Luận văn
Trang 1MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong vài thập niên gần đây, ngôn ngữ báo chí (NNBC) mới được cácnhà nghiên cứu quan tâm đến Do đó, những thành tựu về lĩnh vực này là
chưa nhiều Trong khi phải thấy rằng, ngay từ buổi đầu hình thành (kể từ Gia
Định Báo, 1865), báo chí đã có nhiều đóng góp to lớn trong các lĩnh vực kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước NNBC đã thực hiện tốt chức năngchuyển tải thông tin, đồng thời cũng góp phần không nhỏ trong việc truyền báchữ quốc ngữ, xây dựng một nền văn học, hình thành và phát triển một hệthống các phong cách chức năng (PCCN) tiếng Việt v.v
Cho đến nay, qua hơn một thế kỷ, ở nước ta các phương tiện truyềnthông đại chúng nói chung và báo chí nói riêng, đang có bước phát triển rấtnhanh về số lượng lẫn chất lượng Báo chí không chỉ là phương tiện thông tinnhư buổi đầu hình thành mà đến nay đã trở thành phương tiện hữu hiệu trongviệc phổ biến quan điểm, đường lối chính trị, xã hội, góp phần nâng cao trithức và tác động giáo dục đối với đông đảo công chúng Với mục đích giaotiếp như vậy, hướng đến một đối tượng đa dạng (không đồng nhất về trình độ,
về tuổi tác, về giới tính ), báo chí đã sử dụng kênh ngôn ngữ như một hệ đachức năng không chỉ để đem thông tin đến cho người đọc mà còn nhằm tácđộng đến mọi đối tượng, trong mọi lĩnh vực Để đạt được mục đích này, ngônngữ trên báo luôn chứa đựng những thông tin mới lạ, hấp dẫn, được tổ chứcngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu Mặt khác, báo chí là một phương thức giao tiếpkhá đặc biệt, nhất là báo viết Ở đó, người tạo ngôn tức tác giả và người thụngôn tức độc giả không đồng thời có mặt Mọi thông tin - hay nói khác là hoạtđộng giao tiếp - chỉ thể hiện qua các văn bản trên báo Vì thế, NNBC cónhững yêu cầu rất nghiêm ngặt, được xem như là một ngôn ngữ chuẩn mực
Trang 2không chỉ để chuyển tải đúng thông tin mà còn có thể định hướng khả năng
sử dụng ngôn ngữ cho đông đảo công chúng độc giả
Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, trên hầu hết các báo hiện nay, ta có thểtìm thấy khá nhiều lỗi dùng từ, lỗi viết câu, những cách diễn đạt có tính chất
mơ hồ về nghĩa v.v Điều này làm ảnh hưởng không ít đến chất lượng thôngtin và tất nhiên là ảnh hưởng đến nhận thức, thẩm mỹ và cả khả năng ngônngữ của người đọc
Khảo sát thực tế sử dụng ngôn ngữ trên các văn bản báo chí hiện nay làmột hướng tiếp cận rất thiết thực để tìm ra những quy luật chung, đồng thờigóp phần định hướng cho hoạt động giao tiếp báo chí ngày càng đạt hiệu quảcao hơn Năm 2004, trong luận văn tốt nghiệp thạc sĩ tại Trường Đại học Sưphạm Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đã có dịp đề cập đến vấn đề này.Trên cơ sở khảo sát cứ liệu ngôn ngữ báo Bình Dương, luận văn của chúng tôi
đã chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của NNBC, đồng thời đã đề xuất những yêucầu về chuẩn ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và cách tổ chức văn bản trên cácphương tiện báo chí in ấn hiện nay Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một luậnvăn thạc sĩ, nhiều vấn đề đặt ra chưa thể trình bày hết được Hơn nữa, báo chí
ở một địa phương như Bình Dương, dù là đã và đang tiếp cận khá nhanh vớinhững tác động của thời đại, nhưng không thể cho một cái nhìn toàn cục đốivới vấn đề đề tài đặt ra Lần này, luận án của chúng tôi chọn ngữ liệu khảo sát
là báo chí ở Sài Gòn trước năm 1975 và Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay(Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh) để xem xét trên cả hai phương diệnđồng đại và lịch đại Việc chọn lựa báo chí Sài Gòn – Thành phố Hồ ChíMinh (SG-TPHCM) làm đối tượng nghiên cứu là rất thuận lợi, có thể tìm thấynhiều đặc điểm tiêu biểu Bởi lẽ, SG là chiếc nôi của báo chí cả nước, kể từ
Gia Định Báo (GĐB) với số báo đầu tiên ra ngày 14/01/1865, suốt hơn một
Trang 3thế kỷ phát triển đã có đến trên 800 đầu báo, tạp chí; và hiện nay số báo, tạpchí xuất bản định kỳ tại TPHCM chiếm hơn 1/10 của cả nước [x.phụ lục 2].
Đó là những lý do để chúng tôi lựa chọn đề tài “NGÔN NGỮ BÁOCHÍ SÀI GÒN - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
2.1 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ báo chí nói chung
Cho đến nay việc nghiên cứu NNBC nói chung đã đạt được không ítthành tựu từ nhiều góc nhìn khác nhau
2.1.1 Dưới góc nhìn của báo chí – xã hội học, NNBC đã được đề cập
đến trong mối tương quan với bản chất của truyền thông đại chúng và những
kỹ thuật tác nghiệp báo chí
Trên thế giới, những vấn đề lý luận về truyền thông đại chúng đã được
nói đến từ những năm 50 của thế kỷ XX Trong công trình Khái niệm cơ bản
về truyền thông, Frank Dance đã dẫn ra 15 quan điểm về vấn đề này
[x.TL138, tr.9-11] Các quan điểm về cơ bản đều thừa nhận vai trò của ngônngữ trong quá trình truyền thông
Donald L Ferguson và Jim Patten trong lần tái bản bộ giáo trình
Journalism today (1993), đã đề cập đến những tính chất mới mẻ của thông tin
trong thế kỷ XXI [204, tr.61-65]:
- Tính thời sự: Tính thời sự liên quan đến tính mới mẻ của tin, nólàm cho bản tin tường thuật về một trận đá bóng ở tháng mười hợp thờihơn bản tin tường thuật về trận đá bóng ở tháng sáu
- Tính gần gũi: Những sự kiện xảy ra tại nơi ở, trong trường họccủa bạn thì quan trọng hơn so với những gì xảy ra ở bên kia trái đất
- Tính nổi bật: Tính nổi bật liên quan đến những sự kiện, nhữngcái tên 'đáng lên báo'
Trang 4- Tính quan trọng: Đề cập đến tầm quan trọng của sự kiện Đốivới một người nào đó, việc anh ta thi trượt môn toán thì quan trọng hơn
là bạn thi trượt
- Tính tâm lý: Những tin có tính tâm lý thường gây cho độc giả
có thể cười, khóc hoặc xúc động Một bé gái bị bỏ rơi trong cái lòhoang, một con chó khóc trước nấm mồ của chủ, một cô bé 15 tuổi tốtnghiệp đại học, một chiếc cầu bị gãy,… đó là những câu chuyện có sứctác động đến tâm lý người đọc
- Tính gay cấn: Tính gay cấn liên quan đến sự căng thẳng, hồihộp và yếu tố bất ngờ
Những nhận định trên dù mang nhiều dấu ấn chủ quan theo tâm lý củađộc giả phương Tây nhưng quả thật là những đúc kết rất sắc sảo Cũng theocác tác giả này, những tiến bộ của công nghệ truyền thông hiện đại đang đặtnhà báo thế kỷ XXI đứng trước nhiều yêu cầu: thông tin phải có độ chính xáccao, thông tin phải ngắn gọn và khách quan, có độ nén, tạo được sự hấp dẫn,thông tin phải hợp thời và quan trọng [204, tr.2-3]; người viết báo phải thấuhiểu từ ngữ, thông suốt chính tả, ngữ pháp và cách chấm câu [204, tr.115]
Năm 1974, Ký giả chuyên nghiệp [75] của John R Hohenberg được
dịch ra Việt ngữ lần đầu tiên Tác phẩm đã trình bày nhiều công việc có tínhbếp núc như: thể thức căn bản trong nghề báo, ký giả hành văn, nhữngnguyên tắc của nghề phóng viên v.v
Năm 1993, cuốn Bước vào nghề báo [125] ra mắt công chúng, dịch từ quyển An Introduction to Journalism của Leonard Rayteel và Ron Taylor
Cuốn sách đã đề cập đến nhiều vấn đề như: cách xử lý nguồn tư liệu, những
kỹ thuật biên tập báo chí, cách viết một bài báo theo từng kiểu bài v.v
Liên tiếp trong hai năm 2003, 2004, Nhà xuất bản Thông tấn (Hà Nội)
đã phát hành bộ sách nghiệp vụ báo chí của nhiều tác giả nước ngoài, gồm 27
Trang 5cuốn như: Truyền thông đại chúng - Những kiến thức cơ bản; Báo chí trong
kinh tế thị trường; Hướng dẫn cách biên tập v.v Tại đây, cần thiết điểm qua
một vài quan điểm như sau:
Philippe Gaillard trong Nghề làm báo [43], sau khi nêu lên sự tác động
của các yếu tố kinh tế, xã hội và chính trị hiện nay đối với báo chí, đã trìnhbày vai trò của phóng viên và tòa soạn trong việc đưa tin Theo ông, ngườilàm báo phải biết chọn lựa sự kiện theo các tiêu chuẩn [43, tr.41-50]:
- Thời sự nóng hổi: Tin tức là cái gì đó mới và công chúng khôngnhầm lẫn Công chúng luôn chờ đợi lời giải đáp cho một câu hỏi “có gìmới không đây?”
- Ý nghĩa: Tiêu chuẩn ý nghĩa áp dụng cho sự kiện và cho phạm
vi tác động của nó trong thời gian và trong không gian Nước ngập tầnghầm chỉ có ý nghĩa thực sự đối với những người ở trong ngôi nhà
- Sự quan tâm: Ý nghĩa và tính thời sự của tin được công chúngquan tâm ở mức độ nào?
Trong cuốn Nghệ thuật thông tin [126], Line Ross đã dành ba chương
đầu bàn về những quy tắc riêng cho báo viết và bốn chương còn lại bàn vềcách viết báo, đặc biệt là ở thể loại tin Theo tác giả này, “cung cấp một thôngtin tốt trong một ngôn ngữ tốt” đó là cách hành văn tốt nhất [126, tr.10-11]
Một số vấn đề về cách sử dụng ngôn ngữ, cách tổ chức các dạng bàicũng được đề cập đến trong các công trình của R Ferguson [203], Jean - LucMartin - Lagardette [78], A.A Chertưchơnưi [21] v.v
Năm 2007, Nhà xuất bản Trẻ TPHCM phát hành cuốn Nhà báo hiện
đại [107] được dịch từ giáo trình News Reporting and Writing của Khoa Báo
chí Trường Đại học Missouri (USA) Phần đầu tác phẩm trình bày bản chất
của tin tức ở thế kỷ XXI Theo đó, để đáp ứng được nhu cầu của lớp độc giảmới, tin phải có những tính chất như: tính tương tác, tính đa dạng, tính liên
Trang 6quan, hình thức bắt mắt, thông tin dày đặt nhiều tầng, nhiều lớp v.v Trên cơ
sở này, toàn bộ phần còn lại trình bày cách viết tin ở từng kiểu bài cụ thể.Cuốn sách là sự tích hợp những chỉ dẫn cần thiết cho hoạt động báo chí in ấn,phát thanh, truyền hình, báo trực tuyến và cả lĩnh vực quan hệ công chúng
Ở Việt Nam (VN), những nghiên cứu sớm nhất về báo chí phải kể đếnmột số bài viết đăng trên các báo, tạp chí từ nửa đầu thế kỷ XX Theo một sốnhà nghiên cứu, người khơi nguồn cho việc tìm hiểu báo chí VN là học giả
Đào Trinh Nhất với bài viết “Thử tìm hiểu long mạch của tờ báo ta” đăng trên báo Trung Bắc Chủ nhật năm 1942 [178, tr.8]
Thật ra, ngay từ Việt Nam văn học sử yếu (1941), Dương Quảng Hàm
sau khi phân chia các thời kỳ lịch sử báo chí, đã nêu lên tác dụng của báo chíbấy giờ: thông tin tin tức ở trong xứ và ban bố các mệnh lệnh của chính phủ,giúp cho việc thành lập quốc văn, sáp nhập vào tiếng ta nhiều danh từ mới vềtriết học và khoa học, giúp cho sự thống nhất tiếng nói ba kỳ [55, tr.428]
Nhưng trước đó, phải kể đến những ý kiến của Phan Khôi trên các tờbáo bấy giờ Chẳng hạn:
(1) Tự vị chữ ta đã có lâu rồi, bây giờ chúng ta cần nhứt phải viết đúng theo tự
vị Thế mà quý báo coi ý không chăm về chỗ đó, cho nên quảng cáo thì viết ra "quản cáo”, phô bày thì viết ra "phô bài”, song quý chủ nhiệm đã có nói rằng: Tôi vẫn biết ai ai cũng viết khó khăn mà tôi muốn viết "khó khăng”; đã tự ý muốn chi thì muốn, thì còn ai nói vào làm chi? (1) (Đông Pháp Thời Báo – 27/10/1928)
(2) Có nhiều khi vì cái đầu đề không ổn đáng mà làm cho cả bài văn thành ra
hư hỏng, dầu bài văn ấy là hay cũng mặc (Trung Lập - 7/8/1930)
Năm 1954, ông đã tập hợp một số bài đã viết của mình về những vấn
đề này trong công trình Việt ngữ nghiên cứu [87].
Tiếp đó là các bài nghiên cứu của nhiều tác giả khác đăng trên một số
báo, tạp chí đương thời như: Tiếng Việt ngày nay của Nguyễn Hiến Lê (Bách
Trang 7
(1) Những ví dụ dẫn trong luận án có nhiều lỗi sai sót về cách chấm câu, viết hoa, chính
tả, dùng từ, diễn đạt,… nhưng chúng tôi xin được phép trích nguyên như trên báo để đảm bảo tính khách quan của tư liệu.
khoa 1957), Báo chí hôm qua của Nguyễn Ngu Í (Bách khoa 1966), Những
khám phá mới về Gia Định Báo của Phạm Long Điền (Bách khoa 1974) v.v
Năm 1972, lớp hàm thụ báo chí Thời nay (SG) ấn hành bộ giáo trình
nghiệp vụ báo chí của nhiều tác giả Các tài liệu dù sơ lược (mỗi tài liệu dàykhoảng 20 trang in roneo) nhưng là những chỉ dẫn rất cụ thể trong việc viếttin, làm báo Lê Trang nói về cách làm đẹp trang báo như sau [170, tr.20]: (3) Tờ báo giống như một người đàn bà Mỗi ngày người đàn bà cố trang sức
cho đẹp để làm vui lòng người đàn ông Nàng phải là người có tính tình thuần hậu, không thay trắng đổi đen, lời nói của nàng có thể tin cậy được, nhưng nàng phải là một người bạn đường linh hoạt, để người đàn ông không buồn chán Nàng phải biết hết mọi chuyện, từ nhỏ đến lớn nhưng không phải nhiều chuyện Người đàn bà dùng phấn son để tô điểm cho vẻ đẹp của mình, che giấu những tì vết xấu xa Nhưng nàng phải biết cách làm đẹp để người ta thích nhìn chứ không thì càng lố bịch Nàng ăn mặc sao cho tươi mát, ưa nhìn Lòe loẹt quá làm cho người ta nghi ngờ đức tính của mình, thiếu sự kính trọng Nhưng một người con gái phục sức luộm thuộm quá thì không được người đàn ông nhìn đến lần thứ hai - và khó kiếm nổi một tấm chồng.
Năm 1977, Trường Tuyên huấn Trung ương xuất bản bộ Giáo trình
nghiệp vụ báo chí [180] Ngoài những phần mang tính lý luận chung, cuốn
sách còn hướng dẫn kỹ thuật viết bài ở một số thể loại
Tiếp sau đó, nhiều công trình nghiên cứu về báo chí của các nhà báo,các nhà nghiên cứu, giảng dạy đã được xuất bản: Nguyễn Trọng Báu [13],Huỳnh Văn Tòng [185], Hà Minh Đức [40] [41], Đức Dũng [32] [33], HoàngMinh Phương [120], Trần Hữu Quang [122] [123], Vũ Quang Hào [57],Nguyễn Tri Niên [115], Dương Xuân Sơn [137] [138] v.v
Nguyễn Trọng Báu (2001) với tác phẩm Biên tập ngôn ngữ sách và
báo chí [13] đã xem xét khá thấu đáo về chuẩn tiếng Việt ở các cấp độ ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp Trên cơ sở đó, tác giả này đã đưa ra những nguyên tắcbiên tập ở từng cấp độ ngôn ngữ và trong toàn bộ bản thảo
Trang 8Vũ Quang Hào (2001) trong tác phẩm Ngôn ngữ báo chí [57] đã đưa ra
những đặc điểm chung về ngôn ngữ chuẩn mực của báo chí, đặc điểm củaphong cách ngôn ngữ chính luận (PCNNCL), phong cách ngôn ngữ khoa học(PCNNKH), phong cách ngôn ngữ hành chính (PCNNHC), ba kiểu phongcách mà tác giả cho là báo chí thường sử dụng Phần còn lại cuốn sách trìnhbày về tên riêng, tít báo, thuật ngữ khoa học, Có thể nói đây là cuốn giáotrình nghiệp vụ báo chí đầu tiên đề cập đến nhiều vấn đề của NNBC
Năm 2003, trong cuốn Ngôn ngữ báo chí [115], Nguyễn Tri Niên đã
chỉ ra ba đặc điểm loại hình của NNBC và xem xét NNBC trong nhiều mốiquan hệ: quan hệ phản ánh, quan hệ đối xứng, quan hệ liên tưởng Nhữngquan hệ này được cụ thể hóa trong một số mô hình thông tin
Cũng phải kể đến tạp chí Nghề báo là tạp chí chuyên ngành của Hội
Nhà báo TPHCM với những trang chuyên đề nghiệp vụ thường kỳ đã nêu lênnhiều vấn đề rất thấu đáo về cách thức sử dụng ngôn ngữ trên báo
Như vậy, dưới góc nhìn này, trong khi đề cập đến tính chất của thôngtin báo chí, các tác giả đã khẳng định vai trò của NNBC và đề xuất những kỹthuật tác nghiệp đối với nhà báo như: việc lựa chọn sự kiện để đưa tin, cáchviết các kiểu bài, lối hành văn, sự chuẩn mực trong NNBC,…
2.1.2 Dưới góc nhìn của các nhà ngữ học, việc nghiên cứu NNBC,
trước hết, gắn liền với những thành tựu của phong cách học
Khởi đầu là công trình Giáo trình Việt ngữ - Tập 3 - Tu từ học [88] của
Đinh Trọng Lạc Tác phẩm đã đưa ra một số vấn đề nền tảng lý thuyết cho bộmôn Phong cách học (PCH): các khái niệm PC và PC chức năng; giá trị biểuđạt của các phương tiện tu từ ở cấp độ ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp,
Năm 1982, Phong cách học tiếng Việt [165] được ấn hành Cuốn sách đã
đề cập đến hai chức năng cơ bản của PC báo chí – tin tức, miêu tả những đặcđiểm của ngôn ngữ báo chí – tin tức và phân chia các thể loại văn bản báo chí
Trang 9Năm 1993, cuốn Phong cách học tiếng Việt [90] do Đinh Trọng Lạc chủ
biên ra đời Cuốn sách xác định rõ một số khái niệm của PCH, đề xuất cáchphân loại một bậc ra năm phong cách chức năng (PCCN) và miêu tả cụ thểtính chất, chức năng, các kiểu thể loại văn bản và đặc điểm ngôn ngữ của từngdạng PC Cuốn sách cũng đặt ra một số vấn đề về nghiên cứu và giảng dạyPCH trong nhà trường
Năm 2000, tác giả Hữu Đạt, trong cuốn Phong cách học và các phong
cách chức năng tiếng Việt [35], sau khi miêu tả đặc điểm của các PCCN tiếng
Việt, cũng đã đặt ra vấn đề chuẩn hóa chính tả ở phương diện sử dụng từ ngữtiếng nước ngoài trên các văn bản báo chí hiện nay
Gần đây, chuẩn hóa tiếng Việt trên các phương tiện thông tin đại chúng
là vấn đề cũng đã được các nhà Việt ngữ học đề cập khá nhiều trong các cuộchội thảo, trao đổi khoa học, trong các bài viết trên các báo, tạp chí Tiêu biểu
là các hội nghị do Viện Ngôn ngữ và Trung tâm biên soạn sách cải cách giáo
dục tổ chức trong các năm 1978 và 1979, cuộc hội thảo Các vấn đề chuẩn
ngôn ngữ sách và báo chí tiếng Việt do Phân viện Báo chí Tuyên truyền và
Hội Ngôn ngữ học VN tổ chức ngày 12/9/1997 tại Hà Nội, cuộc thảo luận về
Phiên chuyển từ ngữ nước ngoài sang tiếng Việt trên tạp chí Ngôn ngữ từ số 2
năm 2000 Kết quả là đã có rất nhiều tham luận, bài viết trình bày nhữngnghiên cứu cụ thể về NNBC và việc chuẩn hóa ngôn ngữ trên các phương tiệnthông tin đại chúng hiện nay
Đáng chú ý là quan điểm xem xét NNBC theo hướng “động”, “haichiều” Theo đó, những biến đổi của ngôn ngữ trên báo hiện nay không chỉ vìthực hiện chức năng đa dạng của nó đối với xã hội mà còn vì chịu sự tác độngnhiều mặt của thời đại đối với chính nó Từ đó, việc nghiên cứu NNBC đòihỏi một cách tiếp cận từ báo chí đến ngôn ngữ, xem xét việc sử dụng ngônngữ trên báo trong mối liên hệ với những nhu cầu khách quan của báo chí
Trang 10Hoàng Tuệ, trong bài viết Người giáo viên trước các vấn đề chuẩn hóa
tiếng Việt [168, tr.805], khi bàn về hoạt động ngôn ngữ cũng đã xác định báo
chí hiện nay thuộc phạm vi thông tin đại chúng và theo hướng phát triểntương lai, nó sẽ thuộc phạm vi giao tiếp khoa học - kỹ thuật
Trịnh Sâm, trong bài viết Đặc trưng ngôn ngữ của phong cách báo chí
trong thời đại thông tin [133, tr.195-209] đã đặt ra hướng tiếp cận trên bình
diện ngoại tại của ngôn ngữ Theo tác giả này, mối tương quan giữa thời đại
và ngôn ngữ trong thời đại thông tin, kinh tế, xã hội như hiện nay được thểhiện tiêu biểu trong NNBC Và để đánh giá đúng những tác động cả tiêu cựclẫn tích cực của thời đại đối với ngôn ngữ thì cần chú ý đến “những đặc trưng
về mặt cấu trúc và ngữ dụng của tiếng Việt” hiện nay
Năm 2007, cuốn Ngôn ngữ báo chí – Những vấn đề cơ bản [31] ra mắt
bạn đọc Cuốn sách được viết trên cơ sở những bài giảng từ nhiều năm của tácgiả về một số vấn đề cơ bản của NNBC như: đặc điểm của NNBC, cấu trúccủa một bài tin, một số kỹ thuật liên quan đến cách viết đúng tiếng Việt, cáchviết mạch lạc, có hiệu quả để truyền tải được thông tin
Như vậy, ở góc độ này, NNBC đã được xem xét trên các phương diện:
- Khảo sát các hiện tượng ngôn ngữ trên các báo xưa và nay,
- Đề ra những yêu cầu viết hay, viết đúng đối với ngôn ngữ trên báo,
- Xây dựng một số vấn đề lý luận chung về PCNNBC như: xác lập vàmiêu tả các đặc điểm của PCNNBC, miêu tả đặc điểm các phương tiện diễnđạt, phân chia các thể loại văn bản báo chí (VBBC),
Đây có thể xem là cơ sở soi rọi cho việc nghiên cứu những vấn đề lýluận và thực tiễn sử dụng ngôn ngữ trên các báo, tạp chí hiện nay
2.2 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ báo chí SG-TPHCM
Trong xu thế chung, việc nghiên cứu NNBC SG-TPHCM cũng đangthu hút được sự quan tâm của nhiều học giả
Trang 11Sài Gòn là chiếc nôi của báo chí VN với tờ GĐB ấn hành số đầu tiênngày 15/4/1865 GĐB mỗi số có 4 trang là tờ báo nhà cầm quyền Pháp chủtrương, do Ernset Potteaux làm Chánh Tổng Tài Lúc đầu, GĐB thuần làCông vụ gồm: dụ, nghị định, chỉ thị, thông tư, biên bản Hội Đồng QuảnHạt Từ năm 1869, Trương Vĩnh Ký được cử làm Chánh Tổng Tài, tờ báo cóthêm phần Tạp vụ gồm: lời rao, tin tức, trả lời cho các đương đơn, án HộiĐồng xét lại Về sau phần Tạp vụ phát triển với nhiều chuyên mục vừa manglại những thông tin, kiến thức về khoa học tự nhiên và kỹ thuật, vừa đáp ứngnhu cầu thông tin, giải trí, thẩm mỹ cho độc giả đương thời.
Tiếp đó, những tờ báo sớm nhất cũng được ấn hành ở SG: Phan Yên
Báo (1868), Nhật Trình Nam Kỳ (1888), Thông Loại Khóa Trình (1898), Nông Cổ Mín Đàm (1901), Lục Tỉnh Tân Văn (1907), Nam Kỳ Địa Phận
(1908) v.v
Nghiên cứu về NNBC SG - TPHCM phải kể đến công trình đầu tiên là
Những bước đầu của báo chí, truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ mới [161] của
Bùi Đức Tịnh xuất bản lần đầu vào tháng 2 năm 1975 Cuốn sách giới thiệu
một số tờ báo như GĐB, Nông Cổ Mín Đàm (NCMĐ), Phan Yên Báo (PYB),
Lục Tỉnh Tân Văn (LTTV) Nhận xét sơ lược của tác giả về cách diễn đạt
trong một số bài báo phần nào cho ta thấy đặc điểm hành văn của báo chí buổiđầu
Nguyễn Quang Thắng trong Tiến trình văn nghệ miền Nam [142] đã
xem xét vai trò của một số tờ báo thời kỳ đầu Theo ông, các tờ GĐB, PYB,NCMĐ, LTTV đã làm khởi sắc cho đời sống chính trị, văn hóa ở Nam Kỳ: cổđộng tân học, truyền bá quốc ngữ, là diễn đàn cho các nhà trí thức bấy giờ
Sài Côn cố sự [44] là tác phẩm đề cập đến một số sự kiện và nhân vật
trên báo chí SG thời kỳ 1930-1975 Phân tích của tác giả Bằng Giang về đề
Trang 12tài, thể loại, cách viết trên một số bài báo cho ta thấy vai trò của báo chí trongviệc "hướng dẫn dư luận" và "tạo thuận lợi cho sự thống nhất ngôn ngữ".
Năm 2001, cuốn Mấy vấn đề về tiếng Việt hiện đại [177] được ấn hành.
Đây là công trình nghiên cứu của một nhóm cán bộ giảng dạy Trường Đại họcKhoa học & Xã hội Nhân văn TPHCM về các vấn đề: chính sách ngôn ngữ,chuẩn hóa ngôn ngữ, vay mượn ngôn ngữ, xu hướng phát triển của từ vựng,
cú pháp tiếng Việt v.v Nhiều nhận xét rất xác đáng như: Báo chí đã tạo điềukiện thuận lợi trong việc thống nhất phương ngữ Nam Bộ và tiếng SG, việc sửdụng danh ngữ phức hợp trong NNBC hiện nay là một trong những nét mớicủa cú pháp tiếng Việt v.v
Tháng 12 năm 2002, tại cuộc hội thảo Bảo tồn và phát huy di sản văn
hóa phi vật thể trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh do Trung tâm Khoa học
và Xã hội Nhân văn TPHCM chủ trì tổ chức Một số tham luận lấy đối tượngnghiên cứu là báo chí ở SG-TPHCM Nguyễn Đức Dân trên cơ sở phân tíchcách viết trong một số bài ở GĐB, so sánh với cách viết ở báo chí Bắc Kỳ đãđưa ra những nhận xét bước đầu về đặc trưng của NNBC SG-TPHCM Theoông, điều làm nên những đặc trưng của NNBC SG-TPHCM trước hết là cáchviết, "viết câu ngắn và bài ngắn", và sau nữa là cách tổ chức bài vở, "nhiềubài tin hơn, ít những bài "thuyết" dài dòng, nhiều bài mang tính "đối thoại"phản ánh tính cách và khí phách của người Nam Bộ…"[175, tr.145]
Cũng trong thời gian này, cuộc hội thảo Bảo vệ và phát triển tiếng Việt
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được tổ chức tại Trường
Đại học Khoa học và Xã hội Nhân văn TPHCM do Hội Ngôn ngữ họcTPHCM chủ trì Nhiều báo cáo tham luận tại hội nghị đã chỉ ra những cáchdiễn đạt có tác dụng làm tăng hiệu quả chuyển tải thông tin
Trang 13Trong hai năm 2006 và 2007, có nhiều công trình đặc biệt quan tâmđến NNBC SG-TPHCM với sự tham gia của các nhà Việt ngữ học hàng đầu.Đáng chú ý nhất là các công trình sau:
- Ngôn ngữ báo chí Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ đầu
(1865-1930) [193] Đây là công trình nghiên cứu khoa học của Viện Khoa
học Xã hội Vùng Nam Bộ Nhiều vấn đề đặt ra được xem xét trên các bìnhdiện đồng đại và lịch đại Qua đó, ta hình dung được sự tiến triển của NNBCSG-TPHCM qua các thời kỳ, đặc điểm của NNBC SG-TPHCM nói chungcũng như đặc điểm ngôn ngữ trên một số tờ báo tiêu biểu
- Ngôn ngữ báo chí ở thành phố Hồ Chí Minh – Quá khứ, hiện trạng
và xu hướng phát triển [136] Đây là đề tài nghiên cứu khoa học của Sở Khoa
học và Công nghệ TPHCM Từ việc xác định vai trò, đặc điểm của báo chí(tính thời sự và hấp dẫn), tác giả Nguyễn Đức Dân đã chỉ ra những đặc điểmcủa ngôn ngữ báo chí (tính chính xác, hấp dẫn và ngắn gọn) Trọng tâm làphần trình bày của tác giả về cấu trúc khuôn tin và cách viết một bài tin, tiêu
đề và đề dẫn, thông tin chìm trong báo chí, cách diễn đạt hay và đúng phongcách trong một bài báo v.v
- Mấy vấn đề bảo vệ và phát triển tiếng Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa [135] Đây là công trình nghiên
cứu của Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM năm 2006 Từ những nghiêncứu cụ thể về hiện trạng sử dụng tiếng Việt trên một số văn bản hành chính,báo chí, quảng cáo tại TPHCM, các tác giả đã đưa ra nhiều ý kiến đề xuất choviệc bảo vệ và phát triển tiếng Việt hiện nay
Năm 2006, cuốn Gia Định Báo – Tờ báo Việt ngữ đầu tiên được ấn hành Theo các tác giả, "Gia Định Báo có thể xem là bức phát thảo sinh động
của tiếng Việt, đặc biệt là tiếng Việt ở Nam Kỳ, trong gần 50 năm 1910) trên nhiều bình diện: chính tả, từ vựng, cú pháp, phong cách" [178,
Trang 14(1865-tr.176]; "về cơ bản, ngôn ngữ trong Gia Định Báo gọn gàng, sáng sủa, giản dị
và rất gần với tiếng Việt hiện đại" [178, tr.166]; những thành tựu của GĐB,
"kể cả những thành tựu về ngôn ngữ”, vẫn còn giá trị cho đến ngày nay
Năm 2007, tái bản cuốn Tìm hiểu lịch sử chữ Quốc ngữ [191], tác giả
Hoàng Xuân Việt cũng nhắc đến vai trò rất lớn của GĐB và báo chí nói chungtrong thời kỳ đầu Nghiên cứu của tác giả này cho biết văn phong của báo chílúc này "đơn sơ, mộc mạc như lời nói hàng ngày", "giọng văn rất bình dân vàtrơn tuột như lời nói"
Cũng trong năm 2007, Nhà xuất bản Tổng hợp TPHCM ấn hành cuốn
Báo chí ở thành phố Hồ Chí Minh [169] Cuốn sách là một trăm câu hỏi đáp
về báo chí SG-TPHCM Đôi chỗ đã đề cập đến vai trò của báo chí trong việctruyền bá chữ quốc ngữ, về các thể loại, và cách hành văn trên một số tờ báo
Trong một bài viết gần đây trên tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống (số
12-2008), nhìn từ hoạt động báo chí ở TPHCM, tác giả Trịnh Sâm đã đúc kết một
số đặc điểm nổi bật (trên các bình diện ngôn ngữ) của báo chí hiện đại trong
kỹ thuật làm báo và tổ chức thông tin [134]
Điểm qua các tài liệu trên, ta thấy NNBC SG-TPHCM đã được nghiêncứu ở nhiều phương diện: vai trò đối với việc truyền bá và phát triển tiếngViệt, văn phong báo chí thời kì đầu, khả năng chuyển tải thông tin, một số đặcđiểm về chính tả, từ vựng, ngữ pháp,…Những kết luận có được rất xác đáng,các ngữ liệu đã công bố có giá trị tham khảo cao, gợi mở nhiều hướng nghiêncứu tiếp tục
Nhìn chung, cho đến nay các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ trênbáo chí Việt ngữ là chưa nhiều Các tài liệu PCH đã có cũng chỉ đặt ra nhữngvấn đề cơ bản, có tính khái quát về đặc điểm của PCNNBC trong hệ thốngcác PCCN tiếng Việt Những vấn đề lý luận mang tính nền móng này, trải quagần nửa thế kỷ, trước sự phát triển vượt bậc của báo chí hiện nay, tất nhiên rất
Trang 15cần có sự kiểm nghiệm và bổ sung từ thực tiễn Một số bài viết, luận văn, luận
án gần đây lấy đề tài từ ngữ liệu thực tế trên báo cũng chỉ đề cập đến nhữngvấn đề riêng lẻ Trong tình hình chung này, việc nghiên cứu ngôn ngữ trênbáo ở SG-THCM cũng vậy, hầu như chưa có một công trình nào cho ta mộtcái nhìn bao quát về đặc điểm NNBC SG-TPHCM Những kiến giải trongluận án hy vọng là sẽ bổ sung phần nào những khiếm khuyết này
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN ÁN 3.1 Đối tượng nghiên cứu
NNBC hiện nay được thừa nhận là ngôn ngữ dùng trong các văn bảnbáo chí dưới những dạng tồn tại trên các phương tiện in ấn (báo viết), phátthanh (báo nói), truyền hình (báo hình) và trên internet (báo điện tử) Nhưngđối tượng nghiên cứu của luận án chủ yếu là ngôn ngữ trên báo viết Việt ngữ
ở SG trước năm 1975 và ở TPHCM hiện nay
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng xem xét đến một
số cứ liệu ngôn ngữ trên báo chí ở một vài địa phương khác nhằm đối chiếu,
so sánh để làm rõ hơn những vấn đề có liên quan
3.2 Nhiệm vụ của luận án
Đề tài của luận án là khá rộng, đặt ra nhiều thách thức đối với ngườiviết Thật không dễ để có thể đưa ra một cái nhìn vừa bao quát lại vừa cụ thểtrên tất cả các bình diện của ngôn ngữ trong lĩnh vực giao tiếp báo chí Dovậy, nhiệm vụ của luận án chủ yếu nghiên cứu một số đặc điểm làm nên sựkhác biệt của phong cách NNBC với các phong cách khác, cụ thể là:
- Chỉ ra những đặc điểm về chính tả, về viết tắt và viết hoa tên riêng, vềcách phiên chuyển từ ngữ tiếng nước ngoài trên báo chí Việt ngữ qua các thời
kì Ngữ liệu của chúng tôi cho thấy đây là những vấn đề nổi trội, rất đáng xemxét, đặc biệt là đối với ngữ âm và chữ viết tiếng Việt cách đây gần 150 năm
Trang 16- Khảo sát các lớp từ vựng (từ toàn dân, từ địa phương, từ cổ, từ mới, từHán Việt, từ thuần Việt, ) để thấy được sự phong phú, sự phát triển của từvựng tiếng Việt cùng với tính năng động, sáng tạo của giao tiếp báo chí trongviệc chọn lựa từ ngữ để chuyển tải thông tin.
- Xem xét cách lựa chọn và tổ chức câu trong văn bản báo chí Câutrong giao tiếp luôn là những thông tin hai chiều (hướng đến các nhân vậtgiao tiếp) Tin tức, sự kiện trên báo chí không chỉ mang tính mới mà còn phải
là những thông tin hấp dẫp, lôi cuốn và có giá trị định hướng cho người đọc
Do vậy, câu trong giao tiếp báo chí rất đa dạng, có nhiều kiểu câu đặc trưng,nhiều biểu thức dẫn tin độc đáo
- Mô tả cấu trúc của một văn bản báo chí nói chung, đồng thời phântích biểu hiện cụ thể của nó trong khi hành chức ở một số thể loại
Các đặc điểm được xác lập không phải dựa trên tiêu chí đối lập có(+)/không (-) mà dựa vào độ đậm/không đậm (nhạt) Điều này phản ảnh tìnhhình thống nhất trong thế đa dạng của tiếng Việt, nhất là ở giai đoạn hiện nay
Nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành trên cả hai phương diện đồngđại và lịch đại Như nhà ngôn ngữ học lừng danh Ferdinand de Saussure đãviết: “Trên thực tiễn, một trạng thái ngôn ngữ không phải là một điểm, mà làmột khoảng thời gian khá dài trong đó tổng số những sự biến hóa xảy ra là hếtsức nhỏ Đó có thể là mươi năm, một thế hệ, một thế kỷ hay hơn nữa”[129,tr.178] Mặt khác, sự phát triển của báo chí Việt Nam nói chung và báo chíSG-TPHCM nói riêng đã có bề dầy gần 150 năm Cho nên, để lý giải đượcnhiều hiện tượng ngôn ngữ trên báo hiện nay, không thể không xem xét cácngữ liệu ngay từ buổi đầu cũng như qua các thời kì phát triển của báo chí
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU
Trang 17Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu như trên đã đặt ra một thách thứcrất lớn cho người viết về phương pháp nghiên cứu, cách xử lý nguồn tư liệu,
và hướng tiếp thu, kế thừa thành tựu của những nghiên cứu đã có trước đây
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài những thao tác cơ bản như quan sát, sưu tập, lập luận theo cáchướng quy nạp, diễn dịch, luận án chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Trong luận án, các đối tượng đượcthống kê, phân loại là những đơn vị từ tắt, các lớp từ ngữ, các kiểu câu, kiểuthể loại văn bản Các đối tượng thống kê được phân loại theo nhóm, các sốliệu được phân tích theo tần suất, tỷ lệ nhằm tìm ra sự nổi trội của một yếu tố
và mối liên hệ giữa các đối tượng
- Phương pháp đối chiếu: Các đối tượng khảo sát được chúng tôi sosánh, đối chiếu trên bình diện cấu trúc, hệ thống và trong các phạm vi hànhchức của chúng Khi đối chiếu chúng tôi đặt đối tượng để xem xét hiện trạngcủa nó trên các tờ báo cùng thời kì, đồng thời cũng so sánh với các thời kìkhác; từ đó các kết luận vừa mang tính cụ thể, vừa có thể khái quát Chẳnghạn, khi xem xét việc sử dụng kiểu câu, độ dài ngắn của câu trên các báo hiệnnay, so sánh với cách diễn đạt của câu trên các báo thời kì đầu, ta sẽ có mộtcái nhìn rõ hơn về về tính chính xác, ngắn gọn của thông tin trên báo
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng: đây làphương pháp đặc trưng rất quan trọng trong việc miêu tả đối tượng trên cácbình diện để xác định đặc điểm của ngôn ngữ báo chí, trong việc phân tíchcác mô hình diễn đạt mang tính khuôn mẫu, trong việc giải thích cấu trúc củacác kiểu thể loại văn bản trên báo hiện nay
- Phương pháp mô hình hóa: việc xây dựng, xác lập các mô hình, bảngbiểu có thể cho ta cái nhìn khái quát về hàng loạt đối tượng cùng loại Điềunày càng cần thiết đối với nguồn ngữ liệu phong phú, đa dạng Hơn nữa, trong
Trang 18thời đại bùng nổ thông tin hiện nay (và kể cả yêu cầu của tòa soạn), rất nhiềuthông tin được lập ngôn theo một công thức quen thuộc Đặc biệt là, các bàibáo hiện nay đang được tổ chức theo đặc trưng khuôn mẫu của từng thể loại
Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp được vận dụng kết hợp;
có khi tùy vào từng nội dung nghiên cứu, tùy vào từng đối tượng cụ thể mà sửdụng ưu tiên một phương pháp thích hợp
4.2 Nguồn tư liệu
Tư liệu của luận án sử dụng chủ yếu từ ngữ liệu trên các báo và tạp chíxuất bản ở SG và TPHCM do chúng tôi sưu tầm được Theo thống kê chưađầy đủ của chúng tôi, số lượng báo và tạp chí xuất bản ở SG và TPHCM tínhđến nay có khoảng 800 tờ [x.phụ lục], cụ thể qua các giai đoạn như sau:
- Sử dụng ngữ liệu ở tất cả các giai đoạn khi cần xem xét một vấn đềnào đó trên phương diện lịch đại, chẳng hạn để xem xét lịch sử nghiên cứu,đặc điểm của NNBC SG-TPHCM qua các thời kì
- Sử dụng ngữ liệu ở một giai đoạn nào đó khi xem xét một vấn đề trênphương diện đồng đại, chẳng hạn sử dụng ngữ liệu từ năm 1976 đến nay đểxem xét những đặc điểm chung của NNBC hiện nay
Trang 19- Trong mỗi giai đoạn chỉ chọn ra một số tờ báo tiêu biểu để khảo sátngữ liệu Các ngữ liệu được đối chiếu chủ yếu trên mốc thời gian trước và sau
1975, đặc biệt là giữa báo chí SG thời kì đầu với báo chí ở TPHCM hiện nay
- Xuất xứ của nguồn ngữ liệu từ các báo được chú thích rõ theo tên báo
và ngày tháng năm xuất bản, ví dụ: (Trung Lập - 08/5/1930)
- Số lượng các tờ báo làm nguồn ngữ liệu chính, danh mục tài liệu thamkhảo và một số hình ảnh, bài báo,… được chúng tôi liệt kê chi tiết ở phụ lục
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Khi chọn đề tài này, luận án hướng đến các trọng tâm sau:
Về mặt lý luận, trên cơ sở tham khảo các thành tựu đã có, luận án sẽđúc kết những ý kiến nghiên cứu về NNBC Trong quá trình kiến giải từngvấn đề, thông qua những xử lý cụ thể, luận án góp thêm tiếng nói nhằm xácđịnh rõ hơn đặc điểm của PCNNBC, nhất là những vấn đề đang chịu sự chiphối rất lớn của tính chất thời đại như: tác động của tâm lí công nghiệp, tácđộng của NNBC trong việc chuẩn hóa tiếng Việt hiện nay v.v Mặt khác,những nhận định của chúng tôi về đặc điểm ngôn ngữ trên báo chí ở mộtthành phố có bề dày về lịch sử và thành tựu cũng sẽ góp phần chỉ ra nhữngquy luật trong hoạt động giao tiếp báo chí nói chung
Về mặt thực tiễn, trên cơ sở khảo sát diện mạo ngôn ngữ trên báo chí ởSG-TPHCM, luận án sẽ có những đóng góp thiết thực cho việc định hướng sửdụng NNBC, một mặt theo yêu cầu giao tiếp nói chung, mặt khác có chú ýđến cái riêng của tiếng Việt trong giao tiếp có tính chất vùng miền như ở SG-TPHCM Cụ thể là những đề nghị về cách dùng từ, viết câu, tổ chức văn bảnsao cho chuyển tải được nội dung thông tin một cách tốt nhất Những lỗi diễnđạt được chỉ ra từ các trang báo cũng sẽ có giá trị tham khảo cho tác giả vàngười biên tập để có thể nâng cao chất lượng của tờ báo Ngoài ra, những vấn
Trang 20đề lý luận mà luận án đúc kết, những hiện tượng thực tế trên báo được nêu ra,cùng những ngữ liệu phân tích thiết tưởng sẽ có giá trị tham khảo cho việcviết lịch sử báo chí tiếng Việt nói chung, báo chí SG-TPHCM nói riêng, cũngnhư cung cấp một số lưu ý bổ ích cho những ai quan tâm đến đề tài.
6 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, chính văn của luận
án có dung lượng 196 trang gồm Mở đầu, Kết luận và ba chương nội dung
Phần Mở đầu (20 trang) trình bày lý do chọn đề tài, đối tượng và phạm
vi nghiên cứu, lịch sử nghiên cứu vấn đề, phương pháp nghiên cứu và nguồn
tư liệu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, bố cục luận án
Chương một (52 trang) trình bày một số vấn đề chung là những tiền đề
lý luận về phong cách ngôn ngữ báo chí Sau khi đúc kết những thành tựu củaphong cách học trong việc nghiên cứu các phong cách chức năng ngôn ngữ,chúng tôi sẽ điểm qua đặc trưng của phong cách ngôn ngữ báo chí Cũng ởchương này, thể loại văn bản báo chí được xem xét một cách đáng kể vì tínhthời sự và phức tạp của vấn đề
Chương hai (69 trang) và Chương ba (51 trang) là phần khảo sát nhữngngữ liệu cụ thể trên một số báo, tạp chí ở SG-TPHCM Chương hai trình bàynhững đặc điểm của NNBC trên các bình diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp.Chương ba trình bày những đặc điểm về cách thức tổ chức văn bản cụ thể ởmột số thể loại như tin, bình luận, tiểu phẩm v.v
Phần Kết luận (4 trang) tổng kết nội dung của luận án, nêu lên nhữngkết quả đã thu hoạch được trong quá trình thực hiện đề tài và một vài hạn chế
mà vì nhiều lí do chúng tôi chưa giải quyết một cách triệt để
Trang 21Phụ lục gồm 3 phần: (i) Danh mục báo chí Việt ngữ ở Sài Gòn – Thànhphố Hồ Chí Minh; (ii) Danh mục báo chí Việt ngữ ở Thành phố Hồ Chí Minhhiện nay; (iii) Một số tài liệu trên báo chí Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh.
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 PHONG CÁCH HỌC VÀ VIỆC NHẬN DIỆN PHONG CÁCH NGÔN NGỮ BÁO CHÍ
1.1.1 Vài nét về phong cách học
Phong cách học (PCH) là bộ môn đã có từ rất lâu trên thế giới với têngọi ban đầu là Thuật tu từ (rhetoric) Nhưng chỉ đến đầu thế kỷ XX, với côngtrình “Khảo luận về phong cách học tiếng Pháp” (1909) của Ch Bally nó mớithật sự được khẳng định là một ngành học độc lập với nhiệm vụ nghiên cứucác sự kiện biểu đạt của ngôn ngữ ở mặt nội dung biểu cảm của chúng Vớikhảo luận này, Ch Bally là người đã đặt nền móng cho PCH hiện đại
Khoảng mười năm sau Ch Bally, chịu ảnh hưởng của trường phái duytâm Đức, L Spitzer đã đưa ra quan điểm: ngôn ngữ chỉ tồn tại trong lời nói cánhân, do vậy mà ngôn ngữ là sự sáng tạo của cá nhân Theo quan điểm này,PCH hướng đến nghiên cứu hai yếu tố: những thói quen sử dụng ngôn ngữ
mà cá nhân ưa thích và lời nói cá nhân trong những hoàn cảnh nhất định.Quan điểm của L Spitzer có ảnh hưởng tích cực đến các nhà PCH phê bìnhcùng thời Nó cũng đặt ra một hướng nghiên cứu mới: nghiên cứu mối quan
hệ giữa chức năng và cấu trúc ngôn ngữ Mà sau này, R Jakobson (1896 1982) đã đề xướng lý thuyết về PCH chức năng – cấu trúc, có ảnh hưởng sâurộng đến giới ngôn ngữ học
Trang 22-Trong cuốn Khảo luận về ngôn ngữ học đại cương (1960), R Jakobson
đã dành trọn chương cuối để bàn về PCH Về sau, trong bài viết Ngôn ngữ và
thi ca (1963), R Jakobson tiếp tục trình bày rõ các nhân tố của sự kiện biểu
đạt, quan hệ giữa các nhân tố và chức năng của chúng Các nhân tố được
chính tác giả biểu diễn trong lược đồ sau:
BỐI CẢNHNGƯỜI GỬI ………… THÔNG ĐIỆP ……… NGƯỜI NHẬN
TIẾP XÚCMÃMột thông điệp muốn đến được với người nhận trước hết phải có bốicảnh (được người nhận lĩnh hội); kế đến, thông điệp phải được kí mã chungcho cả người gửi và người nhận; cuối cùng, thông điệp đòi hỏi phải có mộtđường kênh và một sự tiếp xúc (tiếp cận tâm lí giữa người gửi và người nhận)
để xác lập và duy trì sự giao tiếp Tương ứng với các nhân tố đó là các chức năng cơ bản của sự giao tiếp ngôn ngữ cũng được chính tác giả biểu diễn
Quan điểm của Jakobson đã mở ra hướng nghiên cứu mới, không chỉbằng kinh nghiệm, không chỉ theo cách mô tả cấu trúc, hệ thống mà ngôn ngữhọc trước đó đã làm Từ đây, mọi sự kiện biểu đạt cần được xem xét trong
Trang 23nhiều mối quan hệ liên nhân, liên văn bản Quan điểm này đã gợi mở nhiềuhướng giải thuyết văn bản về sau
Ở Liên Xô, PCH bắt đầu thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học tiếng
tăm từ sau sự kiện tranh luận trên tạp chí Những vấn đề ngôn ngữ học (1954).
PCH được nghiên cứu một cách có hệ thống, từ việc nghiên cứu có tính
"nguyên tử luận" và chỉ "xác nhận" những hiện tượng tu từ học riêng lẻ,người ta đã chuyển sang việc nghiên cứu có phân biệt, có hệ thống và sâu sắccác PC và các phạm trù tu từ học [176, tr.183] Các công trình nghiên cứuquan tâm đến những vấn đề như khái niệm PCCN, đối tượng nghiên cứu củaPCH, việc phân chia các loại PC,…
I Conteanu (1962) cho PCCN là những cách nói năng, những nhánhcủa ngôn ngữ được đặc trưng bằng những nét đặc biệt của giao tiếp nhằmphục vụ cho những ngành khác nhau của hoạt động xã hội
Theo V.V Vinogradov (1963), PCCN là sự tổng hợp mọi thủ pháp sửdụng, lựa chọn và kết hợp các phương tiện thông báo bằng lời, có ý thức vềmặt xã hội, có điều kiện về mặt chức năng và thống nhất nội tại trong lĩnh vựcngôn ngữ toàn dân, tương ứng với những phương thức biểu đạt khác nhau,phục vụ cho những mục đích khác nhau, thực hiện những chức năng khácnhau trong thực tiễn ngôn ngữ của một dân tộc nhất định
I.R Galperin (1973) chỉ ra đối tượng nghiên cứu của PCH gồm:
1 Khái niệm phong cách và phong cách học
2 Phong cách chức năng của ngôn ngữ như là những biến thể củangôn ngữ văn học
3 Các phương tiện diễn đạt đặc biệt của ngôn ngữ
4 Phong cách cá nhân của tác giả như là sự phối hợp, tổ chức đặc biệtcác phương tiện ngôn ngữ ở một nhà văn
Trang 245 Những hình thức đặc biệt của sự giao tiếp – thi pháp, những đặcđiểm hình thái và cấu trúc – nội dung của nó.
Ông chia PCH gồm 3 loại:
- PCH của ngôn ngữ chuyên khảo sát các PC chức năng ngôn ngữ
- PCH của lời nói khảo sát các thể loại và các dạng nói, viết cụ thể như:tranh luận, bài giảng, họp báo,…
- PCH của tác phẩm nghệ thuật có nhiệm vụ khảo sát các yếu tố của tácphẩm văn chương nghệ thuật
D.E Rozenthal (1977), nêu lên 8 ý kiến khác nhau trong việc phân loạicác phong cách chức năng và đề nghị cách phân loại sau [74, tr.100]:
Ở VN, PCH tiếng Việt được biết đến từ những năm 1960 với bộ môn
Tu từ học trong các giáo trình đại học như: Giáo trình tu từ học (Phan Cảnh,
1959), Khái luận tu từ học (Lê Anh Hiền,1961), Đề cương bài giảng về tu từ
học của ngôn ngữ văn học (Cù Đình Tú, 1962) Đến năm 1964, với Giáo trình Việt ngữ - Tập 3 - Tu từ học của Đinh Trọng Lạc thì bộ môn PCH mới
chính thức ra đời Từ đó đến nay, các công trình nghiên cứu về PCH tiếngViệt cũng đã đạt được nhiều thành tựu trên các mặt lý luận lẫn thực tiễn Cóthể kể đến một vài tác phẩm tiêu biểu như sau:
- Phong cách học tiếng Việt (Cù Đình Tú - Lê Anh Hiền - Nguyễn Thái
Hòa - Võ Bình, 1982) trình bày sự hoạt động của ngôn ngữ trong xã hội ở
Trang 25những phạm vi và chức năng khác nhau; phân loại và miêu tả các PCCN tiếngViệt hiện đại; miêu tả các phương tiện biểu hiện (trên bình diện ngữ âm, từvựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp) Cuốn sách là tập hợp quan điểm riêng của từngtác giả nên nhiều chỗ chưa thống nhất, gây băn khoăn cho độc giả.
- Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt (Cù Đình Tú, 1983) Đây
là tài liệu nghiên cứu công phu về PCH, phần lớn cuốn sách đi sâu miêu tảđặc điểm các phương tiện diễn đạt trên các bình diện của từng PCCN
- Phong cách học tiếng Việt (Đinh Trọng Lạc - Nguyễn Thái Hòa,
1993) xác định những khái niệm cơ sở, trình bày sự khác nhau của ngôn ngữnghệ thuật và ngôn ngữ phi nghệ thuật, miêu tả hệ thống PCCN tiếng Việttrong hoạt động lời nói, miêu tả các phương tiện tu từ và biện pháp tu từ.Hướng vào PCH hoạt động nên cuốn sách cũng đặt ra vấn đề ý nghĩa của việcgiảng dạy bộ môn PCH tiếng Việt trong nhà trường
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu khác và nhiều tài liệu, bàiviết trong các hội thảo, trên các tạp chí chuyên ngành Nhìn chung, cho đếnnay, PCH tiếng Việt đã đạt được những thành tựu chủ yếu sau:
- Xây dựng những khái niệm cơ bản của PCH tiếng Việt
- Xác lập một hệ thống các PCCN năng tiếng Việt
- Mở đường cho nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến các phạm vi PC
- Ứng dụng vào thực tiễn các thành tựu nghiên cứu như: định ra cácchuẩn mực trong hoạt động lời nói, khảo sát những hiện tượng cụ thể trongvăn bản, giảng dạy tiếng Việt thực hành trong nhà trường v.v
1.1.2 Việc nhận diện phong cách ngôn ngữ báo chí
Trong các tài liệu PCH, PCNNBC được thừa nhận khá muộn với nhiều
quan niệm khác nhau Mở đầu, Giáo trình Việt ngữ - Tập 3 - Tu từ học [88]
chia tiếng Việt gồm hai PC: PC khẩu ngữ và PCNN văn học PCNN văn học
Trang 26được chia tiếp thành năm PC, trong đó không thấy nói đến PCNNBC: PC thư
từ, PCNN hành chính, PC chính luận, PCNN khoa học, PCNN nghệ thuật
Hơn mười năm sau (1975), các tác giả Cù Đình Tú Lê Anh Hiền
-Nguyễn Nguyên Trứ trong cuốn Tu từ học tiếng Việt hiện đại căn cứ vào các
chức năng giao tiếp đã phân chia các PC như sau [165, tr.85]:
Năm 1982, cuốn Tiếng Việt trên đường phát triển [140] được xuất bản
nghiên cứu sự phát triển của tiếng Việt trên hai mặt: các chức năng xã hội vàcấu trúc nội bộ Trong phần trình bày những yêu cầu về giữ gìn sự trong sángcủa tiếng Việt ở phạm vi các PCCN, tác giả Nguyễn Kim Thản cũng đã nêulên các PCCN tiếng Việt bao gồm: PC khẩu ngữ, PC nghệ thuật, PC khoa học– chính luận, PC thông dụng Theo tác giả này PC thông dụng là sự hòa lẫnđặc điểm của ba PC trên, được dùng hằng ngày trong xã hội Còn PC khoahọc – chính luận là một thể thống nhất giữa PC khoa học và PC chính luận, và
"tất cả các sự kiện, những đòi hỏi về việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việtđều diễn ra chủ yếu ở phong cách khoa học – chính luận này" [140, tr.192].Như vậy, đến thời điểm này PCNNBC vẫn chưa được thừa nhận
Phải đến năm 1982, với công trình Phong cách học tiếng Việt [165],
PCNNBC mới được nhìn nhận, dù là vẫn có hai quan điểm khác nhau trongnhóm tác giả công trình này
Ngôn ngữ toàn dân
PC ngôn ngữ nghệ thuật PC ngôn ngữ trình bày
PC ngôn ngữ gọt giũa PC khẩu ngữ tự do
Trang 27Nguyễn Thái Hòa phân loại các PCCN tiếng Việt như sau [165, tr.36]:
Tiếng Việt toàn dânPhong cách khẩu ngữ
P/c nghệ thuật
Trong đó, thuộc về PC cổ động là các loại: khẩu hiệu, áp phích, biểuchương, quảng cáo, biển hàng; còn PC chính luận là một phong cách trunggian giữa hai loại PC khoa học và PC báo chí tin tức
Cù Đình Tú, trong phần dẫn luận, cho rằng tuy còn nhiều điểm chưathống nhất nhưng các nhà nghiên cứu đã thừa nhận có sự tồn tại của cácPCCNNN sau đây: PC khẩu ngữ sinh hoạt hàng ngày, PC gọt giũa (sách vở),
PC nghệ thuật (của tác phẩm văn học) và các PC bộ phận như: PC khoa học,
PC hành chính, PC chính luận [165, tr.26]
Năm 1983, trong công trình Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng
Việt, Cù Đình Tú đã chia các PCCN tiếng Việt như sau [166, tr.91]:
Tiếng Việt toàn dânPhong cách khẩu ngữ tự nhiên Phong cách ngôn ngữ gọt giũa
Trang 28Trong khi đó, Nguyễn Nguyên Trứ (1988), không xếp PC báo chí – tintức trong hệ thống các PCCN tiếng Việt, vì cho rằng "phong cách này cũngbao gồm nhiều phong cách phức tạp" Ông phân chia như sau [182, tr.18]:
PCngônngữhànhchính
PCngônngữchínhluận
PCngônngữvănchươngP.C KHẨU NGỮ
Năm 1993, cuốn Phong cách học tiếng Việt [90] do Đinh Trọng Lạc
chủ biên ra đời, được xem là "cái mốc mở đường" cho những vấn đề cơ bản
Trang 29của lý thuyết PCH Theo tác giả này, ở bình diện hệ thống ngôn ngữ ta có cáckiểu chức năng của ngôn ngữ: ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, ngôn ngữ phinghệ thuật và ngôn ngữ nghệ thuật "Ở bình diện hoạt động lời nói, ta có cácphong cách chức năng có tư cách bình đẳng với nhau, đều là những khuônmẫu, những chuẩn mực trong hoạt động lời nói để xây dựng (hoặc lĩnh hội)các lớp văn bản (hoặc phát ngôn) Có năm PCCN như vậy: PC hành chính –công vụ, PC khoa học – kỹ thuật, PC báo chí – công luận, PC chính luận và
PC sinh hoạt hàng ngày" [90, tr.56]
Phát triển quan điểm này, năm 2000, trong công trình Phong cách học
và các phong cách chức năng tiếng Việt [35], Hữu Đạt đã mở rộng hướng
phân chia các PCCN như sau [35, tr.95]:
(Các PC chức năng)
Như vậy, trong các tài liệu PCH tiếng Việt hiện nay tồn tại ba quan điểmkhác nhau đối với PCNNBC: không thừa nhận có PCNNBC, xếp chung
TIẾNG
VIỆT
Phong cách ngôn ngữ viết
PCHC công vụ
PC khoa học
PC chính luận
PC báo chí
PC văn học-nghệ thuật (sáng tác
VH, kịch bản VH)
PC khẩu ngữ
tự nhiên
Phong cách hội thảo
PC diễn xuất sân khấu, điện ảnh
Phong cách ngôn ngữ nói
Trang 30PCNNBC trong PC khác và thừa nhận có PCNNBC nhưng gọi tên theo nhiềucách khác nhau, chẳng hạn:
- Phong cách báo chí – tin tức (Nguyễn Thái Hòa, 1982)
- Phong cách thông tấn – báo chí (Nguyễn Nguyên Trứ, 1990), (Lê KhắcCường, 2007)
- Phong cách báo chí – công luận (Đinh Trọng Lạc, 1993)
- Phong cách thông tấn (Hồ Lê, 1994)
- Phong cách báo chí (Hữu Đạt, 2000), (Trịnh Sâm, 2001)
- …
Quan điểm của luận án về vấn đề này như thế nào sẽ được thể hiện rõtrong phần trình bày dưới đây
1.1.3 Vấn đề phân chia các phong cách chức năng tiếng Việt
Xuất phát từ những góc nhìn khác nhau, các công trình nói trên đã cónhiều hướng phân chia đối với hệ thống PCCN tiếng Việt, qua đó thể hiệnquan điểm thừa nhận/không thừa nhận PCNNBC Theo chúng tôi, các quanđiểm này chỉ căn cứ vào tiêu chí về cấu trúc, về chức năng mà chưa chú ý đếnkhía cạnh thực tiễn của vấn đề Trong thực tế, chỉ có thể thừa nhận một PCtrên cơ sở đã tồn tại 'đủ lớn' các kiểu loại văn bản thuộc PC đó Hơn nữa,cũng phải xét đến vai trò, nhiệm vụ của các kiểu loại văn bản đó Nói cáchkhác, văn bản thuộc PC đó phải phát huy được tác dụng trong phạm vi giaotiếp của nó Phần trình bày sau đây sẽ góp phần nhận diện rõ hơn sự tồn tạicủa PCNNBC trong hệ thống các PCCN tiếng Việt
Trong lịch sử phát triển tiếng Việt, có những chứng cứ cho phép ta xácđịnh được khởi điểm ra đời của các kiểu loại văn bản Từ đó, có thể xác địnhđược đâu là khoảng thời gian hình thành các PCCN tương ứng
Trang 31Hiện nay các văn bản viết cổ xưa nhất của tiếng Việt bằng chữ Nôm
được biết đến là các văn bản như: Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi (thế kỷ XV), Bạch Vân Am thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm (thế kỷ XVI) và một số
truyện Nôm khuyết danh Theo các nhà nghiên cứu, chữ Nôm được xuất hiện
từ thế kỷ XIII Từ đó cho đến cuối thế kỷ XIX có khá nhiều tài liệu, trước tácvăn chương được viết bằng chữ Nôm Thậm chí, dưới triều nhà Hồ, chữ Nômcòn được dùng để dạy học, dịch sách, sáng tác văn chương và dưới triều TâySơn được dùng trong thi cử, trong các văn từ, chiếu biểu suốt 24 năm (1788-1802) Tuy vậy, trong suốt thời gian đó, chữ Nôm không được phổ dụng nhưchữ Hán Cho đến khi chữ quốc ngữ xuất hiện và với sự cấm đoán của thựcdân Pháp thì chữ Nôm đã kết thúc vai trò thực tế của nó (từ năm 1920) nhưnggiá trị về lòng tự hào dân tộc và giá trị của những trước tác văn chương chữNôm thì không bao giờ mai một Rất nhiều tác phẩm thơ văn chữ Nôm củaNguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương v.v trở thành những kiệt tác củamọi thời đại
Như vậy, căn cứ vào thực tiễn giao tiếp, có thể nói tiếng Việt trong giaiđoạn đầu đã hình thành rất sớm hai PC: phong cách ngôn ngữ sinh hoạt(PCNNSH) và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (PCNNNT) Còn các phongcách khác chỉ có thể hình thành sau khi có sự xuất hiện của chữ quốc ngữ
Chữ quốc ngữ ra đời từ nửa sau thế kỷ XVII Các văn bản chữ quốcngữ cổ xưa nhất hiện còn lưu lại là một số văn bản viết tay của các giáo sĩ
Tây Âu sang VN truyền đạo từ năm 1620 đến 1650, Từ điển Việt - Bồ - La (1651) và Phép giảng tám ngày (1651) của A de Rhodes Đặc biệt là năm
1865, tờ báo quốc ngữ đầu tiên ra đời là tờ GĐB Từ đây, việc truyền bá chữquốc ngữ (với nhiều mục đích) được đẩy mạnh trên các phương tiện báo chí,trong các sáng tác văn chương, ở các văn tự hành chính, học thuật v.v
Trang 32Báo chí quốc ngữ đến đầu thế kỷ XX ở Nam Bộ đã có các tờ: Gia Định
Báo (1865), Nhật Trình Nam Kỳ (1883), Thông Loại Khóa Trình (1888), Phan Yên Báo (1898), Nông Cổ Mín Đàm (1901), Nhật Báo Tỉnh (1905), Lục Tỉnh Tân Văn (1907), Nam Kỳ Địa Phận (1908), Ở Bắc Bộ cũng xuất hiện
một số tờ báo như: Đại Việt Tân Báo (1905), Đăng Cổ Tùng Báo (1907),
Đông Dương Tạp Chí (1913), Nam Phong Tạp Chí (1917),…
Xét về toàn cục, các văn bản báo chí thời kỳ khởi đầu này chưa đủ đểhình thành một PCNN Về phạm vi giao tiếp, tờ báo sớm nhất là tờ GĐB độcdiễn trong suốt mấy mươi năm nhưng chủ yếu vẫn là công cụ của chính quyềnthuộc địa Các báo khác sau đó cũng thường xuyên đăng tải luật lệ, nghị địnhcủa chính quyền thuộc địa Tin tức thì không nhiều (còn được xem là phầncông vụ), các lời rao, quảng cáo phần đông là của hiệu buôn do người Pháplàm chủ Công chúng độc giả thì ít và đương nhiên số lượng xuất bản trongthời kỳ này là không nhiều Vai trò tác động của báo chí cũng rất hạn hẹp.Trương Ngọc Tường, Nguyễn Ngọc Phan nhận xét về báo chí thời kỳ này nhưsau: "Việc ấn hành báo chí trong giai đoạn đầu là còn mới mẻ nên gặp nhiềukhó khăn Số lượng độc giả không nhiều, quần chúng chưa hiểu lợi ích thiếtthực của báo chí, còn xem báo chí là mặt hàng xa xỉ Giá báo tương đối cao
và khó bán, chưa tác động đến quảng đại quần chúng" [169, tr.13] Tuy vậy,giá trị thực tiễn của NNBC trong thời kỳ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX– thời kỳ "chuyển mình" của tiếng Việt, chính là đã tạo nên một tiềm năng
PC Trong một công trình nghiên cứu mới đây, Bùi Khánh Thế nhận định:
"Tiềm năng của tiếng Việt có thể hành chức một cách linh hoạt, uyển chuyểnđáp ứng được những yêu cầu ngôn luận ở nhiều hoàn cảnh khác nhau củahoạt động truyền thông đại chúng đa dạng và phong phú hiện nay rõ ràng là
đã được bộc lộ từ giai đoạn chuyển mình của tiếng Việt" [193, tr.31]
Trang 33Phải đến năm 1945 trở đi, khi chữ quốc ngữ đã bắt đầu phổ cập rộngrãi trong cả nước, báo chí VN bước vào thời kỳ trưởng thành thì PCNNBCmới có đủ điều kiện để hình thành Đây là thời kỳ báo chí cả nước có nhiềutác động tích cực trên các lĩnh vực chính trị, xã hội và cả phương diện kỹthuật nghề nghiệp, thu hút sự quan tâm, tham gia của đông đảo công chúng(báo chí SG thời kỳ này có gần 200 đầu báo và tạp chí) Cũng nên nhắc đếnmột sự kiện góp phần xác định sự hình thành PCNNBC, đó là lớp học viếtbáo đầu tiên ở nước ta mang tên Huỳnh Thúc Kháng do Chủ tịch Hồ ChíMinh khai giảng ngày 4/4/1949 Hai bức thư của Người gửi cho lớp học đãchỉ rõ nhiệm vụ, mục đích, tôn chỉ, đối tượng của một tờ báo và những lời dặnquí báu trong việc viết tin
PCNNCL được hình thành sớm hơn do các văn bản chính trị - xã hội ởnhững thập niên đầu thế kỷ XX có một sứ mệnh lịch sử đặc biệt Theo LêQuang Thiêm, trong ba thập kỷ đầu thế kỷ XX đã xuất hiện một số lượngđáng kể những từ ngữ thể hiện những biến chuyển lớn lao của đời sống chínhtrị xã hội ở nước ta: "Trong lịch sử ngôn từ Việt Nam lần đầu trên văn bảnquốc ngữ tiếng Việt có một số lượng đáng kể từ ngữ xã hội chính trị mới vớinội dung mới hợp thời đại, được giới thiệu một cách có hệ thống, có hình thứccấu tạo hợp với cấu trúc tiếng Việt, có nhiều sáng tạo, ngắn gọn, dễ hiểu, gầngũi với quần chúng Bộ phận từ ngữ này cùng với cách thức giải thích diễnđạt đã thực sự góp phần tạo ra những diễn ngôn chính trị xã hội quốc ngữ hiệnđại có chất lượng ở Việt Nam ta thời bấy giờ"[156, tr.109] Đây là lớp từthường dùng trong các văn bản chính luận như báo cáo, tham luận chính trị,luận cương, điều lệ và trong các bài bình luận, xã luận trên báo chí lúc bấygiờ, đặc biệt là trong các văn kiện, báo chí cách mạng mà tiêu biểu là tác
phẩm Đường Kách mệnh (1927) của Nguyễn Ái Quốc.
Trang 34Tiếp sau PCNNCL là sự ra đời của PCNNKH Ngay từ đầu thế kỷ XX,trên một số báo chí Việt ngữ đã có các bài viết mang tính chất khoa học nhưnhóm bài phổ biến kiến thức vệ sinh, vạn vật, hóa học, vật lý v.v trong mụcThứ vụ trên GĐB, hay các bài phổ biến kinh nghiệm về chăn nuôi, trồng trọt,cách ăn uống v.v trong NCMĐ Tuy nhiên, văn phong, từ vựng, hình thứcvăn bản chưa theo phong cách khoa học được (dù chỉ là khoa học đại chúng).
Chẳng hạn một đoạn trong bài Dưởng phong pháp đăng trên báo NCMĐ (số
8, năm thứ nhất 1901) chỉ dẫn về cách nuôi ong như sau:
(4) "Hễ nuôi ong thì trông cho nhiều mật sáp, muốn mật sáp nhiều thì giống
cái phải nhiều, ong chúa phải lựa cho niên cường lực tráng Hèm vì trời sanh làm chúa, một nước chẳng hai vua Lúc già bớt để bớt sanh, lòng chẳng khẳng cho ai phụ bật Vậy nên trời mới định, hễ già yếu thì rẻ nước chia con, một phần ong trẻ theo với chúa già, tìm chốn khác để gây nên cơ nghiệp mới Còn nơi ở củ thì đợi nẻ chúa tơ, lựa phải mặt lên ngôi xây bồi nền củ”.
Cũng có một ít sách khoa học xuất bản cùng thời với báo chí giai đoạn
này nhằm phổ biến kiến thức như: Từ điển Việt - Bồ - La (A de Rhodes, 1651), Từ điển Annam – Latinh (J L Taberd, 1838), Sách Bác học sơ giải (Hùinh Tịnh Của, 1887), Đại Nam Quấc âm tự vị (Hùinh Tịnh Của, 1895),
Thông qua việc giải thích, việc minh định nội hàm và ngoại diên của một sốkhái niệm trong đời sống cùng với việc cung cấp tri thức khoa học, một sốthuật ngữ phổ dụng bắt đầu hình thành Theo tác giả Lê Quang Thiêm, đây là
"những yếu tố đầu tiên", "nhân tố mới" của từ vựng tiếng Việt hệ thuật ngữkhoa học: "Những yếu tố của hệ thuật ngữ khoa học được hình thành mộtcách tự phát trong những năm đầu thế kỷ được tiếp tục nổi rõ hơn trong vănbản báo chí quốc ngữ ở những thập kỷ hậu Đông Kinh Nghĩa Thục và đếnnhững năm 20 của thế kỷ thì đã có một diện mạo mới, những nhân tố mới hứahẹn một sự phát triển vượt bậc sau đó"[156, tr.80] Cũng theo tác giả này, chođến năm 1930, số lượng từ ngữ chuyên môn có đến hàng nghìn và được phânngành chuyên môn đa dạng, "được tiếp nhận, giới thiệu rải rác, lẻ tẻ mà chưa
Trang 35thành một tư trào chuyên môn có hệ thống, được xây dựng một cách có bànbạc khoa học tự giác chính thức như về sau này" [156, tr.90]
Cột mốc “sau này” chính là công trình khoa học Tự điển Hán Việt
(1932) của Đào Duy Anh: "Lần đầu tiên có nhiều thuật ngữ thuộc nhiều mônkhoa học khác nhau như vậy được nhận diện, giới thiệu trong từ điển tiếngViệt" [156, tr.186] Số thuật ngữ này được phân bố trên 33 chuyên ngànhkhác nhau được sử dụng trên các diễn ngôn thời bấy giờ Và sau đó là công
trình Danh từ khoa học (1942) của Hoàng Xuân Hãn: "Đóng góp lớn của
công trình này không chỉ ở vốn thuật ngữ một số ngành khoa học cơ bản lầnđầu tiên được xây dựng cấu tạo mà còn là lí luận về hệ thuật ngữ, về nguyêntắc và phương pháp xây dựng hệ thuật ngữ tiếng Việt hiện đại" [156, tr.190]
Có thể nói, về mặt thực tiễn khoa học, với sự ra đời của Tự điển Hán
Việt (1932) của Đào Duy Anh, Danh từ khoa học (1942) của Hoàng Xuân
Hãn, và sau này, về mặt quan điểm lý luận, với sự ra đời của Đề cương văn
hóa Việt Nam (1943) do Trường Chinh biên soạn cùng với chính sách đưa
tiếng Việt vào dạy học, thi cử trong nhà trường phổ thông (một tuần sau ngàyTuyên bố độc lập 2/9/1945), thì PCNNKH của tiếng Việt đã được hình thành
PCNNHC của tiếng Việt chỉ xuất hiện từ sau tháng 9 năm 1945 Mặc
dù dưới thời Quang Trung, chữ Nôm được dùng trong hầu hết các văn kiệnhành chính nhưng chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, trong một không gianhẹp Mặt khác, hình thức, văn phong, từ vựng ở các văn bản này chưa đủ đểkhẳng định được một phong cách Ví dụ sau trong lời chiếu của vua QuangTrung gửi cho La Sơn Phu Tử ta sẽ thấy rõ điều này [Dẫn theo TL177, tr.32]:(5) Chiếu truyền cho La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp được biết Ngày trước ủy
cho Phu tử về Nghệ An xem đất đóng đô cho kịp kỳ này ngự giá ở Bắc về trú Sao
ta về tới đó thấy chưa được việc gì? Nên ta hãy hồi giá về Phú Xuân kinh cho sĩ tốt nghỉ ngơi Vậy chiếu ban xuống cho phu tử nên sớm cùng ông Trấn thủ Thận tính toán mà làm việc, xem đất đóng đô tại Phù Thạch Hoàng cung thì để ở phía sau khá gần núi Chọn đất hoặc ở chỗ có dân cư, hoặc chỗ nào đất tốt có thể đóng đô được, là tùy Phu tử lấy con mắt tinh mà xét định Sớm sớm chọn lấy, giao cho Trấn
Trang 36thủ Thận chóng dựng cung điện Hẹn trong ba tháng thì xong, để tiện việc giá ngự Vậy Phu tử chớ để chậm chạp không chịu xem.
Kính thay Đặc chiếu…
Thái Đức năm thứ 11, tháng sáu, ngày mồng một.
Ngay ở tờ báo Việt ngữ đầu tiên là GĐB cũng đã có chuyên mụcthường kỳ đăng các văn bản công vụ của chính quyền thực dân bấy giờ nhưcác lời dụ, lời nghị hoặc biên bản họp của Hội đồng quản hạt, nhưng nhữngvăn bản này xét trên nhiều phương diện cũng chưa thể tạo nên một PCNNHC
Chẳng hạn lời Châu thị sau đây đăng trên số báo 49 ra ngày 7/12/1897:
(6) Châu - thị về việc phi vi của các Tri - bộ lảnh coi bộ Sanh Tử, Hôn - thú
người bổn quấc
Tại Sàigòn, ngày 11 Novembre 1897, Quan quyền Thống - đốc Nam - kỳ, tư cho các quan Tham - biện Mới đây có sanh chuyện nên tôi mới nói rỏ rằng các Tri - bộ lảnh coi bộ sanh, tử, hôn - thú, làm nhiều đều việt Pháp.
Bất kỳ ai đến khai sanh, khai tử, khai hôn - thú chi thì ai cũng đều sách tiền bạc cả, như ai khai tử mà không tiền thời không cho giấy an tán.
Phàm Nhà - nước đã đặt luật ra thời cả thảy dân trong nước, bất kỳ là đạo nào cũng đều phải tuân theo Ấy vậy phận làm quan viên phải làm gương trước cho dân theo; chăn dân thời phải giúp, chỉ đường cho dân nó đi nhằm phép Ấy vậy tôi xin các quan sức cho các Tri - bộ trong hạt phải tuân theo các nghị trong điều thứ 20 về chỉ dụ ngày mồng 3 Octobre năm 1883.
Vậy xin các quan nhắc lại cho các Viên - chức ấy hay là chúng nó chưa biết thời dạy cho chúng nó rỏ rằng, chiếu theo điều thứ 89 đoạn thứ 4 trong lời nghị ngày 12 Octobre Năm 1892, trong các việc khai Sanh, Tử, Hôn – thú và tu bộ, trước bộ (sanh, tử, hôn – thú) thời tri - bộ chẳng đặng nài thêm tiền bạc chi hết cả Bằng mà có thâu nài chi, thời là việc hoành - hoành việt pháp, nếu giát xuất thời phải mắc cứu xử về tội hà lạm.
Điều thứ hai – Quan thống-đốc Nam-kỳ cùng quan Chưởng lý đề hình trong
cổi Đông Dương đều tùy theo phận sự lảnh thi hành nghị-định nầy
Tại Sài Gòn, ngày 14 Févier năm 1901
Quan Tổng- thống
PAUL DOUMER
Trang 37Theo Nguyễn Kim Thản: "Trong thời kỳ độc lập, dưới các triều đạiphong kiến, tiếng Việt vẫn còn bị lép vế trước tiếng Hán Trong thời kỳ Phápxâm lược, trong các cuộc "thương nghị" của các quan lớn, quan bé thực dân
và "bản xứ" để bàn về những việc chính trị - xã hội, họ chỉ dùng tiếng Pháp"[140, tr.11] Bùi Khánh Thế khi xem xét sự phát triển của tiếng Việt hiện đạicũng khẳng định: "Đến tháng 9/1945, tiếng Việt qua chữ quốc ngữ vẫn chỉđược sử dụng chủ yếu trên lĩnh vực văn chương và báo chí Trong hành chính,tiếng Việt chỉ được dùng ở làng xã" [177, tr.55]
Như vậy, có thể khẳng định chính văn bản Hiến pháp năm 1946 của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng với các sắc lệnh sau đó là những vănbản đầu tiên của PCNN hành chính tiếng Việt
Cũng có ý kiến cho rằng chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyềnGiải phóng quân ngày 22/12/1944 của Chủ tịch Hồ Chí Minh là văn bản hànhchính đầu tiên Tuy nhiên, theo tra cứu của chúng tôi, đây là một bức thư taycủa Bác để chỉ đạo về việc này
Đối với ngôn ngữ quảng cáo (NNQC), ngay từ thuở phôi thai, trên cáctrang của GĐB đã có đăng tải các lời rao vặt, quảng cáo Đến năm 1882,quảng cáo được tách riêng ở trang cuối báo, hầu hết để thông tin về sản phẩmcủa hai nhà thuốc Pharmacie Reynaud và Pharmacie Holbé Về sau có đăngthêm quảng cáo của nhà in, quảng cáo về rượu và sách Chẳng hạn mấy mẩurao vặt, quảng cáo sau:
(8) Ông Cornu, ở đường phía dưới mé sông (gọi là quai de l'Arroy - Chinois).
Ông muốn mua một con cọp và một con beo, ai muốn bán thì đem tới cho ổng mua.
(GĐB - 15/12/1883) (9) Có một đôi khi dầu đờn ông, đờn bà hay là con nít thì cũng mắc cơn mệt
nhọc, yếu đuối quá chừng vậy thuốc này để chữa những con như vậy nên phải uống sớm mai một muỗn chiều một muỗn, mỗi ngày phải gia tăng thêm một muỗn cho đến khi nào uống tới sớm mai 4 muỗn chiều 4 muỗn thì thôi Giá một ve là một
Trang 38Trên các báo khác cùng thời như NCMĐ, LTTV, NKĐP v.v ta cũngtìm thấy những thông tin quảng cáo theo cách như vậy Ngay trên số ra đầutiên của NCMĐ ngày 01/8/1901 có lời rao như sau:
(10) Cho các quới-viên đặng hay, tại nhà in MÊKÔNG có đóng sách, sổ, chạy
bìa vàng, có in các thứ giấy viết thơ, in thiệp giá rẻ Ai muốn đem in cái chi xin tới tại đường Ohier, phía sau tòa Tạp-tụng. (NCMĐ - 1/8/1901)
Theo Bùi Mạnh Hùng – Nguyễn Thị Ly Kha, "Quảng cáo xuất hiện ởViệt Nam khoảng từ cuối thế kỷ XIX, đầu tiên là các cửa hàng của giới kinhdoanh người Pháp, sau đó là của người Việt tại một số đô thị mới hình thànhcủa Việt Nam như Hà Nội, Sài Gòn Song nó chỉ thực sự có ảnh hưởng mạnh
mẽ đến đời sống của người Việt Nam từ khi đất nước đổi mới" [135, tr.239].Cũng phải kể thêm là, từ trước 1975, quảng cáo ở miền Nam đã phát triển rấtmạnh Người miền Nam thật khó quên những trang quảng cáo rất ấn tượng về
kem đánh răng Hynos, xà bông cô Ba,…
Trên thế giới, việc ứng dụng những kỹ thuật hiện đại, sử dụng nhữngthuật ngữ chuyên ngành, các ký hiệu, chữ tắt v.v trong báo chí đã góp phầntạo nên đặc trưng của một phong cách riêng biệt: "Ngôn ngữ quảng cáo ở cácnước phát triển đã hình thành hẳn một phong cách chức năng ngôn ngữ đặcthù và được vận dụng bởi những người chuyên nghiệp" [181, tr.148] Theo
Tuổi Trẻ Cuối Tuần số 26 ngày 06/7/2008, trong tác phẩm No logo, Naomi
Klein, một nữ nhà báo người Canada, cho rằng không gian đô thị hiện nay đã
bị quảng cáo xâm chiếm Các công ty đa quốc gia xem việc quảng bá thươnghiệu của mình còn quan trọng hơn cả chính sản phẩm Các hãng sản xuất ồ ạtđầu tư cho các chiến dịch quảng cáo để áp đặt kiểu suy nghĩ: "Một nhãn hiệu
X không là một sản phẩm mà là một lối sống, một thái độ, một giá trị, mộtthời trang, một ý tưởng" Từ đó, các logo xuất hiện tràn ngập trên đường phố,trên những bức tường, trên xe buýt, nơi mặt tiền của các cửa hàng và ngaytrên quần áo của chúng ta
Trang 39Hiện nay cả nước ta có trên 3000 công ty quảng cáo với các hình thứcquảng cáo rất phong phú, đa dạng Quảng cáo trên báo chí, ở tờ rơi, trên cácbiển hiệu, áp phích, trên internet, trên truyền hình v.v Và hầu như khôngquảng cáo nào là không dùng đến ngôn ngữ để thông tin về sản phẩm, để thuhút khách hàng Quảng cáo ở VN ngày nay, đặc biệt là từ thời kỳ đổi mới, đãtrở thành một hoạt động chuyên nghiệp, vừa đem lại nhiều giá trị kinh tế, vừa
có sự tác động đến nhiều phương diện trong lĩnh vực văn hóa, xã hội Để đảmbảo cho sự phát triển đúng hướng của quảng cáo, Nhà nước ta đã ban hành
nhiều văn bản chế định như Luật thương mại, Luật báo chí, Pháp lệnh quảng
cáo v.v Các trang quảng cáo cũng đã được tách riêng ra khỏi báo chí để
không ảnh hưởng đến dung lượng, đến chất lượng thông tin
Các công trình nghiên cứu gần đây về quảng cáo cũng đã đặt nền tảng
cho một hệ thống lý luận về PCNNQC như: Kỹ thuật quảng cáo (Huỳnh Văn Tòng, 1999), Các đặc điểm của ngôn ngữ quảng cáo dưới ánh sáng của lý
thuyết giao tiếp (Mai Xuân Huy, 2001), Quảng cáo và ngôn ngữ quảng cáo
(Nguyễn Kiên Trường, 2004), Ngôn ngữ quảng cáo ở Thành phố Hồ Chí
Minh (Bùi Mạnh Hùng và Nguyễn Thị Ly Kha, 2006) v.v.
Như vậy, nếu trước đây, một số tác giả xếp chung PCNNQC trong cácPCCN khác thì đến nay, theo chúng tôi, PCNNQC phải có một vị trí riêngtrong hệ thống các PCCN tiếng Việt Về vấn đề này, tác giả Đinh Trọng Lạccũng cho rằng các PC thường đan xen nhau, chẳng hạn PC chính luận lúc đầubao gồm cả những văn bản báo, những văn bản quảng cáo, "đến một giai đoạnphát triển nhất định chúng mới dần dần tách ra với tư cách là những kiểu thểloại thuộc những phong cách riêng" [92, tr.23]
Từ những trình bày trên, chúng tôi đề nghị phân loại các PCCN tiếngViệt hiện nay như trong Bảng 1.1
Bảng 1.1: Hệ thống các phong cách chức năng tiếng Việt
Trang 40PHONG CÁCH CHỨC NĂNG TIẾNG VIỆT PCNN
sinh
hoạt
PCNN báochí
PCNNquảngcáo
PCNNnghệthuật
PCNNchínhluận
PCNN hànhchính
PCNNkhoahọc
Trật tự sắp xếp như trong bảng có chú ý đến đặc trưng nổi trội của từng
PC Đặc trưng này có khả năng chi phối các yếu tố ngoại tại (kể cả ở các PCkhác) khi cùng tham gia vào hoạt động giao tiếp Chẳng hạn, những từ ngữ,cách diễn đạt thuộc PCNNSH, PCNNBC, PCNNHC đều có thể hiện diệntrong PCNNNT, nhưng khi hành chức chúng sẽ bị chi phối và hoán cải bởichức năng thẩm mỹ Sự đối cực giữa PCNNSH và PPNNKH cho thấy đặctrưng khác biệt giữa hai PC (tính cụ thể/tính khái quát, tính cảm xúc/tính lí trí,tính cá thể/tính khách quan)
Trong cách phân chia này, quan điểm của chúng tôi cho các PC đều cógiá trị bình đẳng vì hai lý do sau:
- Xét về tính chất, chức năng và cách sử dụng các phương tiện diễn đạt
ta thấy có sự gần gũi, đan xen giữa các PC trong hoạt động thực tiễn
- Các PC tồn tại dưới cả hai dạng nói và dạng viết, thực hiện các chứcnăng riêng biệt, có tầm quan trọng trong các phạm vi giao tiếp khác nhau
Như vậy, kể từ khi bộ môn PCH tiếng Việt ra đời, phải mất gần haimươi năm sau, PCNNBC mới được thừa nhận là một PCCN trong hệ thốngcác PCCN tiếng Việt Những miêu tả ban đầu của các tác giả về tính chất, thểloại, đặc điểm chung, đặc điểm của các phương tiện diễn đạt cũng đã khẳngđịnh sự có thực của PCNNBC Vấn đề còn lại là cần tiếp tục chỉ rõ hơn nhữngđặc điểm, tính chất mới mẻ, cũng như vai trò của NNBC trong khi thực hiệncác chức năng của mình trước sự bùng nổ thông tin, trước sự tiến bộ của các