Luận văn
Trang 1HÀ THỊ HẰNG
NGUåN NH¢N LùC CHO C¤NG NGHIÖP HãA,
HIÖN §¹I HãA G¾N VíI PH¸T TRIÓN KINH TÕ TRI THøC
ë TØNH THõA THI£N HUÕ HIÖN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
Trang 2HÀ THỊ HẰNG
NGUåN NH¢N LùC CHO C¤NG NGHIÖP HãA,
HIÖN §¹I HãA G¾N VíI PH¸T TRIÓN KINH TÕ TRI THøC
ë TØNH THõA THI£N HUÕ HIÖN NAY
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số : 62 31 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Trần Quang Lâm
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận
án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng; những phát hiện đưa ra trong luận án là kết quả nghiên cứu của tác giả
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Hà Thị Hằng
Trang 4CMKT Chuyên môn kỹ thuật
CNTT Công nghệ thông tin
CNXH Chủ nghĩa xã hội
CNKT Công nhân kỹ thuật
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GD - ĐT Giáo dục - Đào tạo
NNLCLC Nguồn nhân lực chất lượng cao
NNLKH - CN Nguồn nhân lực khoa học - công nghệPGS Phó giáo sư
TCH Toàn cầu hóa
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1.1
1.2
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN
CỨU VỀ NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực phục vụ cho công
nghiệp hoá, hiện đại hoá
Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực chất lượng cao trong
nền kinh tế tri thức
6
6
16
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
23
2.1 Nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển
kinh tế tri thức
24
2.1.1 Nguồn nhân lực và đặc thù của nguồn nhân lực cho công nghiệp
hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức
24
2.1.2 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức và
yêu cầu của nguồn nhân lực
30
2.2 Tính quy luật trong dịch chuyển cơ cấu nguồn nhân lực theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức
41
2.2.1 Các yếu tố tác động đến xu hướng dịch chuyển cơ cấu nguồn nhân lực
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức
42
2.2.2 Xu hướng và tính quy luật trong dịch chuyển cơ cấu nguồn nhân lực theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức
44
2.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia và một số tỉnh trong nước về phát
triển nguồn nhân lực
502.3.1 Kinh nghiệm về phát triển nguồn nhân lực ở một số quốc gia Đông Á 512.3.2 Kinh nghiệm về phát triển nguồn nhân lực của một số tỉnh ở Việt Nam 59
Trang 6Chương 3: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG
NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ GẮN VỚI PHÁT TRỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở THỪA THIÊN HUẾ
67
3.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Thừa
Thiên Huế ảnh hưởng đến hình thành và phát triển nguồn nhân lực
cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức
67
3.1.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Thừa Thiên Huế ảnh hưởng tới sự hình
thành và phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại
hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức
67
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế ảnh hưởng tới sự hình
thành và phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn
với phát triển kinh tế tri thức
69
3.1.3 Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới sự
hình thành và phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện
đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức ở tỉnh Thừa Thiên Huế
71
3.2 Thực trạng phát triển và dịch chuyển cơ cấu nguồn nhân lực cho công
nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức ở tỉnh Thừa
Thiên Huế
73
3.2.1 Thực trạng quy mô và chất lượng nguồn nhân lực cho công nghiệp
hoa, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức ở tỉnh Thừa
Thiên Huế
73
3.2.2 Thực trạng dịch chuyển cơ cấu nguồn nhân lực cho công nghiệp
hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức ở tỉnh Thừa
Thiên Huế
88
3.2.3 Thực trạng hệ thống đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại
hoá gắn với kinh tế tri thức ở tỉnh Thừa Thiên Huế
100
3.3 Đánh giá chung về nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại
hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức ở tỉnh Thừa Thiên Huế
105
Trang 73.3.2 Những hạn chế, nguyên nhân của hạn chế và những vấn đề đặt ra
trong phát triển và dịch chuyển cơ cấu nguồn nhân lực cho công
nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức
107
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
117
4.1 Quan điểm và dự báo về phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá,
hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức ở tỉnh Thừa Thiên Huế
117
4.1.1 Dự báo về nhu cầu nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá
gắn với phát triển kinh tế tri thức ở tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020
117
4.1.2 Những quan điểm cơ bản trong phát triển nguồn nhân lực cho công
nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức ở tỉnh
Thừa Thiên Huế
119
4.2 Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện
đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức ở tỉnh Thừa Thiên Huế
125
4.2.1 Nhóm các giải pháp tạo tiền đề phát triển nguồn nhân lực cho công
nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức ở tỉnh Thừa
Thiên Huế
125
4.2.2 Nhóm các giải pháp trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực
cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức
ở tỉnh Thừa Thiên Huế
131
4.2.3 Nhóm các giải pháp khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân
lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri
thức ở tỉnh Thừa Thiên Huế
147
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 2.1 LLLĐ thông tin trong tổng LLLĐ ở các nước phát triển 48Bảng 2.2 LLLĐ trong lĩnh vực phần mềm ở các nước phát triển 48Bảng 2.3 Sự phát triển việc làm theo các khu vực kinh tế ở các nước
tiên tiến
49
Bảng 3.1 Cơ cấu dân số trong tuổi LĐ phân theo trình độ học vấn 78Bảng 3.2 Đội ngũ trí thức của tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2010 79Bảng 3.3 Đội ngũ cán bộ KH - CN của Đại học Huế giai đoạn 2001 - 2011 80Bảng 3.4 LĐ làm việc trong ngành CNTT năm 2009 81Bảng 3.5 Đánh giá của cơ quan sử dụng LĐ về khả năng sáng tạo
trong công việc của người LĐ
1999 - 2011
97
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Lý luận và thực tiễn đều khẳng định vai trò quyết định của nguồn nhân lực(NNL), nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLCLC) đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội (KT - XH) nói chung và công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) nóiriêng Thực tế, những quốc gia, địa phương nào quan tâm, đào tạo, sử dụng hợp lý
và có hiệu quả NNL đều dẫn đến thành công Sự hồi phục nhanh chóng của nướcĐức sau chiến tranh thế giới thứ II hay sự phát triển thần kỳ của các quốc gia vàvùng lãnh thổ có nền công nghiệp phát triển ở Châu Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc,Singgapore là những minh chứng rõ ràng cho nhận định trên
NNL giữ vai trò quyết định, song ở những trình độ phát triển khác nhau lại đặt
ra những yêu cầu khác nhau đối với NNL Trong bối cảnh cuộc cách mạng khoahọc - công nghệ (KH - CN) phát triển như vũ bão và xu thế toàn cầu hoá (TCH)kinh tế thúc đẩy sự lan toả nhanh của kinh tế tri thức (KTTTh), Việt Nam không thểthực hiện CNH, HĐH theo con đường “truyền thống”, mà phải “đi tắt, đón đầu”, tức
là CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng
đã khẳng định “Tranh thủ thời cơ thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng,lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước theo định hướng xãhội chủ nghĩa (XHCN) gắn với phát triển KTTTh”[43; 87] Để thực hiện được mụctiêu trên, trong Chiến lược phát triển KT - XH đến năm 2020 Đảng ta xác định có
ba khâu đột phá và một trong ba khâu đột phá đó là phát triển nhanh NNL, đặc biệt
là NNLCLC
Thừa Thiên Huế là một tỉnh của miền Trung có điều kiện tự nhiên tương đốikhắc nghiệt, các nguồn lực để phát triển KT - XH hạn chế Nhận thức rõ tầm quantrọng của việc phát triển NNL, NNLCLC đối với sự tăng trưởng và phát triển KT -
XH, tỉnh Thừa Thiên Huế đã xây dựng Đề án 02/TU/2008 về đào tạo tiến sỹ (TS),thạc sỹ (Ths) tại cơ sở nước ngoài; Đề án 03/TU/2008 về đào tạo cán bộ cơ sở chủchốt xã, phường, thị trấn theo chức danh; Quy hoạch phát triển giáo dục - đào tạo(GD - ĐT) đến năm 2015 và định hướng đến 2020; Đề án phát triển dạy nghề giai
Trang 10đoạn 2011 - 2015 và tầm nhìn 2020 Đến nay, tỉnh Thừa Thiên Huế đã xây dựngđược đội ngũ NNL không chỉ đông về số lượng, đa dạng về cơ cấu nghề nghiệp, màcòn đảm bảo về mặt chất lượng Trình độ học vấn của dân số trong độ tuổi lao động(LĐ) có sự chuyển biến tích cực: tỷ lệ LĐ biết chữ năm 2005 là 83% đến năm 2010tăng lên 93,5%; tỷ lệ LĐ có trình độ học vấn từ trung học cơ sở (THCS) và trunghọc phổ thông (THPT) ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng cao, năm 2001 chiếm33,6% đến năm 2010 chiếm 49,5% Cùng với trình độ học vấn của người LĐ đượcnâng lên, xu hướng tri thức hoá để hình thành NNLCLC ngày càng rõ nét: năm
2010 số người có trình độ trên đại học (ĐH) là 2.024 người, 41.744 người có trình
độ ĐH, 13.505 người có trình độ cao đẳng (CĐ), 34.198 người có trình độ trung cấp(TC), công nhân kỹ thuật (CNKT), sơ cấp (SC) là 202.860 người, 148 giáo sư (GS)
và phó giáo sư (PGS), 106 nhà giáo nhân dân và nhà giáo ưu tú, 15 thầy thuốc nhândân và thầy thuốc ưu tú, 16 nghệ sỹ ưu tú Ngoài ra, năng lực, khả năng sáng tạo,biết vận dụng những tri thức, kỹ năng được đào tạo vào nghiên cứu khoa học, giảngdạy, lãnh đạo, quản lý, LĐ sản xuất, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng cũng được nânglên: năm 2006 đã có 98 nhà nghiên cứu khoa học được tặng giải thưởng cố đô về
KH - CN; giai đoạn 2003 - 2008 có 13.100 đề tài nghiên cứu khoa học, sáng kiến,sáng tạo của công nhân viên chức được ứng dụng Tuy nhiên, NNL của tỉnh cònchưa tương xứng với yêu cầu CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh Những biểu
hiện chủ yếu: 1) LĐ từ 15 tuổi trở lên không có trình độ CMKT chiếm tỷ lệ khá cao (năm 2009 là 87,4%), số LĐ có trình độ CMKT chỉ chiếm 12,6%; 2) Các bậc đào tạo chậm chuyển biến; 3) Cơ cấu đào tạo trình độ giữa các cấp nghề có sự bất cập: SC
nghề và tương đương chiếm hơn 84%; trong khi TC nghề và tương đương chỉ 14%, còn
CĐ nghề lại quá ít, chỉ có 1,79%; 4) Đội ngũ cán bộ cấp xã, phường, thị trấn hiện rất hạn
chế về năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, hiện hơn 50% cán bộ xã, phường, thịtrấn chưa đạt chuẩn
Vấn đề đặt ra, để tiếp thu, ứng dụng những thành tựu tri thức của nhân loại, sángtạo ra tri thức mới và thực hiện Kết luận 48/KL - TW ngày 25/5/2009 của Bộ Chínhtrị về xây dựng, phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020, đòi hỏi tỉnh cần tậptrung phát triển NNL, NNLCLC Đây là thách thức lớn đối với Thừa Thiên Huế -
Trang 11một tỉnh mà phần đông dân cư sống bằng nghề nông với trình độ sản xuất còn lạchậu, LĐ phổ thông, giản đơn là chủ yếu Do đó, phát triển NNL đáp ứng yêu cầuCNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh cần được nghiên cứu sâu sắc cả về lý luận vàthực tiễn để có sự thống nhất trong nhận thức, cũng như cách thức thực hiện Xuất
phát từ những lý do trên, nghiên cứu sinh (NCS) chọn đề tài “Nguồn nhân lực cho
công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức ở tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về NNL cho CNH,
HĐH gắn với phát triển KTTTh, luận án phân tích, đánh giá thực trạng NNL cho
CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh ở tỉnh Thừa Thiên Huế Từ đó đề xuất một
số giải pháp phát triển NNL cho CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh ở tỉnh ThừaThiên Huế trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, luận án có các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, hệ thống hoá và phân tích những cơ sở lý luận và thực tiễn về NNL
cho CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh
Thứ hai, nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia và một số tỉnh trong
nước về phát triển NNL, luận án rút ra những bài học bổ ích, có giá trị tham khảo đểhọc hỏi, lựa chọn mô hình và cách thức phát triển NNL nhằm đáp ứng yêu cầuCNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Thứ ba, phân tích thực trạng NNL cho CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh
ở tỉnh Thừa Thiên Huế Trên cơ sở đó, luận án đưa ra các quan điểm và đề xuất một
số giải pháp nhằm phát triển NNL cho CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh ở tỉnhThừa Thiên Huế từ nay đến năm 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án
Luận án nghiên cứu NNL cho CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh dướigóc độ khoa học Kinh tế chính trị, chủ yếu là nghiên cứu thực trạng phát triển và
Trang 12dịch chuyển cơ cấu NNL ở tỉnh Thừa Thiên Huế, từ đó đề xuất các giải pháp xâydựng NNL cho CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh ở tỉnh Thừa Thiên Huế từnay đến năm 2020.
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về không gian: Nghiên cứu NNL cho CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh
ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Về thời gian: Nghiên cứu NNL cho CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh ở
tỉnh Thừa Thiên Huế với trọng tâm số liệu được giới hạn trong khoảng thời gian từ
năm 1999 đến năm 2012, các giải pháp đưa ra cho thời kỳ đến năm 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
- Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh và quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước vềphát triển NNL và các lý thuyết kinh tế liên quan Cơ sở thực tiễn của luận án làphân tích kinh nghiệm của một số nước, địa phương của nước ta và đánh giá thựctrạng phát triển và dịch chuyển cơ cấu NNL theo hướng CNH, HĐH gắn với pháttriển KTTTh ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Trên cơ sở lý luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin, luận án sử dụng các phương pháp cụ thể: phương pháp phân tích - tổng hợp,phương pháp thu thập và xử lý thông tin Đồng thời có sự kế thừa các kết quảnghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Đặc biệt, đề tài sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi đề thu thập ýkiến của người LĐ về các vấn đề liên quan đến NNL Do giới hạn về thời gian, kinhphí nên luận án tiến hành khảo sát 500 LĐ, bao gồm công nhân trong các xí nghiệp(100 mẫu), LĐ làm công tác quản lý (100 mẫu); LĐ trong lĩnh vực tài chính, ngânhàng, bảo hiểm (100 mẫu); LĐ làm công tác GD - ĐT (100 mẫu) và LĐ trongngành xây dựng, CNTT, viễn thông (100 mẫu) Ngoài ra, luận án sử dụng phươngpháp chuyên gia: phỏng vấn 80 người làm công tác lãnh đạo, quản lý NNL ở nhiều cơquan, doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh và trao đổi trực tiếp với một số nhà khoahọc để làm rõ thêm các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến luận án
Trang 135 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Đưa ra khái niệm NNL, NNL cho CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh trên
cơ sở tiếp thu tư tưởng của C Mác về sức LĐ, các công trình nghiên cứu trước đó
và làm rõ các đặc thù của NNL cho CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh.
- Làm rõ các đặc điểm của CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh Từ đó luận
án khẳng định, ở những trình độ phát triển khác nhau đặt ra những yêu cầu khácnhau đối với NNL Trong mô hình CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh, NNLphải đáp ứng được các yêu cầu nhất định về số lượng, chất lượng và cơ cấu
- Làm rõ các yếu tố tác động, xu hướng và tính quy luật trong dịch chuyển cơ
cấu NNL theo hướng CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh
- Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm phát triển NNL của một số nước Đông Á
và các tỉnh trong nước, luận án đúc rút một số bài học bổ ích có khả năng vận dụng đểphát triển NNL cho CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh ở tỉnh Thừa Thiên Huế
- Làm rõ thực trạng phát triển và dịch chuyển cơ cấu NNL theo hướng CNH,
HĐH gắn với phát triển KTTTh ở tỉnh Thừa Thiên Huế với những nét đặc thù riêng
có của một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
- Dựa vào đặc điểm tự nhiên, con người và thực trạng NNL, luận án nêu ra 6
quan điểm và đề xuất 3 nhóm giải pháp lớn nhằm phát triển NNL cho CNH, HĐHgắn với phát triển KTTTh ở tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020
6 Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án đượckết cấu thành 4 chương, 8 tiết
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ GẮN VỚI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TRI THỨC
Trong những năm gần đây, vấn đề NNL, NNLCLC được nhiều nhà khoa họctrong và ngoài nước quan tâm và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học cógiá trị, được công bố rộng rãi dưới dạng sách tham khảo, luận án, bài báo khoahọc Để đảm bảo tính kế thừa và khẳng định những đóng góp của luận án, luận ánchia các công trình nghiên cứu khoa học theo 2 nhóm vấn đề: các công trình nghiêncứu về NNL phục vụ CNH, HĐH và các công trình nghiên cứu về NNLCLC trongnền KTTTh Trên cơ sở sự phân định đó, luận án tiến hành chọn lọc và thực hiệntổng quan những công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến luận án như sau:
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
1.1.1 Sách tham khảo và chuyên khảo
- Nolwen Henaff, Jean - Yves Martin biên tập khoa học (2001), LĐ, việc làm
và NNL ở Việt Nam 15 năm đổi mới, Nxb Thế giới, Hà Nội Đây là cuốn sách tập
hợp nhiều bài viết của các nhà khoa học trong và ngoài nước về: chính sách giáodục, việc làm, tổ chức lại nền kinh tế, phát triển doanh nghiệp, phát triển NNL củacác nhà nghiên cứu tiêu biểu như: TS.Nolwen Henaff, TS.Jean - Yves Martin,GS.Geoffrey B.Hainsworth, TS.Fiona Hơwell, TS.Nguyễn Hữu Dũng, TS.TrầnKhánh Đức, PGS.Võ Đại Lược, TS.Trần Tiến Cường Trong công trình nghiên
cứu này, đáng chú ý có bài viết của GS.Geoffrey B.Hainsworth “Phát triển NNL
đáp ứng với những thách thức của quá trình toàn cầu hoá (TCH) mạnh mẽ và một nền kinh tế dựa trên những hiểu biết mới” Tác giả có cách tiếp cận độc đáo khi đặt
các câu hỏi: Làm thế nào để mở rộng sự lựa chọn nghề nghiệp và viễn cảnh cuộcsống dân cư nông thôn - những người đang nắm giữ những nguồn lực to lớn nhất vàchưa được phát huy của quốc gia? Làm cách nào để họ hiển nhiên nhận được sự
Trang 15quan tâm đặc biệt của những nhà hoạch định chính sách và nhà tài trợ? Từ đó, tác
giả phân tích 3 vấn đề để tìm câu trả lời: 1) Về phạm vi giáo dục, đào tạo nghề Tác
giả khẳng định, nền văn hoá Việt Nam luôn có truyền thống tôn trọng học vấn,trước thời kỳ đổi mới mặc dù gặp nhiều khó khăn Việt Nam vẫn đạt được mức độbiết chữ và bình đẳng về giới rất đặc biệt, nhưng khi chuyển sang nền kinh tế thịtrường (KTTT) thì tỷ lệ bỏ học cao ở cấp trung học Từ đó tác giả lập luận: mức họcphí, sự thiếu hụt kinh niên số giáo viên mới vào nghề ở mỗi cấp học, tiền lương thấp
so với các ngành nghề khác làm hạn chế phạm vi GD - ĐT nghề; 2) Về tăng
cường sử dụng LLLĐ và mở rộng sự lựa chọn nghề nghiệp Tác giả nhận định, mặc
dù tỷ trọng GDP tương đối của ngành nông nghiệp giảm so với công nghiệp và dịch
vụ nhưng sự thay đổi cơ cấu trong sử dụng LĐ hầu như không biến động về mặtviệc làm Vì vậy, theo tác giả cần thực hiện cải cách chương trình đào tạo và các cảicách giáo dục khác bao gồm tăng số lượng phòng học, tăng số lượng giáo viên,
nâng cấp trang thiết bị phục vụ giảng dạy, tăng tiền lương 3) Về cơ cấu ngành
nghề, lựa chọn công nghệ và sở hữu doanh nghiệp Tác giả cho rằng, đối với mộtnước mới thực hiện CNH như Việt Nam nên phát triển ngành chế tạo, chế biến vàcác dịch vụ đi kèm, đồng thời không thể lựa chọn công nghệ cao mà cần lựa chọncông nghệ phù hợp như công nghệ phần mềm, nghiên cứu cơ bản
- Stivastava M/P (1997), Human resource planing: Aproach needs
assessments and priorities in manpower planing, Nxb Manak New Delhi Tiếp cận
dưới góc độ Kinh tế phát triển, tác giả cho rằng, NNL là toàn bộ vốn nhân lực; vốnnhân lực là con người được nhìn nhận dưới dạng là một nguồn vốn đặc biệt của quátrình sản xuất, là một dạng của cải có thể làm gia tăng sự giàu có của kinh tế; nguồnvốn nhân lực đó bao gồm những kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm mà người đó tíchluỹ được nhờ vào quá trình LĐ sản xuất; các chị phí về GD - ĐT, y tế được xemnhư là những chi phí đầu vào của sản xuất nhằm nâng cao khả năng, năng lực sảnxuất của NNL Từ cách tiếp cận như vậy, tác giả đã chỉ ra các lợi ích thiết thực của
NNL nếu chúng ta biết đầu tư và quý trọng nó, đó là: 1) Vốn nhân lực là loại vốn
đặc biệt, có khả năng sản sinh ra các nguồn thu nhập trong tương lai, cho nên đầu tư
Trang 16vào NNL sẽ có tỷ lệ thu hồi vốn cao, hơn nữa khi nguồn vốn này càng được sử dụngnhiều thì giá trị gia tăng càng lớn, càng tạo ra nhiều của cải, mang đến sự phồn
thịnh cho xã hội; 2) Khác với các nguồn vốn khác, vốn nhân lực không mang đặc
điểm có tính quy luật như các nguồn vốn khác: khấu hao vốn đã đầu tư vào các tàisản và loại hình vật chất khác; vốn nhân lực sau khi đã đầu tư thì nó sẽ tự duy trì vàphát triển mà không tạo ra áp lực về khối lượng vốn cần huy động trong khoảngthời gian ngắn; là loại vốn có kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm và khả năng sáng tạocao Do đó, nếu đầu tư vào vốn nhân lực thì hiệu ứng lan toả sẽ rất lớn mà không cónguồn vốn nào có thể sánh kịp Với cách tiếp cận này tác giả đưa ra các gợi ý đểluận án phân tích yêu cầu của NNL, nhất là NNLCLC đối với quá trình CNH, HĐHgắn với phát triển KTTTh
- Lê Thị Ái Lâm (2003), Phát triển NNL thông qua GD - ĐT - Kinh nghiệm
Đông Á, Nxb Khoa học - Xã hội, Hà Nội Cuốn sách là một công trình nghiên cứu
khoa học công phu, tiếp cận theo chuyên ngành kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế
quốc tế, được chia làm 3 phần: phần thứ nhất, tác giả đưa ra các luận giải lý thuyết
về phát triển NNL thông qua GD - ĐT trên cơ sở trình bày khái niệm phát triểnNNL, phát triển con người, mối quan hệ giữa phát triển NNL với CNH Đồng thờitác giả đã đưa một bộ khung lý thuyết với các luận điểm chính: NNL đóng góp chotăng trưởng kinh tế; NNL đóng góp cho nâng cao năng suất LĐ, tăng thu nhập, xoáđói giảm nghèo và bất bình đẳng; xu thế phát triển KTTTh và toàn cầu hoá tạo ranhu cầu đại chúng đối với NNLCLC để luận giải vai trò của nâng cao chất lượng
NNL thông qua GD - ĐT; phần thứ hai, với 4 chương, tác giả tập trung vào phân tích thực tiễn phát triển NNL thông qua GD - ĐT ở Đông Á Chương 2: Vai trò
phát triển NNL thông qua GD - ĐT ở Đông Á Tác giả phân tích vai trò phát triển
NNL thông qua GD - ĐT bằng những dẫn chứng thực tiễn từ các nền kinh tế, cácngành và công ty đã chứng minh những luận điểm mà tác giả đưa ra là đúng đắn và
có tính thuyết phục cao Chương 3: Chiến lược CNH và sự phù hợp lẫn nhau với
phát triển NNL thông qua GD - ĐT ở Đông Á Ở chương này, tác giả trình bày 4
điều kiện thuận lợi bên ngoài và lợi thế bên trong để các nước Đông Á xây dựng
Trang 17chiến lược CNH Đặc biệt, tác giả đã phác thảo 4 giai đoạn CNH và 4 giai đoạn nàyđặt ra những yêu cầu khác nhau của NNL Những phác hoạ này sẽ là những gợi mở
lý thú để NSC kế thừa, phát triển trong quá trình thực hiện luận án Chương 4: Điều
chỉnh phát triển NNL thông qua GD - ĐT ở Đông Á Trên cơ sở phác hoạ 4 giai
đoạn của CNH, tác giả cho rằng, mỗi giai đoạn có những yêu cầu khác nhau về pháttriển NNL nên giáo dục cũng cần có sự điều chỉnh thích hợp Vì vậy, chương nàytác giả nghiên cứu quá trình điều chỉnh ở Đông Á trên các khía cạnh: mở rộng cơhội đó cũng như xem xét các yếu tố dẫn đến tiếp nhận giáo dục phổ thông theo tiếntrình CNH; phát triển hệ thống GD - ĐT nghề; xây dựng hệ thống giáo dục ĐH chất
lượng cao Chương 5: Vấn đề và giải pháp hiện nay của phát triển NNL thông qua
GD - ĐT Đông Á Tác giả phân tích một số vấn đề trong hệ thống phát triển NNL
thông qua GD - ĐT ở Đông Á Đáng chú ý là tác giả trình bày các giải pháp pháttriển NNL cho nền KTTTh ở Đông Á: nâng cao nhận thức xã hội về học tập suốtđời; nhấn mạnh đào tạo lại và đào tạo nâng cao; cải cách hệ thống giáo dục chính
quy; khuyến khích và phát triển các hệ thống giáo dục không chính quy; phần thứ
ba, là sự tổng kết toàn bộ những bài học rút ra từ thực tiễn đã phân tích ở chương 3,
4, 5 Có 5 bài học được rút ra và phân tích trong chương thứ 6 và chương thứ 7 đưa
ra một số lưu ý về bối cảnh phát triển NNL thông qua GD - ĐT hiện nay của ViệtNam, so sánh những nét tương đồng và khác biệt về phát triển NNL thông qua GD -
ĐT ở Đông Á và Việt Nam, từ đó nêu ra 6 gợi ý để phát triển NNL thông qua GD
-ĐT ở việt Nam đến 2010 Ở công trình nghiên cứu này, những kinh nghiệm quý của cácquốc gia Đông Á về phát triển NNLCLC được kế thừa và chọn lọc trong luận án
- TS Nguyễn Thanh (2005), Phát triển NNL phục vụ CNH, HĐH đất nước,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Tiếp cận dưới góc độ triết học, tác giả đã xuất phát
từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và dựa trên cácquan điểm của Đảng về phát triển con người, về vai trò của giáo dục để khẳng định
GD - ĐT là “quốc sách hàng đầu” để phát triển NNL có chất lượng Cuốn sách được
cấu trúc thành ba phần: phần thứ nhất, tác giả trình bày sơ lược quan niệm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về phát triển con
Trang 18người, phát triển NNL, từ đó tác giả cho rằng: NNL có vai trò quyết định đối với
quá trình CNH, HĐH ở nước ta; phần thứ hai, tác giả đánh giá khái quát thực trạng
NNL ở nước ta trên các khía cạnh: về số lượng, cơ cấu, trí lực, trình độ chuyên môn
kỹ thuật (CMKT) trên cơ sở đó tác giả đưa ra những định hướng phát triển NNL
có chất lượng đáp ứng được đòi hỏi của CNH, HĐH bao gồm: gắn phát triển NNLvới việc đẩy nhanh tốc độ phát triển KT - XH; gắn phát triển NNL với quá trình dânchủ hoá, nhân văn hoá đời sống xã hội, khai thác có hiệu quả các giá trị văn hoátruyền thống và hiện đại; nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng đội ngũ cán bộ
KH - CN; xây dựng chiến lược con người trên cơ sở đó, phát triển NNL có chất
lượng cho CNH, HĐH; phần thứ ba, làm rõ vai trò của giáo dục với tư cách là yếu
tố quyết định trong chiến lược phát triển con người, phát triển NNL có chất lượngcho CNH, HĐH ở nước ta
- TS Đoàn Văn Khải (2005), Nguồn lực con người trong quá trình CNH,
HĐH ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Là người có nhiều năm nghiên
cứu vấn đề nguồn lực con người cả về lý luận và thực tiễn nên có những điểm mới
so với quan niệm trước đây về con người trong CNH theo kiểu cũ Trong công trìnhnghiên cứu này, chương 1 và chương 2 tác giả tập trung làm rõ những vấn đề lý
luận Ở chương 1, tác giả phân tích một số vấn đề chung về CNH, HĐH, nhưng đáng chú ý nhất là sự khái quát các mô hình CNH trên thế giới Ở chương 2, tác giả
đưa ra khái niệm nguồn lực con người với nội hàm rộng bao hàm 6 mặt cơ bản vàxuất phát từ vị trí, đặc điểm của nguồn lực con người trong quan hệ so sánh, quan
hệ tác động với các nguồn lực khác và nhấn mạnh, trong thời đại KTTTh vai trò củanguồn lực con người càng tăng lên gấp bội nhờ phát huy sức mạnh trí tuệ, nó trởthành nguồn lực của mọi nguồn lực Dựa trên cơ sở phân tích về mặt lý luận,
chương 3 và chương 4, tác giả đánh giá một cách toàn diện thực trạng và đặc điểm
nguồn lực con người của nước ta từ năm 2001 - 2005 về số lượng, cơ cấu, chấtlượng và rút ra 6 nhận xét, từ đó tác giả cho rằng, nguồn lực con người của nước tachưa đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH Để đáp ứng được yêu cầu CNH,HĐH đòihỏi người LĐ phải có năng lực sáng tạo, khả năng thích nghi và kỹ năng LĐ giỏi,
do đó tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp lớn để khai thác và sử dụng có hiệu quả
Trang 19nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH: nhóm giải pháp về khai thác hợp
lý, có hiệu quả nguồn lực con người; nhóm giải pháp về phát triển nguồn lực conngười đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH; nhóm giải pháp về xây dựng môi trường xã hộithuận lợi, phục vụ cho việc khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người
- TS Vũ Bá Thể (2005), Phát huy nguồn lực con người để CNH, HĐH - Kinh
nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Cuốn sách
tiếp cận theo chuyên ngành kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế, tập trung phântích và làm rõ cơ sở lý luận liên quan đến NNL; kinh nghiệm phát triển NNL của một
số nước tiên tiến như Nhật Bản, Mỹ, các nước Châu Á - Thái Bình Dương trên khíacạnh chính sách, chiến lược, mục tiêu ; đánh giá thực trạng NNL nước ta cả về quy
mô, tốc độ, chất lượng NNL và rút ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân củanhững hạn chế trong phát triển NNL; đề xuất 4 giải pháp nhằm phát triển NNL củaViệt Nam trong thời gian tới: nhóm giải pháp phát triển giáo dục phổ thông; nhómgiải pháp phát triển giáo dục CĐ, ĐH và trên ĐH; nhóm giải pháp nâng cao hiệuquả sử dụng NNL hiện có; nhóm giải pháp nâng cao trạng thái sức khoẻ NNL
- TS Mạc Văn Tiến (2005), An sinh xã hội và phát triển NNL, Nxb Lao động
- Xã hội Cuốn sách là tập hợp 100 bài viết trong 10 năm đề cập đến nhiều nội dung
và nhiều khía cạnh khác nhau của an sinh xã hội và phát triển NNL Bố cục cuốn
sách được chia làm 3 phần: phần thứ nhất là tập hợp những bài viết về an sinh xã hội; phần thứ hai là tập hợp những bài viết về bảo hiểm xã hội; phần thứ ba là tập
hợp những bài viết về phát triển NNL Trong phần thứ ba, có nhiều bài viết mà NCS
có thể tham khảo, kế thừa và phát triển trong quá trình thực hiện luận án như: một
số vấn đề về phát triển NNL ở nước ta; phát triển NNL và chính sách phát triểnNNL của một số nước; phát triển NNL và chính sách phát triển NNL thời kỳ CNH,HĐH; thực trạng chất lượng NNL ở Việt Nam Trong đó đáng chú ý là bài viết:
Vai trò của NNL trong nền KTTTh Theo tác giả, nhân loại đang đứng trước thềm
của sự phát triển mới của xã hội loài người là chuyển sang nền KTTTh, nhưng đốivới Việt Nam mới bước đầu tiến hành CNH, HĐH, vì vậy phải đi tắt, đón đầu nếu
Trang 20không chúng ta sẽ bị tụt hậu xa hơn so với các nước trên thế giới Điều này chỉ cóthể làm được khi chúng ta có chiến lược đầu tư phát triển NNL đúng đắn.
1.1.2 Đề tài khoa học, luận án tiến sĩ
- Vũ Duy Dự (Chủ nhiệm đề tài) (2005), Đánh giá nguồn nhân lực tỉnh Thừa
Thiên Huế và nghiên cứu đề xuất các giải pháp sử dụng và phát huy, Đề tài KH
-CN Trong công trình nghiên cứu này, đáng chú ý là từ việc chỉ ra các chỉ tiêu đánhgiá NNL và phương pháp thu thập số liệu (khảo sát hộ gia đình, doanh nghiệp ),tác giả đã đánh giá được thực trạng phát triển NNL ở tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm
1999 - 2004 trên các mặt: thực trạng NNL hiện có; thực trạng sử dụng NNL (thựctrạng việc làm của LLLĐ trong 3 nhóm ngành; thực trạng việc làm của 4 nhómLĐ); điều kiện LĐ; tổ chức thị trường LĐ; thực trạng hình hệ thống GD - ĐT; thựctrạng đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị các cấp; thực trạng LLLĐ làm việctrong các doanh nghiệp Trên cơ sở thực trạng, tác giả đưa ra các dự báo về cung -cầu LĐ giai đoạn 2005 - 2015 và đề xuất một số giải pháp về chính sách phát triểnNNL ở tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2015
- Phan Thanh Tâm (2000), Các giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng NNL
phục vụ nhu cầu CNH, HĐH đất nước, Luận án tiến sỹ Kinh tế Tác giả trình bày
các khái niệm NNL, chất lượng NNL; phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến chấtlượng NNL Theo tác giả, GD - ĐT không chỉ là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp, nângcao chất lượng về mặt trí lực của NNL mà còn tác động đến sức khoẻ, khả năng tiếpthu công nghệ, thu hút đầu tư, tạo việc làm; nghiên cứu kinh nghiệm của Mỹ, NhậtBản, các nước Châu Á về nâng cao chất lượng NNL và rút ra bài học kinh nghiệmcho Việt Nam Trên cơ sở phân tích những vấn đề chung về NNL, tác giả đi sâuphân tích thực trạng chất lượng NNL Việt Nam từ năm 1989 đến 1999; các yếu tốảnh hưởng đến chất lượng về mặt trí lực của NNL bao gồm: năng lực đào tạo cung cấpNNL của hệ thống giáo dục, đầu tư ngân sách nhà nước cho GD - DT, cơ chế kế hoạch
GD - ĐT, chính sách sử dụng LĐ CMKT; đặc biệt tác giả đưa ra các căn cứ để xâydựng các giải pháp nâng cao chất lượng NNL và đề xuất 4 giải pháp về phát triển giáodục và sử dụng, bồi dưỡng cán bộ nhằm nâng cao chất lượng NNL
Trang 21- Bùi Sỹ Lợi (2002), Phát triển NNL trong thời kỳ CNH, HĐH ở tỉnh Thanh
Hoá đến năm 2010, Luận án tiến sỹ Kinh tế Tác giả luận án đã tập trung làm rõ
những vấn đề chung về NNL: xây dựng được các khái niệm về nhân lực, con người,NNL và phát triển NNL; phác thảo những đặc trưng cơ bản của NNL; phân tích 3nhóm nhân tố tác động đến phát triển NNL: nhóm nhân tố về mặt tự nhiên, nhómnhân tố về KT - XH, nhóm nhân tố thuộc về cơ chế chính sách; phân tích mối quan
hệ giữa biện chứng giữa phát triển NNL với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch
cơ cấu LĐ và với CNH, HĐH; trình bày kinh nghiệm của các nước đang phát triển(Thái Lan, Malaixia), các nước đang chuyển đổi (Ấn Độ) đến các nước có nền côngnghiệp tiên tiến (Nhật Bản) từ đó rút ra 7 bài học kinh nghiệm có thể áp dụng đối vớiViệt Nam nói chung, Thanh Hoá nói riêng Luận án đi sâu đánh giá thực trạng pháttriển NNL ở tỉnh Thanh Hoá từ năm 1996 - 2000 Trên cơ sở đó, tác giả đánh giá kháiquát tình hình phát triển NNL về những thành tựu đạt được, những tồn tại và nguyênnhân của những tồn tại, đưa ra 4 quan điểm và đề xuất 5 nhóm giải pháp để phát triểnNNL trong thời kỳ CNH, HĐH ở Thanh Hoá đến năm 2010
- Nguyễn Đình Luận (2003), Một số giải pháp phát triển NNL vùng Đồng
bằng sông Cửu Long theo hướng CNH, HĐH đến năm 2010, Luận án tiến sỹ Kinh
tế Tác giả luận án đã trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển NNL
từ khái niệm, vị trí đến các bộ phận cấu thành NNL, kinh nghiệm phát triển NNLcủa các nước Đặc biệt với cách tiếp cận xuyên suốt, tác giả tập trung phân tích cácyếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển NNL theo hướng CNH, HĐH làm căn cứ đểphân tích thực trạng NNL và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển NNL vùng Đồngbằng sông Cửu Long ở chương 3 Dựa trên khung lý thuyết đó, tác giả đi vào phântích thực trạng NNL vùng Đồng bằng sông Cửu Long theo hướng CNH, HĐH trêncác mặt: thực trạng GD - ĐT trong phát triển NNL; thực trạng về KH - CN trongphát triển NNL; thực trạng về văn hoá - xã hội trong phát triển NNL Từ đó, tác giảrút ra những nhận xét, đánh giá và đề xuất 3 nhóm giải pháp lớn về phát triển NNLvùng Đồng bằng sông Cửu Long theo hướng CNH, HĐH đến năm 2020
- Đào Quang Vinh (2006), Phát triển NNL cho CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn, Luận án tiến sỹ Kinh tế Tác giả luận án đã trình bày được một số vấn đề lý
Trang 22luận và thực tiễn phát triển NNL cho CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn như: kháiniệm NNL và phát triển NNL; nội dung và tiêu chí về phát triển NNL cho CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn; một số kinh nghiệm về phát triển NNL cho CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn Đặc biệt tác giả luận án đã phân tích được mối quan
hệ biện chứng giữa phát triển NNL với CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và phácthảo được quy luật vận động của NNL trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.Đồng thời tác giả phân tích thực trạng NNL, phát triển NNL và những nhân tố ảnhhưởng đến sự phát triển NNL cho CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam từnăm 1990, khái quát những thành tựu đạt được, hạn chế và tác giả cho rằng có 5 vấn
đề cần phải được ưu tiên giải quyết trong phát triển NNL cho CNH, HĐH nôngnghiệp, nông thôn Trên cơ sở thực trạng và dựa vào tư tưởng chủ đạo coi con người
là nguồn lực quan trọng nhất, tác giả đưa ra 5 quan điểm và đề xuất 7 nhóm giảipháp để phát triển NNL cho CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trongnhững năm tới
- Dương Anh Hoàng (2008), Phát triển NNL phục vụ CNH, HĐH ở Đà Nẵng,
Luận án tiến sỹ Triết học Tiếp cận dưới góc độ triết học, tác giả luận án đã kế thừanhững kiến thức của các nhà khoa học đi trước để bổ sung và hoàn thiện ý tưởngnghiên cứu của mình về các vấn đề: đưa ra khái niệm NNL và cho rằng NNL baogồm 2 yếu tố cơ bản cấu thành: số lượng NNL và chất lượng NNL; đưa ra kháiniệm phát triển NNL; phân tích kinh nghiệm phát triển NNL của các nước và đặcbiệt tác giả đã rút ra được 3 điểm tương đồng và 3 điểm khác biệt trong phát triểnNNL giữa Việt Nam và các nước trong khu vực để từ đó rút ra 4 bài học kinhnghiệm về phát triển NNL cho Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng; làm rõ 4đặc điểm cơ bản của quá trình CNH, HĐH ở Đà Nẵng và theo tác giả chính nhữngđặc điểm đó nó quy định chiến lược phát triển NNL của Đà Nẵng; phân tích thựctrạng phát triển NNL của Đà Nẵng và nêu ra 5 vấn đề cấp bách trong phát triểnNNL mà Đà Nẵng cần giải quyết; đưa ra 3 quan điểm định hướng và đề xuất 4 giảipháp để phát triển NNL cho CNH, HĐH ở Đà Nẵng trong thời gian tới, đó là: pháttriển KT - XH, nâng cao chất lượng GD - ĐT, phát triển KH - CN và xây dựng nếpsống văn minh đô thị
Trang 23- Phạm Văn Mợi (2010), Giải pháp phát triển nhân lực KH - CN ở Hải
Phòng phục vụ CNH, HĐH, Luận án tiến sỹ Kinh tế Luận án đã nghiên cứu và giải
quyết được các vấn đề về lý luận và thực tiễn đó là: đưa ra khái niệm nhân lực, nhânlực KH - CN, phát triển nhân lực KH - CN và xác định khi nghiên cứu nhân lực,nhân lực KH - CN, phát triển nhân lực KH - CN cần xem xét cả 3 yếu tố cấu thành
đó là số lượng, chất lượng, cơ cấu; phân tích và khẳng định phát triển nhân lực KH
-CN có vai trò to lớn đối với sự nghiệp -CNH, HĐH; phân tích 5 nhân tố tác độngđến phát triển nhân lực KH - CN; phân tích kinh nghiệm của một số các nước và địaphương trong nước về phát triển nhân lực KH - CN Dựa trên cơ sở khung lý thuyết
đã phân tích, tác giả đi sâu vào phân tích tiềm năng, thực trạng nhân lực KH - CN ởHải Phòng giai đoạn 2001 - 2010 trên các nội dung về số lượng, chất lượng, cơ cấunhân lực KH - CN, đặc biệt tác giả phân tích nhân lực KH - CN theo các nhóm;đánh giá thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong phát triểnnhân lực KH - CN; phân tích bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến phát triểnnhân lực KH - CN; đưa ra 3 quan điểm định hướng và 6 giải pháp để phát triển nhânlực KH - CN ở Hải Phòng trong thời gian tới
1.1.3 Các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành
- Phạm Công Nhất (2008), “Nâng cao chất lượng NNL đáp ứng yêu cầu đổi
mới và hội nhập kinh tế’’, Tạp chí Cộng sản số 7 Trên cơ sở phân tích thực trạng
NNL Việt Nam, tác giả chỉ rõ: so với yêu cầu của quá trình phát triển nền kinh tếtrong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì chất lượng NNL nước ta cònnhiều bất cập và hạn chế do: thu nhập bình quân đầu người thấp, vấn đề quy hoạch
và phát triển NNL còn kém, nội dung và phương pháp giảng dạy lạc hậu Từ đó,tác giả đưa ra các giải pháp: nhận thức rõ tầm quan trọng của việc xây dựng, pháttriển và nâng cao chất lượng NNL; tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, trước hết
là đổi mới trong lĩnh vực kinh tế theo hướng CNH, HĐH và tích cực chủ động hộinhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới; xây dựng và triển khai chiến lược phát triểnNNL Việt Nam từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn 2030
- Ths Lê Thị Kim Phương (2009), Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trẻ ở
tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay, Tạp chí Lý luận chính trị số 6 Tác giả đã luận giải
Trang 24vai trò của trí thức đối với sự phát triển của xã hội, nhất là trong thời đại ngày nay thời đại bùng nổ của KH - CN và sự phát triển của KTTTh Đặc biệt, tác giả đãphân tích được thực trạng đội ngũ trí thức nói chung, trí thức trẻ của tỉnh ThừaThiên Huế nói riêng trên các mặt: số lượng, chất lượng, cơ cấu Ngoài ra, tác giả đãchỉ ra những điểm hạn chế cần khắc phục và đưa ra các giải pháp nhằm phát huy hơnnữa vai trò của đội ngũ trí thức trẻ ở tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian tới Với nguồn
-số liệu phong phú, đáng tin cậy và những đánh giá khách quan của tác giả trong côngtrình nghiên cứu này đã được NCS kế thừa trong quá trình thực hiện luận án
- PGS.TS Ngô Doãn Vịnh (2011), Bàn về sử dụng các chỉ tiêu phân tích,
đánh giá chất lượng nhân lực Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 7 Tác giả
cho rằng, chất lượng nhân lực là yếu tố quan trọng nhất đối với phát triển Đặc biệt,tác giả đã gợi mở cho NCS những điểm cần nghiên cứu khi chỉ ra các tiêu chí địnhlượng để phân tích, đánh giá chất lượng nhân lực bao gồm: nhóm các tiêu chí phảnánh trực tiếp (thể lực, trí lực, khả năng thông minh, khả năng ứng xử, khả năng giaotiếp, khả năng thuyết trình); nhóm các chỉ tiêu chủ yếu phản ánh gián tiếp chấtlượng NNL (năng suất lao động, hiệu suất sử dụng đầu tư, điện năng và đất đai, sốnăm đi học, chất lượng hệ thống giáo dục, số người có học vấn)
- PGS.TS Hà Nhật Thăng (2011), Đào tạo nhân tài - vấn đề cấp thiết của
chiến lược giáo dục thời kỳ CNH, HĐH, Tạp chí Giáo dục số 269 Trên cơ sở so
sánh yêu cầu phát triển NNL của các nền văn minh, tác giả chỉ ra, trong nền KTTThyêu cầu con người phải có trình độ cao hơn rất nhiều Theo tác giả, đối với nước tađào tạo nhân tài là một trong những trọng tâm của chiến lược giáo dục thời kỳCNH, HĐH và chiến lược nhân tài đó phải được thực hiện theo một quy trình chặtchẽ từ khâu phát hiện, tuyển chọn, đào tạo và sử dụng
1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG NỀN KINH TẾ TRI THỨC
1.2.1 Sách tham khảo và chuyên khảo
- GS.TS.Nguyễn Ngọc Phú (chủ biên) (2010), Thực trạng NNL, nhân tài của
đất nước hiện nay: Những vấn đề đặt ra - Giải pháp, Nxb Đại học Quốc gia, Hà
Nội Cuốn sách tập hợp nhiều bài viết của nhiều tác giả, như: GS.TS Nguyễn Ngọc
Trang 25Phú, TSKH Trịnh Thị Kim Ngọc, PGS.TS Nguyễn Phương Ngọc, PGS.TS TrịnhQuang Từ, PGS.TS Hà Thế Truyền Hầu hết các bài viết tập trung phân tích vềNNL, NNLCLC như: Phát triển NNL có kỹ năng, đặc trưng của NNLCLC; Đào tạo
nhân tài trong các trường ĐH; Thực trạng NNLCLC Trong đó, TS Cao Xuân
Trung trong bài Đặc trưng cơ bản của NNLCLC, đã bước đầu phác hoạ 5 đặc trưng
của NNLCLC: 1) Có động cơ chính trị - xã hội, nghề nghiệp ổn định; 2) Có năng lực hoạt động nghề nghiệp đáp ứng sự phát triển KH - CN; 3) Có kỹ năng sống, kỹ năng hợp tác trong LĐ với đồng nghiệp; 4) Có kỹ năng tự học, tự hoàn thiện nghề nghiệp và nhân cách; 5) Có sức khoẻ, tác phong đáp ứng yêu cầu hoạt động nghề nghiệp TS Đặng Quốc Thành trong bài Nhân lực chất lượng cao và và giải pháp
xã hội hoá đào tạo nhân lực chất lượng cao cho đất nước hiện nay, đã đưa ra khái
niệm NNLCLC và phân tích trên 5 khía cạnh: NNLCLC là một bộ phận cơ bản vàquan trọng của NNL; là những người có năng lực hoạt động trí tuệ, khả năng thíchứng và sự sáng tạo trong công việc; là những người LĐ có tính kỷ luật, tác phongcông nghiệp, có trách nhiệm; là những người LĐ biết chủ động hội nhập quốc tế; lànhững người có thể lực, sức khoẻ tốt Đây là những gợi ý bổ ích cho NCS kế thừatrong quá trình thực hiện luận án Đồng thời tác giả cho rằng, có nhiều giải pháp đểnâng cao chất lượng đội ngũ NNLCLC, trong đó giải pháp xã hội hoá đào tạo là rất
quan trọng TS Nguyễn Văn Phán trong bài Xây dựng và phát triển NNLCLC trong
các trường ĐH, CĐ ở nước ta hiện nay đã đánh giá thực trạng giảng viên ĐH, CĐ
-một bộ phận của NNLCLC ở nước ta hiện nay Tác giả khẳng định, ở các trường
ĐH, CĐ thì việc xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên là khâu then chốt, nên tácgiả đề xuất 4 giải pháp và cho rằng 4 giải pháp đó phải thực hiện thống nhất vàtương tác lẫn nhau cùng tạo nên chất lượng đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu đàotạo NNL bậc cao cho đất nước trong thời kỳ mới
- GS Hoàng Văn Chương (Chủ biên),(2006), Tài năng trong thời KTTTh và
toàn cầu hoá, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Đây là cuốn sách tập hợp những
bài tham luận tâm huyết của nhiều nhà khoa học hàng đầu về GD - ĐT và văn hoánghệ thuật tiêu biểu như: GS Hoàng Tuỵ, GS.VS Nguyễn Duy Quý, GS Trường
Trang 26Lưu, GS.VS Nguyễn Cảnh Toàn, GS Đỗ Nguyên Phương, GS Đặng Hữu Trong
cuốn sách này, đáng chú ý có các bài tham luận: 1) Tài năng trong thời KTTTh và
toàn cầu hoá của GS Hoàng Tuỵ GS đã khái quát được: sự hình thành nhân tài
qua các thời kỳ lịch sử; nêu ra các giải pháp để phát triển tài năng trong thời đạiKTTTh và toàn cầu hoá như: tạo môi trường làm việc để giữ chân người tài, tác giảcho rằng tài năng là một thứ tài nguyên đặc biệt rất khó tính nếu không được sửdụng, cho nên nếu không được sử dụng ở một nơi nào đó dù nơi đó là quê hương thì
nó có xu hướng tìm đến một nơi khác có điều kiện phát triển thuận lợi hơn; cần phảigiành giật tài năng trong thời toàn cầu hoá, theo tác giả KTTTh là nền kinh tế dựavào tài năng, còn toàn cầu hoá dẫn đến tự do hoá chính là sự di chuyển vốn mà vốnquý giá nhất đó là tài năng, cho nên xu thế tất yếu là tài năng sẽ di chuyển tập trungđến các nước giàu mạnh, xu thế này càng làm cho các nước giàu lại giàu thêm, cácnước nghèo lại càng nghèo đi; cần biết quy tụ và sử dụng nhân tài, tác giả khẳngđịnh muốn đất nước giàu mạnh, bản lĩnh quan trọng của người lãnh đạo là đánh giáđúng và mạnh dạn sử dụng người tài kể cả người tài hơn mình; cần tiến hành cải
cách giáo dục để đem lại tri thức cho nhân dân và tăng cường tiềm lực sáng tạo; 2),
Đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài theo yêu cầu phát triển KTTTh của GS Đặng Hữu Tác giả nêu lên 4 điều kiện để phát triển KTTTh bao gồm: phải có NNLCLC,
có năng lực KH - CN quốc gia đủ mạnh, có hạ tầng thông tin phát triển, có bộ máyquản lý nhà nước trong sạch, vững mạnh Tác giả so sánh kinh tế công nghiệp khácvới KTTTh, từ đó khẳng định trong nền KTTTh, vốn tri thức trở thành nguồn lựcquan trọng nhất của sản xuất và sức sáng tạo, đổi mới trở thành động lực trực tiếpcủa sự phát triển Trên cơ sở đó, GS Đặng Hữu cho rằng, để phát triển KTTTh, rútngắn quá trình CNH, HĐH ở nước ta thì tiền đề quan trọng nhất là đổi mới cơ bảnnền giáo dục hiện nay bằng cách: Nhà nước phải có chính sách trọng dụng nhân tài;đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục; tiến hành cải cách giáo dục
1.2.2 Đề tài khoa học, luận án tiến sỹ
- TS Hoàng Thị Thành (Chủ nhiệm đề tài) (2002), Một số định hướng chuẩn
bị NNL đáp ứng yêu cầu từng bước phát triển KTTTh ở Việt Nam những thập niên
Trang 27đầu thế kỷ XXI, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội Chương 1, các tác giả đã trình bày
được những vấn đề lý luận và thực tiễn: 1) Khẳng định KTTTh là xu hướng phát
triển tất yếu của xã hội loài người và KTTTh là vận hội để Việt Nam đẩy nhanh
CNH, HĐH; 2) Đưa ra 5 nhóm chỉ số đánh giá sự phát triển KTTTh: nhóm chỉ số
về năng lực sáng tạo của doanh nghiệp; nhóm chỉ số về nền tảng tri thức; nhóm chỉ
số về cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT) và viễn thông; nhóm chỉ số về cơ
cấu nền kinh tế; nhóm chỉ số về vai trò của chính phủ; 3) Nêu ra những tiền đề ban đầu và những khó khăn mà Việt Nam phải đối mặt để phát triển KTTTh; 4) Chỉ ra
các nguồn lực chủ yếu bao gồm vốn kết cấu hạ tầng KH - CN, vốn con người, vốn
xã hội và vai trò của NNL trong phát triển KTTTh; 5) Nêu kinh nghiệm về phát triển NNL của một số nước đang phát triển như Hàn Quốc, Singapore Chương 2,
các tác giả đi sâu phân tích thực trạng NNL nước ta và NNL của thành phố Hà Nộitrước yêu cầu từng bước phát triển KTTTh và khẳng định: quy mô NNL tăng cao lànội lực lớn nhưng cũng tạo ra áp lực về đào tạo và việc làm, chất lượng NNL đãđược cải thiện nhưng nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển KT - XH
nói chung và yêu cầu phát triển KTTTh nói riêng Chương 3, các tác giả đưa ra 5
định hướng để chuẩn bị NNL cho phát triển KTTTh ở nước ta: đổi mới một cách cơbản quan điểm, cơ cấu và chính sách đầu tư phát triển NNL; nâng cao chất lượng vàhiệu quả GD - ĐT, coi GD - ĐT là phương thức chủ yếu để phát triển NNL; mởrộng hợp lý quy mô GD - ĐT trên cơ sở đảm bảo chất lượng đào tạo, chú trọng tăngquy mô đào tạo nghề để đảm bảo NNL có cơ cấu hợp lý; phát triển mạnh CNTTnhằm nâng cao khả năng tiếp nhận thông tin và tạo cơ hội học tập suốt đời choNNL; ưu tiên phát triển NNL cho các ngành công nghệ cao Đồng thời các tác giả
đề xuất 5 giải pháp cơ bản để chuẩn bị NNL cho phát triển KTTTh ở nước ta
- Lê Thị Ngân (2004), Nâng cao chất lượng NNL tiếp cận KTTTh ở Việt Nam,
Luận án tiến sỹ Kinh tế Tác giả luận án đã giải quyết được những vẫn đề lý luận vàthực tiễn về nâng cao chất lượng NNL tiếp cận KTTTh: đưa ra quan điểm NNL,chất lượng NNL, nâng cao chất lượng NNL tiếp cận KTTTh; đưa ra các tiêu chí
Trang 28đánh giá chất lượng NNL; phân tích những nhân tố tác động đến chất lượng NNL;luận giải vai trò của NNLCLC trong nền KTTTh với tư cách tri thức - sản phẩm củaNNL là yếu tố trực tiếp của quá trình sản xuất và nâng cao chất lượng NNL là độnglực chủ yếu tiếp cận, phát triển KTTTh; khẳng định nâng cao chất lượng NNL tiếpcận KTTTh là yêu cầu cần thiết; phân tích kinh nghiệm nâng cao chất lượng NNLcủa Trung Quốc, Hàn Quốc Luận án cũng đã phân tích thực trạng chất lượng NNL
và việc nâng cao chất lượng NNL tiếp cận KTTTh từ năm 1990 đến năm 2003 trêncác mặt về biến đổi chất lượng NNL, về các nhân tố tác động trực tiếp tới việc nângcao chất lượng NNL ở Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả luận án khẳng định: NNLnước ta dồi dào về số lượng, đã đạt được ở mức nhất định về chất lượng Tuy nhiên,
để đáp ứng yêu cầu phát triển KTTTh còn nhiều bất cập và tác giả nêu 7 quan điểm,
đề xuất ba nhóm giải pháp để nâng cao chất lượng NNL tiếp cận KTTTh ở Việt Nam
- Lê Thị Hồng Điệp (2010), Phát triển NNLCLC để hình thành nền KTTTh ở
Việt Nam, Luận án tiến sỹ Kinh tế Tác giả luận án đã trình bày những vấn đề chung
về NNLCLC để hình thành KTTTh: đưa ra khái niệm NNLCLC; khẳng định vai tròtiên phong của NNLCLC; đưa ra các tiêu chí phân định NNLCLC; nêu được các kinhnghiệm nâng cao chất lượng NNL của Mỹ, Singapore và rút ra những bài học cho ViệtNam Đồng thời, tác giả đã khái quát quan điểm của Đảng về phát triển NNLCLC quacác thời kỳ; phân tích thực trạng phát triển NNLCLC; đánh giá thực trạng phát triểnNNLCLC ở Việt Nam cả thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế Tácgiả luận án cũng đã đưa ra 4 quan điểm và đề xuất 3 nhóm giải pháp phát triểnNNLCLC để hình thành nền KTTTh
1.2.3 Các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành
- TS Nguyễn Hữu Dũng (2002), Phát triển NNLCLC trong sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế , Tạp chí Lý luận chính trị số 8 Từ cách
tiếp cận của Liên Hiệp Quốc và của các nhà kinh tế, tác giả đưa ra khái niệm NNL,phát triển NNL, NNLCLC Điều đặc biệt là, tác giả mở cho NCS một hướng nghiêncứu mới khi cho rằng giữa chất lượng NNL và NNLCLC có mối quan hệ chặt chẽ
Trang 29với nhau, đó là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng NNLCLC là một bộ phậncấu thành tinh tuý nhất của chất lượng NNL, cho nên khi nghiên cứu không thể táchNNLCLC khỏi chất lượng NNL.
- GS Đặng Hữu (2005), Đào tạo nhân lực cho CNH, HĐH dựa trên KTTTh ở
nước ta hiện nay, Tạp chí Cộng sản số 4 GS khẳng định, nhân tố cơ bản nhất để
phát triển KTTTh là NNLCLC dựa trên nền giáo dục tiên tiến và luận giải KTTTh
có nhiều khác biệt cơ bản so với kinh tế công nghiệp trên ba khía cạnh: vốn tri thức(trở thành yếu tố quan trọng nhất của sản xuất hơn cả LĐ và tài nguyên), sáng tạo(trở thành động lực quan trọng nhất), tốc độ đổi mới nhanh chóng Theo tác giả, đểrút ngắn quá trình CNH, HĐH đòi hỏi phải coi GD - ĐT là quốc sách hàng đầu vànền giáo dục đó phải thực hiện được 3 nhiệm vụ: nâng cao mặt bằng dân trí, đào tạođược NNLCLC và chăm lo bồi dưỡng đội ngũ nhân tài
- PGS.TS Phạm Thành Nghị (2007), Phát triển NNL cho nền KTTTh, Tạp chí
Nghiên cứu con người số 2 Tác giả cho rằng, Việt Nam có nguồn LĐ dồi dào nhưngchất lượng thấp, vấn đề đặt ra là, để rút ngắn con đường CNH, HĐH và chuẩn bị cho sựphát triển của nền KTTTh cần đầu tư vào phát triển con người Tác giả nêu ra một số vấn
đề trọng tâm trong phát triển NNL cho nền KTTTh: các loại hình LĐ có vai trò quantrọng nhất trong nền KTTTh, vấn đề học tập suốt đời và học tập chiến lược Trong đó,đặc biệt tác giả dẫn ra ý tưởng của Wolff và Baumol phân LĐ ra làm 2 loại chính: LĐthông tin và LĐ phi thông tin Ngoài ra, tác giả còn chỉ ra, có một nhóm LĐ mà ít ngườinghĩ có mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của KTTTh là LĐ khoa học xã hội nhânvăn Sự phân định này là những gợi ý bổ ích trong quá trình nghiên cứu luận án
- TS Bùi Việt Phú (2010), Đào tạo NNL trình độ cao để tham gia nền KTTTh, Tạp
chí Giáo dục số 233 Tác giả cho rằng, trong bối cảnh phát triển KTTTh, đào tạo NNLtrình độ cao là vấn đề trọng tâm trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia nhằm chủđộng tham gia nền KTTTh Theo đó, tác giả đề xuất một số ý kiến nhằm xây dựng đượcđội ngũ nhân lực được đào tạo ở nước ngoài có chất lượng cao như: phải có sự thốngnhất quản lý nhà nước về lĩnh vực này, đa dạng hoá con đường bồi dưỡng nhân tài, hoàn
Trang 30thiện và củng cố hệ thống văn bản pháp quy theo hướng tạo hành lang mở cho các tácnhân tham gia đào tạo ở nước ngoài, thực hiện chế độ đãi ngộ và sử dụng tài năng hợplý.
Thứ nhất, trong thời gian qua, NNL, NNLCLC là một trong những chủ đề
không chỉ thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, mà còn trở thành chủ
đề để các nghiên cứu sinh và học viên cao học lựa chọn làm nội dung nghiên cứucho các luận án, luận văn của mình
Thứ hai, tổng hợp các nghiên cứu về vấn đề NNL, NNLCLC như đã trình bày
ở trên cho thấy, các công trình nghiên cứu về NNL cho CNH, HĐH gắn với pháttriển KTTTh còn rất ít Đặc biệt, ở tỉnh Thừa Thiên Huế mới chỉ có một vài côngtrình nghiên cứu về NNL như của tác giả Vũ Duy Dự và Lê Thị Kim Phương từnăm 1999 - 2004, chưa có công trình nghiên cứu nào về NNL cho CNH, HĐH gắnvới phát triển KTTTh ở tỉnh Thừa Thiên Huế, nhất là trong một thời kỳ dài Vì vậy,trên cơ sở kế thừa và tiếp thu kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước,việc bổ sung vào khoảng trống các vấn đề nghiên cứu còn bỏ ngỏ để hoàn thiệnthêm những vấn đề lý luận và thực tiễn về NNL cho CNH, HĐH gắn với phát triểnKTTTh được luận án xác định là hướng phát triển nghiên cứu tiếp theo
Thứ ba, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập nhiều vấn đề liên quan đến
NNL, NNLCLC Tuy nhiên, luận án cho rằng, có một số vấn đề vấn đề sau đây cầntiếp tục được nghiên cứu:
- Cần thiết phải làm sáng tỏ các quan niệm khác nhau về NNL, NNL choCNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh và các đặc thù của NNL cho CNH, HĐH gắnvới phát triển KTTTh khác với các mô hình CNH truyền thống
Trang 31- Các đặc điểm của CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh cần được rút ra vàxem xét để thấy rằng, chính các đặc điểm đó tác động đến yêu cầu của NNL choCNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh
- Các vấn đề như: yêu cầu của NNL cho CNH, HĐH gắn với phát triểnKTTTh; các nhân tố tác động, xu hướng và tính quy luật trong dịch chuyển cơ cấuNNL theo hướng CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh vẫn đang là những vấn đềkhá mới mẻ cần có sự nghiên cứu thấu đáo hơn
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng NNL cho CNH, HĐH gắn với phát triểnKTTTh ở một địa phương trong một thời gian dài, trên cơ sở đó tìm kiếm các giảipháp nhằm phát triển NNL đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh
là hết sức cần thiết và chưa được nhiều người nghiên cứu
Đó là những gợi mở để đề tài luận án “Nguồn nhân lực cho công nghiệp
hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức ở tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay” được lựa chọn thực hiện
Trang 32Thuật ngữ “nguồn lực con người” (Human resources) hay “nguồn nhân lực”
được bắt đầu sử dụng vào những thập niên 60 của thế kỷ XX ở các nước phươngTây và một số nước châu Á Có thể nói, đây là thời kỳ đánh dấu sự nhảy vọt trongnhận thức về vai trò, vị trí của con người trong sự phát triển KT - XH, từ chỗ conngười được xem là công cụ LĐ trở thành nhân tố quyết định hàng đầu, nhất là trongđiều kiện phát triển KTTTh Ở Việt Nam từ năm 90 của thế kỷ XX đến nay, nguồnlực này được đặc biệt coi trọng, do đó thuật ngữ NNL được các nhà khoa học, cácnhà hoạch định chính sách nghiên cứu sâu và được sử dụng rộng rãi Vì vậy, hiệnnay có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm NNL, nhưng chung quy lại, NNLđược tiếp cận theo 2 góc độ cơ bản:
- Ở góc độ nghiên cứu NNL với tư cách là tiềm năng, là nguồn lực chung của con người, có một số các quan niệm đáng chú ý sau:
1) GS.TS Hoàng Chí Bảo cho rằng, NNL là sự kết hợp thể lực và trí lực cho
thấy khả năng sáng tạo, chất lượng, hiệu quả hoạt động và triển vọng mới phát triểncủa con người [4;14].
2) Trong công trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước (KX - 07) “Con người
Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển KT - XH”, GS.TS Phạm MinhHạc và các cộng sự cho rằng, NNL là số dân và chất lượng con người bao gồm cảthể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ năng lực phẩm chất [54;328]
Trang 333) Gần đây, TS Nguyễn Bình Đức đã nhấn mạnh, nhân lực là nguồn lực trong
mỗi con người Đó là tổng thể thống nhất hữu cơ giữa tiềm năng LĐ với năng lực
LĐ hiện có của con người hình thành nên năng lực LĐ của họ [51;26]
Mặc dù có đối tượng và mục đích nghiên cứu khác nhau nhưng NNL ở góc độnày được hiểu theo các khía cạnh: NNL là một nhân tố bên cạnh các loại nhân tố vậtchất khác (vốn tài chính, tài nguyên thiên nhiên, công nghệ, thể chế ) cho quá trìnhsản xuất xã hội; NNL là những con người cụ thể có sức LĐ, có khả năng LĐ; NNL
là sự kết hợp của thể lực, trí lực, kiến thức, kỹ năng và nhân cách của mỗi conngười; NNL là nguồn lực con người bao gồm cả nguồn lực tiềm năng và nguồn lực
hiện có; NNL tồn tại với tư cách là một chủ thể có khả năng LĐ sáng tạo; NNL là khả
năng LĐ của con người có ảnh hưởng đến sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội
- Ở góc độ nghiên cứu NNL với tư cách là tổng thể nguồn lực con người trong các đơn vị và trên phạm vi cả nước, có các quan niệm tiêu biểu:
Theo quan niệm của tổ chức Lao động quốc tế (ILO), NNL của một quốc gia
là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia LĐ [100;61] Quan niệm
này được hiểu theo hai nghĩa: 1) Nghĩa rộng, NNL là nguồn cung cấp sức LĐ cho
sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho phát triển, do đó NNL bao gồm
toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường; 2) Nghĩa hẹp, NNL là khả năng LĐ
của xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi LĐ, có khả năng tham gia vào
LĐ - sản xuất, tức là toàn bộ các cá nhân có thể tham gia vào quá trình LĐ, là tổngthể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình LĐ Quan niệmNNL theo nghĩa này được sử dụng phổ biến trong các lý thuyết LĐ xã hội và trongcác cuộc điều tra LĐ - việc làm
Theo quan niệm của UNDP thì NNL là tổng thể những năng lực (cơ năng và
trí năng) của con người được huy động vào quá trình sản xuất, nguồn năng lực - nộilực đó của con người cũng chính là nội lực của xã hội [92;13]
Theo quan niệm của Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội, NNL là tiềm năng
về LĐ trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thể xác định trênphạm vi một địa phương, một ngành hay một vùng [9;13]
Trang 34Theo quan niệm của Kinh tế phát triển trong lý thuyết về vốn người, NNL
trước hết như là một yếu tố của quá trình sản xuất, một phương tiện để phát triển
KT - XH, ngoài ra còn xem xét con người từ quan điểm nhu cầu về các nguồn lựcphát triển [170;138] Điều đó có nghĩa, đầu tư cho con người cũng giống như đầu tưvào các nguồn lực vật chất khác, vì vậy phải tính đến hiệu quả của sự đầu tư đó.Quan điểm này hiện nay đang được áp dụng phổ biến ở nhiều quốc gia
Như vậy, nghiên cứu NNL với tư cách là tổng thể nguồn lực con người cónhiều quan niệm và biểu hiện khác nhau, nhưng chung quy lại NNL của một quốc
gia phản ánh được những đặc điểm quan trọng nhất, đó là: 1) NNL là nguồn lực con người; 2) NNL là yếu tố cơ bản, quyết định của quá trình sản xuất; 3) NNL là bộ
phận của dân số, là nguồn cung cấp sức LĐ cho xã hội nên việc thừa hay thiếu sức
LĐ có tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế; 4) NNL là tổng hoà giữa năng lực xã hội và tính năng động xã hội của con người; 5) NNL là tiềm năng, sức mạnh của con người; 6) NNL phản ánh khả năng LĐ của một xã hội; 7) NNL là tổng hoà thể
lực và trí lực của LLLĐ
Từ một số cách tiếp cận trên, có thể thấy, đa số các quan niệm về NNL đềuđược tiếp cận và nhìn nhận dưới góc độ chuyên ngành Kinh tế phát triển hoặc Quản
lý KT - XH, còn dưới dưới góc độ chuyên ngành Kinh tế chính trị luận án cho rằng:
NNL của một quốc gia là toàn bộ những người đang và sẽ tham gia vào LLLĐ làm việc trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân với tất cả những năng lực thể chất, tinh thần và có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân, quốc gia đó Hay
nói cách khác, NNL là tổng hoà giữa năng lực thể chất và năng lực tinh thần tồn tại
trong toàn bộ LLLĐ và những người sẽ bổ sung có khả năng tham gia LĐ của một quốc gia, trong đó thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức, kinh nghiệm LĐ, tác phong nghề nghiệp được vận dụng vào các hoạt động KT - XH để tạo ra của cải vật chất
và tinh thần phục vụ cho xã hội.
Với cách tiếp cận này của luận án, khái niệm NNL nó phản ánh được đầy đủ
các khía cạnh: 1) Các tiêu thức về lượng của NNL, bao gồm những người đang và
sẽ tham gia hoạt động trong các ngành của nền kinh tế quốc dân; 2) Các tiêu thức về
Trang 35chất của NNL như: thể lực, trí lực, tâm lực; 3) Các yếu tố quyết định đến hoạt động
của NNL đó là toàn bộ năng lực thể chất và năng lực tinh thần của người LĐ
Từ quan niệm chung về NNL, có thể hiểu một cách khái quát NNL cho CNH,
HĐH gắn với phát triển KTTTh: Là tổng hoà năng lực thể chất và tinh thần tồn tại
trong toàn bộ những người đang và sẽ tham gia vào LLLĐ xã hội có khả năng hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ của tiến trình, trong đó tốc độ tăng của năng lực chịu đựng áp lực công việc và năng lực sáng tạo cũng như cơ cấu của LLLĐ phải phù hợp với tốc độ tăng của cơ sở vật chất kỹ thuật và sự dịch chuyển cơ cấu của nền kinh tế trong điều kiện bùng nổ cách mạng KH - CN và hội nhập kinh tế quốc tế.
Cách tiếp cận NNL cho CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh như trên của
luận án chỉ rõ: một là, phù hợp với cánh tiếp cận NNL của chuyên ngành Kinh tế chính trị; hai là, phản ánh được đầy đủ những nội dung cơ bản của NNL; ba là, phù
hợp với đòi hỏi của tiến trình CNH, HĐH và gắn liền với đòi hỏi phát triển nềnKTTTh và hội nhập kinh tế quốc tế
2.1.1.2 Đặc thù nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức
CNH là nấc thang phát triển tất yếu của các quốc gia và tuỳ vào hoàn cảnh,điều kiện mà mỗi quốc gia tự lựa chọn mô hình CNH thích hợp Trong bối cảnhtoàn cầu hoá và sự phát triển KTTTh, là nước đi sau để rút ngắn quá trình CNH ViệtNam xác định phải thực hiện CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh Khác với các
mô hình CNH truyền thống, mô hình CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh mànước ta đang thực hiện sẽ làm cho phương thức, phạm vi và kết cấu NNL có sự thayđổi hoàn toàn về chất dẫn đến NNL có những đặc thù mới:
Một là, trong mô hình CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh, tỷ lệ LĐ phức
tạp cao hơn LĐ giản đơn rất nhiều CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh là sự kếthợp giữa CNH, HĐH với quá trình phát triển KTTTh mà thực chất đó chính là quátrình sử dụng tri thức vào tất cả các ngành kinh tế, do đó nhu cầu về LĐ trí óc ngàycàng tăng lên LĐ phức tạp là bộ phận tinh hoa nhất của NNL, có trình độ CMKTcao, có kỹ năng LĐ giỏi có thể đáp ứng đòi hỏi của nền sản xuất hiện đại Ở nước
Trang 36ta, LĐ phức tạp này càng có xu hướng tăng lên nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy nhanhquá trình CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh Hiện nay ở nước ta, LĐ phức tạp
có xu hướng gia tăng nhanh chóng: đội ngũ trí thức Việt Nam có 2,5 triệu người(chiếm 2,15% dân số), trong đó theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có trên
14 nghìn TS khoa học và theo thống kê của Hội đồng chức danh GS nhà nước đến
tháng 11 - 2011, có 1.459 GS và 8.048 PGS; lực lượng lãnh đạo, quản lý các cấp có
544 nghìn người, trong đó có 97% có trình độ CĐ trở lên [76;60] Có thể khẳng
định, sự tác động của cuộc cách mạng KH - CN và yêu cầu sử dụng tri thức của nềnkinh tế làm cho NNL trong mô hình CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh có đặcthù khác với các mô hình CNH trước đó
Hai là, trong mô hình CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh, không phải chỉ
những ngành kinh tế mũi nhọn, những ngành kỹ thuật cao mới đòi hỏi LĐ có trình
độ CMKT cao mà ở tất cả các ngành, các lĩnh vực đều đòi hỏi người LĐ không chỉ
có những tri thức nhất định, mà phải có tri thức và kỹ năng cao, tức phải có trình độ
CMKT và nghề nghiệp Ở nước ta CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh không
phải là chuyển ngay các ngành kinh tế truyền thống sang các ngành công nghệ caonhư nhiều nước đã thực hiện, mà là dựa vào tri thức, áp dụng KH - CN để cải tạo cảcác ngành kinh tế truyền thống theo hướng gia tăng hàm lượng tri thức trong cácsản phẩm Do đó, trong các ngành truyền thống như công nghiệp, nông nghiệp, dịch
vụ cũng đòi hỏi người LĐ phải có trình độ CMKT, phải có tri thức Sở dĩ như vậy,bởi vì bản thân những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới được áp dụng vào trong cáclĩnh vực, các ngành này rất phức tạp, hiện đại, người LĐ phải có kiến thức mới nắmbắt được quy trình vận hành và vận dụng được Chẳng hạn, Công ty TNHH FloraViệt Nam ở Hà Nội triển khai mô hình trồng hoa công nghệ cao với 10.000 m2 gồm
hệ thống nhà kính, nhà lưới, máy móc hiện đại đã mang lại doanh thu khoảng 10 tỷđồng/năm, tạo công ăn việc làm cho 100 LĐ thường xuyên, từng bước tạo dựngthương hiệu trên thị trường hoa cao cấp Hay nông trại trồng hoa công nghiệpHasfarm ở Đà Lạt áp dụng quy trình trồng, chăm bón hoa tự động được điều khiểntoàn bộ bằng máy tính từ khâu đảm bảo nhiệt độ, độ ẩm đến các chế độ bón phân,cung cấp chất dinh dưỡng, năm 2004 doanh thu đạt 8,5 triệu USD
Trang 37Ba là, đặc thù của NNL trong mô hình CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh
là phải có khả năng sáng tạo ra cái mới Là nước đi sau, để tránh nguy cơ tụt hậu, đi tắtđón đầu Việt Nam thực hiện CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh thực chất là vậndụng tri thức mới vào tất cả các ngành kinh tế nhằm tăng nhanh giá trị gia tăng của sảnphẩm, giảm chi phí về nguyên liệu và LĐ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm,dịch chuyển nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng HĐH Yếu tố then chốt bảo đảm thànhcông cho chiến lược này là phát huy năng lực sáng tạo của NNL và như vậy, NNL trongCNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh là NNL sáng tạo chứ không phải là một bộ phậncủa hệ thống máy móc trên dây chuyền sản xuất của các doanh nghiệp Hiện nay, với sựtác động của cách mạng KH - CN, công nghệ đổi mới với tốc độ nhanh chóng, từ đó làmcho chu kỳ của một vòng đời công nghệ rút ngắn hơn trước kia và công nghệ thường lạchậu rất nhanh nên những doanh nghiệp, quốc gia nào có tốc độ đổi mới nhanh thì doanhnghiệp, quốc gia đó có ưu thế trong cạnh tranh Vì vậy, để thực hiện được CNH, HĐHgắn với phát triển KTTTh, nước ta cần có nhiều cơ chế, chính sách nhằm phải phát huykhả năng sáng tạo của NNL
Bốn là, trong mô hình CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh vai trò và địa vị
của bộ phận LĐ trí tuệ trong cơ cấu NNL được đề cao Trong mô hình CNH truyền
thống cái thiếu nhất của các doanh nghiệp là vốn, vì vậy thông thường những ngườinào có vốn lớn là những người sở hữu và điều hành doanh nghiệp đó Còn trong môhình CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh (CNH dựa vào tri thức), nguồn vốnkhông còn giữ vai trò quyết định, bởi trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế, nhất làthị trường tiền tệ thế giới không ngừng được hoàn thiện dẫn tới nguồn vốn có hiệntượng dôi dư mang tính thế giới Vì vậy, địa vị của những người sở hữu vốn cóphần giảm sút trong khi đó địa vị của người sở hữu tri thức dần dần được nâng lên
và ngày càng có nhiều người có tri thức tham gia sở hữu, điều hành các doanhnghiệp và ai sở hữu được nhiều tài sản trí tuệ hơn thì người đó sẽ chiến thắng trongcạnh tranh về kinh tế
Năm là, trong mô hình CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh có sự dịch chuyển
cơ cấu LĐ theo hướng tri thức hoá Trong quá trình dịch chuyển cơ cấu nền kinh tếluôn có tốc độ nhanh hơn, bởi lẽ khi hình thành một ngành kinh tế mới thì nhu cầu về
Trang 38LĐ có CMKT tương đương Do đó, để duy trì và phát triển ngành kinh tế mũi nhọn thì
cơ cấu NNL phải dịch chuyển theo hướng tri thức hoá, theo đó hình thành NNLCLC
2.1.2 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức và yêu cầu của nguồn nhân lực
2.1.2.1 Đặc điểm của công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh
nổ của cách mạng KH - CN và sự phát triển của KTTTh, Việt Nam không thể thựchiện CNH tuần tự như nhiều nước đã trải qua, mà phải thực hiện CNH, HĐH gắn vớiphát triển KTTTh CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh có đặc điểm:
Thứ nhất, CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh ở nước ta thực chất là CNH rút ngắn dựa vào tri thức Ngày nay, xu thế toàn cầu hoá kinh tế và sự phát triển KTTTh
đang làm thay đổi mạnh mẽ nội dung và bước đi của quá trình CNH,HĐH ở các nướcđang phát triển như Việt Nam Trong điều kiện hiện nay, là nước đi sau để tránh nguy
cơ tụt hậu, nước ta phải thực hiện CNH, HĐH phải gắn với phát triển KTTTh Đại hộiĐại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định:
Con đường CNH, HĐH của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian,vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt Phát huy những lợi thếcủa đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến,đặc biệt là CNTT và CNSH, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ởmức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về KH - CN, từngbước phát triển KTTTh [42;91]
Như vậy, thực chất của CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh mà nước ta đangthực hiện là CNH rút ngắn dựa vào tri thức Rút ngắn ở đây là phải kết hợp cả hai quátrình vừa chuyển từ kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp và vừa chuyển từ
Trang 39kinh tế công nghiệp lên KTTTh Khác với các nước đi trước, đây là hai quá trình độclập, nối tiếp nhau nghĩa là sau khi hoàn thành cơ bản CNH rồi mới chuyển sang nềnKTTTh, nhưng với lợi thế là nước đi sau, ở nước ta hai quá trình này được lồng ghépvào nhau, hỗ trợ cho nhau, diễn ra song hành và phải được thực hiện đồng thời
Thứ hai, CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh ở nước ta vừa phải phát triển các ngành truyền thống, vừa phải phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn theo hướng đi tắt đón đầu công nghệ hiện đại CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh đặt
ra yêu cầu phát triển nhanh, có chọn lọc các ngành kinh tế dựa vào tri thức và côngnghệ cao để đi tắt, đón đầu công nghệ hiện đại nhằm tránh nguy cơ tụt hậu so vớicác nước trong khu vực và trên thế giới, đó là các ngành: CNTT, CNSH, công nghệvật liệu mới, công nghệ năng lượng mới Tuy nhiên, xuất phát là một nước nôngnghiệp, nước ta thực hiện CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh không phải làchuyển ngay các ngành kinh tế truyền thống sang các ngành công nghệ cao nhưnhiều nước đã thực hiện, mà là dựa vào tri thức, áp dụng KH - CN để phát triển cácngành kinh tế truyền thống có lợi thế tuyệt đối về LĐ và tài nguyên theo hướng giatăng hàm lượng tri thức trong các sản phẩm Vì vậy, bên cạnh việc phát triển cácngành công nghệ cao, thì các ngành truyền thống cần phải được chú trọng đầu tư vàphát triển, cụ thể:
- Đối với ngành nông nghiệp Nông nghiệp là một ngành kinh tế truyền thống,
xuất phát là một nước nông nghiệp lạc hậu cho nên Đảng và Nhà nước ta khẳngđịnh trong một thời gian khá dài nữa nó vẫn còn là một ngành kinh tế quan trọngtrong nền kinh tế của nước ta Vì vậy, trong điều kiện phát triển KTTTh, để nôngnghiệp trở thành ngành sản xuất có vai trò quan trọng cần phải đưa tiến bộ KH - CNnhư CNTTT, CNSH vào trong nông nghiệp như: thay thế các dạng kỹ thuật sảnxuất lạc hậu; thay thế các phương tiện, phương pháp sản xuất truyền thống bằng cácphương pháp và phương tiện hiện đại; xây dựng các khu sản xuất nông nghiệp công
nghệ cao dựa ứng dụng CNSH (công nghệ gen)
- Đối với ngành công nghiệp Công nghiệp cũng là một ngành truyền thống
nên cũng phải có bước đi vừa tuần tự, vừa nhảy vọt Hiện nay, trong tất cả các
Trang 40ngành công nghiệp đều cần sử dụng tri thức, đổi mới công nghệ để nâng cao năngsuất, chất lượng, tăng giá trị của sản phẩm, tận dụng cơ sở vật chất và LLLĐ sẵn có,giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người LĐ
- Đối với ngành dịch vụ Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới và phát triển
KTTTh ngành dịch vụ cần nhanh chóng được phát triển và hiện đại hoá ChínhCNTT có tác động to lớn đến sự phát triển và hiện đại hoá của ngành dịch vụ.Trong khoảng 5 năm trở lại đây, nhờ sử dụng thương mại điện tử, Internet mà cácgiao dịch nhanh chóng và thuận tiện hơn, chi phí giao dịch giảm xuống rất nhiều.Ước tính thương mại điện tử phát triển đã làm giảm chi phí cho các nền kinh tế pháttriển hàng nghìn tỷ USD và cũng thông qua đó để phát triển du lịch, đẩy mạnh hoạtđộng xuất nhập khẩu, góp phần tăng trưởng kinh tế
Thứ ba, CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh ở nước ta diễn ra trong bối cảnh TCH và hội nhập kinh tế thế giới TCH và hội nhập kinh tế thế giới là xu thế
khách quan, nó tạo ra nhiều cơ hội phát triển cho các quốc gia, nhất là thúc đẩyLLSX phát triển, tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đặc biệt, TCH
và hội nhập kinh tế quốc tế cho phép các quốc gia đi sau tiếp nhận được thành tựu
KH - CN, kinh nghiệm phát triển NNL của các quốc gia đã hoàn thành CNH, HĐH
và đang bước vào phát triển KTTTh Đối với Việt Nam, TCH và hội nhập kinh tếthế giới đã tác động tích cực đến việc nâng cao chất lượng NNL trên hai khía cạnh:
một là, TCH thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của KH - CN, cho phép Việt Nam
tiếp thu được thành tựu KH - CN của nhiều nước tiên tiến trên thế giới, từ đó thúcđẩy người LĐ nâng cao trình độ để tiếp cận và vận dụng thành tựu KH - CN vào các
hoạt động SX - KD; hai là, khi người LĐ được làm việc trong các doanh nghiệp,
nhất là các doanh nghiệp FDI, họ sẽ tiếp thu được phương pháp làm việc tiên tiến,biết sử dụng công nghệ hiện đại từ đó có điều kiện để học tập, nâng cao trình độCMKT và tay nghề, rèn luyện tác phong công nghiệp Như vậy, trong bối cảnhTCH, hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra sâu rộng, Việt Nam có thể tận dụng đượcnhiều cơ hội để thực hiện CNH, HĐH gắn với phát triển KTTTh, trong đó cơ hộinâng cao chất lượng NNL là vô cùng quan trọng