Lý do chọn đề tài Ra đời cách đây trên 2000 năm, lúc mà xã hội Trung Quốc lâm vào cuộc khủng hoảng ngày càng trầm trọng: Nền chính trị Thiên tử của nhà Chu suy vong, các chư hầu nổi lên
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
- -
TRẦN THỊ LÊ HƯƠNG
Học thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử và kế thừa những yếu tố hợp lý trong học thuyết ấy để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam hiện nay
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SƯ PHẠM GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
Trang 2A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ra đời cách đây trên 2000 năm, lúc mà xã hội Trung Quốc lâm vào cuộc khủng hoảng ngày càng trầm trọng: Nền chính trị Thiên tử của nhà Chu suy vong, các chư hầu nổi lên tranh bá… học thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử – đỉnh cao của tư tưởng Pháp gia đã sớm phát huy vai trò lịch sử của mình trong việc đưa ra đường lối trị nước Học thuyết pháp trị, tập đại thành của Hàn Phi Tử được hình thành trên cơ sở tiếp thu chọn lọc, thống nhất ba học phái: “Pháp” của Thương Ưởng (? – 338TCN), “Thuật” của Thân Bất Hại (401 – 337 TCN) và
“Thế” của Thận Đáo (370 – 290 TCN) Với tư cách là đường lối chiến lược chính trị lấy pháp luật làm công cụ chủ yếu, học thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử
đã nhanh chóng trở thành ngọn cờ tư tưởng đưa sự nghiệp nước Tần đi đến thắng lợi, thúc đẩy sự chuyển biến xã hội Trung Quốc từ phong kiến sơ khai sang quân chủ chuyên chế, đánh dấu mốc quan trọng của lịch sử Trung Quốc Mặc dù trải qua một thời gian dài và đầy những biến động lịch sử, tuy nhiên học thuyết Pháp trị của Hàn Phi vẫn còn nguyên vẹn ý nghĩa lịch sử của nó Đó chính là những kinh nghiệm lịch sử to lớn đối với quá trình thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật của nhà nước
Hơn 25 năm qua, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Đất nước ta đã thoát qua giai đoạn khó khăn, bước vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta phải tiếp tục đổi mới toàn diện và triệt để các lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó đổi mới hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa có một vai trò hết sức quan
Trang 3trọng, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân Nhận thức rõ yêu cầu đó, vừa qua đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI lần nữa đã khẳng định: “ Đẩy mạnh việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nước ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo; thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế và đời sống xã hội; giải quyết đúng mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, với nhân dân, với thị trường Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật,
kỷ cương Nhà nước chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của mọi người dân”
Trong quá trình kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý xã hội của nhà nước, việc kế thừa có chọn lọc những tư tưởng và học thuyết quản lý xã hội trong lịch sử đóng vai trò đặc biệt quan trọng Bởi vì những tư tưởng và học thuyết quản lý xã hội, kể cả ở phương Đông và phương Tây, đều là sản phẩm trí tuệ con người, đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn lịch sử Chúng có giá trị nhất định trong việc giúp chúng ta tìm ra những giải pháp hữu hiệu để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Xuất phát từ những đòi hỏi về lý luận và thực tiễn nêu trên, việc nghiên cứu thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử là thực sự cấp thiết Để góp phần vào việc làm sáng tỏ hơn nữa tư tưởng về nhà nước pháp quyền của Hàn Phi Tử và vận dụng
tư tưởng đó vào việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay, tôi
mạnh dạn chọn đề tài: “Học thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử và kế thừa những
yếu tố hợp lý trong học thuyết ấy để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu khoa học cho khóa luận
của mình
Trang 42 Lịch sử vấn đề
Vấn đề nhà nước pháp quyền là một vấn đề chính trị - pháp lý rộng lớn Những tư tưởng của Hàn Phi Tử về nhà nước pháp quyền có một vai trò rất quan trọng trong lịch sử cũng như hiện tại Chính vì vậy, trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu tư tưởng của Hàn Phi về nhà nước pháp quyền cũng như những nghiên cứu về nhà nước pháp quyền hiện đại
Chúng ta có thể kể ra một số công trình nghiên cứu của các tác giả tiêu
biểu như: Hàn Phi Tử (Nxb văn học, 2005); Hàn Phi Tử - Tinh hoa trí tuệ qua danh ngôn (Nxb văn hóa thông tin, 2008); Hàn Phi Tử - Tập đại thành sự phát triển tư tưởng pháp gia (Nxb Đồng Nai, 1995); Bách khoa toàn thư tinh tuý văn học cổ điển Trung Quốc (1995); Hàn Phi Tử Sự phát triển của tư tưởng Pháp gia, Nxb Đồng Nai; Hàn Phi, Phan Ngọc dịch (1990), Hàn Phi Tử, tập I, Nxb
Văn học và Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam Ninh, Hà Nội; Hàn Phi, Phan
Ngọc dịch (1990), Hàn Phi Tử, tập II, Nxb Văn học và Hội Văn học nghệ thuật
Hà Nam Ninh, Hà Nội; Những vấn đề lí luận cơ bản về Nhà nước và pháp luật (Nxb chính trị quốc gia, 1995); GS Đoàn Trọng Truyến, Cải cách hành chính và công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006); GS.VS.Nguyễn Duy Quý, PGS.TS.Nguyễn Tất Viễn , Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân – lý luận và thực tiễn (Nxb
chính trị quốc gia, 2010)… Và rất nhiều bài viết trên các tạp chí như: Nguyễn
Thị Kim Bình, Tư tưởng trị nước của Pháp gia và vai trò của nó trong lịch sử,
Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng – số 3(2008); Vũ Kim
Dung, Lý luận nhận thức trong triết học Hàn Phi Tử, Viện Triết học, viện KH –
XH Việt Nam số 2/2002 Nguyễn Tài Đông, Tư tưởng Pháp trị Hàn Phi
Tử, Tạp chí triết học, số 12, tháng 12/2006…
Trang 5Nhìn chung, ở góc độ nào các tác giả cũng đã nói khá sâu và rõ ràng tư tưởng Pháp trị của Hàn Phi cũng như những vấn đề về nhà nước pháp quyền Tuy nhiên chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu những ảnh hưởng của học thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Chính vì vậy, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài này Từ việc nghiên cứu những tư tưởng của Hàn Phi về nhà nước pháp quyền, cũng như phân tích cụ thể tình hình xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích: Đề tài nghiên cứu nhằm phác hoạ một cách chân thực trên những nét cơ bản nhất trong học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử, chỉ ra các yếu
tố hợp lý trong học thuyết ấy và khẳng định sự cần thiết phải kế thừa những yếu
tố đó để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
- Nhiệm vụ:
+ Hệ thống hoá những yếu tố hợp lý trong học thuyết pháp trị của Hàn Phi
Tử về việc xây dựng nhà nước và pháp luật theo đường lối Pháp trị trên cơ sở các tài liệu đã có hiện nay
+ Trên cơ sở tìm hiểu những điểm hợp lí trong học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử, đề tài chỉ ra sự kế thừa, vận dụng những tư tưởng ấy của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
Trang 64 Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận là những quan
điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin về nhà nước và pháp luật; quan điểm đổi mới tư duy của Đảng cộng sản Việt Nam
- Phương pháp luận nghiên cứu: Toàn bộ đề tài được nghiên cứu dựa vào
phương pháp luận của Triết học Mác - Lênin, các nguyên tắc nhận thức khoa học của nó như nguyên tắc khách quan, nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc phát triển, nguyên tắc lịch sử cụ thể, v.v… và sử dụng các phương pháp cụ thể như: So sánh, phân tích và tổng hợp, trừu tượng hoá và khái quát hoá, kết hợp logic và lịch sử, kết hợp cái đặc thù và cái phổ biến
5 Ý nghĩa của đề tài
- Đề tài này giúp chúng ta nhìn nhận đúng đắn, khoa học hơn những tư tưởng của Hàn Phi về đường lối pháp trị Nhận thấy rõ vai trò và tác dụng của những tư tưởng ấy trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay Quan trọng hơn
là giúp chúng ta tiếp thu và vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng của Hàn Phi để xây dựng nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
- Đề tài nghiên cứu đã giúp tác giả có được một nhận thức và một khối lượng kiến thức tương đối có hệ thống và sâu sắc về học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử nói riêng và về nhà nước pháp quyền nói chung hiện nay; giúp tác giả có thêm kinh nghiệm trong học tập và nghiên cứu khoa học…
- Kết quả đề tài nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong học tập các môn học Triết học xã hội, lịch sử triết học phương Đông cổ đại, các môn học : Chính trị, Giáo dục công dân Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng có thể
sử dụng để giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh và sinh viên trong nhà trường
và ngoài xã hội…
Trang 76 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung trọng tâm của đề tài khoá luận gồm 2 chương với 4 tiết
Trang 8
B NỘI DUNG
Chương 1:
HỌC THUYẾT PHÁP TRỊ CỦA HÀN PHI TỬ 1.1 Thân thế và sự nghiệp của Hàn Phi Tử
1.1.1 Bối cảnh lịch sử Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến quốc
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, mỗi trường phái triết học ra đời, phát triển đều gắn liền với những đặc điểm, điều kiện lịch sử xã hội đã nảy sinh
ra nó Như C Mác đã nói: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ
là sản phẩm của thời đại mình, dân tộc mình, mà dòng sữa tinh túy nhất, quý giá
và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” [12, 156] Và tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử cũng không nằm ngoài quy luật đó Với tư cách là một học thuyết triết học, học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử được hình thành không phải do tính chất ngẫu nhiên, hay xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người, mà nó chính là sự phản ánh sâu sắc những điều kiện lịch sử xã hội Trung Hoa thời Xuân thu – Chiến quốc Vì vậy để xem xét, đánh giá học thuyết một cách đúng đắn, khoa học thì ta không thể không nghiên cứu bối cảnh lịch sử xã hội mà nó đã ra đời
Lịch sử Trung Hoa cổ đại có hai thời kỳ đáng được nói đến là Xuân Thu
và Chiến Quốc Thời Xuân Thu là thời kỳ suy tàn của nhà Chu, đây chính là thời
kỳ sinh sống của Lão Tử, Khổng Tử Thời Chiến Quốc (403-233TCN) từ gần cuối đời Chu Hy Liệt Vương tới khi nhà Tần diệt nhà Tề thống nhất Trung Hoa,
đó là thời kỳ sinh sống của Hàn Phi (280-233TCN)
Thời Xuân Thu, nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời kỳ đồ đồng sang thời kỳ đồ sắt Công cụ lao động bằng sắt đã được chế tạo và sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, làm cho diện tích đất nông nghiệp được
mở rộng; kỹ thuật canh tác cũng được cải thiện làm tăng năng suất lao động
Trang 9trong nông nghiệp Do việc sử dụng công cụ bằng sắt trở nên phổ biến cùng với việc mở rộng trao đổi sản phẩm lao động, sự phân công lao động trong lĩnh vực sản xuất thủ công nghiệp cũng đạt tới trình độ chuyên môn hóa cao, thúc đẩy các ngành thủ công nghiệp phát triển như nghề luyện kim, nghề đúc đồng, nghề làm
đồ gốm… Trên cơ sở đó, công thương nghiệp cũng phát triển hơn trước Tiền tệ cũng đã xuất hiện Trong xã hội đã hình thành tầng lớp mới, đó là những thương nhân giàu có và ngày càng có uy lực
Từ những thay đổi về kinh tế như trên, nó cũng kéo theo những biến động lớn về chính trị lúc bấy giờ Chế độ “Tông pháp” của nhà Chu trước kia có tác dụng tích cực, làm cho đất nước ổn định, phát triển trong một thời gian dài Nhưng càng về sau nó càng bộc lộ những hạn chế, yếu kém Bên cạnh đó, sự cai trị độc ác và bóc lột nhân dân tàn khốc của tầng lớp quý tộc nhà Chu đã làm cho các cuộc nổi dậy của nhân dân ngày càng nhiều và gay gắt hơn Thêm vào đó các nước chư hầu thì tiến hành chiến tranh, tranh giành quyền bá chủ thiên hạ; thiên tai thì không ngừng xảy ra làm cho đời sống nhân dân vô cùng khổ cực Trong
xã hội thì tình trạng lễ nghĩa, cương thường bị đảo lộn, đạo đức suy đồi trầm trọng
Như vậy có thể nói, đặc điểm chủ yếu của thời Xuân Thu là sự suy vong của nhà Chu, thể hiện ở sự không còn phù hợp của chế độ “Tông pháp”, nó tạo nên sự phân hóa sâu sắc giữa các tầng lớp, các giai cấp trong xã hội Thời kì báo hiệu sự chuyển biến cái cũ đã dần suy vong và cái mới đang manh nha hình thành
Năm 403 TCN, với sự nổi lên phế bỏ vua Tấn dựng nên ba nước Hàn, Triệu, Ngụy, lịch sử Trung Hoa từ đây bước sang trang sử mới, thời kỳ mà các nhà sử học Trung quốc gọi đó là Chiến quốc So với thời Xuân Thu thì thời Chiến Quốc có nền kinh tế rất phát triển Đồ sắt xuất hiện từ lâu nhưng thời kì này đã có những bước phát triển mạnh mẽ hơn với các loại công cụ lao động
Trang 10như: lưỡi cày, lưỡi cuốc, rìu, dao… Nó tạo điều kiện cho việc mở mang những vùng đất mới, thúc đẩy nông nghiệp phát triển Những ngành nghề như nghề thủ công, nghề làm gốm, nghề trồng dâu nuôi tằm… có những bước phát triển mới, đây chính là điều kiện cho thương mại phát triển Những nơi như Hàm Dương ở Tần, Lâm Tri ở Tề, Hàm Đan ở Triệu, Đại Lương ở Ngụy đều là những thị trấn thương mại rất đông dân và thịnh vượng
Đối lập với nền kinh tế phát triển như trên, nền chính trị thời Chiến quốc
vô cùng loạn lạc và bất ổn: Chiến tranh xảy ra liên miên và ngày càng tàn khốc, quan lại bóc lột vơ vét vô độ, sống cuộc sống xa hoa trên xương máu của người dân, xã hội thì ngày càng loạn vì đầy cảnh trộm cướp, chém giết lẫn nhau… Trước tình cảnh xã hội như vậy, tầng lớp quý tộc và tầng lớp trí thức có sự chia
rẽ về tư tưởng Họ tiếc nối thời cũ, muốn trở lại thời Xuân Thu để tìm lại những giá trị xã hội đã mất cũng như muốn khôi phục lại địa vị của mình Nhưng tất cả đều bất lực, dòng lịch sử chỉ chảy xuôi chứ không chảy ngược bao giờ
Sự phong phú, đa dạng của các hệ thống triết học thời Xuân Thu, Chiến Quốc khiến người ta phải gọi là thời kỳ Bách gia chư tử Có rất nhiều tác phẩm với các hệ thống lý luận riêng cho việc trị nước, an dân, bình thiên hạ “Phái thì chủ trương Nhân trị, phái thì phản đối và bảo thủ trở về với xã hội thượng cổ, nhà cầm quyền không được can thiệp vào việc của dân; phái thì bảo phải dùng pháp luật thật nghiêm, thưởng phạt thật nghiêm thì mới thịnh được” [6, 104] Như vậy, mỗi trường phái khác nhau có những tư tưởng khác nhau nhưng đều có mục đích chung là mong muốn thống nhất Trung Quốc, chấm dứt chiến tranh Tuy nhiên trong các học thuyết ấy thì học thuyết pháp trị của phái Pháp gia nói chung và của Hàn Phi Tử nói riêng xuất hiện trên vũ đài chính trị và nhanh chóng được đón nhận, nó sớm trở thành vũ khí lý luận sắc bén cho nhà Tần thống nhất Trung Quốc Mặc dù ra đời, tồn tại trong thời gian ngắn nhưng tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử đã khắc đậm dấu ấn lịch sử Nó góp phần tô điểm
Trang 11thêm những giá trị tư tưởng đặc sắc phương Đông trong kho tàng chung của nhân loại và đang tiếp tục khẳng định những ý nghĩa tích cực của nó với thực tiễn đương đại hiện nay
1.1.2 Cuộc đời Hàn Phi Tử
1.1.2.1 Vài nét về thân thế
Hàn Phi Tử (280-233 TCN), là vị công tử vương thất nước Hàn Ngay từ nhỏ, Hàn Phi nổi tiếng là con người thông minh, học rộng, hiểu sâu
Ông và Lý Tư đều là học trò xuất sắc của Tuân Tử, tuy làm tới chức thừa
tướng nước Tần, song Lý Tư luôn coi Hàn Phi là người tài giỏi hơn mình Hàn Phi say mê nghiên cứu Đạo gia, Nho gia, tham khảo sâu sắc Mặc gia, cho nên ông có hệ thống tri thức khá sâu sắc và uyên bác, trong đó ông tâm đắc nhất là những tư tưởng Pháp gia và đi sâu nghiên cứu nó Cả đời Hàn Phi theo đuổi mục
tiêu chính trị, đó là giúp các ông vua trị nước an dân, làm cho đất nước hết loạn
và ngày càng giàu mạnh Ông sớm nhận thấy được nước Hàn là nước nhỏ bé, yếu ớt, là nước mà đất đai cằn cỗi, dân sống nghèo khổ, lại bị kẹp giữa các nước lớn như Tần ở phía tây, Sở ở phía nam, Tề ở phía đông, Triệu, Ngụy ở phía bắc Nguy cơ bị các nước lớn xâm lược và ức hiếp là rất lớn Còn tình hình trong nước thì các tệ nạn đã bám rễ, ăn sâu lâu ngày, các vua Hàn thì ăn chơi sa đọa, nhu nhược, bị các quần thần thao túng và nắm hết quyền lực Nhận thấy được điểm yếu đó của đất nước, Hàn Phi Tử đã nhiều lần dâng sớ tâu vua, nêu lên những phương cách để cứu nước Song rất tiếc, việc đó bị các đại thần ngăn cản
và phản đối quyết liệt Tức giận và bất lực trước việc vua không chịu sửa đổi pháp luật, ông cảm thương ngậm ngùi cho sự trung kiên chính trực của mình
nhưng không được trọng dụng, vì vậy ông giận mà viết nên sách Hàn Phi
Tử gồm hơn mười vạn chữ Tác phẩm là kết quả tổng hợp nghiên cứu trên tất cả
các lĩnh vực triết học, luật học, khảo sát chính trị… của Hàn Phi Tử nhằm bày tỏ những phương thức trị nước
Trang 12Khi tác phẩm của ông tới tay Tần Thủy Hoàng, sau khi đọc sách ngưỡng
mộ, thán phục người viết mà vua Tần phải thốt lên rằng: “Ta được làm bạn với con người này thì chết cũng không uổng” Và lúc đó Lý Tư, quan tể tướng của nước Tần lúc bấy giờ là bạn học của Hàn Phi, biết Hàn Phi là người tài giỏi hơn mình, sợ rằng nếu vua Tần thực sự muốn tin dùng Hàn Phi thì sẽ ảnh hưởng đến tiền đồ của mình, cho nên tìm cách gièm pha, làm cho ông bị vào tù và ép thuốc độc chết năm 233 TCN Tới lúc Tần Thủy Hoàng nghĩ lại về ông, muốn tha cho ông thì Hàn Phi đã yên nghỉ nơi chín suối Mười hai năm sau khi Hàn Phi mất, Tần Thủy Hoàng thống nhất được Trung Quốc
Lý tưởng chính trị đế vương của Hàn Phi được vận dụng vào thực tế một cách có hiệu quả, việc Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc là bằng chứng lịch sử cho chúng ta thấy rõ hơn điều này Nó đã góp phần đưa lịch sử Trung
Quốc bước sang trang sử mới Mặc dù học thuyết của ông vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định nhưng những giá trị và ý nghĩa của nó thì lịch sử không thể phủ nhận Cứ nhìn vào nền thống trị vua chúa Trung Quốc trong hơn hai ngàn năm qua cho ta thấy tư tưởng, học thuyết của Hàn Phi Tử mang ý nghĩa tồn tại không phai mờ Cứ mỗi khi đất nước có chiến tranh, thì các nhà làm chính trị vận dụng học thuyết Hàn Phi Tử để mưu cầu độc lập, tự cường Thời Tam quốc, Khổng Minh tự tay chép lại những lời nói của Thân Bất Hại và Hàn Phi để khuyên nhủ bậc những người đời sau tham khảo mà vận dụng Vương An Thạch đời Tống cùng với Tương Cư Chính đời Minh cũng đã tham khảo và cân nhắc học thuyết của Hàn Phi để xây dựng đất nước phú cường
Như vậy có thể thấy, từ đời Đường tới đời Minh, Thanh thì sự quan tâm của hậu thế đối với học thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử ngày càng tăng, và vì thế
tư tưởng của Hàn Phi lại tỏa sáng
Trang 131.1.2.2 Sự nghiệp Hàn Phi Tử
Tuy là người nói ngọng, không có tài hùng biện nhưng ông lại rất giỏi viết
sách Hàn Phi đã để lại cho hậu thế sách Hàn Phi Tử gồm 55 thiên với những tư tưởng hết sức đặc sắc Hầu như các thiên trong sách Hàn Phi Tử của Hàn Phi
đều là do ông viết như: Tồn Hàn, Nan ngôn, Bát gian, Nhị Bính, Cỗ phẫn, Nan thế, Hòa thị, Gian hiếp thí thần, Vong trưng, Bị nội, Nam diện, Thuyết lâm thượng và hạ, Ngũ đố, Dung nhân, Tâm độ, Định pháp, Dụ Lão, Giải Lão… Một
số thiên khác có thể do đời sau viết thêm, như các thiên: Sơ kiến Tần, Nhân
chủ, Sức lệnh… cùng một số đoạn trong vài thiên Trong sách “Hàn Phi Tử”, Hàn Phi đã thể hiện những tư tưởng cơ bản của ông về thế giới, về lịch sử
xã hội, về đạo đức mà đặc biệt và nổi bật nhất là về pháp luật Sách Hàn Phi Tử
chính là sự tổng hợp các tư tưởng pháp gia thời tiên Tần, tiểu biểu có các đại biểu sau: Tử Sản, Quản Trọng, Thương Ưởng, Thận Đáo, Thân Bất Hại Đây chính là bộ sách kinh điển bàn về chính trị xã hội sớm nhất trong lịch sử văn hóa
Trung Quốc Sách Hàn Phi Tử vì vậy được gọi là “Tập đại thành tư tưởng pháp
trị của Pháp gia”, chứa đựng toàn bộ những tư tưởng pháp trị đặc sắc của Pháp gia
“Tập đại thành – Sự phát triển của tư tưởng Pháp gia”, gồm 55 thiên với
10 vạn từ Tác phẩm là kết quả của một quá trình lâu dài, say mê tìm tòi, nghiên cứu nhằm tổng kết và phát triển các học thuyết thời trước có liên quan đến Pháp
- Thế - Thuật Và trên cơ sở đó ông xây dựng nên thành một bộ “Hình danh pháp thuật” hoàn chỉnh, lấy pháp trị làm trung tâm
Ông phản đối việc quay trở lại thời trước đó, lấy đạo đức để quản lí xã hội Điều mà Hàn Phi đề xướng đó là triết học bá vương, tức là dùng pháp luật để quản lí đất nước Ông cũng phản đối việc “Dùng nhân duy thân”, đề xướng
“Dùng nhân duy hiền”… Những tư tưởng của ông phản ánh yêu cầu của các tầng
Trang 14lớp giai cấp địa chủ mới đương thời, đồng thời đó là cơ sở lý luận, đặt nền móng cho việc xây dựng một nhà nước phong kiến chuyên chế sau này
Tập đại thành – Sự phát triển của tư tưởng Pháp gia có kết cấu chặt chẽ,
logic, văn phong nghiêm túc Các bài viết của Hàn Phi Tử phân tích rất sắc bén, chẳng hạn như khi phân tích về những điều mà nhà nước có thể diệt vong, ông cũng đã nêu tới 47 điều, phải thật sự có sự am hiểu sâu sắc Hàn Phi mới có thể làm được điều này Còn hai chương có tiêu đề “Nan ngôn”, “Thuyết nan”, ông
đã phân tích cặn kẽ tâm lý con người cũng như nói tránh những điều gây phật ý
Hàn Phi Tử còn rất giỏi trong việc vận dụng rất nhiều câu chuyện ngụ ngôn và kiến thức lịch sử phong phú để làm tư liệu luận chứng, thể hiện những hiểu biết sâu sắc của ông về lịch sử, xã hội Trong các bài viết của ông có nhiều mẫu chuyện ngụ ngôn có nội hàm phong phú, sinh động như : “Thủ Chu đãi thố”, Sính thư yến thuyết”… vẫn được lưu truyền tới tận ngày nay
1.2 Học thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử
1.2.1 Nguồn gốc tư tưởng của học thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử
Cũng như tất cả các học thuyết tư tưởng khác, học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử hình thành và phát triển không phải do ý muốn chủ quan của các nhà tư tưởng, mà nó nảy sinh từ chính hiện thực của đời sống xã hội và phải trải qua quá trình phát triển lâu dài của những nấc thang tư tưởng từ thấp đến cao, là sự kết tinh của những tiền đề lý luận và thực tiễn hết sức đặc sắc để trở thành một học thuyết hoàn chỉnh
Hàn Phi Tử đã kế thừa trực tiếp và có chọn lọc nhiều tư tưởng triết học trước đó và đương thời để xây dựng nên học thuyết của mình, tiêu biểu đó là tư tưởng “tôn quân”, “chính danh” của Khổng Tử; “thượng đồng”, “công lợi” của Mặc gia và quan niệm về “đạo”, “đức”, “đạo vô vi” của Lão Tử; “tính ác” của Tuân Tử… Chính vì thế khi giới thiệu về Hàn Phi, nhà nghiên cứu Phan Ngọc đã viết: “Kết quả của ông là con người duy nhất của Trung Quốc thực hiện được
Trang 15một sự tổng hợp của ba học thuyết Nho, Lão, Pháp, ở đó Nho là tài liệu xây dựng, Pháp là cái bản thiết kế, nhưng Lão mới là kỹ thuật thi công của cái ngôi nhà độc đáo” [10, 25 – 25] Sau đây, chúng ta sẽ đi sâu tìm hiểu để thấy rõ hơn những tiền đề tư tưởng hình thành nên học thuyết Pháp trị của Hàn Phi
Lý là cái văn vẻ làm thành vạn vật, là cái phân biệt vuông với tròn, ngắn với dài, thô với tinh, cứng với mềm Cho nên cái lý có xác định rồi mới có được cái đạo Nhờ có cái lý xác định hoặc còn hoặc mất, hoặc chết hoặc sống, hoặc suy hoặc thịnh Và cũng nhờ nó mà vạn vật luôn luôn biến hóa không ngừng Như vậy có thể khẳng định, lý tạo nên sự sinh động, biến đổi của vạn vật, muôn vật đều có sự sinh thành, tồn tại, phát triển và diệt vong, đó là quy luật vốn có của sự vật
Trang 16Như vậy, theo Hàn Phi, “đạo” vừa là nguồn gốc của vạn vật, vừa là quy luật phổ biến của chúng cho nên nó không thay đổi được Còn lí là quy luật riêng
cho nên nó luôn biến hóa không ngừng Cho nên theo ông, mọi hoạt động của sự vật và con người đều phải tuân theo “đạo” và “lí” Vận dụng thuyết này vào phép trị nước, Hàn Phi cho rằng ngày nay khi hoàn cảnh đất nước đã thay đổi thì phương thức trị nước cũng cần phải thay đổi cho phù hợp Đó là cơ sở để ông
cho rằng, trị nước ở mỗi thời cần căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử của thời đó
Lý thuyết về tính người vốn ác cũng là một căn cứ lí luận cho tư tưởng Pháp trị của Hàn Phi Tử Là học trò xuất sắc của Tuân Tử, Hàn Phi được học hỏi, kế thừa những tư tưởng tiêu biểu ở người thầy của mình, và trong đó, đặc biệt là tư tưởng “tính ác” Nếu Tuân Tử cho rằng bản tính con người vốn ác, thì Hàn Phi nhấn mạnh hơn điều này, ông cho rằng tính người vốn “đại ác” Đây là một tiền đề lý luận cơ bản để Hàn Phi xây dựng phương pháp trị dân, trị nước Hàn Phi viết: “Mượn người làm thuê gieo mạ và cày ruộng cho mình thì ông chủ chịu mất tiền để họ ăn ngon, đưa ra tiền và vải để trả công Đó không phải là yêu người làm thuê mà vì nó: “làm như thế thì người cày sẽ cày sâu và bừa kỹ”, người làm công dốc hết sức cho việc cày bừa, trổ hết tài sửa bờ đất và bờ ruộng, không phải yêu ông chủ Anh ta nói: “Có thế thì canh sẽ ngon, tiền và vải sẽ lấy
dễ hơn” [40]
Như vậy theo Hàn Phi, bản tính con người vốn đại ác và không thể sửa được, do đó không thể dùng “nhân”, “lễ”, “nghĩa” để trị được Hàn Phi cho rằng lấy nhân nghĩa để trị dân là một ảo tưởng của Nho gia, không thể đem lại lợi ích cho dân vì bản tính con người vốn đại ác Cho nên, ông lí giải phải dùng hình phạt nghiêm khắc mới trị được dân Ông giải thích rằng, một người con hư hỏng tới mức cha mẹ nói gì cũng không sợ, gia đình giáo dục như thế nào cũng không lay chuyển được tính nết… nhưng khi pháp luật can thiệp thì tự ắt người này thấy sợ mà phải thay đổi Theo ông cha mẹ yêu con nhưng điều đó không đủ để
Trang 17dạy con, phải nhờ tới pháp luật với những hình phạt nghiêm khắc mới răn dạy
được nó Do vậy, trị nước theo Hàn Phi cần lấy pháp luật làm trọng, và thưởng phạt là công cụ quan trọng nhất để thi hành pháp luật một cách triệt để
* Quan điểm tiến hóa lịch sử - cơ sở lí luận cho tư tưởng “Biến pháp”
Quan điểm lịch sử tiến hóa, đây là tiền đề đặc sắc trong phương pháp trị nước của Pháp gia Trong quan niệm về tiến hóa xã hội, Thương Ưởng đã chia
xã hội ra thành tam thế: thượng thế, trung thế và hạ thế Thời mà Thương Ưởng gọi là “thượng thế” tức là thời nguyên thủy, lúc này xã hội gồm những bộ lạc theo chế độ mẫu hệ Ở thời này thì con người ta thương yêu những người thân của mình và chuộng cái riêng tư “Trung thế” là thời theo chủ nghĩa “Nhân trị”, đây là thời kì Nho gia thịnh hành và phát triển Thời “trung thế” này người ta coi trọng những người hiền tài, cũng như đề cao đạo “Nhân” Còn “hạ thế” tức là thời pháp trị, thời mà Thương Ưởng đang sống Thời này người ta yêu quí người sang, tin tưởng những người sống đúng pháp luật và coi trọng quan lại Đây chính là cơ sở lí luận cho tư tưởng “biến pháp” của Pháp gia mà Hàn Phi Tử là người phát triển quan điểm đó lên đỉnh cao và vận dụng triệt để vào thực tiễn xã hội
Theo Hàn Phi, lịch sử xã hội luôn trong quá trình tiến hóa không ngừng Trong thiên Ngũ đố, Hàn Phi chia lịch sử thành 4 giai đoạn và theo ông mỗi giai đoạn có những đặc điểm như trình độ sản xuất, trình độ văn minh… khác nhau Theo ông, thời cổ đại người ta chỉ săn bắt, hái lượm là chủ yếu, họ ăn luôn thức
ăn kiếm được mà không qua chế biến Và người mang đến cho họ lửa để nấu chín thức ăn, xây nhà ở để tránh thú, họ tôn thờ người đó và gọi là vua Vào thời Trung cổ thì người ta đã biết lao động, sản xuất ra của cải vật chất, làm thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Vua lúc này là người giúp họ đào sông, có các chính sách để thúc đẩy sản xuất Đến thời cận Cổ, khi đất nước chiến tranh, loạn lạc thì vua là người đứng ra lãnh đạo, chỉ đạo người dân đứng lên chống
Trang 18giặc ngoại xâm, đem lại cuộc sống yên bình cho nhân dân Và ngày nay, nếu như
ta khen cái đạo đức trước đó và đem ra áp dụng một cách không thay đổi thì sẽ
bị chê cười Theo Hàn Phi, khi bàn tới việc làm ở đời nào thì cần căn cứ vào tình hình của thời đó để có thể đưa ra được những biện pháp phù hợp Ông chê:
“Những người ngày nay muốn dùng cách cai trị của các vị vua thời xưa để cai trị dân chúng đời này thì cũng là loại ôm cây đợi thỏ” [ 10, 37] Cho nên theo ông,
mỗi thời đại có một phương pháp trị nước khác nhau, khi hoàn cảnh thay đổi thì phương pháp cũng phải thay đổi cho phù hợp, không có một thứ pháp luật luôn luôn đúng với mọi thời đại
Không những vậy, trên cơ sở kế thừa những tinh túy của các trường phái
tư tưởng ở Trung Quốc cổ đại, ông đã kế thừa, tổng hợp các học phái Pháp trị trước đó mà tiêu đó là ba trường phái Thuật, Thế, Pháp của Thân Bất Hại, Thận Đáo và Thương Ưởng để góp phần xây dựng nên học thuyết hoàn chỉnh của mình
* Thân Bất Hại (401- 337 TCN) là người đất Kinh, thuộc nước Trịnh, xuất thân từ tầng lớp quý tộc mới, chuyên học về hình danh; trước làm một chức quan
nhỏ ở nước Trịnh, sau làm tướng quốc nước Hàn Theo Hàn Phi Tử, thuật của Thân Bất Hại là phương pháp, thủ đoạn, mưu lược, sách lược của người cầm quyền chính thể (nhà vua), nó là cái bí hiểm không được lộ ra cho bề tôi biết vua
là người sáng suốt hay không sáng suốt, biết nhiều hay ít, yếu hay ghét mình, ham muốn cái gì… nếu không bề tôi sẽ đề phòng, dễ lừa gạt bề trên, lấn quyền
Chủ trương của ông là ở cương vị nào thì phải làm đúng cương vị, chức trách, bổn phận của mình, ngoài ra có biết thêm gì thì cũng không nên nói ra Theo Hàn Phi, làm đúng bổn phận thì được nhưng biết mà không nói ra là sai Đây là những tư tưởng mà sau này Hàn Phi kế thừa trực tiếp để xây dựng nên học thuyết của mình
Trang 19* Thận Đáo (370-290 TCN) là người nước Triệu Ông cho rằng, đề cao
pháp luật mà không có quyền thế thì pháp luật cũng vô hiệu Do đó, ông đặc biệt
đề cao quyền thế, đây là cơ sở đặt ra pháp luật và đảm bảo cho pháp luật thi hành Theo Hàn Phi, việc đề cao thế của Thận Đáo đúng nhưng không đủ, vì ông
chưa chỉ ra được quyền thế địa vị do đâu mà có, và rồi làm sao giữ được quyền thế, vị trí ấy Đó là cơ sở để Hàn Phi kế thừa, bổ sung trong việc xây dựng và hoàn thiện nên học thuyết của mình
* Thương Ưởng (? - 338 TCN), là công tử nước Vệ, sống cùng thời với
Mạnh Tử, Thận Đáo, Thân Bất Hại Ông cho rằng ba đời làm vua thì những chế
độ và lễ nghi được thi hành không hề giống nhau, năm đời làm bá thì pháp luật đem thi hành cũng không giống nhau Chính vì vậy ông đã thực hiện hai cuộc
biến pháp lớn trong lịch sử Trung Hoa, lần một là vào năm 359 TCN, lần hai vào năm 350 TCN Nội dung chủ yếu là đề xuất cải cách pháp luật, hành chính, tài chính như: khuyến khích khai hoang, phát triển cả nông nghiệp, thương nghiệp
và thủ công nghiệp, cải cách chế độ thuế má, thực hiện thưởng cho những người
có công và phạt những người có tội… Do vậy nước Tần nhanh chóng mạnh lên
và lần lượt thôn tính các nước láng giềng để thống nhất Trung Quốc
Tư tưởng pháp trị của Thương Ưởng có ảnh hưởng lớn đối với Pháp gia sau này nói chung và Hàn Phi Tử nói riêng Đây là những hạt nhân cơ bản trong học thuyết của ông được Hàn Phi Tử tiếp thu, vận dụng một cách có hệ thống để xây dựng học thuyết của mình
Như vậy có thể nói, Hàn Phi đã có sự kế thừa, tiếp thu cơ sở lý luận từ các học thuyết tư tưởng Nho, Lão và phát triển chúng theo quỹ đạo của Pháp trị Tuy nhiên tiền đề tư tưởng trực tiếp đáng chú ý là ba học phái cơ bản đó là phái đề cao “thế” của Thận Đáo, phái đề cao “thuật” của Thân Bất Hại và phái chủ trương về “pháp” và “biến pháp” của Thương Ưởng Trong đó mỗi học phái có
vị trí, vai trò quan trọng riêng của nó trong phép trị nước Tuy nhiên sự tồn tại
Trang 20tách rời giữa chúng làm bộc lộ những yếu điểm không thể tự mình khắc phục được Sự nghiệp thống nhất và phát triển Trung Quốc đòi hỏi phải phát triển
“pháp”, “thế”, “thuật” lên một trình độ mới về chất, đồng thời phải thống nhất chúng trong một thể thống nhất hữu cơ như mục đích và phương tiện, nội dung
và hình thức Người đảm nhận và hoàn thành xuất sắc sứ mệnh này là nhà triết học và chính trị học Hàn Phi Tử
1.2.2 Nội dung học thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử và những yếu tố hợp lý
trong học thuyết ấy
Học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử xuất hiện trong lịch sử được ví như là
một vì sao chói lọi giữa bầu trời đầy tăm tối, hỗn loạn của xã hội Trung Quốc đương thời Những tư tưởng tiến bộ như là đề cao vai trò của pháp luật, pháp luật phải phù hợp với đời sống xã hội, chính sách đề cao thưởng phạt, trọng dụng nhân tài… thực sự là những điểm tiến bộ mang tính lịch sử Nó trở thành niềm tự hào và là nét đặc sắc trong nền tư tưởng triết học Trung Quốc nói riêng và phương Đông nói chung Và để hiểu rõ hơn những đóng góp của học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử, chúng ta đi sâu tìm hiểu những yếu tố tích cực trong học thuyết ấy
1.2.2.1 Tư tưởng đề cao pháp luật, xem nó là chuẩn mực cao nhất của việc cai trị và quản lý quốc gia
Nếu Nho gia dùng từ “pháp” theo nghĩa phép tắc, thì Pháp gia nói tới
“pháp” là nói đến pháp luật
Trong thiên Định pháp, Hàn Phi định nghĩa chữ “Pháp” như sau: “Pháp là hiến lệnh công bố ở các công sở, thưởng hay phạt đều được dân tin chắc là thi hành, thưởng người cẩn thận giữ pháp luật, phạt kẻ phạm pháp, như vậy bề tôi sẻ
theo pháp” Như vậy, theo Hàn Phi “pháp” là công cụ để quản lí xã hội và cần
Trang 21được công khai, ban bố rõ ràng để tất cả mọi người dân đều được biết và chấp hành đầy đủ
Trong thiên Hữu độ, ông ví pháp luật với dây mực, cái thủy chuẩn, cái quy, cái cũ, tức là những đồ dùng đo lường làm tiêu chuẩn Như vậy, tác dụng của pháp luật được thể hiện trên nguyên tắc công bằng, xử lý những vi phạm trên nguyên tắc khách quan nhằm đảm bảo duy trì trật tự xã hội ổn định
Hàn Phi cho rằng: “Bậc thánh nhân hiểu rõ cái thực tế của việc phải và trái, xét rõ thực chất của việc trị và loạn, cho nên trị nước thì nêu rõ pháp luật đúng đắn, bày ra hình phạt nghiêm khắc để chữa cái loạn của dân chúng, trừ bỏ cái họa trong thiên hạ Khiến cho kẻ mạnh không lấn át kẻ yếu, kẻ đông không xúc phạm số ít, người già được thỏa lòng, người trẻ và cô độc được trưởng thành, biên giới không bị xâm lấn, vua và tôi thân yêu nhau, cha con giữ gìn cho nhau [20, 22-23]
Những tư tưởng này đối lập hẳn với Nho gia, Khổng Tử từng nói: Bản thân mà chính đáng, dù không cần mệnh lệnh thì cũng thi hành, còn nếu bản thân
mà không chính đáng, dù có mệnh lệnh thì cũng không tuân theo Tư tưởng này
của Nho gia bị Hàn Phi phê phán mạnh mẽ Và trên thực tế, Hàn Phi đã coi
“pháp” là chuẩn mực cao nhất của việc cai trị đất nước, chỉ có pháp luật mới có thể điều chỉnh hành vi con người một cách triệt để nhất Bất kể người nào, một
khi đã xâm phạm tới pháp luật công khai và công bằng thì phải xử phạt theo pháp luật, chẳng hạn như câu chuyện về Thái tử nước Sở cũng phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật sau đây sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về điều này “Sở Trang Vương có việc liền khấp cấp cho gọi thái tử Pháp luật của nước Sở quy định rằng xe không được chạy tới Trĩ môn Khi thái tử vào cung lại gặp ngay lúc trời mưa to, sân ngập đầy nước, thái tử liền bảo người đánh xe chạy tới Trĩ môn Quan đình lý canh giữ ở đó liền giữ lại và nói rằng: “Cho xe chạy tới Trĩ môn là bất hợp pháp” rồi vung roi quất ngựa, quan Đình lý giơ cây trường
Trang 22thương đâm ngựa sau đó giết luôn cả người đánh xe Thái tử tức quá, liền khóc rồi vào tâu với vua rằng: “Phụ vương nhất định phải giết chết tên Đình lý kia, rửa cho con nỗi hờn này” Sở Vương ung dung, thong thả nói: “Viên Đình lý này
đã chẳng nể mặt ông vua già như ta để thi hành pháp luật của nhà nước lại còn tha cho thái tử; hắn cũng chẳng phải nịnh bợ ông vua tương lai như con mà phụ thuộc vào con, đó thật là một người hiền tài! Đó thật là một bề tôi biết tôn trọng pháp luật” Và rồi vua hạ lệnh thăng chức cho viên quan Đình lý nọ rồi mở cửa hậu cung bắt thái tử phải đi ra theo lối đó, còn nhắc nhở thái tử rằng: Về sau chớ coi thường pháp luật nhà nước mà tùy tiện vượt qua Trĩ môn nữa” [5, 72]
Câu chuyện cho thấy việc nhấn mạnh trật tự của nhà nước, phải lấy pháp luật bình đẳng khách quan làm chỗ dựa chung, mọi người ai cũng đều bình đẳng trước pháp luật Như vậy theo ông, then chốt của việc xây dựng đất nước giàu mạnh là phải dựa vào pháp luật Từ chỗ cho rằng: “Người thi hành pháp luật mà cương cường thì nước mạnh, người thi hành pháp luật mà nhu nhược thì nước yếu” [24, 284] Ông hết sức coi trọng tác dụng của pháp luật và chủ trương xây dựng một lý luận về pháp trị tương đối hoàn chỉnh, trong đó lấy pháp làm hạt nhân cơ bản, kết hợp chặt chẽ pháp, thế, thuật
Có thể nói chủ trương dùng pháp luật để “trị quốc, bình thiên hạ” là một trong những cống hiến lớn của Hàn Phi trong sự phát triển tư tưởng của Trung Quốc cổ đại và sự nghiệp thống nhất đất nước Trung Quốc sau thời Xuân thu – Chiến quốc Học thuyết của Hàn Phi Tử đã cho thấy rõ công dụng của pháp luật đối với việc ổn định và phát triển kinh tế xã hội, là những chuẩn mực điều chỉnh hành vi con người, là công cụ sắc bén và chủ yếu của nhà nước trong quá trình đấu tranh chống lại các thế lực bảo thủ, củng cố chế độ phong kiến ở Trung Quốc sau này
Trang 231.2.2.2 Pháp luật phải biến đổi phù hợp với thời thế - Thời biến, pháp biến
Vào thời Chiến quốc, xã hội trở nên rối ren, vua quan ăn chơi sa đọa, đời sống người dân ngày càng cơ cực Chế độ phong kiến đã dần tan rã nhưng vẫn giữ những lễ tiết của chế độ “Tông pháp” đã có, kết quả làm cho xã hội càng rối loạn hơn Giai cấp thống trị lúc bấy giờ đã nhận thấy được điều này, nên đã tiến hành các biện pháp cải cách nhằm ngăn chặn nguy cơ đảo lộn xã hội Đó là phong trào “Biến pháp” ở một loạt các nước như: Ngụy, Triệu, Hàn, Tề, Tấn… suốt thời Chiến quốc Và người khởi xướng đó là Thương Ưởng Tư tưởng thời thế thay đổi, pháp luật thay đổi của Hàn Phi ra đời trên cơ sở đó là sự kế thừa trực tiếp tư tưởng “Biến pháp” của Thương Ưởng, cộng với thời cuộc đang thay đổi lúc bấy giờ
Hàn Phi cho rằng, mỗi thời đại khác nhau thì có những sự việc, những diễn biến khác nhau, do đó chính sách theo đó mà thay đổi Con người thời cổ
cạnh tranh nhau trong tu dưỡng đạo đức, con người Trung cổ so tài cao thấp với nhau về mưu lược, con người thời nay (thời Chiến quốc) so tài hơn thua với nhau
về thực lực quốc gia… Như vậy, bất cứ chế độ nào, một khi đã tồn tại lâu đời thì các nhân tố như nhân, địa, thời, sự thường thay đổi, ngay cả chế độ cũng có nhiều điểm không hoàn toàn phù hợp Vì vậy phải thẩm định lại từ đầu để có những thay đổi cho phù hợp Đây là tư tưởng biểu hiện rõ nét tính chất duy vật
và tư tưởng biện chứng tự phát của Hàn Phi Tử về lịch sử xã hội
Thời Chiến quốc là thời kỳ có sự thay đổi dữ dội, cho nên chủ trương trên của Hàn Phi được khẳng định và có sức thuyết phục như vậy Nó là một trong những điểm tích cực, tiến bộ trong học thuyết của ông
Thực tiễn lịch sử Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc bằng nhiều biện pháp trong đó có những cải cách trên các mặt kinh tế, xã hội, và đặc biệt là pháp luật Nó đã góp phần nhanh chóng đưa nước Tần lên nắm địa vị thống trị Trung Quốc lúc bấy giờ đã chứng minh rõ hơn điều này Đó là điểm kế thừa tư
Trang 24tưởng “Biến pháp” trong học thuyết của Hàn Phi Điều này khẳng định mạnh mẽ hơn nữa ý nghĩa cũng như giá trị lịch sử to lớn của học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử trong lịch sử cũng như hiện nay
1.2.2.3 Thực thi pháp luật trên cơ sở đề cao thưởng phạt và pháp luật phải được thi hành triệt để
Hàn Phi cho rằng, bản tính con người là mưu lợi cho riêng mình Chỉ trừ một số ít là siêu nhân, còn lại thì hầu hết thì đều có những tật xấu như: Ham lợi, tranh nhau làm giàu, làm biếng… nên không mong gì họ làm điều thiện được, chỉ mong sao họ biết sợ mà không làm điều ác thôi Chính vì vậy mà chỉ có thể dùng chính sách cưỡng chế thôi, chứ không thể cảm hóa được Hàn Phi cho rằng cách thưởng phạt là mầm trị hay loạn của quốc gia nên gần như thiên nào ông cũng nhắc tới, và cơ bản nó gồm bốn nguyên tắc chính
* Thứ nhất, theo Hàn Phi, thưởng thì phải đúng người, phạt thì phải đúng tội
Theo ông, những người có công thì phải được thưởng theo luật định, trái lại người không có tội thì dù đó là kẻ mình ghét cũng không được trừng phạt Nếu pháp luật khiến cho kẻ phạm điều mình cấm lại được lợi, kẻ làm lợi cho mình lại bị cấm; hoặc khen kẻ có tội, chê kẻ đáng thương thì sự thưởng phạt
chỉ làm cho nước thêm loạn Như vậy, theo Hàn Phi thì việc thưởng phạt cần phải được xem xét, cân nhắc kỹ để thưởng đúng người có công, phạt đúng người
có tội, và có như vậy thì xã hội mới ổn định được
* Thứ hai, theo Hàn Phi, thưởng thì phải trọng hậu, phạt thì phải nặng
Trong thiên Lục phản, Hàn Phi viết: “Các học giả đều bảo: “Phải giảm nhẹ hình phạt đi” Theo ông, như vậy làm cho xã hội loạn thêm, không có kỷ cương, phép nước và không ai sợ pháp luật cả Hàn Phi cho rằng, thưởng phạt mà xác định là để khuyến thiện cấm ác Thưởng hậu thì mau được cái mình mong muốn, phạt nặng thì mau cấm cái mình ghét Như vậy, có thưởng phạt đúng người đúng
Trang 25tội thì mọi người mới tin tưởng vào pháp luật, lo sợ làm điều cấm bị phạt nên sẽ
cố gắng làm điều thiện Ngoài việc thi hành pháp luật ra, Hàn Phi Tử cho rằng
ban thưởng hậu hĩ chỉ mới đủ để khuyến khích làm điều thiện, hình phạt nặng mới đủ ngăn cấm là điều ác
* Thứ ba, theo Hàn Phi, sự thưởng phạt phải theo đúng phép nước, chí công vô tư
Trong thiên Hữu độ, Hàn Phi viết: “Pháp luật nghiêm là để ngăn cấm tội lỗi, trừ bỏ riêng tư; hình phạt gắt là để lệnh được thi hành khắp và trừng trị kẻ dưới”
Nói tới thưởng phạt, nhất là phạt, Hàn Phi thường kèm theo với pháp luật Thưởng phạt vốn là hai vấn đề lớn của việc thi hành pháp trị, cần phải thực hiện cùng một lúc thì mới có thể mang lại hiệu quả được, mọi người ai ai cũng tôn trọng pháp luật, đất nước được ổn định cường thịnh
Như câu chuyện mà chúng ta đã xét ở phần trên, đó là việc Thái tử không chấp hành pháp luật bị viên Đình lý phạt Khi kể lể với vua, vua không hề an ủi
mà còn quở trách, còn viên Đình lý thì được khen và thăng chức cho Đây là câu chuyện cũng thể hiện sự thưởng phạt phải đúng phép nước, không phân biệt sang hèn hay người thân yêu
Tóm lại theo Hàn Phi thưởng phạt không được vì tình tư, không được có
tư ý, không được để lộ buồn vui của mình ra nữa Theo ông, cứ theo đúng pháp luật mà thưởng phạt, thì kẻ bị trừng phạt không hề oán bề trên, kẻ được thưởng cũng không mang ơn bề trên vì không coi sự thưởng phạt là một ân huệ, chỉ là sự công bằng mà thôi
* Thứ tư, theo Hàn Phi vua phải nắm hết quyền thưởng phạt
Quyền thưởng phạt là một loại lợi khí, đích thân vua phải nắm giữ lấy, không được ủy quyền cho ai cả; giao cho người thì quyền của vua bị phân tán, và
sẽ bị bề tôi che lấp, không chế ngự họ được
Trang 26Ông cho rằng: “Cọp làm cho chó phải khiếp nhục là nhờ nanh với vuốt, nếu cọp bỏ nanh vuốt đi để cho chó dùng thì ngược lại nó phải khiếp nhục chó
(Thiên Nhị bính) Bậc vua chúa dùng hình và đức để chế ngự bề tôi, nếu bỏ hai quyền đó để bề tôi dùng thì ngược lại bị bề tôi chế ngự Vì vậy vua không được giao quyền nào cho bề tôi
Có thể nói, những học thuyết thường dùng của Hàn Phi Tử như pháp, thế, thuật, bất cứ loại nào cũng không tách rời khỏi sự thưởng phạt Thưởng phạt là hai mục lớn của Pháp trị, là hai công cụ của pháp thuật, là sự biểu hiện về sức mạnh của quyền thế Nó chính là công cụ để các bậc đế vương ổn định quyền thế
và phát triển đất nước giàu mạnh giàu mạnh
1.2.2.4 Quan niệm của Hàn Phi Tử về pháp trị là sự tổng hợp giữa Pháp, Thế, Thuật
Chủ trương của các nhóm Thuật - Thế - Pháp của ba đại biểu tiêu biểu: Thân Bất Hại, Thận Đáo, Thương Ưởng đã phát triển và làm sâu sắc hơn tư tưởng pháp trị của trường phái Pháp gia Nó đã nâng tư tưởng pháp trị lên một trình độ cao hơn Tuy nhiên các quan điểm này còn mang tính chất riêng lẻ, chưa
có sự thống nhất biện chứng cụ thể, do đó khi đem ra áp dụng dẫn đến thất bại Đón nhận sứ mệnh lịch sử đó là tiếp tục đưa ngọn cờ pháp trị lên một tầm cao mới, Hàn Phi đã tổng kết toàn bộ các tư tưởng của Pháp gia trước đó Trong khi xác nhận những yếu tố hợp lý, đúng đắn trong các học thuyết này, Hàn Phi cũng chỉ ra những hạn chế cụ thể của họ Theo ông, Thuật của Thân Bất Hại là hoàn toàn đúng, song nó còn thiếu một điều kiện đảm bảo cho pháp luật có thể thực thi đó là quyền lực Bàn về Thận Đáo, Hàn Phi cho rằng: Thế là cần thiết, nhà cầm quyền phải dùng quyền thế của mình mới quản lí được bề tôi, sai khiến bề tôi Tuy nhiên, ông chưa nói rõ làm thế nào để nhà vua giữ được cái thế của mình Những quan điểm về pháp và biến pháp của Thương Ưởng có nhiều tiến
bộ, nhưng cũng như Thận Đáo, ông cũng chưa nhìn thấy được vai trò bổ sung
Trang 27giữa Thuật và Pháp Như vậy, trên cơ sở phê phán điểm phiến diện của cả ba học phái trên, Hàn Phi đã nêu rõ tính tất yếu phải hợp chúng lại vì theo ông chúng có mối liên hệ mật thiết, bổ sung cho nhau Trong đó, Pháp được coi là trung tâm của chính sách cai trị; Thuật và Thế là những điều kiện tất yếu để thi hành pháp luật Đồng thời, pháp luật được thực thi sẽ là cơ sở để Thuật và Thế
được giữ vững và phát huy tác dụng Và theo ông, cả ba yếu tố này đều là “công
cụ của đế vương”
* “Thuật” theo tư tưởng của Hàn Phi Tử
Là một quan niệm rất quan trọng trong tư tưởng của Hàn Phi Nó là công
cụ quan trọng nhất của đế vương, là cách thức, phương pháp, thủ đoạn, mưu lược của nhà vua nhằm điều khiển các công việc đất nước và quản lí quan lại
Vậy “thuật” của nhà vua là thuật gì?
Trước hết, nhà vua cần dấu kín thuật cai quản, sử dụng bề tôi, trị nước an dân của mình Theo Hàn Phi, vua không được để lộ cho người khác biết suy nghĩ cũng như ý định của bản thân, như vậy quần thần không thể biết mà tìm cách xu nịnh hay lợi dụng tình cảm của vua
Theo Hàn Phi, trong dùng “thuật”, nhà vua cần thực hiện theo cơ chế: bên trong có biện pháp đề phòng, thay đổi luôn luôn bên ngoài, cứ chiếu theo phép tắc mà xử Như vậy nhờ có thuật trị nước mà nhà vua chỉ cần ở trong cung cũng nắm được tình hình bên ngoài Như vậy, “thuật” rất quan trọng với nhà vua
* “Thế” theo tư tưởng Hàn Phi Tử
Theo Hàn Phi, “thế” dùng để chỉ quyền lực tối thượng của nhà vua Pháp
luật là công cụ để trị dân, ổn định xã hội, nhưng để mọi người dân tuân thủ theo pháp luật thì người cầm đầu chính thể phải có thế
Quan niệm về “thế” do Thận Đáo khởi xướng, Hàn Phi là người kế thừa và coi
đó là điều kiện căn bản nhất của nhà lãnh đạo Nếu vua mà thiếu cái “thế” mạnh
Trang 28thì “pháp” cũng không thể thành, và sở dĩ vua phải dùng cái “thuật” là nhằm bảo
vệ cái “thế”
* “Pháp” theo tư tưởng Hàn Phi
Pháp là tiêu chuẩn, căn cứ khách quan để định rõ danh phận, phải trái, công tội; từ đó mọi người biết được trách nhiệm cũng như nghĩa vụ của mình
Hàn Phi Tử định nghĩa Pháp có ba nội điểm chính đó là:
- Là pháp lệnh do cửa quan ban ra, mọi người đều phải tuân theo
- Nội dung chính của Pháp đó là Thưởng – Phạt
- Pháp được ví như tấm gương sáng có thể soi thấu tà gian; pháp ví như cán cân, tiêu biểu cho lẽ công bằng
Một điểm tiến bộ lớn được ghi nhận nữa trong học thuyết của ông đó chính là quan điểm về dùng người Từ cổ chí kim, những lãnh tụ anh minh, không ai là không biết cách dùng người Hàn Phi Tử cũng chủ trương, nhà vua quản lý tốt quan lại của mình, rồi quan lại này sẽ điều khiển dân chúng tốt, đó là
cơ sở để xây dựng nhà nước ổn định, giàu mạnh
Hàn Phi quan niệm, sự bổ nhiệm quan chức có quan hệ đến việc tồn vong, thịnh suy của mỗi quốc gia Tiêu chuẩn dùng người của vua thông thường nếu không phải là người tài trí thì là người hiền đức, và Hàn Phi đều không tán thành
cả hai tiêu chuẩn đó Theo ông, người có tài trí chưa chắc đã có đạo đức, họ thường xuyên mưu mô để lừa gạt vua Còn đối với người hiền đức thì họ không
đa mưu, khó khăn trong cách giải quyết công việc và thường làm cho mọi việc rối tung lên Theo ông để khách quan thì vua sẽ giao công việc cho những người nào đó có khả năng Kết quả công việc mang lại sẻ là tiêu chuẩn để đánh giá về người đó Như vậy, không cần để ra tiêu chuẩn gì cũng tìm được người tài giỏi
Có thể nói, thuật dùng người là một trong những điểm tiến bộ trong học thuyết của Hàn Phi, nó đã góp phần làm phong phú thêm giá trị học thuyết pháp trị của
Hàn Phi Tử nói riêng và phái Pháp gia nói chung
Trang 291.2.3 Đánh giá học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử
1.2.3.1 Những điểm tích cực
Học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử là sự kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những ưu điểm nổi trội của các tư tưởng, học thuyết đi trước Kể từ Hàn Phi, Pháp trị không còn mang tính chất là những quan niệm riêng rẽ về Pháp – Thế - Thuật nữa mà nó đã hình thành nên một trường phái, ngang hàng với Nho gia, Mặc gia, Đạo gia và những trường phái khác Với những điểm tích cực mà ta đã tìm hiểu ở trên như: đề cao pháp luật, xem nó là chuẩn mực cao nhất của việc cai trị và quản lí quốc gia; pháp luật phải thay đổi sao cho phù hợp với thời thế; đề cao thưởng phạt trong việc thi hành pháp luật… học thuyết pháp trị của Hàn Phi
Tử đã sớm trở thành vũ khí lí luận sắc bén để nhà Tần thực hiện công cuộc thống nhất đất nước Trung Hoa lúc bấy giờ Đồng thời, nó cũng để lại những bài học trong cách quản lí xã hội mà ngày nay chúng ta cần học hỏi, tiếp thu nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1.2.3.2 Những mặt hạn chế
Bên cạnh những giá trị về mặt lịch sử nói trên, tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử còn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót Sau khi nhà Tần sụp đổ thì tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử cũng dần đi vào lụi tàn Với sự thống trị của nhà Hán cùng chính sách “độc tôn Nho giáo” thì tư tưởng Pháp trị không còn chổ đứng của mình
Hàn Phi do quá nhấn mạnh đến vai trò của pháp luật mà bỏ qua yếu tố giáo hóa về mặt đạo đức, tính tự giác bên trong mỗi con người trong việc chấp hành pháp luật Với mục tiêu thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động nhằm tạo sức mạnh tổng hợp thống nhất đất nước, Hàn Phi Tử đã đẩy hình pháp đến hình thái cực đoan nhất, với chế độ pháp trị tàn bạo Mặt khác, pháp gia có cái nhìn còn phiến diện, một chiều về bản tính con người Pháp gia chỉ thấy bản tính con người ở khía cạnh vụ lợi mà không thấy những phẩm chất tốt đẹp ở con
Trang 30người họ, họ có những lí tưởng sống cao đẹp và cũng sẵn sàng hy sinh bản thân mình cho những lí tưởng đó
Pháp gia cũng đã quá thần thánh hóa pháp luật đến mức đặt địa vị của vua cao hơn pháp luật, vua không cần phải theo pháp luật Đây là một hạn chế, vì thực tế trong lịch sử nhân loại cho thấy, không có ông vua nào tài giỏi, anh minh đến đâu mà không phạm phải sai lầm cả
Nếu như Nho gia đề cao đạo đức thì Pháp gia lại đề cao pháp luật trong phép trị nước Pháp gia cũng nói tới đạo đức nhưng không phải đạo đức giữa con người với con người trong cách đối nhân xử thế mà là thứ đạo đức dùng cho quân vương Mặt khác, đề cập đến việc giáo hóa dân chúng, thì Hàn Phi cho rằng mục đích của việc đó là làm cho đất nước hùng mạnh chứ không phải là lo cho dân no ấm, có cuộc sống đầy đủ Với cái nhìn như vậy, Pháp gia nói chung và Hàn Phi nói riêng đã tách mối quan hệ biện chứng giữa dân với nước, đó là cách nhìn siêu hình, phiến diện
Có thể nói, ra đời cách đây trên hai ngàn năm, mặc dù còn nhiều hạn chế
do lịch sử, do bản chất của giai cấp, nhưng học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử vẫn toát lên nhiều giá trị tư tưởng quý báu, đóng góp to lớn cho sự phát triển của
tư tưởng Trung Quốc cổ đại và nhất là sự nghiệp thống nhất đất nước Trung Hoa lúc bấy giờ Không những thế, những giá trị của nó vẫn còn sống mãi và lan tỏa cho đến tận các thế hệ sau Ngày nay, chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân thì một yêu cầu quan trọng là phải xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, tạo môi trường pháp lý ổn định cho sự phát triển kinh tế, xã hội Qua thực tiễn 25 năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu mà chúng ta đã đạt được trong hoạt động xây dựng và thực thi pháp luật, thì vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém nhất định Pháp luật chúng
ta còn thiếu tình ổn định và sự cụ thể chặt chẽ; ý thức chấp hành pháp luật của một phận đông đảo nhân dân vẫn còn thấp… đó là những nguyên nhân làm cho
Trang 31kỷ cương phép nước không nghiêm Do vậy, trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, thì việc kế thừa, tiếp thu những hạt nhân tiến bộ của học thuyết này là rất quan trọng Học thuyết pháp trị chắc chắn sẽ cho chúng ta nhiều suy ngẫm trong công tác xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật hiện nay
Trang 32Chương 2:
KẾ THỪA NHỮNG YẾU TỐ HỢP LÍ TRONG HỌC THUYẾT PHÁP TRỊ
HÀN PHI TỬ ĐỂ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 2.1 Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
2.1.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
2.1.1.1 Hồ Chí Minh kế thừa các quan niệm về nhà nước pháp quyền trong lịch sử
Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân là một trong
những quan điểm tư tưởng quan trọng của chủ tịch Hồ Chí Minh, nó là kim chỉ nam định hướng cho toàn bộ quá trình xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy của Nhà nước ta Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền là sự phát triển mới và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin với truyền thống dân tộc, cùng với việc kế thừa những tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây
Như chúng ta đã biết, tư tưởng triết học về nhà nước và pháp quyền đã được sớm nêu lên ngay trong thời cổ đại ở cả phương Đông và phương Tây, bắt đầu từ đó, nó từng bước phát triển và dần dần được hoàn thiện
Ngay ở phương Đông, các nhà triết học ở Trung Quốc như Lão Tử, Trang
Tử và đặc biệt là Hàn Phi Tử đã đưa ra tư tưởng về tính tối thượng của pháp luật
và sự bình đẳng của mọi người trước pháp luật, mặc dù quan niệm có phần khác với quan niệm phương Tây Chẳng hạn như Lão Tử, Trang Tử đã nêu ra tư tưởng nhằm giới hạn sự can thiệp của công quyền vào đời sống cá nhân của con người, bảo vệ sự tự do của con người Hàn Phi Tử, đại diện của trường phái Pháp gia đã phát triển tư tưởng này đến đỉnh cao, coi pháp luật là cơ sở duy nhất để quản lý
xã hội Ông nhấn mạnh đến vai trò của pháp luật, đề cao các tiêu chuẩn như tính khách quan, công bằng, minh bạch và ổn định là hết sức cần thiết trong việc xây
Trang 33dựng pháp luật… Pháp luật phải được công bố thành văn và công bố rộng rãi cho mọi người, pháp luật phải nghiêm minh và có chế độ thưởng phạt đúng đắn…
Ở phương Tây, tư tưởng về nhà nước pháp quyền có phần sâu sắc hơn và được dựa trên cơ sở tư duy triết học Một số nhà triết học nổi tiếng như Xôcrat
(469 – 399 TCN) đã nêu quan điểm: Phục tùng và tôn trọng pháp luật là tôn trọng lý trí công bằng và trí tuệ phổ biến, nếu không quyền lực sẻ lạc lối Arixtốt (384 – 322 TCN) - người mà được Mác xem là nhà triết học vĩ đại nhất thời cổ đại Ông khẳng định vị trí tối thượng của pháp luật và đề cập đến sự tổ chức hợp
lý của quyền lực nhà nước, theo đó bất kỳ nhà nước nào cũng gồm 3 bộ phận: Cơ quan làm luật, cơ quan thực thi pháp luật và cơ quan xét xử
Như vậy, các ông đã đề cao tính công minh của pháp luật và chỉ rõ sự cần thiết của việc quản lý xã hội bằng pháp luật
Nhà triết học người Anh, Giôn Lốccơ (1632 – 1704) cũng cho rằng: Con người có các quyền tự nhiên như tự do, bình đẳng, sở hữu Đó là các quyền tự nhiên bất khả xâm phạm của con người và nhà nước lập ra pháp luật để bảo vệ các quyền đó Những tư tưởng tiến bộ này đã được thể hiện rõ nét trong các tư tưởng của chủ nghĩa Nhân văn thời kỳ Phục hưng (thế kỷ XVII – XVII) và khai sáng (thế kỷ XVIII) nhằm chống lại chế độ quân chủ chuyên chế ở châu Âu trong thời kỳ Trung cổ, đòi các quyền “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái” cho con người Đây cũng là một trong những tiền đề lý luận để hình thành nên tư tưởng pháp quyền ở Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này
Nhìn chung, trong các nhà tư tưởng của thời kỳ Phục hưng – Khai sáng thì Môngtexkiơ (1689 – 1775) là người đã có những quan điểm nói về phân quyền Theo ông, ở mỗi nhà nước đều có ba loại pháp quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp Để tránh lạm dụng thì theo ông ba quyền đó phải do ba cơ quan khác nhau nắm giữ, để có sự kiềm chế lẫn nhau Sự phân chia và kiềm lực lẫn nhau giữa ba quyền đó là điều kiện chủ yếu để đảm bảo sự tự do chính trị trong nhà nước
Trang 34Tư tưởng nhà nước pháp quyền ở phương Tây còn được thể hiện ở Can-tơ (1724 -1804) Theo Can-tơ nhà nước đó là tập hợp của nhiều người cùng phục tùng các đạo luật pháp quyền, ông còn cho rằng ở đâu áp dụng nguyên tắc phân quyền thì ở đó có nhà nước pháp quyền, còn nếu không thì là chuyên quyền Cùng với tư tưởng “chủ nghĩa phân quyền” như ở Can-tơ, nhà triết học cổ điển Đức là Hêghen (1770 – 1831) cũng cho rằng: sự phân quyền trong nhà nước là
sự bảo đảm của tự do công bằng, đồng thời khi đề cập đến nhà nước pháp quyền, ông cho rằng: xã hội công dân, trật tự pháp luật và các đạo luật mang tính pháp quyền là những yếu tố cấu thành của Nhà nước pháp quyền
Có thể nói, qua việc nghiên cứu lịch sử của các tư tưởng, các quan niệm điển hình về nhà nước và pháp luật, nó giúp chúng ta thấy được sự phát triển lịch
sử của các quan niệm về nhà nước pháp quyền, những mặt mạnh, hạn chế Và chủ nghĩa Mác ra đời, thì vấn đề về pháp quyền, nhà nước pháp quyền được giải thích một cách rõ ràng, triệt để hơn Trong “Nhà nước và cách mạng”, V.I.Lênin coi Nhà nước là một trong những vấn đề phức tạp nhất, khó khăn nhất nhưng lại
là vấn đề cơ bản và mấu chốt nhất của một cuộc cách mạng Tiếp thu và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề nhà nước, đó là những tiền đề quan trọng trực tiếp để Hồ Chí Minh hình thành và phát triển tư tưởng của mình về nhà nước pháp quyền
Như vậy tư tưởng về nhà nước pháp quyền ở phương Đông, thời kỳ Khai sáng ở phương Tây cùng với những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước, pháp luật là cơ sở lý luận quan trọng để Hồ Chí Minh tiếp thu và vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, từ đó hình thành nên
tư tưởng của Người về một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân
Trang 352.1.1.2 Hồ Chí Minh căn cứ vào tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của thời đại
và thực tiễn ở Việt Nam
Qua lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của ông cha ta, đã có biết bao kinh nghiệm quý báu về xây dựng nhà nước được ghi chép lại và lưu truyền, nó được thể hiện qua các bộ sách sử lớn của dân tộc như: Đại Việt sử ký toàn thư; Lịch triều hiến chương loại chí… Kinh nghiệm trị nước đã được ghi nhận trong các bộ luật nổi tiếng như luật Hình thư (đời Lý), Quốc triều hình luật (đời Trần), Bộ luật Hồng Đức (đời Lê)…
Kế thừa và phát triển những tư tưởng tiến bộ trong việc xây dựng nhà nước và pháp luật cùng với các giá trị truyền thống của dân tộc Ngay từ khi còn đang trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc về vai trò, ý nghĩa của việc xây dựng nhà nước mà ở đó, quyền lực, quyền tự do thuộc về nhân dân Năm 1919, Người đã gửi bản yêu sách 8 điểm của nhân dân
An Nam lên hội nghị Vécxay Pháp, đòi thực dân Pháp xóa bỏ lối cai trị hà khắc, phân biệt ở các nước thuộc địa, thay vào đó là các đạo luật có tính dân chủ hơn như đã áp dụng ở chính quốc
Đến 1922, trong bài “Việt Nam yêu cầu ca”, có tám điều thì điều thứ bảy cho thấy tư tưởng pháp quyền – một bộ phận không thể thiếu của nhà nước pháp quyền đã sớm hình thành ở Nguyễn Ái Quốc khi chưa bắt gặp chủ nghĩa Mác –
“tối thượng” của pháp luật”
Đánh giá cao vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội, trước khi có Hiến pháp, Người cho rằng một xã hội không thể sống một ngày mà không có pháp
Trang 36luật, cho nên Người đã kí một loạt các sắc lệnh như: Sắc lệnh bảo đảm tự do cá nhân, Sắc lệnh bãi bỏ thuế thân… Đó là nền tảng trước mắt và lâu dài cho nhà nước pháp quyền Tiếp theo đó, trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta năm
1946 do chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo, ngay từ điều 1 Người đã khẳng định:
“Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp” Người cũng đã đề nghị chính phủ lâm thời tổ chức càng sớm càng tốt cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu Như vậy, Người đã thực hiện ngay được cả cái quyền được tham gia bầu cử của nhân dân
Có thể nói quá trình để xây dựng một nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân của chủ tịch Hồ Chí Minh là cả một quá trình đấu tranh, tìm tòi và khảo nghiệm đầy khó khăn Và chỉ khi bắt gặp chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời qua nghiên cứu cách mạng Tháng 10 Nga (1917) thì tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền mới thực sự được hình thành, và đã được Người thực hiện hóa sau cách mạng Tháng Tám 1945 với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1945)
2.1.1.3 Một số quan niệm của Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền
Có lẽ, người Việt Nam đầu tiên nói đến pháp quyền là chủ tịch Hồ Chí
Minh Tư tưởng này được Người sớm quan tâm và nghiên cứu ngay từ khi còn
trong quá trình đi tìm đường cứu nước Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước và pháp luật là nhằm mục đích phục vụ nhân dân, luôn đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu Đó là cơ sở, nền tảng rất quan trọng để chúng ta nghiên
cứu, tìm hiểu tư tưởng về nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh
* Nhà nước pháp quyền là nhà nước của dân, do dân và vì dân Tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân Dân chủ là cốt lõi của tư tưởng về nhà nước pháp quyền Đó là một nền dân chủ triệt để Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân
Trang 37Những tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền được thể hiện
rõ qua các tác phẩm, gắn liền quá trình hoạt động cách mạng của Người:
+ Yêu sách tám điểm của nhân dân An Nam gửi lên hội nghị Vécxay (ở Pháp) năm 1919
+ “Yêu sách gửi Hội Vạn quốc”, trong đó Người đã đề ra yêu sách: “Sắp đặt một bản Hiến pháp”, vì như một nhà tư tưởng Pháp thế kỷ XVIII đã nói: Một nước không có Hiến pháp là một nước không có dân chủ
+ Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 2/9/1945
+ Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là trưởng ban dự thảo hai bản hiến pháp đầu tiên của nước ta, Hiến pháp 1946, 1959: Đây là một nền Hiến pháp dân chủ, cơ
sở của Nhà nước pháp quyền Việt Nam thực sự của dân, do dân và vì dân
Như vậy, kế thừa những tư tưởng về Nhà nước pháp quyền trong lịch sử đồng thời tổng kết thực tiễn cách mạng Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa
ra những tư tưởng sâu sắc về việc xây dựng nhà nước pháp quyền kiểu mới, đó là nhà nước mà mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân, nhằm phục vụ nhân dân Người dân được quyền sống và làm việc theo khả năng của mình trong phạm vi không vi phạm tới pháp luật
Hồ Chí Minh đã từng nói: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều vì dân
quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân [27,698]
Vì vậy khi nói tới Nhà nước pháp quyền, vấn đề hàng đầu phải được nói đến đó là vấn đề dân chủ Đây là vấn đề mà được Hồ Chí Minh quan tâm và đấu tranh trong cả suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Với cuộc Tổng
tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vào ngày 6.1.1946 do Người chỉ đạo là một bằng chứng sinh động thể hiện rõ hơn nữa những tư tưởng này Người dân được thể hiện quyền dân chủ của mình trong việc đi bỏ phiếu,
Trang 38lựa chọn những người có đức có tài đứng ra gánh vác công việc đất nước Điều này thể hiện được sự nhất quán trong quan niệm của chủ tịch Hồ Chí Minh, nó vượt xa và hơn hẳn các chế độ trước đó Những tư tưởng này của Người về Nhà nước pháp quyền là hết sức cần thiết, nhất là trong bối cảnh Đảng và nhân dân ta đang đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
nó được coi là một trong những nội dung trọng tâm của quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay
* Nhà nước pháp quyền là sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc của nhà nước Nhà nước pháp quyền phải do Đảng cộng sản lãnh đạo
Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong khi nhấn mạnh tới dân chủ nhân dân của nước ta, Hồ Chí Minh luôn khẳng định tính thứ nhất của bản chất giai cấp công nhân: Nhà nước ta là nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo Khẳng định bản chất giai cấp công nhân của nhà nước, Hồ Chí Minh cũng đồng thời khẳng định sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc của nhà nước Nhà nước ta ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của bao thế hệ đi trước đã ngã xuống Và mục đích hoạt động của nhà nước là đem lại lợi ích cho đại bộ phận nhân dân, bảo vệ lợi ích nhân dân và lấy lợi ích nhân dân làm nền tảng
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, Đảng phải nắm lấy vai trò lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo nhân dân, đó là một nguyên tắc bất di bất dịch trong toàn bộ
quá trình xây dựng, cũng cố và phát triển Nhà nước ta Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là nhằm giữ vững bản chất giai cấp công nhân của nhà nước Tư tưởng đó của Hồ Chí Minh đã được thể hiện rõ trong hiến pháp 1980
và 1992, trong đó khẳng định: Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lênin và