Luận văn
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Nguyễn Quang Vỹ
PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG - THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Nguyễn Quang Vỹ
PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG - THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 62.38.50.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Nguyễn Như Phát
2 PGS.TS Lê Thị Châu
Trang 3LỜI Cam đoan
Tác giả xin cam đoan Luận án này đợc thực hiện một cách
Trang 4MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
1.2 Cơ sở lý thuyết của đề tài 25
Chương 2 LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG 29
2.1 Doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công 29
2.2 Đặc điểm của pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công 46
2.3 Một số mô hình cung ứng hàng hoá, dịch vụ công điển hình trên thế giới Bài học kinh nghiệm 49
Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG Ở VIỆT NAM 67
3.1 Sự hình thành và phát triển của pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công ở Việt Nam 67
3.2 Pháp luật hiện hành về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công 72
3.3 Đánh giá pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công 107
Chương 4 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG Ở VIỆT NAM 115
4.1 Những yêu cầu thực tiễn đặt ra đối với việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công 115
4.2 Phương hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công 119
4.3 Giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công 128
KẾT LUẬN 144
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 146
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 148
Danh môc tõ viÕt t¾t
1 Chøng minh nh©n d©n CMND
2 Doanh nghiÖp: DN
3 Doanh nghiÖp nhµ níc: DNNN
4 DÞch vô: DV
5 DÞch vô c«ng: DVC
6 DÞch vô c«ng céng: DVCC
7 DÞch vô c«ng Ých: DVCI
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Hoạt động cung ứng hàng hoá, dịch vụ công (HH, DVC) [xem: 81; Điềi 3,Khoản 2, 9] ở các quốc gia trên thế giới giữ một vị trí hết sức quan trọng trên mọi lĩnhvực của đời sống xã hội Ở Việt Nam trong những năm qua, cung ứng HH, DVC đóngvai trò là điều kiện ổn định chính trị, phát triển bền vững, an toàn; đảm bảo cơ sở hạtầng kinh tế - xã hội cho sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước Yêu cầuphát triển HH, DVC đang đặt ra cho các nhà quản lý, nhà khoa học và toàn xã hội đổimới cách tiếp cận, tìm kiếm mô hình tiến bộ, khoa học và phù hợp cho việc thực hiệnhoạt động cung ứng HH, DVC ở Việt Nam cả về lý luận và thực tiễn
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI tiếptục khẳng định “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta
là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của nhà nước…” [36, tr.11], xem thêm: [28], [29], 30], [31], [34], [73, Điều 15]; vàtiếp tục “xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ đồng thời chủ động, tích cực hội nhậpkinh tế quốc tế”[36, tr.75] Vai trò của HH, DVC càng có ý nghĩa quan trọng trướcnhững yêu cầu và nhiệm vụ mới, đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu "dân giàu, nướcmạnh; xã hội dân chủ, công bằng, văn minh"
Vậy HH, DVC là gì? Ai là người cung ứng, người thụ hưởng HH, DVC? Việccung ứng HH, DVC thể hiện dưới những hình thức và phương pháp nào? Mối quan hệgiữa các ngành, lĩnh vực trong cung ứng HH, DVC; đâu là địa bàn trọng yếu cần đượcthụ hưởng HH, DVC; loại hình cung ứng thuộc nhóm nào, chế độ chính sách cho từngloại hình; mục tiêu kinh tế, hiệu quả xã hội của việc cung ứng HH, DVC? Đặc biệt,làm thế nào để sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về doanh nghiệp(DN) cung ứng HH, DVC; những bất cập của pháp luật hiện hành về DN cung ứng
HH, DVC; phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về DN cung ứng HH, DVC?
Đó là những vấn đề cơ bản đang đặt ra cho lĩnh vực khoa học pháp lý nghiên cứu tìmphương hướng, giải pháp xây dựng hệ thống các quy tắc xử sự điều chỉnh các mốiquan hệ xã hội về cung ứng HH, DVC phù hợp, khoa học, đáp ứng nhu cầu phát triểncủa đời sống kinh tế - xã hội của đất nước
Trang 7Thời gian qua, hoạt động cung ứng HH, DVC được Đảng và Nhà nước ta quantâm Vì vậy, lĩnh vực này ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng Để đảmbảo cơ sở pháp lý cho hoạt động cung ứng HH, DVC và góp phần cụ thể hoá LuậtDoanh nghiệp Nhà nước (DNNN) 1995, Ngày 2-10-1996, Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 56/CP quy định chi tiết tổ chức và hoạt động của các DNNN hoạt động
công ích Đây là văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa hết sức quan trọng quy định
về những vấn đề liên quan đến hoạt động của DNNN cung ứng HH, DVC [10], [74].Trên cơ sở đó, nhiều Bộ, ngành cũng đã ban hành các văn bản pháp quy điều chỉnh cácquan hệ liên quan đến DNNN hoạt động trong lĩnh vực này
Luật DNNN 2003 được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26tháng 11 năm 2003 tiếp tục phân biệt hai loại hình DNNN (DNNN hoạt động kinhdoanh và DNNN hoạt động công ích), tạo điều kiện cho loại hình DNNN cung ứng
HH, DVC giữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội và tiếp tục được chínhthức ghi nhận trong các văn bản pháp luật [76]
Qua một quá trình thực hiện pháp luật về DN, thực tiễn đã chứng minh rằng: Đãđến lúc đất nước ta cần phải có một đạo luật thống nhất qui định các loại DN khôngphân biệt của Nhà nước hay tư nhân ; đặc biệt là quy định rõ hơn về "DN có sản xuất(SX), cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích (DVCI)" [79, điều 10] và "DN phục vụquốc phòng, an ninh" [79, điều 167] Ngày 29 - 11 - 2005, Quốc hội khoá XI, kỳ họpthứ 8 thông qua Luật DN quy định về tổ chức, hoạt động, quyền và nghĩa vụ của cácloại hình DN
Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về HH, DVC nước ta vẫn đang tồn tại nhiều hạnchế, bất cập, chưa tạo ra được cơ chế giải quyết, đáp ứng nguyện vọng, nhu cầu chínhđáng và bức thiết đang đặt ra mà nguyên nhân trực tiếp là do “hệ thống thể chế, phápluật, nhất là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn còn nhiều bấtcập, vướng mắc Chức năng nhiệm vụ của một số cơ quan trong hệ thống hành chínhnhà nước chưa đủ rõ, còn trùng lặp và chưa bao quát hết các lĩnh vực quản lý nhànước” [35, tr.1] “Thể chế luật pháp về quản lý tài chính công tuy có nhiều đổi mớinhưng còn bất cập Thủ tục hành chính còn nhiều vướng mắc, gây phiền hà cho tổchức và công dân” [35, tr.1]
Trang 8Để từng bước giải quyết những vướng mắc đó, cần “đẩy mạnh vững chắc việcsắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN và xã hội hoá một số loạihình dịch vụ công cộng (DVCC)” [35, tr.6] đang là chủ trương và giải pháp lớn củaĐảng và Nhà nước ta Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ươngkhoá X, Đảng ta cũng chỉ rõ: “Thực hiện cơ chế tổ chức hoạt động đối với các đơn vị
sự nghiệp dịch vụ công (DVC) theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực hiện hạchtoán thu - chi không vì lợi nhuận tối đa và nhà nước không bao cấp bình quân Cảicách tài chính công phục vụ cho chủ trương đẩy mạnh xã hội hoá trong các ngành "[35]; "Phát huy trách nhiệm và tính sáng tạo, chủ động của các đơn vị này nhằm cungcấp các DVC ngày càng có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của nhân dân” [35]
Mặc dù thời gian qua, Đảng ta đã có chủ trương, Nhà nước đã ban hành các vănbản pháp luật khuyến khích, định hướng cho hoạt động cung ứng HH, DVC; nhiềungành khoa học cũng đã có sự quan tâm, nghiên cứu và có kết quả nhất định phục vụcho việc xây dựng, thực hiện chính sách liên quan đến hoạt động cung ứng HH, DVC.Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, có nhiều hoạt động và công trình nghiên cứu có liênquan đến cung ứng HH, DVC nhưng hầu hết vẫn còn dừng lại ở mức độ đơn lẻ, chưanghiên cứu một cách tổng thể, đầy đủ và triệt để các vấn đề pháp lý về cung ứng HH,DVC Để góp phần xây dựng hệ thống lý luận và hoàn thiện chính sách, pháp luật của
Nhà nước về cung ứng HH, DVC, đề tài Luận án Tiến sỹ luật học “Pháp luật về DN
cung ứng HH, DVC - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” sẽ góp phần nghiên cứu
toàn diện những vấn đề pháp luật về tổ chức, hoạt động cũng như quyền và nghĩa vụcủa loại hình DN cung ứng HH, DVC; đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiệnpháp luật về loại hình DN này ở Việt Nam hiện nay
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích trên, luận án có nhiệm vụ:
Trang 9- Tổng hợp, phân tích những vấn đề lý luận về HH, DVC và hoạt động cungứng; sự cần thiết của hoạt động cung ứng HH, DVC trong nền kinh tế - xã hội; vai tròcủa nhà nước và cá nhân, tổ chức khác trong cung ứng và quản lý hoạt động cungứng HH, DVC…
- Phân biệt DN hoạt động cung ứng HH, DVC với một số loại DN khác; từ đó,xây dựng cơ chế cung ứng và quản lý thích hợp đối với từng loại hình DN cung ứng
HH, DVC
- Nghiên cứu thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành về DN cung ứng
HH, DVC; phát hiện những bất cập của pháp luật trong mối quan hệ với thực tiễncung ứng HH, DVC
- Đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về DN cungứng HH, DVC
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu là các vấn đề sau:
- Khái niệm, đặc điểm, vai trò, tầm quan trọng… của loại hình HH, DVC vàhoạt động cung ứng;
- Thực trạng và nhu cầu của xã hội, các yếu tố tác động đến việc cung ứng vàthụ hưởng loại HH, DVC; từ đó đề xuất các qui trình, thứ tự ưu tiên trong việc cungứng các loại hình HH, DVC để tạo ra sự cân bằng, ổn định cho sự phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước
- Thực trạng và bất cập của pháp luật qui định về DN cung ứng, người thụhưởng; cơ quan quản lý, điều hành hoạt động cung ứng; trách nhiệm của các DN khitham gia hoạt động cung ứng và thụ hưởng HH, DVC…
- Mối quan hệ giữa nhà nước với các DN cung ứng HH, DVC; tìm mô hình tổchức hiệu quả, tránh lãng phí nguồn lực nhằm đảm bảo việc cung ứng đầy đủ, chấtlượng cho toàn xã hội
- Đặc trưng của hoạt động cung ứng HH, DVC làm căn cứ so sánh với cáchoạt động khác trên phạm vi quốc gia và ở một số nước trên thế giới, tìm những ưuđiểm, hạn chế, đề xuất phương hướng và giải pháp cho hoạt động hoàn thiện phápluật về cung ứng HH, DVC ở Việt Nam
Trang 104 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp kết hợp lý luậnvới thực tiễn; phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp hệ thống, phương phápluật học so sánh, phương pháp lịch sử cụ thể
- Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn: Phương pháp này được sử dụng
trong tất cả các Chương của luận án để xem xét từng vấn đề nghiên cứu trong mối liên
hệ giữa lịch sử, lý luận, pháp lý với thực tiễn tổ chức thực hiện Điều này có ý nghĩa rấtlớn, đặc biệt trong Chương 2, Chương 3 của luận án Từ đó, phương pháp này cũng được
sử dụng để xem xét, đề xuất các phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về DNcung ứng HH, DVC ở Việt Nam (Chương 4)…
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng trong tất
cả các Chương của luận án Cụ thể là được sử dụng để đi sâu vào tìm tòi, trình bày cáchiện tượng, các quan điểm về DN cung ứng HH, DVC; các quy định và thực tiễn thựchiện pháp luật về DN cung ứng HH, DVC; tổng hợp, phân tích để rút ra bản chất của cáchiện tượng, các quan điểm, quy định và hoạt động thực tiễn (Chương 1, Chương 2,Chương 3); từ đó đưa ra các đánh giá, kết luận và kiến nghị phù hợp nhằm tiếp tục xâydựng và hoàn thiện pháp luật về DN cung ứng HH, DVC ở Việt Nam (Chương 4)
- Phương pháp hệ thống: Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt toàn bộ
luận án nhằm trình bày các vấn đề, các nội dung trong luận án theo một trình tự, một bốcục hợp lý, chặt chẽ, có sự gắn kết, kế thừa, phát triển các vấn đề, các nội dung để đạtđược mục đích, yêu cầu đã được xác định cho luận án
- Phương pháp luật học so sánh: Phương pháp này chủ yếu được sử dụng tại
Chương 2 của luận án Cụ thể là được vận dụng trong việc tham khảo kinh nghiệm xâydựng, quy định các mô hình và thực hiện pháp luật về cung ứng HH, DVC ở các nướctrên thế giới; rút ra những điểm chung, những khác biệt giữa các quốc gia Ngoài ra, tạiChương 4 của luận án cũng sử dụng phương pháp này để so sánh và rút ra các bài họckinh nghiệm và kiến nghị cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về DN cung ứng HH,DVC trong giai đoạn hiện nay
- Phương pháp lịch sử: Phương pháp này chủ yếu được sử dụng tại Chương 2,
Chương 4 của luận án nhằm đưa ra những cứ liệu trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, gắnliền với các hoạt động cung ứng HH, DVC ở Việt Nam Những trình bày, đánh giá vềcác hoạt động này cũng được đặt trong những bối cảnh lịch sử, mối quan hệ qua lại vớinhững yếu tố lịch sử khác Ngoài ra, phương pháp này cũng được sử dụng tại các
Trang 11Chương khác của luận án khi trình bày, phân tích và đánh giá pháp luật về DN cung ứng
HH, DVC ở Việt Nam và thế giới
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Với việc thực hiện mục đích và nhiệm vụ trên đây, nội dung của Luận án đạtđược những ý nghĩa khoa học sau:
- Xây dựng khái niệm và đặc điểm, tiêu chí xác định và phân loại HH, DVC;
DN cung ứng HH, DVC làm cơ sở lý luận để đối chiếu các quy định của pháp luật,giải quyết các vấn đề khoa học có liên quan
- Với việc xây dựng cơ sở lý luận nêu trên, luận án góp phần xây dựng phươngpháp tiếp cận và quản lý, nâng cao chất lượng cung ứng HH, DVC…
- Phân tích vai trò của Nhà nước, của DN, các tổ chức và cộng đồng dân cư…tham gia việc cung ứng, sử dụng HH, DVC trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể, trongtừng giai đoạn phát triển của đất nước
6 Những đóng góp mới của luận án
- Xây dựng một số khái niệm khoa học pháp lý vào hệ thống lý luận cơ bản về
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận ángồm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài; Chương 2 Lý luận về DN cung ứng HH, DVC và pháp luật về DN cung ứng
HH, DVC
Chương 3 Thực trạng pháp luật về DN cung ứng HH, DVC ở Việt Nam;
Chương 4 Phương hướng, giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về DN
cung ứng HH, DVC ở Việt Nam
Trang 12Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Những năm cuối thế kỷ XX, các quốc gia phát triển theo con đường Tư bản chủnghĩa đạt được những thành quả vượt bậc Việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến
DN cung ứng HH, DVC trên thế giới từ lâu đã được quan tâm trong lịch sử phát triển
xã hội Nó trở thành vấn đề được tranh luận sôi nổi khi nhu cầu phát triển quyền conngười, nền dân chủ được đề cao gắn với mối quan hệ giữa nhà nước và công dân Nhànước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật; đề cao vai trò của pháp luật, tăng cườngchức năng "phục vụ nhân dân", lấy tiêu chí "phục vụ" để đánh giá sứ mệnh của Nhànước trước nhân dân Cùng với xu hướng phát triển này, trên thế giới đã ra đời nhiềutác phẩm, công trình khoa học nghiên cứu nhu cầu thụ hưởng và cung ứng HH, DVCtrong xã hội Những công trình đó góp phần quan trọng vào sự đổi mới và phát triểnnhận thức của thế giới về vai trò của Nhà nước trong phát triển xã hội, đặc biệt các vấn
đề nâng cao nhận thức, đánh giá và tìm hướng đi cho sự phát triển cung ứng HH, DVC
cho xã hội với quan điểm lấy con người làm trung tâm và là động lực của sự phát triển
trên phạm vi toàn cầu
Ở Việt Nam, lần đầu tiên thuật ngữ "cung cấp DVC" [31, tr.133] được đề cậpđến trong Văn kiện đại hội Đảng lần thứ IX: " tách cơ quan hành chính công quyềnvới tổ chức sự nghiệp Khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức hoạt động không vì lợinhuận mà vì nhu cầu và lợi ích của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chứcthực hiện một số DVC với sự giám sát của cộng đồng như vệ sinh môi trường, thamgia giữ gìn trật tự trị an xóm, phường" [31, tr.133] Trên cơ sở chủ trương này, trongnhững năm gần đây, thuật ngữ HH, DVC và hoạt động cung ứng được đặt ra, nghiêncứu, tranh luận sôi nổi, có giai đoạn trở thành vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội
- Kết quả của sự quan tâm, nghiên cứu đó được thể hiện qua nhiều hoạt độngkhoa học: tổ chức hội thảo, giảng dạy, xây dựng đề tài khoa học, viết giáo trình, sách,báo, tạp chí ở nhiều không gian, thời gian khác nhau và đưa ra một số vấn đề chủ
Trang 13yếu liên quan đến khái niệm, chủ thể, thẩm quyền, quyền và nghĩa vụ, về xã hội hoáhoạt động cung ứng HH, DVC
Ở mức độ khác nhau, mỗi công trình khoa học trong lĩnh vực này phản ánh mộtkhía cạnh khác nhau về cung ứng HH, DVC, như:
- Quan niệm về HH, DVC;
- Vấn đề cung ứng HH, DVC trong nền kinh tế tập trung, bao cấp;
- Về vai trò của nhà nước và các chủ thể trong cung ứng HH, DVC;
- Trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của chủ thể cung ứng HH, DVC
- Các mô hình cung ứng HH, DVC trên thế giới;
- Xã hội hóa cung ứng HH, DVC;
- Về phương thức cung ứng HH, DVC điển hình, thể hiện xu hướng phát triểnhiện nay trên thế giới;
- Về tăng cường kiểm tra giám sát, áp dụng các biện pháp đảm bảo trong cungứng HH, DVC
1.1.1 Quan niệm về hàng hoá, dịch vụ công
Một số tác phẩm tiêu biểu trên thế giới bàn về thuật ngữ HH, DVC như:
- Theo "World book encyclopeadia - 1998", HH, DVC là việc Chính phủ
bảo vệ lợi ích công cộng bằng việc cung ứng các hàng hoá (HH) và dịch vụ(DV) gọi chung là HH, DVC Ai cũng có lợi từ HH, DVC được cung ứng, vàmột số chủ thể không phải trả tiền cho các loại HH, DV đó Nếu tham gia vàolĩnh vực này, các công ty (thuộc các thành phần kinh tế khác nhau) khó có thểtìm lợi nhuận (khi SX và cung ứng HH, DVC) Đây cũng là một lý do cơ bản
mà HH, DVC thường được bảo vệ, duy trì và cung ứng bởi chính Nhà nước[43, tr.86]
- "Khu vực công" là môi trường chủ yếu thực hiện hoạt động cung ứng HH,
DVC cũng được nhiều tác giả nghiên cứu Theo "Public Administration", khu vực công
là thuật ngữ được sử dụng từ khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai vào năm 1945,một phần do sự mở rộng hoạt động của chính phủ, một phần khác, nó gắn liền với cáchành vi xã hội cùng với hoạt động kinh tế - xã hội Nó là định hướng để phân biệt nềnkinh tế tự do gắn với lợi ích cá nhân, với DN tư nhân Khu vực công đại diện và gắnvới quyền lực nhà nước; thông qua đó có thể điều chỉnh hoạt động của các chủ thể và
Trang 14tạo ra niềm tin chính trị phù hợp, xem hoạt động của tập thể hơn là cá nhân Như vậy,khu vực công là một thuật ngữ dùng để phân biệt với thực thể kinh tế đã và đang tồntại là khu vực tư Sự khác nhau cơ bản không chỉ là mục tiêu của hoạt động (vì tập thể)
và cũng khác nhau cả về cung cách tổ chức và quản lý các hoạt động [109]
- Tác phẩm "Kinh tế học công cộng", đã nghiên cứu về HH, DV nói chung, trong
đó có hàng hoá, dịch vụ công cộng (HH, DVCC), tác giả Joseph E.Stiglitz cho rằng:
"HH, DVCC thuần tuý là loại hàng hoá, dịch vụ (HH, DV) có hai đặc tính quan trọng:thứ nhất, nó không thể phân bổ theo khẩu phần để sử dụng; thứ hai, người ta khôngmuốn sử dụng nó theo khẩu phần" [54, tr.66] Có thể nói, đây là dấu hiệu rất cơ bảncủa HH, DVC thuần tuý Chúng có vai trò quan trọng liên quan mật thiết đến sự sống,sinh hoạt an toàn, ổn định và bình thường của con người như: HH, DV phục vụ vệ sinhmôi trường, chiếu sáng đô thị, đắp đê phòng chống bão lụt
Từ các quan niệm trên đây, có thể rút ra rằng: HH, DVC là những sản phẩmphục vụ xã hội có các đặc tính như:
- Thường không thể phân bổ theo khẩu phần để sử dụng;
- Người ta thường không muốn sử dụng nó theo khẩu phần;
- Khó có thể tìm lợi nhuận khi SX, cung ứng;
- Cung ứng và thụ hưởng cũng phải trong khuôn khổ pháp luật;
- Được bảo vệ, duy trì, đảm bảo cung ứng bởi Nhà nước
Ở Việt Nam, nhiều công trình, tài liệu đã công bố khi bàn về các nội dungkhác nhau về HH, DVC có đề cập đến quan niệm về HH, DVC làm cơ sở cho việcnghiên cứu:
- Tác phầm "Cải cách DVC ở Việt Nam", nhà xuất bản (Nxb) Chính trị Quốc gia,
Hà Nội 2003, PGS.TS Lê Chi Mai bàn luận và đưa ra khái niệm DVC; theo đó:
DVC là những hoạt động phục vụ các lợi ích chung thiết yếu, các quyền
và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do nhà nước trực tiếp đảmnhận hay uỷ nhiệm cho các cơ sở ngoài nhà nước thực hiện nhằm bảo đảm trật
tự và công bằng xã hội [61, tr.24]
Theo cách quan niệm này, DVC có một số đặc điểm như:
Thứ nhất, đó là những hoạt động phục vụ cho nhu cầu và lợi ích chung
thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân
Trang 15Thứ hai, những hoạt động này do các cơ quan công quyền hay những
chủ thể được chính quyền uỷ nhiệm đứng ra thực hiện
Thứ ba, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm các DV này cho xã hội.
Ngay cả khi nhà nước chuyển giao DV này cho tư nhân cung ứng thì nhà nướcvẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm bảo đảm sự công bằng trong phân phốicác DV này, khắc phục các khiếm khuyết của thị trường
Thứ tư, việc cung ứng DVC nhằm đáp ứng nhu cầu, quyền lợi hay nghĩa
vụ cụ thể và trực tiếp của các tổ chức và công dân
Thứ năm, khi thực hiện cung ứng các DVC, các cơ quan nhà nước và các
tổ chức được uỷ nhiệm cung ứng có sự giao dịch cụ thể với khách hàng - các tổchức và công dân
Thứ sáu, việc Nhà nước cung ứng DVC thường không thông qua quan
hệ thị trường đầy đủ Thông thường, người sử dụng DVC không trực tiếp trảtiền, hay nói đúng hơn là đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sáchnhà nước Cũng có những DV mà người sử dụng phải trả một phần hoặc toàn
bộ kinh phí; tuy nhiên, Nhà nước vẫn có trách nhiệm bảo đảm cung ứng các DVnày không nhằm vào mục tiêu lợi nhuận [61, tr.22-23]
Tuy nhiên, ở cách tiếp cận trên, cần lưu ý, đặc điểm Thứ tư cho rằng: "việc
cung ứng DVC nhằm đáp ứng nhu cầu, quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp củacác tổ chức và công dân" mới chỉ phản ánh một khía cạnh của mục đích, chức năngcung ứng DVC; trong khi đó về bản chất, mục đích của cung ứng DVC là để duy trìtrật tự công, đảm bảo sự phát triển bình thường, ổn định, tiến bộ của đời sống kinh tế
- xã hội mà không bị hạn chế bởi "nhu cầu, quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp"
của cộng đồng Thực tế đã chứng minh có những loại DVC không thể hiện qua giaodịch để thực hiện "nhu cầu, quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp" của người dânnhưng nó vẫn luôn giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống xã hội Việcthực hiện cung ứng các DVC "có sự giao dịch cụ thể với khách hàng - các tổ chức vàcông dân" Trong khi đó, đời sống xã hội có những loại DVC điển hình, quan trọng,
như: DV về quốc phòng, an ninh, chiếu sáng đô thị dù không có giao dịch cụ thể
nhưng mặc nhiên mọi người dân ở bất kỳ nơi đâu trên lãnh thổ quốc gia mà người đómang quốc tịch, sinh sống đều được hưởng kết quả của loại hoạt động này
Trang 16- Tác phẩm "Thuật ngữ hành chính", Viện nghiên cứu Khoa học Hành chính, Học
viện Hành chính, TS Đinh Ngọc Hiện chủ biên, công ty in & Văn hoá phẩm, Hà Nội
2009, DVC cũng được hiểu khác nhau mặc dù chúng đều cùng bản chất; theo đó:
DVC là thuật ngữ được sử dụng để chỉ "những hoạt động của cơ quan tổchức nhà nước hoặc của các tổ chức xã hội, tư nhân được nhà nước uỷ quyền đểthực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ trực tiếp những nhu cầuthiết yếu chung của cộng đồng, công dân theo nguyên tắc không vụ lợi đảm bảo
sự công bằng và ổn định xã hội" [100, tr.98]
Tiếp cận DVC dưới giác độ tính chất đối tượng phục vụ (mang tính sử dụngchung), theo nguyên tắc tất cả người dân đều có quyền được tiếp cận, thụ hưởng vàphục vụ, DVC được tác giả thể hiện dưới giác độ là DVCC, theo đó:
DVCC là một thuật ngữ chỉ "lĩnh vực hoạt động của các cơ quan tổ chứcnhà nước, tổ chức xã hội hay tư nhân, thực hiện theo nguyên tắc bình đẳng giữacác chủ thể thụ hưởng theo quy định của pháp luật vì nhu cầu lợi ích chung củacộng đồng xã hội và của đa số người dân" [100, tr.101]
Hay tiếp cận DVC dưới giác độ mục đích trực tiếp mà chủ thể cung ứng hướngtới, thì DVC được định nghĩa là loại DVCI, theo đó:
DVCI là thuật ngữ chỉ "Một lĩnh vực hoạt động phục vụ cho lợi íchchung và nhu cầu thiết yếu của cộng đồng xã hội hoặc bảo đảm quốc phòng, anninh, bí mật quốc gia do Nhà nước hoặc những chủ thể khác được Nhà nước uỷnhiệm đứng ra tổ chức thực hiện, nhằm đảm bảo duy trì sự ổn định, an toàn,phát triển bình thường của xã hội mà không lấy lợi nhuận làm mục tiêu hàngđầu" [100, tr.105]
- Các hoạt động khoa học cũng đã nêu và phân tích khái niệm HH, DVC như:
"DVC - Nhận thức và thực tiễn" Viện Nghiên cứu Hành chính, Học viện Hành chính
Quốc gia, Hội thảo khoa học, Hà Nội - 2001; "Vai trò của Nhà nước trong cung ứng
DVC - Thực trạng và giải pháp", Hội thảo khoa học, Học viên Hành chính Quốc gia,
Hà Nội 8/2002; "Cải cách hành chính và DVC - Vấn đề bức xúc hiện nay", Hội thảo khoa học; Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội tháng 6/2002; "Nâng cao chất lượng
cung ứng DVC tại các khu đô thị", Hội thảo khoa học, Học viện Hành chính Quốc gia
-Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị - Bộ Xây dựng, Hà Nội 2005
Trang 17Nhìn chung, các công trình và hoạt động khoa học trên đây, tuy có cách tiếpcận, phân tích và đưa ra cách định nghĩa, kết luận ở các giác độ khác nhau, nhưng vềbản chất sự vật, hiện tượng, có thể thấy, các HH, DV đã được trình bày đều là HH,DVC - Đó là HH, DV được sinh ra, cung ứng vì nhu cầu, lợi ích chung của đời sốngcộng đồng xã hội, giúp xã hội phát triển bình thường, ổn định, an toàn và tốt đẹp hơn.Trách nhiệm cuối cùng trong việc cung ứng HH, DVC luôn xuất phát từ vai trò xã hộicủa nhà nước, được đảm bảo cung ứng bởi Nhà nước [xem: 56, tr.128]; [88, tr.142].
Từ các quan niệm, phân tích ở trên, có thể hiểu: HH, DVC là khái niệm chỉ
những sản phẩm, công việc được trao đổi phục vụ cho lợi ích chung và nhu cầu thiết yếu của cộng đồng xã hội hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh, bí mật quốc gia do nhà nước hay những chủ thể khác được nhà nước uỷ nhiệm đứng ra tổ chức thực hiện, nhằm đảm bảo duy trì sự ổn định, an toàn, phát triển bình thường và tốt đẹp của xã hội mà không lấy lợi nhuận làm mục tiêu hàng đầu.
1.1.2 Vấn đề cung ứng hàng hoá, dịch vụ công trong nền kinh tế tập trung, bao cấp
Tài liệu "Historialy Planned Economies", cho rằng:
Nền kinh tế kế hoạch tồn tại ở hầu hết các nước thuộc khối Xã hội chủnghĩa (XHCN) Nền kinh tế của thời kỳ này được đặc trưng bởi vai trò quyếtđịnh của nhà nước trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị - xã hội và quản lýbằng mệnh lệnh hành chính Nền kinh tế này được đặc trưng bởi:
- Phân bố HH, DV, SX do nhà nước quyết định, không tuân theo cơ chếthị trường;
- Vấn đề giá cả là sự độc quyền của nhà nước;
- Vấn đề lạm phát hình như không ai quan tâm và không được nhắc đến
vì nhà nước đã khống chế để giá không đổi;
- Vấn đề lợi nhuận trong SX cũng do các quyết định của nhà nước DNnào có lợi nhuận cũng thông qua quyết định của nhà nước, không do thị trườnghay cạnh tranh quyết định;
- Vấn đề thuế không có quy định, do nhà nước phân định hàng năm theochính sách lợi nhuận của nhà nước;
Trang 18- Vấn đề trợ cấp, bao cấp, nhà nước thực hiện bao cấp cho cả sản xuấtkinh doanh (SXKD) và dịch vụ (DV).
- Vấn đề đầu tư do Nhà nước là chủ yếu, các thành phần kinh tế khôngtồn tại và không được khuyến khích
- Vấn đề ngoại thương, vay nợ, xuất nhập khẩu là độc quyền của Nhànước
- Vấn đề lao động việc làm, thất nghiệp không được bàn đến và không
có khái nhiệm thất nghiệp;
- Vấn đề môi trường không quan tâm;
- Vấn đề cung ứng DV coi là thứ yếu;
- Các vấn đề khác phần lớn thuộc độc quyền Nhà nước [107]
Như vậy, trong cơ chế tập trung, bao cấp, do mọi hoạt động cung ứng
HH, DVC nói riêng và HH, DV nói chung thường nằm trong tay các tổ chứckinh tế nhà nước (hoặc tập thể do Nhà nước chỉ huy) nên việc điều chỉnh bằngpháp luật các hoạt động đó chưa thực sự được quan tâm Vì vậy, hoạt động kinh
tế của các tổ chức kinh tế nhà nước thường kém hiệu quả nhưng thiếu cơ chếkiểm tra, giám sát dẫn đến tình trạng thất thoát tài sản nhà nước, nạn tham ô,tham nhũng xảy ra khá phổ biến và đang để lại hậu quả cho nền kinh tế hiện
nay và nhiều nước, người ta gọi đó là "di sản" của nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung [108]
1.1.3 Về vai trò của Nhà nước và các chủ thể trong cung ứng hàng hoá, dịch vụ công
- Giáo trình "Luật kinh tế Việt Nam", Khoa Luật - trường đaị học Khoa học Xã
hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 1998 khinói về DNNN, tại Chương III đã phân biệt hai loại hình DNNN hoạt động kinh doanh
và hoạt động công ích Để thực hiện vai trò xã hội - vai trò ngày càng chiếm vị trí đặcbiệt quan trọng, "với tư cách là chủ sở hữu trái quyền hay sở hữu về mặt giá trị" [69,tr.25], Nhà nước phải sử dụng DNNN hoạt động công ích làm công cụ phục vụ đắc lựccho việc thực hiện vai trò này Cho đến nay, nội dung đó vẫn giữ nguyên ý nghĩa vàcòn được mở rộng ra các DN thuộc thành phần kinh tế khác với những quan hệ xã hội
và chế độ tương tự [21, tr.67], [25]
Trang 19- Sách: "Vai trò của nhà nước trong cung ứng DVC - Nhận thức, thực trạng và
giải pháp", TS Nguyễn Ngọc Hiến (chủ biên); Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội 2002;
"Cải cách DVC ở Việt Nam", Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2003; "Kỹ năng và cách tiếp cận trong việc cải tiến cung ứng DVC", Học viện Hành chính Quốc gia - tập thể tác
giả; Nxb Thống kê, Hà Nội 2002 là những tác phẩm tổng hợp các quan điểm, quanniệm về DVC, phân tích DVC ở dưới các góc độ tiếp cận khác nhau và đã nêu ra cáccách thức cung ứng DVC và xác định vai trò to lớn của Nhà nước trong suốt tiến trình,kết quả của hoạt động cung ứng DVC cho xã hội [41], [45], [61]
- Tiếp cận khái niệm DN cung ứng HH, DVC dưới góc độ pháp lý là bài viết
đăng trên tạp chí khoa học như bài: "Dự thảo luật DN: Một số vấn đề phương pháp
luận", PGS.TS Nguyễn Như Phát, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 5/1999 [70,
tr.45-53]; trên cơ sở phân tích nội dung cũng như lý do dẫn đến việc nhà nước Việt Namtiến hành hợp nhất hai đạo luật là: Luật công ty và Luật DN tư nhân ngày 21 tháng 12năm 1990 và ban hành đạo luật mới là Luật DN 1999 [75], bên cạnh các vấn đề liênquan đến DN như: các nguyên tắc hay tiêu chí làm điều kiện tối thiểu cho sự ổn địnhkinh tế - xã hội; vấn đề về quyền tự do kinh doanh, vốn, góp vốn, quản lý vốn, sở hữutài sản thuộc vốn đăng ký; cải cách thủ tục thành lập DN, cách thức quản lý DN ; Bàiviết đánh giá cao việc ghi nhận loại hình công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữuhạn (TNHH) một thành viên - những hình thức tổ chức quan trọng, phù hợp trong việcđáp ứng nhu cầu cung ứng HH, DV nói chung, và đặc biệt là HH, DVC nói riêng trongthực tiễn nền kinh tế Việt Nam
- Tháng 7 năm 2005, cũng trên Tạp chí này, PGS.TS Nguyễn Như Phát có bài:
"Góp ý dự thảo Luật DN (thống nhất)" [71, tr.24-29] và đã đưa ra những kết quả nghiên
cứu và bình luận quan trọng về hoàn thiện pháp luật về DN, khắc phục sự mâu thuẫnnội tại và hình thành sự minh bạch của pháp luật; đề cao sự bình đẳng giữa các DN.Bên cạnh vấn đề về tiêu chí xác định trách nhiệm hữu hạn hay vô hạn của DN; sự cầnthiết thừa nhận công ty thực tế; xem lại vấn đề áp dụng pháp luật có liên quan Đặcbiệt, vấn đề "tư cách pháp nhân" của công ty hợp danh đã được bài viết phân tích sâusắc theo tinh thần: Pháp luật của các nước tiến bộ trên thế giới - với tư cách là nơi sảnsinh các loại hình công ty từ buổi ban đầu và có bề dầy nghiên cứu về các loại hìnhcông ty đều quy định công ty hợp danh (với tư cách là một loại công ty đối nhân chịu
Trang 20trách nhiệm vô hạn) không có tư cách pháp nhân Đây là loại hình DN có ý nghĩa cực
kỳ quan trọng, khởi nguồn cho công ty đối nhân xuất hiện ở Việt Nam, rất phù hợp vàcần thiết cho cung ứng HH, DVC trên một số lĩnh vực đặc thù - lĩnh vực liên quannhiều đến nhân thân, sự hiểu biết của chủ DN Trong khi đó, Luật DN hiện hành quyđịnh về công ty hợp danh không hoàn toàn như vậy Đây là luận điểm hết sức quantrọng giúp nhà làm luật nghiên cứu, chuyển hoá nhận thức để thể hiện quan điểm trongviệc sửa đổi Luật DN trong tương lai
- Trong bài viết: "Về những điểm mới của Luật DN", Tạp chí Nhà nước và Pháp
luật số 8/1999 [40, tr.17-23]; trên cơ sở so sánh với luật công ty và Luật DN tư nhânngày 21 tháng 12 năm 1990 và nhu cầu khách quan của việc tổ chức kinh doanh dướihình thức các loại hình DN cùng với nhu cầu về nâng cao hiệu quả quản lý DN ,PGS.TS Trần Đình Hảo đã nêu những điểm mới của Luật DN 1999 và đưa ra nhữngbình luận, phân tích, đánh giá sâu sắc, đặt nền móng cho sự giải thích và thực hiệnLuật DN Những vấn đề như tên và phạm vi điều chỉnh của Luật, nguyên tắc áp dụngpháp luật trong mối quan hệ giữa Luật DN và luật chuyên ngành; những ưu điểm màLuật DN có thể đạt được; vấn đề thành lập, tổ chức lại DN; đặc biệt là quy định vềcông ty, trong đó có hai loại hình công ty mới là công ty TNHH một thành viên vàcông ty hợp danh, phân tích làm sáng tỏ khái niệm, vai trò ý nghĩa và những điểmmạnh của các loại công ty này Đặc biệt với công ty hợp danh, đây là một DN có nhiều
ưu điểm phù hợp với nhiều lĩnh vực cung ứng HH, DVC trong thực tiễn phát triểnkinh tế - xã hội nước ta hiện nay Có thể liên hệ một số lĩnh vực điển hình phù hợp vớiloại hình công ty hợp danh như: lĩnh vực công chứng, tư vấn pháp luật, kiểm toán,khám chữa bệnh - lĩnh vực đang có xu thế phát triển mạnh ở Việt Nam hiện nay trongtiến trình xã hội hoá
- Tiếp cận hoạt động cung ứng HH, DVC của loại hình công ty đối vốn, bài viết
"Về các căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản của công ty đối vốn ở Việt Nam", tạp chí
Nhà nước và Pháp luật số 6/2001, tác giả Lê Thị Châu đã xác định trách nhiệm của các
chủ thể trong quá trình định giá phần vốn góp là hiện vật của công ty đối vốn (công tyTNHH, công ty cổ phần) [8]; qua đó, đề cao ý nghĩa, tầm quan trọng của tính trungthực trong việc định giá của các chủ thể, chủ đầu tư là sáng lập viên công ty Hoạtđộng này có thể được áp dụng trong quá trình định giá tài sản là vốn của DN trong lĩnh
Trang 21vực cung ứng HH, DVC Vốn là yếu tố không thể thiếu gắn liền với hoạt động thànhlập DN Định giá tài sản là vốn góp của DN hay của cá nhân, tổ chức trong giao dịchcũng có thể là một hoạt động cung ứng HH, DVC; khi đối tượng định giá là tổ chức cótài sản thuộc sở hữu nhà nước, hay chủ thể thuộc các thành phần kinh tế khác nhauđịnh giá tài sản cho đối tượng khi có yêu cầu của Nhà nước (xem thêm: [6], [7], [9]).
- Bên cạnh các công trình khoa học nêu trên, có một số bài viết, hoạt động khoahọc phân tích ở các góc độ khác nhau về HH, DVC như: vai trò của nhà nước và DNcung ứng HH, DVC; cơ chế quan lý, điều hành và bài học kinh nghiệm rút ra cho hoạt
động quản lý Những bài viết, hoạt động khoa học đó là: "Giấc mơ của nửa triệu DN
và một đạo luật chung: Luật DN 2005 từ một góc nhìn so sánh", PGS.TS Phạm Duy
Nghĩa, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 7/2006 [64]; "Mô hình công ty dịch vụ quản
lý, vận hành khu đô thị", đề tài khoa học, chủ nhiệm: Nguyễn Hiệp, Tổng công ty Đầu
tư phát triển nhà và đô thị - Bộ Xây dựng, Hà Nội 2005 [48]
Nội dung cơ bản của các bài viết, các tác phẩm khoa học nêu trên là đề cao vịtrí, vai trò và tầm quan trọng của các loại hình chủ thể hay DN cung ứng HH, DVC;qua đó, xác định nguyên tắc tổ chức, hoạt động của DN; tư cách pháp nhân và tráchnhiệm tài sản của mỗi loại hình tạo ra cơ chế cạnh tranh, cơ hội lựa chọn loại hình DNphù hợp cho các chủ đầu tư, nhà cung ứng HH, DVC
1.1.4 Về trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của chủ thể cung ứng hàng hoá, dịch vụ công
- Sách: "Luật kinh doanh" (Luật Kinh tế), ThS Nguyễn Thị Khế, ThS Bùi Thị
Khuyên (đồng tác giả), Nxb Thống kê, Hà Nội 1999 đã nêu khái niệm về DNNN hoạtđộng công ích, phân tích quyền và nghĩa vụ của DNNN hoạt động công ích, xem đây
là yếu tố đặc thù mà nhà nước cần quan tâm, quản lý một cách phù hợp với những yêucầu đặc thù đó [55, tr.72]
- Một số đề tài khoa học, luận văn thạc sỹ như: "Địa vị pháp lý của DN nhà
nước hoạt động công ích", luận văn Thạc sĩ luật học, Nguyễn Thị Nhung, Hà Nội
-1998; "Hoàn thiện quy chế pháp lý của DN nhà nước hoạt động công ích", Luận văn Thạc sĩ luật học, Nguyễn Huy Luân, Hà Nội 2001; "Mô hình công ty dịch vụ quản lý,
vận hành khu đô thị", đề tài khoa học, chủ nhiệm: Nguyễn Hiệp, Tổng công ty Đầu tư
phát triển nhà và đô thị - Bộ Xây dựng, Hà Nội 2005 cũng đã nêu và phân tích khái
Trang 22niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của DN, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tổ chức vàhoạt động của DN cung ứng HH, DVC [48], [58], [66].
1.1.5 Về các mô hình cung ứng hàng hoá, dịch vụ công trên thế giới
- Tác phẩm: "Quản lý khu vực công", GS.TSKH Vũ Huy Từ (chủ biên), Nxb
Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội 1998 đã đưa ra một số khái niệm, nguyên tắc, các yếu tốcấu thành khu vực công, vai trò của nhà nước trong quản lý các DV và lĩnh vực hoạtđộng khu vực công, kinh nghiệm quốc tế về quản lý khu vực công [95] ;
- Cuốn "Kỹ năng và cách tiếp cận trong việc cải tiến cung ứng DVC", Nxb Thống kê, Hà Nội 2002; "Cải cách DVC ở Việt Nam", Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2003; "Hoàn thiện quy chế pháp lý của DNNN hoạt động công ích", Luận văn Thạc sĩ luật học, Hà Nội 2001; "Mở rộng cạnh tranh trong khu vực công để nâng cao hiệu quả
cung ứng HH, DVC ở Việt Nam hiện nay", đề tài khoa học cấp Bộ, chủ nhiệm: ThS Vũ
Thanh Sơn, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 2006;
"Mô hình công ty dịch vụ quản lý, vận hành khu đô thị", đề tài khoa học cấp Bộ, Tổng
công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị - Bộ Xây dựng, Hà Nội 2005 đã dành một phầntham khảo kinh nghiệm một số nước về cung ứng HH, DVC Các tác phẩm này cũng
đã đưa ra khái niệm, nguyên tắc và đặc biệt nhấn mạnh vai trò của nhà nước trongquản lý, cung ứng HH, DVC; tham khảo kinh nghiệm quốc tế về cung ứng HH, DVCcho xã hội [42], [45], [47], [48], [58], [61]
Các tác phẩm nêu trên đều cân nhắc và kiến nghị: ở Việt Nam cần có các môhình tổ chức có sự tham gia của các thành phần kinh tế, hình thức sở hữu khác nhautrong cung ứng HH, DVC
1.1.6 Về phương thức cung ứng hàng hoá, dịch vụ công điển hình, thể hiện
xu hướng phát triển hiện nay trên thế giới
- Khi nói về hoạt động cung ứng HH, DVC; tài liệu: "The Nine Principles of
Public Service Delivery"; Chính phủ Vương quốc Anh đã đề ra 9 nguyên tắc (cũng là 9
tiêu chí) cần thiết cho hoạt động cung ứng HH, DVC là:
+ Phải có hệ thống các chuẩn mực của HH, DVC được cung ứng Cácchuẩn mực này phải rõ ràng để người sử dụng có thể hy vọng, giám sát và xemxét hoạt đông cung ứng của tổ chức Công khai các kết quả nếu đã được phêduyệt;
Trang 23+ Mở cửa cung ứng đầy đủ thông tin Mở cửa và giao tiếp một cách rõràng, hiệu quả thông qua những ngôn ngữ dễ hiểu để giúp công dân sử dụng
HH, DVC; cung cấp thông tin về HH, DVC cũng như chi phí và cách thứcchúng được thực hiện;
+ Tư vấn và tham gia của người sử dụng HH, DVC cũng như người cungứng HH, DVC và sử dụng ý kiến của họ để làm cơ sở cho việc hoàn thiện HH,DVC;
+ Khuyến khích sự tiếp cận và lựa chọn Tạo cơ hội để mọi người đều cóthể tiếp cận đến với HH, DVC để thoả mãn đòi hỏi của họ và khuyến khích đưa
ra sự lựa chọn cho người sử dụng từ các tổ chức cung ứng HH, DVC [59];
+ Xử lý công bằng đối với tất cả những ai có liên quan và có nhu cầu;chú ý tới những người có nhu cầu đặc biệt (người tàn tật, người nghèo);
+ Nhanh chóng sửa sai (nếu có); học hỏi qua những lời phê phán củacông dân; tạo điều kiện để họ đưa ra lời khiếu nại một cách dễ dàng; xem xétkhiếu nại đó một cách độc lập;
+ Sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả để cung ứng HH, DVC chongười sử dụng; vì họ là người nộp thuế cho nhà nước;
+ Đổi mới và hoàn thiện hoạt động cung ứng HH, DVC; luôn xem xét đểcải tiến;
+ Hợp tác với những nhà cung ứng khác nhằm bảo đảm cung ứng HH,DVC tốt hơn cho người sử dụng [43, tr.150-151]
- Bên cạnh đó, một ý tưởng quan trọng làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã
hội đang được nhiều quốc gia (trong đó có Việt Nam) quan tâm đó là tài liệu "Chính
phủ nhỏ nhưng hiệu quả" của Tổng thống Mỹ Bill Clinton và Phó Tổng thống A Gore.
Tác phẩm này cho rằng: Về truyền thống, khu vực công là khu vực hoạt động của các
cơ quan, tổ chức của nhà nước, do nhà nước thiết lập nhằm phục vụ những mục tiêuchính trị, kinh tế, xã hội của quốc gia; hay đó là khu vực mà mọi hoạt động của nó có
sự cung cấp tài chính của nhà nước, do nhà nước quyết định thực hiện Trong lĩnh vựckinh tế, các DN thuộc sở hữu vốn nhà nước đã có những giai đoạn phát triển khácnhau, nhưng chúng đều có một xu hướng chung là phạm vi hoạt động của nó ở cácquốc gia trên thế giới ngày càng mở rộng cả về quy mô và nội dung Điều đó đã phản
Trang 24ánh nhu cầu phát triển ngày càng cao, đa dạng của nền kinh tế Nhưng khi xu hươngnày phát triển không có giới hạn, Nhà nước can thiệp quá sâu vào công việc của xãhội, tình trạng ôm đồm của Nhà nước trong việc cung ứng HH, DVC dẫn đến một xuhướng mới là: "Chính phủ nhỏ nhưng hiệu quả" [43, tr.73] Sự cung ứng trực tiếp HH,DVC của Nhà nước từng bước được chuyển giao hợp lý cho các thành phần kinh tếkhác đảm nhận, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Chính phủ và nâng cao chấtlượng cung ứng HH, DVC.
- Luận điểm trên rút ra một phương châm cơ bản cho hoạt động cung ứng HH,DVC một cách tốt nhất là xác định rõ mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội "Nghĩa vụcủa Chính phủ không phải là trực tiếp cung ứng các DV, mà phải bảo đảm các DV đóđược cung cấp" [19, tr.139]; hay "điều quan trọng đối với các chính phủ là không nênlàm những gì mà các cá nhân đã làm và làm cho chúng tốt lên hay tồi đi mà làm những
gì không ai làm được" [86]
1.1.7 Về xã hội hóa cung ứng hàng hoá, dịch vụ công
- Tác phẩm: "Chuyển giao DVC cho các cơ sở ngoài nhà nước - Vấn đề và giải
pháp", Viện nghiên cứu Hành chính, Nxb Lao động - Xã hội 2002 đã phân tích, quan
niệm về DVC, cung ứng và chuyển giao DVC cho các cơ sở ngoài nhà nước ở ViệtNam, đề xuất việc hoàn thiện quản lý nhà nước khi chuyển giao việc cung ứng DVCcho các cơ sở ngoài nhà nước - một lực lượng quan trọng thúc đẩy việc cung ứng DVCngày càng hoàn thiện cả về chất lượng và số lượng Nhà nước cần tạo điều kiện và hỗtrợ các cơ sở ngoài nhà nước cung ứng các DVC [99]
- Sách: "Cải cách DVC ở Việt Nam", Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2003 Trên
cơ sở nhận thức về khái niệm, đặc điểm, vai trò, phân loại, và kinh nghiệm quốc tế vềcung ứng DVC kết hợp với thực trạng cải cách hoạt động cung ứng DVC ở Việt nam,tác phẩm đã rút ra một số giải pháp cải cách hoạt động cung ứng DVC, trong đó cóhoàn thiện thể chế, pháp luật cũng như quy trình cung ứng DVC [61]
- Bài viết "DVCC và những căn cứ để xã hội hoá DVCC", TS Lê Chi Mai, Tạp chí Quản lý Nhà nước số 6/2000; "Quản lý dịch vụ tư vấn và công ích trong nền kinh tế
thị trường"; đề tài khoa học, chủ nhiệm: TS Võ Kim Sơn, Học viện Hành chính Quốc
gia, 2001; "Nghiên cứu cơ chế xã hội hoá một số lĩnh vực DVCC đô thị tại Thành phố
Hồ Chí Minh", đề tài khoa học, chủ nhiệm: TS Phạm Thị Bích Hoa, Học viện Hành
Trang 25chính Quốc gia, 2003 cũng đã nêu và phân tích các khía cạnh về xã hội hoá cung ứng
HH, DVC khá sâu sắc và cụ thể [43], [46], [60]
Dưới góc độ xã hội hóa cung ứng HH, DVC; các tác phẩm nêu trên đều cónghiên cứu và kiến nghị theo xu hướng chung là: cần xác định, khuyến khích cácthành phần kinh tế ngoài nhà nước cùng tham gia vào hoạt động cung ứng HH, DVC
1.1.8 Về tăng cường kiểm tra giám sát, áp dụng các biện pháp đảm bảo trong cung ứng hàng hoá, dịch vụ công
Cuốn "Chuyển giao DVC cho các cơ sở ngoài nhà nước - Vấn đề và giải pháp",
Viện nghiên cứu Hành chính, Nxb Lao động - Xã hội 2002 đã phân tích, phân loại,đưa ra quan niệm về DVC, cung ứng và chuyển giao DVC cho các cơ sở ngoài Nhànước ở Việt Nam Tác phẩm dành một phần nội dung đề cập đến kiểm tra, giám sát, ápdụng các biện pháp đảm bảo; xem đây là một điều kiện không thể thiếu trong hoạtđộng cung ứng HH, DVC [99]
Đề tài khoa học "Mở rộng cạnh tranh trong khu vực công để nâng cao hiệu quả
cung ứng HH, DVC ở Việt Nam hiện nay" của Học viện Chính trị - Hành chính Quốc
gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 2006; "Mô hình công ty dịch vụ quản lý, vận hành khu đô
thị", của Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị - Bộ Xây dựng, Hà Nội 2005
kiến nghị cần tăng cường kiểm tra, giám sát đối với hoạt động cung ứng DVC do các
cơ quan quản lý nhà nước các cấp tiến hành [42], [48]
Như vậy, các công trình, hoạt động khoa học trên đây đã thể hiện sự quan tâmlớn của các nhà khoa học đối với HH, DVC nói chung, DN cung ứng HH, DVC nóiriêng và đã nổi lên nhiều tranh luận Điều đó đã góp một phần quan trọng làm căn cứkhoa học phục vụ cho hoạt động xây dựng pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liênquan đến hoạt động cung ứng HH, DVC Có thể tổng hợp một số nội dung cơ bản về
HH, DVC từ các công trình và hoạt động khoa học trên đây là:
- Khi bàn về khái niệm HH, DVC; đa số các công trình đã công bố đưa ra 2
cách hiểu: Theo nghĩa rộng, "tất cả mọi hoạt động của nhà nước, không loại trừ một
lĩnh vực nào, phải coi là DVC Điều đó xuất phát từ bản chất tổ chức trật tự công củanhà nước: người dân đóng thuế để duy trì nhà nước, nhà nước tồn tại để duy trì trật tự
công" [63, tr.335] Theo nghĩa hẹp, "DVC là những hoạt động của nhà nước được thực
Trang 26hiện nhằm thoả mãn nhu cầu xã hội ngày càng cao, ngày càng phổ biến trong các lĩnhvực do nhà nước có trách nhiệm" [56, tr.128]; hay cụ thể hơn:
DVC bao gồm hai bộ phận cấu thành: DV hành chính công chỉ do côngquyền thực hiện, về nguyên tắc khi được hưởng DV, người dân không phải trảtiền, một bộ phận khác của DVC là những DV vì lợi ích chung của cộng đồng.Nhưng ở khía cạnh thứ hai này cũng cần phải nhận thấy rằng có những DV màmọi người đều bình đẳng với nhau trong hưởng thụ, chẳng hạn cùng hưởngkhông khí trong lành, cùng được phòng bệnh, nhưng cũng có những DV ngườinày trực tiếp được hưởng thụ mà người khác không, hoặc không có nhu cầuhưởng thụ, theo chúng tôi ở khía cạnh này, người hưởng thụ phải chi trả mộtkhoản tiền nhất định [88, tr.143]
- Bên cạnh đó, các công trình thống nhất quan niệm cho rằng: "DVC làthuật ngữ được sử dụng để chỉ "những hoạt động của các cơ quan, tổ chức nhànước hoặc của các tổ chức xã hội, tư nhân được Nhà nước uỷ quyền để thựchiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ trực tiếp những nhu cầu thiết yếuchung của cộng đồng, công dân, theo nguyên tắc không vụ lợi, đảm bảo sựcông bằng và ổn định xã hội" [100, tr.98]
Từ kết quả nghiên cứu trên, có thể rút ra một số đặc điểm của HH, DVC:
+ Là những hoạt động có tính chất xã hội, phục vụ lợi ích chung của cảcộng đồng Đây là những DV phục vụ các lợi ích tối cần thiết của xã hội để bảođảm cuộc sống được bình thường và an toàn
+ Là những hoạt động do các cơ quan công quyền hay những chủ thểđược chính quyền uỷ nhiệm đứng ra thực hiện
+ Để cung ứng các DVC, các cơ quan nhà nước và tổ chức được uỷnhiệm cung ứng có sự giao tiếp với người dân ở những mức độ khác nhau khithực hiện cung ứng DV
+ Việc trao đổi DV không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ Thôngthường, người sử dụng DV không trực tiếp trả tiền, hay nói đúng hơn là trả tiềndưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước để nhà nước tổ chức việccung ứng đều đặn như một sự "thoả thuận trước" Nhưng cũng có những DV
mà người sử dụng vẫn phải trả thêm một phần hoặc toàn bộ kinh phí; tuy nhiên,
Trang 27đối với các loại DV này, nhà nước vẫn có trách nhiệm bảo đảm việc cung ứngkhông nhằm vào mục tiêu lợi nhuận.
+ Mọi người dân (bất kể đóng thuế nhiều hay ít hoặc không phải đóngthuế) đều có quyền hưởng sự cung ứng DVC ở mức độ tối thiểu, với tư cách làđối tượng phục vụ của chính quyền Lượng DVCC mà mỗi người tiêu dùngkhông phụ thuộc vào mức thuế mà người đó đóng góp
+ Khác với những loại DV thông thường được hiểu là những hoạt độngphục vụ không tạo ra sản phẩm mang hình thái hiện vật, DVC là những hoạtđộng của bộ máy nhà nước phục vụ các nhu cầu thiết yếu của xã hội, bất kể sảnphẩm được tạo ra có hình thái hiện vật hay phi hiện vật
+ Xét trên giác độ kinh tế học, DVC là các hoạt động cung cấp cho xãhội những HH công cộng Theo nghĩa hẹp, HH công cộng là loại HH khi nó đãđược tạo ra khó có thể loại trừ ai ra khỏi việc sử dụng nó; và việc tiêu dùng củamỗi người không làm giảm lượng tiêu dùng của người khác HH công cộngmang lại lợi ích không chỉ cho người mua nó, mà cho cả những người khôngphải trả tiền cho HH này Đó là nguyên nhân dẫn đễn chỗ Chính phủ trở thànhngười SX hoặc bảo đảm cung cấp các loại HH công cộng Còn theo nghĩa rộng,
HH công cộng là những "HH và DV được nhà nước cung cấp cho lợi ích của tất
cả hay đa số nhân dân DVC là những hoạt động cung ứng các HH công cộngxét theo nghĩa rộng, bao gồm cả những HH có tính cá nhân thiết yếu được nhànước bảo đảm cung ứng như điện, nước sinh hoạt [100, tr.98]
Mặt khác, để đảm bảo cung ứng HH, DVC một cách khoa học, thuận lợi, hiệuquả, phù hợp với xu hướng phát triển mới theo ý chí, nguyện vọng nhân dân - ngườithụ hưởng; cùng với quan niệm về HH, DVC; các công trình, hoạt động khoa học có
đề cập nội dung liên quan (là yếu tố đảm bảo, phục vụ cho hoạt động cung ứng HH,DVC) Những nội dung đó như: Vai trò, trách nhiệm của nhà nước, quyền và nghĩa vụcủa các chủ thể trong cung ứng HH, DVC; những nét nổi bật trong cung ứng HH,DVC trong mỗi điều kiện phát triển, nền kinh tế khác nhau như: vấn đề cung ứng HH,DVC trong nền kinh tế tập trung, bao cấp, kinh tế thị trường và xu hướng phát triểnphương thức cung ứng HH, DVC hiện nay trên thế giới Bên cạnh đó, các công trình,hoạt động khoa học cũng đề cập đến các mô hình cung ứng HH, DVC trên thế giới, sự
Trang 28cần thiết phải xã hội hóa cung ứng HH, DVC; và đặc biệt là: xã hội cần tăng cườngkiểm tra giám sát, áp dụng các biện pháp đảm bảo trong cung ứng HH, DVC.
1.1.9 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.9.1 Một số kết quả của hoạt động nghiên cứu
Nội dung công trình, hoạt động nghiên cứu trong và ngoài nước như đã nêu ở
trên, có thể khẳng định: Cùng với việc nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, xác định khái
niệm HH, DVC, các công trình còn nêu lên những hạn chế của hoạt động cung ứng
HH, DVC trong điều kiện thực tiễn Từ việc nghiên cứu ấy, các tác giả đưa ra một sốgiải pháp nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong hoạt động cung ứng của các chủ thểtrong đó có các DN:
- Phương hướng được kiến nghị nhiều nhất là "xã hội hoá" hoạt dộng cung ứng
HH, DVC theo nguyên tắc: "Nhà nước chỉ làm những gì mà tư nhân không làm, khônglàm được, không được phép làm";
- Cùng với "xã hội hoá" các công trình cũng kiến nghị nâng cao trách nhiệmcủa các chủ thể cung ứng, nhà nước không bao cấp bình quân, không làm thay DNtrong cung ứng HH, DVC;
- Tăng cường kiểm tra, giám sát và áp dụng bảo vệ pháp chế, trật tự kỷ cươngtrong hoạt động cung ứng HH, DVC;
- Bên cạnh kiến nghị chủ yếu nêu trên, các công trình nghiên cứu cũng có đềcập đến mô hình cung ứng HH, DVC trên thế giới Đó cũng là mẫu hoạt động cungứng ở một số nước điển hình tiến bộ mà Việt Nam có thể tham khảo, học tập, rút kinhnghiệm phục vụ cho hoàn thiện chính sách pháp luật về cung ứng HH, DVC
1.1.9.2 Vấn đề cần tiếp tục tập trung nghiên cứu, tìm giải pháp
Cùng với những ưu điểm chủ yếu như đã nêu ở trên, các công trình nghiên cứu
ít nhiều còn chưa quan tâm đầy đủ, triệt để một số vấn đề; thiết nghĩ cần tiếp tục đượcnghiên cứu, hoàn thiện Những vấn đề ấy là:
- Nghiên cứu hoạt động cung ứng HH, DVC ở đây chủ yếu mới chỉ tiếp cậndưới góc độ kinh tế học Dưới giác độ pháp lý để hoàn thiện pháp luật vẫn đang cònmột số vấn đề chưa được đào sâu; có vấn đề còn bỏ ngỏ
- Việc tiếp cận, giải quyết các vấn đề của các công trình nhiều khi bị cắt nhỏ,chưa bao quát và triệt để Mỗi bài viết, mỗi công trình chủ yếu mới chỉ đề cập ở một
Trang 29vấn đề cụ thể, chưa có sự thống nhất, tổng kết, tập trung và chắt lọc thông tin khoa họcmột cách đầy đủ, xúc tích phục vụ đắc lực cho hoạt động xây dựng và hoàn thiện phápluật về HH, DVC, đặc biệt là pháp luật về DN cung ứng.
- Nếu đi sâu vào vấn đề cụ thể hơn, dưới giác độ pháp lý, pháp luật Việt Namcòn bỏ trống nhiều hoạt động hoặc điều chỉnh chưa chính xác, khoa học đối với cungứng HH, DVC như:
+ Khái niệm về HH, DVC chưa được pháp luật thực sự quan tâm dẫn đến khóvận dụng trong một số trường hợp khi điều chỉnh trong thực tiễn;
+ Chưa xác định đầy đủ, chính xác tiêu chí các loại HH, DVC là căn cứ choviệc xác định nhóm HH, DVC; từ đó, xây dựng chính sách pháp luật điều chỉnh phùhợp với nhu cầu thực tiễn về cung ứng đạt hiệu quả cao nhất;
+ Mô hình tổ chức DN cung ứng HH, DVC còn thiếu phù hợp với lĩnh vực hoạtđộng của DN, đặc biệt là trách nhiệm tài sản của DN (ví dụ: điều này thể hiện ở Luật
DN 2005, Luật công chứng 2006, Luật luật sư 2006, Luật kiểm toán độc lập 2011 vànhiều văn bản pháp luật có liên quan );
+ Quy định về xã hội hoá hoạt động cung ứng HH, DVC còn chưa triệt để,thiếu tính cụ thể và chính xác (ví dụ: Luật Công chứng 2006, Nghị định 79/2007/NĐ-
CP về chứng thực );
+ Pháp luật chưa quy định cụ thể, đầy đủ quyền và nghĩa vụ cũng như tráchnhiệm của chủ thể cung ứng (pháp luật về cung ứng điện, nước, môi trường, giáo dục,kiểm toán );
+ Cơ chế giám sát, quy trình thực hiện quyền yêu cầu của người thụ hưởngviệc cung ứng HH, DVC (nuôi dạy trẻ, dịch vụ xây dựng nhà khu đô thị, công trìnhgiao thông ) chưa được cụ thể hoá;
+ Trách nhiệm, thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong quản lý hoạt động cungứng HH, DVC chưa được pháp luật đề cao, qui định rõ (pháp luật về tổ chức, hoạtđộng của các cơ quan nhà nước, về xử lý hành chính, hình sự )
Từ tất cả những lý do đã nêu ở trên, "đã đến lúc phải nghiên cứu, luật hoá và tiến tớihoàn thiện khung pháp lý các quy định hiện hành" [38] về chủ thể cũng như DN cungứng HH, DVC
Trang 301.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
- Câu hỏi nghiên cứu:
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, trên cơ sở tình hình nghiên cứu đề tài,tác giả luận án xác định một số câu hỏi nghiên cứu cơ bản làm nền tảng xuất phát điểmnghiên cứu của luận án sau đây:
Thứ nhất, Cung ứng HH, DVC; DN cung ứng HH, DVC là gì, ý nghĩa, vai trò
của chúng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ra sao?
Thứ hai, ở nước ta hiện nay, pháp luật đang quy định cho các DN hoạt động
cung ứng HH, DVC dưới những mô hình nào? Những ưu điểm và hạn chế của quyđịnh đó?
Thứ ba, những yêu cầu nào đặt ra cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về DN
cung ứng HH, DVC? Phương hướng và giải pháp hoàn thiện?
- Lý thuyết nghiên cứu:
Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu của đề tài luận án là lý luận của chủ nghĩaMác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; đặc biệt là tư tưởng của
Bác xem "cán bộ là công bộc của dân" Điều đó cũng khẳng định vai trò xã hội to lớn
của Nhà nước đối với nhân dân Người thực hiện vai trò to lớn đó không ai khác chính
là cán bộ, công chức nhà nước Điều này cũng khẳng định, việc cung ứng HH, DVCchính là trách nhiệm của nhà nước trước công dân Người đại diện quyền lực nhà nướccung ứng HH, DVC cho xã hội cũng cần khiêm tốn, xem mình là người được nhân dântín nhiệm, bầu ra, giao trách nhiệm để phục vụ nhân dân Tư tưởng đó có một ýnghĩa hết sức quan trọng đánh dấu tính nhân văn trong mối quan hệ giữa nhà nước vớicông dân mà cho đến ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị Sinh thời, Bác Hồ đã nói: "việcnước, việc nhà bao giờ cũng đi liền với nhau, nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa
là các sự kinh doanh của các nhà công thương thịnh vượng" Người khẳng định:
"Chính phủ nhân dân sẽ tận tâm giúp giới công thương trong công cuộc kiến thiết"[57, tr.86]
Cùng với tư tưởng nêu trên, chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vậtlịch sử, phép biện chứng duy vật và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đềcập đến việc xây dựng, hoàn thiện, đổi mới nhà nước và pháp luật; đồng thời tiếp thu
có chọn lọc lý thuyết về cung ứng HH, DVC từ các nhà khoa học trong và ngoài nướclàm căn cứ khoa học cho việc nghiên cứu Đây cũng là cơ sở lý luận có vai trò to lớn
Trang 31trong việc vạch ra phương hướng, tìm cách thức hiện thực, cụ thể hoá nội dung tưtưởng nêu trên vào thực tiễn pháp luật
Đây chính là tư tưởng xuyên suốt luận án, là chỗ dựa phương pháp luận màluận án làm căn cứ xem xét sự vật, hiện tượng đang diễn ra Cũng trên cơ sở đó, luận
án đi giải quyết các vấn đề mang tính cụ thể để tổng hợp, đánh giá kết quả… làm tiêuchí đưa ra các phương hướng và giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về DNcung ứng HH, DVC…
Từ đó, chủ thuyết làm nền tảng và xuyên suốt quá trình nghiên cứu của luận án
là đề cao ý nghĩa, vai trò của pháp luật về DN cung ứng HH, DVC
- Các giả thuyết nghiên cứu:
Trên cơ sở nền tảng các nghiên cứu về cung ứng HH, DVC hiện nay cũng như
thực tiễn cung ứng những năm qua, hướng trọng tâm vào những yêu cầu thực tiễn đangđặt ra hiện nay, tác giả xác định luận án sẽ cố gắng phân tích và luận cứ cho một số giảthuyết nghiên cứu sau:
Thứ nhất, Cung ứng HH, DVC là hoạt động có tính chính trị - pháp lý và nhân
văn sâu sắc, có vai trò cực kỳ quan trọng đối với việc ổn định và phát triển đất nước
Thứ hai, Thực tiễn cung ứng HH, DVC ở Việt Nam những năm qua đã hình
thành và phát triển mạnh nhưng còn nhiều hạn chế, chưa được pháp luật quy định cụthể Do vậy, hoạt động này chưa phát huy hết được vai trò, ý nghĩa to lớn của mình,thậm chí còn làm ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động cungứng HH, DVC
Thứ ba, muốn nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả của hoạt động cung ứng
HH, DVC, cần phải đổi mới và hoàn thiện mạnh mẽ hệ thống quy phạm pháp luật hiệnhành theo hướng: xác định cụ thể các DN tham gia cung ứng HH, DVC; quyền vànghĩa vụ của DN đó; cơ chế quản lý nhà nước đối với DN và hoạt động của chúng
- Về hướng tiếp cận của đề tài:
Thứ nhất, luận án kế thừa có chọn lọc, phân tích và bình luận các kết quả nghiên
cứu về DN cung ứng HH, DVC đã được công bố trên cơ sở tập hợp, hệ thống ở mức đầy
đủ nhất có thể đối với các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài
Thứ hai, luận án nghiên cứu các quy định về DN cung ứng HH, DVC và thực
tiễn hoạt động cung ứng ở nước ta từ trước đến nay, đánh giá những thuận lợi, khó
Trang 32khăn cùng với những ưu điểm, hạn chế trong lĩnh vực hoạt động này để rút ra các kiếnnghị nhằm phát huy hơn nữa những ưu điểm, khắc phục tối đa các hạn chế đó.
Thứ ba, trên cơ sở rút ra những đặc điểm chung trong hoạt động cung ứng HH,
DVC; tổng hợp kinh nghiệm của các nước, luận án sẽ đưa ra những kiến nghị nhằmtiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm phù hợp của các nước góp phần hoàn thiệnpháp luật về DN cung ứng HH, DVC ở nước ta
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Có thể nói, cung ứng HH, DVC và DN cung ứng đã trở thành một lĩnh vực hoạtđộng không thể thiếu trong đời sống kinh tế - xã hội ở mọi quốc gia trên thế giới Lĩnhvực này cũng đã trở thành đối tượng nghiên cứu nổi bật của các nhà khoa học trênphạm vi toàn cầu, nhất là ở các quốc gia có nền kinh tế - xã hội phát triển, nhu cầu vềđảm bảo thực hiện quyền con người được đề cao
Qua các nghiên cứu về cung ứng HH, DVC đã công bố cho thấy đây là một lĩnhvực phức tạp, quan trọng của các ngành khoa học như: kinh tế, chính trị, hành chính vàluật học Nhà nước là một tổ chức có sứ mệnh đảm bảo, duy trì trật tự, an toàn và pháttriển bền vững của xã hội Gắn với vai trò này, ở mức độ khác nhau, DN cung ứng
HH, DVC là phương tiện truyền tải sứ mệnh ấy tới đời sống nhân dân và đã được lịch
sử loài người ghi nhận
Cùng với nghiên cứu các vấn đề về cung ứng HH, DVC; DN - chủ thể chủ yếuthực hiện việc cung ứng cũng được các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam quantâm nghiên cứu Trên cơ sở nhu cầu phát triển quyền con người, tính dân chủ được đềcao, vị trí của người dân được nâng lên một bước , việc nghiên cứu về các công cụ,phương tiện thực hiện quyền dân chủ đó càng trở nên bức xúc Vì lẽ đó, việc ra đời cáccông trình và hoạt động nghiên cứu nêu trên là xu hướng tất yếu, góp phần thúc đẩyquá trình phát triển xã hội, đảm bảo lợi ích của người dân ngày càng khả thi và pháttriển bền vững
Mặc dù có tiếp cận ở góc độ khác nhau, nhưng nhìn chung các nhà khoa họctrong và ngoài nước đều hướng tới nghiên cứu các vấn đề chủ yếu về HH, DVC như:Khái niệm về HH, DVC; cung ứng HH, DVC và chủ thể cung ứng; vai trò của Nhànước trong cung ứng HH, DVC, mối quan hệ giữa nhân dân - người thụ hưởng và chủthể cung ứng khác
Trang 33Tuy nhiên, là nhà nghiên cứu của các nước có chế độ chính trị - kinh tế, văn hoá
- xã hội khác nhau, đội ngũ các nhà khoa học trên thế giới cũng có sự quan tâm, nhìnnhận các vấn đề ở mức độ khác nhau so với các nhà khoa học Việt Nam Ngoài nhữngvấn đề chung mà các nhà khoa học Việt Nam và thế giới cùng quan tâm, các nhà khoahọc trên thế giới cũng không xem nhẹ việc nghiên cứu nội dung, hệ quả của nền kinh
tế tập trung, bao cấp, từ đó rút ra những hạn chế, khiếm khuyết của cơ chế kinh tế này,làm căn cứ cho việc nghiên cứu phát triển kinh tế thị trường mà các quốc gia phát triểnđang theo đuổi
Ở Việt Nam, điều kiện, khả năng tiếp cận các vấn đề khoa học về HH, DVC và
DN cung ứng với yêu cầu chất lượng cao xuất hiện muộn hơn so với thế giới nhưngkhi Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường, các tư tưởng về
HH, DVC được phát triển ngày càng mạnh mẽ Bên cạnh việc tiếp thu thành tựunghiên cứu trên thế giới, các nhà khoa học Việt Nam đã vận dụng những luận điểm,kết quả nghiên cứu để giải quyết các vấn đề trong nước đã và đang đặt ra đem lại kếtquả đáng khích lệ, góp phần cho việc hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước tangày càng phù hợp, thực chất, tiến bộ
Các công trình khoa học nêu trên mặc dù đã giải quyết được các vấn đề cơ bảntrong việc tiếp cận, phân tích về cung ứng HH, DVC; nhưng nhìn chung, dưới giác độnghiên cứu pháp luật về DN cung ứng HH, DVC vẫn còn nhiều vấn đề cần đượcnghiên cứu làm sáng tỏ Điều đó thúc đẩy đề tài Luận án Tiến sỹ tập trung nghiên cứu,tìm giải pháp khắc phục, lấp đi những khoảng trống trong cơ chế điều chỉnh pháp luật,loại bỏ những rủi ro có thể đến với chủ thể tham gia cung ứng, sử dụng HH, DVC mộtcách chính xác, năng động và hiệu quả nhất trong xã hội
Trang 34Chương 2
LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG
HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG
2.1 DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG
2.1.1 Khái niệm doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công
Hoạt động cung ứng HH, DVC đã trở thành một lĩnh vực hoạt động không thểthiếu, đóng vai trò là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển xã hội ở các quốc gia trênthế giới Ngay cả trong nền kinh tế thị trường, trên thực tế có các loại HH, DV đượccung cấp chủ yếu từ khu vực kinh tế tư nhân Những HH, DVC là loại sản phẩm tốicần thiết cho cuộc sống, hoặc cung ứng cho đa số người sử dụng thì không phải chủthể nào cũng có thể làm được Đó là những HH, DV khi cung ứng phải đáp ứng
những yêu cầu khắt khe về chất lượng, chủ thể và phương thức cung ứng… xuất phát
từ tính chất, vai trò đặc biệt của nó đối với đời sống kinh tế - xã hội của một quốc gia
Khái niệm cung ứng HH, DVC được quan niệm khác nhau tuỳ thuộc vào cáchtiếp cận của mỗi chủ thể Chẳng hạn, khi nói về cung ứng hàng hoá, dịch vụ công ích(HH, DVCI), có quan niệm: Hoạt động công ích chính là những "hoạt động phục vụtrực tiếp lợi ích công cộng, bao gồm các nhu cầu thiết yếu, cơ bản trong đời sống conngười - được gọi là các DVCC mà người dân mong muốn và yêu cầu nhà nước cungcấp cho mình" [44, tr.166-167] Điển hình cho những loại HH, DV này là: cung cấpđiện nước, xây dựng kết cấu hạ tầng, y tế, giáo dục; dịch vụ phục vụ quốc phòng, anninh; thông tin dự báo thời tiết; phòng cháy chữa cháy; bảo vệ môi trường sinh thái; đêđiều, phòng chống bão lụt; biển báo, chỉ dẫn đường sông, đường biển, đường bộ,đường hàng không; thông tin dự báo thời tiết, khí hậu thuỷ văn; vệ sinh môi trường,thoát nước; thông tin các công trình phát minh, sáng chế đã được công bố; kể cả một
số loại HH, DVC trả toàn bộ chi phí cung ứng như: dịch vụ công chứng, tư vấn, kiểmtoán… (Tiêu chí quan trọng là hoạt động này chủ yếu xem lợi nhuận là mục tiêu thứyếu)
Trang 35Trên thực tế, các chủ thể khi cung ứng những loại hình HH, DV này thườngphải có những điều kiện khá đặc biệt về nhân thân, địa vị pháp lý, tài sản… và đượcpháp luật cho phép, bảo hộ Hầu hết lĩnh vực hoạt động này, liên quan đến an ninhquốc gia, chi phí quá cao, không có hoặc có ít lợi nhuận… nên khu vực tư nhân khôngthể cung ứng vì không đảm bảo được lợi ích của xã hội Vì vậy, Nhà nước với tư cách
là một tổ chức công quyền có trách nhiệm cung ứng hoặc điều tiết, kiểm soát việccung ứng HH, DV nhằm đảm bảo sự ổn định, công bằng và hiệu quả của nền kinh tế
Từ phân tích trên, có thể hiểu: Cung ứng HH, DVC là hoạt động của các chủ
thể nhằm phục vụ cho lợi ích và nhu cầu thiết yếu của cộng đồng dân cư trong đời sống kinh tế - xã hội hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bí mật quốc gia do Nhà nước hoặc những chủ thể được Nhà nước uỷ nhiệm đứng ra tổ chức thực hiện, nhằm đảm bảo duy trì sự ổn định, an toàn và phát triển bình thường của xã hội mà không lấy lợi nhuận làm mục tiêu hàng đầu.
DN - Chủ thể của nền kinh tế thị trường ở mọi quốc gia trên thế giới giữ mộtvai trò rất quan trọng Ở Việt Nam trong nhiều năm qua, từ Đại hội Đảng lần thứ VI,đất nước ta tiến hành đổi mới chuyển nền kinh tế phát triển từ tập trung, quan liêu, baocấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sựquản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đến Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định “nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước…” [36, tr.34]; “xây dựng nền kinh tế độc lập, tựchủ đồng thời chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” [36, tr.75]; DN luôn là mộtlực lượng tiên phong, gánh vác và thực hiện các quan hệ kinh tế không chỉ trong phạm
vị quốc gia mà còn phát triển, tham gia quan hệ kinh tế với các chủ thể, các DN kháctrên trường quốc tế Điều đó đã mang lại những kết quả tốt đẹp góp phần đưa đất nước
ta phát triển và có vị trí quan trọng trong mối quan hệ trên nhiều lĩnh vực với các quốcgia trên thế giới
Đời sống kinh tế - xã hội và trong thực tiễn pháp luật Việt Nam đã có nhiềuquan niệm khác nhau về DN nói chung và từng loại hình DN Đặc biệt khi chuyểnsang nền kinh tế thị trường, khái niệm DN càng được quan tâm một cách mạnh mẽ,đầy đủ hơn và có một ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu, mô hình hoá phục vụ
Trang 36việc ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh liên quanđến hoạt động kinh tế và đặc biệt tập trung vào các DN.
Theo qui định của pháp luật Việt Nam, “DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, cótài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh (ĐKKD) theo quy địnhcủa pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” [79, Điều 4]
Trong khi đó, DN cung ứng HH, DVC chính là chủ thể thực hiện các hoạt độngcung ứng cho cộng đồng dân cư và toàn xã hội các loại sản phẩm có tính chất đặc biệt
và thiết yếu Với vai trò, ý nghĩa như vậy, DN cung ứng HH, DVC là tổ chức có chức
năng hoạt động kinh tế - xã hội, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký và hoạt động trong lĩnh vực cung ứng HH, DVC theo quy định của pháp luật.
2.1.2 Đặc điểm doanh nghiệp cung ứng hàng hóa, dịch vụ công
Với tư cách là một loại hình DN, bên cạnh việc chứa đựng những đặc điểm của
DN nói chung, DN cung ứng HH, DVC còn có những đặc điểm mang tính đặc thù sovới các loại hình DN khác trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và tính chất hoạt động…của DN Từ việc nghiên cứu, có thể rút ra một số đặc điểm chủ yếu của DN cung ứng
HH, DVC như sau:
2.1.2.1 Về tính chất cung ứng hàng hóa, dịch vụ công của doanh nghiệp
Có thể nói rằng, hầu hết hoạt động cung ứng HH, DVC của DN thể hiện mộtđặc tính nổi bật là: tính cộng đồng - xã hội là mục tiêu hàng đầu, phát triển bền vững,
ổn định; phục vụ lợi ích chung tối cần thiết của cả cộng đồng để bảo đảm cuộc sốngđược bình thường và an toàn Vì thế mà lĩnh vực này thường do các cơ quan côngquyền hay những chủ thể được chính quyền uỷ nhiệm đứng ra thực hiện như một tráchnhiệm chính thức của nhà nước đối với công dân
Việc cung ứng HH, DVC của DN thường không phải là quan hệ hàng hoá - tiền
tệ đầy đủ Thông thường, người sử dụng HH, DVC không trực tiếp trả tiền, hay nóiđúng hơn là trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước để nhà nước tổchức việc cung ứng HH, DVC này Thực tế cũng có những dịch vụ mà người sử dụngvẫn phải trả thêm một phần hoặc toàn bộ kinh phí; như phí, lệ phí [97] Tuy nhiên, đốivới các HH, DV này, Nhà nước vẫn có trách nhiệm bảo đảm việc cung ứng khôngnhằm vào mục tiêu lợi nhuận
Trang 37Mọi người dân đều có quyền, có thể dùng “hưởng dụng” ngang nhau đến nhữngloại HH, DVC ở một mức độ tối thiểu do chính quyền cung ứng Lượng HH, DVC màmỗi người hưởng dụng không phụ thuộc vào mức thuế mà người đó đóng góp.
2.1.2.2 Về mục đích cung ứng hàng hóa, dịch vụ công của doanh nghiệp
Mục đích quan trọng của hoạt động cung ứng HH, DVC là đảm bảo duy trì sự
ổn định chính trị, an toàn xã hội Việc cung ứng các sản phẩm trong lĩnh vực an ninh,quốc phòng; các lĩnh vực liên quan đến dân sinh khẳng định sự tiến bộ xã hội trongmọi thời đại
Cùng với đảm bảo duy trì sự ổn định chính trị, cung ứng HH, DVC của DN còngắn liền với mục tiêu kinh tế Mặc dù hầu hết các hoạt động này ít liên quan hoặckhông liên quan trực tiếp đến sự vận động của các quan hệ kinh tế cụ thể, nhưng nó cóvai trò cực kỳ quan trọng làm cơ sở vững chắc cho các quan hệ kinh tế trong đời sống
xã hội phát triển Điển hình cho mục đích này là: các hoạt động phát triển cơ sở hạtầng kinh tế, xã hội (đường xá, cầu cống, cảng biển, cảng hàng không, nhà ga, bến xe,bãi đỗ xe, trường học, bệnh viện…)
Bên cạnh đó, một lĩnh vực hoạt động cần thiết và quan trọng khác là HH, DVCđảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội Đây luôn là mục tiêu, là điều quan trọng khôngthể buông nhẹ của Nhà nước Nhờ hoạt động này mà tất cả các công việc thuộc cáclĩnh vực khác nhau trên địa bàn lãnh thổ của quốc gia được tôn trọng, giữ gìn, đảm bảothực hiện một cách tích cực đúng chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước, nguyện vọng của nhân dân
Xuất phát từ tính chất, vai trò, tầm quan trọng của HH, DVC; DN cung ứng
HH, DVC hoạt động chủ yếu không vì mục tiêu lợi nhuận mà trước hết và chủ yếunhằm đáp ứng những lợi ích công theo chính sách của Nhà nước Đây là điểm khácbiệt cơ bản nhất giữa DN cung ứng HH, DVC với DN hoạt động kinh doanh thôngthường Nếu như DN kinh doanh hoạt động chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận thì ngượclại, DN cung ứng HH, DVC hoạt động trước hết vì lợi ích xã hội Nói cách khác; đốivới DN cung ứng HH, DVC mục tiêu lợi nhuận chỉ có ý nghĩa khi DN hoàn thànhnhiệm vụ công Từ nhiệm vụ và mục tiêu đó, một số hoạt động cũng có sự khác biệtnhất định như mức độ tự quyết kế hoạch sản xuất, khả năng tự quyết giá mua bán sảnphẩm, tự lựa chọn thị trường… là những vấn đề DN hoạt động kinh doanh nào cũng
Trang 38thực hiện và được pháp luật thừa nhận, trong khi DN cung ứng HH, DVC lại bị hạnchế; hoặc việc đầu tư liên doanh liên kết, góp vốn cổ phần, kinh doanh ngành nghề bổsung, nộp thuế… của DN cung ứng HH, DVC cũng chỉ được thực hiện khi có nhữngđiều kiện nhất định, còn đối với DN hoạt động kinh doanh thông thường thì đây lànhững quyền và nghĩa vụ được thực hiện hàng năm hoặc bất kỳ thời điểm nào theo khảnăng kinh doanh của DN…
2.1.2.3 Về nhiệm vụ của doanh nghiệp
Từ việc triển khai mục đích trên, DN cung ứng HH, DVC phải thực hiện nhiệm
vụ đặc trưng đi kèm với nó Nhiệm vụ của DN này không chỉ do thị trường đặt ra màcòn là phục vụ nhiệm vụ chính trị - xã hội Trong quá trình hoạt động, nhiệm vụ mớicủa DN có thể được đặt ra nhưng thường không nhiều so với nhiệm vụ của DN hoạtđộng kinh doanh Ví dụ: khi nói về nhiệm vụ của DN hoạt động công ích, pháp luậtquy định nhiệm vụ của DN là trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặcsản xuất sản phẩm cung ứng dịch vụ công cộng theo chính sách của Nhà nước như:
- Sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài, trang bị chuyên dùng cho quốcphòng, an ninh và các DN tại các địa bàn chiến lược quan trọng kết hợp kinh tếvới quốc phòng
- Sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng khác có ít nhất 70%doanh thu từ các hoạt động trong các lĩnh vực sau đây:
+ Giao thông công chính đô thị;
+ Quản lý, khai thác, duy tu, bảo dưỡng hệ thống cơ sở hạ tầng, hệ thốngđường sắt quốc gia, đường bộ, đường thuỷ, sân bay, điều hành bay, bảo đảmhàng hải, dẫn dắt tàu ra vào cảng biển, kiểm định kỹ thuật phương tiện giaothông đường bộ, đường thuỷ;
+ Kiểm tra, kiểm soát và phân phối tần số vô tuyến điện;
+ Khai thác bảo vệ các công trình thuỷ lợi;
+ Sản xuất giống gốc cây trồng vật nuôi;
+ Sản xuất và phát hành sách giáo khoa, sách báo chính trị, sản xuất vàphát hành phim thời sự, tài liệu, phim cho thiếu nhi, sản xuất và cung ứng muối
ăn, chiếu bóng phục vụ vùng cao, biên giới, hải đảo, sản xuất sản phẩm, cungứng dịch vụ khác theo chính sách xã hội của Nhà nước [10, Điều 2]
Trang 392.1.2.4 Về cách thức tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp
Trên thực tế, nhiều DN cung ứng HH, DVC bên cạnh việc thực hiện nhiệm vụchính của mình còn có thể tham gia cung ứng một số HH, DV cho xã hội đáp ứng nhucầu của xã hội và DN có thu nhập, có lợi nhuận từ việc cung ứng đó Nếu việc thựchiện diễn ra một cách thường xuyên, liên tục và ổn định thì nhiệm vụ, hoạt động tronglĩnh vực mới của DN được phát sinh và xác định bên cạnh nhiệm vụ chính trị - xã hội.Nhìn chung, đây cũng là một đặc điểm khá nổi bật của DN cung ứng HH, DVC Bêncạnh nhiệm vụ chính trị - xã hội, DN còn có thể có thêm nhiệm vụ kinh doanh
Về nguyên tắc, các DN phải tổ chức lại bộ máy quản trị theo hướng tách bộmáy điều hành hoạt động kinh doanh của DN thành một bộ phận riêng tồn tại songsong với bộ phận (bộ máy) điều hành hoạt động cung ứng HH, DVC (bộ phận đảmnhiệm chức năng phục vụ chính trị - xã hội)
Bên cạnh đó, vì tính chất hoạt động của mình, DN cung ứng HH, DVC thườngphải thực hiện kế hoạch do Nhà nước giao, tổ chức đấu thầu hoặc làm theo đơn đặthàng của Nhà nước khi có yêu cầu Xuất phát từ tính chất, vai trò mang tính đặc thùcủa DN, việc quy định như vậy cũng là yêu cầu cần thiết Bởi lẽ các loại HH, DV do
DN cung ứng cũng chính là sự thể hiện vai trò của Nhà nước đối với sự sống còn, ổnđịnh và phát triển của nền kinh tế - xã hội của quốc gia Vấn đề còn lại là việc tác động
đó ở mức độ nào và cần được thực hiện dưới những hình thức, phương pháp nào sẽ cóhiệu quả nhất
2.1.2.5 Về mức độ chủ động trong cung ứng hàng hóa, dịch vụ công của doanh nghiệp
Là một loại chủ thể chuyên cung ứng HH, DVC - Một loại HH, DV đặc biệt cóliên quan mật thiết đến vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trước công dân nênkhác với các loại hình DN khác, DN cung ứng HH, DVC khi được thành lập và hoạtđộng thường phải tuân theo một số điều kiện mang tính đặc thù theo định hướng vàyêu cầu của Nhà nước Yêu cầu đó có thể được thực hiện dưới hình thức, giao nhiệm
vụ, đấu thầu, đặt hàng… Vì vậy, tính tự chủ của DN không cao, không thuần tuý chủđộng khởi xướng, tham gia hoạt động trong nền kinh tế thị trường như các DN hoạtđộng kinh doanh Về nguyên tắc, DN cung ứng HH, DVC không được tự ý xây dựngđơn giá cho sản phẩm hay dịch vụ của DN mà phải thực hiện theo giá, khung giá hoặc
Trang 40phí do Nhà nước qui định Nếu như trong cơ chế thị trường, DN hoạt động kinh doanhđược Nhà nước cho phép tự xây dựng giá thành sản phẩm (trừ những sản phẩm doNhà nước định giá) thì giá thành sản phẩm HH, DV của DN cung ứng HH, DVC phảiđược thực hiện theo giá, khung giá hoặc phí do Nhà nước qui định Về cơ bản, khimuốn điều chỉnh giá, DN có thể đưa ra phương án giải trình với cơ quan nhà nước cóthẩm quyền quyết định.
Việc khống chế giá thành sản phẩm của DN cung ứng HH, DVC cũng xuất phát
từ tính chất đặc biệt của loại HH, DV Nhà nước có thể can thiệp vào quá trình sảnxuất của DN cung ứng HH, DVC
2.1.2.6 Về đối tượng cung ứng hàng hóa, dịch vụ công của doanh nghiệp
Việc cung ứng HH, DVC của DN luôn có xu hướng đảm bảo cho mọi cá nhân,
tổ chức trong xã hội được bình đẳng tiếp cận và thụ hưởng Căn cứ vào tính đặc biệtcủa hoạt động cung ứng HH, DVC; đối tượng của hoạt động này luôn được Nhà nước,
xã hội, nhà cung ứng đưa lên làm mục tiêu phục vụ hàng đầu, xem kết quả và chấtlượng phục vụ là một tiêu chí quan trọng hàng đầu đánh giá độ thành công của chủ thể
tổ chức cung ứng Về nguyên tắc, tất cả các cá nhân trong xã hội đều có quyền tiếp cận
và thụ hưởng HH, DVC một các bình đẳng
Bên cạnh đối tượng của việc cung ứng HH, DVC bình thường, xã hội còn cócác đối tượng - người thụ hưởng có những hoàn cảnh đặc biệt riêng được chủ thể cungứng HH, DVC đáp ứng một cách có trách nhiệm, phù hợp và hiệu quả nhất Đó lànhững người hạn chế năng lực hành vi, tàn tật, thương bệnh binh, người già cô đơn, cơnhỡ; người sống trong hoàn cảnh, địa bàn khó khăn (hải đảo, vùng sâu, vùng xa…)
Đó chính là đối tượng đặc thù đòi hỏi DN khi cung ứng cần có nghiên cứu, xem xét tạo ra một cơ chế cung ứng chất lượng, hiệu quả, chính xác và phù hợp nhất trong xãhội
Với những đặc điểm trên; DN cung ứng HH, DVC có vai trò hết sức quantrọng, là điều kiện không thể thiếu đối với sự phát triển ổn định, an toàn và tiến bộ đốivới đời sống xã hội Cung ứng HH, DVC cũng tồn tại dưới nhiều cấp độ, hình thứckhác nhau phụ thuộc vào tính chất, tầm quan trọng của lĩnh vực cung ứng Về nguyêntắc, đảm bảo cung ứng HH, DVC cho toàn xã hội là đặc trưng sứ mệnh và trách nhiệmcủa mỗi nhà nước trên cơ sở các loại thuế, phí, lệ phí mà người dân đóng góp Một