Luận văn
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Từ sau Chiến tranh lạnh đến nay, trục vận động chính của quan hệ quốc tế là xoay quanh việc hình thành của một trật tự thế giới mới, trong đó các nước lớn có vai trò là "diễn viên chính" trên sân khấu chính trị thế giới Trong số các nước lớn, Mỹ muốn đơn cực hoá thế giới, còn các nước lớn hoặc các nhóm nước khác như Nga, Trung Quốc, Tây Âu…lại muốn đưa thế giới phát triển theo hướng đa cực Chính những mâu thuẫn về mục tiêu chiến lược này đã dẫn đến sự cạnh tranh quyết liệt giữa các cường quốc, nhưng cũng đồng thời đặt ra yêu cầu cho các nước là phải đẩy mạnh hợp tác, tạo môi trường thuận lợi cho quan hệ Nga - Trung phát triển
Với vị trí là cường quốc mạnh nhất sau sự tan rã của Liên Xô, một mặt Mỹ tăng cường khuyếch trương cả sức mạnh cứng và sức mạnh mềm để chi phối thế giới trên mọi lĩnh vực, một mặt Mỹ tranh thủ tăng cường hợp tác với các nước đồng minh
để có thêm sức mạnh, mặt khác, Mỹ ra sức kiềm chế, ngăn chặn sự phát triển của các nước lớn khác, trong đó Mỹ chú trọng hơn cả đến Nga và Trung Quốc, vì Trung Quốc là một "đối thủ tiềm tàng" còn Nga vẫn là một ẩn số vì trong lòng quốc gia này vẫn chứa đựng những sức mạnh buộc Mỹ phải hết sức thận trọng Nhân tố Mỹ đã tạo nên một động lực quan trọng, đẩy Nga và Trung Quốc xích lại gần nhau, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược
Trong Chiến tranh lạnh, Liên Xô/ Nga và Trung Quốc đã từng là đồng minh chiến lược, đã từng mâu thuẫn, xung đột, nhưng khi Chiến tranh lạnh qua đi, dư âm của sự đối đầu hai cực không còn nữa, tư duy mới trong quan hệ quốc tế và xu thế toàn cầu hoá ngày càng phát triển sâu rộng, nhu cầu hoà bình, hợp tác để phát triển được đặt lên trên hết cũng là lúc quan hệ giữa Nga và Trung Quốc được thúc đẩy bằng những yếu tố ràng buộc tự nhiên của năng lượng, vũ khí… Với đầy đủ cơ sở khách quan và chủ quan thuận lợi, Nga và Trung Quốc đã gặp nhau ở tư duy chiến lược cũng như mục đích hành động Những nhân tố thuận lợi này đã thúc đẩy quan
hệ Nga - Trung từ 1992 đến 2008 không ngừng phát triển cả về bề rộng và chiều sâu:
từ quan hệ "Đối tác xây dựng" đến quan hệ "Đối tác chiến lược"
Trang 2Quan hệ Nga - Trung từ sau Chiến tranh lạnh đến nay là một mối quan hệ đặc biệt Tính chất đặc biệt của nó không chỉ ở hình thức hợp tác giữa hai cường quốc láng giềng có sự khác biệt về ý thức hệ , mà nó được quyết định bởi vai trò và tác động của mối quan hệ này với quá trình vận động và hình thành của trật tự thế giới mới Vì
vậy, mối quan hệ đối tác chiến lược Nga - Trung đã được xác lập và phát triển như thế nào, liệu nó có khẳng định được vai trò của mình - là những diễn viên chính - trên sân khấu chính trị thế giới hay không đang trở thành tâm điểm chú ý của các nhà
nghiên cứu trên thế giới
Đối với Việt Nam, những biến động của quan hệ Xô - Trung trong lịch sử đã từng có những ảnh hưởng sâu sắc đến cách mạng Việt Nam Ngày nay, cả Nga và Trung Quốc đều là những đối tác quan trọng của nước ta, vì vậy việc nghiên cứu về quan hệ Nga - Trung trong giai đoạn hiện nay đang được đặt ra như một nhu cầu cấp thiết đối với các nhà nghiên cứu Việt Nam bởi nó có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Từ những ý nghĩa nêu trên, chúng tôi đã quyết định chọn “Quan hệ Liên bang Nga - Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (1992 - 2008)" làm đề tài nghiên cứu luận án
của mình với hy vọng góp phần giải đáp những vấn đề đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quan hệ Nga - Trung đã từng trải qua một chặng đường dài với đầy những thăng trầm thiên biến Trong Chiến tranh lạnh, Liên Xô đã là đối trọng của Mỹ, luôn giữ được thế cân bằng của thế giới lưỡng cực Chiến tranh lạnh qua đi, Liên Xô/ Nga tuy có trải qua những biến cố lịch sử nhưng nước Nga mới cũng đã nhanh chóng phát triển vươn lên và dẫu chưa lấy lại được vị trí cân bằng với Mỹ, song nước Nga vẫn chứa đựng trong lòng nó những sức mạnh tiềm ẩn của một cường quốc Về phía, Trung Quốc - một quốc gia có diện tích bằng 1/4 châu Á và dân số chiếm 1/4 thế giới
- từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX, đã phát triển mạnh mẽ với những bước tiến ngoạn mục của một "người khổng lồ thức dậy" Vị thế mới của Nga và Trung Quốc vốn đã làm cho Mỹ quan ngại, nay tiềm năng hợp tác của Nga và Trung Quốc vì một thế giới
đa cực càng thực sự trở thành thách thức với khát vọng đơn cực hoá thế giới của Mỹ
Trang 3Chính vì vậy, sự phát triển của mối quan hệ đối tác chiến lược Nga - Trung trong những năm qua đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu, các
cơ quan nghiên cứu chiến lược của thế giới
Việc nghiên cứu của các học giả nước ngoài
Ở Nga: các nhà nghiên cứu Nga luôn coi vấn đề quan hệ với các nước lớn nói
chung và với Trung Quốc nói riêng là một nội dung nghiên cứu mang tính thời sự Các nhà nghiên cứu của Trung tâm phân tích thông tin thuộc trường Đại học Quốc gia Matxcơva (Moscow state University) đã khẳng định rằng mối quan hệ giữa Nga
và Trung Quốc từ năm 1992 đến nay đã phát triển qua 3 nấc thang "từ bình thường hoá quan hệ hai nước đến xây dựng mối quan hệ hợp tác tin cậy đến quan hệ đối tác chiến lược"[308,95] Họ khẳng định rằng quan hệ Nga - Trung là một mối quan hệ
song phương kiểu mới
Các nhà lãnh đạo cấp cao của Nga từ B.Yeltsin, V.Putin đến Medvedev đều khẳng định quan hệ Nga - Trung là quan hệ đối tác chiến lược và tin tưởng vào tương lai tốt đẹp của nó Trong bài trả lời phỏng vấn phóng viên tờ Nhân dân Nhật báo - Jiang Yaping - ngày 27/2/2009, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nga Igov Ivanov đã khẳng
định "Trong những năm gần đây, quan hệ giữa Nga và Trung Quốc đã đạt đến một mức độ chất lượng mới của quan hệ đối tác chiến lược"[164,3] Chủ tịch Uỷ ban về
ngoại giao của Hội đồng Liên bang Nga Mikhail V Margelov cũng đã công bố bài
nghiên cứu của mình với tiêu đề "Quan hệ Nga - Trung: tầm cao mới của sự phát triển?" (Российско-китайские отношения: на высшей точке развития?) trong đó nêu
rõ những cơ sở, những động lực thúc đẩy quan hệ Nga - Trung phát triển, những
bước phát triển của quan hệ hai nước và khẳng định "đến nay, quan hệ Nga - Trung
đã đạt đến điểm cao nhất của sự phát triển trong 40 năm qua Có đánh giá quan hệ Nga - Trung trong tổng thể của các mối quan hệ như: quan hệ tam giác chiến lược Nga - Trung - Mỹ ; quan hệ Nga - Trung - Nhật Bản - Ấn Độ …mới thấy rõ được sự phát triển rất đặc biệt của quan hệ Nga - Trung" [255, 45]
Trung tâm nghiên cứu về quan hệ Nga - Trung Quốc thuộc Viện Viễn Đông Nga ( Институт Дальнего Востока - Russia-China Center (RCC) đã có nhiều công
Trang 4trình nghiên cứu về quan hệ Nga - Trung trên các lĩnh vực kinh tế, quân sự, năng lượng… Những quan điểm đánh giá tổng thể về quan hệ Nga - Trung của tổ chức
này được thể hiện rõ nhất trong báo cáo "Quan hệ giữa Nga và Trung Quốc: Xu hướng, động lực, triển vọng" của VV Myasnikov (В.В.Мясников, Взаимоотношения России с Китаем: тенденции, динамика, перспективы) Theo tài liệu này thì "Quan
hệ Nga - Trung đang là quan hệ của hai cường quốc thế giới tuyệt vời, do chịu ảnh hưởng trực tiếp và liên tục của xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá nên đã tạo sức bật thế kỷ cho quan hệ đối tác chiến lược Nga - Trung Quan hệ này có thể làm thay đổi mô hình thế giới"[284,4]
Viện sĩ M.L Titarenko (Титаренко М.Л) - một chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc của Nga đã có nhiều công trình nghiên cứu về Trung Quốc và quan hệ Nga - Trung, nổi bật nhất trong những năm gần đây là công trình nghiên cứu mang tên " Trung Quốc - Nga 2050: Chiến lược cùng phát triển " (Китай-Россия 2050:
стратегия соразвития) được xuất bản năm 2006 Với độ dày hơn 600 trang, tác
phẩm này là một công trình nghiên cứu toàn diện về Trung Quốc mang tính thông sử,
có một cái nhìn tổng thể về sức mạnh của Trung Quốc, trên cơ sở đó tác giả phân tích chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong bối cảnh toàn cầu hoá Tuy nội dung chính của công trình này không phải là sự phát triển của quan hệ Nga - Trung, nhưng tác giả đã có những phần phân tích về mối quan hệ này trên lĩnh vực kinh tế và hợp tác khoa học kỹ thuật Đặc biệt, trên nền tảng đánh giá sâu sắc về những chính sách,
sự phát triển và tiềm năng phát triển của Trung Quốc, tác giả đã đưa ra những dự báo
về chiến lược phát triển của Trung Quốc trong tương lai và xu thế phát triển của quan
hệ giữa Trung Quốc với Nga cho tới năm 2050
Đặc biệt, năm 2009 vừa qua, nhân kỷ niệm 60 năm quan hệ Nga – Trung, Viện Viễn Đông thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga đã có nhiều chương trình hội thảo và nhiều công trình nghiên cứu về Nga, Trung Quốc cũng như mối quan hệ của
hai nước Hội thảo với nội dung “60 năm nước CHND Trung Hoa: Những thành quả
và xu hướng” ngày 30/6/2009 tại Viện Viễn Đông Nga đã có sự tham gia của nhiều
nhà khoa học đầu ngành của Nga như Viện sĩ M.L Titarenko, GS.PTS I.A Đubinhin
Trang 5(Đại học Quan hệ quốc tế Matxcơva), PTS.A.N Kaznhep, TS V.I Porchiakop Các nhà khoa học đã có nhiều đánh giá rất cụ thể về những chuyển biến tư tưởng, vị thế của Trung Quốc và Liên bang Nga cũng như những bước thiên biến trong quan hệ Nga - Trung TS Vlađimia Iakôplêvich Porchiakop - Phó viện trưởng Viện Viễn
Đông, Tổng biên tập tạp chí "Những vấn đề Viễn Đông" (Проблемы Дальнего Востока) đã có nhiều công trình nghiên cứu về quan hệ giữa Nga và Trung Quốc qua các giai đoạn như “Một số khía cạnh hoàn thiện quan hệ đối tác chiến lược Nga - Trung” (О некоторых аспектах совершенствования российско-китайского стратегического партнерства); “Quan hệ Nga - Trung năm 2008” (Российско- китайские отношения в 2008 году) với những đánh giá rất mới mẻ, mang tính thời
sự về mối quan hệ này như "Nga và Trung Quốc khách quan là những đồng minh "[288,7], "Nga và Trung Quốc không chỉ có sự cần thiết khách quan mà còn
có những cơ sở quan trọng để tiếp tục phát triển hoàn thiện quan hệ đối tác chiến lược"[288,18] Cũng trong bối cảnh kỷ niệm 60 năm quan hệ hai nước, Thứ trưởng
Bộ Ngoại giao Liên bang Nga Bôrôđápkin Alêcxây Nhikôlaiêvich (Боробавкин
B.A.) trong bài "Nga và Trung Quốc: con đường láng giềng thân thiện và hợp tác" (Россия и Китай: по пути добрососедства и сотрудничестве) đã khẳng định
"Quan hệ Nga - Trung đang phát triển ở mức độ cao nhất trong suốt chiều dài lịch
sử của nó"[219,19].
Nhìn chung, các học giả nghiên cứu Nga đều đã từng nghiên cứu toàn diện và
có một cái nhìn lạc quan về sự phát triển của quan hệ Nga - Trung Tuy nhiên, có một vấn đề mà các nhà nghiên cứu người Nga luôn đề cao trong các công trình nghiên
cứu là có hay không "mối đe doạ từ Trung Quốc"?
Ở Trung Quốc: Quan hệ Nga - Trung qua lăng kính của các nhà nghiên cứu
Trung Quốc luôn mang một sức sống mới và đầy triển vọng Hầu hết các công trình nghiên cứu của Trung Quốc về mối quan hệ Trung - Nga đều đi vào từng lĩnh vực hợp tác của hai nước, qua đó làm rõ xu thế hợp tác chiến lược của hai nước
Các công trình nghiên cứu của Trung Quốc như "Chương mới trong quan hệ đối tác chiến lược Nga - Trung" (开开中俄开略开作开系新篇) của Giáo sư, Tiến sỹ sử
Trang 6học Wu EnYuan (吴恩吴); "Quan hệ Nga - Trung năm 2008" (2008 年 年 年 年 年 年)
của Phó giáo sư, tiến sỹ Zhang Hongxia (张张张) đều có chung cách đánh giá về quan hệ
Nga - Trung: Trước hết, các tác giả này đều đánh giá rất cao vai trò của Nga với
Trung Quốc Theo họ thì "Nga không chỉ là quốc gia lớn nhất thế giới mà còn là hàng xóm lớn của Trung Quốc… Từ thế kỷ XX, Nga đã có những tác động quan trọng đến sự phát triển của Trung Quốc"[356,15] Qua phân tích quá trình hợp tác
năng lượng, kinh tế, văn hoá, giải quyết vấn đề biên giới…các học giả Trung Quốc khẳng định Nga và Trung Quốc sau khi ký Hiệp ước láng giềng thân thiện năm 2001,
quan hệ của họ đã thực chất là quan hệ đối tác chiến lược, thậm chí "đang đạt đến bước phát triển tốt nhất trong lịch sử"[337,5] Cũng trên cơ sở đó, các nhà nghiên
cứu Trung Quốc đã khẳng định quan hệ này sẽ ngày càng phát triển, có tác động lớn đến thế giới, nỗ lực thúc đẩy sự hình thành của một trật tự thế giới mới
Nhà nghiên cứu đồng thời là nhà ngoại giao Trung Quốc Lưu Guchang - Đại
sứ Trung Quốc tại Nga - đã có nhiều bài viết trên các trang Web của Bộ ngoại giao Nga và Trung Quốc trong đó Lưu Guchang khẳng định trong những năm gần đây, quan hệ đối tác chiến lược Nga và Trung Quốc đã phát triển cả bề rộng và chiều sâu Theo ông thì quan hệ Nga - Trung có những đóng góp rất lớn cho lợi ích của nhân loại và cho hoà bình thế giới
"Quan hệ Trung - Nga trong thế kỷ mới" của Li Jingjie (新世 开的 中俄开系, 西伯利开
开究); "Bản sắc quốc gia và sự hợp tác xây dựng quan hệ đối tác chiến lược Trung - Nga" (吴 家身吴开开开中俄开略开作开伴开系的建立) của Fly và "Triển vọng quan hệ Nga - Trung Quốc
tại ngã tư của thế kỷ" của Gu Guanfu lại cùng có chung những quan điểm trong đánh
giá về tương lai của quan hệ Nga - Trung Theo các nhà nghiên cứu này thì trong suốt chặng đường vừa qua, quan hệ Nga - Trung đã không biến đổi trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cả hai nước đều thiện chí làm sâu sắc thêm quan hệ giữa họ, nên mọi vấn đề tồn tại trong lịch sử đều đã được loại bỏ, đảm bảo khả năng phát triển ổn định và lâu dài của quan hệ Nga - Trung Vì có một nền tảng vững chắc như vậy, nên tiềm năng và triển vọng của mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc là rất lớn
Trang 7Nghiên cứu về quan hệ Trung - Nga trên một bình diện rộng hơn, Wang
Guang-Zhen - Trường Đại học Sơn Đông - đã có công trình nghiên cứu "Yếu tố Mỹ trong quan hệ đối tác chiến lược Trung - Nga" Trong công trình này, quan hệ Nga -
Trung được phân tích và đánh giá trong một tam giác chiến lược Nga - Trung - Mỹ với những tác động nhiều chiều, phức tạp từ các phía, trong đó yếu tố Mỹ là một cơ
sở quan trọng thúc đẩy sự hình thành và phát triển của quan hệ đối tác chiến lược Trung - Nga, đồng thời là một biến số đối với tương lai của quan hệ hai nước này
Ở các nước khác: Mỹ là nước quan tâm đến nghiên cứu về quan hệ Nga -
Trung hơn cả bởi mối quan hệ này đang là thách thức đối với Mỹ Các nhà nghiên cứu Mỹ đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ Nga - Trung ở hai nội dung là thực trạng
và xu hướng của mối quan hệ này
Viện nghiên cứu chiến lược Mỹ (Strategic Studies Institure U.S) đã có rất
nhiều những công trình nghiên cứu về quan hệ Nga - Trung trong và sau Chiến tranh lạnh Tuy nhiên, quan niệm của cơ quan này nghiêng về việc khẳng định quan hệ giữa Nga và Trung Quốc thực chất chỉ là sự ganh đua để tranh giành quyền lực ở châu Á - Thái Bình Dương Bên cạnh đó, họ cũng nhấn mạnh hơn về sức mạnh của Trung Quốc và mục đích tạo ra một không gian địa - chính trị mới trong khu vực của
nước này Trong công trình nghiên cứu mang tên "Quan hệ an ninh Trung Quốc - Nga: chiến lược song song không có đối tác hay niềm đam mê?" (China-Russia
security relations : strategic parallelism without partnership or passion?), Tiến sĩ
Richard Weitz của Viện nghiên cứu chiến lược Mỹ đã đi sâu vào phân tích quan hệ Nga - Trung trên lĩnh vực hợp tác an ninh, qua đó tác giả khẳng định quan hệ Nga - Trung chưa phải là đối tác chiến lược mà mới chỉ là một mối quan hệ thông thường, mang tính nhất thời trên cơ sở cùng hướng về châu Á - Thái Bình Dương [187, 27] Cũng nghiên cứu về quan hệ Nga - Trung, nhà nghiên cứu về Nga Bobo Lo đã thể
hiện trong công trình nghiên cứu "Liên minh vụ lợi Moscow, Bắc Kinh và xu thế địa - chính trị mới" (Axis of convenience : Matxcơva, Beijing, and the new geopolitics)
quan điểm "Sự hợp tác Nga - Trung cho phép Matxcơva lấy Bắc Kinh làm điểm tựa
để củng cố vị thế của mình ở châu Á - Thái Bình Dương, phục vụ cho các lợi ích và
Trang 8nhiệm vụ của Nga" Theo tác giả này, quan hệ giữa Nga và Trung Quốc không phải là
sự ngẫu nhiên, mà do yếu tố truyền thống vì chính Liên Xô là nước đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc sau ngày 1.10.1949 Ngày nay, sự tác động tương
hỗ giữa hai nước tạo ra những câu hỏi về an ninh quốc tế, đang là vấn đề cấp bách và
là phương hướng chính trị trong quan hệ Nga - Trung Tác giả này cũng khẳng định
"Quan hệ giữa Nga và Trung Quốc sẽ có triển vọng chiến lược nếu phản ứng kịp thời trước những thay đổi toàn cầu, hội nhập vào những xu thế quốc tế mới trong lĩnh vực
Quốc ở châu Á: sự thay đổi lớn về vai trò quyền lực" (Russia and China in Asia :
changing great power roles), trong đó nhấn mạnh những mục đích chiến lược của
hai quốc gia này ở châu Á - Thái Bình Dương Theo Wayne Merry thì Nga và Trung Quốc thực chất đang là đối thủ của nhau bởi họ cùng có chung một mục đích là làm thay đổi vị trí quyền lực ở châu Á - Thái Bình Dương Trong khi Trung Quốc đã khẳng định được một vị thế nhất định ở khu vực này thì Nga vẫn còn đang gắng sức
để thực hiện tăng cường ảnh hưởng của mình ở khu vực này, nên thực chất trong lòng mối quan hệ này sự cạnh tranh bao trùm hợp tác khiến cho mối quan hệ này không thể trở thành đối tác chiến lược[132]
Trong tác phẩm nghiên cứu mang tên "Mối quan hệ quân sự giữa Trung Quốc
và Nga 1995 - 2002: Vai trò của Nga trong việc phát triển tiềm năng chiến lược của Trung Quốc" (The military relationship between China and Russia 1995-2002 :
Russia's role in the development of China's strategic potential), John J Dziak cũng phân tích về quan hệ Nga - Trung trong lĩnh vực năng lượng nhưng tác giả này có phần công bằng với Nga hơn khi đánh giá về sức mạnh quân sự của Nga Trên cơ sở những thành tựu hợp tác hai nước, John J Dziak đã khẳng định Nga có vai trò quan trọng trong việc phát triển tiềm năng chiến lược của Trung Quốc Quan hệ quân sự
Trang 9Nga - Trung đã trở thành cơ sở thúc đẩy cho sự phát triển mạnh mẽ, sâu sắc của quan
hệ Nga - Trung trong những năm qua, nhưng nội dung hợp tác này lại mang lại cho Trung Quốc nhiều lợi ích hơn so với Nga cả ở hiện tại cũng như trong tương lai Tuy nhiên, theo John J Dziak, cũng chính vì điều này mà Trung Quốc còn đang chiều chuộng Nga, nhưng nếu một ngày, khi Trung Quốc đã vượt lên sức mạnh hiện có về quân sự của Nga (mà điều đó là có thể) thì quan hệ Nga - Trung Quốc sẽ khác Từ đó, tác giả này đã khẳng định về tương lai của quan hệ Nga - Trung là trong một giới hạn ngắn về thời gian thì có thể phát triển, nhưng có rất nhiều lý do để tin rằng sự hợp tác giữa Nga và Trung Quốc thiếu độ bền [147]
Các công trình nghiên cứu khác của Mỹ về quan hệ Nga - Trung cũng hầu hết đánh giá về tính hai mặt của mối quan hệ này Tác giả Sherman W.Garnett với công
trình nghiên cứu "Quan hệ hữu nghị hay cạnh tranh? Quan hệ Nga - Trung trong một châu Á đang thay đổi" (Rapprochement or rivalry?: Russia-China relations in a
changing Asia) đã phân tích về quan hệ Nga - Trung trên cơ sở giải quyết các giả
thuyết về mối quan hệ này Quan hệ Nga - Trung thực chất là láng giềng, hữu nghị hay chỉ là sự cạnh tranh có tính chất ganh đua mang tính chiến lược đầy mục đích của
cả hai phía Trên cơ sở đó, Sherman W Garnett cũng đã khẳng định quan hệ Nga - Trung sẽ làm thay đổi châu Á cả về cơ cấu quyền lực cũng như về môi trường chính trị và an ninh [270]
Phó Giáo sư Alexander Lukin thuộc Trung tâm nghiên cứu chính sách Đông
Bắc Á tại Mỹ (Washington, D.C : Brookings Institution Center for Northeast Asian Policy Studies) đã nghiên cứu về quan hệ Nga - Trung trên một bình diện rất mới mẻ:
"Ấn tượng Nga của Trung Quốc và quan hệ Nga - Trung Quốc" (Russia's image of
China and Russian-Chinese relations) Trong công trình nghiên cứu này, với 4 phần:
phương pháp tiếp cận của Nga hiện nay theo hướng quan hệ với Trung Quốc; ấn tượng về Nga của Trung Quốc và triển vọng của quan hệ Nga - Trung trong thế kỷ XXI; những động lực phía sau quan hệ hữu nghị Nga - Trung Quốc và tác động từ Hoa Kỳ tới quan hệ Nga - Trung, tác giả đã làm rõ phương pháp tiếp cận của Nga đối
với Trung Quốc khác biệt với các nhóm quan hệ khác, tuy nhiên thái độ hướng về
Trang 10Trung Quốc của Nga lại phụ thuộc vào mối quan hệ của Nga với phương Tây, đặc biệt là với Hoa Kỳ Hình ảnh Trung Quốc trong Nga là một người hàng xóm đầy
tham vọng (trong vấn đề biên giới, vị thế địa - chính trị…), từ đó vẽ nên một hình ảnh Trung Quốc bành trướng đầy uy hiếp với Nga (hiện tại là vùng Viễn Đông) Chính
những hình ảnh này đã cản trở quan hệ Nga - Trung, nên nếu có kỳ vọng về việc Nga phát triển quan hệ gần gũi hơn với Trung Quốc thì cũng chỉ có thể trong tương lai gần Trong tương lai, chính sách của Mỹ với Nga và Trung Quốc sẽ ảnh hưởng quyết định đến chiều hướng của mối quan hệ này
Giáo sư ngành Khoa học chính trị Jeanne L.Wilson - trường Đại học Wheaton
và giáo sư, nhà nghiên cứu châu Á - Thái Bình Dương Steven I Levine của trường Đại học Montana lại có chung một quan điểm khi đánh giá về quan hệ Nga - Trung
trong các bài báo cáo tại hội thảo của Chương Trình Á - Âu (viện Kennan) với chủ đề
"Nga - Trung hợp tác chiến lược: một mối đe doạ với người Mỹ" (Sino-Russian Strategic Partnership: A Threat to American Interests?) Theo các tác giả này thì sau chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ đã phải đối mặt với những thách thức của một tiềm năng quan hệ Trung - Nga Các nhà nghiên cứu này khẳng định quan hệ giữa Nga và Trung Quốc là quan hệ đối tác chiến lược được xây dựng hai tầng: tầng một là quan hệ Nga - Trung nhằm tạo sức ép đối với phương Tây, còn tầng hai là quan hệ giữa Nga - Trung Quốc với Mỹ và các nước phương Tây Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu này khẳng định mối quan hệ của Nga và Trung Quốc là một mối quan hệ không cân bằng Chính sự chênh lệch về quyền lực và của cải giữa Nga và Trung quốc đã khiến Nga phải "nuốt niềm
tự hào" để sẵn sàng nhún nhường với Trung Quốc "ít nhất là tạm thời", để đạt được quan hệ đối tác chiến lược.Từ đó, theo Jeanne L Wilson và Steven I Levine thì
"xung đột giữa Nga và Trung Quốc có thể xảy ra trong nửa thế kỷ tiếp theo"[174]
Quan niệm trên cũng được nhắc đến ở nội dung của công trình nghiên cứu
"Quan hệ đối tác chiến lược Nga - Trung trong giai đoạn hậu Xô Viết" (Strategic Partners: Russian-Chinese Relations in the Post-Soviet Era) Tác giả Jeanne L
Wilson đã phân tích cụ thể và toàn diện hơn về mối quan hệ Nga - Trung cả về thời gian và lĩnh vực hợp tác, qua đó ông đã chỉ ra rằng cả Nga và Trung Quốc đều hội tụ
Trang 11những lợi ích chung như việc duy trì ổn định, hoà bình; duy trì an ninh dọc tuyến biên giới; nhu cầu thương mại của hai nước về năng lượng, vũ khí và hy vọng có thể tạo ảnh hưởng tới hành động và chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ Bên cạnh đó, Jeanne L Wilson còn phân tích rõ một số ràng buộc về phát triển các chiến lược hợp tác Nga - Trung bao gồm nỗi sợ hãi của Nga trước việc "bành trướng"của Trung Quốc tới vùng Viễn Đông của Nga và sự phát triển thương mại vùng biên giới cũng như hợp tác thương mại hai nước Cuối cùng, Jeanne L Wilson khẳng định Nga và Trung Quốc đều coi trọng mối quan hệ của họ với Hoa Kỳ hơn là mối quan hệ của họ với nhau,
nhưng họ đã cố gắng thúc đẩy quan hệ song phương phát triển nhằm tạo nên một "cái bóng khổng lồ" để đối trọng với Mỹ, hay thực chất là họ đã "bắt tay nhau để cùng hợp tác với Mỹ", vì thế tương lai của mối quan hệ này có thể sẽ rất phát triển nhưng
cũng ẩn chứa nhiều hạn chế về chiều sâu [145,163]
Đánh giá triển vọng của quan hệ Nga - Trung, tác giả Dashdongdog Bayarsaikhan - Viện nghiên cứu dự án chiến lược của Mỹ - đã có công trình
"Prospects of Sino-Russian relations" Tác giả này đã phân tích mối quan hệ Nga -
Trung trên các lĩnh vực an ninh, chính trị, hợp tác kinh tế và quan hệ quốc phòng, qua
đó nhấn mạnh vấn đề lợi ích năng lượng giữa hai nước, đồng thời phân tích các chính sách của các nước này có liên quan đến Trung Á, bán đảo Triều Tiên và Đài Loan Nội dung của quan hệ Nga - Trung dưới con mắt của nhà nghiên cứu này luôn chứa đựng mặt trái khó thể dung hoà, vì vậy khi đánh giá về triển vọng quan hệ hai nước, Dashdongdog Bayarsaikhan đã khẳng định trong thế kỷ mới mối quan hệ này sẽ không tránh khỏi những xung đột bởi nguy cơ mâu thuẫn về lợi ích kinh tế và lợi ích chính trị của hai nước này là rất lớn [125]
Các học giả châu Âu khác nói chung cũng đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về quan hệ Nga - Trung, tuy nhiên quan niệm của các nhà nghiên cứu này không nhất quán về quan điểm trong cách đánh giá về mối quan hệ mà cả thế giới đang quan tâm này Tiến sỹ Alexander Nemets và đồng nghiệp của ông là Thomas Joseph Torda trong "Sự liên minh Nga - Trung" (The Russian-Chinese alliance) đã
phân tích về mối quan hệ Nga - Trung như một mối liên minh khá đặc biệt Liên minh
Trang 12này được thiết lập trong điều kiện nhu cầu từ cả hai phía Nga đã tặng cho Trung
Quốc những "quà tặng" quý giá về quân sự và công nghệ quân sự, còn Nga thì được
"tắm trong mưa vàng và đô la" dầu mỏ từ Trung Quốc Từ đó, "liên minh giữa nước
Nga mới và Trung Quốc mới đã được thiết lập lại" Các tác giả trên cho rằng mối liên minh Nga - Trung có cùng tính chất với mối liên minh Xô - Trung đã từng được thiết lập từ những năm 50 của thế kỷ XX, chứ chưa phải là một mối quan hệ mới [118,96]
Tác giả Mahdi Darius Nazemroaya - Trung tâm nghiên cứu toàn cầu (CRG - Centre for Research on Globalization) với bài viết nghiên cứu về quan hệ Nga - Trung như "Liên minh Trung - Nga: Thách thức tham vọng của Mỹ tại lục địa Á - Âu" (The Sino - Russian Alliance: Challenging America's Ambitions in Eurasia) đã nhấn mạnh
việc Nga và Trung Quốc ý thức được rằng họ là mục tiêu của Anh - Mỹ, nên đã mang
họ đến với nhau Theo tác giả thì sự hình thành liên minh nói chung được quyết định bởi 4 biến số: sức mạnh tổng hợp, địa lý gần nhau, sức mạnh tấn công và nhận thức
về các lợi ích, trong đó liên minh Trung - Nga chủ yếu được hình thành trên cơ sở nhận thức về các lợi ích và đe doạ từ Hoa Kỳ Phản ứng của Nga và Trung Quốc chính là sự nỗ lực để cân đối có thể không phải là quyền lực của Hoa Kỳ nhưng ít nhất là làm giảm các mối đe doạ cố hữu trong các chính sách của nó Chính vì vậy mối quan hệ Nga - Trung thời kỳ này đã có những nét đặc biệt, đó là mối quan hệ
phân tích sự phát triển của mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc theo thời gian, và qua đó tác giả đã nhấn mạnh vào phân tích những hạn chế trong mối quan hệ này Tác giả cũng cho rằng lực lượng quân sự của Nga ở vùng Viễn Đông sẽ khó có thể đương đầu với lực lượng quân sự đang lớn mạnh của Trung Quốc, tiềm lực quân sự của Trung Quốc có thể gây nên những thách thức về an ninh ở Trung Á bất chấp những
Trang 13mong muốn của Nga và không còn bao lâu nữa Nga sẽ không còn duy trì mối quan
hệ hợp tác cân bằng với Trung Quốc Từ đó, tác giả đánh giá không cao về tương lai của mối quan hệ Nga - Trung vì song song với sự phát triển thì hai nước này vẫn không ngừng giám sát nhau, vì thế định hướng chống Mỹ của mối liên minh này sẽ khó thành hiện thực
Nhìn chung, các học giả Mỹ và châu Âu có phần hoài nghi với mối quan hệ này hơn là tin tưởng vào sự phát triển của nó Trọng tâm trong các công trình nghiên cứu về quan hệ Nga - Trung của các nhà nghiên cứu Mỹ và châu Âu là hình thức và nội dung của mối quan hệ này có thực chất đe doạ đến địa vị của Mỹ hay không? triển vọng của mối quan hệ này sẽ như thế nào? Tuy nhiên khi đánh giá về tương lai của quan hệ Nga - Trung, hầu hết các quan niệm của các nhà nghiên cứu này đều đánh giá tương đối bi quan
Bên cạnh các quan điểm nghiên cứu của Mỹ và các nước châu Âu, các nhà nghiên cứu Nhật Bản cũng hết sức quan tâm đến quan hệ giữa Nga và Trung Quốc Mặc dù Nhật Bản có nhiều gắn bó với Mỹ, nhưng các quan điểm của nước này trong việc đánh giá về mối quan hệ Nga - Trung lại hoàn toàn khác Mỹ và các nước châu
Âu Giáo sư Iwashita Akihiro - chuyên viên nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Nga và quan hệ Nga - Trung tại Trung tâm nghiên cứu Slav, Trường đại học Hokkaido, Nhật Bản - đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về quan hệ Nga - Trung
như: "Nga - Trung đối tác chiến lược và đàm phán biên giới: trước mắt và lâu dài" (The Russo - Chinese "Strategic partnership" and border negotiations: then and now)
và "Tiến trình phân định 4.000 km đường biên giới Trung - Nga" (A 4.000 kilometer journey along the Sino - Russian border)… Trong hai công trình nghiên cứu trên,
Iwashita Akihiro đã đi từ phân tích việc giải quyết vấn đề biên giới hai nước- vốn là một vấn đề căng thẳng, tưởng như không có hồi kết - thì từ sau chiến tranh lạnh đã được giải quyết trên cơ sở gạt bỏ mọi trở ngại, khó khăn để đạt hiệu quả cao Từ đó,
Iwashita Akihiro khẳng định ông "không còn nghi ngờ gì về mối quan hệ đối tác chiến lược Nga - Trung", trong tiến trình phân định biên giới, hai nước đã đạt được những vấn
Trang 14đề "xa hơn vấn đề biên giới" đó là thiết lập nên một khuôn mẫu cho một mô hình hợp tác
mới trong xu thế toàn cầu hoá của thế giới[142,178]
Như vậy, nghiên cứu về mối quan hệ Nga - Trung từ sau Chiến tranh lạnh đến nay đã được các học giả và giới chuyên môn ở nhiều nước trên thế giới quan tâm và
đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về vấn đề này, với sự đa dạng về cách nhìn nhận, thậm chí hoàn toàn mâu thuẫn với nhau về quan điểm đánh giá
Việc nghiên cứu ở Việt Nam
Mối quan hệ của các nước lớn nói chung và quan hệ Nga - Trung Quốc nói riêng trong thế giới đầy biến động hiện nay cũng là vấn đề lớn được các nhà nghiên cứu trong nước quan tâm
Trung tâm nghiên cứu SNG và Đông Âu, (hiện nay là Viện Nghiên cứu châu Âu) đã có nhiều chuyên đề nghiên cứu về Liên bang Nga và những mối quan hệ của nước này với các nước lớn trong đó có Trung Quốc, như: "Liên bang Nga và Đông
Âu trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI" (tháng 3/1994); Kỷ yếu hội thảo khoa học "Liên bang Nga trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương thời kỳ hậu chiến tranh lạnh"(tháng 10/1995) Trong những tài liệu này, các nhà nghiên cứu đã có nhiều bài
viết đánh giá về chính sách đối ngoại của Liên bang Nga thời hậu xô viết, trong đó nổi bật lên thiên hướng châu Á - Thái Bình Dương và Trung Quốc láng giềng Những năm gần đây, trong các số của tạp chí Nghiên cứu châu Âu, có nhiều tác giả và bài viết về mối quan hệ Nga - Trung Quốc trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị… Tất cả đều khẳng định mối quan hệ "đối tác chiến lược" Nga - Trung Quốc đang có tác động rất lớn đến môi trường quốc tế hiện nay
PGS.TS Nguyễn Quang Thuấn với công trình "Liên bang Nga: Quan hệ kinh tế đối ngoại trong những năm cải cách thị trường" (năm 1999) đã nghiên cứu về những
chuyển biến trong chính sách đối ngoại của Liên bang Nga và quan hệ kinh tế của Nga với các nước trên thế giới, trong đó có Trung Quốc
Luận án Tiến sỹ - của Nguyễn Văn Rân "Sự chuyển hướng chính sách đối ngoại của Liên bang Nga ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương nguyên nhân và tác
Trang 15động " là một công trình nghiên cứu sâu sắc về chính sách đối ngoại của Liên bang
Nga với châu Á - Thái Bình Dương từ sau Chiến tranh lạnh đến năm 1998
Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc đã có nhiều cuộc hội thảo về sự phát triển
của Trung Quốc như: "CHND Trung Hoa Trung Hoa 55 năm xây dựng và phát triển" năm 2004; "Trung Quốc 25 năm cải cách mở cửa" năm 2003 , trong đó các bài viết
của các nhà nghiên cứu ngoài việc đi sâu vào phân tích con đường cải cách và những thành tựu kinh tế, chính trị, xã hội…của Trung Quốc, còn có nhiều phân tích, đánh giá
về chính sách đối ngoại của Trung Quốc của các thế hệ lãnh đạo thứ 3, thứ 4 và mối quan hệ của Trung Quốc với các nước lớn trong đó có Liên bang Nga
Tạp chí kiến thức Quốc phòng hiện đại - tài liệu của Tổng cục tình báo quân đội (Tổng cục II) - cũng thường xuyên có những bài viết, bài dịch xoay quanh những mối quan hệ nước lớn trên bàn cờ thế giới đương đại, trong đó mối quan hệ Nga - Trung Quốc cũng được đề cập trong một số bài viết, dịch theo tài liệu nước ngoài
Ngoài ra, một số tạp chí nghiên cứu như Tạp chí quốc tế, Tạp chí cộng sản, Tạp chí Những vấn đề kinh tế chính trị thế giới; Tạp chí Kinh tế châu Á - châu Á - Thái Bình Dương, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á…cũng có những bài viết đề cập đến quan hệ của các nước lớn, trong đó có quan hệ Nga - Trung Quốc trong hoàn cảnh mới
Tuy các cơ quan, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã nghiên cứu nhiều về quan
hệ Nga - Trung từ sau Chiến tranh lạnh đến nay, song mới chỉ dừng lại ở các bài viết đăng trên các tạp chí, với các lĩnh vực rời rạc và ở những giai đoạn nhất định Chưa
có một công trình nào đi sâu nghiên cứu về quan hệ Nga - Trung một cách tổng thể từ
1992 đến 2008, cũng như phân tích, đánh giá mối quan hệ này dưới góc độ lịch sử
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu "Quan hệ Liên bang Nga - CHND Trung Hoa (1992 - 2008)" với mong muốn lấp khoảng trống đó và góp thêm
một cái nhìn của Việt Nam về vấn đề này
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quan hệ giữa Liên bang Nga và CHND Trung Hoa trong giai đoạn 1992 - 2008
4 Phạm vi nghiên cứu
Trang 16Về tên gọi, tên đề tài là "Quan hệ Liên bang Nga và Cộng hoà Nhân dân
Trung Hoa", nhưng để tiện sử dụng, trong nội dung đề tài sẽ sử dụng tên gọi chung là
"quan hệ Nga - Trung" và "Liên Xô - Trung Quốc" sẽ được gọi là "Xô - Trung".
Về nội dung, đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề trong phạm vi sau:
Về cơ sở của mối quan hệ Nga - Trung: Có nhiều cơ sở tác động đến quan hệ
Nga - Trung, nhưng đề tài chỉ phân tích những nhân tố chính như trong nhân tố chủ quan có nhân tố Nga và nhân tố Trung Quốc, nhân tố khách quan có hoàn cảnh quốc
tế và nhân tố Mỹ
Về nội dung của quan hệ Nga - Trung: Hiện nay, Nga và Trung Quốc đã thiết
lập quan hệ mang tính toàn diện trên các lĩnh vực: quan hệ chính trị - ngoại giao; quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và năng lượng; hợp tác an ninh - quân sự; hợp tác văn hóa và khoa học kỹ thuật nhưng đề tài chỉ tập trung nghiên cứu quan hệ giữa Nga và Trung Quốc trên các mặt: quan hệ chính trị - ngoại giao; quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và năng lượng; hợp tác an ninh - quân sự
Trong đánh giá những tác động từ mối quan hệ Nga - Trung: Mặc dù mối quan hệ
này cho đến nay đã có tác động ở nhiều mức độ đến các châu lục (châu Á, châu Âu, châu Phi và các nước Mỹ La tinh) đồng thời tác động nhiều mặt, đa chiều tới quan hệ quốc tế, nhưng đề tài chỉ tập trung nhìn nhận tác động của quan hệ này tới bản thân hai quốc gia này, tới châu Á và tới sự vận động của hình thái trật tự thế giới mới
Về thời gian, đề tài lấy mốc thời gian từ năm 1992 đến năm 2008 Thứ nhất,
năm 1992 là mốc đánh dấu sự thay đổi căn bản của bối cảnh quốc tế Sau sự sụp đổ của trật tự hai cực Ianta, cục diện thế giới mới và tư duy chính trị mới được hình thành Những nhân tố này đã chi phối đường lối đối ngoại của tất cả các nước, trong
đó có Nga và Trung Quốc Thứ hai, đối với Nga, năm 1992 là năm khởi đầu cho sự
phát triển của Liên bang Nga sau sự tan rã của Liên Xô và năm 2008 là mốc kết thúc của nhiệm kỳ của Tổng thống V.Putin đối với Trung Quốc, Đại hội XIV Đảng Cộng sản năm 1992 đã mở ra một bước ngoặt mới cho sự phát triển của CHND Trung Hoa, đặc biệt nó đánh dấu sự điều chỉnh về chính sách đối ngoại (từ chính sách "độc lập hòa bình" chuyển sang chính sách "ngoại giao nước lớn") và năm 2008 được đánh giá
Trang 17là thời điểm chính sách ngoại giao nước lớn của Trung Quốc đã đạt được những thành công căn bản, đặt nền tảng cho nước này thực hiện sự điều chỉnh mới trong chính sách đối ngoại thông qua Đại hội XVII (2007) với trọng tâm là khẳng định
chức năng mới của một “cường quốc có trách nhiệm” Đối với mối quan hệ hai nước,
năm 1992 là năm khởi đầu cho sự phát triển của mối quan hệ giữa nước Nga mới với Trung Quốc sau sự kiện ngày 27/12/1991 Trải qua 16 năm phát triển, đến năm 2008, những tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới; sự thay đổi nhiệm kỳ Tổng thống của Liên bang Nga; nghị quyết Đại hội XVII với vị thế mới của Trung Quốc đã
là sự khởi đầu cho một giai đoạn phát triển mới trong quan hệ Nga - Trung
Tuy nhiên, lịch sử luôn là sự phát triển tiếp nối, để hiểu sâu sắc và hệ thống hơn về mối quan hệ Nga - Trung, ở một mức độ nhất định, đề tài sẽ đề cập đến một số sự kiện trước năm 1992 và sau năm 2008
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Sau năm 1991, cả Nga và Trung Quốc cùng có nhu cầu phát triển quan hệ giữa hai nước lên tầm "quan hệ đối tác chiến lược" Tuy nhiên, ẩn chứa bên trong nhu cầu hợp tác ngày càng cao của hai nước là sự ganh đua, kiềm chế lẫn nhau ngày càng quyết liệt, tạo nên không ít cản trở đối với sự phát triển của mối quan hệ Nga - Trung, vậy đâu
là nguyên nhân của thực trạng này? Mục đích của đề tài là nghiên cứu sự phát triển, những thành tựu và hạn chế của quan hệ Nga - Trung (1992 - 2008), qua đó làm rõ tác động của mối quan hệ này đối với khu vực, thế giới và Việt Nam
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trước hết đề tài nghiên cứu mối quan hệ Liên Xô - Trung Quốc trong hơn 40 năm thăng trầm (1949 - 1991) để rút ra những đánh giá làm nền tảng cho quá trình nghiên cứu về mối quan hệ Nga - Trung sau chiến tranh lạnh
- Tiếp đó, trên cơ sở nghiên cứu những tác động của hoàn cảnh thế giới, khu vực và trong nước của Nga và Trung Quốc, đề tài sẽ làm rõ sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Nga và Trung Quốc từ năm 1992 đến nay và tập trung phân tích quan
hệ hai nước trên các mặt quan hệ chính trị - ngoại giao; quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và năng lượng; hợp tác an ninh - quân sự
Trang 18- Dựa trên nền tảng đó, đề tài đi sâu vào nghiên cứu tính chất của mối quan hệ Nga - Trung để rút ra những đặc điểm trong quan hệ hai nước, phân tích sâu sắc những tác động của mối quan hệ đối tác chiến lược Nga - Trung tới bản thân hai nước Nga và Trung Quốc, tới khu vực châu Á - Thái Bình Dương và tới sự hình thành trật tự thế giới mới Qua đó, đề tài sẽ đánh giá về xu hướng vận động của mối quan hệ Nga - Trung trong tương lai.
6 Nguồn tài liệu
- Tư liệu gốc: Luận án lấy các tư liệu gốc làm cơ sở nghiên cứu và đánh giá
đề tài, bao gồm các văn bản về chủ trương, chính sách đối ngoại của nhà nước Nga
và Trung Quốc Những hiệp ước, những tuyên bố chung của hai nước và nội dung trao đổi trong các cuộc gặp gỡ cấp cao của Nga và Trung Quốc trong giai đoạn từ
1949 đến nay Những văn kiện của các kỳ Đại hội của Trung Quốc và những thông điệp của các Tổng thống Liên bang Nga
- Các nguồn tài liệu tham khảo khác
+ Luận án tham khảo các tài liệu nước ngoài, chủ yếu với 3 nguồn là: Tài liệu của các nhà nghiên cứu Nga, tài liệu của các nhà nghiên cứu Trung Quốc, và tài liệu của các nhà nghiên cứu trên thế giới nhằm có được sự nhìn nhận đa chiều về quan hệ Nga - Trung, từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá
+ Tham khảo các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Viện nghiên cứu châu Âu, Viện nghiên cứu Trung Quốc thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Học viện Ngoại giao, Bộ ngoại giao Việt Nam và các tài liệu của các chuyên gia nghiên cứu về Nga và Trung Quốc hiện nay
+ Tham khảo có chọn lọc và xử lí các nguồn tư liệu cập nhật thường xuyên trong các tuần báo quan hệ quốc tế và hệ thống thông tin trên mạng Internet
7 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu dựa trên quan điểm của Đảng về chính sách đối ngoại
và quan hệ quốc tế, xem đó là phương pháp luận khi thực hiện đề tài
Phương pháp lịch sử và phương pháp logic là những phương pháp cơ bản để trình bày, phân tích và lý giải các vấn đề trong luận án
Trang 19Phương pháp nghiên cứu quốc tế cũng được đặc biệt chú trọng Các sự kiện, các biến cố lịch sử của mối quan hệ hai nước luôn được đặt trong hoàn cảnh lịch sử
cụ thể, trong bối cảnh quốc tế để phân tích, đánh giá
Bên cạnh đó, các phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, đối chiếu, phương pháp dự báo cũng được sử dụng nhằm giải quyết những vấn đề xảy ra
8 Dự kiến đóng góp của đề tài
- Trên cơ sở khái quát toàn bộ lịch sử quan hệ Xô - Trung trước năm 1991, luận án khôi phục lại bức tranh toàn cảnh về quá trình hình thành, phát triển của mối quan hệ Nga - Trung Quốc trên các mặt chính trị - ngoại giao, kinh tế - thương mại,
an ninh - quân sự từ năm 1992 đến năm 2008
- Làm rõ mối quan hệ Nga - Trung trong bối cảnh quốc tế và tình hình của hai nước, luận án chỉ ra sự tác động của mối quan hệ này tới khu vực và thế giới, bước đầu đưa ra nhận định về sự vận động của mối quan hệ Nga - Trung trong thời gian tới
- Luận án sẽ là tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy về quan hệ quốc tế, lịch sử Nga và Trung Quốc thời hiện đại, đồng thời có thể phục vụ công tác đối ngoại của nước ta
9 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu làm 3 chương:
Chương 1 Khái quát mối quan hệ Liên Xô - Trung Quốc thời kỳ 1949 - 1991
và những nhân tố tác động đến quan hệ Liên bang Nga - Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (1992 - 2008)
Chương 2 Quá trình phát triển và một số thành tựu chủ yếu của quan hệ Liên bang Nga - CHND Trung Hoa (1992 - 2008)
Chương 3 Nhận xét về quan hệ Liên bang Nga - CHND Trung Hoa
Chương 1 KHÁI QUÁT MỐI QUAN HỆ LIÊN XÔ - TRUNG QUỐC THỜI KỲ 1949 – 1991
Trang 20VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ LIÊN BANG NGA - CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA (1992 - 2008) 1.1 KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ LIÊN XÔ - TRUNG QUỐC (1949 - 1991)
1.1.1 Quan hệ đồng minh Xô - Trung (1949 - 1959)
Sau Chiến tranh thế giới thứ II, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội (CNXH) với chủ nghĩa tư bản (CNTB) trở thành trục chính trong quan hệ quốc tế, tạo nên sự đối đầu giữa hai cực Xô - Mỹ, hai khối Đông - Tây Để ngăn chặn rồi tiến tới xóa bỏ các nước XHCN, Mỹ đã ra sức thiết lập các mối quan hệ đồng minh với các nước TBCN Trong hoàn cảnh đó, Liên Xô và các nước XHCN cũng tất yếu phải liên kết lại vì lợi ích an ninh của chính mình và để bảo vệ các nhà nước XHCN Chính bối cảnh đó đã đưa đến sự ra đời của mối quan hệ "đồng minh chiến lược" Xô - Trung
Ngay sau khi cách mạng Trung Quốc thành công, cùng với việc thiết lập quan
hệ ngoại giao với Trung Quốc ngày 2/10/1949 [53,47], Liên Xô đã đặt ngay vấn đề loại Tưởng Giới Thạch và khôi phục lại địa vị hợp pháp của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tại Liên Hợp Quốc Việc làm này của Liên Xô nhằm tạo đồng minh cho mình trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và cũng tạo cú hích thúc đẩy mối quan hệ hai nước tiếp tục phát triển hơn trên cơ sở cùng chung lợi ích, cùng chung chiến tuyến Trong hoàn cảnh đó, Trung Quốc thực hiện chính sách đối ngoại "nhất biên đảo"[14,27], ngả hẳn về phía Liên Xô để chống chủ nghĩa đế quốc, nhanh chóng khẳng định thiện chí cùng Liên Xô xây dựng quan hệ đồng minh
Chuyến viếng thăm đầu tiên của nhà nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa với nước ngoài là tới Liên Xô Ngày 16/12/1949 phái đoàn Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa do Chủ tịch Mao Trạch Đông dẫn đầu đã đến Liên Xô Trong chuyến viếng thăm lịch sử này, hai bên đã chính thức khẳng định việc thiết lập mối quan hệ "đồng minh chiến lược", đặt nền tảng cho việc ký Hiệp ước hữu nghị, liên minh, tương trợ Xô - Trung ngày 14/2/1950 Trong Hiệp ước, hai nước đã cùng thoả
thuận những nội dung quan trọng như: cương quyết ngăn chặn sự phục hồi của CNĐQ Nhật Bản; nếu một trong hai nước bị Nhật hoặc đồng minh của Nhật xâm lược thì nước kia sẽ viện trợ quân sự và mọi phương tiện khác; cam kết củng cố và phát triển những quan hệ kinh tế, văn hoá, giúp đỡ nhau về kinh tế với tinh thần hữu
Trang 21nghị và hợp tác " 1 Hiệp ước trên như một sự đảm bảo an ninh cho cả Liên Xô và
Trung Quốc trước sự tấn công của Mỹ và đồng minh, giúp hai nước tăng cường sức mạnh trong công cuộc xây dựng CNXH
Song song với Hiệp ước trên, Liên Xô và Trung Quốc còn ký kết "Hiệp định
về đường sắt Trường Xuân, cảng Lữ Thuận và Đại Liên"; "Hiệp định cho nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa vay tiền" [111,2] Trong "Hiệp định về đường sắt Trường
Xuân, cảng Lữ Thuận và Đại Liên", hai bên thoả thuận "sau khi ký hoà ước với Nhật, nhưng không chậm quá năm 1952, Liên Xô sẽ chuyển giao cho Trung Quốc toàn quyền về việc quản lý đường sắt Trường Xuân" [111,2] Cũng trong thời gian đó,
Chính phủ Liên Xô sẽ rút quân khỏi căn cứ hải quân Lữ Thuận Trước khi quân đội Liên Xô rút, một Uỷ ban Liên hiệp Xô - Trung sẽ được thành lập trên cơ sở bình đẳng để lãnh đạo các công việc quân sự ở Lữ Thuận, còn công việc quản lý hành chính sẽ thuộc quyền lãnh đạo trực tiếp của chính phủ nước CHND Trung Hoa Cảng Đại Liên sẽ được hai bên xem xét sau khi kí hoà ước với Nhật Liên Xô giao lại cho chính phủ Trung Quốc tất cả tài sản mà Liên Xô đã thuê hay tạm thời sử dụng ở Đại Liên [111,2]
Với những Hiệp định trên, những vướng mắc lớn vốn tồn tại trong quan hệ Xô
- Trung trước đó đã được xoá bỏ, tạo điều kiện cho quan hệ hai nước nhanh chóng phát
triển thành quan hệ đồng minh chiến lược trong suốt thập kỷ 50 của thế kỷ XX Chính
nhờ mối quan hệ dựa trên sự tương trợ anh em mà từ năm 1953 đến năm 1957, nhịp độ trao đổi ngoại thương hai nước hàng năm tăng trung bình là 10% [291,42]
Trong mười năm (1949 - 1959), hợp tác song phương Xô - Trung đã đạt được nhiều thành tựu Hai nước đã đạt được hàng loạt những cam kết, những hiệp định quan trọng như hiệp định Liên Xô cho Trung Quốc vay 520 triệu Rúp trong 5 năm để giúp Trung Quốc mua thiết bị điện lực, khôi phục và phát triển kinh tế; Liên Xô giúp
đỡ Trung Quốc xây dựng và tái tạo 156 xí nghiệp công nghiệp chủ chốt [112,2]; về đào tạo công dân Trung Quốc trong các trường đại học Xô Viết; về giúp đỡ Trung
1 Xem thêm phụ lục 1
Trang 22Quốc trong phát triển nghiên cứu về vật lý nguyên tử và sử dụng năng lượng hạt nhân; về hợp tác quân sự, văn hoá…[219,12].
Ngày 12 tháng 10 năm 1954, hai nước đã ký Tuyên bố chung với nội dung sẵn sàng tham vấn, hành động nhằm đảm bảo an ninh của mình và giữ gìn hoà bình ở Viễn Đông cũng như trên toàn thế giới [219,12] Cho đến năm 1960, Liên Xô đã cung cấp cho Trung Quốc toàn bộ thiết bị tương đương với 2,3 tỷ Rúp phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa của Trung Quốc, giúp Trung Quốc xây dựng 256 công trình hiện đại, trong đó 90% là phục vụ công nghiệp nặng [291,65], đồng thời Liên
Xô đã giúp Trung Quốc trong việc đào tạo cán bộ, chuyên gia và phát triển khoa học
kỹ thuật Ngược lại, liên minh với Trung Quốc đã giúp Liên Xô có được một đối tác chính trị mạnh và một thị trường đầy tiềm năng
Trước sự phát triển của quan hệ “đồng minh chiến lược” Xô - Trung, Mỹ và Tưởng Giới Thạch đã chiếm Đài Loan, nhằm biến Đài Loan thành căn cứ chống lại Trung Quốc và CNXH Động thái đó của Mỹ càng tạo chất xúc tác, động lực để thúc đẩy sự kết dính hơn nữa của mối quan hệ Xô – Trung, nâng cao hơn nữa quan hệ
“đồng minh chiến lược” để đi cùng một con đường, cùng chung mục đích chống CNĐQ và xây dựng CNXH
1.1.2 Những mâu thuẫn trong quan hệ Xô - Trung (1959 - 1979)
* Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1969
Từ năm 1959 đến năm 1969 quan hệ Xô - Trung từng bước rạn nứt, dần tan
vỡ và rơi vào một thời kỳ đầy thăng trầm, sóng gió Tại sao quan hệ Xô - Trung đã từng đạt tới đỉnh cao của quan hệ "đồng minh chiến lược" lại rơi vào khủng hoảng, mâu thuẫn và xung đột?
Mối mâu thuẫn Xô - Trung bắt đầu từ sự bất đồng giữa hai đảng của hai nước Nguồn gốc của mối mâu thuẫn này thực chất đã có từ những năm 1920 - khi cách mạng Trung Quốc còn chưa thành công và phong trào cộng sản, phong trào công nhân quốc tế còn chịu sự chỉ đạo của Stalin Trong giai đoạn này, vấn đề tranh cãi giữa Liên Xô và Trung Quốc (và cũng là vấn đề tranh cãi không có hồi kết trong
Trang 23nội bộ Quốc tế Cộng sản) là sự hợp tác giữa những người cộng sản và những lực lượng quốc gia ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa [131,108].
Quan điểm của Liên Xô (đứng đầu là Stalin) là cần có sự hợp tác quốc - cộng Trong những năm 1920 - 1930, Liên Xô đã cố gắng thuyết phục Đảng Cộng sản Trung Quốc hợp tác với Đảng Quốc dân, còn Trung Quốc lại lo ngại những người cộng sản có thể mất quyền lãnh đạo Năm 1927, sự trở mặt của Tưởng Giới Thạch đã khẳng định sự lo ngại của Đảng Cộng sản Trung Quốc là đúng Từ thực tế đó, sự ngờ vực đã luôn tồn tại giữa Trung Quốc với Liên Xô Và cũng trên cơ sở đó, Mao Trạch Đông đã tự đề cao vị trí, vai trò của Trung Quốc trong cách mạng thế giới Trung
Quốc cho rằng "Mao Trạch Đông đã có công lớn trong việc chuyển chủ nghĩa Mác
từ một hình thức châu Âu sang hình thức châu Á…" [129,124] Sau khi cách mạng
Trung Quốc thành công, từ năm 1949 đến năm 1951, Mao Trạch Đông đã cố gắng
tìm cách chứng tỏ sự "tự trị tư tưởng" và khả năng của những người cộng sản Trung
Quốc trong việc tìm ra một mẫu hình cách mạng mới mà các nước thuộc địa và nửa thuộc địa phải noi theo[308,85]
Như vậy, ngay từ khi được thiết lập, những mâu thuẫn cũng đã ẩn chứa trong lòng mối quan hệ "đồng minh chiến lược" Xô - Trung Về thực lực, Trung Quốc đang yếu hơn rất nhiều so với Liên Xô Để xây dựng CNXH trong hoàn cảnh Chiến tranh lạnh, Trung Quốc không thể không dựa vào Liên Xô Nhưng về tư tưởng, các nhà lãnh đạo Trung Quốc không những không "tâm phục, khẩu phục" Liên Xô, mà còn
tự đặt mình ngang hàng với Mác và Lênin, chứ không chịu đóng vai trò thứ yếu trong quan hệ với Liên Xô, càng không muốn chấp nhận sự chỉ đạo của Liên Xô về đường lối đối nội, đối ngoại [131,112] Đây chính là bi kịch tất yếu dẫn đến mâu thuẫn trong quan hệ hai nước
Tuy Trung Quốc luôn không bằng lòng với vị trí thấp hơn trong quan hệ với Liên Xô, nhưng trước năm 1953 (trước khi Stalin qua đời), do lợi ích cách mạng của Trung Quốc và Liên Xô không mâu thuẫn với nhau nhiều lắm, nên sự bất hòa tạm thời lắng dịu, nhường chỗ cho quan hệ hợp tác tiếp tục phát triển, nên đến tận những năm đầu lãnh đạo của N.Khrushchev, quan hệ Xô - Trung còn khá suôn sẻ
Những bất đồng được bộc lộ từ những năm 1955 - 1956, khi Trung Quốc đã đạt được một số thành tựu trong khôi phục và phát triển kinh tế, khi Liên Xô cũng
Trang 24đang phát triển mạnh mẽ và ngày càng khẳng định vai trò lãnh đạo với các nước XHCN trước sự tấn công của Mỹ, thì Trung Quốc muốn thoát khỏi sự lãnh đạo và chi phối của Liên Xô Để khẳng định mình, từ năm 1958, Mao Trạch Đông bắt đầu thực hiện chính sách "Đại nhảy vọt" như một sự thách thức với Liên Xô [161,25] "Đại nhảy vọt" (1958 - 1961) chính là sự li khai của Trung Quốc với mô hình Liên Xô Tham vọng của Trung Quốc là muốn đưa Trung Quốc đến hình thái cao nhất của Chủ nghĩa Cộng sản trong một thời gian kỷ lục [161,54] Thay vì dựa vào những dự án khổng lồ trong công nghiệp được xây dựng với sự viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc
đã đặt trọng tâm vào xây dựng các xí nghiệp vừa và nhỏ trên khắp đất nước, đồng thời xây dựng các công xã nông dân (vì theo Trung Quốc, công xã nông dân là ưu việt hơn mọi hình thái đã có trong thế giới cộng sản về mức độ tập thể hoá) Trong quá trình Trung Quốc thực hiện chính sách "đại nhảy vọt", Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc luôn bảo vệ Stalin trước sự phê phán của N.Khrushchev - thực chất là bảo vệ những kinh nghiệm xây dựng XHCN của mình, càng làm cho sự bất đồng giữa Mao Trạch Đông và N.Khrushchev sâu sắc hơn [53,54]
Từ ngày 2/7 đến ngày 1/8/1957, tại Hội nghị mở rộng của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Lư Sơn, N.Khrushchev đã thông báo với Đảng Cộng sản Trung Quốc việc Liên Xô từ chối cung cấp kỹ thuật chế tạo bom nguyên tử cho Trung Quốc [9, 121] Cùng thời điểm này, trong quan hệ với Liên Xô, Mao Trạch Đông có sự bất đồng sâu sắc với dự án xây dựng trung tâm phát thanh truyền thông sóng dài và trạm thu nhận thông tin sóng dài chuyên biệt của Liên Xô Dự án này của Liên Xô bị Mao Trạch Đông cho rằng đó là biểu hiện của "chủ nghĩa sô vanh nước lớn", vì Liên Xô muốn thông qua dự án này để kiểm soát Trung Quốc [9,22]
Trước nguy cơ căng thẳng, từ ngày 31/7 đến 3/8/1958 N.Khrushchev đã phải đến Bắc Kinh Sau 4 ngày thảo luận vấn đề, hai bên đã đi đến một thoả thuận về việc xây dựng trạm sóng dài và gửi các chuyên gia Liên Xô đến Trung Quốc Tuy nhiên, sự rạn nứt trong quan hệ Xô - Trung và mối bất hoà giữa Mao Trạch Đông và N.Khrushchev
thì vẫn như sóng ngầm và ngày càng dữ dội hơn.
Về phía Liên Xô, các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô cũng không hài lòng với những gì mà Mao Trạch Đông và Trung Quốc thể hiện trong cả đường lối
Trang 25đối nội và đối ngoại Mặc cho những lời khuyên của các cố vấn Liên Xô, hàng chục nghìn công xã nông thôn vẫn xuất hiện vào mùa thu và mùa đông năm 1958 ở Trung Quốc và hàng trăm triệu người Trung Quốc vẫn được huy động để sản xuất thép nhằm đuổi kịp sản lượng thép của Anh N.Khrushchev gọi kế hoạch thành lập các công xã nông thôn của Trung Quốc là sự "phản động"[9,121] Cùng thời gian này, việc Trung Quốc nã pháo vào đảo Kim Môn (Quemoy) ngày 23/8/1958 càng đẩy quan hệ Xô - Trung vào khủng hoảng hơn [9,121].
Khi xung đột biên giới diễn ra giữa Trung Quốc với Ấn Độ (1959 - 1962), Liên
Xô không đứng về bên nào nhưng tiếp tục thực hiện kế hoạch bán máy bay chiến đấu Mig cho Ấn Độ [9,122] Lời tuyên bố bày tỏ sự đáng tiếc về sự kiện này của Liên Xô đã làm cho Mao Trạch Đông rất không hài lòng Chuyến thăm Trung Quốc của N.Khrushchev từ 30/9/1959 đến 4/10/1959 để tham dự lễ kỷ niệm 10 năm Quốc Khánh Trung Quốc đã biến thành cuộc cãi vã xung quanh quan hệ hai nước Sau sự kiện này, từ tháng 6/1960 N.Khrushchev đã quyết định rút toàn bộ chuyên gia của Liên Xô khỏi Trung Quốc, đồng thời cắt giảm hầu hết sự viện trợ về vật chất và quân sự cho Trung
Quốc [9,125] Quyết định này của Liên Xô ở thời điểm năm 1960 ( thời điểm Trung Quốc đang phải chịu hậu quả nặng nề của kế hoạch "Đại nhảy vọt") đã gây ra những
khó khăn trầm trọng cho Trung Quốc Mao Trạch Đông đã buộc tội Liên Xô là phá hoại công cuộc xây dựng CNXH của Trung Quốc, vì vậy nghĩa vụ của Trung Quốc là phải
đấu tranh chống "chủ nghĩa xét lại" để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác và ngọn
cờ chân chính của chủ nghĩa cộng sản [10,125]
Từ năm 1961 đến năm 1965, mối bất hoà Xô - Trung ngày càng được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng Hai bên tăng cường buộc tội, công
kích lẫn nhau, tạo nên một cuộc chiến về chính trị giữa hai nhà nước Trong 2 năm
1963 và 1964, hai bên đã công kích kịch liệt lẫn nhau, trong đó nổi bật nhất là 11 lá thư, tuyên bố giữa hai đảng (14/7/1963; 19/7/1963; 29/11/1963; 20/2/1964; 22/2/1964;
27/2/1964; 29/2/1964; 7/3/1964; 7/5/1964; 15/6/1964; 29/8/1964) Trong bức thư của ngày
30/3/1963, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã lên án Đảng Cộng sản Trung Quốc có những đả kích không căn cứ đối với Ban chấp hành (BCH) Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô [6].
Trang 26Ngay sau đó, ngày 14/6/1963 BCH Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gửi thư phản đối Liên Xô và tiếp tục đưa ra những lời lên án Liên Xô về việc Liên Xô yêu cầu Trung Quốc rút 5 nhân viên của Đại sứ quán Trung Quốc tại Liên Xô và nghiên
cứu sinh của Trung Quốc ở Liên Xô về nước Trung Quốc khẳng định: Liên Xô đã tiếp tục làm cho mối quan hệ hai bên xấu đi nghiêm trọng, rằng Liên Xô là "chủ nghĩa xét lại", "chủ nghĩa bành trướng bá quyền" [6].
Sau khi N.Khrushchev bị hạ bệ vào tháng 10/1964, Trung Quốc đã cử một đoàn đại biểu do Chu Ân Lai dẫn đầu sang Liên Xô để hội đàm với ban lãnh đạo mới của Đảng Cộng sản Liên Xô nhằm tìm lại tiếng nói chung và chấm dứt mối bất hoà, cải thiện quan hệ hai nước, nhưng chuyến đi của các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc đã không đạt được mục đích bởi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô Malinôpxki đề nghị phía Trung Quốc phải loại bỏ Mao Trạch Đông khỏi vị trí lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc [9,125] Vì vậy, trong những năm tiếp theo, Mao Trạch Đông đã tiếp tục sử dụng mối mâu thuẫn Xô - Trung để tập hợp lực lượng, kêu gọi quần chúng nhân dân đẩy mạnh "cách mạng không ngừng" và cùng đấu tranh chống Liên Xô Cuộc đại cách mạng văn hoá vô sản của Mao Trạch Đông
từ năm 1966 chính là được gắn liền với cuộc đấu tranh chống "chủ nghĩa xét lại", chống "đế quốc XHCN"
Trong những năm 1966 - 1969, sự căng thẳng Xô - Trung không còn chỉ dừng lại ở công kích, chống đối lẫn nhau nữa mà nó ngày càng diễn tiến phức tạp, nổi bật lên là vấn đề đường biên giới giữa hai nước Vấn đề đường biên giới Xô - Trung vốn
là vấn đề tiềm ẩn từ trong lịch sử: Cuối thế kỷ XIX, sau khi trở thành một nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến, Trung Quốc đã phải kí Hiệp ước bất bình đẳng với các nước đế quốc - trong đó có Nga Với Nga, thông qua các hiệp ước Nerchinsk năm 1689; Aigun năm 1858; Peking năm 1860 và Tarbagatai năm 1864 Trung Quốc đã phải nhượng những vùng đất rộng lớn ở Trung Á và dọc biên giới phía Đông (lên tới hơn 1,5 triệu km2) cho Nga [142,76]
Đến những năm 20 của thế kỷ XX, tuy chính quyền Xô Viết đã ghi nhận tuyên
bố của Trung Quốc về việc xác định biên giới là đường trung tuyến chạy dọc, chia đôi các con sông, nhưng đến năm 1930, chính quyền Stalin đã không chấp nhận giải pháp đó mà vẫn duy trì ranh giới là bờ hữu của các con sông và kiểm soát toàn bộ các
Trang 27đảo trên các sông cũng như hoạt động giao thông trên các sông biên giới này [145,43] Khi Liên Xô từ bỏ những đặc quyền ở Trung Quốc (1954-1955), người Trung Quốc lại thận trọng nêu vấn đề biên giới [142,76] Quan điểm của Trung Quốc vẫn là muốn giải quyết vấn đề biên giới theo hướng huỷ bỏ những hiệp ước trong lịch
sử, đưa biên giới Trung Quốc trở về nguyên trạng như trước khi kí các hiệp ước Từ
đó, hai nước bắt đầu thương lượng về vấn đề biên giới, nhưng Liên Xô đã bác bỏ tất
cả những thay đổi lớn và chỉ sẵn sàng thương lượng về các tiểu tiết Các khu vực lãnh thổ tranh chấp lại có ý nghĩa rất quan trọng, hơn nữa, các nhân nhượng có thể trở thành một tiền lệ nguy hiểm trong quan hệ với các nước khác, nên vấn đề biên giới
Xô - Trung không được giải quyết
Sang thập kỷ 60 của thế kỷ XX, cùng với sự bất đồng giữa hai nước ngày càng tăng thì vấn đề biên giới cũng trở nên ngày càng căng thẳng Cuộc đàm phán thứ nhất
về biên giới Xô - Trung được tiến hành từ tháng 2 đến tháng 7 năm 1964 nhưng hai bên không ký được hiệp định về biên giới vì cả hai đều giữ nguyên lập trường [9,127] Đến tháng 9/1964, Trung Quốc yêu cầu xét lại các vùng lãnh thổ biên giới hai nước, nhưng các cuộc đàm phán diễn ra đều không đạt được kết quả cụ thể Sự bế tắc trong đàm phán đã đẩy quan hệ Xô - Trung đến tột cùng căng thẳng Từ năm
1965, quan hệ hai đảng hầu như bị cắt đứt, xung đột biên giới ngày càng tăng lên về
số lượng và cường độ [9,127] Kết quả tất yếu là cuộc "chiến tranh chính trị" được thay bằng "chiến tranh vũ trang".
Sau một quá trình các cuộc xung đột lẻ tẻ diễn ra trên dọc tuyến biên giới, ngày 2/3/1969 cuộc xung đột vũ trang đã diễn ra trên quy mô lớn tại đảo Dammanskii (Zhenbaodao) trên sông Ussuri [142,59] với sự tham gia của cả xe tăng và xe bọc thép, đẩy quan hệ Xô - Trung đến bờ vực thẳm Trong cuộc chiến này, ta không bàn đến chính nghĩa thuộc về bên nào, mà vấn đề là mục đích của cuộc chiến này là gì? Phải chăng cả Liên Xô và Trung Quốc chỉ nhằm giành hay giữ những vùng đất biên giới mà phải tiến hành chiến tranh vũ trang?
Thực chất, vấn đề mâu thuẫn biên giới Xô - Trung là một vấn đề mang tính lịch sử Mối mâu thuẫn này có từ thế kỷ XIX và trong những năm 50 của thế kỷ XX,
Trang 28nó đã từng không ảnh hưởng đến mối quan hệ "đồng minh chiến lược" Xô - Trung
Hơn thế nữa, vấn đề mâu thuẫn biên giới hai nước cũng không đủ lớn để dẫn đến một cuộc chiến tranh đẫm máu như vậy Cuộc xung đột vũ trang Xô - Trung thực ra là cuộc đọ sức nhằm kiểm định sức mạnh giữa hai cường quốc khi không nước nào chịu khuất phục nước nào Bằng chứng là nó đã diễn ra và kết thúc rất nhanh (chỉ trong
đầu năm 1969), và kết thúc khi vấn đề biên giới chưa được giải quyết bằng chiến
Như vậy năm 1969 là mốc đánh dấu sự thay đổi hoàn toàn của mối quan hệ
"đồng minh chiến lược" Xô - Trung, đẩy hai nước sang hai chiến tuyến hoàn toàn đối
đầu và thù địch với nhau
* Giai đoạn từ năm 1969 đến năm 1979
Sự đối đầu giữa hai nước XHCN lớn nhất ở thời điểm này là mong chờ của
Mỹ, là cơ hội vàng để Mỹ kéo Trung Quốc về phía Mỹ, tăng thêm đồng minh và sức
mạnh để chống Liên Xô Về phía Trung Quốc, với tư tưởng "kẻ thù của kẻ thù là bạn" từ luận thuyết của Tôn Tử, Trung Quốc đã nhanh chóng ngả về phía Mỹ, chấm dứt thời kỳ thực hiện chính sách đối ngoại "giương cung bắn cả hai phía" của những năm 1960, chuyển hướng sang thực hiện chính sách ngoại giao "một tuyến" liên minh
với Mỹ, dựa vào Mỹ để phát triển và chống Liên Xô [9,129]
Thực chất cả Mỹ và Trung Quốc đều muốn lợi dụng nhau để đạt được mục đích của mình, còn quan hệ Xô - Trung thì bị đẩy vào tình trạng không chỉ căng thẳng mà còn là thù địch một mất một còn suốt thập kỉ 70 của thế kỷ XX Mốc đánh dấu việc Trung Quốc hoàn toàn ngả về phía Mỹ, quay lưng lại với Liên Xô là năm
1972, khi Trung Quốc kí với Mỹ Thông cáo Thượng Hải [308,87] Thông cáo Thượng Hải đã trở thành sợi dây ràng buộc Trung Quốc và Mỹ vào một mối quan hệ
"đồng minh" mới: cùng chống Liên Xô [308,87]
Sau Thông cáo Thượng Hải, quan hệ Mỹ - Trung nhanh chóng phát triển, tạo điều kiện cho cả Mỹ và Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động chống Liên Xô: Mỹ đẩy
Trang 29mạnh chạy đua vũ trang, đẩy mạnh cuộc chiến tranh ở Đông Dương để thủ tiêu chủ
nghĩa cộng sản; Trung Quốc tuyên bố không gia hạn "Hiệp ước đồng minh Xô - Trung"; ủng hộ việc duy trì "Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật" ở châu Á - Thái Bình
Dương; Trung Quốc tán thành sự có mặt của Mỹ ở Đông Nam Á; Trung Quốc đặt quan hệ với NATO [131,115] Đầu năm 1971, Liên Xô đề nghị Trung Quốc kí hiệp ước không sử dụng vũ lực trong quan hệ, năm 1973 Liên Xô lại kiến nghị kí Hiệp ước không tấn công nhau giữa hai nước, nhưng Trung Quốc đã bác bỏ hai yêu cầu trên của Liên Xô, thậm chí các nhà lãnh đạo Trung Quốc còn kêu gọi thành lập mặt
trận toàn thế giới để chống Liên Xô, chống "chủ nghĩa bá quyền thế giới"[53,53]…
Quan hệ Mỹ - Trung càng phát triển bao nhiêu thì quan hệ Xô - Trung lại càng căng thẳng bấy nhiêu Từ tháng 8/1973, sau Đại Hội X Đảng Cộng sản Trung Quốc, chủ trương chống Liên Xô của đường lối đối ngoại Bắc Kinh đã được xác nhận về mặt pháp lý Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông đã đưa ra và nhấn mạnh thuyết 3 thế giới (Liên Xô và Hoa Kỳ là thế giới thứ nhất; các nước đồng minh của
Mỹ và Liên Xô là thế giới thứ 2; còn Trung Quốc và các nước đang phát triển là thế giới thứ 3) [304,60]
Thực chất, học thuyết thế giới thứ 3 của Mao Trạch Đông chỉ được dùng làm bình phong cho chính sách "liên Mỹ" của Trung Quốc, vì theo học thuyết này,
"những nước thế giới thứ 3 cần liên hiệp cùng thế giới thứ hai để triển khai cuộc đấu tranh chống "chủ nghĩa bá quyền của các cường quốc"[304,60] Trước tình hình đó,
Liên Xô đã liên minh với Ấn Độ để tạo thế cân bằng với Mỹ - Trung [9,145] Mối liên minh này vừa giúp Liên Xô có thể bao vây , uy hiếp Trung Quốc từ phía Tây, vừa kiểm soát, thậm chí tấn công Mỹ ở Đông Nam Á từ đằng sau lưng [9,145]
Mối mâu thuẫn Xô - Trung trong những năm 1970 không chỉ làm tổn hại tới quan hệ hai nước, gây bất ổn cho hệ thống XHCN, mà còn tạo nên những đe doạ cho
hoà bình, an ninh khu vực Mối mâu thuẫn này đã làm cho châu Á - Thái Bình Dương không thể yên bình như tên gọi của nó mà đứng trước nguy cơ bão táp, thậm chí phải đối mặt với "sóng thần".
Nguyên nhân của sự căng thẳng trong quan hệ Xô - Trung phải được nhìn từ
nhiều góc độ Thứ nhất, mặc dù Liên Xô và Trung Quốc cùng chung một con đường,
Trang 30cùng chung ý thức hệ, nhưng trong chính sách đối ngoại, nếu Liên Xô luôn nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của mình với các nước XHCN thì Trung Quốc luôn nhấn mạnh rằng quan hệ phải dựa trên nguyên tắc bình đẳng và độc lập [245,176] Chính vì sự bất đồng trong quan điểm nói trên đã dễ dẫn đến sự bất đồng giữa hai đảng của hai nước Khi Trung Quốc có những thất bại, chính sách "Đại nhảy vọt" bế tắc, Mao Trạch Đông đã phủ nhận con đường của Liên Xô, phủ nhận sự sùng bái Liên Xô, đòi xét lại con đường CNXH do Liên Xô khám phá và xây dựng, phê phán con đường
"giáo điều của Liên Xô" [9,146] Bên cạnh đó, trong thời gian xây dựng mối quan hệ
"đồng minh chiến lược", vấn đề biên giới chưa được giải quyết thoả mãn khiến Trung
Quốc "bằng mặt mà chẳng bằng lòng", vì thế, nó đã trở thành duyên cớ xoáy sâu vào những bất đồng giữa hai đảng của hai nước
Thứ hai, về vấn đề dân tộc, khi Liên Xô muốn giới hạn số lượng cường quốc
hạt nhân, còn Trung Quốc thì muốn phát triển loại vũ khí này[287,2] Chính vì vậy, sau khi hợp tác Xô - Trung về hạt nhân đổ vỡ (năm 1959), Bắc Kinh đã coi việc ký kết hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân năm 1963 là một âm mưu của Liên Xô nhằm cản trở Trung Quốc sản xuất vũ khí hạt nhân [287,2] Từ những bất đồng trên mà những hành động chống Liên Xô của Trung Quốc không ngừng tăng lên Thủ tướng Chu Ân Lai đã mô tả cuộc chiến tranh của Liên Xô ở Tiệp Khắc (23/8/1968) như là
một "hình thái chính trị cường quyền phát xít điển hình và trắng trợn nhất do tập đoàn xét lại Liên Xô thực hiện chống lại các nước gọi là đồng minh của mình"
[9,137] Thực chất, Trung Quốc muốn phủ nhận hoàn toàn vai trò lãnh đạo, kiểm soát các nước XHCN của Liên Xô
Thứ ba, song song với những nguyên nhân sâu xa trên, ta thấy trong thực tế của
những năm 1960 và 1970, sự chìm ngập trong khủng hoảng kinh tế, xã hội đã đẩy Trung Quốc xích lại gần Mỹ với mong muốn có một kế hoạch Marshall thứ 2 trong lịch sử Mỹ dành cho Trung Quốc [77,234], tạo cú hích cho nền kinh tế Trung Quốc nhanh chóng phục hồi và phát triển Sự liên minh Trung - Mỹ là yếu tố quyết định trực
tiếp làm tan vỡ hoàn toàn mối quan hệ "đồng minh chiến lược" Xô - Trung.
Có thể thấy, trong thập kỷ 70 của thế kỷ XX, Trung Quốc đã tích cực tìm kiếm sự tiếp cận với Mỹ, đứng về phía Mỹ để thiết lập cơ sở đấu tranh chống Liên
Trang 31Xô Cục diện mâu thuẫn Xô - Trung trong thời điểm này đã thúc đẩy cho cuộc Chiến tranh lạnh giữa hai cực Xô -Mỹ diễn ra mạnh mẽ ngay trong lòng châu Á, tác động tiêu cực đến an ninh khu vực.
1.1.3 Quá trình bình thường hóa quan hệ Xô - Trung (1980 - 1991)
Bước sang thập kỷ 80 của thế kỷ XX, cả Liên Xô và Trung Quốc đều có
những biến đổi sâu sắc về hoàn cảnh Liên Xô chìm trong khủng hoảng kinh tế, nên
song song với công cuộc cải tổ về kinh tế, Chính phủ Liên Xô đã có những thay đổi
có tính chất bước ngoặt trong chính sách đối ngoại theo hướng giảm chạy đua vũ trang, giảm sự đối đầu với Mỹ và hướng tới bình thường hoá quan hệ với Trung
Quốc Còn về phía Trung Quốc, khi thực hiện chính sách thân Mỹ, Trung Quốc đã
không xác định rằng mình đang "chơi với lửa"[9,146] Vì thế, cuối cùng thì phép tính của Trung Quốc về một kế hoạch Marshall thứ 2 từ phía Mỹ đã không thành công, thậm chí Trung Quốc đã bị lợi dụng, bị Mỹ buộc chặt vào con đường quân sự của chủ
nghĩa đế quốc, góp phần tăng cường cho chiến lược toàn cầu của Mỹ Nước cờ "liên
Mỹ chống Xô" trên cơ sở lợi dụng "thù của thù là bạn" [9,146] của Trung Quốc đã lạc
nước, khiến Trung Quốc không những không đạt được mục đích của mình mà còn có nguy cơ ngày càng bị cuốn sâu hơn vào chiến tranh lạnh Đặc biệt, mặc dù Mỹ đã
thông qua đạo luật về vấn đề quan hệ với Đài Loan (The Taiwan Relations Act) từ
tháng 3/1979: ủng hộ một nước Trung Quốc, khẳng định vấn đề Đài Loan cần phải được giải quyết bằng hoà bình…nhưng trên thực tế, Mỹ vẫn coi Đài Loan như một nước, vẫn bán vũ khí để tăng cường sức mạnh cho Đài Loan [10,62] Rõ ràng, quan
hệ Mỹ - Trung đã không diễn ra theo hướng mong muốn của Trung Quốc, Mỹ đã không thể chắp cánh cho Trung Quốc bay lên, càng không thể giúp Trung Quốc kiểm soát được Đài Loan Từ thực tế đó, buộc Trung Quốc một lần nữa phải điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình
Đúng lúc quan hệ Mỹ - Trung bế tắc theo chiều hướng xấu đi thì cũng là lúc Liên Xô sẵn sàng bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, nhằm tạo thế cân bằng lực lượng với Mỹ Tháng 3/1982 trong bài phát biểu tại Taskent, Chủ tịch Ban chấp
hành Đảng Cộng sản Liên Xô L Brejnev đã khẳng định: "Liên Xô ủng hộ việc Trung
Trang 32Quốc có chủ quyền lãnh thổ với Đài Loan"; "Liên Xô hoàn toàn không có tham vọng
về lãnh thổ với Trung Quốc"; "Liên Xô sẵn sàng khôi phục đàm phán về vấn đề biên giới Xô - Trung không kèm theo các điều kiện"[248,67]…
Ngay sau đó, trong Đại hội toàn quốc XII Đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 9/1982, Trung Quốc đã tuyên bố: ủng hộ hoà bình, chống Mỹ chạy đua vũ trang để tập trung cải cách kinh tế Cốt lõi trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc thời kỳ
này là "hoà bình, độc lập, tự chủ" [248,62], nhằm đạt được mục tiêu cao nhất là phát
triển kinh tế Để phát triển kinh tế, Trung Quốc rất cần mở cửa với bên ngoài, hơn nữa tận dụng mâu thuẫn Xô - Mỹ trong thời điểm này để thực hiện cân bằng chiến lược, chấn hưng đất nước và nâng cao vị thế của Trung Quốc là thượng sách [156,112] Từ tính toán đó, Trung Quốc bắt đầu hướng tới cân bằng Đông - Tây và
sẵn sàng bình thường hoá quan hệ với Liên Xô [156,112]
Mặc dù cả Liên Xô và Trung Quốc đều đã hướng về nhau, ngày 5/8/1982 vòng đàm phán thứ nhất cấp thứ trưởng ngoại giao hai nước về việc bình thường hoá quan hệ đã được diễn ra, song trong suốt những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX,
quan hệ Xô - Trung cũng chỉ dừng lại ở mức độ "có dấu hiệu tan băng" chứ chưa
hoàn toàn bình thường hoá bởi vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc Sự va chạm giữa hai nước, những luận điệu công kích giữa hai bên không dễ mất đi trong một sớm một chiều Hơn nữa, về phía Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình vẫn còn tỏ ra cứng rắn, đặt ra 4
điều kiện để chấp nhận bình thường hoá quan hệ với Liên Xô: Quân đội Liên Xô phải rút quân khỏi Apganixtan; rút quân khỏi Mông Cổ; rút quân khỏi biên giới Xô - Trung; chấm dứt sự ủng hộ Việt Nam ở Campuchia Thực chất trong thập kỷ 80 của
thế kỷ trước, Trung Quốc chống cả Mỹ và Liên Xô [156,112]
Đến cuối những năm 1980, khi Trung Quốc đẩy mạnh công cuộc cải cách mở cửa, nhu cầu về một môi trường hoà bình càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, Trung Quốc nhận thấy việc bình thường hoá quan hệ với Liên Xô là cần thiết [108,666], có thể làm dịu sự căng thẳng ở biên giới, có thể tập trung tài nguyên vào hiện đại hoá Trung Quốc, bên cạnh đó Trung Quốc cũng muốn phục hồi lại những nhà máy do Liên Xô giúp trước đây hơn là xây dựng những nhà máy mới vì máy móc của Liên Xô rẻ và phù hợp với điều kiện hiện đại hoá của Trung Quốc lúc đó
Trang 33[108,666], thì quyết tâm phát triển trở lại quan hệ với Liên Xô của Trung Quốc mới chính thức được khẳng định Nếu trong những thập kỷ trước đó, tư tưởng chiến lược quốc tế của Mao Trạch Đông là lấy cách mạng và chiến tranh trên phạm vi toàn thế giới làm bối cảnh để đánh giá mối đe doạ từ phía Liên Xô, thì trong thời kỳ này tư tưởng chiến lược quốc tế của Đặng Tiểu Bình là căn cứ vào tình hình biến đổi của cục diện kinh tế - chính trị quốc tế, lấy bối cảnh là công cuộc cải cách để xác định cần phải có môi trường hoà bình ở xung quanh Từ cơ sở đó, Đặng Tiểu Bình chính
là người khéo léo mở lối cho đàm phán, cải thiện quan hệ Xô - Trung
Cũng thời điểm này, Liên Xô bước vào công cuộc cải tổ Liên Xô tiếp tục
điều chỉnh chính sách đối ngoại trên cơ sở "tư duy chính trị mới" [283,320] Chính
sách này được đưa ra ở Hội nghị toàn thể uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tháng 4/1985 và tiếp tục hoàn thiện ở Đại hội lần thứ XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1986 Sự thay đổi căn bản là ở chỗ: nếu như chiến lược đối
ngoại của Liên Xô trước đó lấy ý thức hệ làm cơ sở, thì theo "tư duy chính trị mới",
Liên Xô muốn chấm dứt việc đối đầu, tạo thành một thế giới thống nhất Từ đó Liên
Xô hướng tới bình thường hoá quan hệ Xô - Mỹ, đàm phán để cắt giảm vũ khí hạt nhân, giảm chạy đua vũ trang và tiến tới đặt quan hệ hữu nghị hợp tác với tất cả các nước trên thế giới [283,320], đặc biệt là chủ động bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc
Năm 1986 Liên Xô trở lại thừa nhận Trung Quốc là một nước "XHCN, một cường quốc" [308,89], thiện chí hợp tác với Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề hoà bình ở Campuchia, Afghanistan, vấn đề bán đảo Triều Tiên ; Liên Xô chủ động rút quân khỏi Afghanistan, Mông Cổ; Liên Xô chủ động rút bớt một số đơn vị quân đội đóng ở các điểm nóng tranh chấp dọc biên giới Xô - Trung vào sâu lãnh thổ Liên
Xô [283,325]…Những việc làm này của Liên Xô khẳng định rõ thiện chí mở đường
cho đàm phán thương lượng hai nước và đẩy nhanh quá trình bình thường hoá quan
hệ Xô - Trung.
Với cả điều kiện chủ quan và khách quan thuận lợi, thúc đẩy việc nối lại quan
hệ giữa hai siêu cường cộng sản lớn nhất thế giới ở cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX,
Trang 34nên mặc dù còn nhiều bất đồng, song sự đối đầu Xô - Trung đã giảm đi nhanh chóng
và quan hệ hai nước thực sự bước vào giai đoạn tan băng Đặc biệt, vào những năm
cuối cùng của thập kỷ 80, cả Liên Xô và Trung Quốc đều phải đối mặt với những thách thức lớn: Liên Xô chìm ngập trong khủng hoảng kinh tế, chính trị; Trung Quốc điêu đứng vì sự kiện Thiên An Môn (6/1989) Một lần nữa hoàn cảnh thúc đẩy mạnh hơn nữa quá trình bình thường hoá quan hệ Xô - Trung (Liên Xô cần Trung Quốc còn Trung Quốc không thể không bình thường hoá quan hệ với Liên Xô bởi sau sự kiện Thiên An Môn, Mỹ và phương Tây thực hiện chính sách cấm vận với Trung Quốc nên Trung Quốc tất yếu phải gạt bỏ tất cả vướng mắc để nối lại quan hệ với Liên Xô) [53,55]
Năm 1989 là mốc son mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ Xô - Trung
Trong cuộc gặp gỡ cấp cao Xô - Trung tháng 5 năm 1989, hai bên đã ra Tuyên bố
chung, tuyên bố bình thường hóa quan hệ hai nước, "khép lại quá khứ, mở ra tương lai" [304,62] Năm 1989 trở thành sự kiện đánh dấu việc kết thúc 30 năm quan hệ đối
đầu căng thẳng, tạo ra một bước ngoặt căn bản trong quan hệ Xô - Trung Trên cơ sở
đó, trong hai năm 1990 - 1991, quá trình bình thường hoá quan hệ Xô - Trung tiếp tục được hoàn tất Cuộc gặp gỡ cấp cao hai nước tháng 4 năm 1990 đã diễn ra trong hoàn
cảnh cả hai nước đều đang khó khăn (Mỹ và phương tây cấm vận Trung Quốc, Liên
Xô đứng bên bờ vực thẳm), nên song song với các cuộc đàm phán của các nhà lãnh
đạo, giới quân sự hai nước cũng đã có quan hệ tiếp xúc Hai bên đã đạt được Hiệp định cắt giảm lực lượng quân sự ở biên giới và củng cố sự tin cậy lẫn nhau trong lĩnh vực quân sự Qua các cuộc hội đàm, hai bên đã xây dựng một khuôn khổ hợp tác lâu dài, cùng có lợi cả trong lĩnh vực vũ trụ và điện hạt nhân Cả hai nước đều tranh thủ hợp tác, hoà bình để giải quyết những khó khăn ở trong nước [304,65] Tiếp đó, năm
1991, bên cạnh việc ký cam kết trong khi xử lý các mối quan hệ tôn trọng sự lựa chọn con đường phát triển của mỗi bên [304,67], hai nước còn đạt được một kết quả quan trọng trong tiến trình đàm phán về điều chỉnh đường biên giới được bắt đầu từ
năm 1964, đó là "Hiệp định biên giới phía Đông Xô - Trung" được ký kết [304,67]
Tuy mới chỉ trên văn bản, song Hiệp định biên giới năm 1991 đã giải quyết được về căn bản vấn đề tranh chấp biên giới gắn với các sông Agun, Amur, Ussuri và Tumen, qua đó khẳng định thiện chí thiết lập quan hệ hoà bình của hai nước
Trang 35Sau sự sụp đổ của Liên Xô, ngay trong tháng 12 năm 1991 Trung Quốc đã công nhận Liên bang Nga với tư cách là nhà nước kế thừa hợp pháp những quyền lợi
và trách nhiệm quốc tế của Liên Xô và chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên bang Nga vào ngày 27 tháng 12 năm 1991 [219,14], mở ra một giai đoạn mới cho sự phát triển của quan hệ hai nước
Sau hơn 4 thập kỷ với đầy những biến cố, quan hệ Xô - Trung (1949 - 1991) đã
để lại cho hai nước những bài học kinh nghiệm quý báu từ thực tiễn Thứ nhất, trong
giai đoạn quan hệ đồng minh chiến lược (1949 - 1959), Liên Xô và Trung Quốc đã tư tưởng hoá quan hệ hai nước Sự chi phối của ý thức hệ đã dẫn đến sự bênh vực những
tư tưởng và cách nhìn nhận của mình trong xây dựng chế độ xã hội, sự kiến giải về nguyên tắc xây dựng CNXH và những vấn đề tư tưởng khác Hệ luỵ của vấn đề này là quan hệ hai nước không tránh khỏi sự phụ thuộc lẫn nhau về lý luận, luận điểm, đường lối Vì vậy, bài học được cả Liên Xô và Trung Quốc rút ra vào cuối những năm 1980
là bình thường hoá quan hệ thực sự chỉ có thể được diễn ra khi hai nước đã giải toả được hệ tư tưởng, khi ý thức hệ và các vấn đề phát triển nội bộ của mỗi nước được nằm ngoài khuôn khổ chương trình nghị sự của quan hệ hai nước [290,20] Chính từ những bài học kinh nghiệm này, hai nước đã xây dựng những nguyên tắc bình thường
hoá quan hệ năm 1989 là "không quay trở lại là liên minh chiến lược của những năm
1950, không để nảy sinh những đối đầu như những đối đầu như những năm 1960 - 1970… Nền tảng của quan hệ là những tiêu chuẩn quốc tế được xã hội thừa nhận, quyết tâm phát triển mối quan hệ hợp tác trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào ông việc nội
bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi" [219,16].
Thứ hai, khi quan hệ Xô - Trung bước vào thời kỳ mâu thuẫn, xung đột, cả hai
nước đã phải trả giá đắt về lợi ích dân tộc Suốt từ cuối những năm 1960 tới năm cuối của thập niên 1970, để phục vụ cho chiến tranh, Trung Quốc đã phải chi cho quân sự trên 1/2 ngân sách quốc gia một năm [290,23], còn Liên Xô cũng đã tiêu tốn tới 200
tỷ Rúp cho việc xây dựng các công trình quân sự dọc biên giới hai nước [290,23] Chính bài học kinh nghiệm này đã tạo cơ sở cho hai nước thực hiện bình thường hoá quan hệ bắt đầu từ việc giải toả tư tưởng, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, tìm kiếm
Trang 36những đồng thuận trong giải quyết mọi mâu thuẫn, tận dụng lợi thế đường biên giới trải dài để phát triển quan hệ hợp tác chiến lược
Như vậy, từ những năm 1980, Liên Xô đã từng bước cải thiện mối quan hệ sau hai mươi năm đầy sóng gió, đưa quan hệ Xô - Trung đi từ bình thường hoá đến
ổn định Tuy hai nước không trở lại mối quan hệ đồng minh chiến lược như những
năm 50 của thế kỷ XX, nhưng Liên Xô và Trung Quốc đã xây dựng quan hệ mới trong khuôn khổ năm nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi Trải qua các bước thăng trầm, từ quan hệ đồng minh chiến lược, đến bất đồng, thù địch tới bình thường hoá quan hệ, những bài học kinh nghiệm trong quan hệ Xô - Trung (1949 - 1991) chính là cơ sở nền tảng cho quan hệ Nga - Trung
1.2 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỐI QUAN HỆ LIÊN BANG NGA - CHND TRUNG HOA (1992 - 2008)
1.2.1 Bối cảnh quốc tế sau Chiến tranh lạnh và ảnh hưởng của nó tới
quan hệ Nga - Trung
Bối cảnh quốc tế là nhân tố khách quan phức tạp và biến đổi khó lường nhất, tác động trực tiếp đến chính sách đối ngoại của các nước nói riêng và tới quan hệ quốc tế nói chung Những biến đổi của quan hệ quốc tế sau Chiến tranh lạnh được nhìn nhận ở các lĩnh vực sau:
Thứ nhất, về cục diện chính trị thế giới: Cục diện chính trị luôn được xem là
nhân tố quan trọng trong việc hoạch định chính sách đối ngoại của các quốc gia Chiến tranh lạnh chấm dứt, trật tự hai cực Ianta sụp đổ, thế giới bước vào thời kỳ quá
độ hình thành một trật tự thế giới mới, quan hệ quốc tế đang trong quá trình cơ cấu lại, vì vậy, các quốc gia đều thực hiện điều chỉnh chiến lược để nhằm giành cho mình một vị trí tối ưu trong trật tự thế giới và quan hệ quốc tế mới Tuy sự điều chỉnh chiến lược này được xuất phát từ những lợi ích dân tộc khác nhau, nhưng nó lại được
thúc đẩy bởi những nhân tố khách quan chung Một là, Chiến tranh lạnh chấm dứt, sự
đối đầu trong quan hệ và nhất là sự đối đầu về ý thức hệ mất đi, đưa thế giới chuyển sang thời kỳ vừa đấu tranh vừa hợp tác trong cùng tồn tại hoà bình, hoặc ít nhất là
tránh đối đầu Hai là, sự tan rã của trật tự hai cực, sự sụp đổ của Liên Xô làm cho Mỹ
Trang 37trở thành siêu cường duy nhất còn lại trên thế giới, do đó Mỹ ra sức đẩy mạnh quá trình đơn cực hoá thế giới, khiến cho các nước lớn khác như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, EU… phải đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế để chống lại khát vọng thế giới đơn cực của Mỹ Trong hoàn cảnh đó, toàn cầu hoá đặt ra yêu cầu cho các nước là phải đẩy mạnh hợp tác, còn chặng đường quá độ của một trật tự thế giới mới thì buộc các nước phải nâng cao hợp tác để chống âm mưu đơn cực hoá thế giới của
Mỹ Như vậy, hoàn cảnh khách quan đã thúc đẩy quan hệ quốc tế phát triển cả về bề rộng và chiều sâu.
Những nhân tố trên của bối cảnh quốc tế mới đã thúc đẩy quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của các quốc gia để nắm bắt thời cơ và đối phó với những thách thức mới Dù mỗi nước có lợi ích dân tộc khác nhau, nhưng trong hoàn cảnh này, muốn hay không muốn, các nước đều phải lệ thuộc vào nhau, phải hợp tác với nhau
dù chỉ là chiến thuật, để cùng phát triển hoặc cùng đối phó với những vấn đề đe doạ
sự sinh tồn của mỗi nước và thế giới Vì vậy, các quốc gia, dân tộc, dù lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu đều tăng cường hợp tác, liên kết với nhau theo nhiều tầng nấc Nhìn chung, hầu hết các nước trên thế giới hiện nay đều chọn chính sách đa phương hoá,
đa dạng hoá quan hệ để tạo dựng cho mình một vị trí có lợi nhất trên trường quốc tế
Tuy nhiên, một vấn đề hiển nhiên từ trong lịch sử là các cường quốc có vai trò, vị trí quyết định, chi phối hệ thống quan hệ quốc tế [215,90] Vì thế, hơn bao giờ hết, quan hệ giữa các cường quốc trong thời kỳ quá độ này đang diễn tiến mạnh mẽ
và đầy phức tạp, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, vừa kiềm chế lẫn nhau nhằm tạo ra một cục diện thế giới mới [215,90] Hoàn cảnh đó chính là điều kiện khách quan cho sự ra đời của mối quan hệ đối tác chiến lược Nga -Trung
Thứ hai, về cục diện kinh tế thế giới: Sau Chiến tranh lạnh, vấn đề kinh tế là
nhân tố hàng đầu quyết định vị thế của mỗi dân tộc, vì vậy quốc gia nào cũng đặt vấn
đề ưu tiên phát triển kinh tế lên hàng đầu trong chương trình hành động của mình [143,25]
Điểm nổi bật của tình hình kinh tế thế giới từ sau Chiến tranh lạnh kết thúc đến nay là sự tăng trưởng tương đối liên tục, tuy không cao và chưa thật ổn định
Trang 38Nguyên nhân là do Chiến tranh lạnh kết thúc đã phá vỡ bức tường ngăn chia kinh tế thế giới thành hai nền kinh tế đối lập nhau để đưa nền kinh tế thế giới trở thành một thị trường thống nhất cùng với khoa học công nghệ không ngừng phát triển, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ.
Xu hướng lớn nhất, bao trùm nền kinh tế thế giới từ sau Chiến tranh lạnh đến nay là xu hướng toàn cầu hoá kinh tế, tự do hoá thương mại Sự liên kết hoá, toàn cầu hoá đã đẩy mạnh quá trình giao lưu kinh tế [143,25] Tuy nhiên, trong thực tế, sự phát triển không đều giữa các nước vẫn diễn ra tất yếu, vì vậy nó tạo nên một cuộc cạnh tranh rất quyết liệt giữa các nước và các khu vực
Trong quá trình cạnh tranh và phát triển, các nước đều đã thấy rõ toàn cầu hoá kinh tế không chỉ tạo ra những cơ hội, mà còn có cả những thách thức lớn lao Cơ hội cho kinh tế phát triển với tốc độ nhanh, quy mô lớn được tồn tại song song với những mâu thuẫn, xung đột và sự cạnh tranh gay gắt, phức tạp, những chấn động lớn về kinh tế, những biến động về thị trường Trong xu thế ấy, các quốc gia không thể đặt mình nằm ngoài vòng xoáy phát triển của thế giới Vì vậy, cục diện kinh tế thế giới hiện nay có tác động căn bản tới việc hoạch định chính sách đối ngoại của các nước
Thứ ba, về tương quan lực lượng trên thế giới sau Chiến tranh lạnh: Nếu như
trong Chiến tranh lạnh, tương quan lực lượng trên thế giới được phân tuyến rõ ràng, một bên là CNXH, một bên là CNTB, mọi mối quan hệ quốc tế đều bị chi phối bởi trật tự hai cực, thì sau năm 1991 cục diện thế giới cũng như cấu trúc quyền lực quốc
tế và thế cân bằng chiến lược trên phạm vi toàn cầu đã có những thay đổi căn bản CNTB - đứng đầu là Mỹ - đã chi phối mạnh mẽ đời sống quốc tế Trật tự thế giới mới đang trong quá trình thai nghén, không phải là đơn cực nhưng cũng không hẳn là đa cực Vì vậy, nói đến tương quan lực lượng trên thế giới hiện nay là nói đến thực lực của các trung tâm quyền lực và tương quan lực lượng giữa các nước lớn như Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Trung Quốc, Nga và quan hệ giữa các trung tâm này
Sau Chiến tranh lạnh, sự vận động của thế giới luôn bị chi phối bởi các nước lớn mà nổi lên hàng đầu là vai trò của Mỹ [78,61] Mỹ là cường quốc có tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật hùng mạnh vượt xa tất cả các đồng minh và đối
Trang 39thủ Bên cạnh thực lực, một yếu tố nữa góp phần nâng cao vai trò và sức mạnh của
Mỹ là tất cả các nước lớn khác đều tránh đối đầu với Mỹ - cho dù giữa họ và Mỹ tồn tại nhiều mâu thuẫn - nhưng họ đều cố gắng tỏ ra rất mềm mỏng để không làm cho quan hệ với Mỹ đổ vỡ Ngoài ra các nước lớn cũng không có ý định hợp tác với nhau lập thành mặt trận chống bá quyền của Mỹ Do đó Mỹ vẫn khẳng định được sức mạnh tuyệt đối so với các nước lớn khác, từ đó Mỹ đã và đang khai thác triệt để cục diện được hình thành hết sức có lợi cho Mỹ để đi tới khẳng định sự thống trị tuyệt đối của mình với toàn thế giới Tuy nhiên, từ năm 2001 đến nay, trong tương quan lực lượng của thế giới đã có những biến động mạnh mẽ, Mỹ vẫn là siêu cường duy nhất, song bên cạnh "nhất siêu" Mỹ, các "đa cường" đã không ngừng lớn mạnh Trung Quốc và Nga ngày càng nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, từng bước vô hiệu hoá sức ép của Mỹ Các nước EU và Nhật Bản cũng không ngừng vươn lên, tuy vẫn gắn bó với Mỹ nhưng các quốc gia này cũng đều đã muốn độc lập hơn, kiềm chế bớt sự lộng quyền của Mỹ và thúc đẩy xu thế đa cực hoá thế giới [18,102] Trong hoàn cảnh đó, Mỹ càng coi trọng mục tiêu chiến lược là ngăn chặn sự xuất hiện đối thủ có khả năng thách thức địa vị siêu cường độc tôn của mình trên thế giới bao nhiêu, lại càng tác động mạnh mẽ đến cục diện quan hệ giữa các nước bấy nhiêu, càng tạo động lực thúc đẩy sự hình thành của các cặp quan hệ đối tác chiến lược mới
Thứ tư, sự thay đổi căn bản về tư duy quan hệ quốc tế của các nước cũng là
cơ sở của những bước phát triển mới trong quan hệ quốc tế Xuất phát từ sự thay đổi
về tư duy chiến lược là đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, các khái niệm trong chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế cũng đã hoàn toàn thay đổi, khái niệm liên minh được thay bằng khái niệm đối tác và hình thức quan hệ vừa hợp tác vừa cạnh tranh trở thành phổ biến trong quan hệ quốc tế [58,19] Xuất phát từ lợi ích quốc gia, bên cạnh việc các nước tìm mọi cách duy trì môi trường hoà bình và linh hoạt, uyển chuyển thực hiện chính sách đối ngoại nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển đất nước thì sự cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng mạnh mẽ Tính cạnh tranh đã trở thành vấn
đề cốt lõi trong quan hệ quốc tế và chính nó đã tạo nên cơ sở thúc đẩy sự hợp tác giữa các quốc gia
Trang 40Nổi lên trên trường quốc tế trong những năm qua là sự cạnh tranh giữa các nước lớn "Nhất siêu" Mỹ cạnh tranh để giữ vị thế độc tôn, còn các "đa cường" cạnh tranh để vươn lên, khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế Cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa các cặp quan hệ như Mỹ - Nga, Mỹ - Trung, Trung - Ấn, Trung - Nhật, Nga - EU, Nga - Mỹ - Trung, Nga - Trung - Ấn… đã và đang có tác động nhiều chiều đến quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ Nga - Trung nói riêng Cả Mỹ và Nhật Bản đều coi sự phát triển của Trung Quốc là một mối đe doạ, dẫn đến liên minh
Mỹ - Nhật ngày càng được củng cố Để kiềm chế Nga và Trung Quốc, Mỹ đã dựa vào Nhật Bản, lôi kéo Ấn Độ, ngược lại, nhu cầu cạnh tranh với Mỹ đã đẩy Nga và Trung Quốc tựa lưng vào nhau, cùng đẩy mạnh hợp tác Cuộc cạnh tranh giữa Trung Quốc và Ấn Độ ở Ấn Độ Dương đã tạo lý do cho Mỹ hỗ trợ Ấn Độ phát triển để cân bằng ảnh hưởng đang gia tăng của Nga và Trung Quốc trong khu vực cũng là nguồn động lực thúc đẩy quan hệ Nga - Trung phát triển trong những năm qua Như vậy, với tư duy mới trong quan hệ quốc tế, sự cạnh tranh giữa các nước ngày càng mạnh
mẽ, song chính yếu tố cạnh tranh này lại là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự hợp tác giữa các nước phát triển
Có thể thấy, mâu thuẫn cơ bản của thế giới sau Chiến tranh lạnh là mâu thuẫn
giữa xu hướng đơn cực và xu hướng đa cực giữa Mỹ với các cường quốc [98,61] Vì
vậy, mối quan hệ giữa các nước lớn từ sau Chiến tranh lạnh đến nay đã thay đổi cả về hình thức lẫn nội dung Tuy vẫn tồn tại những mâu thuẫn, nhưng các nước lớn đã tìm mọi cách để giải quyết các mâu thuẫn, xây dựng lòng tin, thúc đẩy hợp tác và can dự
Sự thay đổi về cục diện kinh tế, chính trị thế giới, về tương quan lực lượng và
về tư duy quan hệ quốc tế đã đưa đến đặc điểm nổi bật của quan hệ quốc tế giai đoạn này là hòa hoãn để phát triển, đối thoại thay cho đối đầu, nhưng có rất nhiều nguyên nhân khiến cho hòa bình thế giới vẫn bị đe dọa Sự hình thành của trật tự thế giới mới đang ở chặng đường quá độ nên đã tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn nhằm tìm kiếm địa vị chính trị của mình Bên cạnh đó, xu thế toàn cầu hoá ngày càng phát triển sâu rộng, đặt ra yêu cầu cho các nước phải tăng cường hợp tác Hoàn cảnh mới của thế giới đã đặt ra yêu cầu với các nước là phải điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình, đặc biệt là với các nước lớn