói như Aristote thì “cái xấu là nguồn gốc, là bản chất của hài kịch” nhưng không

phải cái xấu nào cũng là nguồn gốc của cái hài, chỉ có những cái xấu không đành phận xấu, cố sức làm ra đẹp, tự nó tạo ra mâu thuẫn, đối lập với bản thân nó mới là nguồn gốc của cái hài.1

Vì vậy, về hình thức biểu hiện, cái hài có hai hình thức biểu hiện Thứ nhất, bản chất xấu xa phản động nhưng tỏ vẻ cao thượng tiến bộ – đây là mâu thuẫn đối

kháng không khoan nhượng, phải kiên quyết phủ định nó Thứ hai, bản chất tốt

1 http://caycanhthanglong.vn/A33B6451/pham-tru-cai-hai.html

Trang 26

nhưng vẫn có cái lỗi thời, lạc hậu – đây là những mâu thuẫn nội bộ, cần đả kích châm biếm giúp tiến bộ

Xét về bản chất, tiếng cười là cái không thể thiếu trong cái hài, là dấu hiệu

xác nhận mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể Tiếng cười trong cái hài là phương tiện để phê phán mặt trái của cuộc sống, để phủ định những cái xấu xa, giả dối, lỗi thời Nó là một hình thức phê phán xã hội đặc biệt, phê phán bằng cảm xúc đối với những gì đối lập với lý tưởng xã hội

Cái hài không giống cái buồn cười nên không phải mọi tiếng cười đều là cái hài Chỉ có tiếng cười nhằm vào đối tượng cụ thể (đối tượng mang mâu thuẫn), có mục đích và ý nghĩa xã hội sâu sắc mới mang sắc thái của tiếng cười.1

Nói chung, cái hài là phạm trù cơ bản của mỹ học, nó xuất phát từ lý tưởng

thẩm mỹ, “là sự mâu thuẫn giữa các hiện tượng không hoàn thiện và kinh nghiệm

tích cực của nhân loại, được ghi khắc ở các lý tưởng thẩm mỹ; là sự tương dung mang ý nghĩa xã hội, giữa mục đích và phương tiện, giữa hình thức và nội dung, giữa hành động và hoàn cảnh, giữa bản chất và các biểu hiện của nó, giữa tham vọng của cá nhân và các khả năng chủ quan của nó… Cái hài là đặc tính vốn có của đời sống thực tại: mọi lúc mọi nơi đều đầy rẫy những cái có thể gây cười” [Lại

Nguyên Ân 1999: 33]

Trong nhận thức của những lưu dân Việt, Tây Nam Bộ chính là “vùng đất hứa” với sự trù phú, nét hiền hòa của thiên nhiên nhưng thực tế khi đặt chân đến đây, lúc chưa khẩn đất khai hoang, mảnh đất này hiện lên với tất cả vẻ u tịch, hoang liêu đến khiếp sợ của nó khiến lòng người cũng bất an Nhưng nếu sự mâu thuẫn

giữa “bản chất và các biểu hiện của nó” hoặc “giữa ước muốn và thực tại” khiến

con người thất vọng thì những lưu dân Việt đầu tiên đến vùng đất này lại bật cười

Cười cho cái trớ trêu của số phận nhưng cũng chính tiếng cười ấy lại là một động lực để họ thêm sức mạnh, thêm niềm tin vào công cuộc khai hoang của mình

Xuôi về phương Nam, tính cách của người Việt có phần thay đổi do điều kiện tự nhiên tác động đến nhưng chỉ là biểu hiện tính cách ở mức độ đậm nhạt khác nhau Về cơ bản, tính cách con người rất khó thay đổi ở phạm vi một quốc gia

1 http://caycanhthanglong.vn/A33B6451/pham-tru-cai-hai.html

Trang 27

Do đó, đặc tính thích cười của người Việt truyền thống vẫn không thay đổi Nếu ở

Bắc Bộ, tiếng cười có phần sâu cay, chua chát thì đến vùng đất này nó trở nên nhẹ nhàng hơn Nếu ở Bắc Bộ, tiếng cười là sự châm biếm, trào phúng, mỉa mai thì đến Tây Nam Bộ chỉ còn lại tiếng cười hài hước mang ý nghĩa khuyên răn, nhắn gởi nhẹ nhàng Dù ở mức độ nào thì tiếng cười ấy cũng với mục đích hướng con người đến

sự hoàn thiện của chân – thiện – mỹ, và tiếng cười ấy mang một ý nghĩa thẩm mỹ sâu sắc

1.2.2 Tiếng cười xét ở góc độ triết học

“Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là hai xu hướng tác động

khác nhau của các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn” [Nguyễn Ngọc Long (đcb)

1996: 245] Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện thì chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau Lúc bấy giờ, mâu thuẫn được giải quyết Nhờ đó mà thể thống nhất cũ được thay thế bằng thể thống nhất mới, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời

thay thế cái cũ V.I Lênin cũng đã viết: “Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh”

giữa các mặt đối lập” Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là không thể

tách rời nhau trong mâu thuẫn biện chứng Sự vận động và phát triển bao giờ cũng

là sự thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi Sự thống nhất và đấu tranh của

các mặt đối lập quy định tính ổn định và tính thay đổi của sự vật Do đó, mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển [Nguyễn Ngọc Long

(đcb) 1996: 246]

Dù chỉ bước vào giai đoạn khai hoang mở cõi nhưng chắc hẳn lớp cư dân Việt đầu tiên đặt chân đến vùng đất này sẽ không tránh khỏi quy luật của cuộc sống,

quy luật từ sự mâu thuẫn trong xã hội Có thể đó là sự “bất đồng” giữa cái xấu và

cái đẹp, giữa cái giá trị và cái mang tham vọng giá trị, giữa cái vô lý và cái hữu lý… Theo lịch sử tư tưởng mỹ học, cái hài lại là kết quả của sự tương phản giữa các

mâu thuẫn đó Tiếng cười của người Việt miền Tây Nam Bộ cũng hình thành từ

những sự đối lập ấy trong xã hội Tiếng cười bật lên như một vũ khí để giải quyết

mâu thuẫn, làm cho xã hội vận động và phát triển Tiếng cười làm nhiệm vụ “tống

tiễn quá khứ lạc hậu, lỗi thời” [Huỳnh Công Tín 2006: 56].

Tuy nhiên, không phải bao giờ mâu thuẫn cũng có thể được giải quyết Có những vấn đề chủ thể không thừa nhận hoặc không thể nhận biết được, trong khi đó,

Trang 28

khách thể lại dễ dàng nhận biết được vấn đề cũng là nguyên nhân nảy sinh mâu

thuẫn Sự mâu thuẫn không thể giải quyết lại chính là cơ sở cho cái hài, tiếng

cười được nảy sinh Ví dụ trong truyện Thầy bói xem voi, mỗi ông thầy bói mù lại

đoán hình dáng của con voi theo cách nhận thức riêng của mình Ông sờ được chân voi thì bảo voi sừng sững như cái cột nhà, ông sờ được cái đuôi thì lại bảo voi tun tủn như cây chổi sể cùn, ông sờ được cái vòi thì bảo voi sun sun như con đỉa, ông sờ phải ngà voi thì cho rằng voi chần chẫn như cái đòn càn, ông sờ tai voi thì bảo nó bè

bè như cái quạt thóc Cứ như thế, mỗi ông thầy bói lại giữ quan điểm riêng của mình đến độ phải đánh nhau vì không ai chịu ai Tiếng cười bật ra trong câu chuyện này, bởi khách thể đều dễ dàng nhận biết được hình dáng của con voi ra sao nhưng các ông thầy bói mù lại không thể quan sát và mô tả con voi một cách toàn diện Vấn đề là do họ chỉ có thể nhận thức được bằng xúc giác và lại chỉ sờ vào một bộ phận của con voi mà thôi Cái kết thúc đánh nhau của các ông thầy bói mù và cũng

là nguyên nhân gây nên tiếng cười chính vì sự mâu thuẫn không thể giải quyết được giữa các chủ thể Với nhận thức vẫn còn sơ khai lại không có điều kiện học nhiều nên cư dân Việt miền Tây Nam Bộ cũng dễ dàng rơi vào tình huống như truyện

Thầy bói xem voi như đã dẫn ở trên Sự nhận thức hạn chế, có phần ấu trĩ, một chiều

khiến cho cuộc sống của người Việt miền Tây Nam Bộ luôn phải đối mặt với những mâu thuẫn không thể giải quyết Đó chính là cơ sở hình thành nên tiếng cười của người Việt nơi đây

Truyện tiếu lâm và triết học là hai lĩnh vực rõ ràng không liên quan gì đến nhau; một bên đọc lướt để cười, một bên nghiền ngẫm để giải đáp những bí ẩn của

cuộc đời Thế nhưng, tác phẩm “Plato và Platypus bước vào quán rượu…” của hai

tác giả là Thomas Cathcart và Daniel Klein lại nhằm tìm hiểu triết học thông qua truyện tiếu lâm Nhưng điều gì đã khiến hai tác giả trên lại có ý tưởng “quái chiêu” như thế? Có lẽ chỉ qua đoạn đối thoại sau sẽ giúp chúng ta trả lời được câu hỏi trên:

Dimitri: Nếu thần Atlas nâng quả đất trên vai, thế thì ai nâng thần Atlas? Tasso: Thần Atlas đứng trên lưng con rùa

Dimitri: Nhưng rùa đứng trên cái gì?

Tasso: Trên một con rùa khác

Dimitri: Nhưng con rùa ấy đứng trên cái gì?

Trang 29

Tasso: Dimitri thân mến à, toàn là rùa suốt lượt

Mẩu đối thoại kiểu Hy Lạp cổ đại này minh họa rõ ràng nhất khái niệm triết

học về hồi quy bất tận, cái ý niệm nảy sinh khi ta hỏi về nguyên thủy cuộc sống,

về vũ trụ, thời gian và không gian, và quan trọng nhất về một đấng sáng tạo Phải có cái gì đấy tạo ra đấng sáng tạo cho nên mối dây nhân quả không dừng lại ở đấng sáng tạo được (con rùa) Cho nên phải là đấng sáng tạo “suốt lượt” Không chỉ là lời

giải đáp cho cái khởi nguyên của sự sống, của vũ trụ mà câu đáp của lão: “Toàn là

rùa suốt lượt” rõ ràng còn mang tính hài hước, tiếu lâm Do đó, giữa tiếu lâm và

triết học có mối quan hệ mật thiết Theo đó, cấu trúc và yếu tố chọc cười của truyện tiếu lâm cũng giống cấu trúc và yếu tố “ngộ ra” của các khái niệm triết học Chúng kích thích đầu óc chúng ta theo cùng một cách Đấy là do triết học và truyện cười có

cùng xuất phát điểm: làm đảo lộn suy nghĩ thông thường của chúng ta về mọi vật và làm xuất lộ những sự thật bị giấu kín – thường là không hay ho lắm về cuộc đời Cái mà triết gia gọi là thấu thị, giới tiếu lâm gọi là chìa khóa chọc cười 1

Một ví dụ khác về triết học và tiếu lâm, nó được rút ra từ phép loại suy – nếu hai sự việc có cùng kết quả, chúng ắt phải có cùng nguyên nhân 2 “Một lão

ông 90 tuổi đi gặp bác sĩ, hỏi: “Nè bác sĩ, cô vợ 18 tuổi của tôi sắp sinh con” Bác

sĩ bảo: “Để tôi kể ông nghe một câu chuyện Một gã đi săn, nhưng thay vì lấy súng lại lấy nhầm cái dù Khi một con gấu ào đến tấn công, gã bèn giương dù lên, bắn, gấu lăn ra chết” Ông lão thốt lên: “Vô lý Chắc có ai bắn gấu từ hướng khác” Bác sĩ nói: “Đấy, tôi cũng nghĩ vậy”.” Đây là ví dụ minh họa về phép loại suy, một

thủ thuật triết học đang được dùng để trả lời cho câu hỏi khởi nguyên của vũ trụ (nghĩa là, nếu có con mắt, ắt trên trời phải có đấng thiết kế mắt) Các khái niệm triết

học hoàn toàn có thể minh họa bằng truyện tiếu lâm và ngược lại, nhiều truyện tiếu

lâm hàm chứa những nội dung triết học kỳ thú Đối với cư dân Việt Tây Nam Bộ,

họ như những con chim non rời tổ mẹ phiêu bạt đến vùng đất phương Nam, biết bao nhiêu câu hỏi được họ đặt ra với sự ngỡ ngàng về thế giới xung quanh, bởi không phải lúc nào họ cũng có thể trả lời được những câu hỏi đó Lúc này, phương pháp

1 http://www.thesaigontimes.vn/Home/vanhoa/docsach/30312/

2

http://www.thesaigontimes.vn/Home/vanhoa/docsach/30312/

Trang 30

loại suy theo tư duy triết học sẽ giúp họ tự giải đáp nguyên lý của vũ trụ, của sự sống mà họ đang tồn tại ở nơi đó Tuy nhiên, nó lại gây nên những tình huống đáng cười cũng bởi ý nghĩ: nếu hai sự việc có cùng kết quả, chúng ắt phải có cùng nguyên nhân

Cái hài có liên quan đến những yếu tố lạ kỳ, bất thường 1 Do sự bất ngờ đến từ yếu tố lạ thường nên người ta phá lên cười khi biết mình bị lừa Họ bị dẫn theo lối tư duy của chủ thể để rồi sau đó phát hiện ra rằng, kết thúc của nó là một cái gì đó hoàn toàn khác lạ Ví dụ trong câu chuyện: Sau thánh lễ đồng tế, một linh

mục Pháp nói bằng tiếng Việt trong phòng thánh rằng: “Xin mời các cha cởi áo

quần ra để dự tiệc với giáo dân” Hay trong một buổi chia sẻ Lời Chúa, một tu sĩ

người Pháp công bố tin mừng, trong đó có câu:“Khi ấy, thuyền gần chim…” Qua

những ví dụ trên cho thấy việc nói hớ dễ khiến người ta cảm thấy tức cười Cho dù

ở hoàn cảnh nào đi nữa, óc khôi hài của con người vẫn luôn có ý thức tìm cách khai thác sự hàm hồ trong ngôn ngữ Ở đó, người ta tìm thấy những ngữ nghĩa tiềm ẩn đằng sau các ngôn từ và nó bị khai thác để làm nên yếu tố bất ngờ, gây tiếng cười Như vậy, sự bất ngờ, cái hài hước có liên quan đến thế giới đời thường Vì thế,

“những người có óc hài hước sẽ dễ được coi là “người” hơn những ai luôn nghiêm

khắc hay khô khan” Sự hài hước là điểm gặp của hai thái cực, đó là: năng lực vô

biên của trí tuệ và ý thức về giới hạn của con người 2

Thực ra, nó là một cái gì đó giúp giải tỏa những căng thẳng trong cuộc sống, và đặc biệt hơn trong đời sống tập thể, cộng đồng Với tâm hồn phóng khoáng, óc hài hước, cư dân Việt Tây Nam Bộ luôn có ý thức khai thác sự hàm hồ trong lời nói, đặc biệt là phương ngữ Nam Bộ vốn dễ dãi, đơn giản để tạo nên những tình huống gây cười thú vị

Triết học Phật giáo quan niệm rằng: “Đời là bể khổ” Nước mắt của loài

người nhiều hơn nước mắt của bốn biển [Hà Thiên Sơn 2001: 45] Phật giáo cũng

đã đưa ra “Tứ diệu đế” để giải thoát chúng sinh khỏi mọi nỗi khổ đau của kiếp nghiệp báo luân hồi Trong đó, điều đầu tiên Phật dạy chính là Khổ đế – một triết lý

1 http://my.opera.com/duongbinhminh/blog/show.dml/9670981

2 http://my.opera.com/duongbinhminh/blog/show.dml/9670981

Trang 31

về bản chất cuộc đời của mỗi con người là bể khổ Tất cả những nỗi khổ của con

người là thực tế và ai cũng có thể cảm nhận được Phật giáo chia thành 8 loại khổ:

Sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái ly biệt khổ, sở cầu bất đắc khổ, oán tăng hội

khổ, ngũ ấm xí thịnh khổ [Hà Thiên Sơn 2001: 46]

Quan niệm “Đời là bể khổ” trong tư tưởng Phật giáo đã ảnh hưởng rõ rệt

đến nhận thức của người Việt miền Tây Nam Bộ Nếu trong Phật giáo, tín đồ tìm

đến Diệt đế như một phương pháp để loại bỏ những nguyên nhân sâu xa của mọi

nỗi đau khổ là tham, sân, si thì đối với những con người bình dân trong những ngày

đầu tiên khai hoang mở cõi lại có ý thức tìm đến hạnh phúc để cân bằng lại cuộc

sống Hạnh phúc đối với họ không ở đâu xa mà nó ẩn tiềm trong mỗi nụ cười

Tiếng cười có tác dụng xua đi những nỗi cơ cực trong cuộc sống và xua đi cả những

ý niệm về nỗi đau khổ của con người trên bước đường phiêu dạt về đất phương

Nam Nó xây dựng trong lòng lớp cư dân Việt nơi đây ý thức phải cười nhiều hơn

Từ đó, tiếng cười thường xuyên nở rộ như những nhành cây đơm hoa kết trái trong

khu vườn ngạt ngào sắc hương của vùng đất Tây Nam Bộ vốn trù phú, hiền hòa

1.2.3 Tiếng cười xét ở góc độ xã hội học

Xã hội học là một môn khoa học còn mới mẻ được khai sinh vào nửa đầu thế

kỷ 19 bởi nhà xã hội học nổi tiếng người Pháp – Auguste Comte Đây là một môn

khoa học có đối tượng nghiên cứu còn gây nhiều tranh luận đối với các nhà khoa

học Một số tác giả cho rằng “ đối tượng nghiên cứu của xã hội học chính là hành

vi xã hội của con người”1 Xã hội học nghiên cứu hệ thống xã hội, “nghiên cứu

những quy luật và tính quy luật chi phối mối quan hệ và liên hệ tạo thành hệ thống

tổng thể xã hội ” 2 Tuy nhiên, chúng tôi có cùng quan điểm với tác giả Lê Ngọc

Hùng khi cho rằng “vấn đề cơ bản của xã hội học là mối quan hệ hữu cơ, sự ảnh

hưởng lẫn nhau, quan hệ biện chứng giữa một bên là con người (với tư cách là cá

nhân, nhóm ) và một bên là xã hội (với tư cách là hệ thống xã hội, cơ cấu xã

Trang 32

Nói một cách cụ thể thì xã hội học nghiên cứu dựa trên những cái bình thường và bất thường, sự hoàn chỉnh và thiếu sót, sự đồng bộ và không đồng bộ… Nghĩa là xã hội học đang cụ thể hóa những phạm trù đối lập nhau của triết học

và mỹ học Nó chính là sự “phản ánh khái quát những kinh nghiệm trong mỹ học

đến cụ thể xâm nhập vào từng lát cắt của đời sống Nó trở thành phương tiện để phát hiện những xung đột, những mâu thuẫn xã hội, giai cấp, nó là hình thái phê phán đặc biệt có cảm xúc”1 bằng tiếng cười, bằng cái hài Trong đời sống thực tiễn

xã hội, cái hài được biểu hiện rất phong phú đa dạng Nó chuyển tải đến đời sống

bằng công cụ sắc bén là tiếng cười Tiếng cười với những sắc thái ý nghĩa khác

nhau trong cường độ và tính chất của nó Cười không chỉ để vui mà ẩn sau tiếng cười ấy là những giá trị nhân văn sâu sắc Nó là lưỡi dao ngọt ngào thể hiện sự đả kích, trào phúng hướng đến những đối tượng cụ thể với mục đích nhằm làm cho cuộc sống, cho xã hội tốt đẹp hơn

Không nằm ngoài quy luật của nó, tiếng cười của người Việt miền Tây Nam

Bộ cũng được xây dựng dựa trên lý tưởng cuộc sống, hướng con người đến những giá trị chân – thiện – mỹ Ở phạm vi hẹp, đó chính là sự hoàn thiện bản

thân mình Ở góc độ rộng hơn, nó lại là việc góp phần xây dựng xã hội hoàn chỉnh,

tốt đẹp hơn

Nói về cơ sở hình thành nên tiếng cười của người Việt miền Tây Nam Bộ, xét ở góc độ xã hội thì như đã trình bày, cư dân Nam Bộ là dân “tứ chiếng”, những lưu dân rời xa nơi quê cha đất tổ để đến vùng đất mới lập nghiệp; hoặc để tránh cuộc phân tranh đẫm máu kéo dài giữa hai nhà Trịnh – Nguyễn; hoặc là tội đồ được triều đình sai phái, bắt buộc vào Nam lập đồn điền Trên bước đường phiêu dạt xuống vùng đất phương Nam, nếu như nỗi khắc khoải nhớ quê hương xứ sở đã hình thành nên những lời ca sầu oán trong đời sống tinh thần của lớp cư dân Việt đầu tiên đến khai phá vùng đất này, cũng là lúc họ tìm đến tiếng cười như một “liều thuốc” để xoa dịu nỗi đau của những người con sống nơi đất khách quê người

1 http://www.slideshare.net/bvlpro/van-luongblogspotcom-myhoc-45

Trang 33

Thiên nhiên Nam Bộ khắc nghiệt nhưng chim trời, cá nước sẵn có, lại nhiều

vô kể, chỉ cần thò tay xuống sông cũng có thể bắt được cá mà không cần dụng cụ

đánh bắt: “Má ơi con vịt chết chìm/ Thò tay xuống bắt cá lìm kìm nó cắn con” Đặc

biệt, ở xứ U Minh, bên cạnh vẻ hoang vu, u tịch của những cánh rừng ngập mặn lại chính là nơi nuôi dưỡng những sản vật thiên nhiên vô cùng phong phú như cá sấu,

rắn, lươn, rùa, tôm… “Dưới sông cá quẫy đuôi, cá rô cầm nặng tay, tôm búng một

lúc gần 3 kí, ếch đờn vọng cổ…” Chính cái thực tế trù phú ấy đã nảy sinh ở

người dân tâm lí thích nói trạng [Dẫn theo Lê Thị Diệu Hà 2004: 214] Từ những

câu chuyện trạng, tiếng cười đã bật ra một cách giòn giã và xua đi những nhọc nhằn, cơ cực hay nỗi khiếp sợ của cảnh “rừng thiêng nước độc” trên bước đường

phiêu dạt tìm phương sinh tồn Và “Hòa điệu với thiên nhiên là tiếng cười của sự

sảng khoái về những kinh nghiệm, trí tuệ linh hoạt của con người, tiếng cười mang

âm điệu hồn nhiên, tươi trẻ như vùng đất sản sinh ra nó” [Lê Thị Diệu Hà 2004:

215]

Trong quá trình khai phá tự nhiên, chúng ta thấy vô số những con người như bác Ba Phi Họ là những con người không ngừng chiến đấu trước thực tại khắc nghiệt của thiên nhiên Nó toát lên tiếng cười cởi mở, lạc quan về sự quả cảm, nghị lực, gan góc của con người nơi đất rừng phương Nam Tiếng cười ấy không chỉ nảy sinh từ hoàn cảnh sống mà dường như nó còn mang ý nghĩa thẩm mỹ sâu sắc Nói

như Đỗ Bình Trị thì nó “là hoa trong cuộc đời hàng ngày chống thiên nhiên khắc

nghiệt, dữ dội; là đôi cánh nâng con người lên cao hơn hoàn cảnh” [Dẫn theo Lê

Thị Diệu Hà 2004: 216]

Một trong những tính cách nổi bật của người Nam Bộ được các nhà nghiên

cứu khái quát đó là tư tưởng cởi mở và phóng khoáng Để giải thích cho đặc điểm

tính cách này, có nhiều cách lý giải khác nhau như: trước hết, hoàn cảnh địa lý không bị bao bọc bởi lũy tre làng như ở Bắc Bộ và cũng vì lưu dân rời chốn cố hương đến đây lập nghiệp, thường xuyên biến động bởi họ theo quan niệm “đất lành chim đậu”, do đó, cư dân Nam Bộ thường không bị gắn chặt với làng như ở Bắc Bộ

Vì vậy, tính cách của người Nam Bộ cũng trở nên phóng khoáng hơn, cởi mở hơn Nhưng cũng có những ý kiến khác giải thích về đặc điểm phóng khoáng của con người Nam Bộ, chẳng hạn do sự hào phóng của thiên nhiên khiến con người dễ chịu

Trang 34

hơn Lại có ý kiến khác cho rằng tính hào phóng “chính là một thứ tình cảm giai

cấp sâu sắc đối với những người cùng cảnh ngộ, do hoàn cảnh sống cực nhục trước kia của họ đào luyện nên” [Cao Xuân Hạo 1978: 125] Nhưng dù với cách lý giải

nào, tựu trung tính hào phóng cũng là một đặc tính nổi bật của người Việt miền Tây Nam Bộ Chính nó là cơ sở để làm nảy sinh tiếng cười, bởi khi tâm hồn phóng khoáng, cởi mở thì con người mới dễ dàng cười và thích cười

Thiên nhiên khắc nghiệt “sơn lam chướng khí”, rừng rậm hoang sơ lại có muôn ngàn thú dữ, Tây Nam Bộ là vùng đất luôn ẩn chứa mối nguy cơ đe dọa đến tính mạng của những con người cầm cái cuốc, cái cày đi mở cõi Trong hoàn cảnh

ấy, niềm lạc quan, chất hồn nhiên, yêu đời, yêu cuộc sống ấy đã giúp cư dân Việt đủ sức mạnh để đẩy lùi mọi gian khó trong buổi đầu khẩn hoang miền đất mới Nếu nói rằng tâm trạng của con người Nam Bộ đứng trước thiên nhiên bí ẩn của buổi

đầu khai hoang là khiếp sợ thì có thể rất đúng nhưng chưa đủ, bởi lẽ sự lạc quan cùng thái độ tự tin có thể cải biến, thích ứng với thiên nhiên mới là cơ sở để họ

trụ lại trên mảnh đất đầy chông gai này Và chính những điều này cũng là một trong những yếu tố hình thành nên tiếng cười của người Việt miền Tây Nam Bộ Đó là tiếng cười lạc quan của người lao động và trí khôn nhân dân Con người dần làm chủ thiên nhiên hoang dã, dữ dằn và tường tận từng mùa nước, từng loại thú, cây rừng Tiếng cười của họ lúc này chứng tỏ con người không hề khiếp sợ tự nhiên

Trôi dạt đến tận cuối trời Nam, lưu dân Việt rời xa mảnh đất của những luật

lệ phong kiến hà khắc đã hình thành từ hàng ngàn năm trước Hơn nữa, bước chân

đến Tây Nam Bộ là họ đang sống trên mảnh đất của tự do, không bị ràng buộc bởi

hệ thống chính quyền và cũng không phải đối mặt với những bất công, chèn ép của hệ giai cấp như trước đây Do đó, tâm hồn của người Việt miền Tây Nam Bộ

trở nên cởi mở, vui tươi hơn Đó chính là cơ sở làm nảy sinh tiếng cười rất hào sảng của người miền Tây

Vốn dĩ mang tư tưởng không bị gò bó trong khuôn khổ phong kiến, dám phản kháng những luật lệ, tập tục mà họ cho là không phù hợp [Trương Thanh

Tùng 2004: 74], nên người Việt Tây Nam Bộ có một tâm hồn phóng khoáng Nó cũng chính là tiền đề xã hội hình thành nên tiếng cười trong đời sống của những con người nơi đây

Trang 35

1.3 Một số đặc điểm về văn học dân gian của người Việt Tây Nam Bộ

1.3.1 Không gian sáng tác và lưu truyền

Văn học dân gian miền Tây Nam Bộ được sáng tác và lưu truyền trong khu vực Tây Nam Bộ, được xác định trong khu vực 13 tỉnh, thành gồm: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu

Vùng đồng bằng sông Cửu Long là một bộ phận của châu thổ sông Mê Kông

có diện tích 39.734 km2.1 Tây Nam Bộ có vị trí liền kề với Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía Đông Nam là biển Đông

Xét về mặt tổng thể, Tây Nam Bộ cũng có những hằng số địa lý – khí hậu

giống với cả nước, đó là nằm trong khu vực cận xích đạo nên là xứ nóng, mưa nhiều Tuy nhiên, do đặc điểm địa lý và điều kiện tự nhiên có những nét đặc trưng

riêng nên vùng đất này có những nét nổi bật về mặt tự nhiên

Nếu như ở miền Bắc chịu ảnh hưởng rõ rệt của khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa với sự tuần hoàn của xuân, hạ, thu, đông thì người dân Tây Nam Bộ dường

như chỉ biết đến với hai mùa mưa, nắng Nhiệt độ trong năm tương đối ổn định,

dao động từ 24 - 27oC Tây Nam Bộ ít chịu ảnh hưởng bởi thiên tai, lũ lụt như

các khu vực khác mà chỉ có mùa mưa (mùa nước lớn), từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô (mùa nước ròng), từ tháng 11 đến tháng 4 Tuy nhiên, giữa hai mùa này lại

có sự đối lập rõ rệt Nếu như ở mùa mưa (mùa nước nổi), nước từ thượng nguồn sông Mê Kông tràn về đem đến cho vùng đất nơi đây bao phù sa màu mỡ và cả nguồn thủy – hải sản phong phú thì đến mùa khô (mùa nước cạn), Tây Nam Bộ như mang một diện mạo mới, hệ thống sông ngòi hầu như khô kiệt, ruộng đồng nhiễm mặn và thậm chí không đủ nước cung cấp cho sinh hoạt của người dân

Có thể nói, trong cả nước không có khu vực nào có hệ thống sông ngòi chằng chịt như vùng Tây Nam Bộ Theo thống kê, toàn vùng có khoảng 2500 km sông rạch tự nhiên và 2500 km sông rạch đào [Nguyễn Công Bình 1990: 14] Khi nhắc đến sông rạch miền Tây Nam Bộ, không thể không nhắc đến sông Mê Kông – con

1 http://vov.vn/Home/Kinh-te-vung-Dong-bang-song-Cuu-Long-con-han-che/20125/210675.vov

Trang 36

sông góp phần bồi tụ cho hệ thống sông ngòi ở khu vực này Chính vì hệ thống sông

ngòi dày đặc của khu vực này đã hình thành nên khái niệm “văn minh sông nước” hay “văn minh kênh rạch” Từ sự ảnh hưởng của hệ thống sông ngòi đến đời sống,

sinh hoạt người dân Tây Nam Bộ đã hình thành nên “tính sông nước” mà chúng tôi

sẽ có dịp nhắc đến ở phần sau của công trình

Ở Tây Nam Bộ còn chia ra những tiểu vùng với điều kiện đất đai, thổ

nhưỡng khác nhau Người dân đã dùng từ “miệt” để phân chia cho các tiểu vùng này như sau: vùng đất cao ráo, đầy ắp phù sa nước ngọt, lắm cây nhiều trái nằm ven

và giữa sông Tiền, sông Hậu gọi là “Miệt vườn”; vùng đất có nhiều giồng đất chạy dài, ở mạn Đông của châu thổ gọi là “Miệt Giồng”; vùng đất dọc theo kênh đào, nằm ở mạn Bắc sông Tiền gọi là “Miệt Kênh” và cuối cùng là “Miệt U Minh”, nơi

rừng sác ngập mặn ở ven biển phía Tây Nam.1

Ngoài ra, trong bài báo cáo “Tây Nam Bộ với tư cách là một vùng văn hoá và

các tiểu vùng văn hóa Tây Nam Bộ”

trong Hội thảo Văn hóa phi vật thể người

Việt miền Tây Nam Bộ do Khoa Văn hóa

học Trường Đại học KHXH&NV thuộc

ĐHQG Tp.HCM và Văn phòng Đại diện

Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật tại Tp.HCM

phối hợp tổ chức năm 2010, TS Đinh

Thị Dung có cách chia Tây Nam Bộ

thành các tiểu vùng như sau: tiểu vùng

Đồng lũ kín (Đồng Tháp Mười) gồm

tỉnh Đồng Tháp, Long An và một phần

Tiền Giang; tiểu vùng Đồng lũ hở (Tứ

giác Long Xuyên) bao gồm các huyện

Tịnh Biên, Tri Tôn, Long Xuyên, Châu

Phú, Thoại Sơn, Châu Thành của tỉnh An Giang và một phần tỉnh Kiên Giang (thị

xã Rạch Giá, các huyện Kiên Lương, Hòn Đất); tiểu vùng Phù sa (Cần Thơ – Đồng

1 http://quankhoasu-lichsuvietnam.blogspot.com/2012/06/tu-lieu-ve-khai-pha-nam-bo-vai-tro-cua.html

Bản đồ các tiểu vùng Tây Nam Bộ

Trang 37

Tháp) gồm tỉnh Cần Thơ, một phần An Giang, một phần Kiên Giang và một phần

Hậu Giang; tiểu vùng Giồng duyên hải (Bến Tre – Sóc Trăng) gồm Sóc Trăng, Trà

Vinh và một phần Tiền Giang, một phần Bến Tre và một phần Bạc Liêu; tiểu vùng

Ngập mặn (Bán đảo Cà Mau) gồm Cà Mau, một phần Bạc Liêu, một phần Kiên

Giang, một phần Cần Thơ [Đinh Thị Dung 2010: 11– 12]

Sự đa dạng về điều kiện sinh thái đã dẫn đến sự phong phú về động, thực vật Nếu như những con sông đầy ắp các loài thủy – hải sản như cá sấu, tôm, cua, cá, rùa, rắn,… thì trên trời với rừng cây hoang vu lại là nơi trú chân của hàng ngàn chim muông, thú rừng Đó là vùng đất mà Chu Đạt Quan, một người Trung Quốc

có dịp đến Chân Lạp vào năm 1296 – 1297 đã mô tả vùng đất Nam Bộ như sau: “Từ

chỗ vào Chân Bồ1trở đi, hầu hết là rừng thấp cây rậm Sông dài cảng rộng, kéo dài mấy trăm dặm, cổ thụ rậm rạp, mây leo um tùm, tiếng chim muông chen lẫn nhau ở trong đó Đến nửa cảng mới thấy ruộng đồng rộng rãi, tuyệt không có một tấc cây Nhìn xa chỉ thấy cây lúa rờn rờn mà thôi Trâu rừng họp nhau thành từng đàn trăm ngàn con, tụ tập ở đấy Lại có giồng đất đầy tre dài dằng dặc mấy trăm dặm Loại tre đó, đốt có gai, măng rất đắng”[Chu Đạt Quan 2006: 45 –46]

Và tất cả những điều kiện tự nhiên trên sẽ đi vào đời sống văn học dân gian của người Việt miền Tây Nam Bộ như một thứ “chất liệu” không thể thiếu cho một món ăn ngon Nhưng cũng cần giới hạn văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long để làm đường biên cho quá trình hoàn thành luận văn

Rời xa mảnh đất quê cha, đất tổ, những con người đầu tiên đặt chân đến vùng đất này vừa mang trong mình truyền thống văn hóa của dân tộc, đồng thời, những nét sinh hoạt, tính cách… của họ lại bị tác động bởi hoàn cảnh tự nhiên, lịch sử, xã hội đặc thù của nơi đây Chính những điều này đã để lại dấu ấn trong sáng tác nghệ thuật ngôn từ truyền miệng sưu tầm được ở đây

Đầu tiên, hầu hết người dân ở vùng đồng bằng sông cửu Long trước kia là những lưu dân từ nơi khác đến, cho nên, lẽ dĩ nhiên văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long vốn là văn học dân gian được mang đến từ miền đất cũ Cùng với cái vốn tác phẩm truyền thống, hoặc là giữ nguyên, hoặc cải biên ít nhiều thì cũng

1 Chân Bồ là vùng Bà Rịa, thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay

Trang 38

có những tác phẩm được sáng tác hoàn toàn mới cho phù hợp với những điều kiện của vùng đất này

Có thể nói, văn học dân gian của người Việt miền Tây Nam Bộ là sự tiếp nối liên tục dòng chảy từ vốn văn học dân gian từ miền ngoài, nó phát triển từ vốn văn hóa tiềm ẩn trong dòng máu của những người dân mở cõi Sự xa cách vùng văn hóa cội nguồn cả về không gian và thời gian sẽ là nhân tố tác động mạnh mẽ tới những đặc trưng của thể loại truyền miệng của người Việt ở miền Tây Nam Bộ

Do đó, nói văn học dân gian miền Tây Nam Bộ là những sáng tác nghệ thuật truyền miệng được lưu truyền ở các tỉnh miền Tây, nghĩa là nó có thể được nhân dân sáng tác trong suốt mấy thế kỷ qua trên vùng đất mới Song, nó còn là “vốn văn hóa cổ truyền” được cất giữ trong trí nhớ của những người đi mở cõi từ các địa phương khác tụ họp về đây Nói đơn giản, đó là những tác phẩm nghệ thuật truyền miệng được sưu tầm, ghi chép từ chính những người hiện đang sinh sống trong vùng đọc lại Do vậy mà vấn đề “không gian văn hóa” cần được hiểu một cách linh hoạt dựa vào những cơ sở trên [Hà Thắng (đcb) 1997: 9]

1.3.2 Thời gian sáng tác và lưu truyền

Nhắc đến Nam Bộ nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng, nhiều người vẫn thường lấy cột mốc năm 1698, khi chúa Nguyễn sai thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lý và khai hoang vùng đất mới Tuy nhiên, theo nhiều cứ liệu khảo cổ học, thực chất, vùng đất này đã có người sinh sống cách đây từ 4000 – 5000 năm

Dù là vùng đất “sinh sau đẻ muộn” còn lắm non trẻ so với chiều dài lịch sử của đất nước, song, trong khoảng thời gian ấy, tại vùng đất này cũng không ngừng diễn ra những biến động lịch sử

Vào giai đoạn đầu tiên (từ thế kỷ I đến thế kỷ VII), ở phía Nam Lâm Ấp (Chămpa), tương ứng với vùng đất Nam Bộ đã xuất hiện vương quốc Phù Nam Trong quá trình mở rộng ảnh hưởng (từ thế kỷ III đến thế kỷ VI), Phù Nam đã phát triển thành đế chế hùng mạnh và đã thôn tính hơn 10 tiểu quốc nằm trên bán đảo

Mã Lai và một phần hạ lưu sông Mê Nam Trong đó, có tiểu quốc của người Cát Miệt (theo phiên âm chữ Hán đây là tộc danh của người Khmer) sau này có tên gọi

là Chân Lạp

Trang 39

Trong thời kỳ cường thịnh, Phù Nam đã mở rộng ảnh hưởng, chi phối toàn

bộ vùng vịnh Thái Lan và kiểm soát con đường giao thông huyết mạch từ Nam Đông Dương sang Ấn Độ qua eo Kra Tuy nhiên, sau thời kỳ phát triển rực rỡ, đế chế Phù Nam bắt đầu bước sang quá trình tan rã vào cuối thế kỷ VI và bị tiểu quốc Chân Lạp do người Khmer xây dựng tấn công và chiếm lấy một phần đất của lãnh thổ này vào đầu thế kỷ VII

Giai đoạn từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVI, sau khi Phù Nam bị Chân Lạp đánh

chiếm thì phân chia thành Thủy Chân Lạp và Lục Chân Lạp Vào thế kỷ XIII, cư dân ở vùng đất Nam Bộ vẫn còn rất thưa thớt Từ cuối thế kỷ XIV, Chân Lạp liên tiếp phải đối phó với sự bành trướng của vương triều Xiêm Sang thế kỷ XVI – XVII, triều đình Chân Lạp liên tiếp bị Xiêm đánh phá nên đi vào thời kỳ suy vong

Do đó, Chân Lạp không còn có khả năng kiểm soát Nam Bộ, vốn là địa phận của vương quốc Phù Nam

Từ đầu thế kỷ XVII, đã có nhiều lưu dân người Việt từ vùng Thuận – Quảng của chúa Nguyễn đến Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Nai (Biên Hòa) khai khẩn đất hoang, hình thành những người Việt đầu tiên trên vùng đất Nam Bộ

Mãi đến năm 1698, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh mới theo mệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào kinh lược vùng đất Đồng Nai và sáp nhập xứ này vào lãnh thổ của Đàng Trong Như vậy, khi xác định thời gian sáng tác và lưu truyền của văn học dân gian người Việt miền Tây Nam Bộ có lẽ phải tính trước cái cột mốc 1698 nữa, bởi khi những người Việt đầu tiên đến vùng đất này là họ đã mang theo trong mình vốn văn hóa được lưu giữ từ trong huyết quản

Trải qua những bước thăng trầm, đến nay, vùng đất Tây Nam Bộ đã trở thành một bộ phận được xác định hẳn hoi và mang những giá trị văn hóa riêng trên cái nền thống nhất của văn hóa Việt Nam

1.3.3 Chủ thể sáng tạo

Lớp cư dân mới: người Việt, người Hoa và người Chăm kết hợp với số dân

cư ở đây trước đó là người Khmer tạo nên một vùng đất đa tộc người, trong đó, người Việt (Kinh) chiếm đa số, còn lại người Khmer chiếm 6,1%, người Hoa chiếm 1,7%, các dân tộc còn lại chiếm 0,2% Năm 1916, nếu tổng số dân cư Nam Bộ là

Trang 40

3.279.816 người thì người Việt là 2.773.672 người Năm 1926, nếu tổng dân cư Nam Bộ là 3.935.000 người thì người Việt là 3.332.000 người [Nguyễn Chí Bền 2004: 54]

Ngay khi còn là vương quốc Phù Nam, vùng đất Tây Nam Bộ đã có sự xuất hiện của tộc người Khmer Đến mãi đến thế kỷ XVII, những người Việt đầu tiên mới chuyển cư vào Nam đến khai phá Tây Nam Bộ và chứng tỏ được vai trò của một chủ thể văn hóa trung tâm Họ là những lưu dân đi khai phá vùng đất mới mà gốc gác của những lưu dân này, theo GS Trần Văn Giàu chủ yếu là: Thứ nhất, những dân Trung, Bắc bần cùng lưu tán hay muốn tránh cuộc phân tranh đẫm máu kéo dài giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn đã lần lượt theo gió mùa vào vùng Đồng Nai – Cửu Long để kiếm sống và an thân Thứ nhì, số ít người có tiền của, có quyền thế, chiêu mộ phần đông dân nghèo ở miền Trung đi vào Nam khẩn đất theo chính sách dinh điền của nhà Nguyễn Thứ ba, những lính tráng cùng với nhiều tội đồ được triều đình sai phái, bắt buộc vào Nam lập đồn điền vừa bảo vệ biên cương, giữ trị an vừa mở ruộng lập vườn quanh cứ điểm quân sự [Dẫn theo Nguyễn Chí Bền 2004: 54]

Lớp cư dân Việt thứ hai đến Nam Bộ là do sự tác động hữu thức của người Pháp Lớp cư dân này vốn là những nông dân nghèo khổ vùng châu thổ Bắc Bộ

Lớp cư dân Việt thứ ba là những người nhập cư tới Nam Bộ từ các tỉnh miền Bắc, miền Trung sau Hiệp định Genève 1954 và những năm 60 của thế kỷ XX khi cuộc kháng chiến diễn ra thật ác liệt

Lớp cư dân Việt thứ tư là lớp người tới định cư tại Nam Bộ vào thời kỳ sau

1975

Trong số ấy, lớp cư dân mang đậm tính cách cư dân Việt Nam Bộ là lớp cư dân thứ nhất, nhưng khi nhìn chủ thể sáng tạo của văn học dân gian người Việt Tây Nam Bộ không thể không chú ý đến lớp cư dân thứ hai và thứ ba [Nguyễn Chí Bền 2004: 54]

1.4 Tiểu kết

Ở chương I – Những tiền đề lí luận và thực tiễn, chúng tôi dựa vào các định

nghĩa trong tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp để làm rõ khái niệm về cười và tiếng cười Đồng thời, sự phân biệt giữa tiếng cười sinh học và tiếng cười thẩm mỹ ở

Ngày đăng: 11/05/2021, 21:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Quang Huy (biên soạn) 1996: Thơ ca trào phúng Việt Nam – TP.HCM: NXB Đồng Nai, 380 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca trào phúng Việt Nam
Nhà XB: NXB Đồng Nai
2. Bùi Mạnh Nhị 2004: Truyện Ba Phi và văn hóa dân gian Nam Bộ, trong cuốn Tìm hiểu đặc trưng di sản văn hóa văn nghệ dân gian Nam Bộ (Hội văn nghệ dân gian Việt Nam và Trường Đại học Cần Thơ) – H: NXB Khoa học Xã hội, 530 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Ba Phi và văn hóa dân gian Nam Bộ", trong cuốn "Tìm hiểu đặc trưng di sản văn hóa văn nghệ dân gian Nam Bộ
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
3. Cao Xuân Hạo 1975: Trọng âm và các quan hệ ngữ pháp trong tiếng Việt, Thông báo Ngữ âm học, Ban Ngôn ngữ học – TP.HCM: Viện KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trọng âm và các quan hệ ngữ pháp trong tiếng Việt
4. Chu Đạt Quan 2006: Chân Lạp phong thổ ký (Hà Văn Tấn dịch) – H: NXB Thế giới, 125 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân Lạp phong thổ ký
Nhà XB: NXB Thế giới
5. Claret Philippe 2007: Mô hình tâm lý – văn hóa về tính cách dân tộc (Huyền Giang dịch), trong cuốn: Phân tâm học và tính cách dân tộc (Đỗ Lai Thúy biên soạn và giới thiệu) – H: NXB Tri Thức, 519 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tâm lý "–" văn hóa về tính cách dân tộc "(Huyền Giang dịch), trong cuốn: "Phân tâm học và tính cách dân tộc
Nhà XB: NXB Tri Thức
6. Đào Duy Anh 1998: Việt Nam văn hóa sử cương – TP.HCM: NXB Tổng hợp Đồng Tháp, 396 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Nhà XB: NXB Tổng hợp Đồng Tháp
7. Đào Thản 1998: Ca dao hài hước (sưu tầm và giới thiệu) – H: NXB Văn hóa thông tin, 285 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao hài hước
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
8. Đặng Đức Siêu 1998: Ngữ liệu văn học –H: NXB Giáo dục,340 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ liệu văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
10. Đỗ Lai Thúy 2005: Văn hóa Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hóa – H: NXB Văn hóa Thông tin, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, 498 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hóa
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
11. Hà Thiên Sơn 2001: Lịch sử triết học– TP.HCM: NXB Trẻ, 350 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học
Nhà XB: NXB Trẻ
12. Hà Thắng, Nguyễn Hoa Bằng, Nguyễn Lâm Điền (đồng chủ biên) 1997: Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long, Khoa ngữ văn đại học Cần Thơ – Đồng Tháp: NXB Đồng Tháp, 492 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long
Nhà XB: NXB Đồng Tháp
13. Huỳnh Thị Lan Phương 2006: Tính cách người nông dân Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, trong cuốn Bình luận văn học niên giám 2005 (Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học TP.HCM) – TP.HCM: NXB Văn hóa Sài Gòn, 306 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính cách người nông dân Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh", trong cuốn "Bình luận văn học niên giám 2005
Nhà XB: NXB Văn hóa Sài Gòn
14. Huỳnh Công Tín 2006: Cảm nhận bản sắc Nam Bộ – TP.HCM: NXB Văn hóa Thông tin, 467 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm nhận bản sắc Nam Bộ
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
15. Lại Nguyên Ân 1999: 150 Thuật ngữ văn học – H: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 465 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
16. Lê Thị Diệu Hà 2004: Những“huyền Thoại” về mở đất trong dân gian Nam Bộ, trong cuốn Tìm hiểu đặc trưng di sản văn hóa văn nghệ dân gian Nam Bộ (Hội văn nghệ dân gian Việt Nam và Trường Đại học Cần Thơ) – HN: NXB Khoa học Xã hội, 530 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những“huyền Thoại” về mở đất trong dân gian Nam Bộ", trong cuốn "Tìm hiểu đặc trưng di sản văn hóa văn nghệ dân gian Nam Bộ
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
17. Lê Ngọc Thúy 2004: Lục Vân Tiên trong tiếng cười dân gian Nam Bộ, trong cuốn Tìm hiểu đặc trưng di sản văn hóa văn nghệ dân gian Nam Bộ (Hội văn nghệ dân gian Việt Nam và Trường Đại học Cần Thơ) – HN: NXB Khoa học Xã hội, 530 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lục Vân Tiên trong tiếng cười dân gian Nam Bộ", trong cuốn "Tìm hiểu đặc trưng di sản văn hóa văn nghệ dân gian Nam Bộ
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
18. Nguyễn Chí Bền 2004: Những hằng số của văn hóa dân gian người Việt Nam Bộ, trong cuốn Tìm hiểu đặc trưng di sản văn hóa văn nghệ dân gian Nam Bộ (Hội văn nghệ dân gian Việt Nam và Trường Đại học Cần Thơ) – HN: NXB Khoa học Xã hội, 530 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những hằng số của văn hóa dân gian người Việt Nam Bộ", trong cuốn "Tìm hiểu đặc trưng di sản văn hóa văn nghệ dân gian Nam Bộ
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
19. Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường 1990: Văn hóa & cư dân đồng bằng sông Cửu Long – TP.HCM: NXB Khoa học Xã hội, 447 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa & cư dân đồng bằng sông Cửu Long
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
20. Nguyễn Văn Hạnh 2007: Về tính cách người Việt Nam, trong cuốn: Văn hóa Việt Nam – đặc trưng và cách tiếp cận (Lê Ngọc Trà tập hợp và giới thiệu) – HN: NXB Giáo dục, 339 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tính cách người Việt Nam, "trong cuốn: "Văn hóa Việt Nam "–" đặc trưng và cách tiếp cận
Nhà XB: NXB Giáo dục
21. Nguyễn Hữu Hiệp 2003: An Giang – Văn hóa một vùng đất (Hội văn nghệ dân gian Việt Nam) – H: NXB Văn hóa Thông tin, 487 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Giang "–" Văn hóa một vùng đất
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w