1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hệ thống ngữ âm tiếng lạch (có so sánh với tiếng stiêng bu deh)

190 108 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 190
Dung lượng 5,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự thiếu sót này ảnh hưởng đến việc nỗ lực khảo sát một cách tường tận tiếng Kơho, với tư cách là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học lí thuyết, cũng như cho việc xây dựng chương trình

Trang 1

NGUYỄN VÕ LỆ QUYÊN

HỆ THỐNG NGỮ ÂM TIẾNG LẠCH

(CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG STIÊNG BU DEH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2012

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN VĂN HUỆ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2012

Trang 3

thân thì chưa đủ Luận văn này sẽ không thể hoàn tất nếu không có sự hỗ trợ, giúp đỡ của nhiều người khác

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Văn Huệ, người đã trực tiếp hướng dẫn, khích lệ tinh thần tôi để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời tri ân đến PGS.TS Lê Khắc Cường, người đã động viên, truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích để tôi có thể viết xong đề tài này

Tôi xin cảm ơn GS.TS Bùi Khánh Thế, TS Tô Đình Nghĩa, TS Nguyễn Thị Phương Trang đã chân thành góp ý để tôi chỉnh sửa luận văn tốt hơn Nhưng tiếc là rất khó khăn trong việc chỉnh sửa tên đề tài Nếu có thể chỉnh sửa tên đề tài thành “Hệ thống ngữ âm tiếng Kơho Lạch” và nội dung giảm bớt chương 4 thì có lẽ luận văn sẽ cô động hơn Tôi cũng xin cảm ơn quý thầy cô giáo Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn –ĐHQG TP Hồ Chí Minh đã trang bị cho tôi những kiến thức nền tảng về chuyên ngành Ngôn ngữ học để tôi có thể bắt tay vào tiến hành nghiên cứu đề tài này

Tôi xin cảm ơn Sở Nội vụ, Ban Dân tộc, Sở Văn hoá Thể thao Du lịch, Đài Phát thanh Truyền hình Lâm Đồng, Uỷ ban Nhân dân thị trấn Lạc Dương, Phòng Văn hoá Thông tin thị trấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng, Uỷ ban Nhân dân xã An Khương, huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước đã giúp tôi có được tư liệu cần thiết trong quá trình thu thập tài liệu

Tôi xin cảm ơn các cộng tác viên người Kơho và Stiêng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Đặc biệt là các cộng tác viên người Lạch sau: Dagout Kơmlơi (già làng), Pangting Ben Siên (đã từng làm việc tại Đài Phát thanh Truyền hình Lâm Đồng), Krajanõ Mơ (trưởng nhóm giao lưu văn hoá cồng chiêng Langbiang), Cil Hoh (thầy giáo), Krajanõ Dick (nhạc sĩ), Dagout Trí (Phó Chủ tịch UBND thị trấn Lạc Dương), Krajanõ Juê (Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân thị trấn Lạc Dương)

Tôi cảm ơn bạn bè gần xa đã giúp đỡ khi tôi cần

Cảm ơn ba mẹ và những người trong dòng họ tôi vì đây là nguồn động viên rất lớn về mặt tinh thần để tôi không ngừng phấn đấu và quyết tâm hoàn thành luận văn của mình

Trang 4

theo yêu cầu của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ ngày 21/11/2012

Tp Hồ Chí Minh, ngày 1 tháng 12 năm 2012

Chủ tịch Hội đồng

GS TS Bùi Khánh Thế

Trang 5

âm tiếng Stiêng, chúng tôi sử dụng chữ viết theo quyển từ điển “Lorraine Haupers, Ralph Haupers, (1999), Stiêng – English Dictionary, Summer Institute of Linguistics” Tuy nhiên, để tiện đối chiếu, chúng tôi thay đổi một số chữ viết trong tiếng Stiêng theo chữ viết của tiếng Kơho, đó là các chữ sau:

Chữ viết trong từ điển Stiêng - English Chữ viết trong luận văn

eâeâ /e/ eâ /e/ ôô // ô // oâoâ /o/ oââ /oê/

ee // e/ aa /a/ a /aê/ oo // o //

Trang 6

Trong tiếng Kơho Lạch, thanh cao khơng cĩ dấu ghi (chẳng hạn: gar “hạt”) hoặc ghi dấu  khi cĩ âm tắc thanh hầu ở cuối từ (chẳng hạn: dă “cái bẫy”)

Khi phiên âm, thanh cao được ghi số 1 Ví dụ: gar /gar/1 ; dă /a/1 Thanh thấp được ghi dấu  trên chữ viết, ghi số 2 khi phiên âm Ví dụ: gàr /gar/2

“cố gắng”; dà /a/2 “n ớc

Trang 7

/tnm/  /trnm/  /trnm/  /trnm/  /rnm/ (rượu cần) “  “ biến đổi thành Ví dụ /rpu/  /pu/ (con trâu)

“ : “ dùng để chú thích nghiã Ví dụ: jak : giỏi

Trang 8

Kí hiệu phiên âm sử dụng trong luận văn

DẪN NHẬP 1

1.Vài nét về người Lạch 1

2 Lí do chọn đề tài 6

3 Mục đích nghiên cứu 7

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 14

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 15

8 Bố cục luận văn 15

CHƯƠNG 1 TIỀN ÂM TIẾT 17

1.1.Từ ngữ âm học 17

1.2 Mô hình cấu trúc từ ngữ âm 21

1.3 Mô tả tiền âm tiết 22

1.3.1 Âm đầu của tiền âm tiết 22

1.3.2 Nguyên âm tiền âm tiết 24

1.3.3 Âm cuối tiền âm tiết 25

1.4 Một số tiền âm tiết 26

1.5 Tiền âm tiết và phụ tố 31

1.6 Các biến thể của tiền âm tiết 32

1.6.1 Rụng nguyên âm của tiền âm tiết 32

1.6.2 Rụng phụ âm đầu và nguyên âm, giữ lại phụ âm cuối của tiền âm tiết32 1.6.3 Rụng phụ âm cuối tiền âm tiết 32

1.6.4 Rụng toàn bộ tiền âm tiết 33

1.7 Tiểu kết 33

Trang 9

2.2.1 Phương thức phát âm 35

2.2.2 Vị trí cấu âm 35

2.2.3 Bảng hệ thống phụ âm đầu 36

2.3 Trường hợp các phụ âm tắc 36

2.3.1 Một số cách miêu tả về các phụ âm tắc 36

2.3.2 Cách phân loại được sử dụng trong luận văn về các phụ âm tắc 38

2.4 Đối lập các âm vị phụ âm đầu 44

2.5 Tổ hợp phụ âm đầu 50

2.5.1 Phân loại tổ hợp phụ âm đầu 50

2.5.2 Một số vấn đề liên quan đến tổ hợp phụ âm đầu âm tiết chính 52

2.6 Tiểu kết 54

CHƯƠNG 3 PHẦN VẦN 55

3.1 Âm đệm 56

3.2 Âm chính 57

3.2.1 Nguyên âm đơn 58

3.2.2 Nguyên âm đôi 65

3.2.3 Đối lập các âm vị nguyên âm 66

3.3 Âm cuối 68

3.3.1 Hệ thống âm cuối 68

3.3.2 Đối lập các âm vị âm cuối 69

3.4 Thanh điệu 72

3.5 Tiểu kết 79

Trang 10

4.1.1 Về từ ngữ âm học 81

4.1.2 Về mô hình cấu trúc từ ngữ âm 81

4.1.3 Về tiền âm tiết 82

4.1.3.1 Về âm đầu của tiền âm tiết 82

4.1.3.2 Về nguyên âm tiền âm tiết 85

4.1.3.3 Về âm cuối tiền âm tiết 86

4.1.3.4 Một vài ví dụ về tiền âm tiết trong tiếng Stiêng Bu Deh 87

4.1.4 Về hệ thống phụ âm đầu 87

4.1.4.1 Về phụ âm đầu 87

4.1.4.2 Về tổ hợp phụ âm đầu 92

4.1.5 Về phần vần 93

4.1.5.1 Về âm đệm 94

4.1.5.2 Về âm chính 94

4.1.5.3 Về âm cuối 97

4.1.6 Về thanh điệu 98

4.2 Một số tương ứng ngữ âm trong tiếng Kơho và tiếng Stiêng 99

4.2.1 Về tiền âm tiết 100

4.2.2 Về âm tiết chính 101

4.2.3 Một số tương ứng ngữ âm giữa các ngôn ngữ, phương ngữ 109

4.3 Tiểu kết 112

KẾT LUẬN 116

TÀI LIỆU THAM KHẢO 125

PHẦN PHỤ LỤC Phụ lục 1 1

Bảng đối chiếu từ ngữ Việt – Kơho Lạch – Kơho Srê – Stiêng Bu Deh Phụ lục 2 : Danh sách cộng tác viên 47

Trang 11

1 Vài nét về người Lạch

Nguồn gốc: Người Lạch (hay còn viết Làc, Lac, Lạt, Lát, M’lates) là tên gọi

một nhóm cư dân người Kơho, sống lâu đời trên cao nguyên Langbiang “Làc”, theo tiếng địa phương, có nghĩa là rừng thưa dùng để chỉ vùng rừng thông, đồi trọc

từ dãy Langbiang trải dài xuống Tây Nam, bao gồm cả thành phố Đà Lạt ngày nay

Địa bàn cư trú: Người Lạch là cư dân bản địa tại Đà Lạt “Đà Lạt” bắt nguồn

từ chữ “dà làc” (vùng đất của người Lạch, vùng rừng thưa) Sau nhiều lần du canh

du cư, hiện nay người Lạch tập trung phần nhiều tại huyện Lạc Dương và một số khu vực tại thành phố Đà Lạt, huyện Lâm Hà, Đức Trọng, Đơn Dương … tỉnh Lâm Đồng

Hôn nhân: Trong xã hội truyền thống của người Lạch đã tồn tại hai hình thức

gia đình theo chế độ mẫu hệ: gia đình lớn và gia đình nhỏ Người phụ nữ đóng vai trò chủ động trong hôn nhân Sau hôn lễ, người đàn ông về nhà vợ ở (nếu gặp trường hợp gia đình hiếm muộn thì người phụ nữ vẫn có thể ở nhà chồng), con cái tính dòng họ theo mẹ, con gái là người thừa kế

mẹ ruột của người chồng đi rước người chồng về gọi là “lòt thềl”

Chế độ một vợ một chồng đối với dân tộc Lạch được xác lập rất rõ ràng và bền chặt Tục “nối dây” cho tới nay vẫn còn tồn tại nhưng không phổ biến như trước

Trang 12

chồng hoặc vợ của các dòng họ thù địch hoặc là người bị tình nghi là “ma lai” Con chú với con bác và con dì không được lấy nhau Trái lại, hôn nhân con cô con cậu được khuyến khích Sau khi vợ chết, người chồng có thể kết hôn với người

em gái của vợ Và ngược lại, nếu chồng chết, người vợ góa có thể kết hôn với người

em trai của chồng nếu đôi bên ưng thuận Hôn nhân của người Lạch dựa trên cơ sở

sự ưng thuận giữa hai bên trai gái, cha mẹ không quyết định

Trang phục: Trang phục của người Lạch rất đơn giản Ngày xưa, tất cả đều

cởi trần, đàn ông đóng khố, phụ nữ quấn váy ngắn Ngày nay, người Lạch đã mặc thêm áo thổ cẩm Trước đây, khi vải còn khó tìm, họ đã dùng vỏ cây rừng ngâm cho hết nhựa, gấp đôi lại khoét cổ và ống tay, khâu lại bằng dây mây để làm áo chống rét Do điều kiện hiếm hoi nguyên liệu bông sợi, nghề dệt của người Lạch vì vậy cũng không phát triển, họ phải mua vải của người Cil, Mnông, Chăm Phụ nữ Lạch khi có con nhỏ thường địu con trên lưng (bă kòn) với tấm khăn dài (ui) Trang sức

là những vòng cổ, vòng tay, cườm, khuyên căng tai hoặc ngà voi, răng nanh, móng vuốt của thú rừng đã có được sau những trận vật lộn với thú dữ

Thức ăn: Người Lạch gắn bó với núi rừng, nương rẫy nên các món ăn của họ

là các loại rau rừng (biêp nsai, biêp kơsiêu, …), nấm (pơsềt), các loại trái rừng (plê kơtuôl, plê pơlui, plê lò, plê sơr, plê kơ–àl,…), các loại cà (prền, blơn,…), ngô (mbao), khoai lang (bum hlao), khoai môn (bum trô), khoai mì (bum blàng), bí đỏ (trơpuôl), bầu (lềng)… Thịt, cá được nấu với ruột cây chuối (puôc klòr ju, ka klòr

ju, làng ju) Da trâu (kơltô rơpu) được phơi khô, cất giữ lâu năm, khi thiếu thức ăn thì đem ra chế biến thành món pơm kơltô Canh thường được nấu từ nhiều loại cà, rau với thịt, cá, nòng nọc (klôn) Người Lạch cũng thường ăn các loại thức ăn ủ chua như: cháo chua (pòr), mắm cá (ka sràt), mắm tôm (ti sràt), măng chua (bang sràt)… Cơm canh trước kia được nấu trong ống tre, sau đó mới có nồi đất, nồi đồng

và gang thay thế Các món được chế biến khô để tiện việc ăn bốc Ngày nay, do tiếp xúc nhiều với người Kinh nên người Lạch không còn ăn bốc nữa, nhưng các món ăn truyền thống vẫn được lưu giữ

Trang 13

Tín ngưỡng, tôn giáo: Do trình độ phát triển xã hội còn thấp, người Lạch tin

rằng mọi mặt đời sống của mình đều do các thế lực siêu nhiên quyết định Chẳng hạn mùa màng tốt là do thần linh ban cho, ốm đau là do ma quỷ ám hại Tín ngưỡng

về siêu nhiên của người Lạch cũng như các dân tộc khác ở Tây nguyên nói chung tập trung vào ý niệm một bên là thần thánh (yàng) luôn luôn phù hộ con người và một bên là ma quỷ (cà) luôn luôn làm hại con người

Về thần thánh (yàng), trong quan niệm của người Lạch nói riêng, người Kơho nói cung, có một vị thần tối cao khai sáng ra vũ trụ, luôn luôn che chở cho con người là thần Ndu Mặc dù là vị thần hiện diện ở khắp nơi, có quyền năng tuyệt đối nhưng ít gần gũi bằng những vị thần ở ngôi vị thấp hơn Trong các dịp tế lễ, người Lạch thường cầu các vị thần như thần mặt trời (yàng mat tơngê), thần mặt trăng (yàng khê), thần núi (yàng yồ), thần nước (yàng dà), thần ruộng (yàng srai),… Tất

cả những vị thần này đều có bản chất tốt, làm điều lành cho con người

Đối nghịch với thần là ma quỷ (cà), luôn gây ra những tai họa cho con người như phá hoại mùa màng, gieo các bệnh tật Mục tiêu chính của “cà” là làm hại con người

Do quan niệm về sự chi phối của thần và ma quỷ đối với đời sống, người Lạch thường phải cúng kiếng để cầu xin vào các dịp như mùa màng, hôn nhân, tang ma,

ốm đau… Để giao tiếp với các đấng siêu nhiên cần phải có thầy phù thủy (pồ gru),

họ là những người thường đứng ra lo việc cúng tế cho cả buôn làng và chữa bệnh cho dân trong buôn bằng thuốc và bằng pháp thuật Ngoài những lúc đi chữa bệnh hoặc cúng thần trừ tai hại cho dân làng, thầy phù thủy vẫn làm những công việc như bất cứ người nào trong buôn

Hiện nay, đa số người Lạch theo Thiên chúa giáo, cũng có những người Lạch theo đạo Tin lành

Hình phạt: Có một số tội phạm và hình phạt sau đây được coi là quan trọng:

Ăn cắp, lừa gạt, bội tín: Tội phạm này bị xét xử bằng cách nấu chì chảy đổ vào

lòng bàn tay, nhúng tay vào nồi nước đang sôi đề lấy một vật như chiếc vòng, cây

Trang 14

hoàn trả, đền bù của cải cho nạn nhân và bị mọi người khinh rẻ

Loạn luân: Những hình phạt nặng về việc làm nhục, bêu rếu như kẻ loạn luân

phải ăn trong máng heo, chui qua bụng trâu bò, bị mọi người nhổ nước bọt vào người

Ma lai: Trong quan niệm người Lạch, ma lai là những kẻ làm hại tính mạng

người khác, gây cho người trong buôn ốm đau, chết chóc Vì vậy, ma lai bị trừng trị rất nặng, những người có ma lai bị những người trong buôn ruồng bỏ, giết hại Người Lạch còn cho rằng ma lai có dòng, lưu truyền nên con cháu kẻ bị nghi là ma lai cũng có thể bị giết hại hoặc đem bán cho người xứ khác

Tổ chức quản lí xã hội: Bon là đơn vị cư trú của người Lạch, giống như làng

xóm người Việt, hay các buôn, plei, sok của một số dân tộc thiểu số khác Mỗi bon của người Lạch trước đây thường gồm bốn, năm nhà dài Mỗi nhà dài là một đại gia đình huyết tộc, không có vách ngăn Trước đây, người Lạch thường sống du canh

du cư Hiện nay, nhiều bon đã ở cố định Các nhà dài đã biến mất, xuất hiện những ngôi nhà trên nền đất nhỏ bé theo từng gia đình

Đứng đầu bon là koang bon (chủ bon) Đó là người đàn ông có uy tín trong dân bon, có nhiều kinh nghiệm sản xuất, sinh hoạt, là người am hiểu truyền thống, phong tục tập quán, các cách giải quyết theo luật tục, rành rọt về mối quan hệ giữa các dòng họ, các thành viên trong bon

Già làng cũng có vai trò quan trọng trong việc quản lý các bon Đó là người đàn ông có uy tín, đức độ, hiểu biết, cư trú lâu trong bon, được nhân dân trong bon coi như lớp người "tinh hoa" của bon Vai trò chính của già làng là tư vấn cho koang bon giải quyết các việc quan trọng

Tộc trưởng là người đứng đầu dòng họ trong mỗi bon Đây là người lớn tuổi

và thuộc thứ bậc lớn nhất trong một họ Tộc trưởng cũng là người đứng đầu nhà dài Mỗi bon có bao nhiêu họ (hoặc có bao nhiêu nhà dài) thì có bấy nhiêu tộc trưởng

Kinh tế: Chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi

Trồng trọt: chủ yếu trồng các loại hoa, rau, đậu, bắp, khoai, hồng, bơ, dâu tây

Trang 15

heo, gà, vịt

Ngồi ra cịn phát triển nghề buơn bán, rèn, dệt thổ cẩm, đan lát (chủ yếu đan chiếu (bềl), gùi lớn (sah), gùi nhỏ (trị), rọ xúc cá loại lớn (đêr), loại nhỏ (pàm), làm than đốt Cĩ các loại cây dẻ làm than củi như: chi cha, chi chriêu, chi tờu, chi pơrgoh, chi rơngiêl

Giải trí: đua ngựa khơng yên Ngựa đua khơng mang yên, thường đua lúc

nơng nhàn, lễ hội, số lượng người đua khơng hạn chế, do người đua thỏa thuận cự li

và hình thức đua, khơng cĩ giải thưởng

Lễ hội: cĩ một số lễ hội, nhưng lễ hội mừng lúa mới, cịn gọi là lễ hội đâm trâu

(sa rơpu) là quan trọng nhất, thường tổ chức vào khoảng tháng 10 hoặc tháng 11 Sau khi thu hoạch mùa màng, người Lạch thường làm lễ tạ ơn thần linh đã ban cho

họ cuộc sống ấm no, hạnh phúc

Các loại dân ca Lạch: đêh mpơt đêh ntịng, đêh chờ, đêh kơ, đêh lờn, đêh

long, đêh lèo

Nhạc cụ: gồm bộ gõ, bộ hơi, bộ dây

Bộ gõ gồm: chiêng (cêng), cồng (gịng), trống da voi hoặc da trâu (sơgơr), đàn

đá (đờn lœ), đàn bằng tre nứa (tơrưng, klong put, đinh pach, cêng proh)

Bộ hơi gồm: kèn mơi (gịc), tù và (pơnung), kèn bầu (kơmbuơt)

Bộ dây: đàn cĩ dây (bịng kơla)

Văn hĩa cồng chiêng: ăn sâu vào đời sống tinh thần người Lạch cũng như các

dân tộc Tây nguyên từ ngàn xưa đến nay và cĩ lẽ vẫn cịn mãi về sau

Cồng hoặc chiêng của người Lạch đều gồm 6 chiếc (mae, rơnhồi, ndơn, ndịl, ntrơ, kịn) theo 6 thanh âm khác nhau, mỗi người diễn xướng 1 chiếc, cĩ thể hịa tấu cùng các loại nhạc cụ khác Cồng khác chiêng ở chỗ cồng cĩ núm, chiêng khơng cĩ núm Sinh hoạt văn hĩa cồng chiêng là loại hình sinh hoạt khơng thể thiếu được của người Lạch nĩi riêng, của đồng bào Tây nguyên nĩi chung

Ngày 25/11/2005 UNESCO chính thức cơng nhận văn hĩa cồng chiêng Tây nguyên của Việt Nam là văn hĩa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại

Trang 16

Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc anh em sống xen kẽ, mỗi dân tộc đều

có một nền văn hóa mang đậm bản sắc riêng gắn liền với cội nguồn, phong tục tập quán, nếp sống, sinh hoạt, văn học nghệ thuật… của dân tộc đó Các nền văn hóa ấy không chỉ là món ăn tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số trong cuộc sống hàng ngày mà còn tạo nên nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, du lịch vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng, Việt Nam nói chung Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VIII, Nghị quyết số 03/NQ-TW ngày

16 tháng 7 năm 1998) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,

đậm đà bản sắc dân tộc khẳng định: “Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống

nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Hơn 50 dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị và sắc thái văn hoá riêng Các giá trị và sắc thái

đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hoá Việt Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc là cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng văn hoá của các dân tộc anh em”.

Tiếng nói và chữ viết là công cụ đắc lực để bảo tồn, phát huy và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc Dân tộc Kơho là một trong số các dân tộc ở Việt Nam, góp phần tạo nên sự phong phú cho đại gia đình dân tộc Việt Nam Trong đó có nhóm người Lạch Nghiên cứu tiếng nói và chữ viết Lạch là một việc làm cần thiết

Ngoài ra, với tư cách là người bản địa ở Đà Lạt, người Lạch có vai trò vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy các loại hình du lịch ở thành phố Đà Lạt, ở huyện Lạc Dương nói riêng, ở tỉnh Lâm Đồng nói chung Hiện nay, Đà Lạt đang chú ý phát triển nét văn hóa bản địa phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước Các nhạc

sĩ, ca sĩ dân tộc ở Đà Lạt hầu hết là người Lạch Việc tìm hiểu tiếng Kơho Lạch là tiền đề để tiếp tục nghiên cứu về văn hóa, phong tục tập quán, văn học, âm nhạc… của người Lạch

Trang 17

Tính đến nay các công trình nghiên cứu có đề cập đến tiếng Kơho Lạch chỉ đếm trên đầu ngón tay Chưa có một công trình hay bài viết nào hoàn chỉnh về tiếng Kơho Lạch, là một phương ngữ quan trọng của tiếng Kơho Sự thiếu sót này ảnh hưởng đến việc nỗ lực khảo sát một cách tường tận tiếng Kơho, với tư cách là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học lí thuyết, cũng như cho việc xây dựng chương trình giảng dạy, sách giáo khoa cho công tác giáo dục song ngữ trong cộng đồng người Lạch cũng như việc dạy tiếng Kơho cho cán bộ người Kinh ở tỉnh Lâm Đồng Qua miêu tả hệ thống âm vị tiếng Lạch, có so sánh với tiếng Stiêng Bu Deh, luận văn mong muốn phần nào bổ sung những điểm còn thiếu sót trong việc nghiên cứu tiếng Kơho Lạch về mặt ngữ âm, âm vị góp phần thúc đẩy việc biên soạn sách giáo khoa cho chương trình giáo dục song ngữ đối với cộng đồng người Kơho, và bổ sung cứ liệu vào chương trình dạy học tiếng Kơho cho người Kinh tại tỉnh Lâm Đồng

Quyết định số 53/CP của Hội đồng Chính phủ ngày 22 tháng 2 năm 1980 về chủ trương đối với chữ viết của các dân tộc thiểu số viết:

“Tiếng nói và chữ viết của mỗi dân tộc thiểu số ở Việt Nam vừa là vốn quý của các dân tộc đó, vừa là tài sản văn hoá chung của cả nước Ở các vùng dân tộc thiểu số, tiếng và chữ dân tộc được dùng đồng thời với tiếng và chữ phổ thông Cùng với chữ phổ thông, chữ dân tộc tham gia vào nhiều mặt hoạt động ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là trong việc giữ gìn và phát triển vốn văn hoá của các dân tộc Vì thế, đi đôi với việc hoàn thành phổ cập tiếng và chữ phổ thông, cần ra sức giúp đỡ các dân tộc thiểu số xây dựng mới hoặc cải tiến chữ viết của từng dân tộc.”

Nghiên cứu ngữ âm tiếng Kơho Lạch là góp phần thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số, góp phần tạo điều kiện cho việc dạy và học tiếng Kơho cũng như tiếng Việt, đồng thời giúp họ thêm hiểu và yêu quý tiếng nói dân tộc mình

Trang 18

4.1 Nghiên cứu phân nhóm ngôn ngữ

Tiếng Kơho được các nhà nghiên cứu xếp vào họ Nam Á, nhánh Môn – Khmer, nhóm Bahnar, tiểu nhóm Nam Bahnar

1979, trong The Place of Alak, Tampuan, and West Bahnaric (Vị trí của các

ngôn ngữ Alak, Tampuan và Tây Bahnar), David D Thomas cho rằng nhánh ngôn ngữ Bahnar gồm 5 tiểu nhóm (subgroup):

Bắc Bahnar: Sedang, Hrê, Halăng, Jeh, Rengao;

Nam Bahnar: Kơho, Chrau, Mnong, Stieng;

Tây Bahnar: Laven, Nyaheum, Cheng, Oi, Laveh, Brao;

Trung Bahnar: Bahnar, Tampuan, Alak;

Đông Bahnar: Cua, Takua1

Năm 2000, trong luận án tiến sĩ “Cơ cấu ngữ âm tiếng Stiêng, có so sánh với một vài ngôn ngữ trong nhóm Nam Bahnar”, Lê Khắc Cường có viết “Tiếng Stiêng cùng với các ngôn ngữ Kơho, Mnông, Chrau là những ngôn ngữ thuộc họ Nam Á, chi Môn Khmer, nhánh Nam Bahnar”

Năm 2002, Vương Toàn với bài “Về tên gọi các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” trong quyển “Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam từ những năm 90” đã đề cập đến 5 ngữ hệ ngôn ngữ và cũng có sự phân chia như các tác giả vừa nêu trên, tức là tiếng Kơho thuộc họ Nam Á, chi Môn Khmer, nhánh Nam Bahnar

4.2 Lịch sử nghiên cứu tiếng Kơho (phương ngữ Kơho Lạch và Kơho Srê)

Tháng 12 năm 1929 Jean Cassaigne cho ra đời cuốn Từ điển Pháp – Kơho –

Việt, đây là cuốn từ điển đầu tiên hình thành chữ viết cho ngôn ngữ Kơho

Năm 1983 Từ điển Việt - Kơho ra đời Trong lời mở đầu sách, các tác giả đã tự

giới thiệu:

1

David Thomas, 1979, The place of Alak, Tampuan, and West Bahnaric , in The Mon-Khmer

Studies Journal, vol 8, pages 171-186.

Trang 19

trong sự hợp tác về chuyên môn với Viện Ngôn ngữ học (Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam) Tập thể biên soạn gồm một nhóm cán bộ nghiên cứu của Viện Ngôn ngữ học và trí thức người Kơho

Từ điển Việt – Kơho là loại từ điển đối chiếu sơ giản cỡ nhỏ, được biên soạn nhằm góp phần thiết thực và kịp thời vào việc học và dạy tiếng phổ thông (tiếng Việt), dạy và học tiếng Kơho ở vùng dân tộc Kơho thuộc tỉnh Lâm Đồng Đồng thời

nó cũng là tư liệu để nghiên cứu tiếng Kơho trong sự so sánh với các ngôn ngữ khác

từ những góc độ khác nhau

Từ điển Việt – Kơho bao gồm khoảng 6000 đơn vị Đó là những từ ngữ thường dùng, phần lớn thuộc vốn từ cơ bản của tiếng Việt và tiếng Kơho.”

Năm 1985 cuốn Ngữ pháp tiếng Kơho được xuất bản Quyển sách này dựa trên

tiếng Kơho Srê Ngoài phần từ và câu, tác giả còn mô tả một cách cơ bản về “Ngữ

âm và chữ viết Kơho”, “Tiếng Kơho ở các địa phương” Từ trang 12 đến 34, tác giả trình bày cách ghi phụ âm, nguyên âm ở âm tiết phụ; cách ghi âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối ở âm tiết chính; cách ghi thanh điệu Tác giả còn đề cập đến sự biến đổi phụ âm và nguyên âm trong các tiếng địa phương Phần còn lại của sách nói về

từ loại và các quy tắc ngữ pháp tiếng Kơho Đây có thể là một chỗ dựa cho việc biên soạn các sách dạy và học tiếng Kơho sau này

Năm 1988 trong luận văn tốt nghiệp đại học Tiền âm tiết trong tiếng Kơho,

Đào Thị Kim Nhung đã trình bày về tiền âm tiết của phương ngữ Kơho Srê

Năm 2000 trong luận án tiến sĩ ngữ văn Cơ cấu ngữ âm tiếng Stiêng, có so

sánh với một vài ngôn ngữ trong nhóm Nam Bahnar, Lê Khắc Cường ở Phụ lục có

cứ liệu tiếng Kơho là: Bảng từ đối chiếu từ tiếng Việt – Stiêng – Kơho – Mnông (280 từ) (trong đó có chú thích là tiếng Kơho được ghi nhận ở nhóm Srê), Bảng đối chiếu từ tiếng Lac – tiếng Việt (276 từ) (trong đó có chú thích là tiếng Lac được ghi nhận ở huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng)

Tạ Văn Thông là tác giả có nhiều bài viết về tiếng Kơho Chẳng hạn: Về hệ

thống ngữ âm tiếng Kơho và sự sửa đổi chữ Kơho (Tạp chí Ngôn ngữ số 4 năm

Trang 20

ngôn ngữ phương Đông”, 1986), Tên riêng trong tiếng Kơho (Tạp chí Ngôn ngữ số

1 năm 1993), Hệ thống từ xưng gọi tiếng Kơho (Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc ở

Việt Nam, 1994)

Năm 2004 Tạ Văn Thông cho ra đời quyển sách Ngữ âm tiếng Kơho Tác giả

trình bày về hệ thống nguyên âm, phụ âm trong một số tài liệu trước đây, sau đó tác giả mô tả, phân loại các nguyên âm, phụ âm Kơho “Đối tượng chính là tiếng nói của nhóm Srê ở các huyện Di Linh, Đức Trọng, Lâm Hà của tỉnh Lâm Đồng” (tr.23) Tác giả đưa ra khái niệm “khuôn âm” Về phương pháp nghiên cứu, tác giả viết “Trong điều kiện thực tế của người viết, các đặc tính âm thanh của tiếng Kơho được xác định chỉ bằng phương pháp chủ quan, bằng sự tri nhận qua thính giác và cảm giác cơ thịt của các khí quan (của người nghiên cứu trong lúc lắng nghe và tái tạo lại) kết hợp với quan sát những cử động bên ngoài của các khí quan (của các cộng tác viên khi cấu âm)” (tr.24) Như vậy, tác giả chú ý tới nhóm Srê và miêu tả ngữ âm bằng sự tri nhận qua thính giác

2005, trong luận án tiến sĩ Xu hướng đơn tiết hóa và sự biến đổi của các phụ

âm đầu trong ngôn ngữ khu vực Nam Đông Dương, ở phần phụ lục, Nguyễn Văn

Huệ có “Bảng từ vựng cơ bản của các ngôn ngữ/ thổ ngữ Mnông, Kơho, Mạ, Châu

Ro, Raglai, Chăm” Trong đó có 281 mục từ Kơho Đông Giang, 281 mục từ Kơho Lam Sơn

4.3 Lịch sử nghiên cứu chữ Kơho và sự sửa đổi chữ Kơho

a) Chữ Kơho Latinh của các học giả Pháp:

Chữ Kơho Latinh dựa trên cơ sở hệ thống ngữ âm của phương ngữ Srê đã được hội đồng các nhà truyền giáo và các nhà khoa hoc ấn định trong cuộc họp ngày 1 tháng 8 năm 1949 tại Đà Lạt Đến 1954, trên tạp chí của Trường Viễn Đông

Bác Cổ (Pháp), trong bài “Điều tra về các ngôn ngữ trong các tộc người miền núi ở

miền Nam Đông Dương”, G.Condominas đã trình bày lại biên bản cuộc họp Lần

đầu tiên các đặc điểm ngữ âm tiếng Kơho được xem xét trong sự cân nhắc biểu thị bằng các kí hiệu chữ viết

Trang 21

Kơho, thuận tiện cho việc in ấn Tuy nhiên, chữ viết này cồng kềnh do sử dụng nhiều con chữ ghép để ghi âm hữu thanh hút vào (bb, dd), các nguyên âm ở thanh thấp (aa, ii, oo,…)

Những kết quả nghiên cứu ngày ấy cĩ ý nghĩa dẫn đường, gợi ý tốt cho những nghiên cứu sau này

Bằng hệ thống chữ viết này, G Bochet, J Dournes và các nhà truyền giáo đã

soạn thảo 2 cuốn từ điển đối chiếu: Kơho – Pháp (1950), Pháp – Kơho – Raglai –

Việt (1953) và một số tài liệu truyền giáo

b) Chữ Kơho Latinh của tổ chức SIL (Summer Institute of Linguistics – Hội

Ngơn ngữ học Mùa Hè của Mĩ):

Vào những năm 60 của thế kỉ 20, tổ chức SIL cũng dựa trên chữ cái Latinh đã soạn ra chữ Kơho So với chữ Kơho của các học giả Pháp xây dựng, hệ thống chữ viết mới này đơn giản và tiện dùng hơn do việc bỏ đi các con chữ ghép và dùng thêm các dấu phụ

Chữ viết của SIL được sử dụng khá rộng rãi trước 1975 trong việc biên soạn các sách giáo khoa, kinh thánh

Tuy nhiên, hệ thống chữ này chưa thật thuận tiện cho việc in ấn, chưa thể hiện được quan hệ giữa chữ Kơho và chữ phổ thơng

Cĩ nhiều quyển kinh thánh viết bằng tiếng Kơho Lạch được phổ biến rộng rãi trong vùng người Lạch Cĩ thể kể ra một số quyển như:

1966, Bol cơ niêm, Centre Montagnard Dalat (Sách về các thánh, Trung tâm

Thượng Đà Lạt)

1970, Sră pànõ bruôh, Centre Montagnard Dalat (Sách kể việc các tơng đồ làm)

1970, Lơh yàng, Centre Montagnard Dalat (Kinh đọc trong lúc dâng lễ của các

linh mục) Đây là quyển sách song ngữ Latinh – Lạch

1972, Sră coh (Pơnah yơ), Centre Montagnard Dalat (Kinh Cựu ước) Bộ sách

này gồm các quyển sau: Cơnơ yal yơ (thánh sử), Bol cơ gêt làe (lời tuyên báo của các tiên tri), Gung jịng rơ (ca ngợi những việc làm của chúa)

Trang 22

1976, Gung lơh yàng, Centre Montagnard Dalat (thánh lễ, sách đọc lúc làm lễ)

1976, Sră pơtao cơnô yàng, Trung tâm Thượng Cam Ly (Sách dạy giáo lí)

Sră rac yàng (Kinh cầu nguyện)

Các quyển sách này ăn sâu vào đời sống tinh thần nhiều người Lạch theo Thiên chúa giáo

c) Chữ Kơho sửa đổi của UBND tỉnh Lâm Đồng:

1983, UBND tỉnh Lâm Đồng ra quyết định số 20/QĐ-UB về phương án chữ

Kơho sửa đổi Hội nghị về tiếng nói và chữ viết dân tộc lần thứ nhất của tỉnh Lâm Đồng (họp ngày 19 và 20 tháng 7 năm 1982) đề nghị sửa đổi 3 điểm như sau:

Dùng chữ v thay chữ b, dùng chữ b thay chữ ç

Dùng tổ hợp chữ cái nh thay chữ nõ và dùng dấu ‘ xen kẽ giữa tổ hợp hai phụ

âm nh để phân biệt

Dùng dấu sắc  thay cho dấu ngắn  trong trường hợp âm tiết kết thúc bằng các phụ âm tắc vô thanh, đồng thời bỏ dấu ngắn  trong tất cả các trường hợp khác Quyết định này chính thức ban hành trong vùng đồng bào dân tộc Kơho Sau khi phương án được công bố năm 1983, chữ Kơho sửa đổi chưa được sử dụng rộng rãi, các trí thức người Kơho, các linh mục, mục sư, Đài Phát thanh Truyền hình vẫn sữ dụng chữ Kơho cũ (chữ của tổ chức SIL) Trong khi giảng dạy tiếng Kơho, nhiều cán bộ giảng dạy vẫn sử dụng chữ Kơho cũ Hiện nay với máy vi tính, người ta có thể dễ dàng đánh các chữ ç, nõ, cê

Năm 2004 Sở Nội vụ kết hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lâm Đồng biên

soạn quyển giáo trình dạy tiếng Kơho cho cán bộ Sră bơto mơ bơsram jơnau Kơho

– Tài liệu dạy và học tiếng Kơho Sách này được chỉnh sửa vào năm 2006, 2007 về

một số nội dung, cách trình bày, chữ viết (nh  nõ , b  ç , v  b) Đây là quyển sách song ngữ Kơho – Việt rất thuận tiện cho những người mới làm quen với tiếng Kơho

Trang 23

phương án chữ Kơho sửa đổi lại như sau:

Dùng chữ ç thay cho chữ b, chữ b thay cho chữ v;

Dùng chữ nõ thay cho chữ nh;

Dùng chữ c thay chữ c

Dùng dấu  thay dấu  đặt trên các chữ cái ghi nguyên âm

Chữ Kơho, một công cụ phát triển văn hóa và giáo dục dân tộc, sẽ phát huy chức năng với hiệu quả cao hơn góp phần thực hiện quyết định 53-CP của Hội đồng Chính phủ về chủ trương đối với chữ viết các dân tộc ở Việt Nam

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn này không có tham vọng giải quyết hết tất cả những vấn đề về ngữ

âm tiếng Kơho Lạch, ở đây chủ yếu đi sâu vào ngữ âm tiếng Kơho Lạch trên bình diện đồng đại, bước đầu so sánh sơ lược vài nét với tiếng Stiêng Bu Deh

Chúng tôi cũng đề cập đến tiếng Kơho Srê vì tiếng Kơho Lạch và tiếng Kơho Srê là hai phương ngữ của tiếng Kơho, chúng ít nhiều liên quan với nhau

Ở đây, “tiếng” vừa có nghĩa là “ngôn ngữ”, vừa là “phương ngữ”, “thổ ngữ”

Tạ Văn Thông có viết: “Cũng như khái niệm “người” (người Kơho, người Chăm, người Chil, người Lát…), khái niệm “tiếng” (tiếng Kơho, tiếng Chăm, tiếng Chil…)

là rất kém xác định vì ngoại diên rất rộng Trong một số trường hợp, “tiếng” có thể dùng để gọi chung chung chứ không cho biết rằng các “tiếng” như thế có tương đồng hay khác biệt gì không, nhưng ở một số trường hợp khác nó lại được dùng để đối lập tiếng nói một cộng đồng này với một cộng đồng khác Như vậy, “tiếng” vừa

có nghĩa là “ngôn ngữ”, vừa là “phương ngữ”, “thổ ngữ”” (Trích: Tạ Văn Thông,

2004, Ngữ âm tiếng Kơho, NXB Khoa học Xã hội, tr 148)

Do hạn chế của tư liệu điền dã, chúng tôi chỉ dừng lại trên lĩnh vực ngữ âm và

ít nhiều có tính chất miêu tả

Để tiện cho việc miêu tả, phân tích, người viết luận văn chọn tiếng Kơho Lạch tại chân núi Langbiang, thị trấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng vì

Trang 24

thống của người Lạch (Dân tộc Lạch tại thị trấn Lạc Dương 488 hộ, 2172 khẩu; dân tộc Kinh 637 hộ, 2876 khẩu, các dân tộc khác:10 hộ)2 Ngoài ra, còn có một số người Lạch tại thôn Mangline phường 7 thành phố Đà Lạt (nơi giáp ranh với thị trấn Lạc Dương) Còn tiếng Stiêng Bu Deh, chúng tôi chủ yếu tìm hiểu tại xã An Khương, huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước, nơi tập trung khoảng 56% dân số là người Stiêng Bu Deh (Số liệu ghi nhận tại UBND xã An Khương năm 2007)

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

6.1 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp miêu tả cấu trúc, phương pháp đối chiếu đồng đại, phương pháp điền dã, phương pháp ngữ âm thực nghiệm

Phương pháp miêu tả cấu trúc được dùng để miêu tả cơ cấu ngữ âm tiếng Kơho Lạch

Phương pháp đối chiếu đồng đại được dùng để so sánh tiếng Kơho Lạch với Kơho Srê và Stiêng Bu Deh trên bình diện ngữ âm

Phương pháp điền dã giúp thu thập được nhiều thông tin khách quan tại thực địa

Phương pháp ngữ âm thực nghiệm để minh họa thêm cho những kết luận có tính lí thuyết Chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm bằng phần mềm Praat và Jplot

6.2 Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu sử dụng trong luận văn chủ yếu được chúng tôi thu thập trực tiếp qua các cộng tác viên nói tiếng Kơho Lạch, Kơho Srê, Stiêng Bu Deh trong các đợt khảo sát tiếng Kơho Lạch tại huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng trong năm

2008, 2009, 2010, tiếng Kơho Srê tại huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng năm 2009, tiếng Stiêng Bu Deh tại huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước năm 2007, 2008

Ngoài ra, tư liệu khảo sát còn được lấy trong kinh thánh, sách học tiếng Kơho,

từ điển Việt – Kơho đã được biên soạn trước đây, và cả trong văn học dân gian Kơho nữa

2 Trích Báo cáo số liệu nhân hộ khẩu ngày 23/9/2009 của Công an thị trấn Lạc Dương

Trang 25

tộc học có liên quan đến Kơho, Stiêng đã được xuất bản tại Việt Nam; các tiểu luận tốt nghiệp đại học và các luận án có liên quan

6.3 Các bước nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành các bước nghiên cứu sau:

1) Thu thập và lưu trữ tư liệu Tất cả khối tư liệu thu thập được được chọn lọc

và lưu trữ theo từng chủ điểm để phục vụ cho việc khảo sát và viết luận văn

2) Kiểm tra, xử lí tư liệu Tư liệu được kiểm tra chủ yếu tại thực địa, đó là các buôn làng của người Kơho Lạch, Kơho Srê ở Lâm Đồng, người Stiêng Bu Deh ở Bình Phước

3) Viết và hoàn chỉnh bản thảo

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận văn khảo sát các vấn đề liên quan đến đặc trưng ngữ âm của tiếng Kơho Lạch một cách có hệ thống

Luận văn không chỉ nghiên cứu ngữ âm tiếng Kơho Lạch trong hoạt động hành chức của nó mà còn trong sự so sánh với tiếng Stiêng Bu Deh

Luận văn cung cấp thêm cứ liệu ngữ âm học cho các công trình nghiên cứu tổng thể về các ngôn ngữ trong nhóm Nam Bahnar nói riêng, các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Môn Khmer nói chung

Qua việc so sánh các phương ngữ và ngôn ngữ, luận văn góp thêm một phần tài liệu vào việc dạy học tiếng Kơho

Ngoài ra phần Phụ lục có bảng đối chiếu từ ngữ Việt – Kơho Lạch – Kơho Srê – Stiêng Bu Deh giúp cho việc tra cứu được thuận tiện, dễ dàng

Trang 26

Chương 1 Tiền âm tiết Chương này mô tả phụ âm đầu, nguyên âm, âm cuối tiền âm tiết, trường hợp tiền âm tiết là một tổ hợp phụ âm, trình bày một số phụ tố, nêu các biến thể của tiền âm tiết do hiện tượng đơn tiết hoá

Chương 2 Hệ thống phụ âm đầu Chương này nói về các kiểu âm tiết, trình bày hệ thống phụ âm đầu trong tiếng Kơho Lạch, tổ hợp phụ âm đầu

Chương 3 Phần vần Chương này trình bày âm đệm, âm chính, âm cuối của từ đơn tiết và âm tiết chính từ đa tiết, thanh điệu trong tiếng Kơho Lạch

Chương 4 Sơ lược sự giống, khác nhau giữa tiếng Kơho Lạch và tiếng Stiêng

Bu Deh và một số tương ứng ngữ âm trong tiếng Kơho và tiếng Stiêng Chương này nêu lên sự giống, khác nhau giữa tiếng Kơho Lạch và Stiêng Bu Deh về tiền âm tiết

và âm tiết chính; một số tương ứng ngữ âm giữa tiếng Kơho Lạch và Kơho Srê, Stiêng Bu Deh và Stiêng Bu Lơ, giữa tiếng Kơho và tiếng Stiêng

Phần kết luận Phần này nói về những kết quả đã đạt được và hướng nghiên cứu tiếp theo

Tài liệu tham khảo gồm tác phẩm tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Stiêng, tác phẩm song ngữ Việt – Kơho

Phần phụ lục Phần này gồm bảng đối chiếu từ ngữ Việt – Kơho Lạch – Kơho Srê – Stiêng Bu Deh và danh sách cộng tác viên

Các thực nghiệm ngữ âm học trong luận văn được thực hiện bằng phần mềm Praat và Jplot

Trang 27

1.1.Từ ngữ âm học

Từ ngữ âm học trong tiếng Kơho được xác định là từ đơn tiết (một âm tiết) hay

từ đa tiết (nhiều âm tiết) được phân định bởi chỗ ngắt khi phát âm

Trong từ đa tiết, có một âm tiết mang trọng âm gọi là âm tiết chính, một hoặc hai âm tiết không mang trọng âm phân bố trước âm tiết chính gọi là tiền âm tiết

Về tên gọi âm tiết mang trọng âm và không mang trọng âm:

Có nhiều thuật ngữ khác nhau đựơc dùng để chỉ các âm tiết của từ đa tiết Am tiết đầu từ không mang trọng âm gọi là tiền âm tiết (presyllable), âm tiết phụ (minor syllable), âm tiết mờ, âm tiết yếu, âm tiết tiền trọng âm Am tiết mang trọng âm thường được gọi là âm tiết chính (main syllable, major syllable), âm tiết mạnh, âm tiết tỏ

Trong luận văn, chúng tôi sử dụng các thuật ngữ tiền âm tiết để chỉ âm tiết không mang trọng âm và âm tiết chính để chỉ âm tiết mang trọng âm Thuật ngữ

tiền âm tiết phần nào phản ánh đặc điểm ngữ âm của các ngôn ngữ đang xét, nó luôn đứng trước âm tiết chính và đóng vai trò là một âm tiết phụ trong cấu trúc ngữ

âm của từ

Từ đa tiết trong các ngôn ngữ Môn Khmer chủ yếu là từ song tiết Từ ba âm tiết chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong hệ thống từ vựng Từ song tiết có đặc điểm: âm tiết đầu từ không mang trọng âm, có cấu trúc đơn giản, được phát âm nhẹ, ngắn, đây

là bộ phận chịu tác động trực tiếp của xu hướng đơn tiết hóa, dễ bị biến đổi; âm tiết cuối từ là âm tiết mang trọng âm, có cấu trúc khá phức tạp, được phát âm mạnh hơn

âm tiết đầu từ, đây là bộ phận tương đối bền vững của từ

Sau đây là sóng âm và cường độ một số từ ngữ âm trong tiếng Kơho Lạch: gung (con đường), cơnờng (bàn, ghế, giường … ), sơnđàc (tội nghiệp, đáng thương), kơlhơu (tên một loại cây rừng làm trầm hương), sôrômanõ (ngôi sao) gung /gu/1

(con đường) chỉ có một âm tiết, nơi cao nhất của sóng âm là nguyên âm /u/, làm đỉnh âm tiết

Trang 28

trường độ ngắn, cường độ yếu hơn so với âm tiết chính /n/2

sơnđàc /sndac/2

(tội nghiệp, đáng thương), kơlhơu /klhw/1

(tên một loại cây rừng làm trầm hương) có tiền âm tiết dạng CVC /sn/, /kl/ cũng được phát âm với trường độ ngắn, cường độ yếu hơn so với âm tiết chính /dac/2, /hw/1

sôrômanõ /srma/1

(ngôi sao) có hai tiền âm tiết /s/ và /r/ đều phát âm ngắn và yếu hơn âm tiết chính /ma/1

Trang 29

Hình 1 Sóng âm và cường độ của từ “gung” (con đường)

Hình 2 Sóng âm và cường độ của từ “cơnờng” (bàn, ghế, giường)

Trang 30

Hình 3 Sóng âm và cường độ của từ “sơnđàc” (tội nghiệp, đáng thương)

Hình 4 Sóng âm và cường độ của từ “kơlhơu” (tên một loại cây rừng làm trầm hương)

Trang 31

Hình 5 Sóng âm và cường độ của từ “sôrômanõ” (ngôi sao)

1.2 Mô hình cấu trúc từ ngữ âm

Từ ngữ âm tiếng Kơho Lạch có mô hình:

Cp1 Vp Cp2 Cm1 S Vm Cm2

C: consonant (phụ âm)

V: vowel (nguyên âm)

p: presyllable (tiền âm tiết)

m: main syllable (âm tiết chính)

S : semivowel (âm đệm, bán nguyên âm)

Các dạng chính trong từ ngữ âm tiếng Kơho Lạch:

Trang 32

Cp1 Vp Cm1 (1, 2) Vm Cm2 pơsram (học)

Cp1 Vp Cp2 Cm1 Vm Cm2 kơnting (xương)

Cm1 (1, 2, 3) Vm Cm2 mprang (chạy)

Cp Vp Cm1 Vm Cm2 (1, 2) pơnơih (con người)

Cm1 (1, 2) Vm Cm2 (1, 2) mpơih (chổi, quét)

1.3 Mơ tả tiền âm tiết

Tiền âm tiết phân bố trước âm tiết chính, được phát âm với trường độ ngắn, cường độ yếu so với âm tiết chính

1.3.1 Âm đầu của tiền âm tiết

1.3.1.1 Hệ thống phụ âm đầu của tiền âm tiết

Bảng hệ thống phụ âm đầu tiền âm tiết

mơi

thanh hầu đầu lưỡi mặt lưỡi gốc lưỡi

Trang 33

các trường hợp sử dụng âm này thể hiện thành âm k /k/

gơduh  kơduh : rơi

Ví dụ về âm đầu tiền âm tiết theo các cặp tối thiểu:

pơnơm : núi đồi

Trang 34

Theo Nguyễn Văn Huệ, về mặt lịch sử, trong tiếng Kơho có thể có tổ hợp phụ

âm mở đầu tiền âm tiết, đó là kết quả của hiện tượng chêm âm (epenthesis), sau đó chuyển chỗ (metathesis)

Ví dụ:

tơnơm  tơrnơm  trơnơm  tơrơnơm  rơnơm (rượu cần)

Ở đây đã xảy ra hiện tượng chêm thêm âm r [r] vào tiền âm tiết nên có sự biến đổi “tơnơm  tơrnơm” Sau đó xảy ra hiện tượng chuyển chỗ âm [r] trong tiền âm tiết “tơrnơm  trơnơm” Tiếp đến là hiện tượng chêm thêm âm ơ [] vào giữa tổ hợp phụ âm ở tiền âm tiết “trơnơm  tơrơnơm” Quá trình đơn tiết hoá dẫn đến kết quả là “tơrơnơm  rơnơm”

Quá trình như trên làm cho tiền âm tiết trong tiếng Kơho Lạch có nhiều biến thể Chẳng hạn:

tơhir  tơrhir  trơhir  tơrơhir (khát)

tơnê  tơrnê  trơnê  tơrơnê (cái chày)

tơrnàih  trơnàih  tơrơnàih (sấm sét)

tơrpuôl  trơpuôl  tơrơpuôl  rơpuôl (bí đỏ)

tơrpài  trơpài  tơrơpài  rơpài (con thỏ)

pơrtah  prơtah  pơrơtah (xù xì, nhám)

pơrlă  prơlă  pơrơlă (lăn)

kơnờl  kơrnờl  krơnờl  kơrơnờl (cái gối)

cơrlœ  crơlœ  cơrơlœ (cái tô)

sơmanõ  sơrmanõ  srơmanõ  sơrơmanõ (ngôi sao)

1.3.2 Nguyên âm tiền âm tiết

Nguyên âm trong tiền âm tiết tiếng Kơho Lạch là nguyên âm ơ // gồm hai âm

tố là ơ [] và a [], không có đối lập ngắn - dài Dạng thường xuyên của nguyên âm này là [] Khi tiền âm tiết có cấu trúc CV và phụ âm đầu là âm tắc thanh hầu thì

Trang 35

nhấn mạnh hay không Khi tiền âm tiết có cấu trúc CVC (trong đó âm cuối là một

âm rung, bên hoặc mũi) thì nguyên âm chỉ có một dạng là []

Nguyên âm ơ // trong tiền âm tiết là nguyên âm trung hoà vì nằm ở vị trí trung hoà của lưỡi, lưỡi không bị dồn về một khu vực nào của miệng, đồng thời độ nâng của lưỡi cũng ở mức trung bình

sôrmanõ (ngôi sao)

Nguyên âm tiền âm tiết được phát âm với trường độ ngắn, cường độ yếu hơn nguyên âm âm tiết chính

1.3.3 Âm cuối tiền âm tiết

Trên bình diện đồng đại, âm cuối tiền âm tiết Cp2 trong tiếng Kơho Lạch là một trong các phụ âm sau:

sơrbac sơrbang (nhanh nhẹn)

tơmpă (bẻ gãy); kơnrồ (con bò); pơnggàr (hàng rào)

Trang 36

Do quá trình đơn tiết hoá, một số trường hợp tồn tại các biến thể như kơnting

 nting (xương), tơmprang  mprang  prang (chạy), yếu tố –n- , -m- rất khó xác

định là âm cuối tiền âm tiết hay tiền âm tiết mũi hay yếu tố tiền mũi trong tổ hợp phụ âm của âm tiết chính Ở trường hợp kơnting, tơmprang, âm –n- , -m- là âm cuối tiền âm tiết vì có vai trò kết thúc tiền âm tiết Trong trường hợp nting, mprang, yếu

tố –n- , -m- có xu hướng từ âm cuối tiền âm tiết sang tiền âm tiết mũi, và trở thành yếu tố tiền mũi trong tổ hợp phụ âm âm tiết chính Như vậy, các trường hợp nting, mprang, yếu tố –n- , -m- chúng tôi xét ở yếu tố thứ nhất trong tổ hợp phụ âm âm tiết chính

Am cuối tiền âm tiết  Tiền âm tiết mũi  Tiền mũi trong âm tiết chính kơnting  nting  nting

/knti/ /nti/ /nti/

tơmprang  mprang  mprang

/tmpra/ /mpra/ /mpra/

1.4 Một số tiền âm tiết

Trang 37

cơngao tối, buổi tối

cơnờng bàn, ghế, giường (cơnờng sa, cơnờng nggui, cơnờng bơc)

kơnap đan cỏ tranh lợp nhà (tànõ : đan những cái khác )

kơtoă kơđa vội vàng

lơ-

lơhơ mỏng (mbơl: dày)

Trang 38

pơlah chia rẽ

pơngoê siêng năng, cần cù

rơ-

rơhàng buôn làng cũ

rơpu / pu trâu

sơ-

sơnoà bước (động từ, danh từ )

tơyah đu đưa (trên võng, xích đu)

Thêm một số ví dụ tiền âm tiết dạng CVC

cơn-

cơng-

Trang 39

cơrlờih nhắc nhở, khuyên bảo, giáo dục

kơnyoh kơnđòng / sơnđàc tội nghiệp

kơr-

kơrding dựa dẫm, nương tựa

kơrlêh keo kiệt, hà khắc

lơng-

lơnggơh lung lay

lơngkòt ju lá chuối non

Trang 40

rơmça rơmçiš cây, dây treo quần áo

rơmphuê lủi thủi đi một mình

sơnđo hướng dẫn, chỉ dẫn cho ai làm gì, sơnđo gung chỉ đường

sơng-

sơngkàt / pơrơtah xù xì, nhám

sơr-

sơrbac sơbang nhanh nhẹn

tơm-

tơn-

tơndôh làm cho nĩng, hâm nĩng

tơnjoê làm cho sống lại, cứu sống

tơr-

tơrkàng trần nhà

Ngày đăng: 11/05/2021, 21:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w