Chúng ta đã thừa nhận và đánh giá rất cao những đóng góp của những sáng tác của Nguyễn Ái Quốc đối với văn học Việt Nam hiện đại, thì không có lý do gì không thừa nhận rất nhiều tác phẩm
Trang 1BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KH&CN
Tên đề tài:
TÌM HIỂU VĂN HỌC VIỆT NAM BẰNG TIẾNG PHÁP
CỦA CÁC TÁC GIẢ VIỆT NAM TỪ CUỐI
THẾ KỶ XIX ĐẾN NAY
Mã số đề tài: B2010 – 18b-07 Quyết định số: 320/QĐ-ĐHQG-KHCN
sơ
(Do CQ quản lý ghi)
Tham gia thực hiện
Trang 2CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH 18
BỘ PHẬN VĂN HỌC VIỆT NAM PHÁP NGỮ 18
1.1 Quá trình thực dân Pháp và lịch sử của một ngôn ngữ văn học mới 18
1.2 Chính sách giáo dục - hệ thống trường học và tác động của nó đến sự ra đời của văn học Pháp ngữ 20
1.2.1 Từ Đông Dương… 20
1.2.2 …Đến chính quốc 26
CHƯƠNG 2 : CHÂN DUNG NHÀ VĂN 29
2.1 Những chính khách và luật sư 30
2.2 Những nhà báo và nhà giáo 35
2.3 Cung Giũ Nguyên - một sự nghiệp phong phú 43
2.4 Phạm Văn Ký và con đường văn học qua báo chí 46
2.5 Một số nữ sĩ nổi bật 57
CHƯƠNG 3 61
HỆ THỐNG XUẤT BẢN - LƯU HÀNH VÀ THỪA NHẬN TÁC PHẨM 61
3.1 Hệ thống nhà xuất bản 62
3.1.1 Kỷ nguyên của hệ thống các nhà in tại Đông Dương 63
3.1.2 Viễn ảnh hệ thống xuất bản Pháp ngữ thời hậu thực dân 65
3.1.3 Một bộ phận văn học phụ thuộc “hệ thống xuất bản trung tâm” 67
3.2 Vai trò của các ấn phẩm định kỳ 70
3.3 Các cơ quan của giải thưởng văn học 76
3.4 Diễn ngôn đề tựa như là không gian thừa nhận tác phẩm văn học 79
CHƯƠNG 4 : THỂ LOẠI TÁC PHẨM 90
4.1 Tiểu thuyết 91
4.1.1 Quá trình phát triển của tiểu thuyết 91
4.1.2 Phân loại tiểu thuyết 92
4.2 Truyện ngắn 103
4.3 Các thể ký 107
4.4 Truyện kể, truyền thuyết và truyện cổ tích viết lại 110
4.5 Thơ 114
4.6 Kịch bản văn học 125
4.7 Nghiên cứu và Phê bình 130
CHƯƠNG 5: NHỮNG CHỦ ĐỀ NỔI BẬT 134
5.1 Khám phá những miền đất lạ 135
5.2.1 Khám phá quê hương xứ sở 135
5.2.2 Say đắm phương trời Tây 140
5.2 Từ chống thực dân đến dấn thân xã hội 142
5.3 Văn học chứng từ 151
TỔNG KẾT 159
DANH MỤC TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM VIẾT BẰNG PHÁP NGỮ (Từ CUốI THế Kỷ XIX ĐếN 1975) 162
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 175
PHỤ LỤC 180
Trang 3TÓM TẮT
Văn học Việt Nam viết bằng tiếng nước ngoài đã trở thành đề tài mang tính thời
sự, trong đó có bộ phận văn học viết bằng tiếng Pháp Chúng ta đã thừa nhận và đánh giá rất cao những đóng góp của những sáng tác của Nguyễn Ái Quốc đối với văn học Việt Nam hiện đại, thì không có lý do gì không thừa nhận rất nhiều tác phẩm viết bằng tiếng Pháp của nhiều tác giả là người Việt Nam xuất bản ở trong nước và nước ngoài, chủ yếu là ở Pháp Công trình sẽ tìm hiểu bộ phận văn học Việt Nam viết bằng tiếng Pháp của các tác giả Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến nay, mà cụ thể là tập trung đi sâu nghiên cứu bộ phận văn học này từ đầu thế kỷ XX đến 1975
Ở phần Mở đầu nêu những vấn đề chung, trọng tâm để tài được triển khai thành năm chương
Chương 1 trình bày cơ sở xã hội và nguyên nhân hình thành bộ phận văn học Pháp ngữ ở Việt Nam, cụ thể là nêu lại quá trình thực dân Pháp xâm lược nước ta và lịch sử hình thành một ngôn ngữ văn học mới, cũng như hệ thống trường học Pháp - Việt và tác động của nó đến sự ra đời của bộ phận văn học Pháp ngữ
Chương 2 trình bày những nét đặc trưng của chân dung các nhà văn, từ những chính khách như Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn An Ninh đến luật sư như Ngô Văn, Phan Văn Trường, Nguyễn Mạnh Tường; cho đến các nhà báo và nhà giáo như Nguyễn Phan Long, Pierre Đỗ Đình, Hoàng Xuân Nhị, Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Tiến Lãng, Trần Văn Tùng; đặc biệt là hai tác giả: Cung Giũ Nguyên và Phạm Văn Ký; cuối cùng
là một số nữ tác giả như Trịnh Thục Oanh, Lý Thu Hồ
Chương 3 tìm hiểu hệ thống xuất bản, lưu hành và thừa nhận tác phẩm
Chương 4 đi sâu khảo sát thể loại các tác phẩm: tiểu thuyết; truyện ngắn; các thể ký; truyền thuyết, truyện cổ tích viết lại và truyện kể; thơ; kịch bản văn học
Trang 4Chương 5 phân tích một số chủ đề nổi bật trong các tác phẩm thuộc các thể loại trên, mà cụ thể là 4 chủ đề: lên án chủ nghĩa thực dân và phong kiến bù nhìn; khám phá những miền đất lạ; dấn thân với xã hội; văn học chứng từ
Cuối cùng là Tổng kết và Danh mục tài liệu tham khảo với 59 tài liệu chính,
cùng một danh mục tác giả - tác phẩm văn học Việt Nam viết bằng Pháp ngữ với 27 tập thơ của 16 tác giả, 29 cuốn tiểu thuyết của 17 tác giả, 89 truyện ký và tiểu luận của
33 tác giả, 07 kịch bản văn học của 5 tác giả
Phần Phụ lục gồm:
- Thuyết minh đề cương đề tài đã được phê duyệt
- Quyết định giao nhiệm vụ
- Những bài viết đã công bố của tác giả có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trang 5RÉSUMÉ
La littérature vietnamienne de langues étrangères devient à l’heure actuelle le centre d’intérêt pour les critiques nationaux comme internationaux Les œuvres d’auteurs vietnamiens francophones occupent ainsi une place non négligeable dans le concert des littératures-monde En effet, si l’on parle souvent d’une littérature de résistance chez quelques auteurs anticolonialistes comme Nguyen Ai Quoc, bien des œuvres s’inscrivent dans l’aventure du langage et de l’esthétique, dans la construction
de l’humanisme et dans la conquête et la quête de l’identité L’objectif de notre recherche est de mettre en évidence la vie de la littérature vietnamienne de langue française allant de la fin du XIXe siècle à aujourd’hui Plus précisément, nous nous focalisons particulièrement sur les œuvres parues dans la période du début du XXe siècle à 1975
En ce qui concerne le contenu de la recherche, en dehors de l’introduction
générale, le sujet est axé autour de cinq chapitres
Chapitre 1 est destiné à la mise en œuvre des contextes de la naissance de la
littérature vietnamienne de langue française Le processus de colonisation française au
Vietnam, le développement du quốc ngữ, le système de l’école sont des facteurs
directs de l’apparition des œuvres francophones
Dans le chapitre 2, nous nous intéressons au nombre effectif des auteurs dans
cette vie littéraire Cette partie a donc pour objectif la typologie des auteurs selon leurs positions sociopolitiques ou socioprofessionnelles : des hommes politiques ou avocats comme Ngô Van, Phan Van Truong, Nguyen Manh Tuong, jusqu’aux journalistes ou professeurs avec par exemple Nguyen Phan Long, Pierre Do Dinh, Hoang Xuan Nhi, Pham Duy Khiem, Nguyen Tieng Lang, Tran Van Tung, et particulièrement Cung Giu Nguyen et Pham Van Ky À la liste s’ajoutent des femmes de lettres comme Trinh Thuc Oanh et Ly Thu Ho
Le chapitre 3 présente le système des éditions et les autres instances comme
des acteurs de la distribution, réception et consécration des œuvres Nous avons abordé
Trang 6l’ère des imprimeries en Indochine ainsi que les trajectoires éditoriales des auteurs à l’étranger, notamment en France
Les secteurs de la création sont exposés dans le chapitre 4 Il s’agit de la
typologie des genres exercés par les écrivains vietnamiens: roman, théâtre, poésie, récits de vie, contes et légendes, nouvelles, tels sont les genres les plus rencontrés dans cette vie littéraire
On voit que ces genres divers constituent la richesse thématique dans l’institution littéraire francophone vietnamienne Aussi quatre thèmes capitaux sont-ils dégagés concernant l’anticolonialisme, la découverte de terre nouvelle, l’engagement
social et la littérature de témoignages C’est aussi l’objet du dernier chapitre
Enfin, la conclusion ouvre quelques perspectives et propositions
complémentaires pour les démarches de recherche prochaines
Pour compléter le panorama du sujet de recherche, nous mettons à jour une liste
de 59 références bibliographiques principales ainsi qu’un inventaire des œuvres
d’auteurs vietnamiens d’expression française dont 27 poèmes ou recueils de poèmes
de 16 auteurs, 29 romans de 17 auteurs, 89 récits et essais de 33 auteurs et 07 pièces de théâtre de 5 auteurs
Une liste d’annexes comprend un projet de recherche approuvé, une décision
du comité, et des publications du résultat du sujet
Trang 7ABSTRACT
Vietnamese literature in foreign languages is now the focus for national and international critics The works of Vietnamese speaking authors also occupy a significant place in the stage of world literature Indeed, if we approach often of a literature of resistance in some anti-colonial authors as Nguyen Ai Quoc, many works are presented as an adventure of language and aesthetics, a construction of humanism and a conquest or quest for identity The objective of our research is to highlight the life of Vietnamese literature in French from the late nineteenth century to today Specifically, we focus particularly on works published in the period of the early twentieth century to 1975
Regarding the content of research, apart from the general introduction, the subject is centered on five chapters
Chapter 1 is intended to the presentation of the contexts of the birth of
Vietnamese literature in French Also, the process of French colonization in Vietnam,
the development of quoc ngu, the school system are direct factors of the appearance of
French works
In chapter 2, we focus on the actual number of authors in the literary life The
objective is to distinguish the authors according to their political professional positions: Politicians or lawyers as Ngo Van Phan Van Truong, Nguyen Manh Tuong, journalists or teachers with such Nguyen Phan Long, Pierre Do Dinh, Hoang Xuan Nhi, Pham Duy Khiem, Nguyen Tieng Lang, Tran Van Tung, and particularly Cung Giu Nguyen and Pham Van Ky We can add to this list some women writers as Trinh Thuc Oanh and Ly Thu Ho
socio-Chapter 3 presents the system of editions and other actors in distribution,
reception and consecration works We addressed the era of printing in Indochina and the editorial trajectories of writers abroad, notably in France
Trang 8The fields of creation are described in Chapter 4 These are the types of genres
exercised by Vietnamese writers: novels, theater, poetry, life stories, legends, stories, those are the genres most encountered in the literary life
We see that these genres form the thematic richness in the Vietnamese Francophone literary institution Four capital topics are also described on the anti-colonialism, the discovery of new world, the social engagement and the literature of
testimony It is also the subject of the last chapter
Finally, the conclusion opens some perspectives and complementary
propositions for future research approaches
To complete the panorama of the research topic, we provide a list of 59 key references and a bibliography of major works of French-speaking Vietnamese authors including 27 poems or poetry collections by 16 authors, 29 novels by 17 authors, 89 stories and essays by 33 authors, and 07 works of theater by 5 authors
The appendices include a list of a detailed project plan approved, a decision, and publications of the result
Trang 9MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Văn học Việt Nam viết bằng tiếng nước ngoài là một vấn đề mang tính thời sự, trong đó có bộ phận văn học viết bằng Pháp ngữ Chúng ta đã thừa nhận và đánh giá rất cao những đóng góp của Nguyễn Ái Quốc đối với văn học Việt Nam hiện đại qua những tác phẩm viết bằng tiếng Pháp trên các báo in tại Pháp hồi thập niên 20 thế kỷ
XX, thì không có lý do gì mà không thừa nhận rất nhiều tác phẩm khác viết bằng tiếng Pháp của nhiều tác giả là người Việt Nam xuất bản ở trong nước và nước ngoài, chủ yếu là ở Pháp, mà những tác phẩm này ít nhiều thể hiện tâm hồn và cốt cách Việt Nam Bộ phận văn học Pháp ngữ này là một sản phẩm văn học phong phú, nằm trong cấu trúc tổng thể văn học Việt Nam, thế nhưng, hiện nó có vẻ như vẫn còn ở tình trạng
“nguyên sơ” và đang cần được khai thác nghiêm túc
Thực vậy, trên bình diện quốc tế, nếu như các nhà nghiên cứu đã, đang và sẽ chú ý đặc biệt đến văn học Pháp ngữ ở các vùng Châu Phi, Caribê, Québec, v.v thì văn phẩm của vùng Đông Dương chỉ được đề cập đến trong một số rất nhỏ các công trình văn học sử hay phê bình văn học và những công trình này chủ yếu xuất phát từ các nhà nghiên cứu tại nước ngoài
Đề tài Tìm hiểu văn học Việt Nam bằng tiếng Pháp của các tác giả Việt Nam
từ cuối thế kỷ XIX đến nay do chúng tôi thực hiện hy vọng sẽ góp phần bổ khuyết cho
khoảng trống trên Đây là một đề tài mới, lại lớn và rộng, cần phải có một quá trình dài hơi thì mới có thể khai thác một cách toàn diện, đầy đủ với những khía cạnh đặc thù của bộ phận văn học này, chỉ rõ đóng góp của nó trong tổng thể văn học Việt Nam Ở
đây, chúng tôi chỉ giới hạn tìm hiểu diện mạo của bộ phận văn học Pháp ngữ ở Việt
Nam từ khởi đầu (cuối thế kỷ XIX) đến năm 1975 Vì thế báo cáo kết quả thu được
từ nghiên cứu của chúng tôi dưới đây chỉ có thể phản ánh một cách tổng quan nhất của
đề tài mà thôi
Một số khó khăn đầu tiên chúng tôi gặp phải trong quá trình nghiên cứu đề tài này lại có liên quan trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu Bởi bộ phận văn học Việt
Trang 10Nam viết bằng Pháp ngữ qua các giai đoạn, các trào lưu và các tác nhân của nó, đã đặt chúng tôi vào một thử thách không nhỏ và thậm chí đôi khi dẫn chúng tôi đến một cảm giác hoài nghi và đắn đo Những câu hỏi như: đâu là xuất phát điểm cho việc khai phá một cánh rừng còn tương đối hoang sơ này? Phương tiện nào có thể giúp chúng tôi đạt được mục đích tốt nhất ? Và khi mảnh đất đã được khai phá, hạt giống được gieo xuống, nẩy mầm, liệu chúng có thể tiếp tục được vun tưới và phát triển trên bán đảo Đông Dương, trong đó có Việt Nam hay không?
Những câu hỏi trên đây ít nhiều cho thấy tính chất mong manh của bộ phận văn học này đối với hệ thống các nền văn học Pháp ngữ nói chung và trong cấu trúc tổng thể văn học Việt Nam nói riêng Nghĩa là cho đến nay, văn học Việt Nam viết bằng Pháp ngữ vẫn chưa được nhìn nhận như là một bộ phận văn học độc lập Cụ thể, trên bình diện lịch sử, chúng tôi thấy không dễ dàng xác định được tính liên tục trong quá trình phát triển của nó Hơn nữa, như chúng tôi vừa nêu ra trên đây, một phần, văn học Pháp ngữ nhắm đến việc tạo ra những chuẩn mực và mô hình riêng, mặt khác nó phải gắn liền với văn học dân tộc và văn học Pháp ngữ thế giới nói chung Sự giằng co ấy tạo ra những điểm mập mờ khiến văn học Việt Nam viết bằng Pháp ngữ có nguy cơ bị đặt ngoài phạm vi chính thống
Những nghi ngại trên đây không phải là không có cơ sở Nhưng cũng chính tình trạng mập mờ giằng co ấy lại tạo ra nơi chúng tôi một phản ứng ngược: nó gây ra cảm giác tò mò và thôi thúc chúng tôi tìm kiếm lời đáp
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Chúng ta đã thừa nhận các tác phẩm văn học Pháp ngữ của Nguyễn Ái Quốc như một sản phẩm văn học phong phú nằm trong cấu trúc tổng thể văn học Việt Nam, đặc biệt những sáng tác được viết từ những năm 20 của thế kỷ XX trong những ngày hoạt động tại Pháp, cụ thể là những áng văn chính luận, những truyện và ký v.v đã được in thành sách hay công bố trên các tạp chí và các tờ báo lớn
Bên cạnh Nguyễn Ái Quốc, chúng ta còn có rất nhiều tác giả Việt Nam với những tác phẩm bằng tiếng Pháp có giá trị Như vậy, chúng ta không có lý do gì mà phủ nhận những tác phẩm của họ là không thuộc về văn học Việt Nam Đây là vấn đề
Trang 11chưa được quan tâm đúng mức để cho thấy những đóng góp, các giá trị và vị trí của chúng trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam, nhất là trong chặng đường hiện đại hoá văn học từ hai thập niên cuối của thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX
Để trình bày cụ thể tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng đặc trưng của đề tài là liên quan đến đối tượng được quan tâm rộng rãi trong các giới nghiên cứu văn học Pháp ngữ nói chung Tuy vậy, riêng mảng văn học Việt Nam bằng tiếng Pháp - có thể được xem như là một sản phẩm văn học hết sức phong phú của cả vùng Đông Nam Á - hiện có vẻ như vẫn còn ở tình trạng
“nguyên sơ” và cần được tìm hiểu
Hầu hết những công trình nghiên cứu về bộ phận văn học này chủ yếu xuất phát
từ các nhà nghiên cứu tại nước ngoài Chúng ta có thể kể đến một vài nghiên cứu về lịch sử văn học Việt Nam viết bằng Pháp ngữ như của Bùi Xuân Bào và Phạm Đán Bình, Bernard Hue, Henri Copin Quan sát một cách tổng thể, chúng ta nhận thấy rằng các tác giả đã phần nào tạo ra được vị thế của mảng văn học Việt Nam viết bằng Pháp ngữ Những công trình trên đã giới thiệu các nhà văn Việt Nam viết bằng tiếng Pháp từ những buổi đầu khi tiếng Pháp được đưa vào Việt Nam Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu đều cho thấy một số giới hạn của nó, một phần vì mục đích của các nhà nghiên cứu là chỉ có thể dừng lại ở mức độ giới thiệu tổng quan sơ lược, như công trình của giáo sư Bùi Xuân Bào; mặt khác, các trang dành để giới thiệu về các nhà văn người Việt viết bằng tiếng Pháp còn rất hạn chế so với phần giới thiệu các nhà văn gốc Pháp tại Đông Dương, nghĩa là các nhà nghiên cứu đã không chú trọng đặc biệt vào các tác giả người Việt mà chỉ là giới thiệu tổng quan về các nhà văn tại Đông Dương
Một số công trình khác mang tính chuyên khảo hơn như luận án Tiến sĩ của Nguyễn Hồng Nhiệm tại Đại học Massachusetts năm 1982 Công trình nghiên cứu dày
396 trang này tập trung vào nhà văn Phạm Văn Ký với đề tài L'Echiquier et
l'antinomie je / moi comme signe et substance du conflit Occident / Extrême Orient dans les oeuvres de Pham Van Ky Tựa đề của luận án cho thấy tác giả đi từ hệ thống
cứ liệu ngôn ngữ văn học của Phạm Văn Ký để mở rộng nghiên cứu mối quan hệ xung đột giữa Phương Tây và Phương Đông, một trong những chủ đề chính trong các tác
Trang 12phẩm của Phạm Văn Ký Luận án của Nguyễn Hồng Nhiệm đã giúp cho chúng tôi ít nhiều những cơ sở dữ liệu tham khảo về nội dung và nhất là trong vấn đề giao lưu văn hóa, dù ở đây tác giả chỉ giới hạn đối tượng nghiên cứu là một số tác phẩm của nhà văn Phạm Văn Ký mà thôi
Trong giới nghiên cứu Anh ngữ, chúng ta phải kể đến giáo sư Jack Yeager Ông
có một số công trình giá trị dành cho văn học Việt Nam viết bằng Pháp ngữ trong thời
gian qua Một trong số đó là chuyên khảo bằng Anh ngữ The Vietnamese Novel in
French: A Literary Response to Colonialism, xuất bản năm 1987 Tác giả đã dày
công phân tích khoảng 20 tiểu thuyết bằng tiếng Pháp của các nhà văn Việt Nam từ năm 1920 trở đi, với mục đích là để chứng minh những giá trị di sản văn hóa tri thức bắt nguồn từ thực dân Bên cạnh đó ông cũng giải thích thái độ của các văn sĩ đó đối với chế độ thực dân Như vậy, qua nghiên cứu mang tính phê bình lịch sử này, Jack Yeager cũng muốn giải thích cho độc giả những lý do tại sao các tác giả Việt Nam lại chọn tiếng Pháp như công cụ sáng tạo nghệ thuật Công trình của Jack Yeager dù sao vẫn có những hạn chế, khi tác giả chỉ khoanh vùng vào giai đoạn các nhà văn thời thực dân
Kế tiếp công trình của Jack Yeager, một công trình khảo cứu cũng bằng Anh ngữ của Nathalie Huynh Chau Nguyen xuất bản năm 2003 tại Đại học Northern
Illinois: Vietnamese Voices Gender and Cultural Identity in the Vietnamese
Francophone Novel Trong công trình này, tác giả đã không chỉ dừng lại ở các nhà
văn thời thực dân, mà còn muốn dẫn độc giả đi khám phá mảng văn học này từ giai đoạn thực dân cho đến nay Khảo luận của chuyên gia văn học Việt Nam Pháp ngữ này cho thấy sự phong phú của nó khi đề cập đến hàng loạt chủ đề khác nhau trong văn phẩm của các tác giả Việt Nam Cụ thể như: căn tính văn hóa Việt Nam và những ảnh hưởng từ các cuộc chiến tranh, những xáo trộn chính trị, từ những xung đột căng thẳng giữa tinh thần thuận theo hay đấu tranh chống thực dân, giữa truyền thống và hiện đại, giữa chế độ phụ quyền và vấn đề tự do của nữ giới, v.v Khảo luận được chia thành 6 chương đã trình bày một bức tranh tương đối chi tiết về nội dung các tác phẩm quan trọng của bộ phận văn học Việt Nam Pháp ngữ Thực vậy, từng chủ đề lớn được tác giả lần lượt khai triển trong mỗi chương; Giới thiệu các nhà văn tiêu biểu, trong đó
Trang 13có sự xuất hiện của các nữ văn sĩ, được tác giả nêu ra và nghiên cứu rất chi tiết như: Trịnh Thục Oanh, Trần Văn Tùng, Lý Thu Hồ, Kim Lefèvre, Phạm Duy Khiêm, Trương Đình Trị Albert de Teneuille, Cung Giũ Nguyên, Phạm Văn Ký Công trình của Nathalie Huynh Chau Nguyen được đánh giá như là một đóng góp quan trọng cho việc mở rộng lãnh địa nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam Pháp ngữ trên bình diện quốc tế Tuy nhiên, khi đặt trọng tâm vào nội dung văn học, Nathalie Huynh Chau Nguyen lại ít đề cập đến vấn đề đời sống thực tế, điều kiện của nhà văn cũng như sự tiếp nhận của sản phẩm văn học này ở tại bản quốc
Về phần mình, một trong hai tác giả của công trình nghiên cứu này là Phạm Văn Quang cũng đã cố gắng góp phần vào việc khám phá mảng văn học Việt Nam Pháp ngữ Kết quả thu được sau những năm nghiên cứu là một luận án Tiến sĩ bảo vệ vào tháng 6 năm 2007 tại Đại học Toulouse 2, Cộng hòa Pháp Luận án tập trung
nghiên cứu L’Ordre des mots dans les romans francophones de Cung Giu Nguyen,
Pham Van Ky et Pham Duy Khiem Khởi đi từ nhãn quan ngôn ngữ văn học, chúng
tôi đã chứng minh tính độc đáo trong phong cách xây dựng diễn ngôn của ba gương mặt tiêu biểu trong văn học Việt Nam Pháp ngữ Qua nghiên cứu phong cách và cấu trúc trật tự của diễn ngôn, chúng tôi đã tiến hành xem xét tính nhất quán giữa thế giới văn tự và bối cảnh phát ngôn, nghĩa là sự thống nhất giữa trật tự của diễn ngôn và trật
tự của thế giới Luận án cũng giải thích những đặc điểm của nghệ thuật ngôn từ được hình thành từ tư duy Việt trong ngôn ngữ Pháp Bảy tiểu thuyết được chọn lựa từ ba nhà văn nêu trên đã cung cấp cho chúng tôi một nguồn cứ liệu ngôn ngữ quan trọng
Nó cho phép công việc nghiên cứu đạt được kết quả thỏa mãn Đương nhiên luận án này chỉ là một nét vẽ trong bức tranh tổng thể văn học Việt Nam Pháp ngữ khi chúng tôi chủ trương đề cập đến vấn đề phương cách và quy tắc diễn ngôn văn học của Cung Giũ Nguyên, Phạm Văn Ký và Phạm Duy Khiêm Điều quan trọng đối với chúng tôi qua nghiên cứu luận án này là, nó tạo cho chúng tôi một kinh nghiệm quý giá và dẫn chúng tôi đến một hướng nghiên cứu mở rộng hơn trong lĩnh vực văn học này
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy toàn bộ các công trình trên đây đều xuất hiện tại nước ngoài và được viết bằng ngoại ngữ (Anh, Pháp) Lợi ích của chúng là tạo được tầm ảnh hưởng nhất định của văn học Việt Nam trên diễn đàn văn học quốc tế
Trang 14Nhưng hạn chế lớn là tại Việt Nam, các nghiên cứu này hầu như vẫn còn nằm trong
“vùng tối”; độc giả tại Việt Nam ít có điều kiện để tiếp xúc và khám phá những giá trị của chúng Điều đó có thể lý giải vì các tác phẩm văn học xuất hiện trong hình thức của một ngôn ngữ nước ngoài Nhưng phải thừa nhận một thực tế là các nhà nghiên cứu hiện chưa có một sự quan tâm thỏa đáng cho bộ phận văn học này, ngoại trừ một
số bài viết trên tạp chí Bách Khoa ở Sài Gòn (1957-1975) và mới đây độc giả có thể thấy xuất hiện danh mục một số nhà văn Pháp ngữ trong từ điển các nhà văn Việt Nam
3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài sẽ giới thiệu diện mạo văn học Việt Nam Pháp ngữ: sự hình thành, quá trình phát triển, lực lượng sáng tác, các chủ đề chính của nó trong đời sống tri thức và
xã hội, cụ thể là giới thiệu tiến trình văn học Việt Nam Pháp ngữ
Trên bình diện khoa học, đề tài nhắm tới việc định giá lại lý thuyết xã hội học
đã được ứng dụng trong phê bình văn học nói chung qua thực tế văn học Việt Nam Pháp ngữ
Về khía cạnh thực tiễn, chúng tôi có tham vọng đưa ra một định hướng mới cho việc nghiên cứu và giảng dạy chuyên đề văn học Việt Nam viết bằng Pháp ngữ ở trường Đại học
Như vậy đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là khảo sát toàn bộ những tác phẩm của các tác giả Việt Nam viết bằng tiếng Pháp từ cuối thế kỷ XIX cho đến năm 1975 (trên cơ sở những tư liệu mà chúng tôi tiếp cận được), những tác phẩm đó xuất bản ở trong nước hay ở nước ngoài, chủ yếu là ở Pháp, với tất cả những thể loại : truyện ký, tiểu thuyết, thơ, kịch, nghiên cứu lý luận phê bình, v.v
4 HƯỚNG TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
+ Sưu tầm và dịch tài liệu phục vụ nghiên cứu (các tài liệu chính):
Sưu tầm các tác phẩm văn học Pháp ngữ: tiểu thuyết, thơ, kịch, nghiên cứu lý luận phê bình, v.v
Trang 15Dịch một số tài liệu viết bằng ngoại ngữ: như công trình của Jack Yeager, Nguyễn Hồng Nhiệm và Nathalie Huynh Chau Nguyen, v.v
+ Khảo sát, điều tra thực tế trong nước:
Khảo sát tư liệu tại các thư viện tại Việt Nam (nhất là Thư viện Quốc gia Hà Nội, Thư viện Tổng hợp và Thư viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh), các
tủ sách của cá nhân có liên quan đến các nhà văn, với mục đích là để xây dựng thông tin nguồn gốc tác giả và tác phẩm Khảo sát chủ yếu theo phương pháp điều tra và thống kê
+ Khảo sát, điều tra thực tế ở nước ngoài:
Trao đổi thực tế với một số chuyên gia văn học cộng đồng Pháp ngữ; Điều tra
và thống kê tình hình hiện tại của các sản phẩm văn học Việt Nam Pháp ngữ được lưu trữ tại nước ngoài, như làm việc tại Phòng Nghiên cứu “LLA - Lettres, Langages et Arts (Văn học, Ngôn ngữ và Nghệ thuật)” tại Đại học Toulouse 2-Le Mirail, nước Cộng hòa Pháp, nhằm mục đích triển khai các nội dung của đề tài nghiên cứu
+ Hướng tiếp cận:
Để xác định phạm vi nghiên cứu, trước tiên chúng tôi đã chủ trương áp dụng cách tiếp cận Phê bình xã hội (Sociocritique) Cách tiếp cận này cho phép chúng tôi xem xét mối liên hệ giữa nội dung và bối cảnh xã hội của các tác phẩm văn học Nói một cách cụ thể hơn, lợi ích của hướng tiếp cận Phê bình xã hội nằm ở chỗ:
- Nó giúp khám phá sự tương quan giữa sáng tạo nghệ thuật với giai tầng xã hội, tính chất đối kháng và thế giới quan của các nhà văn
- Nó bắt nguồn từ giả định cho rằng nhà văn là người phát ngôn của một nhóm hay một giai tầng xã hội, với tư cách là người sáng tạo hay chủ thể thực của sáng tạo văn học Và chính nhà văn là người quyết định hình thái, nội dung của tác phẩm tùy thuộc vào lợi ích cá nhân hay quan điểm của cả giai tầng xã hội
- Các tác phẩm với tư cách là một thể loại, trong khi đó chủ nghĩa hiện thực có vai trò thẩm mỹ Cả hai yếu tố phụ thuộc lẫn nhau nhằm tạo ra những mối quan hệ giữa xã hội và văn học Hướng tiếp cận này sẽ chỉ cho ta thấy rõ điều đó
Trang 16- Nguồn gốc xã hội của nhà văn, tư tưởng triết lý, các điều kiện sáng tác đương nhiên trở thành những khía cạnh cần đến một hướng tiếp cận Phê bình xã hội
+ Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu vấn đề thể chế văn học Việt Nam Pháp ngữ, chúng tôi sẽ phải mở rộng hướng tiếp cận bằng cách kết hợp với lý thuyết Xã hội học văn học (Sociologie de la littérature) Bởi vì vấn đề được quan tâm trong đề tài nghiên cứu của chúng tôi là khám phá và tìm hiểu các tác nhân của văn học và sự tiếp nhận văn học
Vì thế các nguyên lý từ lý thuyết Xã hội học văn học sẽ là cơ sở giúp giải thích cấu trúc hình thành văn học Khái niệm cấu trúc hình thành văn học hay đúng hơn là thể chế văn học dựa trên ba chiều kích chính trong nhận thức: chức năng của nhà văn, chức năng của văn tự, và văn học với tư cách là một biểu tượng Đó cũng là những yếu
tố cho thấy văn học là sản phẩm của một xã hội có tính lịch sử và là sản phẩm được lĩnh hội từ nội tại của các mối liên hệ theo giai tầng Chính vì vậy không có một hướng tiếp cận nào khác ngoài hướng tiếp cận Xã hội học văn học cho phép giải thích được vấn đề
Bên cạnh, khi tiến hành thực hiện đề tài, chúng tôi còn sử dụng những phương pháp khác như:
- Phương pháp văn học sử cho phép xác định các mốc của tiến trình phát triển của văn học Việt Nam viết bằng Pháp ngữ
- Phương pháp thống kê phân loại sẽ giúp chúng tôi phân loại các tác giả và các thể loại tác phẩm
- Phương pháp phân tích - tổng hợp là cơ sở để giải thích nội dung các chủ đề trong bộ phận văn học Việt Nam bằng Pháp ngữ
- Phương pháp so sánh cũng đóng một vai trò quan trọng, giúp chúng tôi xác lập
vị thế của văn học Việt Nam viết bằng Pháp ngữ cũng như nét đặc thù của nó trên diễn
đàn văn học Pháp ngữ nói chung
5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Trang 17Đây là một đề tài hoàn toàn mới, thể hiện tính thời sự, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Hy vọng kết quả của đề tài này sẽ góp phần làm phong phú thêm diện mạo văn học Việt Nam viết bằng tiếng Pháp Nó có ý nghĩa quan trọng vì sẽ cho phép góp phần bổ khuyết cho văn học Việt Nam một bộ phận văn học mang tính đặc thù: văn học Việt Nam viết bằng Pháp ngữ
Văn học Việt Nam viết bằng tiếng Pháp là một bộ phận không thể tách rời của văn học Việt Nam, nằm trong cấu trúc tổng thể của văn học Việt Nam Lần đầu tiên bộ phận văn học này được chúng tôi trình bày, miêu tả có hệ thống và chuyên sâu, cụ thể là: cơ sở xã hội và nguyên nhân hình thành văn học Pháp ngữ ở Việt Nam; lực lượng tác giả (chân dung nhà văn), hệ thống xuất bản - lưu hành; thể loại tác phẩm; những chủ đề chính của một bộ phận văn học, mà chính nó góp phần làm nên sự đa dạng và phong phú diện mạo văn học Việt Nam, cũng như góp phần đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, giúp cho nền văn học này thoát khỏi tư duy nghệ thuật và phạm trù văn học trung đại để chuyển sang tư duy nghệ thuật và phạm trù văn học hiện đại, hội nhập toàn cầu
Thực vậy, dù đó là những sáng tạo mang tính cá nhân, nhưng văn học Việt Nam viết bằng Pháp ngữ là một sự kiện xã hội và văn hóa, vì thế nó mang tính xã hội sâu sắc Hơn nữa, nó thể hiện tư duy, tâm hồn, phong cách Việt Nam Chúng ta có thể tìm thấy nơi đó sự phong phú của nội dung: các chủ đề về đời sống văn hóa, xã hội, phong tục, tập quán, triết lý, tình yêu và cuộc sống gia đình, các giá trị văn hóa tinh thần dân tộc và tính chất nhân văn phổ quát của nó, vì thế nó cần phải được hiện tại hóa nơi công chúng độc giả Việt Nam Nghĩa là nghiên cứu này sẽ góp phần tạo cho độc giả cơ hội chia sẻ các giá trị khác nhau của văn học Việt Nam viết bằng Pháp ngữ
Hơn nữa, sự hình thành một bộ phận văn học, yếu tố ngôn ngữ, chân dung các tác giả, vấn đề tiếp nhận và sự tồn tại của nó trong dòng chảy của các biến động lịch sử luôn là các vấn đề quan trọng cần được khảo sát Tập trung nghiên cứu những khía cạnh trên là một sự tất yếu để giúp làm sáng tỏ hơn nữa vị thế của bộ phận văn học Việt Nam Pháp ngữ trong tiến trình hiện đại hóa văn học ở Việt Nam
Trang 18Ở một khía cạnh khác, trong quá trình củng cố các giá trị tinh thần và tri thức ở Việt Nam hiện nay, chúng ta cần thiết phải phối hợp với những ý tưởng mở rộng khuyến khích các nghiên cứu trên bình diện văn hóa Vì thế một công trình nghiên cứu
về sự nở rộ của đời sống văn học Việt Nam Pháp ngữ chắc chắn sẽ đóng một vai trò không nhỏ, nếu không muốn nói là cần thiết Thực vậy, trong thời kỳ hội nhập hiện nay, việc khôi phục lại diện mạo và tìm hiểu bộ phận văn học viết bằng tiếng Pháp trong văn học Việt Nam cho thấy những ý nghĩa thiết thực
6 ỨNG DỤNG CỦA ĐỀ TÀI
- Kết quả của đề tài sẽ góp phần bổ khuyết cho bức tranh toàn cảnh diện mạo văn học Việt Nam hiện đại Bởi văn học Việt Nam viết bằng Pháp ngữ là một trong những bộ phận cấu thành văn học Việt Nam, nó nằm trong cấu trúc tổng thể của văn học Việt Nam
- Có thể áp dụng kết quả của đề tài để giảng dạy cho sinh viên đại học và học viên cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam, chuyên ngành Văn học nước ngoài, chuyên ngành Ngữ văn Pháp
- Đề tài còn là tài liệu tham khảo bổ ích cho sinh viên đại học, học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành Văn học Việt Nam, ngành Văn học nước ngoài, ngành Ngữ văn Pháp và cho các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu những vấn đề có liên quan đến lĩnh vực này, cùng những ai quan tâm
7 GIỚI THIỆU CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần Mở đầu giới thiệu những vấn đề chung, trọng tâm của đề tài gồm 5 chương chính:
- Chương 1 Cơ sở xã hội và nguyên nhân hình thành bộ phận văn học Việt Nam Pháp ngữ
- Chương 2 Chân dung nhà văn
- Chương 3 Hệ thống xuất bản - lưu hành và thừa nhận tác phẩm
- Chương 4 Thể loại tác phẩm
Trang 192 Xác nhận quyết toán tài chính
3 Quyết định giao nhiệm vụ và phê duyệt kinh phí
4 Hợp đồng triển khai nhiệm vụ
5 Thuyết minh đề cương đề tài đã được phê duyệt
Trang 20CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH
BỘ PHẬN VĂN HỌC VIỆT NAM PHÁP NGỮ
1.1 Quá trình thực dân Pháp và lịch sử của một ngôn ngữ văn học mới
Xưa nay khái niệm chủ nghĩa thực dân và quá trình khai thác thuộc địa đã để lại hình ảnh không mấy thân thiện đối với người dân ở những nước thuộc địa Về khía cạnh chính trị, chủ nghĩa thực dân với chính sách cai trị và chủ trương nguyên lý đồng hóa, tạo ra nơi người dân thuộc địa sự thụ động và vị thế thấp kém (cách gọi “dân An Nam” được coi như là xuất phát từ cái nhìn thiên vị đó?) Nguyên lý đồng hóa cũng tác động vào việc nhìn nhận thiếu chính xác về các giá trị văn hoá của người bản địa, yếu tố vốn dĩ là nhu cầu tự nhiên của con người Mặt khác, người ta không dễ dàng so sánh giữa hai nền văn hoá với nhau Như vậy, một mức độ nào đó, quá trình thực dân với chủ trương đồng hoá đã có thể tạo ra phản ứng ngược Một cách chung chung, người bản địa với bản chất văn hóa, vẫn luôn luôn có nhu cầu chứng tỏ căn tính của mình Cách thế phản ứng có thể diễn ra theo nhiều mức độ và phạm vi khác nhau Vấn
đề sẽ được chúng tôi đề cập đến khi nói về loại văn chương phản kháng ở phần sau
Tuy nhiên, chúng ta có thể cho rằng quá trình ra đời của chữ Quốc ngữ phải chăng là kết quả và là sự thành công của nguyên lý đồng hoá? Câu trả lời sẽ dành cho các nhà nhân chủng học, ngôn ngữ học Ở đây, chúng tôi chỉ xem xét sự kiện hình thành chữ Quốc ngữ như là một yếu tố quan trọng của bộ phận văn học Pháp ngữ
Có một thực tế không thể phủ nhận là khi người Pháp xuất hiện ở Việt Nam, biến Việt Nam thành thuộc địa của họ thì đó cũng là lúc làm giảm tầm ảnh hưởng của Trung Hoa đối với Việt Nam trên mọi lĩnh vực: văn hoá, tư tưởng; phong tục tập quán; sinh hoạt xã hội, ngôn ngữ văn tự Hán tự và chữ Nôm từ rất nhiều thế kỷ đã ăn sâu vào trong đời sống văn hóa và văn chương Việt Từ cuối thế kỷ XIX, đặc biệt là hai thập niên đầu thế kỷ XX, trong khi ưu thế của Hán tự và chữ Nôm bị giảm dần thì chữ Quốc ngữ trỗi dậy một cách mạnh mẽ, có lẽ nhờ vào hệ thống ký tự, cách viết đơn giản
và dễ học, dễ nhớ hơn Nó được đón nhận đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa văn học Mặc dù chính quyền thực dân Pháp đã dùng chữ Quốc ngữ như một công cụ phục vụ
Trang 21cho lợi ích của họ, nhưng về phía mình, các nhà trí thức Việt Nam đã tận dụng sự phát triển của chữ Quốc ngữ như là một cơ hội để đấu tranh và dân chủ hóa những ý tưởng mới của dân bản địa Trong số những người có đóng góp vào sự phát triển của chữ Quốc ngữ ở giai đoạn đầu (nửa cuối thế kỷ XIX), có thể liệt kê ra đây một số học giả nổi tiếng như Pétrus Trương Vĩnh Ký, Paulus Huình Tịnh Của, Trương Minh Ký Tiếp sau đó là phong trào Đông Kinh Nghĩa thục dạy chữ Quốc ngữ và các môn khoa học mới, với mục đích “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” hồi đầu thế kỷ XX (1907)
Một điểm quan trọng khác cần ghi nhận ở đây là, một số lớn học giả và các nhà trí thức nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX thường sử dụng song ngữ Việt - Pháp hay Hán - Pháp Trước tiên phải kể đến các đại thần trong triều đình Huế với vai trò ngoại giao, họ đã đặc biệt quan tâm đến tiếng Pháp như một công cụ giao tiếp và sáng tác1, trường hợp của Kim Giang Nguyễn Trọng Hiệp là ví dụ Ông là một vị đại thần triều Nguyễn: Văn minh điện Đại học sĩ, một trong Tứ trụ đại thần Dưới triều Nguyễn Thành Thái, ông từng làm chánh sứ sang Pháp năm 1894, trong chuyến đi này, ông đã
sáng tác một tập thơ song ngữ Pháp - Hán có nhan đề Paris capitale de la France -
Recueil de vers (大法國玻璃都城集詠 - Đại Pháp quốc Pha-li đô thành tập vịnh2 - Tuyển tập thơ vịnh về thủ đô Paris của nước Pháp) với 36 bài thất ngôn tứ tuyệt chữ Hán, mà phần thơ và ghi chú tiếng Pháp chính là phần chuyển ngữ từ thơ và ghi chú bằng chữ Hán
Một số khác được coi như những người vừa đặt nền móng cho chữ Quốc ngữ phát triển, vừa đưa tiếng Pháp vào những sinh hoạt văn hoá tri thức Sau Pétrus Trương Vĩnh Ký, hai trong số những học giả nổi tiếng là Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh đã góp phần lớn vào quá trình phát triển tiếng Pháp, qua vai trò là vị chủ bút của
hai tờ báo: Nam Phong tạp chí và Đông Dương tạp chí Chính hai vị cùng với các
Trang 22cộng tác viên của hai tạp chí này là những tác nhân quan trọng cho sự phát triển của văn học Việt Nam nói chung và của quá trình hiện đại hóa văn học nói riêng Như vậy, song song với sự phát triển của chữ Quốc ngữ và Pháp ngữ là sự hình thành một bộ phận văn học Việt Nam viết bằng tiếng Pháp của các tác giả Việt Nam
1.2 Chính sách giáo dục - hệ thống trường học và tác động của nó đến sự ra đời của văn học Pháp ngữ
1.2.1 Từ Đông Dương…
Năm 1858, người Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng mở đầu công cuộc thực dân
tại Việt Nam Rồi tiếp theo, vùng đất Sài Gòn Gia Định nhanh chóng bị rơi vào tay thực dân Pháp Năm 1862, triều đình nhà Nguyễn cắt đất cầu hòa, ba tỉnh miền Đông Nam kỳ (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường) bị Pháp thống trị Năm 1874, ba tỉnh miền Tây Nam kỳ (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) lại tiếp tục bị rơi vào tay thực dân Pháp Đến năm 1884 thì cả Việt Nam bị Pháp chiếm đóng, Trung kỳ và Bắc kỳ thành xứ bảo
hộ, có vua có quan Nam triều nhưng hầu như chỉ là hư vị mà thôi Tất cả công việc của triều đình đều chịu sự giám sát, chỉ đạo của thực dân mà đứng đầu là Toàn quyền Đông Dương, sau đó là Khâm sứ Trung kỳ và Thống sứ Bắc kỳ; để nối liên lạc giữa triều đình nhà Nguyễn với chính quyền Pháp có viên quan Khâm sai đại thần người Việt Còn Nam kỳ lúc này đã bị tách khỏi Việt Nam, trở thành xứ thuộc địa, mà Pháp coi như một bang của chúng, có quan Thống đốc Nam kỳ người Pháp cai trị Bắt đầu
từ đó, để dễ bề cai trị, thực dân Pháp thực hiện một chính sách giáo dục với đặc tính sau: truyền bá văn hóa Pháp, ngôn ngữ Pháp và đào tạo một đội ngũ quan lại, công chức, viên chức người bản xứ chủ yếu là để phục vụ cho mục đích chính trị Người ta đánh giá rằng đó là chính sách giáo dục theo chiều ngang, chứ không phải theo chiều dọc Ngay từ ngày đầu chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam kỳ (1862), Thống đốc Bonard đã có chủ trương mở mang nền giáo dục kiểu mới ở Nam kỳ, ông cho đó là
“yêu cầu đầu tiên đối với tương lai Nam kỳ” Mục đích giáo dục của Pháp là dạy cho
người bản xứ biết ngôn ngữ Pháp, hiểu và sống theo cách sống Pháp với mục đích cuối cùng là đào tạo cho được một đội ngũ công chức viên chức Chính Thống đốc Bonard
phát biểu “Cần dạy ngôn ngữ và cách sống Pháp cho thanh niên An Nam để về sau có
được những nhân viên giàu năng lực và để đền bù cho những gia đình đã chứng tỏ
Trang 23lòng tận tụy đối với nước Pháp” Từ khi Pháp chiếm cả Nam kỳ thì cũng từ đó chế độ
giáo dục Hán học trên vùng đất này bị hạn chế và chậm chí bị bãi bỏ sau những năm
1861 đối với miền Đông và năm 1864 đối với miền Tây Nam kỳ Chữ Nho chỉ còn tồn tại ở các lớp mở tại tư gia hoặc tại nhà các vị thầy đồ mà thôi; thay vào đó là chế độ
giáo dục lối mới của Pháp: giáo dục Tây học Chính vì thế, ngày 31 tháng 03 năm
1863, Thống đốc Bonard đã ký quyết định tổ chức lại hệ thống giáo dục ở Sài Gòn và các tỉnh lân cận Hai trường học đầu tiên gồm một trường nam và một trường nữ đã
được thành lập để dạy cho con cái các viên chức của chế độ mới
Điều cần lưu ý là, bên cạnh chú trọng giáo dục để đào tạo những nhân viên làm việc cho chế độ, thì mặt khác thực dân Pháp lại rất hạn chế cho người dân bản địa được học cao hơn, bằng cách thời gian đầu chỉ mở tại các nước thuộc địa các trường học từ cấp trung học trở xuống mà thôi Vì trong nước lúc này chưa có trường cao đẳng, đại học nên học sinh bản xứ sau khi học xong chương trình trung học muốn đi
du học để nhận học vị cao hơn cũng không được, nếu không phải là người đã vào làng Tây, tức nhập quốc tịch Pháp Toàn quyền Đông Dương lúc này là Merlin đã nói rằng:
“Ở đây chẳng nên mở mang nền giáo dục theo chiều dọc, mà tốt hơn hết nên theo chiều ngang” Có tình trạng như thế là vì chính quyền thực dân lo sợ người dân bản
địa ra nước ngoài du học sẽ tiếp thu những văn minh tiến bộ, khi về nước sẽ chống đối lại người Pháp thực dân Điều này, chính Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut đã
tiết lộ:“Thật là nguy hiểm, nếu ta để cho bọn trí thức bản xứ được ăn học ở ngoài
quyền hạn của ta, ở xứ khác dưới những ảnh hưởng và những tinh thần học hỏi, chính trị khác, rồi khi về nước, họ có thể dùng những tài tuyên truyền và hoạt động học được
ở nước ngoài để chống lại người bảo hộ địa phương đã từ chối không cho họ được ăn học” Tại thời điểm này, nếu có người dân bản xứ nào được chính quyền thực dân cho
phép sang Pháp du học thì cũng chỉ được học một số ngành nghề mà họ quy định Trước tình hình đó, nhiều trí thức tiến bộ người Việt đã tìm mọi cách đi ra nước ngoài
du học Vì thế, về sau, chính quyền thực dân lo sợ thanh niên Việt Nam sau khi sang nước khác học trở về sẽ là mối nguy hại đối với sự thống trị của họ ở Đông Dương, nên buộc lòng họ phải mở một cách hạn chế một vài trường cao đẳng ở Đông Dương
đặt tại nước ta Toàn quyền Albert Sarraut phát biểu: “Trước chiến tranh, những người
Trang 24cách mạng An Nam tạm trú ở Hồng Kông, ở Trung Quốc, ở Nhật và học tập tại các trường đại học Nhật hay Anh (…) Khi có người hỏi họ tại sao không theo học ở Đông Dương, họ trả lời rằng “thực dân không làm gì để dạy dỗ họ, vì chúng chỉ mở một thứ học chính thấp lẹt bẹt” Cho nên, tôi đã phải mở những trường Lyxê (Lycée, tức trường đào tạo Tú tài), trường cao đẳng cho dân An Nam để không còn đứa nào được quyền nhắc lại câu nói trên và trốn khỏi Đông Dương để đi học những bài dạy làm loạn ở chỗ khác” Dù ở ta lúc này đã có trường cao đẳng nhưng số lượng người được
vào học cũng rất ít Ví dụ trường Cao đẳng Thú y được thành lập năm 1917, sau 26 năm hoạt động, vào năm 1943, vậy mà tổng số sinh viên đang theo học tại đây chỉ có
27 người, trong đó năm thứ nhất là 14 người, năm thứ hai có 08 người và năm thứ ba chỉ có 05 người! Chính sách giáo dục này của Pháp đã bị Nguyễn Ái Quốc lên án
trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp với những con số thống kê rất thuyết
phục rằng vào năm 1924, toàn cõi Đông Dương có 19 triệu dân mà chỉ có 2965 trường học các cấp, với 148 nghìn học sinh, như vậy cứ 1000 người mới có 07 người được đi học! Nhận định về chính sách hạn chế giáo dục của Pháp ở Đông Dương, Nguyễn Ái
Quốc đã viết: “Nhân dân Đông Dương khẩn khoản đòi mở trường học vì trường học
thiếu một cách nghiêm trọng Mỗi năm, vào kỳ khai giảng, nhiều phụ huynh phải đi gõ cửa, chạy chọt mọi nơi thân thế, có khi chịu trả gấp đôi tiền nội trú, nhưng vẫn không tìm được chỗ cho con học, và hàng ngàn trẻ em đành chịu ngu dốt vì nạn thiếu trường”1
Nói tóm lại, khi mới xâm chiếm Việt Nam, dù chính quyền thực dân Pháp có chú trọng đến giáo dục, nhưng mục đích mở trường là để đào tạo chuyên viên và những người làm việc trung thành và tận tụy cho họ, chứ không phổ cập giáo dục rộng rãi trong toàn dân Đây là một chính sách hạn chế giáo dục Với chủ trương và chính sách giáo dục như trên, nhằm mục đích cai trị nên trong hơn 80 năm chiếm đóng, thực dân Pháp chỉ mới mở hạn chế một số trường chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học Việc
mở trường này chủ yếu là do nhu cầu biên chế về chuyên viên, cán sự có trình độ cao
để đảm nhận công việc cho nhà nước thuộc địa; mặt khác là còn xuất phát từ sự đấu
1
Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 97
Trang 25tranh của nhân dân đòi hỏi họ phải mở trường để con em khỏi phải đi du học Giáo dục phổ thông đã ít và trường học hạn chế thì giáo dục cao đẳng đại học lại càng ít ỏi hơn:
ít về số trường và ít về số lượng sinh viên Theo thống kê thì năm 1942 là năm có số sinh viên đông nhất đang theo học tại các trường, vậy mà tổng số sinh viên trên toàn Liên bang Đông Dương chỉ có 1085 người; trong đó có khoảng 200 sinh viên người Pháp, những người này vì do chiến tranh nên họ không về Pháp được nên đành phải ở lại học tại thuộc địa, còn lại là trên 800 sinh viên bản xứ (Việt Nam, Cambodge, Lào) Bình quân mỗi trường chỉ có đến vài chục người
Như vậy, trong gần một thế kỷ chiếm đóng Việt Nam, cho dù chính quyền thực dân có mở một số trường Đại học và Cao đẳng cho toàn xứ Đông Dương nhưng số người theo học và tốt nghiệp cũng chẳng được là bao Mà mục đích tối hậu của việc
mở các trường thuộc cấp học này là nhằm đào tạo con em quan lại người Pháp; con em quan chức người Việt đang làm việc cho Tây và đào tạo những chuyên viên có trình
độ cao làm việc cho chế độ thực dân, kể cả những trường học như trường Hậu bổ, trường Sĩ hoạn (là trường đào tạo và bổ túc kiến thức cho các quan chức Việt Nam thời Pháp thuộc), và người theo học ở đây toàn là bậc khoa bảng - những ông Cử, ông Nghè Hán học nhưng phải vào học để bổ sung và cập nhật những kiến thức cai trị hiện đại theo ý đồ của thực dân
Tuy nhiên, đến nay, công bằng mà nhìn lại thì không thể phủ nhận sự tác động mang tính tích cực của hệ thống giáo dục thời thực dân Pháp đến đời sống văn hóa của người Việt Theo Bùi Xuân Bào, từ sau năm 1862, tức sau khi chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam kỳ, chính quyền thực dân đã áp đặt tiếng Pháp như một ngôn ngữ chính trong hệ thống giảng dạy thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm1 Nhưng chính sách này không nhằm loại bỏ chữ Quốc ngữ mà ngược lại vẫn chấp nhận duy trì hệ thống
song ngữ Trong công trình Colonisation scientifique et les colonies françaises (1884),
giáo sư Địa lý Y khoa Bordier đã xác định điều đó trong phần trình bày về trường học
ở Đông Dương:
1
Bùi Xuân Bào “Vietnam”, in Fédération internationale des professeurs de français, Littératures de langue
française hors de France Sèves, FIPF, 1976, tr 633.
Trang 26Một trong những kết quả của các trường này (tiểu học và trung học) là đã dạy cho người dân Annam biết viết tiếng của họ bằng ký tự La tinh: cho đến thời điểm đó tất cả các giấy tờ đều phải viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm trong khi đó người Annam lại không đọc được và hình thức chữ viết đó không thể áp dụng cho tiếng của
họ được1
Ở bất kỳ thời đại nào hệ thống giáo dục cũng mang một ý nghĩa quan trọng Nó
là một trong những yếu tố của sự tồn tại, phát triển và định tính hoá con người và xã
hội Louis Althusser, triết gia theo chủ thuyết marxiste, trong tác phẩm Positions
(1964-1975) còn đề cập đến vai trò của trường học như là công cụ duy trì bộ máy ý thức hệ của nhà nước Thực vậy, nếu như chính quyền thực dân Pháp đã áp đặt vào Việt Nam một hệ thống giáo dục Tây học để nhằm thực hiện mục đích của họ, thì điều
đó cũng không có nghĩa là nền giáo dục đó không mang lại những tác động tích cực cho xã hội Việt Nam hồi bấy giờ Thực vậy, ngoài việc sử dụng tiếng Pháp để truyền
bá những hình thức và tư tưởng chính trị, ở một mức độ nào đó, chính sách giáo dục của Pháp đã giúp người Việt tiếp cận với kỹ thuật và văn minh Phương Tây, nhất là hệ thống giáo dục hiện đại đó đã góp phần làm cho đời sống trí thức và xã hội tiến triển rất nhanh Việc hình thành hệ thống các trường Sơ học, Tiểu học Pháp - Việt ở các trung tâm huyện, phủ, tỉnh đến các trường Cao đẳng Tiểu học (tương đương cấp Trung học cơ sở hiện nay) tại các vùng để thi tốt nghiệp lấy bằng Thành chung - Diplôme như: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Huế, Quy Nhơn, Sài Gòn, Mỹ Tho, Cần Thơ hồi đầu thế kỷ XX; đến khoảng hai, ba thập niên đầu thế kỷ XX, chính quyền thực dân thành lập các trường Trung học (Lycée) thi lấy bằng Tú tài Pháp hoặc Tú tài bản
xứ, tại Hà Nội có trường Albert Sarraut và trường Bảo hộ (trường Bưởi); tại Huế có trường Khải Định (trường Quốc học); tại Sài Gòn có trường Chasseloup Laubat, trường Pétrus Trương Vĩnh Ký, trường Gia Long, v.v Tiếp theo là hệ thống các trường dạy nghề, các trường cao đẳng đại học được thành lập tại các thành phố lớn như ở Hải Phòng, Hà Nội, Sài Gòn, mà tập trung nhiều nhất là ở Hà Nội (bậc cao đẳng, đại học): Sư phạm, Văn khoa, Khoa học, Luật khoa, Y khoa, Nông lâm, Công
1
A Bordier,Colonisation scientifique et les colonies françaises, 1884, tr 403
Trang 27chánh, Mỹ thuật, v.v Còn ở Hải Phòng, Sài Gòn thì chỉ có trường đào tạo nghề (dạng trung cấp nghề như hiện nay) Chính các trường học này đã đào tạo ra nhiều nhân tài, trí thức hiện đại, mà sau này chính các vị đó đã có những đóng góp rất lớn, đóng vai trò chủ đạo trong công cuộc xây dựng đất nước ở nhiều lĩnh vực, trong đó có giáo dục, không chỉ hồi nửa đầu thế kỷ XX dưới chế độ thực dân nửa phong kiến mà ngay cả dưới chế độ mới sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, rồi trong kháng chiến chống Pháp, và cả khi hòa bình lập lại trên Miền Bắc sau năm 1954
Trong hệ thống thiết chế của đời sống văn học, nguồn gốc môi trường đào tạo của các tác giả là một trong những yếu tố nhất thiết phải được xem xét Nó vừa chứng
tỏ thực tế vốn kiến thức văn hóa xã hội của nhà văn, vừa cho phép nhận định quá trình văn nghiệp của họ Nói cách khác, chính môi trường giáo dục đã tạo nên một không gian ý nghĩa, nơi đó diện mạo nhà văn bắt đầu được hình thành
Thực vậy, trong khi kiếm tìm các dữ liệu liên quan đến tiểu sử và tác phẩm của các tác giả, chúng tôi thấy rằng, một trong những dấu vết không thể xoá bỏ được từ quá trình thực dân đó là nền giáo dục Pháp tại Đông Dương đã hình thành một đội ngũ trí thức trẻ Như chúng tôi vừa nêu trên đây, việc thiết lập các trường học tại những thành phố lớn ở Đông Dương như Hà Nội, Hải Phòng, Huế và Sài Gòn đã tạo ra những trí thức ưu tú của Việt Nam, trong đó phải kể đến những vị như: Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh Cả hai đều được đào tạo từ Collège du Protectorat (Trung học Bảo hộ) Phạm Văn Ký và Pierre Đỗ Đình (Đỗ Đình Thạch) xuất thân từ Lycée du Protectorat của Hà Nội Lycée Albert Sarraut nổi tiếng tại Hà Nội cũng là nơi theo học của nhiều nhà trí thức như Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Tiến Lãng, Nguyễn Mạnh Tường, Phạm Duy Khiêm và Nguyễn Phan Long Ở chương trình Đại học, có Trần Văn Tùng, sinh viên Trường Luật Hà Nội, còn Vi Huyền Đắc theo học tại Trường Mỹ thuật Hà Nội
Tại Trung kỳ, người ta thường nói đến Trường Quốc học Huế (trường Khải Định), nơi phát sinh ra hàng loạt các nhân sĩ nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam Nhà văn
Trang 28Cung Giũ Nguyên đã một thời theo học tại đĩ1 Mơi trường giáo dục đĩ hẳn nhiên đã
ăn sâu trong tinh thần và ý thức của nhà văn trẻ để rồi chuyển hố thành những quan niệm quý báu trong tác phẩm về lịng kiêu hùng dân tộc và tình yêu quê hương đất nước
Tại Sài Gịn, những trường nổi tiếng như Chasseloup Laubat, Pétrus Ký hay những trường Trung học bản địa và Cao đẳng tiểu học đã trở thành cái nơi của đời sống tri thức Chúng ta đặc biệt chứng minh sự xuất hiện của các nữ văn sĩ như bà Lý Thu Hồ, Nguyễn Ái Chuân Marie-Thérèse, Kim Lefèbre hay Anna Mọ (Trần Thiên Nga), v.v từng theo học tại một trong các trường trên
1.2.2 …Đến chính quốc
Trên nền tảng của hệ thống giáo dục do chính quyền thực dân thiết lập tại Đơng Dương thời đĩ, phần đơng những trí thức trẻ đã tích lũy được vốn tri thức và trải nghiệm trong việc tiếp xúc với văn hĩa Pháp và phương Tây Rất nhiều người trong số
họ đã cĩ cơ hội để phiêu lưu đến một chân trời tri thức mới Nhờ các chương trình học bổng hay việc tự đi du học, họ tiếp tục khám phá và tìm kiếm tri thức qua các chương trình đại học và sau đại học Phạm Duy Khiêm cĩ thể được nêu ra như một điển hình Ơng là người Việt đầu tiên được nhận vào học tại École Normale Supérieure de la rue l’Ulm (Trường Cao đẳng phố Ulm), một trong những trường nổi tiếng nhất của Pháp
và thế giới Ơng tốt nghiệp Thạc sĩ Ngữ văn chuyên ngành Văn phạm và là vị Thạc sĩ người Việt Nam đầu tiên nghiên cứu về văn phạm Pháp ngữ2 Chính nơi đĩ Phạm Duy Khiêm đã trở thành bạn đồng học và là bạn thân của Georges Pompidou và Léopold Sédar Senghor Cả hai vị này sau đĩ đều trở thành Tổng thống của hai nước: Cộng hồ Pháp và Sénégal Người ta cĩ thể đánh giá rằng, trong mối tương quan, họ đại diện cho
sự bình đẳng và tình huynh đệ; họ xố bỏ đi những khoảng cách phân biệt và kỳ thị thường xảy ra giữa các dân tộc Trở thành giáo sư và nhà văn, họ dấn thân vào cơng
1 Con đường học vấn của Cung Giũ Nguyên cĩ vẻ như khơng được đánh dấu qua bằng cấp, mặc dù ơng cĩ nhiều tham vọng Cĩ thể thời gian theo học trung học tại Quốc học Huế chắc chắn đã mang lại cho Cung Giũ Nguyên những trải nghiệm cơ bản liên quan đến tiến trình văn nghiệp của ơng
2
Người ta cịn ghi nhận rằng sau khi lấy chứng nhận về cổ ngữ La tinh và Hy Lạp, Phạm Duy Khiêm đã đăng ký
theo học và soạn thảo dưới sự hướng dẫn của giáo sư Fortunat Strowski một đề tài cĩ tựa đề Étude sur l’analyse
de l’amour dans le théâtre de Marivaux (Khảo cứu về việc giải thích chủ đề tình yêu trong kịch bản của Marivaux) (Theo Jean-François Sirinelli, 1988, tr 10)
Trang 29cuộc cổ vũ cho các giá trị của ngôn ngữ và đối thoại Là chính khách, họ tôn trọng những khác biệt Như vậy chúng ta không thể phủ nhận vai trò quan trọng của môi trường giáo dục và đào tạo trong việc hình thành nên diện mạo của nhà văn Phạm Duy Khiêm, cũng như nguyên nhân ra đời các tác phẩm của ông
Cùng trải qua quá trình đào tạo tại trường École Normale Supérieure de la rue l’Ulm này còn có nhà toán học Hoàng Xuân Hãn và triết gia xuất sắc Trần Đức Thảo
Cả hai nhà khoa học này đều là những người đã có những vai trò và đóng góp rất lớn trong lĩnh vực giáo dục, khoa học, học thuật Việt Nam
Từ nền giáo dục của Pháp tại Đông Dương sang nền giáo dục chính quốc tại Pháp, các trí thức trẻ Việt Nam đã chứng minh một sức mạnh tiềm tàng trong nhiều lĩnh vực của đời sống văn hóa và tri thức Trường hợp Nguyễn Mạnh Tường xứng đáng được nói đến Khi chỉ mới 23 tuổi ông là người Việt đầu tiên bảo vệ thành công hai luận án Tiến sĩ cấp quốc gia, một về Luật và một về Văn học, đều tại Đại học Montpellier Trích đoạn bài phản biện của Hội đồng dưới đây là lời chứng rõ nhất về khả năng của Nguyễn Mạnh Tường:
“Là một người Annam, anh Nguyễn Mạnh Tường đã bảo vệ trước hội đồng Khoa Ngữ văn thuộc trường Đại học Montpellier một luận án Tiến sĩ với chủ đề hết sức khiêm tốn: “Khảo cứu về giá trị bi kịch trong kịch bản của Alfred de Musset” Chưa bao giờ thuật ngữ cổ “bảo vệ luận án” lại lột tả ý nghĩa phong phú của nó như lúc này Tác giả, trong khi vừa làm rạng danh cho dân tộc mình vừa làm vẻ vang cho văn hóa Pháp mà mình đã chọn lựa, xuất hiện với hàng loạt danh hiệu: Tiến sĩ Văn chương, Tiến sĩ Luật, Trạng sư toà án”1
Trong số những người Tây học, Phạm Văn Ký có vẻ như ít may mắn hơn trong quá trình học đại học Nhận được học bổng từ chính quyền thuộc địa, Phạm Văn Ký đã sớm khám phá phương trời Tây tại thủ đô Paris Năm 1939, ông đăng ký vào ngành Văn chương tại Đại học Sorbonne, nhưng không kết thúc vì chính quyền thuộc địa không tiếp tục cấp học bổng nữa Nhưng nhờ từ lâu đã say sưa khám phá các giá trị
1
Chúng tôi trích dịch từ Société Alfred de Musset, Cahiers Alfred de Musset, Genève: Statkine Reprints, 1972,
tr 82
Trang 30tinh thần Hán Việt - điều mà ông gọi là khoa học “bên trong” - Phạm Văn Ký tiếp tục đăng ký soạn thảo luận án Tiến sĩ chuyên ngành Khoa học Tôn giáo tại Viện Nghiên cứu về Trung Hoa, dưới sự hướng dẫn của Marcel Mauss, cha đẻ của ngành Dân tộc học ở Pháp Nhưng việc giáo sư hướng dẫn qua đời năm 1950 đã không cho phép Phạm Văn Ký hoàn thành luận án Con đường học vấn đã không mấy thuận lợi đối với Phạm Văn Ký, dù vậy, ngay từ những năm đầu sống ở Pháp ông đã thụ hưởng được những môi trường thuận lợi cho việc sáng tác văn học Ông đã nhanh chóng có được vị thế và tạo được ảnh hưởng trong giới văn sĩ Pháp
Chúng tôi xin được dừng lại ở phần trình bày một số tác giả Tây học tiêu biểu trước năm 1975 xuất thân từ hệ thống giáo dục Pháp Chắc chắn sẽ còn những nhà văn khác chịu ảnh hưởng của nền giáo dục Pháp và họ có sáng tác vào thời điểm sau năm
1975, đặc biệt những tác giả thuộc thế hệ trẻ sống tại nước ngoài, như Kim Lefèvre, Thuong Vuong-Riddick, Flament Ngọc Thu, Nguyễn Tuyết Nga, Kim Đoan, Kim Thúy, Trần Minh Huy, Linda Lê, v.v
Trang 31CHƯƠNG 2 : CHÂN DUNG NHÀ VĂN
Trình bày diện mạo văn học Việt Nam Pháp ngữ đòi hỏi chúng tôi chú ý đặc biệt đến lực lượng sáng tác, tức giới thiệu về tác giả, nói một cách chính xác là chúng tôi sẽ xem xét vị thế xã hội của các nhà văn Bởi lẽ nếu chúng ta thừa nhận có một bộ phận văn học Việt Nam viết bằng Pháp ngữ trong lịch sử văn học Việt Nam, thì việc xem xét các tác nhân hay các yếu tố hình thành và cho phép nó vận hành là nhiệm vụ cần thiết Trong các tác nhân đó, tác giả giữ vai trò tiên quyết Vậy có tiêu chí nào cho phép chúng ta xác định một người là nhà văn hay tác giả văn học? Khái niệm nhà văn hay tác giả văn học chắc chắn không mang một ý nghĩa tuyệt đối mà thuộc phạm vi
mơ hồ và bấp bênh, nếu xét theo tiêu chí thể loại nghề nghiệp xã hội Tình trạng này được thể hiện rất rõ trong giới các tác giả Việt Nam Cũng như trong hầu hết các nền văn học, các tác giả Việt Nam khởi đầu hoạt động sáng tác ở những điều kiện và môi trường rất khác nhau, theo cách thức khác nhau mà họ tiếp cận đời sống sáng tác văn học
Về số lượng nhà văn, qua khảo sát toàn bộ đời sống văn học Việt Nam Pháp ngữ, tính cho đến nay (2010), chúng tôi ghi nhận có khoảng 180 tác giả Trong đó, nếu chỉ tính đến năm 1975, con số các tác giả đạt được là trên 60 người, chiếm tỷ lệ một phần ba số lượng Như vậy, từ khi xuất hiện tác phẩm Pháp ngữ có kèm chữ Hán - một
hiện tượng song ngữ - là tập thơ Paris Capitale de la France xuất bản năm 1897 của
quan đại thần nhà Nguyễn: Kim Giang Nguyễn Trọng Hiệp, cho đến năm 1975, thì con số trên 60 tác giả sáng tác trong khoảng thời gian gần một thế kỷ quả là một con
số hết sức khiêm tốn đối với một bộ phận văn học
Chúng tôi cũng ghi nhận một cách tổng quát rằng, đối với nhiều tác giả, vị trí xã hội nghề nghiệp của họ không hề bắt nguồn từ việc họ sáng tác và xuất bản các tác phẩm của mình Nghĩa là viết văn không phải là hoạt động chính cho phép hình thành nên vị thế xã hội của tác giả Vị trí của họ trong không gian văn học chỉ là một hình thức mở rộng hay làm tăng thêm giá trị của một vị thế nào đó sẵn có của họ trong xã hội
Trang 32Trong giới cầm bút Việt Nam, chúng tôi nhận thấy niềm đam mê sáng tác của
họ tương đối đa dạng theo góc độ nghề nghiệp xã hội Dưới đây chúng tôi chỉ trình bày một số tác giả đặc trưng cũng như những nhóm nghề nghiệp xã hội nổi bật và gắn liền với các hoạt động sáng tác của họ
2.1 Những chính khách và luật sư
Trước tiên là các chính khách kề cận với những luật sư Trong số các nhà ngoại giao thời kỳ đầu ngoài Trương Vĩnh Ký, chúng ta có Kim Giang Nguyễn Trọng Hiệp Nhắc tới Văn minh điện Đại học sĩ Nguyễn Trọng Hiệp người ta nhắc đến một thức giả lỗi lạc không chỉ của thời Nguyễn suy tàn mà trong cả lịch sử nước Việt Nam Ông được kính nể trong vương triều nhà Nguyễn hồi cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và cả trong giới ngoại giao Đặc biệt Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã có nhận xét rất nể phục đối vị đại thần này
Đối với những người ít nhiều gắn bó với đời sống chính trị, chúng ta có Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường Tất
cả những vị trên đều là những nhân vật tham gia tích cực trong công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp Hoạt động sáng tác của họ chủ yếu nhằm mục đích lên án chế độ khai thác thuộc địa và yêu sách đòi tự do cho nước Việt Nam Sau đây, xin được giới thiệu vài gương mặt tiêu biểu:
+ Nguyễn Ái Quốc
Bản án chế độ thực dân Pháp (Le procès de la colonisation française) (tác
phẩm được viết trong giai đoạn 1922-1923, và xuất bản năm 1925, tái bản năm 1945 tại Hà Nội, nhưng chủ yếu dành cho độc giả Pháp ngữ lúc bấy giờ còn tương đối đông) đã tạo tiếng vang đặc biệt trên diễn đàn chính trị thế giới Tác phẩm Pháp ngữ lớn nhất này của Nguyễn Ái Quốc đã thu hút sự chú ý đặc biệt của giới trí thức thuộc các nước thuộc địa Châu Phi trong phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp Cũng chính qua diễn ngôn chính
Trang 33luận này, cùng với rất nhiều bài viết khác trên các báo Pháp ngữ, đã phác họa chân dung một nhà cách mạng đầy nhiệt huyết người Việt đầu thế kỷ XX Bản thân tên gọi của tác giả đã đủ chứng minh một con người với tư tưởng yêu nước và con đường đấu tranh Thực ra, để nói về con đường cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, trong giới hạn của đề tài, chúng tôi e không thể trình bày hết các chi tiết được Chúng tôi chú trọng đến nhà cách mạng này trong không gian văn học bằng tiếng Pháp Trên bình diện Pháp ngữ, người ta không thể chê trách khả năng ngôn ngữ của Nguyễn Ái Quốc, người đã trải qua một thời gian dài tại đất nước hình Lục lăng này Tiếng Pháp đối với Nguyễn Ái Quốc, chính xác là một cộng cụ đấu tranh hữu hiệu Để xác định vấn đề này, Alain Guillemin hoàn toàn có lý khi viết:
Là công cụ cưỡng bức về mặt hành chính, tiếng Pháp của kẻ đô hộ cũng đã là yếu tố chuyển tải các giá trị của nền cộng hòa và của chủ nghĩa cá nhân lãng mạn Việc giảng dạy tiếng Pháp đã giúp một số người đạt đến khả năng sử dụng nó ngang hàng với người đô hộ và nếu không muốn nói là hơn cả người đô hộ Phải chăng đó là
để tự khẳng định mình hay là để lật ngược ngôn ngữ Pháp để chống lại chính chủ của
nó1
Lật ngược ngôn ngữ Pháp để đấu tranh chống lại chủ nhân nó chính là trường hợp chúng ta gặp nơi Nguyễn Ái Quốc Thực vậy, mặc dù xét trên bình diện văn học, Nguyễn Ái Quốc không muốn mình là nhà văn, nhưng trên bình diện diễn ngôn văn học, người ta đã có thể xếp tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc ngang hàng với các tác phẩm của nhà văn nổi tiếng như Aimé Césaire của đảo Antilles hay của Frantz Omar Fanon, người sáng lập ra phong trào tư tưởng Thế giời thứ ba
Qua các tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta nhận ra một phong thái đặc thù, một phong cách của người chiến sĩ, một lối viết tạo hiệu ứng trực tiếp Một cách diễn đạt rõ nét, ngôn từ của sự sắc bén nhưng không thiếu giai thoại châm biếm và kịch tính Đánh giá này có thể được xác định trong bài viết của Alain Ruscio:
1
« Instrument de la coercition administrative, le français du colonisateur a également été porteur des valeurs
républicaines et de l’individualisme romantique Son enseignement a poussé certains à maîtriser la langue à l’égal du dominateur, sinon mieux que lui Était-ce pour s’affirmer ou pour la retourner contre le maître », Alain Guillemin, « En français dans le texte », Carnets du Vietnam, số 1, 2003, tr 14
Trang 34Hôm nay với khả năng khiêm tốn, tôi cố gắng khôi phục lại sự công bằng, trong khi đặt Bản án của Hồ Chí Minh như một tảng đá đầu tiên, xét về khía cạnh niên đại, cho nền móng đấu tranh chống thực dân, cùng với kiệt tác Diễn ngôn của Césaire1
Giới văn đàn thế giới đã thừa nhận hình ảnh của nhà văn Nguyễn Ái Quốc như một người đấu tranh miệt mài cho tự do dân tộc Chân dung nhà văn đấu tranh được phác họa lại như một nét nổi bật trong lý thuyết về diễn ngôn hậu thực dân của các nhà phê bình văn học Nhưng trước đó phải kể đến tác phẩm kịch bản nổi tiếng của Kateb
Yacine, với nhan đề Người mang đôi dép cao su (L’Homme aux sandales de
caoutchouc) Tác giả đã trải qua ba năm dài tại Việt Nam vào giai đoạn 1967-1970 để
cảm nhận thế nào là đấu tranh cách mạng ở Việt Nam và để thai nghén sản phẩm văn học về trải nghiệm này Vở kịch được dàn dựng và công diễn tại Lyon và tại thủ đô Alger Xét về bình diện diễn ngôn, diễn cảnh văn học như vậy là một hình thức hiện tại hóa quá khứ Kateb Yacine ca ngợi Hồ Chí Minh và ca ngợi ý chí đấu tranh của lãnh tụ Việt Nam Đó là thực tế, và hơn nữa, diễn ngôn kịch bản của tác giả người Algérie này còn có vai trò gián tiếp xác thực diễn ngôn chính luận cũng như tư tưởng đấu tranh của Nguyễn Ái Quốc Kateb Yacine tìm thấy trong hình ảnh Hồ Chí Minh và trong cuộc đấu tranh của Việt Nam một biểu tượng của kháng chiến chống áp bức trong quá khứ, như Jean-Marc Moura đã nhận định2 Bên cạnh Bản án chế độ thực dân
Pháp, Nguyễn Ái Quốc còn cho công bố một loạt 8 truyện ký tiếng Pháp đăng trên báo
L’humanité (Nhân đạo), Les Paria (Người cùng khổ) và tạp chí Thư tín quốc tế, như :
Vi hành, Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu, Con người biết mùi hun khói,
v.v cũng mang mục đích đấu tranh chống thực dân và phong kiến bù nhìn
+ Ngô Văn
Ông là một trong những người đấu tranh chống chế độ thực dân Pháp vào những năm đầu của thế kỷ XX Tên đầy đủ của
1
« Ja vais donc essayer aujourd’hui de repérer, modestement, cette injustice, en plaçant le Procès de Ho comme
la première pierre, chronologiquement parlant, d’un édifice anticolonialiste qui comporte également comme chef d’œuvre le Discours de Césaire », Alain Ruscio, « Nguyen Ai Quoc (Ho Chi Minh) et Amé Césaire :
rencontre de deux pamphlétaires anticolonialistes, http://pcfaubervilliers.fr/spip.php?article80
2
Jean-Marc Moura, Littératures francophones et théorie postcoloniale, Quadrige/PUF, 2007, tr 146-147
Trang 35ông là Ngô Văn Xuyết Ông thuộc tầng lớp trí thức đầu thế kỷ XX Tuy tác phẩm văn học của ông ra đời sau này, nhưng chất liệu cho văn phẩm của ông phải được kết tụ từ rất sớm Vì thế chúng tôi muốn dẫn ra đây nhu một trường hợp đặc biệt Chào đời năm
1913 trong một gia đình nông dân tại làng Tân Lộ gần Sài Gòn, ông đã sớm tham gia phong trào cách mạng chống thực dân và cuối cùng bị đày sang Pháp năm 1948 và qua đời tại đó năm 2005 Cuộc đời dấn thân cho đấu tranh giai cấp và những tiếp xúc trong các hoạt động cách mạng của ông với những trí thức trẻ thời đó được coi như những chuỗi trải nghiệm quý báu Tất cả những vốn trải nghiệm đó sau này trở thành nguồn
tư liệu và chất liệu cho các tác phẩm mang tính chất hồi ký của ông Đặc biệt, các bài viết của ông đều mang những giá trị lịch sử cũng như giá trị tinh thần Như vậy, viết đối với Ngô Văn không chỉ là một hành động chứng tỏ khả năng mình là một nhà văn,
mà viết chính là cách thức làm cho con người sống mãi, là kết nối cuộc đời mình với thế hệ tiếp theo; viết là chuyển tải lịch sử cho hậu thế, là làm sống lại quá khứ, là kể lại một hiện thực lịch sử Ông nhắc nhở như sau:
Khi lịch sử được kể theo lời lẽ của kẻ chiến thắng, che đậy và nhận chìm mọi cuộc đấu tranh dưới luận điệu xóa bỏ hết mọi toan tính thật sự, hiện tại bị áp đặt như
là một định mệnh tất yếu, tương lai của xã hội loài người phải phụ thuộc vào khả năng của nhân loại giành lại cái quá khứ đó từ những bàn tay lạnh lùng của những chủ nhân hiện tại Nhiều tiếng nói đã bị chìm đi, phải cố làm cho nó sống lại, tìm lại dấu vết sống động của những cuộc cách mạng nối tiếp nhau qua thời gian và tìm cách dựng lại nó như một nhân chứng qua đường: Tại Xứ Chuông Rè, nỗi truân chuyên của một người dân Nam Kỳ thời thuộc địa, 2006, tr 11 (dịch từ nguyên bản tiếng Pháp Au Pays de la Cloche Felée, tribulations d’un Cochinchinois à l’époque coloniale, 2006)
+ Phan Văn Trường
Trong lĩnh vực luật sư, phải kể đến Phan Văn Trường Theo lời giới thiệu của
Ngô Văn cho tác phẩm hồi ký Une histoire de conspirateurs à Paris (Một lịch sử mưu
phản tại Paris) của Phan Văn Trường1, thì trước khi trở thành luật sư, Phan Văn
1
Tác phẩm này đã được đăng dưới dạng tiểu phẩm theo định kỳ từ ngày 30 tháng 11 năm 1925 đến ngày 15
tháng 3 năm 1926 trên tạp chí La Cloche Fêlée, sau đó được xuất bản tại Nhà xuất bản Sài Gòn Gia Định năm
1928
Trang 36Trường đã tham gia trong các phong trào yêu nước Đặc biệt ông là một trong những người tạo ra cột mốc cho cách mạng Đông Dương từ năm 1930 Ông đã có những thời điểm gặp gỡ và hoạt động đặc biệt với Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn
An Ninh cho những phong trào đối kháng với chế độ thực dân ngay trên đất Pháp Nghề luật đối với ông chủ yếu là phương tiện cho các hoạt động chính trị cũng như những sáng tác của ông Các bài viết của ông và trong vai trò là chủ bút thay thế cho
Nguyễn An Ninh điều hành tờ tạp chí La Cloche fêlée, cho thấy các hoạt động nghề
nghiệp của ông gắn bó trực tiếp với lý tưởng chính trị Ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ trạng sư kết hợp để trở thành công cụ hữu hiệu phản biện cho các giá trị bình đẳng giữa các dân tộc Ngôn ngữ văn học với tất cả sự thanh thoát của một phong cách hình thành từ một ngòi bút mãnh liệt và cương quyết, dù đó chỉ là những trang hồi ký:
Người ta cho rằng người Annam khép kín và tâm hồn người Annam thì bí hiểm Nhưng đã chẳng phải nước Pháp mệnh danh là quốc gia có tự do quan điểm mà lại chưa bao giờ để cho người Annam được tự do diễn đạt tư tưởng và tình cảm của mình? Người ta còn nói rằng người Annam xảo quyệt và gian trá Nhưng khi người Annam có ý nói lên sự thật và nếu đó là sự thật gây bất lợi cho kẻ khác thì họ bị khóa miệng, bị hành xử và bị nghiền nát thành nghìn mảnh Người ta cũng nhận xét rằng người Annam khúm núm, luồn cúi và hèn hạ Cũng có thể như vậy Nhưng khi nếu họ được phép kiêu hãnh và muốn bảo vệ nhân phẩm của mình, có kẻ lại lớn tiếng cho là ngạo mạn, kiêu căng và nổi dậy, rồi đưa họ ra hành xử Thế thì phải nói rằng cái nghề làm người Annam chính xác là nghề hèn hạ1
+ Nguyễn Mạnh Tường
Trong giới luật sư viết văn, Nguyễn Mạnh Tường nổi lên như một trí thức thực thụ, sâu sắc và liêm chính Bằng con đường luật sư, với diễn ngôn mang sắc thái pháp đình, ông
đã dấn thân biện hộ cho những người nghèo và những người bị thiệt thòi trong xã hội đương thời, đồng thời đề
1
Xem Ngô Văn, Troduction à une histoire de conspirateurs annamites à Paris,
http://chatquipeche.free.fr/intro.html
Trang 37cao giá trị nhân văn Cũng giống trường hợp của Phan Văn Trường, ngôn ngữ văn chương của ông kết tinh từ những phương pháp tinh túy nhất của các hình thức tu từ Ngôn ngữ nghệ thuật ấy là kết quả của tính chất tinh hoa đầy chất tưởng tượng của một tâm hồn chịu nhiều những nỗi ngờ vực của xã hội đương thời Về nước, ông là giáo sư văn học Phương Tây ở Đại học Hà Nội: Trường Đại học Sư phạm và Trường Đại học Tổng hợp, chắc chắn Nguyễn Mạnh Tường đã góp công trong việc cổ vũ và truyền bá những giá trị văn hóa Nhưng trên tất cả, nhà trí thức nổi tiếng của Việt Nam
đã dấn thân mạnh mẽ cho những quyền căn bản của con người và cho bình đẳng trong ngôn từ Như vậy, những công việc và con đường nghề nghiệp trong tư cách là một luật sư hay một giáo sư đại học đã trở thành chứng từ của những trải nghiệm và những suy tư về con đường và vị thế của một trí thức trong xã hội đang bị đe dọa Tất cả
những chi tiết đó được phác họa rõ nét nhất trong hai tác phẩm cuối cùng của ông Un
excommunié (1992) (Kẻ bị rút phép thông công) và Une voix dans la nuit (Tiếng vọng trong đêm) (chưa xuất bản)
Chúng ta có thể thêm vào danh sách các luật sư viết văn như trường hợp Nguyễn Hữu Giao Xuất thân từ cội rễ hoàng gia, là một phật tử sùng đạo đồng thời là một biểu tượng của lòng yêu nước, ông cảm nhận được những nghịch lý và những cảnh ghê rợn gây ra từ chiến tranh Sống tại Pháp và theo đuổi nghiệp luật sư tại đó với mục đích và lý tưởng dấn thân cho các giá trị nhân văn Đam mê sáng tác đối với Nguyễn Hữu Giao hẳn nhiên chỉ là hành động làm tăng thêm các giá trị đã theo đuổi Con đường văn nghiệp là hoạt động phác thảo một cái nhìn về quá khứ của cuộc đời
2.2 Những nhà báo và nhà giáo
Trong giới ký giả tham gia vào đời sống văn học chúng ta có thể nêu ra những tên tuổi mà lịch sử đời sống trí thức Việt Nam không thể phủ nhận, như trường hợp Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Phan Long Là chủ bút của các tờ tạp chí
lớn trong lĩnh vực báo chí của Việt Nam đầu thế kỷ XX, như Đông Dương Tạp chí (Nguyễn Văn Vĩnh), hay Nam Phong Tạp chí (Phạm Quỳnh), họ đã dùng không gian
báo chí như một cơ cấu thiết chế thuận lợi cho con đường văn nghiệp Bởi vì giữa báo
Trang 38chí và sáng tác văn học thì hoạt động viết trở thành cầu nối cho phép hình thành một
sự liên kết hỗ tương
+ Nguyễn Phan Long
Nguyễn Phan Long từng được đánh giá như một người góp công lớn trong lịch sử báo chí Việt Nam Song song với những hoạt động chính trị1, Nguyễn Phan Long là một trong số những người tham gia sáng lập đảng Lập hiến Đông Dương, và nghề làm báo đối với ông là một
công việc quan trọng Là chủ bút tờ La Tribune
Indochinoise (Diễn đàn Đông Dương), L’Écho annamite
(Tiếng vọng An Nam), hai trong số những tờ báo Pháp ngữ có tiếng ở Sài Gòn thời kỳ đầu thế kỷ XX, đồng thời cũng là chủ bút của tờ tạp chí Việt ngữ Đuốc Nhà Nam Ngoài ra, Nguyễn Phan Long còn cộng tác cho tờ báo La Tribune Indigène (Diễn đàn
bản xứ) của Nguyễn Phú Khai và Bùi Quang Chiêu Như vậy, qua xem xét quãng
đường hoạt động báo chí của Nguyễn Phan Long, chúng ta nhận thấy rằng quá trình văn nghiệp của ông gắn liền với không gian văn hóa, không gian báo chí và một phần hoạt động chính trị Chắc chắn con đường báo chí đã góp phần không nhỏ cho sự hình thành và khả năng tồn tại của văn tự nơi Nguyễn Phan Long
+ Pierre Đỗ Đình
Có những tác giả hoặc xuất hiện trong làng văn rất sớm đồng thời vẫn đóng góp cho không gian báo chí bằng các bài viết mang sắc thái văn hóa và chính luận hay nghệ thuật, hoặc cũng tham gia trong một thời điểm nào đó ở lĩnh vực sư phạm Trường hợp khá nổi bật cho việc giao thoa trong các hoạt động đa dạng đó chính là Pierre Đỗ Đình (Đỗ Đình Thạch) Đối với làng báo chí tại Việt Nam, ông đã cộng tác
với một số tờ báo lớn như Nam Phong tạp chí, Đông Dương tạp chí, Bulletin de la
Société d’Enseignement mutuel du Tonkin, Cahiers de la Jeunesse, France - Asie Sau
những năm 1960, ông có đăng bài trên Văn hóa duy linh, Đại học (bấy giờ do giáo sư
1
Nguyễn Phan Long còn được chọn tham gia chính phủ của Bảo Đại trong vai trò Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Bên cạnh đó ông còn hoạt động giáo dục
Trang 39triết học Trần văn Toàn làm chủ bút), và là chủ bút của tờ Đối thoại thuộc Phòng Văn
hoá của Hoa Kỳ tại Sài Gòn Trong thời gian này ông được mời làm giảng sư Pháp văn
và Triết học cho Đại học Huế, lúc đó do linh mục Cao Văn Luận làm Viện trưởng Từ năm 1963 ông có tham gia giảng dạy tại Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn
Trong thời gian ở Pháp, Pierre Đỗ Đình đã từng cộng tác với những tờ báo lớn
như Le Monde, trong đó ông đảm trách mục “Lectures Asiatiques”, hay tờ báo Công giáo La Vie Intellectuelle (ra đời vào năm 1928), một trong những tạp chí quan trọng
nhất của Pháp thời đó Đóng góp của Pierre Đỗ Đình cho tờ báo này là tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu và giới thiệu đất nước, văn hóa và văn học Việt Nam
Chân dung Pierre Đỗ Đình quả là ấn tượng Cung Giũ Nguyên, trong bài viết về Pierre Đỗ Đình, đã nêu ra vai trò quan trọng của đóng góp cũng như tài năng của nhà văn này như sau:
Il est à souhaiter que soient réunis un jour en volume les nombreux écrits de Do Dinh, épars dans diverses publications Malgré le temps, ils gardent leur valeur qui ne repose ni sur l’exotique ni sur le sensationnel Sur des thèmes nobles, dans un style lumineux et parfois précieux, ils témoignent presque tous, ou d’une justesse d’appréciation, ou d’une intelligente érudition ou d’une émouvante élévation d’âme1
(Mong thay một ngày nào đó những bài viết của Đỗ Đình đăng rải rác ở nhiều
tờ báo sẽ được tập hợp thành một tuyển tập Dù cho thời gian có thay đổi nhưng các bài viết đó luôn có giá trị Giá trị đó không đến từ yếu tố ngoại lai cũng không phụ thuộc vào đặc tính cảm giác Dựa trên những chủ đề cao thượng và trong một phong cách trong sáng và đôi khi hơi kiểu cách, những bài viết đó đã chứng tỏ được tất cả, hoặc từ sự chính xác của nhận định, hoặc từ một sự uyên thâm hay một sự siêu thoát đầy xúc động của tâm hồn)
Để xác định dung mạo các tác giả trong đời sống văn học Pháp ngữ, chúng ta không thể không đề cập đến lĩnh vực giáo dục và đào tạo, một trong những loại nghề nghiệp xã hội đặc thù nhất gắn với con đường văn nghiệp và làm nổi bật hoạt động văn
1
Cung Giu Nguyen, 1974, tr 84
Trang 40học của các tác giả Những tác giả chúng tôi vừa nêu ra trên đây đều đã ít nhiều tham gia vào lĩnh vực này Tuy nhiên, những tác giả như Nguyễn Văn Nho, Hoàng Xuân Nhị, Trần Đức Thảo, Trịnh Thục Oanh, là những người đã gắn bó cuộc đời với sự nghiệp giáo dục Họ đã xây dựng vị thế xã hội vững chắc bằng con đường giảng dạy
và đào tạo
+ Hoàng Xuân Nhị
Hoàng Xuân Nhị được biết đến với tư cách là thành viên của
Ủy ban Kháng chiến và Hành chính Nam Bộ, đồng thời phụ trách Phòng Văn hóa và Giáo dục Ông tham gia tích cực vào việc hình thành hệ thống giáo dục trước khi trở thành Chủ nhiệm phòng Giáo dục và Chủ nhiệm Viện Văn hóa kháng chiến Sau này ông là giáo sư bộ môn Văn học thuộc Đại học Tổng hợp Hà Nội, và ông giảng dạy tại đây cho đến cuối đời Như vậy, dù sáng tác văn học Pháp ngữ đối với Hoàng Xuân Nhị là một hoạt động không chính thức trong đời sống nghề nghiệp, nhưng nó chịu tác động ít nhiều bởi các hoạt động nghề nghiệp của tác giả trong lĩnh vực giáo dục
+ Phạm Duy Khiêm
Đối với Phạm Duy Khiêm, người chỉ sử dụng tiếng Pháp trong sáng tác văn học, chúng ta nhận biết nơi tác phẩm của ông một phong cách nhà văn học giả Không
kể đến vai trò ông là đồng tác giả cuốn Việt Nam Văn phạm viết
cùng với Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm là một nhà
sư phạm mô phạm Sau khi kết thúc chương trình du học tại Pháp, ông trở về tham gia giảng dạy tại trường Bưởi, một trong những trường bảo hộ lớn ở Hà Nội, rồi giảng dạy tại trường Albert Sarraut trước khi tự nguyện nhập ngũ trong quân đội Pháp Sau thời gian ngắn tham gia chính trường và trong vai trò cuối cùng là Đại sứ Nam Việt Nam đầu tiên tại Pháp, ông chính thức trở thành người trí thức lưu đày tại chính quốc Ở đó ông đã tham gia giảng dạy tại École Alsacienne và École des Roches Có thể nhận định rằng con đường sự nghiệp sư phạm cũng như chính trị của