Luận văn
Trang 1Häc viÖn ©m nh¹c quèc gia ViÖt Nam
Ph¹m Ph-¬ng Hoa
nh÷ng thñ ph¸p s¸ng t¸c Trong mét sè tr-êng ph¸I ©m nh¹c
Hµ Néi - 2010
Trang 2Lêi cam ®oan
T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu trong luËn ¸n lµ trung thùc Nh÷ng ý kiÕn khoa häc trong luËn ¸n ch-a
®-îc ai c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh nµo kh¸c
Hµ Néi, ngµy 1 th¸ng 3 n¨m 2010 T¸c gi¶ luËn ¸n
Ph¹m Ph-¬ng Hoa
Trang 3Mục lục
tr
Mở đầu 4
Ch-ơng 1 Sự hình thành và phát triển các khuynh h-ớng âm nhạc trong bối cảnh lịch sử thế kỷ XX 11
1.1 Những sự kiện có ảnh h-ởng trực tiếp tới sự phát triển của âm nhạc thế kỷ XX 11
1.2 Sự hình thành các khuynh h-ớng sáng tác tiêu biểu trên thế giới 18
Ch-ơng 2 Những đổi mới trong ngôn ngữ âm nhạc thế giới thế kỷ XX 42
2.1 Điệu thức 42
2.2 Hòa âm 60
2.3 Luật nhịp và tiết tấu 65
Ch-ơng 3 Đặc điểm âm nhạc trong tác phẩm khí nhạc của nhạc sĩ Việt Nam 71
3.1 Sử dụng những làn điệu dân ca hoặc ca khúc quen thuộc để làm chất liệu chủ đề 71
3.2 Một số ph-ơng pháp sử dụng điệu thức 82
3.3 Hòa âm và phức điệu 95
3.4 Một số vấn đề về luật nhịp và tiết tấu 103
Kết luận 109
Danh mục những công trình đã công bố liên quan tới luận án 115
Tài liệu tham khảo Error! Bookmark not defined Phụ lục 123
Trang 4vd 1, phl1.1: VÝ dô 1, xem phô lôc 1.1(c¸c vÝ dô ©m nh¹c ch-¬ng 1)
vd 1, phl1.2: VÝ dô 1, xem phô lôc 1.2(c¸c vÝ dô ©m nh¹c ch-¬ng 2)
vd 1, phl1.3: VÝ dô 1, xem phô lôc 1.3(c¸c vÝ dô ©m nh¹c ch-¬ng 3)
Trang 5Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Âm nhạc là một loại hình nghệ thuật luôn đóng vai trò quan trọ ng trong đời sống văn hóa của con ng-ời Từ hàng ngàn năm nay sự phát triển của âm nhạc luôn chịu tác động của chế độ chính trị, xã hội cũng nh- những điều kiện về kinh tế Nhận định này đã đ-ợc chứng minh trong suốt chiều dài phát triển lịch sử âm nhạc và lại đ-ợc khẳng định một lần nữa trong sự phát triển của âm nhạc thế kỷ XX
Thật vậy, thế kỷ XX đ-ợc coi là một thời kỳ chứa đầy biến động sâu sắc về chính trị xã hội và sự ảnh h-ởng của nó không còn nằm trong giới hạn của một quốc gia hay một châu lục mà đã bao trùm gần nh- toàn thế giới Các cuộc chiến tranh Thế giới lần thứ nhất (1914-1918) và lần thứ hai (1939-1945) đã dẫn đến những thay đổi sâu sắc trong sự phát triển của xã hội, từ đó nảy sinh ra những quan điểm sống khác nhau Chức năng của nghệ thuật là phản ánh hiện thực cuộc sống và những thay
đổi nhanh chóng hiện thực cuộc sống đó đã dẫn đến sự ra đời của các khuynh h-ớng sáng tác nghệ thuật khác nhau Hơn nữa, thế kỷ XX cũng
đã chứng kiến sự phát triển một cách nhanh chóng của khoa học kỹ thuật
và những ảnh h-ởng lớn lao, rộng khắp của nó trong đời sống xã hội cũng nh- nghệ thuật Chỉ trong mấy thập kỷ của thế kỷ XX, lịch sử đã ghi nhận sự ra đời của rất nhiều khuynh h-ớng sáng tác âm nhạc với những quan điểm sáng tác và quan điểm thẩm mỹ khác nhau
Nền âm nhạc thính phòng và giao h-ởng Việt Nam mới đ-ợc hình thành và phát triển từ những năm 60 của thế kỷ XX Tuy ra đời muộn nh-ng các nhạc sĩ Việt Nam đã biết tiếp thu những tinh hoa của âm nhạc thế giới kết hợp với âm nhạc dân gian của dân tộc mình để tạo một ngôn
Trang 6ngữ âm nhạc mang nhiều nét đặc tr-ng riêng Trong mấy chục năm qua, nhiều tác phẩm khí nhạc Việt Nam đã góp phần không nhỏ trong việc khắc họa cuộc chiến đấu ngoan c-ờng của nhân dân ta chống đế quốc Mỹ cũng nh- thể hiện đ-ợc những tâm t- nguyện vọng của nhân dân Mặc dù nền khí nhạc Việt Nam còn non trẻ nh-ng đã từng b-ớc tr-ởng thành đi lên và đ-ợc công chúng đón nhận, đặc biệt đã có những tác phẩm đ-ợc giới thiệu ra n-ớc ngoài
Vậy mà từ tr-ớc tới nay vẫn ch-a có một tài liệu hoặc một nghiên cứu chính thức nào nhìn nhận sự hình thành phát triển của âm nhạc mới Việt Nam nh- một khuynh h-ớng sáng tác âm nhạc ở thế kỷ XX
Xuất phát từ nhận thức và suy nghĩ trên, với nhu cầu cấp bách của tình hình nghiên cứu hiện nay đã thôi thúc chúng tôi chọn viết Luận án tiến sĩ nghệ thuật âm nhạc với đề tài ‚Những thủ pháp sáng tác trong một
số trường phái âm nhạc ở thế kỷ XX‛
2 Lịch sử đề tài
Chúng ta mới b-ớc sang thế kỷ XXI đ-ợc m-ời năm, do đó việc hệ thống lại những thủ pháp sáng tác âm nhạc thế kỷ XX trên qui mô toàn thế giới vẫn còn là một công việc đầy thách thức Trong toàn bộ các tài liệu chúng tôi đã đ-ợc tham khảo cũng minh chứng cho nhận định trên
Đối với dạng tài liệu đ-ợc coi là sách giáo khoa lịch sử âm nhạc
trong nhiều tr-ờng đại học ở trên thế giới thì cuốn A History of Western Music do Donald Jay Grout & Laude V Palisca biên soạn (nhà xuất bản
W.W-Norton & company, 1988) luôn đ-ợc coi là sự lựa chọn hàng đầu vậy mà cũng chỉ dành khoảng 80 (trang 807-885) trong tổng số hơn 1.000 trang để giới thiệu khái quát về sự phát triển của âm nhạc ở nửa
đầu thế kỷ XX Trong cuốn Music an Appreciation do Roger Kamien viết
(nhà xuất bản Mc Graw Hill, 1998) có dành tới hơn một trăm trang để giới thiệu về âm nhạc thế kỷ XX Trong cuốn này phần nửa đầu thế kỷ
Trang 7XX chỉ đề cập đến ba tr-ờng phái âm nhạc là ấn t-ợng, tân cổ điển và biểu hiện cùng một nhạc sĩ tiêu biểu của mỗi tr-ờng phái ấy Phần nửa sau thế kỷ XX chỉ giới thiệu khái quát một số khuynh h-ớng âm nhạc đã tồn tại trong đời sống âm nhạc ở châu Âu và Bắc Mỹ và không đề cập chi
tiết một tác giả cụ thể nào Cuốn Trích giảng âm nhạc thế kỷ XX (dùng
cho học sinh trung cấp) của Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam do tác giả Tú Ngọc biên soạn (Nhạc viện Hà Nội xuất bản năm 1991) cũng giớ i thiệu sơ l-ợc về một số nhạc sĩ ở nửa đầu thế kỷ XX không đi sâu vào ngôn ngữ sáng tác và không đề cập đến sự ra đời của các tr-ờng phái âm nhạc
Đối với dạng tài liệu chuyên khảo âm nhạc thế kỷ XX: Cuốn La
musique du XXe siècle do Jean-Noel Von Der Weid biên soạn (nhà xuất
bản Hachette, 1997) đ-ợc coi là tiêu biểu Trong cuốn sách này tác giả
đã trình bày đan xen giữa các phần giới thiệu ngôn ngữ âm nhạc của một
số tác giả cụ thể với sự phát triển âm nhạc của một quốc gia chủ yếu ở châu Âu và Bắc Mỹ Vấn đề hình thành các tr-ờng phái âm nhạc ở thế kỷ
XX không đ-ợc giới thiệu một cách hệ thống mà đ-ợc đ-a vào đan xen
khi đề cập đến ngôn ngữ của tác giả Cuốn Music since 1945 do Elliot
Schwartz & Daniel Godrey biên soạn (nhà xuất bản Schirmer Books, 1992), chỉ giới thiệu một số bút pháp âm nhạc ra đời từ sau năm 1945 nh-ng cũng không qui tụ theo các thủ pháp sáng tác của từng tr- ờng
phái Cuốn Trajectoire de la musique au XXe siècle của tác giả
Marie-Claire Mussat (nhà xuất bản Klincksieck, 2002) lại đ-ợc trình bày d-ới dạng trả lời các câu hỏi ngắn về những vấn đề liên quan đến âm nhạc thế
Trang 8từ khi hình thành cho tới ngày nay Những vấn đề về âm nhạc thính phòng và giao h-ởng Việt nam chỉ đ-ợc đ-a vào một cách khái quát trong ba trang (113-116)
Cuốn Âm nhạc mới Việt Nam tiến trình và thành tựu của nhóm tác
giả Tú Ngọc, Nguyễn Thị Nhung, Vũ Tự Lân, Nguyễn Ngọc Oánh, Thái Phiên (do Viện Âm nhạc xuất bản năm 2000) đề cập đến sự phát triển âm nhạc Việt Nam d-ới dạng chuyên luận, mang tính hệ thống trong việc
đánh giá cả một quá trình hình thành và phát triển của nền âm nhạc mới Việt Nam trải dài gần nh- toàn bộ thế kỷ XX, phần âm nhạc giao h-ởng
và thính phòng là một trong những thể loại nằm trong tổng thể đó (nó chỉ gồm khoảng 80 trong tổng số 999 trang của cuốn sách) Tuy nhiên phần
này sẽ là nhân tố cơ bản làm tiền đề cho cuốn Âm nhạc thính phòng-giao h-ởng Việt Nam sự hình thành và phát triển-tác phẩm-tác giả
Cuốn Âm nhạc thính phòng-giao h-ởng Việt Nam sự hình thành và phát triển-tác phẩm-tác giả của PGS.TS Nguyễn Thị Nhung (do Viện Âm
nhạc xuất bản năm 2001) đ-ợc coi là một cuốn gần nhất với đề tài của luận án Cuốn sách đã đề cập khá đầy đủ các tác phẩm âm nhạc thính phòng và giao h-ởng từ góc độ hình thức, thể loại và nội dung để từ đó khẳng định sự hình thành và phát triển của thể loại âm nhạc này Trong ch-ơng III của cuốn sách, PGS.TS Nguyễn Thị Nhung đã đ-a ra một vài nét đặc tr-ng của âm nhạc thính phòng-giao h-ởng Việt Nam Đây là
điểm mấu chốt để ra đời công trình tiếp theo Âm nhạc Việt Nam, tác giả, tác phẩm và là cơ sở để phát triển các luận văn, luận án về đề tài khí
nhạc Việt Nam
Bốn tập Âm nhạc Việt Nam, tác giả, tác phẩm của nhiều tác giả
nh- Nguyễn Thị Nhung, Phạm Tú H-ơng, Lê Toàn, Nguyễn Thị Minh Châu (do Viện Âm nhạc xuất bản trong các năm 2006, 2007) lại đi sâu vào việc giới thiệu chân dung từng tác giả tiêu biểu trong nền âm nhạc
Trang 9Việt Nam nói chung và có điểm các tác phẩm khí nhạc nếu tác giả đó có sáng tác
Ngoài các tài liệu đã đ-ợc xuất bản thì có một số luận văn, luận án chuyên ngành lý luận âm nhạc cũng đã nghiên cứu sâu một tác phẩm cụ thể hoặc ngôn ngữ âm nhạc của một tác giả hoặc một thể loại khí nhạc
Việt Nam
Nh- vậy, dẫu có nhìn ở góc độ rộng từ các công trình đồ sộ tiếp xúc với nền âm nhạc thính phòng, giao h-ởng Việt Nam, hay ở góc độ hẹp chỉ riêng một tác phẩm, hay phong cách của một nhạc sỹ thì đã có không ít công trình đề cập tới Nh-ng, cho tới nay vẫn ch-a có công trình nào tiếp cận chỉ riêng với nền khí nhạc Việt Nam d-ới lăng kính của văn hóa học âm nhạc trong mối quan hệ với nền âm nhạc trên thế giới ở thế
kỷ XX Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu, những bài luận bàn của các tác giả đi tr-ớc vẫn là cơ sở, là nguồn tài liệu vô cùng quý báu giúp chúng tôi thực hiện luận án này
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu chính của luận án là tìm ra những đặc điểm tiêu biểu của các tr-ờng phái âm nhạc trên thế giới cũng nh- những nét
đặc tr-ng trong ngôn ngữ khí nhạc của các nhạc sĩ Việt Nam để từ đó có thể khẳng định âm nhạc Việt Nam đã hình thành một khuynh h-ớng sáng tác riêng và khuynh h-ớng sáng tác này chịu ảnh h-ởng qua lại của nhiều tr-ờng phái âm nhạc trên thế giới
4 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu
Đối t-ợng nghiên cứu
Trong luận án này chúng tôi chỉ nghiên cứu những tác phẩm nổi tiếng của các tr-ờng phái âm nhạc tiêu biểu trên thế giới Đối với phần
âm nhạc Việt Nam chúng tôi chỉ nghiên cứu những tác phẩm thuộc thể
Trang 10loại thính phòng và giao h-ởng viết cho các nhạc cụ ph-ơng Tây diễn tấu
Phạm vi nghiên cứu
Do đề tài của luận án rất rộng nên chúng tôi chỉ nghiên cứu những khía cạnh sẽ có ảnh h-ởng nhiều tới thủ pháp sáng tác khí nhạc Vì vậy luận án sẽ không đi sâu vào vấn đề cấu trúc, phối khí… trong âm nhạc thế kỷ XX
Đối với phần âm nhạc Việt Nam, phạm vi nghiên cứu của luận án
là những tác phẩm đ-ợc viết trong khoảng thời gian từ những năm 1960
đến những năm 1990 Do khối l-ợng tác phẩm rất đồ sộ nên khi cần để
đ-a ra phân tích, chứng minh cho các luận điểm của bản luận án, chúng tôi chỉ chọn những tác phẩm đã đ-ợc công bố trên các ph-ơng tiện thông tin đại chúng hoặc đã đ-ợc dàn dựng, trình diễn và đạt các giải th-ởng trong các kỳ thi khí nhạc toàn quốc hoặc quốc tế Hơn nữa luận án cũng chỉ giới hạn phân tích những tác phẩm của các nhạc sĩ ở Việt Nam và mang quốc tịch Việt Nam Những sáng tác của các nhạc sĩ Việt kiều không thuộc đối t-ợng của bản luận án này
5 Ph-ơng pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin và đ-ờng lối văn hóa văn nghệ của Đảng để tiếp cận và phân tích sự vật hoặc hiện t-ợng
Trong luận án này, chúng tôi dùng ph-ơng pháp nghiên cứu lý thuyết nhìn từ góc độ âm nhạc nhạc học và dùng ph-ơng pháp tiếp cận lịch sử để nghiên cứu t- liệu Khi phân tích để minh chứng cho các nhận
định về nền khí nhạc Việt Nam chúng tôi có sử dụng các t- liệu trong các công trình khoa học về lý thuyết âm nhạc cổ truyền đã đ-ợc công bố
Trang 11kết hợp với việc đối chiếu, so sánh các lý thuyết của âm nhạc ở thế kỷ
Quan niệm nền âm nhạc giao h-ởng và thính phòng Việt Nam d-ới góc độ là một khuynh h-ớng sáng tác xuất hiện ở thế kỷ XX trên thế giới
là một cách nhìn mới Từ cách tiếp cận này, luận án hy vọng sẽ có một
đóng góp nhỏ trong cách phân tích các tác phẩm khí nhạc đ-ơng đại Việt Nam Đó là cách nhìn toàn diện, bao quát trong mối liên hệ giữa lịch sử, quan điểm sáng tác, quan điểm thẩm mỹ để hiểu và phân tích tác phẩm sâu hơn Hơn nữa, chúng tôi hy vọng sau khi bản luận án này đ-ợc công nhận sẽ là cơ sở để bổ sung vào giáo trình giảng dạy môn lịch sử âm nhạc thế kỷ XX của Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu (07 trang), phần kết luận (06 trang), phụ lục (91 trang), nội dung luận án gồm 3 ch-ơng:
Ch-ơng 1: Sự hình thành và phát triển những khuynh h-ớng âm nhạc trong bối cảnh lịch sử thế kỷ XX
Ch-ơng 2: Những đổi mới trong ngôn ngữ âm nhạc thế giới ở thế kỷ
XX
Ch-ơng 3: Đặc điểm ngôn ngữ âm nhạc trong tác phẩm khí nhạc của nhạc sĩ Việt Nam
Trang 12đời sống xã hội và đã để lại những dấu ấn đậm nét trong sự phát triển của
âm nhạc thế kỷ XX
Sự kiện đầu tiên, cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-
1918) Đây là một trong những cuộc chiến tranh quyết liệt và có qui mô
to lớn nhất trong lịch sử nhân loại cho đến thời điểm ấy Các chiến tr-ờng chính của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã bao trùm khắp các n-ớc châu Âu và ảnh h-ởng ra toàn thế giới, lôi kéo tất cả các c-ờng quốc ở châu lục này và cả Bắc Mỹ vào cuộc chiến
Đây là một cuộc chiến tranh bắt nguồn từ những mâu thuẫn trong
sự phát triển của các chủ nghĩa đế quốc đứng đầu ở châu Âu nhằm phân chia lại thế giới và thị tr-ờng giữa chúng Cuộc chiến này còn nhắm đến mục đích lập lại trật tự thế giới mới và làm sụp đổ bốn đế chế hùng mạnh nh-ng đã già nua lúc bấy giờ là Đế quốc Nga, Đế quốc Đức, Đế chế áo - Hung và Đế chế Ottoman Tuy nhiên kết quả của cuộc chiến không nh- mong đợi, nó không những không giải quyết đ-ợc vấn đề đặt ra mà còn làm cho mâu thuẫn giữa các n-ớc ngày càng gia tăng và hình thành nên chủ nghĩa cộng sản ở Nga, chủ nghĩa quân phiệt và phát xít tại ý, Đức, Nhật cũng nh- sự xâm phạm, chia cắt quyền tự quyết của các dân tộc
Trang 13Hậu quả cuộc chiến thế giới lần thứ nhất đã làm hơn 20 triệu ng-ời chết và hàng chục triệu ng-ời khác bị tàn phế cùng rất nhiều thành phố, làng mạc đã bị phát hủy gây ra ảnh h-ởng nghiêm trọng về tinh thần cũng nh- vật chất của rất nhiều quốc gia Ngoài những thiệt hại về con ng-ời, về kinh tế và vật chất cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất còn tạo ra một tâm lý hãi hùng cho cả châu Âu và làm cho châu lục này đã tụt hậu mất đi vai trò lãnh đạo văn minh nhân loại mà nó đã đảm đ-ơng trong hơn 300 năm qua và dần chuyển vai trò đó sang cho Bắc Mỹ
Trong xã hội lúc này tồn tại rất nhiều quan niệm trái ng-ợc nhau: một số ng-ời h-ớng tới tinh thần mới với xu h-ớng hòa bình chủ nghĩa, nhân đạo chủ nghĩa, chủ nghĩa quốc tế Trong lúc đó một số khác lại mang tâm trạng thất vọng vào các giá trị nhân văn của loài ng-ời và phát sinh ra tâm trạng tôn sùng sức mạnh, tôn sùng bạo lực và tin t -ởng chỉ có sức mạnh cùng với sự cứng rắn mới là chỗ dựa đáng tin cậy cho thời đại bất ổn này
Từ những nhân tố đó đã nảy nở ra chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa phát xít đồng thời đã để lại một dấu ấn không nhỏ trong nghệ thuật nói chung và âm nhạc nói riêng với sự ra đời của những loại âm nhạc mang tính chất phá phách so với quan điểm theo kiểu truyền thống mà
điển hình là khuynh h-ớng nghệ thuật biểu hiện
Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất cũng là thời kỳ hình thành chủ nghĩa đế quốc đi xâm chiếm các n-ớc thuộc địa Từ sự kiện này một
số nhạc sĩ của Tây Âu bắt đầu biết đến những loại âm nhạc của các châu lục khác và bắt đầu khai thác, sử dụng chúng trong các tác phẩm của mình Chính vì vậy trong một số tác phẩm sáng tác ở thời kỳ này đã xuất hiện những nhân tố âm nhạc ngoài châu Âu đem đến cho âm nhạc bác học Tây Âu một hơi thở mới mà điển hình phải kể đến tr-ờng phái âm nhạc ấn t-ợng
Trang 14Sự kiện thứ hai, thắng lợi của Cách mạng tháng m-ời Nga vĩ đại
(1917), nó đ-ợc coi là một b-ớc ngoặt lịch sử của một chế độ xã hội mới Việc nổ ra cuộc Cách mạng tháng M-ời đ-ợc phát sinh từ cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất mà nguyên nhân chủ yếu chính là sự suy kiệt
về kinh tế
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài ng-ời ch-a từng có một cuộc cách mạng nào lại có ý nghĩa to lớn và sâu xa nh- Cách mạng tháng M-ời Trong rất nhiều thập kỷ ở thế kỷ XX Cách mạng tháng M-ời Nga luôn có giá trị soi đ-ờng chỉ lối cho các cuộc cách mạng tiến bộ, cho phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Cách mạng tháng M-ời Nga đã làm thay đổi bản đồ chính trị toàn thế giới trong đó có Việt Nam Có thể khẳng định rằng cách mạng Việt Nam sẽ không có đ-ợc những thắng lợi to lớn nh- ngày nay nếu không
có ngọn cờ Cách mạng tháng M-ời Nga soi đ-ờng và đây là một nhân tố không nhỏ làm hình thành một khuynh h-ớng sáng tác nghệ thuật mới trong thời gian tới: khuynh h-ớng hiện thực xã hội chủ nghĩa
Sự kiện chính trị thứ ba, sự ra đời của Liên bang Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Xô viết hay còn gọi là Liên Xô (30 - 12 - 1922, nó sẽ chính thức tan rã và sụp đổ vào ngày 25 tháng 12 năm 1989) Liên Xô là nhà n-ớc đầu tiên trên thế giới xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản có ảnh h-ởng rất lớn đến tiến trình lịch sử của thế giới và sau khi Liên Xô xuất hiện mọi sự kiện lớn trên thế giới ít hay nhiều đều bị chịu ảnh h-ởng Trên thực tế nhân loại đã đ-ợc chứng kiến những biến đổi kỳ diệu của đời sống con ng-ời trên Liên bang Xô Viết với chiến thắng oanh liệt của Hồng quân Liên Xô cứu loài ng-ời khỏi thảm họa phát xít và rất nhiều thành tựu to lớn mà chủ nghĩa xã hội đã mang lại
Trang 15Do những tác động của chính trị và kinh tế, quan điểm của nền nghệ thuật Xô Viết luôn chú trọng tới vai trò của tập thể Trong cuộc chiến tranh chống phát xít Đức, nghệ thuật Xô Viết đã có những tác phẩm mang tính giục giã, thôi thúc, có tính chất khích lệ tinh thần chiến đấu của quân và dân Xô Viết
Sự kiện thứ t-, cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 - 1945) diễn
ra giữa các lực l-ợng đồng minh và trục phát xít Chiến sự xảy ra tại Đại Tây D-ơng, châu Âu, Bắc Phi, Trung Đông, Địa Trung Hải, Thái Bình D-ơng, phần lớn của Đông á và Đông Nam á dẫn đến những ảnh h-ởng về kinh tế, chính trị ở hầu hết các lục địa trên toàn thế giới, ngoại trừ châu Nam Cực Nó thực sự là cuộc chiến rộng lớn và tai hại nhất trong lịch sử loài ng-ời cho đến thời điểm này
Kết thúc cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai khoảng 62 triệu ng-ời đã chết trong đó 60% là dân th-ờng Thiệt hại nặng nhất là Liên Xô với 23 triệu ng-ời chết, Trung Quốc với 10 triệu ng-ời và 16% dân số của Ba Lan Đặc biệt, đây là lần đầu tiên chúng ta biết tới một cách giết ng-ời kiểu mới đó là bom nguyên tử Việc Mỹ ném bom nguyên tử xuống hai thành phố của Nhật bản vào năm 1945 đ-ợc coi là một thảm họa mới đối với loài ng-ời đó là cách hủy diệt bằng vũ khí hạt nhân gây một hậu quả vô cùng nặng nề và lâu dài đối với một đất n-ớc Nó cũng dẫn đến một cuộc cạnh tranh giữa một số n-ớc để khai thác năng l-ợng nguyên tử và phát triển vũ khí hạt nhân Việc dùng bom nguyên tử lần
đầu tiên của Mỹ tạo ra một -u thế trong việc phân chia lại thế giới sau chiến tranh
Nói tóm lại đây là một giai đoạn lịch sử rất nặng nề bởi những cuộc thảm sát giết ng-ời hàng loạt của phát xít Đức, đặc biệt đối với ng-ời Do Thái Một trong những vấn đề nóng bỏng nhất trên ph-ơng diện xã hội đó là các làn sóng di dân sang Bắc Mỹ của nhiều nhà khoa học,
Trang 16trong đó có cả những nhạc sĩ, nghệ sĩ tài ba Đây là một động lực không nhỏ khiến n-ớc Mỹ trở thành một trung tâm khoa học phát triển và là nơi hình thành nhiều khuynh h-ớng sáng tác âm nhạc mới có tính chất đột phá Cũng có thể coi đây là một lý do khiến n-ớc Mỹ trở thành một trong những c-ờng quốc trên nhiều ph-ơng diện ở thế kỷ XX
Sau khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai đã hình thành hai
hệ thống t- bản chủ nghĩa và chủ nghĩa xã hội Hai hệ thống này luôn có
sự mâu thuẫn t- t-ởng, chính trị dẫn đến Chiến tranh lạnh Mỹ đứng đầu phe t- bản chủ nghĩa đấu tranh để hạn chế và triệt tiêu sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản còn Liên Xô đứng đầu phe xã hội chủ nghĩa cộng sản
và truyền bá chủ nghĩa này ra khắp thế giới
Trong đời sống xã hội lúc này cũng tồn tại nhiều khuynh h-ớng rất khác nhau: có khuynh h-ớng muốn ném bỏ những giá trị văn hoá truyền thống (ví dụ: quan niệm về đạo đức, lòng chung thuỷ, về cái đẹp Trong nghệ thuật nói chung chúng ta sẽ gặp những tác phẩm mà ở đó những quan niệm về thẩm mỹ bị đảo ng-ợc hoàn toàn so với quan niệm truyền thống Thậm chí cả quan niệm về những nhân tố cơ bản hình thành nên một tác phẩm cũng thay đổi); có khuynh h-ớng lại tìm đến các nền văn minh mới lạ, tìm đến những tình cảm quốc gia và muốn bảo tồn truyền thống (trên thực tế, khi các nền văn hoá càng tiếp cận đến gần nhau hơn thì tất cả mọi ng-ời đều hiểu rằng nếu không bảo tồn truyền thống riêng của dân tộc mình thì sẽ bị hoà tan trong tổng thể) Nhiều quan niệm mới
và lối sống mới ra đời: sex, ma tuý, lối sống cô độc và lối sống mình vì tập thể, vì đất n-ớc Văn hoá nghệ thuật nói chung và âm nhạc nói riêng cũng chịu những tác động không nhỏ của hoàn cảnh chính trị xã hội này
Do ảnh h-ởng tình hình chính trị xã hội của Liên Xô, phần lớn các nhạc sĩ ở các n-ớc thuộc phe xã hội chủ nghĩa đều đi theo khuynh h-ớng sáng tác xây dựng một nền âm nhạc mang tính hiện thực, tính nhân dân
Trang 17Họ th-ờng sử dụng các kỹ thuật sáng tác và các hình thức đã đ-ợc hình thành và ổn định của âm nhạc cổ điển Tây Âu từ những thế kỷ tr-ớc để diễn đạt những ý t-ởng của mình Các tác phẩm âm nhạc của họ th-ờng gắn liền với các nhiệm vụ Cách mạng, các sự kiện lịch sử trọng đại của
đất n-ớc Tiêu chí của họ là âm nhạc phải gắn liền với sự phát triển của dân tộc, của đất n-ớc, khích lệ xã hội tiến lên
Đối với các n-ớc t- bản phát triển ở ph-ơng Tây, các nhạc sĩ th-ờng chú trọng tới việc đi tìm tòi, phát hiện những cái mới Ví dụ những tìm tòi về lý thuyết âm nhạc của Schoenberg, sáng tác bằng máy
vi tính dựa trên toán học xác suất của Xenakis, khai thác thanh nhạc khác truyền thống của Varèse và Ligeti, thay đổi quan niệm về âm nhạc so với truyền thống của Cage…
Tuy nhiên việc giao l-u giữa hai khu vực cũng đ-ợc tìm thấy ở một
số tác giả tuy không phải là phổ biến Ví dụ một số nhạc sĩ Ba Lan sử dụng kỹ thuật sáng tác mới nh- Penderecki, Szymanowski Hoặc một số nhạc sĩ của Anh, ý, Tây Đức chú ý đến khía cạnh dân chủ tiến bộ trong sáng tác của mình nh- Nono, Britten, Huber
1.1.2 Những sự kiện khoa học kỹ thuật
Thế kỷ XX cũng gắn liền với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật Sự ra đời của đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, đĩa nhạc, máy tính đã làm thay đổi cơ bản ph-ơng tiện giao l- u giữa ng-ời biểu diễn và khán giả cũng nh- ph-ơng tiện sáng tác của ng-ời nhạc sĩ Cũng nhờ những ứng dụng khoa học kỹ thuật mà số ng-ời đ-ợc nghe nhạc và rồi trở thành nhạc sĩ sáng tác theo kiểu nghiệp d- đã tăng lên
đáng kể
Chúng tôi có thể liệt kê ra đây một số thành tựu của khoa kỹ thuật
đã có ảnh h-ởng trực tiếp tới sự phát triển của âm nhạc cho đến những năm 1960 nh-:
Trang 18Năm 1928 Famsworth đã chế tạo ra chiếc tivi đầu tiên đánh dấu một sự thay đổi lớn trong sự phát triển về văn hóa của loài ng-ời Tivi không chỉ mang đến thông tin cập nhật và hiệu quả nhất cho số đông mà còn là một ph-ơng tiện chuyển tải văn hóa rất có hiệu quả Nhờ có tivi hàng triệu ng-ời cùng có thể đ-ợc th-ởng thức những ch-ơng trình âm nhạc mà mình yêu thích Nhờ vậy việc truyền bá âm nhạc có hiệu quả hơn, làm cho ng-ời nghệ sĩ và công chúng đến gần nhau hơn theo cấp số nhân
Năm 1943 máy tính cơ học ra đời, kể từ đây rất nhiều lĩnh vực trong đời sống sẽ có một b-ớc ngoặt trong sự phát triển và âm nhạc cũng nằm trong dòng chảy đó Vài thập kỷ tiếp theo máy tính đã trở thành một công cụ không thể thiếu trong đời sống hàng ngày trên nhiều ph-ơng diện khác nhau: làm việc, giải trí và đặc biệt là thông tin Nhờ kết nối internet mà việc chuyển tải thông tin ở các vùng cực rất xa nhau đã trở nên không còn là một vấn đề phải tính đến Máy tính cũng trở thành một công cụ để sáng tác âm nhạc và thậm chí tạo ra một phong cách sáng tác mới Cũng nhờ máy tính và các kỹ thuật điện tử mà nhiều nhạc cụ mới đã
đ-ợc ra đời với những âm thanh khác lạ Nhờ đó mà nhiều loại âm nhạc mới đã ra đời nh- âm nhạc điện tử, âm nhạc âm điện tử thanh học
Năm 1948 ra đời đĩa nhạc 33 1/3 vòng do hãng đĩa Columbia sáng chế, kể từ đây việc th-ởng thức âm nhạc không còn bị quá lệ thuộc vào các buổi hoà nhạc trực tiếp và l-ợng khán giả cũng đ-ợc tăng theo cấp số nhân
Năm 1955 ra đời trung tâm tổng hợp âm thanh (RCA) ở New York,
kể từ thời điểm này ng-ời nhạc sĩ sáng tác có thể tìm tòi và sử dụng những mẫu âm thanh mới vốn không có theo ý nghĩa truyền thống về âm thanh âm nhạc và cũng từ đây những quan niệm mới về thẩm mỹ âm nhạc
đã đ-ợc gợi mở
Trang 19Năm 1958 bắt đầu có thu thanh âm thanh nổi, nó đánh dấu một b-ớc ngoặt quan trọng về chất l-ợng trong việc th-ởng thức âm nhạc
Năm 1983 bắt đầu có thị tr-ờng đĩa CD, thúc đẩy sự truyền bá âm nhạc trên diện rộng với một chất l-ợng cao
Năm 1989 cuộc cách mạng sử dụng Internet, giúp cho mọi thông tin đến với mọi ng-ời trở nên nhanh chóng hơn và thuận lợi hơn mà không bị phụ thuộc vào khoảng cách địa lý
1.2 Sự hình thành các khuynh h-ớng sáng tác âm nhạc tiêu biểu trên thế giới
Thế kỷ XX chứng kiến sự cùng tồn tại của nhiều quan điểm sống
và khó có thể nói rằng quan điểm nào là đúng đắn hơn Sự phát triển của các loại hình nghệ thuật ở thời kỳ này cũng vậy, đôi khi, cùng một khoảng thời gian có thể cùng tồn tại những quan điểm sáng tác khác nhau giữa các cá nhân hay các nhóm nghệ sĩ hoặc cùng một khuynh h-ớng nghệ thuật nh-ng quan điểm sáng tác âm nhạc lại có những điểm khác biệt so với hội hoạ hay văn học Chính vì vậy, sự phá t triển của nghệ thuật ở thế kỷ XX diễn ra rất đa dạng, phức tạp và nhiều khi trái ng-ợc nhau Những khuynh h-ớng sáng tác âm nhạc mà chúng tôi giới thiệu d-ới đây đ-ợc coi là minh chứng xác thực nhất cho nhận định trên
1.2.1 Âm nhạc ấn t-ợng (impressionnisme)
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ở Pháp xuất hiện một tr-ờng phái nghệ thuật ấn tượng Cụm từ ‚ấn tượng‛ đã được nhà phê bình nghệ thuật Louis Leroy dùng lần đầu tiên để cười nhạo sự ‚thiếu sáng sủa, rõ ràng‛ của bức tranh ‚ấn tượng mặt trời mọc‛ do Claude Monet sáng tác vào năm 1874 đồng thời cụm từ này cũng bao hàm ý nghĩa ‚ấn tượng‛ mặt trời mọc qua đám mây mờ ảo Nh- vậy điểm khởi đầu của nghệ thuật
ấn t-ợng là hội hoạ với các tác giả tiêu biểu nh- Edgar Delgas, Claude Monet, Pierre Auguste Renoir, Camille Pissarro Phần lớn các tác phẩm
Trang 20hội họa thuộc tr-ờng phái này rất chú trọng tới sự tinh tế của mầu sắc, sự nhoè mờ của đ-ờng nét và th-ờng chọn thiên nhiên làm chủ đề chính cho những sáng tác của mình
Sau hội họa ấn t-ợng là sự xuất hiện của thơ ca biểu t-ợng và ấn t-ợng Đây là một loại thơ th-ờng đề cập tới những cảm xúc thoảng qua với các tác giả tiêu biểu nh- Stéphane Mallarmé (1842-98), Paul Verlaine (1844-96) và Georges Rodenbach (1855-98), Maurice Maeterlinck (1862-1949)
Âm nhạc ấn t-ợng ra đời sau cùng nh-ng nó có một mối liên hệ khá mật thiết với hội họa và thơ ca Đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ âm nhạc ấn t-ợng chính là sự miêu tả hình ảnh với những đ-ờng nét nhòe mờ (đ-ợc thể hiện bằng những giai điệu mỏng, nhẹ, mờ ảo d-ới nền hoà âm),
sử dụng mầu sắc tinh tế (bằng cách sử dụng các sắc thái một cách rất chi tiết, bằng thủ pháp phối khí với sự chú trọng âm sắc của các nhạc cụ hoặc chú trọng tới vai trò của bộ gỗ và bằng sử dụng các mảng hoà âm nối tiếp song song) và hay đề cập đến những cảm xúc thoảng qua (bằng cách sử dụng rất nhiều các chất liệu âm nhạc nối tiếp nhau để phát triển tác phẩm)
Âm nhạc ấn t-ợng cũng hay khai thác các chất liệu âm nhạc ph-ơng đông, âm nhạc Tây Ban Nha, digan và đặc biệt là chủ đề về sóng n-ớc Có lẽ ch-a bao giờ hình ảnh n-ớc lại đ-ợc mô tả một cách phong phú và giàu hình t-ợng đến thế N-ớc có thể đ-ợc gợi ra từ tên tác phẩm,
ví dụ nh- Biển của Debussy, Trò chơi của n-ớc, Đài phun n-ớc của
Ravel hoặc từ các âm hình mô phỏng đ-ợc hiển hiện với muôn màu khác nhau trong tác phẩm của các nhạc sĩ thuộc tr-ờng phái âm nhạc ấn t-ợng Hai nhạc sĩ ng-ời Pháp tiêu biểu viết theo ngôn ngữ âm nhạc ấn t-ợng là Claude Debusssy và Maurice Ravel và cả hai đều có mối liên hệ với thơ
ca biểu t-ợng cũng nh- thơ ca ấn t-ợng rất chặt chẽ Nhiều tác phẩm của
Trang 21họ đ-ợc lấy cảm hứng từ những tác phẩm văn học nổi tiếng của các nhà
thơ biểu t-ợng, ví dụ tác phẩm Khúc dạo đầu: buổi chiều của thần điền dã của Debussy và tác phẩm Ba bài thơ của Stéphane Mallarmé của
Ravel đều lấy cảm hứng từ tác phẩm của Stéphane Mallarmé hoặc vở
nhạc kịch Pelléas và Mélisande của Debussy đ-ợc lấy từ tác phẩm cùng
tên của Maurice Maeterlinck ở một số tác phẩm khác, mối liên hệ với thơ ca t-ợng tr-ng và ấn t-ợng đ-ợc tìm thấy ngay từ tiêu đề của tác
phẩm nh-: Phản chiếu trong n-ớc, Những mùi h-ơng trong đêm, Dạ khúc…
Ngoài Debussy và Ravel một số nhạc sĩ khác cũng sử dụng ngôn ngữ âm nhạc ấn t-ợng trong một số sáng tác của mình Ví dụ ở Pháp có
nhạc sĩ Albert Roussel với tác phẩm Những kỷ niệm, nhạc sĩ Vincent d’Indy với tác phẩm Ngày hè trên núi, nhạc sĩ Paul Dukas với tác phẩm Nàng tiên: bài ca nhảy múa, nhạc sĩ Charles Koechlin với tác phẩm Giờ Bat- ở Anh, nhạc sĩ Frederick Delius với tác phẩm Trong v-ờn mùa hè, nhạc sĩ Ralph Vaughan Williams với tác phẩm Giao h-ởng Luân đôn ở
Đức và áo, nhạc sĩ Franz Schreker có các tác phẩm Âm thanh xa xôi và Dạ khúc, nhạc sĩ Arnold Schoenberg với các tác phẩm Bài ca chiến tranh
và Khúc dạo đầu Nhạc sĩ ng-ời Nga Alexandre Scriabine cũng có tác phẩm Bài ca xuất thần, nhạc sĩ ng-ời Hungarie Béla Bartok với tác phẩm nhạc kịch Lâu đài của công t-ớc râu xanh, nhạc sĩ ng-ời Tây Ban Nha Manuel de Falla với tác phẩm Đêm trong v-ờn Tây Ban Nha, nhạc sĩ ng-ời Ba Lan Karol Szymanowsski với tác phẩm Huyền thoại: ba bài thơ cho violon và piano
Trong khi chủ nghĩa ấn t-ợng vẫn đang tiếp tục phát triển thì vào những năm đầu thế kỷ XX một chủ nghĩa mới lại ra đời, đó là chủ nghĩa
Trang 22biểu hiện Nếu nh- chủ nghĩa ấn t-ợng chú trọng miêu tả tới vẻ bên ngoài của sự vật với một góc nhìn tốt đẹp nh-ng không phản ánh những vấn đề chính trị xã hội hiện tại của cuộc sống thì chủ nghĩa biểu hiện lại h-ớng tới những vấn đề bên trong nh- tâm lý, tình cảm của con ng-ời
đặc biệt là tâm trạng của ng-ời nghệ sĩ Trên thực tế chủ nghĩa biểu hiện
là sự phản chiếu cái nhìn chủ quan của ng-ời nghệ sĩ về xã hội đ -ơng thời với những cảm xúc giận dữ, căng thẳng ám ảnh bởi bóng ma của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất
Khởi đầu chủ nghĩa biểu hiện đ-ợc nẩy sinh từ hội họa của
Đức-áo, nó bắt đầu phát triển từ năm 1905 đến năm 1912 ở Dresden, tiếp đó
là Berlin d-ới cái tên Die Brucke (cây cầu) Ban đầu tranh của tr-ờng
phái này th-ờng sử dụng những gam mầu gợi đến sự cay độc, sau đó nó
đ-ợc phát triển sang gam mầu mãnh liệt nhờ vào việc khám phá ra các gam mầu của Châu Đại D-ơng và Châu Phi Các họa sĩ tiêu biểu của tr-ờng phái này là Emil Nolde, Max Pechstein, Karl Schmidt-Rottluff, Oskar Kokoschka và Ernst (Ludwig) Kirchner
Tiếp sau hội họa, chủ nghĩa biểu hiện đã xuất hiện trong kiến trúc mà tác phẩm tiêu biểu là tháp Einstein ở thành phố Posđam của Đức do kiến trúc s- Eric Mendelsohn thực hiện
Trong văn học, chúng ta có thể kể đến một số tiểu thuyết của các tác giả nh- Franz Kafka, Georg Kaiser, Ernst Toller, Octave Mirbeau với đề tài chủ yếu nói về cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất
Trong lĩnh vực sân khấu và và điện ảnh, chủ nghĩa biểu hiện cũng
có chung đề tài với văn học còn trang trí sân khấu, trang phục thì chịu nhiều ảnh h-ởng của hội họa biểu hiện Tác phẩm điện ảnh đầu tiên
mang ngôn ngữ biểu hiện là Phòng khám của bác sĩ Caligari do Robert
Wiene đạo diễn vào năm 1919
Trang 23Trong lĩnh vực âm nhạc, theo cuốn Encyclopédie de la musique
[86, tr 258-259], thuật ngữ ‚biểu hiện‛ là do các nhà phê bình nghệ thuật đặt ra cho một xu h-ớng nghệ thuật rất rộng phát triển từ năm 1910
đến chiến tranh thế giới thứ hai Thuật ngữ này đ-ợc áp dụng lần đầu tiên cho âm nhạc từ một bài viết của nhạc sĩ, nhà phê bình âm nhạc ng-ời áo Heinz Tiessen đ-ợc xuất bản vào tháng 7 năm 1918 Tuy nhiên, trên thực
tế chúng ta thấy những đặc điểm âm nhạc của chủ nghĩa biểu hiện đã xuất hiện trong những tác phẩm đ-ợc viết từ những năm 1910 trở đi của
một số tác giả nh- Scriabine với tác phẩm Prométhée cho dàn nhạc, hợp
x-ớng, piano và ‚đàn phím ánh sáng‛ ( nhạc cụ được sáng chế ra để
chuyển những âm thanh thành ‚ánh sáng‛), Schoenberg với Sáu tiểu phẩm cho piano op 19 và Pierrot lunaire cho giọng hát và nhạc cụ, Busoni với tác phẩm Sonatina seconda cho piano, A von Zemlimsky với
vở nhạc kịch Âm thanh xa xôi, Berg với nhạc kịch Wozzeck…
Theo cuốn The New Grove Dictionary of Music and Musicians
[108, tr.333, vol 6], thì thật khó có thể mô tả chính xác những ý nghĩa bao hàm của thuật ngữ ‚chủ nghĩa biểu hiện‛ được áp dụng trong âm nhạc nh- thế nào Tuy nhiên, ng-ời ta chỉ có thể nhận thấy rằng những tác phẩm âm nhạc viết theo khuynh h-ớng sáng tác này cùng có một nguyên tắc chung đó là đề cao những cảm xúc chủ quan và sự vô chính phủ Một trong những khía cạnh hay đ-ợc đề cập đến đó chính là trạng thái tâm lý nh- sự cô đơn, sự bơ vơ trong sự kìm kẹp của quyền lực không cho phép làm điều mình muốn Nó là động lực dẫn đến những xung đột bên trong vì những căng thẳng, vì nỗi lo âu và vì sự hãi Tất cả những điều đó đã dẫn đến trạng thái phản kháng, muốn phá bỏ các trật tự
đã đ-ợc ổn định và thay đổi quan niệm về hình thức Một trong những
đặc điểm của âm nhạc biểu hiện là sự liều lĩnh tăng c-ờng theo cảm xúc
và sự phát triển các cách biểu đạt không bình th-ờng Ví dụ trong tác
Trang 24phẩm Pierrot Lunaire của Schoenberg chúng ta nhận ra sự dữ dội của
cảm xúc Tác phẩm dùng liên tục các hợp âm nghịch, tiết tấu phức tạp mang tính công kích mà người ta vẫn thường gọi là tiết tấu ‚nguyên tử‛, giai điệu ngắn, cách phối dàn nhạc kỳ quặc và không có chủ đề âm nhạc Nh- vậy âm nhạc ở đây đến với ng-ời nghe hoàn toàn bằng cảm giác mà tác phẩm mang lại chứ không phải bằng chủ đề âm nhạc gợi ra (vd1, phl1.1)
Một trong những nhân tố để tạo dựng đ-ợc những ý t-ởng trên chính là việc sử dụng âm nhạc atonal Đây là loại âm nhạc không có sức hút và có thể coi nó là một sự đối tỉ với âm nhạc tonal
Có thể thấy rằng các nhạc sĩ thuộc tr-ờng phái Viên mới nh- Schoenberg, Berg và Webern (đặc biệt là Schoenberg, ng-ời đã từng vẽ tranh theo khuynh h-ớng biểu hiện vào khoảng năm 1910 khi ông chuyển
từ Berlin đến sống ở Viên) là những đại diện tiêu biểu đã có những tác phẩm viết theo khuynh h-ớng sáng tác này Đây chính là những nhạc sĩ
đã tham gia vào câu lạc bộ Ng-ời kỵ binh xanh (Der Blaue Reiter) đ-ợc thành lập bởi hai họa sĩ là Marc và Kandinsky Ngoài ra một số tác phẩm của Scriabin, Stravinsky, Bartok, R Strauss, A.Von Zemlinsky, F Schreker… cũng đ-ợc viết theo những đặc điểm chung của âm nhạc biểu hiện nh-ng với những cung bậc sắc thái khác nhau
Theo tác giả Phạm Minh Khang [14, tr 123] thì chủ nghĩa biểu hiện đ-ợc ra đời vào năm 1920 của thế kỷ XX và đại biểu của tr-ờng phái này là Schoenberg, Berg, Webern Một số nhạc sĩ khác cũng chịu ảnh
h-ởng của tr-ờng phái âm nhạc biểu hiện là Mahler, Hindemith, Szymanowski Nhìn chung những tác phẩm của các nhạc sĩ thuộc tr-ờng phái biểu hiện th-ờng hay đề cập đến những xung đột gay gắt đầy kịch tính nh-ng họ hay giải quyết vấn đề theo cách nhìn bi quan với quan
điểm cá nhân của riêng mình Có thể nói rằng một trong những nguyên
Trang 25nhân cơ bản để hình thành nên quan điểm sáng tác của chủ nghĩa biểu hiện đ-ợc xuất phát từ những hậu quả của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất mang lại
Sự phát triển của âm nhạc biểu hiện đ-ợc chia thành ba giai đoạn:
- Giai đoạn thứ nhất có đặc điểm là tiếp tục sử dụng những nguyên tắc hoà âm của âm nhạc lãng mạn nh-ng mang những cảm xúc và trạng thái tâm lý của cuộc sống thế kỷ XX
- Giai đoạn thứ hai có xu h-ớng phá bỏ điệu tính và sử dụng tinh tế chất liệu âm nhạc dân gian
- Giai đoạn ba sử dụng âm nhạc atonal
Chủ nghĩa vị lai xuất hiện tr-ớc chiến tranh thế giới thứ nhất tại Italia trên tất cả các lĩnh vực: văn học, hội họa, kiến trúc và âm nhạc mà
ng-ời khởi x-ớng là nhà thơ Marinetti Trong bài báo đăng trên tờ Figaro
vào tháng 2-1909 Marinetti đã nói ‚chúng tôi xin lưu ý rằng sự tráng lệ của thế giới có một diện mạo đẹp đẽ khác tr-ớc đó là vẻ đẹp của tốc độ (tempo) Chúng tôi đánh giá cao những chuyển động nồng nhiệt, sự phong phú mầu sắc và sự náo nhiệt của các thành phố hiện đại, ánh sáng lung linh của các công trình xây dựng ban đêm d-ới l-ới điện dầy đặc, những nhà ga, những chuyến tầu đầy mầu sắc, những nhà máy ống khói ngút trời với những đám mây quằn quại trên đỉnh ‛ Như vậy chủ nghĩa
vị lai trong thơ ca chính là sự ca ngợi những thành quả đáng khâm phục của công cuộc hiện đại hoá
Còn đối với hội họa, chủ đề của các bức tranh luôn là sự phản kháng tr-ớc sự hiện đại hóa quá nhanh trong khi đó điều kiện sống của con ng-ời còn tồi tệ (không theo kịp) Hai họa sĩ tiêu biểu của khuynh h-ớng sáng tác này là Balla và Boccioni Trên thực tế hội họa vị lai phát
Trang 26triển nhất, còn các lĩnh vực khác nh- sân khấu, điện ảnh, thơ ca và kiến trúc có phần phát triển kém hơn
Trong âm nhạc, quan điểm có vẻ khá gần với thơ ca Năm 1913,
chúng ta đã biết đến tác phẩm âm nhạc Musica futuristica for orchestra (âm nhạc vị lai cho dàn nhạc) của Francesco Balilla Pratella (1880-
1955) Bản nhạc đ-ợc xây dựng trên những nét chromatique và điệu thức toàn cung để chứa đựng nội dung rộng lớn: ấn t-ợng mới nhất về thiên nhiên mà con ng-ời vừa khám phá ra nhờ những thành quả của khoa học
kỹ thuật Qua đó tác giả muốn nhấn mạnh đến vai trò thống trị trung tâm của máy móc và chiến thắng của công cuộc điện khí hoá
Trong âm nhạc của Luigi Russolo (1885-1845) chúng ta bắt gặp các âm thanh, tiết tấu của máy móc Ông đã tạo ra một ‚nghệ thuật của tiếng ồn‛ Edgar Varèse (1883-1965) thì lại chú ý tới số l-ợng nhạc công trong dàn nhạc để thế hiện quan điểm của mình Tác phẩm
Amérique đ-ợc viết cho dàn nhạc gồm 142 nhạc công t-ợng tr-ng cho
‚thế giới mới trên trái đất‛ với nhiều tiếng ồn ở đó chúng ta gặp lại hình ảnh của Stravinsky, Debussy và Schoenberg Janacek lại chú trọng tới nghệ thuật phối khí để diễn tả cảm xúc của mình tr-ớc những đổi mới của cuộc sống nhờ công cuộc hiện đại hóa bằng cách khai thác triệt để
âm sắc bộ đồng, đặc biệt là kèn trompette Trong ch-ơng I, bản
Sinfonietta Janacek đã chỉ sử dụng bộ đồng và một nhạc cụ gõ Ông đã
dùng tới 9 kèn trompette, 2 kèn tuba, 2 trombone kết hợp với timpani để thể hiện thế giới quan của mình (vd2, phl1.1)
Nh- vậy chúng ta nhận thấy rằng sự ra đời cũng nh- quan điểm sáng tác của chủ nghĩa vị lai đ-ợc gắn liền với sự thay đổi nhanh của khoa học kỹ thuật
Trang 271.2.4 Âm nhạc cổ điển mới (Néo-classicisme)
Chủ nghĩa cổ điển mới là một khuynh h-ớng nghệ thuật xuất hiện trong các lĩnh vực nh- hội họa, điêu khắc, kiến trúc và văn học khoảng từ những năm 1750 đến 1830 Tuy nhiên phải đến đầu thế kỷ XX, khoảng từ giữa những năm 1920 đến 1939 khuynh h-ớng sáng tác này mới phát triển mạnh trong lĩnh vực âm nhạc Thuật ngữ cổ điển (classique) ở đây
đ-ợc hiểu trong một nghĩa rộng đó là sự quay trở lại vẻ đẹp lý t-ởng
đ-ợc coi là chuẩn mực trong âm nhạc của các thời kỳ tr-ớc kết hợp với ý t-ởng riêng của tác giả thì ngôn ngữ âm nhạc đó đ-ợc gọi là cổ điển mới
Từ một tên chung là âm nhạc cổ điển mới, có thể ng-ời ta chia chi tiết hơn tùy thuộc vào cách khai thác các nhân tố âm nhạc trong tác phẩm, thí dụ: âm nhạc baroque mới (néobaroque), âm nhạc lãng mạn mới (néoromantique)…
Một số nhạc sĩ sau khi sáng tác theo những khuynh h-ớng khác nhau đã quay trở lại trật tự sáng tác theo kiểu cổ điển nh-ng mang hơi thở của thời đại bằng một số ph-ơng pháp nh-: khẳng định lại đi ệu tính theo cách mới, bắt ch-ớc lại hình dáng giai điệu của một tác giả nào đó ở các thế kỷ tr-ớc, sử dụng lại những hình thức đã có từ những thế kỷ tr-ớc hoặc mô phỏng lại một phong cách sáng tác điển hình của một nhạc sĩ nổi tiếng nào đó trong quá khứ
Chúng ta có thể điểm qua một số tác phẩm và tác giả sáng tác theo khuynh h-ớng này để thấy đ-ợc sự phong phú và đa dạng trong quan niệm âm nhạc cổ điển mới:
Athur Honegger (1892 - 1955) là một thành viên trong nhóm sáu
ng-ời của Pháp Ông đã có một tác phẩm mà rất quen thuộc với chúng ta
đó là Pacific 231 Đặc điểm âm nhạc của Honegger là thiên về hành
động, giai điệu ngắn, tiết tấu trì tục mạnh, mầu sắc rõ nét và hoà âm
nghịch Ông đã có một tác phẩm thanh x-ớng kịch rất nổi tiếng là King
Trang 28David (Vua David), đ-ợc viết vào năm 1923 Tác phẩm này đ-ợc đánh
giá là rất quan trọng trong nửa sau của thế kỷ XX vì tính chất hỗn hợp giữa nhạc kịch và thanh x-ớng kịch Vua David đ-ợc thành công một phần nhờ vào phần viết cho dàn hợp x-ớng rất dễ hát (có thể coi nh- cho nghiệp d-) Tiết tấu và hình thức theo kiểu cổ điển Hòa âm có đôi chỗ táo bạo nh-ng vẫn nằm trong tổng thể loại âm nhạc diatonique Tác phẩm gồm năm phần nói, 5 phần độc tấu và phần hợp x-ớng hỗn hợp (gồm phần nói và phần hát) Ngôn ngữ dàn nhạc kết hợp giữa giai điệu củ a grégorien và dân ca thời trung cổ Với những đặc điểm trên chúng ta hoàn toàn có thể coi Vua David là một tác phẩm cổ điển mới
Darius Milhaud (1894-1974) cũng là một thành viên trong nhóm 6
ng-ời của Pháp Ông là ng-ời viết âm nhạc chủ yếu mang tính trữ tình,
rõ ràng và logique về hình thức Tác phẩm th-ờng gợi đến cho ng-ời
nghe những cảm xúc khách quan Trong tác phẩm Suite Provencale ( Tổ
khúc xứ Prô-văng-xan) cho dàn nhạc (1937), Milhaud đã sử dụng lại giai
điệu của André Campra, một nhạc sĩ thế kỷ XIX
Francis Poulenc (1899-1963) cũng là một thành viên nhóm 6
ng-ời của Pháp Ông là ng-ời rất thích các hình thức nhỏ Trong tác phẩm của ông ng-ời ta luôn gặp mối liên hệ với các bài hát dân ca vùng Paris Các tác phẩm th-ờng mang tính hài h-ớc Giai điệu và hoà âm rất
độc đáo Tác phẩm Concert champêtre (Hoà nhạc đồng quê) cho đàn
clavecin hoặc piano và dàn nhạc nhỏ (1928) là một tác phẩm cổ điển mới trong thế giới tinh thần của Rameau và Domenico Scarlatti
Ngoài nhóm sáu ng-ời của Pháp cũng có một số nhạc sĩ đã viết tác phẩm chứa đựng những đặc điểm của âm nhạc cổ điển mới Ví dụ trong
vở nhạc kịch Cái mũi của Chostakovich (1927-28) có hình ảnh Tchaikovsky Trong tác phẩm Mộ Couperin (1917-19) của Ravel có hình
ảnh của Couperin
Trang 29Trong tác phẩm Hoà tấu cho dây, gõ và célesta của Bartok chúng
ta thấy cách viết chromatique và luật nhịp không đều là những yếu tố không có ở thế kỷ XVIII nh-ng việc sử dụng hình thức đối xứng qua một trục là trung tâm thì lại đ-ợc coi là điểm tiêu biểu của âm nhạc cổ điển Bartok thích loại hình thức mà phần 2 là đảo ng-ợc và tiếp tục phát triển
từ phần 1 Đây là một kỹ thuật mới Tuy nhiên cấu trúc chu kỳ trong những tác phẩm cho dàn nhạc từ các năm 1926 đến 1937 lại là một thủ pháp th-ờng gặp trong các tác phẩm thời kỳ Baroque Bartok cũng gợi
đến hình ảnh của Bach trong các đoạn chạy ch-ơng I của Concerto số 2 cho piano
Trong một số tác phẩm của Schoenberg chúng ta cũng nhận thấy
những đặc điểm của âm nhạc cổ điển mới Ví dụ nh- Concerto cho 9 nhạc cụ (1934) giống concerto Brandenburg của thế kỷ XVII
Nói đến âm nhạc tân cổ điển chúng ta không thể không nhắc tới Stravinsky Sau giai đoạn sáng tác dựa trên chất liệu âm nhạc dân gian Nga, Stravinsky đã rất thành công với những tác phẩm viết theo ph ong
cách tân cổ điển và bản Concerto cho dàn nhạc thính phòng đ-ợc coi là
một minh chứng nổi trội nhất
Trong tác phẩm này, Stravinsky đã sử dụng lại biên chế dàn nhạc nhỏ (flute, clarinette, fagotte, cor, violon, alto, violoncelle và contrebasse) giống nh- các concerto Brandenburg Bên cạnh những yếu tố nh- luật nhịp, tiết tấu, hòa âm và nguyên tắc hòa tấu nhạc cụ mang hơi thở âm nhạc đ-ơng đại với phong cách đặc tr-ng của Stravinsky thì hình ảnh Bach vẫn hiển hiện lên trong cấu trúc giai điệu ở rất nhiều chỗ trong tác phẩm Với những đặc điểm này
chúng ta hoàn toàn có thể xếp bản Concerto cho dàn nhạc thính phòng vào
loại âm nhạc baroque mới (vd3, phl1.1)
1.2.5 Âm nhạc hiện thực XHCN
Trang 30Theo tác giả A.l ốp-Tsa-Ren-cô [1, tr.5] thì ‚chủ nghĩa hiện thực
đã bắt đầu hình thành trong văn học Nga vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX‛ và khoảng từ năm 1905 bắt đầu phát triển thành chủ nghĩa hiện thực XHCN Sự phát triển của chủ nghĩa này đ-ợc chia làm bốn giai đoạn
lĩnh đầu tiên của văn học XHCN đang hình thành
Giai đoạn thứ hai, từ năm 1917 đến năm 1934, đây là giai đoạn
chủ nghĩa hiện thực XHCN đ-ợc khẳng định vừa nh- một khuynh h-ớng, vừa nh- một ph-ơng pháp chủ đạo của nền văn học XHCN của thế giới Giai đoạn này đã kết thúc thắng lợi bằng Đại hội lần thứ nhất các nhà văn Liên Xô, một đại hội trở thành sự kiện thế giới Những ng-ời dự hội nghị này nhận ra rằng: ‚Khẩu hiệu của chủ nghĩa hiện thực XHCN được nêu ra tại Liên Xô không phải chỉ trên quy mô các dân tộc Liên Xô, mà còn cả trên quy mô các dân tộc toàn thế giới‛[1, tr.70]
Giai đoạn thứ ba của chủ nghĩa hiện thực XHCN đ-ợc xác định từ
cuối năm 1934 đến năm 1953 Trong giai đoạn này nền nghệ thuật Xô viết gồm nhiều dân tộc phát triển theo h-ớng nghệ thuật duy nhất đó là chủ nghĩa hiện thực XHCN và khuynh h-ớng này đã gặt hái đ-ợc những thành tựu mang tầm cỡ quốc tế Chúng ta có thể kể tới một số tác phẩm
tiêu biểu trong lĩnh vực văn học nh- Số phận một con ng-ời, Sông Đông
êm đềm của Sô-lô-khốp, Rừng Nga của L Lê-ô-nốp, các tập truyện ngắn
Trang 31của Iu Bôn–đa-ép, T Ai-ma-tốp cũng nh- những bài thơ và tr-ờng ca của Pôn E-lu-a-rơ Trong lĩnh vực âm nhạc chúng ta không thể không nhắc
tới một số tác phẩm nhạc kịch nh- Xê-men Cốt-cô (1939) Lễ c-ới ở tu viện (1940) Chiến tranh và hoà bình (1941-1952), Chuyện một ng-ời chân chính (1947-1948) của Procofiev, bản giao h-ởng thơ Ca ngợi Stalin (1938), vũ kịch Hạnh phúc (1939) bản giao h-ởng số 2 (1943), vũ kịch Spac-tác của Khachaturian, nhạc kịch Dòng suối thép (1934), nhạc cho phim Mac-xim trở về (1937), Ng-ời cầm súng (1938), Ng-ời công dân vĩ đại (1938), bản giao h-ởng số 7 Thành Lêningrat (1942), thanh x-ớng kịch Khúc hát về rừng (1949) của Chostakovitch
Giai đoạn thứ t-, bắt đầu từ cuối những năm 1953 cho đến những
năm 1980 Vào những năm đầu của thời kỳ này một số ng-ời nghi ngờ rằng d-ờng nh- chủ nghĩa hiện thực XHCN đã không hề đem lại một giá trị nào cho kho tàng nghệ thuật thế giới và việc đó gây ra nhiều dao động trong lĩnh vực mỹ học XHCN Tác hại của nó dẫn đến một số n-ớc XHCN thậm chí tránh dùng thuật ngữ hiện thực XHCN trên báo chí vì coi nó d-ờng nh- đã bị xúc phạm Đỉnh điểm cuộc tranh cãi này đã đ-ợc giải toả phần nào khi chính những học giả ph-ơng Tây phải thừa nhận họ còn biết quá ít về khuynh h-ớng sáng tác này ở các n-ớc XHCN Trong giai đoạn này Chostakovitch cũng đã sáng tác đ-ợc rất nhiều tác phẩm gây đ-ợc tiếng vang nh- giao h-ởng số 10 (1953), giao h-ởng số 11 có
tên là Năm 1905 (1957), giao h-ởng số 12 có tên là năm 1917, thanh x-ớng kịch Cuộc xử giảo Xtê-pan Ra-din
Nh- vậy chủ nghĩa hiện thực XHCN mà chúng tôi nói tới ở đây
đ-ợc dùng để để chỉ khuynh h-ớng chính trong nghệ thuật XHCN và chỉ
ra ph-ơng pháp sáng tác giúp cho các nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ có nhân sinh quan XHCN miêu tả chân thật cuộc sống trong sự hình thành, vận
động, phát triển của lịch sử cách mạng Các tác phẩm viết theo khuynh
Trang 32h-ớng này phải thể hiện đ-ợc tính t- t-ởng XHCN sâu sắc và có hiệu lực, kết hợp với tính nghệ thuật cao với sự rõ rệt về ý nghĩa lịch sử Các tác giả phải kết hợp hài hoà giữa các yếu tố: phản ánh, thể hiện và tái hiện trong nghệ thuật để rồi từ đó tạo dựng ra những hình t-ợng nghệ thuật có một ảnh h-ởng tích cực nhất định tới ng-ời th-ởng thức Chính vì vậy mà trong rất nhiều tác phẩm viết theo khuynh h-ớng hiện thực XHCN chúng
ta thấy ng-ời Cách mạng, ng-ời Cộng sản luôn là nhân vật chủ chốt và
họ hiến dâng mọi sức lực, trí tuệ cho sự nghiệp giác ngộ Cách mạng,
đoàn kết tổ chức quần chúng nhân dân để vùng lên, dẫn đầu đội quân bách chiến bách thắng trong cuộc Cách mạng Tháng M-ời và trong cuộc nội chiến, lôi cuốn quần chúng bắt tay vào công cuộc khôi phục nền kinh
tế sau chiến tranh và lãnh đạo một tập thể hàng triệu ng-ời xây dựng cơ
sở kinh tế của cuộc sống mới Trong những biến cố căng thẳng của thời
đại, những xung đột xã hội và chính trị ấy nhân vật ng-ời Cách mạng ngày càng có ý nghĩa rộng lớn hơn khiến hàng triệu ng-ời lao động trung thực khắp thế giới đều tự nhận ra mình trong hình t-ợng đó
Nh- vậy những đặc điểm và những quy tắc thẩm mỹ căn bản của chủ nghĩa hiện thực XHCN luôn gắn liền với sự phát triển của cuộc cách mạng XHCN Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa không chỉ đơn giản là việc giai cấp vô sản cách mạng giành lấy chính quyền chính trị và kinh tế
mà nó còn làm thay đổi tận gốc hệ thống t- t-ởng trong đó có văn hóa và nghệ thuật Chính Lê nin đã viết rằng: B-ớc ngoặt kinh tế và chính trị ở n-ớc Nga đi tr-ớc một cuộc cách mạng văn hóa và hiện nay chúng ta
đang đứng trước cuộc cách mạng văn hóa đó‛[39, tr.7]
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Liên bang Xô Viết đã đề ra một luận điểm có tính chất nguyên tắc cao đ-ợc dùng làm cơ sở của một nền văn hóa của CNXH đó là: Nghệ thuật cần phải bám những gốc rễ sâu
xa của mình vào các tầng lớp đông đảo rộng rãi nhất của quần chúng lao
Trang 33động Nó phải đ-ợc quần chúng đông đảo đó hiểu rõ và yêu thích Nó phải tập hợp đ-ợc những tình cảm, t- t-ởng và ý chí của khối quần chúng
đó, nâng họ lên một trình độ cao hơn Nh- vậy nền nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải miêu tả cuộc sống một cách chân thật, cụ thể lịch sử trong quá trình cách mạng của nó Nền nghệ thuật này cũng phải làm nổi rõ tính Đảng, thể hiện rõ tính cách của con ng-ời trong cuộc sống hiện thực XHCN và có mối liên hệ mật thiết với quan điểm mỹ học Mác-Lênin
Trong nền văn học hiện thực XHCN chúng ta không thể không
nhắc tới tên tuổi của Gorki với tác phẩm Ng-ời mẹ, Maiakovsky với những bài thơ nh- Thi sĩ công nhân, Mệnh lệnh gửi cho đạo quân nghệ thuật, Thơ vịnh Cách mạng, Fa-đê-ép với tác phẩm Đội cận vệ bất diệt,
Ê-ren-bua với những truyện ngắn đ-ợc coi là mốn ăn tinh thần của các chiến sĩ hồng quân làm cho kẻ thù khiếp sợ Trong nền âm nhạc hiện thực XHCN chúng ta không thể không nhắc tới rất nhiều các tác phẩm mang tính chất đồ sộ với tính học thuật cao ra đời có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển Ví dụ nhạc sĩ Alexandre Mossolov (sinh năm 1900) đã
viết vở ballet Sự quan trọng luyện thép nổi tiếng với những âm h-ởng
h-ớng tới hy vọng mở ra cho những ng-ời công nhân Hay Prokofiev viết
vở ballet B-ớc đi của thép phần đệm của Diaghilev (năm 1927) thể hiện
quyền lực hiện đại của chính quyền Xô viết… Bên cạnh các tác phẩm đồ
sộ thì hàng loạt các ca khúc với các đề tài khác nhau nh- ca ngợi Lê nin,
vị lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản, tình yêu quê h-ơng, yêu đất n-ớc của nhân dân Nga trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, ca ngợi tình
đoàn kết, ca ngợi hồng quân cũng có một sức cảm hoá mãnh liệt đối với đông đảo quần chúng Những tác phẩm của họ đã đóng góp một phần không nhỏ cho sự nghiệp cách mạng XHCN và mở ra một con đ-ờng nghệ thuật mới với sự chú trọng cao về giá trị chất l-ợng của nghệ thuật
Trang 34và luôn gắn liền với sự nghiệp Cách mạng, gắn với chính trị cũng nh- gắn liền với cuộc sống của nhân dân
Vào năm 1936, để trả lời cho những quan điểm của Stalin, Jdanov
đã viết một bài báo có tên là ‚Âm nhạc hay là sự ồn ào‛ trên báo Sự thật
để chống lại Chostakovitch, Khachaturian, Miaskovski và kết tội họ là những ng-ời h-ớng tới chủ nghĩa hình thức, xa rời nhân dân và có mối liên hệ với ph-ơng Tây Boris Assafiev cũng nhấn mạnh rằng những tác phẩm của Procofiev trong những năm 1920 cũng giống nh- những tác phẩm của Schoenberg, Berg và Webern chỉ là sự điên rồ và có mối liên
hệ với chủ nghĩa phát xít [90, tr.77] Tuy nhiên chính những nhạc sĩ này
đã góp một phần không nhỏ vào sự phát triển âm nhạc theo bút pháp hiện thực XHCN và những tác phẩm của họ đã trở thành một thứ vũ khí kh ông gì so sánh đ-ợc trong cuộc cách mạng XHCN cũng nh- cuộc chiến tranh
chống phát xít Đức Bản giao h-ởng số 7 Thành Lêningrat của
Chostakovitch là một minh chứng hùng hồn cho nhận định trên
Ph-ơng pháp và quan điểm sáng tác của dòng hiện thực XHCN cũng có một ảnh h-ởng sâu sắc tới sự phát triển nghệ thuật của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam
Âm nhạc 12 âm th-ờng đ-ợc gọi là âm nhạc Dodécaphone là một
kỹ thuật sáng tác trên 12 nốt Theo tác giả Jean-Noel Von Der Weid [80,
tr 117], con đ-ờng sáng tác theo kiểu dodécaphone đã từng đ-ợc một số nhạc sĩ Nga đề cập đến nh- Nikolai Roslavets (1881-1944), Yefim Golychev (1887-1970) và Nikolai Obouhov (1892-1945) Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu âm nhạc vẫn coi Maththias Hauer là ng-ời đã nghĩ ra ph-ơng pháp sáng tác nhạc theo kiểu dodécaphonique và ng-ời mà tổng kết về lý thuyết và phát triển kỹ thuật sáng tác này chính là Schoenberg
Trang 35Thực chất dodécaphonique chỉ là một hệ thống hình thức của âm nhạc atonal mà ở đó thông th-ờng một tác phẩm viết theo nguyên tắc của
âm nhạc dodécaphone luôn chỉ đ-ợc sáng tác tối đa trong 12 âm thuộc hệ thống chromatique với nguyên tắc cơ bản là mỗi nốt chỉ xuất hiện một lần 12 âm sử dụng trong tác phẩm này còn đ-ợc gọi là một serie nốt (hàng âm) Từ hàng âm này chúng ta có thể phát triển tác phẩm bằng cách sử dụng các dạng của chúng: dạng nguyên thể (ký hiệu trong tất cả cách sách giáo khoa trên thế giới ký hiệu là P), dạng đi giật lùi từ cuối lên đầu (ký hiệu là R), dạng soi g-ơng (ký hiệu là I), dạng đi giật lùi kết hợp với soi g-ơng (ký hiệu là RI)
Trên thực tế mỗi chiều của hàng âm này đều có thể đ-ợc chuyển dịch tối đa là 12 lần (vì một quãng tám đ-ợc chia làm 12 nửa cung) nên tổng số lần chuyển dịch của cả bốn chiều từ một hàng âm là: 479.001.600 [96, tr.77]
Vào năm 1921 khi Stravinsky và Hindemith viết những tác phẩm theo bút pháp cổ điển mới thì Schoenberg đã thông báo rằng ng-ời học trò của ông là Josef Rufer đã khám phá ra ‚ một cái gì đó có thể đảm bảo cho âm nhạc Đức có một bước tiến mới trong hàng trăm năm tiếp theo‛
Sự khám phá đó là hệ thống sáng tác 12 âm (dodécaphone) Thực ra từ những năm 1920, Schoenberg đã phát triển một ph-ơng pháp sáng tác tổ chức âm nhạc atonal và ông gọi là ‚ phương pháp sáng tác trên 12 âm‛
Một phần ông đã áp dụng vào 5 tiểu phẩm cho piano op 23, Serenade
op 24 và Tổ khúc cho piano op 25 (khoảng vào những năm 1920-1923)
Đến năm 1923-1925 ông đã xuất bản những tác phẩm sử dụng kỹ thuật
12 âm mới này Loại âm nhạc dodécaphonique của ông không có một chỗ đứng rộng lớn đối với ng-ời nghe lúc bấy giờ nh-ng ng-ời ta đã nhận ra sự cần thiết của kỹ thuật này cho sự phát triển của sự nghiệp sáng tác tr-ớc hết là ở Tiệp và Berlin Ngoài Schoenberg, Berg và
Trang 36Webern cũng là những nhạc sĩ sử dụng kỹ thuật sáng tác âm nhạc 12 âm trong một số tác phẩm của mình Tuy nhiên mỗi ng-ời đều tạo ra đ-ợc những ngôn ngữ âm nhạc riêng
Trên cơ sở âm nhạc dodécaphonique, khoảng từ cuối năm 1940, kỹ thuật sáng tác serie toàn phần bắt đầu phát triển Đây là loại âm nhạc
đ-ợc dựa chủ yếu từ ph-ơng pháp sáng tác của Schoenberg Nếu nh- Schoenberg chỉ sử dụng một nhân tố serie là cao độ thì giờ đây các nhạc
sĩ đã mở rộng thêm nhiều nhân tố nữa nh- tr-ờng độ, c-ờng độ, âm sắc, kết cấu, dấu lặng Nh- vậy về bản chất vấn đề âm nhạc serie toàn phần
đã phá bỏ hoàn toàn những nguyên tắc cơ bản của âm nhạc trong các thế
kỷ tr-ớc, đặc biệt là thế kỷ XVIII-XIX đó là mối liên hệ không thể tách
đ-ợc giữa giai điệu, tiết tấu, hoà âm trong một tác phẩm âm nhạc nay chỉ
đ-ợc nhìn nhận nh- những nhân tố không thể thiếu Việc sử dụng serie cho những nhân tố khác nhau đã từng bị phê phán là ít tính ng-ời, toán học Nhiều ng-ời lại coi chúng là ngõ cụt bởi vì tác phẩm âm nhạc là cảm xúc một cách ngẫu nhiên Ng-ời nhạc sĩ chỉ có thể kiểm tra trên cái gì đó đến vào một thời điểm chính xác mà thôi Âm nhạc serie cũng gây
ra những sự khó khăn cho ng-ời biểu diễn và ng-ời nghe trong việc thể hiện chính xác các sắc thái, tiết tấu
Có ba nhóm dùng serie toàn phần đó là Milton Bablilt (học trò Schoenberg) đại diện cho nhóm Mỹ, Messiaen, Boulez đại diện cho nhóm Pháp và Karlheinz Stockhausen đại diện cho nhóm Đức
Bablilt viết Three Compositions for piano (3 tiểu phẩm cho piano,
1947) Trong đó ông đã sáng tạo ra serie tiết tấu và sử dụng tới 8 hình thức của serie
Messiaen là học trò của Webern và René Leibowitz đã viết Bốn bài tập tiết tấu (đặc biệt ở bài tập số 2, Messiaen đã sử dụng một serie
tr-ờng độ chromatique gồm 24 độ dài khác nhau, một serie nhấn gồm 10
Trang 37loại khác nhau và ba serie toàn phần dùng ở ba âm vực khác nhau của
đàn piano) Boulez đã viết serie tiết tấu, sắc thái trong sonate cho piano (1948), sách cho tứ tấu (1949) và Kết cấu cho 2 piano
Stockhausen viết Kreuzspiel (trò chơi đan chéo) cho oboe,
clarinette basse, piano và 3 nhạc cụ gõ (1952)
Thuật ngữ tiên phong đ-ợc dùng từ thế kỷ XIX để chỉ những nhà văn hóa, những nghệ sĩ có ý t-ởng mới trong lĩnh vực sáng tác của mình Nh- vậy tiên phong cũng có nghĩa là những thử nghiệm mới trong các lĩnh vực này và nó đối lập với những gì luôn đ-ợc coi là hàn lâm
Trong âm nhạc vào những năm 1950 đã xuất hiện một trào l-u sáng tác đ-ợc gọi là âm nhạc thể nghiệm Đây là một loại âm nhạc sử dụng tất cả các ph-ơng tiện kỹ thuật có thể để tạo ra âm thanh và tiếp nhận các loại tiếng động có trong cuộc sống đ-a vào tác phẩm âm nhạc Nh- vậy
âm nhạc thể nghiệm đã phá bỏ những quan niệm về âm thanh theo kiểu truyền thống, nghiền vụn các cảm xúc và tạo ra những điều bất ngờ nhờ vào sự khám phá mạo hiểm những âm thanh mới không cần tính đến việc tai nghe có chấp nhận hay không Những đại diện tiêu biểu cho khuynh h-ớng sáng tác này là các nhạc sĩ PierreBoulez, Luciano Berio, Iannis Xenakis, Karlheinz Stockhausen (ở châu Âu) và John Cage, Chritian Wolff, Earle Brown, Meredith Monk, Morton Feldman, Terry Riley, la Monte Young, Philip Glass, John Cale, Steve Reich (ở Bắc Mỹ)
Sau một thời gian phát triển, âm nhạc thể nghiệm đã có một b-ớc
đột phát mới đó chính là âm nhạc aléatoire Khởi đầu, aléatoire đ-ợc hiểu là trò chơi xúc sắc mà ở đó tất cả những kết quả thu đ-ợc đều mang tính ngẫu nhiên Trong toán học, aléatoire đ-ợc hiểu là một thuật toán cho rất nhiều nghiệm đúng Trong âm nhạc aléatoire đ-ợc hiểu là một loại âm nhạc bấp bênh với sự phá bỏ những quan niệm theo kiểu truyền
Trang 38thống trên nhiều ph-ơng diện nh-: nhạc cụ, tổng phổ, nghệ sĩ biểu diễn
và công chúng
Một trong những đại diện tiêu biểu của âm nhạc aléatoire là John Cage, ng-ời đ-ợc coi là chống lại âm nhạc theo kiểu truyền thống1 và thậm chí đối lập cả với khuynh h-ớng âm nhạc tiền phong ở châu Âu Cage là ng-ời đầu tiên đã khai thác dấu lặng trong âm nhạc trong một cách nhìn mới Ông cũng mở ra những quan niệm mới trong mối quan hệ giữa ng-ời sáng tác, ng-ời biểu diễn và ng-ời th-ởng thức Tác phẩm 4’33 của Ông là một minh chứng tiêu biểu cho những quan niệm mới này Đây là một tác phẩm có thể biểu diễn trên bất cứ một nhạc cụ nào, tổng phổ hoàn toàn bỏ trắng và ng-ời nghệ sĩ tự quyết định mình sẽ chơi gì Do việc khai thác tối đa khả năng của dấu lặng nên tất cả những tiếng
ồn ở phòng hòa nhạc cũng đ-ợc coi là một thành tố của tác phẩm
Cage cũng là ng-ời đầu tiên nghĩ ra piano đ-ợc sắp đặt bằng cách thêm vào dây đàn những bulông, ốc vít, cao su, giấy với mục đích làm thay đổi âm sắc cơ bản của đàn piano và Ông đã áp dụng nó trong tác
phẩm Amores Trong tác phẩm này piano đ-ợc sắp đặt chơi ở ch-ơng I và
ch-ơng IV, ch-ơng II và III chỉ hoàn toàn là phần hòa tấu của các nhạc
cụ gõ Thông qua tác phẩm này Cage đã mở ra một cách khai thác những
âm sắc mới của cây đàn piano không theo kiểu truyền thống mà theo quan niệm của Earle Brown thì ‚Cage đã mở ra một bước phát triển mới cho đàn piano vốn đã đi đến ngõ cụt sau những sáng tác của Liszt‛ (vd 4, phl1.1)
Đối với Penderecki, ngôn ngữ âm nhạc tiên phong đ-ợc thể hiện bằng một kỹ thuật sáng tác mới: kỹ thuật chồng khối âm thanh Trong tác
phẩm Những âm thanh tự nhiên 2 Penderecki đã không sử dụng luật nhịp
1 Truyền thống ở đây đ-ợc hiểu trong ý nghĩa rằng âm nhạc phải có giai điệu, tiết tấu, hòa âm… và do các nhạc cụ vẫn dùng từ thế kỷ XIX trở về tr-ớc diễn tấu
Trang 39bởi vì tác phẩm của ông không hề có tiết tấu (âm nhạc đ-ợc tính bằng giây) Giai điệu cũng chỉ là những đ-ờng tuyến đậm, nhạt trên dòng kẻ
để chỉ khối âm thanh dầy hay mỏng mà thôi Tác phẩm cũng khai thác rất nhiều những tiếng ồn có trong cuộc sống nh- tiếng máy bay, tiếng
c-a Phong cách sáng tác này cũng đ-ợc tìm thấy trong tác phẩm Khúc nhạc tang lễ cho các nạn nhân chiến tranh ở Hyrosima (vd 5, phl1.1)
Một số nhạc sĩ khác lại chú trọng tới việc mở ra những quan niệm mới
cho thanh nhạc, ví dụ Berio có tác phẩm Ông vua hoặc Ligeti có tác phẩm Sự mạo hiểm Trong các tác phẩm này ngoài những phần ca sĩ phải hát chuẩn xác
cao độ thì lại có những phần đơn giản chỉ là tiếng hú, tiếng c-ời, tiếng thì thầm … (vd 6, phl1.1)
Đến những năm 30 của thế kỷ, một số ng-ời Việt mới bắt đầu đ-ợc học và chơi nhạc cụ ph-ơng Tây Có thể nhắc tới tên tuổi của một số nghệ sĩ nh-: Nguyễn Văn Diệp, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Hữu Hiếu, Thái Thị Lang, Võ Đức Thu, Phạm Đăng Hinh, Doãn Mẫn…
Vào những năm 40, chúng ta thấy đã bắt đầu xuất hiện một số tác phẩm khí nhạc do các nhạc sĩ Việt Nam sáng tác cho nhạc cụ ph-ơngTây
2 Thuật ngữ âm nhạc cổ điển ở đây đ-ợc hiểu trong một nghĩa rộng bao gồm tất cả các thể loại âm nhạc mang tính chất bác học, kinh điển đã tồn tại và phát triển ở một số quốc gia Châu Âu, đặc biệt là Tây Âu trong nhiều thể kỷ, đặc biệt là từ thế kỷ XVII đến XIX chứ không hiểu theo nghĩa hẹp là âm nhạc của tr-ờng phái
cổ điển Viên
Trang 40diễn tấu, tiêu biểu nh- Tuyển tập cho piano gồm hơn 30 tiểu phẩm nhỏ
với bút danh Louise Nguyễn Văn Tỵ, xuất bản tại Paris của bà Thái Thị
Lang; tiểu phẩm viết cho hai đàn violon và piano hòa tấu có tiêu đề Xa khơi của nhạc sĩ Tạ Ph-ớc
Sau năm 1954 (khi hiệp định Giơneve đ-ợc ký kết), miền Bắc Việt Nam đã đ-ợc sống trong hòa bình Bên cạnh việc khôi phục và xây dựng
đất n-ớc, Đảng và Chính phủ ta đã có chủ ch-ơng, chính sách cho việc xây dựng và phát triển văn hóa-văn nghệ nói chung, trong đó có âm nhạc Vì vậy mà vào tháng 11 năm 1956 Tr-ờng Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam) đã đ-ợc thành lập Đây đ-ợc coi
là cái nôi tạo dựng chính nên một đội ngũ giảng dạy, biểu diễn v à sáng tác âm nhạc của Việt Nam và cũng đ-ợc tính là điểm mốc hình thành nền
âm nhạc thính phòng và giao h-ởng Việt Nam
Ngay từ khi mới ra đời, rất nhiều nhạc sĩ đã đ-ợc gửi đi học tập ở những n-ớc có nền âm nhạc tiên tiến Đây là một điều kiện tốt để các nhạc sĩ Việt Nam đ-ợc tiếp thu những tinh hoa của âm nhạc thế giới, từ
đó sàng lọc nhằm tìm ra những gì phù hợp với quan điểm thẩm mỹ và trình độ th-ởng thức âm nhạc của công chúng Từ định h-ớng của Đại hội Văn hóa văn nghệ toàn quốc năm 1953 với ph-ơng châm xây dựng một nền văn hóa nghệ thuật mang tính dân tộc-khoa học-đại chúng, các nhạc sĩ Việt Nam đã dần dần định hình con đ-ờng sáng tác cho một khuynh h-ớng âm nhạc mới trên cơ sở kế thừa những tinh hoa âm nhạc thế giới kết hợp với những nét độc đáo của âm nhạc dân gian Việt Nam
để tạo ra một ngôn ngữ âm nhạc đặc tr-ng cho các tác phẩm khí nhạc
Thực ra tên gọi ‚khuynh h-ớng âm nhạc‛ chúng tôi chỉ mới tạm thời sử dụng và coi nó là phù hợp với luận án của mình Hi vọng sau này các nhà nghiên cứu có thể đ-a ra một tên gọi cho phù hợp hơn với những
đặc điểm sẵn có của ‚nền âm nhạc thính phòng giao h-ởng Việt Nam‛