1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lễ hội ăn trâu của dân tộc bana ở huyện chưsê tỉnh gia lai

57 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lễ hội ăn trâu của dân tộc bana ở huyện chưsê tỉnh gia lai
Tác giả Quách Thị Tuyết Vy
Người hướng dẫn T.S Trần Thị Mai An
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Việt Nam học
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2017
Thành phố Gia Lai
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuốn sách “ Lễ hội bỏ mả Pơ - thi của các dân tộc Bắc Tây Nguyên: dân tộc Giarai - Bana”, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, 1995, tác giả Ngô Văn Danh cũng đề cập ít nhiều đến việc chuẩn bị

Trang 1

1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA LỊCH SỬ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Đề tài: LỄ HỘI ĂN TRÂU CỦA DÂN TỘC BANA Ở HUYỆN CHƯSÊ

TỈNH GIA LAI

Sinh viên thực hiện : Quách Thị Tuyết Vy Chuyên ngành : Việt Nam học

Lớp : 13CVNH GVHD : T.S Trần Thị Mai An

Tháng 5, năm 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tham gia nghiên cứu làm đề tài khóa luận tốt nghiệp là một cơ hội vô cùng quý báu đối với tất cả các sinh viên đang chuẩn bị tốt nghiệp ra trường Khóa luận tốt nghiệp chính là việc mang tính chất lý luận vào thực tiễn trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu và khảo sát cũng như đưa ra được những giải pháp mang tính chất định hướng phục vụ phát triển một loại hình nào đó trong phạm vi nghiên cứu của đề tài Trên cơ

sở đó giúp em có được một cái nhìn toàn diện, sâu sắc, vừa rèn luyện được kĩ năng làm việc học tập, vừa trau dồi khả năng tập trung cao độ vào một vấn đề cụ thể, giúp ích rất lớn cho công việc của em trong tương lai

Em xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô trong khoa Lịch sử, đã đào tạo và trang

bị cho em những kiến thức cơ bản giúp em thực hiện khóa luận này Đồng thời em xin bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình, bạn bè và những người đã động viên, khuyến khích, tạo mọi điều kiện để em có thể tiến hành khóa luận thành công

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Trần Thị Mai An đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện khóa luận

Trong quá trình thực hiện khóa luận, mặc dù đã cố gắng nghiên cứu tìm hiểu, học hỏi, song do thời gian tìm hiểu không nhiều, lượng kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên bài khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp quan tâm, chỉ bảo của các thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn

Sinh viên thực hiện

Quách Thị Tuyết Vy

Trang 3

3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những vấn đề tôi trình bày trong khóa luận là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi, được sự hướng dẫn tận tình của TS.Trần Thị Mai An, không trùng với kết quả của các công trình nghiên cứu khác

Nếu sai sót tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Sinh viên thực hiện

Quách Thị Tuyết Vy

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nhắc đến Tây Nguyên - mảnh đất cao nguyên miền Trung Việt Nam, người ta nhớ ngay đến cái hào hùng của núi rừng qua tiếng cồng chiêng, men say của rượu cần, sắc hồng rực của ánh lửa và những điệu múa dập dìu của trai gái trước sân nhà Rông trong những đêm hội Hàng năm cứ sau mỗi mùa rẫy, bà con các dân tộc thiểu số tại các buôn làng khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên lại tổ chức lễ “ Sa - rơ - pu” (ăn trâu)

mà người miền xuôi thường gọi là tết Thượng hay lễ đâm trâu, được tổ chức từ tháng

là lý do chính của việc thực hiện khóa luận này

2 Mục đích và ý nghĩa của đề tài

Mục đích của đề tài là nhằm tìm hiểu nội dung của lễ hội đâm trâu, một lễ hội quan trọng trong văn hóa của đồng bào dân tộc Bana, qua đó tiến tới xây dựng những định hướng, giải pháp bảo tồn và đặc biệt là đề xuất giải pháp khai thác lễ hội này trong hoạt động du lịch của tỉnh Gia Lai một cách hiệu quả mà không làm mai một đi những giá trị nguyên gốc của lễ hội

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Lễ đâm trâu (ăn trâu) là một nghi lễ khá phổ biến, có mặt trong rất nhiều lễ hội quan trọng trên dải đất Tây Nguyên cho nên đã có rất nhiều tác giả tìm hiểu và giới thiệu về nghi lễ này một cách cụ thể hoặc là sơ lược thông qua một số lễ hội khác như:

Trang 5

5

Công trình sách “Mùa xuân với lễ hội Đâm Trâu” của Nguyễn Văn Chương, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội xuất bản năm 2004, công trình này đã giới thiệu một cách cụ thể và khá đầy đủ về lễ hội đâm trâu

Cuốn sách “ Lễ hội bỏ mả (Pơ - thi) của các dân tộc Bắc Tây Nguyên: dân tộc Giarai - Bana”, (Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, 1995), tác giả Ngô Văn Danh cũng đề cập ít nhiều đến việc chuẩn bị nghi lễ đâm trâu, một trong những nghi lễ chính, quan trọng nhất trong lễ bỏ mả của các tộc người Giarai và Bana

Tác phẩm “ Lễ hội Tây Nguyên”, (Nhà xuất bản Thế Giới 2008), các tác giả Trần Phong, Nguyên Ngọc đã giới thiệu gần như trọn vẹn về những lễ hội cổ truyền của các tộc người sống trên suốt dải đất Trường Sơn - Tây Nguyên Việt Nam và như một phần tất yếu họ cũng đã đề cập đến lễ hội đâm trâu của một vài tộc người ở Tây Nguyên như Ê đê, Bana với những nét độc đáo và giá trị đặc sắc

Các công trình, ấn phẩm khoa học trên là nguồn tài liệu quan trọng và rất có giá trị cho chúng tôi trong việc thực hiện khóa luận này Tuy rằng các ấn phẩm đó đều

đã có đề cập đến lễ hội đâm trâu của các tộc người ở Trường Sơn – Tây Nguyên, nhưng cụ thể khắc họa một lễ hội đâm trâu của người Bana ở huyện Chưsê tỉnh Gia Lai thì chưa có một tác giả nào đề cập đến, đặc biệt là việc khai thác nghi lễ này như một sản phẩm du lịch văn hóa giàu tiềm năng của vùng đất Công trình khóa luận này mong muốn sẽ bổ sung hơn các thông tin về lễ hội đâm trâu của người Bana nhằm hệ thống hóa hơn nữa bức tranh lễ hội độc đáo của các cộng đồng tộc người khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên nói chung, người Bana ở huyện Chưsê nói riêng

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu thành văn: là phương pháp chính được

sử dụng trong đề tài Trên cơ sở thu thập thông tin tư liệu từ nhiều lĩnh vực, nhiều nguồn khác nhau có liên quan đến đề tài nghiên cứu, người viết sẽ xử lí, chọn lọc để

có những kết luận cần thiết, có được tầm nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh tổng hợp: phương pháp này giúp

định hướng, thống kê, phân tích để có cách nhìn tương quan, phát hiện ra các yếu tố

và sự ảnh hưởng của yếu tố tới hoạt động du lịch trong đề tài nghiên cứu; việc phân tích, so sánh, tổng hợp các thông tin và số liệu mang lại cho đề tài cơ sở trong việc

Trang 6

thực hiện các mục tiêu dự báo, các chương trình phát triển, các định hướng, các chiến lược và giải pháp phát triển du lịch trong phạm vi nhiên cứu của đề tài

- Phương pháp điền dã dân tộc học: đây là phương pháp quan trọng nhất giúp

người viết đi sâu vào tiếp cận với đề tài Nhờ việc trực tiếp đi đến các buôn làng có người Bana sinh sống trên địa bàn xã Dun, xã Ayun thuộc huyện Chưsê, tỉnh Gia Lai, thông qua việc khảo sát và tham gia vào các hoạt động trong lễ hội đâm trâu của đồng bào dân tộc Bana đã cho người viết cái nhìn sâu sắc về lễ hội này

5 Đóng góp của Khóa luận

Trên cơ sở tiếp thu những kết quả của các công trình nghiên cứu trước, khóa luận góp phần vào nghiên cứu sâu sắc lễ hội ăn trâu của đồng bào dân tộc Bana cư trú trên địa bàn huyện Chưsê, tỉnh Gia Lai; nêu ra những thực trạng đang còn tồn tại trong lễ hội, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm cải thiện sự biến thiên quá nhiều của

lễ hội trong thời đại hiện nay, đồng thời giúp cho việc áp dụng lễ hội vào phát triển du lịch một cách hợp lí mà không làm biến đổi bản chất vốn có của lễ hội

Khóa luận cũng đã hoàn thành nhiệm vụ khoa học đề ra, kết quả nghiên cứu khóa luận sẽ góp phần cung cấp những tư liệu về lễ hội ăn trâu của dân tộc Bana cứ trú tại một vùng nhỏ, giúp cho chúng ta có hiểu biết sâu sắc và toàn diện hơn

6 Bố cục của Khóa luận: gồm 3 phần

Chương 1 Tổng quan về người Bana ở huyện Chưsê, tỉnh Gia Lai

Chương 2 Lễ hội ăn Trâu của dân tộc Bana ở huyện Chưsê, tỉnh Gia Lai Chương 3 Đề xuất một số giải pháp khai thác lễ hội ăn Trâu phục vụ du lịch

Trang 7

7

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI BANA Ở HUYỆN CHƯSÊ

TỈNH GIA LAI 1.1 Điều kiện tự nhiên

Huyện Chưsê cách Pleiku 40 km về phía nam Quốc lộ 14 nối ngã ba Chưsê với Đăk Lăk, Đăk Nông, Bình Phước, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh Từ ngã ba Chưsê cũng có thể đi theo quốc lộ 7 (cũ, nay là quốc lộ 25) đến thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

Huyện Chưsê được thành lập vào tháng 8-1981, có tổng diện tích tự nhiên 135.098 ha Toàn huyện có 224 thôn, làng, tổ dân phố (trong đó có 164 làng đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm 73,2%), với 15 xã, một thị trấn Với hơn 15 dân tộc anh

em sinh sống: Kinh, Gia Rai, Ba Na, Ê Ðê, Thái, Tày, Gié Triêng, Cơ Ho, Xê Ðăng, Nùng, Hrê, Chăm, Mường Huyện có một thị trấn (Chưsê) và 14 xã (Al

Bá, Ayun, Bar Măih, Bờ Ngoong, Chư Pơng, Dun, Hbông, Ia Blang, Ia Glai, Ia Hlốp, Ia Ko, Ia Pal, Ia Tiêm, Kông Htok)

Huyện Chưsê nằm trong vùng khí hậu của toàn tỉnh Gia Lai thuộc vùng khí hậu cao nguyên nhiệt đới gió mùa, dồi dào về độ ẩm, có lượng mưa lớn, không có bão và sương muối, khí hậu ôn hòa tạo điều kiện phát triển cây công nghiệp dài ngày như: cao su, cà phê, hồ tiêu Khí hậu nơi đây chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

Vùng Chưsê có địa hình thấp dần và được chia thành ba dạng địa hình chính: địa hình đồi núi thấp; địa hình đất đỏ bazan rộng lớn, có nhiều ở các xã Dun, Ayun

và Ia Blang; và địa hình thung lũng được phân bố dọc theo các sông, suối, khá bằng phẳng, ít bị chia cắt

1.2 Khái quát về người Bana ở huyện Chưsê, tỉnh Gia Lai

Trang 8

Theo các tác giả Bùi Minh Đạo, Trần Hồng Thu, và Bùi Bích Lan viết trong

cuốn sách Dân tộc Bana ở Việt Nam(năm 2006), sau nhiều thế kỉ tự trị, vùng đất của

người Bana cũng như nhiều dân tộc Tây Nguyên khác rơi vào phạm vi ảnh hưởng của Champa trong khoảng thời gian từ giữa thế kỉ XII đến giữa thế kỉ XV, còn từ cuối thế

kỉ XV - sau khi Lê Thánh Tông chinh phạt thắng lợi vương quốc này - đến cuối thế kỉ XVIII, địa bàn sinh sống của họ lại phần nào chịu ảnh hưởng bởi các cuộc xung đột giữa Lào và Thái Lan Cuối thế kỉ XVIII, một bộ phận người Bana thuộc An Khê, Kbang và Kon Chro ngày nay đã tham gia phong trào Tây Sơn chống chúa Nguyễn do anh em Nguyễn Nhạc làm thủ lĩnh Đến nửa đầu thế kỉ XIX, vùng đất của người Bana

và các tộc người Tây Nguyên khác trở thành phiên quốc của nhà Nguyễn, với các tên

“Trấn Nam”, “Thuộc quốc”, “Thùy vương quốc”, “Hóa vương quốc”,…Từ cuối thế

kỉ XIX đến nửa đầu thế kỉ XX, nó nằm dưới sự quản lí của thực dân Pháp Tuy nhiên,

dù trải qua những biến thiên lịch sử nhất định trong mười thế kỉ qua, cơ cấu kinh tế -

xã hội cổ truyền của người Bana cho đến trước Cách mạng tháng Tám là khá bền vững Sau hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ kéo dài 30 năm, tộc người này đã trở thành thành viên của gia đình các dân tộc Việt Nam thống nhất vào năm

1975 [4]

Sau năm 1975, đất nước được hoàn toàn giải phóng,các dân tộc thống nhất, đến năm 1981 khi huyện Chưse được thành lập, đồng bào dân tộc Bana di cư đến sinh sống và lập nghiệp tại đây cho đến ngày nay

1.2.2 Đặc điểm dân cƣ

Dân tộc Bana sinh sống trên địa bàn huyện Chưsê có khoảng 423 người [7] Các buôn làng được trải rộng khắp ở các xã như: xã Dun, xã Ayun, Hbông, Ia Blang, Ia Glai, Ia Hlốp và thí trấn Chưsê

Người Bana có các tên gọi khác như BơNâm, Roh, Kon Kđe, Ala Kông, Kpăng Kông, RơNgao, Y lăng, Tơ Lô, Krem…đây là đồng bào dân tộc sinh sống lâu nhất trên địa bàn huyện, bắt đầu từ khi huyện mới được thành lập, chiếm vị trí quan trọng trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội ở trong huyện nói riêng cũng như trong toàn tỉnh nói chung

Đối với người Bana, làng là đơn vị xã hội hoàn chỉnh Chế độ mẫu hệ vẫn còn tồn tại ở một số buôn làng, tuy nhiên địa vị của nam giới có nâng cao, nhưng phía mẹ vẫn quan trọng và gần gũi hơn Sau hôn nhân vẫn còn tập quán ở nhà vợ,

Trang 9

9

hoặc luân phiên, mỗi bên một thời gian.chỉ sau khi có con đầu lòng mới dựng nhà riêng Con cái được thừa kế gia tài của bố mẹ bình đẳng như nhau

Người Bana thờ nhiều thần linh liên quan tới cuộc sống con người Mỗi thần

có một tên gọi riêng là ông bốc, bà dã Người Bana quan niệm khi một người chết

đi hóa thành ma, ban đầu ở bãi mộ của làng, sau lễ bỏ mả mới về hẳn thế giới bên kia Lễ bỏ mả là lễ cuối cùng tiễn biệt người chết

1.2.3 Đặc điểm kinh tế-xã hội

Các hoạt động mưu sinh chủ yếu của người Bana là trồng trọt, chăn nuôi, làm nghề thủ công, khai thác và trao đổi các nguồn lợi tự nhiên

Về khía cạnh trồng trọt, người Bana - cũng như các dân tộc Tây Nguyên nói chung - là cư dân nương rẫy Đất rẫy của mỗi hộ gia đình bao gồm đất đương canh

và hữu canh: mỗi đám rẫy được canh tác một năm rồi bỏ hóa, sau khoảng mười năm khi độ màu của đất phục hồi và rừng đã kịp mọc thì khai thác trở lạ Chu trình canh tác được bắt đầu bằng việc chọn rẫy, và nơi được chọn thường là những khu rừng thứ sinh có độ dốc vừa phải, gần nguồn nước Rẫy được phát vào khoảng giữa tháng 2 và được đốt một tháng sau đó Tiếp theo là khâu gieo trỉa, chăm sóc và bảo vệ Năng suất lúa rẫy thường không ổn định do phụ thuộc lớn vào thời tiết Ngoài lúa là cây trồng chính, người ta còn xen canh nhiều loại cây trồng khác nhằm cung cấp phần lớn nhu yếu phẩm cho cuộc sống, đồng thời cũng hạn chế tình trạng đất bị rửa trôi Hiện nay,

do sức ép dân số, việc luân khoảnh mở ở người Bana cũng như các dân tộc tại chỗ khác trong vùng - tức canh tác liên tục nhiều năm trên một đám rẫy - đang thay thế luân khoảnh kín Tuy nhiên, ruộng khô và ruộng nước được quan tâm phát triển hơn trước Đáng chú ý, vườn đa canh tự cung tự cấp của hộ gia đình ở nhiều địa phương đã

và đang chuyển dịch sang vườn chuyên canh cây công nghiệp

Chăn nuôi cũng đóng vai trò là một hoạt động sản xuất quan trọng ở người Bana Trước kia, gia súc và gia cầm được nuôi tương đối phổ biến ở các buôn làng theo kiểu thả rông (cho kiếm ăn và sinh sản ngoài rừng) nhưng những thay đổi của môi trường và điều kiện sống gần đây như rừng và nguồn nước không còn, không gian buôn làng bị thu hẹp, việc định canh định cư trở nên phổ biến…đã khiến đàn trâu

và đàn đàn dê bị suy giảm nhiều Mặc dù vậy, trâu vẫn tiếp tục được nuôi ở huyện Chưsê Đáng chú ý, trâu trở thành vật nuôi “mũi nhọn” của người Bana hiện nay với một số giống nhập từ nước ngoài Việc chăn nuôi ở người Bana đang ngày càng mang

Trang 10

tính chất một hoạt động sản xuất hàng hóa Các kĩ thuật chăm sóc mới (nhốt chuồng, tiêm phòng dịch, cho ăn theo chế độ ổn định…) đã thay thế các kĩ thuật cũ

Các nghề thủ công quen thuộc nhất của người Bana là đan lát và dệt vải Đồ đan lát của người Bana thuộc huyện Chưsê rất có tiếng trong địa bàn tỉnh Gia Lai Từ nguyên liệu là mây, tre, nứa…sản phẩm đan lát chủ yếu là các loại gùi dùng trên rẫy Gùi được đan bởi nam giới vào lúc nông nhàn Đan lát giỏi là dấu hiệu của sự khéo léo, vì thế trước đây những người trẻ tuổi thích làm việc này tại ngôi nhà công cộng của làng - nhà Rông Việc dệt vải thì được thực hiện bởi phụ nữ Họ chế biến sợi từ cây bông trồng trên rẫy rồi nhuộm và dệt thành các tấm vải, cái sẽ được dùng làm áo, váy, tấm choàng, chăn đắp… Hiện tại, hai nghề thủ công nói trên đều đã suy thoái Việc đan lát trở nên thưa thớt do thiếu nguồn nguyên liệu và do sự có mặt ồ ạt của những sản phẩm công nghiệp Nghề dệt vải cũng không còn đủ sức sống, ngoại trừ ở một số điểm du lịch như khu du lịch thác Phú Cường thuộc xã Dun

Về tổ chức làng, làng của người Bana cũng như nhiều dân tộc Tây Nguyên khác - được điều hành bởi chủ làng do dân cư và hội đồng già làng mà thường là những người cao tuổi, giàu kinh nghiệm và có uy tín, trong đó trách nhiệm của chủ làng là giải quyết các vấn đề chung liên quan đến đối nội (sản xuất, dời làng,…) và đối ngoại (chủ yếu là thương thuyết trong các tranh chấp) Mỗi làng còn có thủ lĩnh quân sự, làm nhiệm vụ chỉ huy thanh niên trong các xung đột với làng hoặc tộc khác Hiện nay, làng không còn là tổ chức xã hội duy nhất nữa, và dĩ nhiên không phải đơn

vị hành chính mặc dù có thêm đại diện của một số ngành chức năng nhà nước như cộng tác viên dân số, cán bộ khuyến lâm - khuyến nông, cán bộ y tế cộng đồng… Già làng tuy vẫn còn vai trò nhưng vai trò này đã bị thu hẹp hơn khi nhìn chung chỉ tư vấn cho trưởng thôn trong việc triển khai các chủ trương chính sách kinh tế - xã hội và xét

xử các vụ vi phạm phong tục Ngoài ra, do tác động của các quá trình di dân tới, số làng có sự xen cư giữa các dân tộc tại chỗ và dân tộc mới đến đang ngày càng tăng, thậm chí nhiều buồn làng cũ của các dân tộc tại chỗ hiện chỉ còn là một bộ phận của buôn làng mới Về dòng họ và gia đình, mỗi dòng họ của người Bana bao gồm các thành viên là con cháu của một ông bà tổ trong một số đời còn nhớ được (khoảng 5 -

6 đời) nằm trong hai nhóm: nhóm gần với các thành viên từ thế hệ thứ nhất đến thế hệ thứ ba và nhóm xa với các thành viên từ thế hệ thứ tư trở đi, còn gia đình người Bana vốn là những gia đình lớn gồm tới 3 - 4 thế hệ và bảng hệ với khoảng vài ba chục

Trang 11

11

người trong một ngôi nhà dài Sự phân biệt nhóm họ gần với nhóm họ xa chính là cơ

sở để thực hiện nguyên tắc ngoại hôn dòng họ không tuyệt đối của tộc người, tuy nhiên, cùng với việc một số hình thức hôn nhân truyền thông như hôn nhân anh em chồng và chị em vợ (lấy em trai của chồng/ em gái của vợ khi người phối ngẫu qua đời) hầu như không còn, hôn nhân đời thứ tư trở xuống trong một dòng họ hiện cũng dàn bị thay thế bởi hôn nhâu khác họ Và mặc dù thiết chế hôn nhân - gia đình Bana quen thuộc là song hệ, xu hướng vợ chồng ở riêng ngay sau khi cưới thay vì cư trú luân phiên nội - ngoại đang trở nên phổ biến Chức năng kinh tế của hộ gia đình Bana đang biến đổi theo hướng giảm các hoạt động tự cấp tự túc và tăng các hoạt động sản xuất hàng hóa, còn chức năng giáo dục của nó được chia sẻ bởi hệ thống giáo dục các cấp và các tổ chức đoàn thể xã hội

1.2.4 Đặc điểm văn hóa

Người Bana sống gần gũi với thiên nhiên núi rừng do vậy các bản làng của người Bana thường quây quần ở những nơi gần nơi sông, suối Ở mỗi làng Bana thường có một nhà công cộng là nhà rông to, đẹp ở giữa làng Nhà Rông là trụ sở của làng, nơi các già làng họp bàn việc công, nơi dân làng hội họp, nơi trai chưa vợ ngủ đêm, nơi tiến hành các nghi lễ phong tục của cộng đồng và cũng là nơi tiếp khách lạ vào làng

Họ thường ở nhà sàn, cửa ra vào mở về phía mái, trên hai đầu dốc có trang trí sừng Giữa làng có một ngôi nhà công cộng gọi là nhà làng, nhà rông với hai mái vồng và cao vút Đó là nhà khách của làng, nơi diễn ra mọi hoạt động chung của cộng đồng làng như giáo dục thiếu nhi như dạy nghề, huấn luyện chiến đấu, học tập truyền thống văn hóa của cộng đồng…do các già làng đảm nhiệm ; tổ chức lễ hội,

xử án…

Người Bana có quan niệm vạn vật hữu linh, chính vậy họ thờ nhiều thần Toàn bộ đời sống của cộng đồng dân tộc được phản ánh quan tín ngưỡng thờ cúng thần linh Những lời cầu khấn Yang khi gia đình có việc quan trọng như cưới xin, bệnh tật, tang ma, mua bán…hay những việc lớn trong làng như lễ nông nhàn, bắt đầu hay kết thúc hoạt động lao động sản xuất, năm mới đều gắn liền với thần linh Đối với người Bana hệ thống thần linh của họ chưa đủ để xây dựng một điện thần

đồ sộ, tuy vậy, qua những sử thi như Đăm Giông, Đăm Noi, Xing Chi Ôn, Hơmon…; qua những truyền thuyết có thể hình dung các vị thần của người Bana

Trang 12

một cách khá sinh động theo quan niệm của chính cư dân bản địa Hai vị thần tối cao của Bana là Bok Kei Dei (ông bốc) và Yă Kuh Keh (bà dã) họ là những vị thần chủ trì công việc nông nghiệp, là người sáng tạo ra tất cả, coi sóc con người và mùa màng Tiếp đến là thần Yang Măt Nar và Yang Măt Khei (thần mặt trời và thần mặt trăng) cai quản sự sinh sản và giúp con người nhận biết được thời gian để trồng trọt

và tổ chức các nghi lễ Trong tín ngưỡng của người Bana, vị trí của thần lúa luôn chiếm một vị thế đặc biệt, họ quan niệm lúa là cây có “hồn” và phải giữ gìn một cách cẩn thận, không được xúc phạm đến lương thực để có mùa màng bội thu, dồi dào Đáng sợ nhất với người Bana chính là thần sấm sét (Bok Glaih), vị thần chăm lo đến các phong tục truyền thống tốt đẹp của cư dân, duy trì trật tự thời gian của vũ trụ Ngoài ra, hệ thống thần linh của người Bana còn thờ các vị thần như thần nước (Yang Đăk), thần lửa (Yang Unh), thần rừng (Yang Bri)…

Chính vì theo tín ngưỡng đa thần, nên người Bana cũng có rất nhiều lễ hội gắn liền với các vị thần nhằm tạ ơn và cầu mong sự ban phước lành cho đồng bào mình Tiêu biểu có các lễ hội như lễ hội đâm trâu (X’trăng), đây là một trong những

lễ hội quan trọng hàng đầu của người Bana, nhằm tế thần linh hoặc những người công chủ trì thành lập buôn làng, ăn mừng chiến thắng, ăn mừng mùa màng bội thu Tiếp đến là lễ bỏ mả (pơ-thi) thường kéo dài khoảng 5 ngày, theo quan niệm của người Bana người chết tuy mất đi về thể xác nhưng phần hồn vẫn tồn tại, ở trong nhà mồ, ở trong nhà mồ, hồn sinh hoạt bình thường như người sống trên trần gian Ngoài ra, còn các lễ hội khác như mừng lúa mới, lễ cầu an, cúng nhà rông mới, cúng đất làng, lễ hội con dúi…mỗi lễ hội đều có những nét đặc trưng với hệ thống nghi lễ độc đáo gắn với từng thời kì và lí do cụ thể Trong lễ hội dân làng sống hết mình với những lời ca, điệu múa, nghe tiếng cồng tiếng chiêng rộn rã, thưởng thức những món ăn, tham gia những trò chơi lý thú Lễ hội tạo cho mỗi người dân Bana

sự phấn khởi tràn đầy, niềm tin vào cuộc sống yên bình hạnh phúc

Ngoài tín ngưỡng đa thần và hệ thống lễ hội đa dạng, phong phú về hình thức cũng như nội dung thì người Bana còn có một kho tàng dân ca phong phú, phổ biến

là điệu Hmon và Roi Các nhạc cụ tiêu biểu phục vụ trong các lễ hội và hỗ trợ cho các làng điệu dân ca như gõ, thổi, búng, gảy, kéo, gỗ…bao gồm bộ dây (nhạc cụ tiêu biểu nhất của bộ dây có Ting Ning, K’ni…), bộ hơi (nhạc cụ tiêu biểu nhất của

Trang 13

CHƯƠNG 2 LỄ HỘI ĂN TRÂU CỦA DÂN TỘC BANA Ở HUYỆN

CHƯSÊ TỈNH GIA LAI

Trang 14

2.1 Tổng quan về lễ hội ăn trâu

2.1.1 Lịch sử hình thành

2.1.1.1 Nguồn gốc

Hình ảnh con trâu từ lâu đã trở nên vô cùng quen thuộc và gắn bó với cuộc sống của cư dân nông nghiệp, đặc biệt là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước Theo nghiên cứu GS Trần Quốc Vượng, trâu là loài sinh vật thích nghi với hệ sinh thái đầm lầy - ấm - ẩm, vốn sinh sống thành bầy, có thủ lĩnh đầu đàn Sở dĩ trâu thích cư trú với môi trường này là vì quanh đầm lầy là rừng tốt tươi có nhiều cỏ dại, lúa dại để trâu ăn [8]

Trâu rừng, tiếng La tinh gọi là Bubalus bubalis, tổ tiên của các loại trâu nhà, vốn sinh sống ở vùng đầm lầy Đông Nam Á nhiệt đới gió mùa ẩm Cách đây không lâu, trâu rừng còn tồn tại khá phổ biến ở miền trung Việt Nam Trâu rừng nhìn chung giống trâu nhà nhưng có vóc sừng rộng và dài hơn, chúng di động nhanh và nhẹ nhàng hơn trâu nhà, trong đàn trâu rừng cũng có những con “bạch biến”, gọi là trâu trắng, như hiện tượng thường thấy ở trâu nhà

Trong đời sống của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, hình ảnh con trâu và cây lúa luôn gắn bó với nhau, là biểu tượng cho đời sống nông nghiệp lúa nước Việt Nam Các nhà khảo cổ học Việt Nam đã tìm thấy hóa thạch loài trâu trong các hang động Thẩm Xuyên, Phai Vệ, Kéo Lèng (Lạng Sơn), Hang Hùm (Hòa Bình), Thẩm Ỏm (Hà Tĩnh )…cách ngày nay trên dưới vài chục vạn năm Điều đó cho thấy người tối cổ Lạng Sơn, người Hang Hùm đã từng săn bắt trâu rừng Và cuối thời đá mới, cách ngày nay 5 - 6.000 năm, con trâu đã được thuần phục và thuần dưỡng Xương trâu bò nhà đã được tìm thấy phổ biến trong các di chỉ đá mới và đồng thau ở Trảng Kênh ( Hải Phòng ),Tiên Nội, Đình Chảng (Hà Nội), Đồng Đậu (Phú Thọ) và nhiều nơi khác Và gần đây hơn, hình ảnh tượng trâu bằng đất nung, vật trang sức hình đầu trâu bằng đá quý, mài nhẵn bóng… đã được tìm thấy trong các di chỉ ở Tiên Hội, Đồng Đậu, Đình Chảng - Hà Nội … có niên đại khoảng hơn ba ngìn năm trước [8 Tr.332] Điều này đã cho thấy đối với cộng đồng các dân tộc Việt Nam, con trâu là hình ảnh thân quý rất gần gũi với cộng đồng Ở đồng bào các dân tộc thiểu số, ngoài hình ảnh đầu cơ nghiệp như người Kinh, con trâu còn được xem như khối tài sản lớn, có giá trị trao đổi ngang với các tài sản quý giá khác trong gia đình như chiêng ché Hoặc để đền tội vì vi phạm vào điều cấm kỵ nào đó của buôn làng thì con trâu được xem là vật

Trang 15

15

đền có giá trị nhất Và trong ý thức tâm linh của đồng bào, trâu là vật tế linh thiêng, trang trọng nhất để dâng cúng cho các vị thần Những lễ hội quan trọng nhất của buôn làng như mừng mẹ lúa, khánh thành nhà Rông, hay lễ Pơthi… đều luôn phải có vật tế

là trâu Trâu xuất hiện xuyên suốt, gắn bó chặt chẽ với đời sống vật chất và tâm linh của đồng bào

Theo già làng Đinh Thoang ở làng Xơ, xã Dun, huyện Chưsê cho biết, tục đâm trâu/ nghi lễ đâm trâu đã xuất hiện ở tộc người Bana từ rất lâu đời Nghi lễ này thể hiện mối quan hệ gắn bó với thần linh, cầu mong thần linh che chở cho buôn làng

Như vậy với các dân tộc vùng Trường Sơn- Tây nguyên nói chung, người Bana nói riêng, và con trâu không chỉ là vật nuôi dùng để cày kéo mà còn là con vật gắn liền với tín ngưỡng đa thần của cư dân bản địa Có vai trò quan trọng trong đời sống tộc người, là vật hiến sinh có giá trị, có ý nghĩa trong quan niệm tâm linh của đồng bào

Ngoài ra, cũng theo già làng Đinh H’Ruk ở làng Stơr, xã Tơ Nung cho biết không ai có thể biết được nghi thức dùng trâu làm vật hiến sinh để dâng tặng cho các

vị thần linh chính thức ra đời từ bao giờ, nhưng có thể khẳng định rằng trong các cuộc vui cộng đồng lớn, trong các lễ cúng quan trọng không bao giờ thiếu được hình ảnh con trâu, hình ảnh và các bước tiến hành của nghi thức đâm trâu (Tư liệu điền dã tháng 4/2017)

Người Bana ở huyện Chưsê, tỉnh Gia Lai gọi nghi lễ này là lễ “ăn trâu”, chứ

không phải đâm trâu như người Kinh thường gọi và nó có mặt trong hầu hết hệ thống

lễ hội nông nghiệp theo chu kì sản xuất của đồng bào Trong các lễ hội này, con trâu được chọn làm vật hiến sinh cho thần linh, vừa có giá trị vật chất và giá trị tinh thần cao

L.Phinô, một học giả nổi tiếng của Pháp, trong công trình nghiên cứu về người Khơ me cổ đại, cho rằng việc dùng trâu làm lễ hiến sinh chính là sự thay thế cho hiến sinh người, là một bước tiến bộ của nền văn minh cổ ở Đông Nam Á [4]

Như vậy có thể thấy lễ ăn trâu của đồng bào các dân tộc ở Trường Sơn – Tây Nguyên nói chung, người Bana ở Chưsê tỉnh Gia Lai nói riêng đã có từ rất lâu đời, gắn liền với quá trình thuần dưỡng con trâu ở khu vực Đông Nam Á và cũng gắn liền với đời sống tâm linh, tín ngưỡng đa thần và sinh hoạt sản xuất của đồng bào các tộc

người

Trang 16

2.1.1.2 Tên gọi, thời gian tổ chức

Thời gian gần đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng xuất hiện rất nhiều thuật ngữ “ Lễ hội đâm trâu của người Tây Nguyên” và từ đó đã làm này sinh rất nhiều ý kiến tranh luận về tên gọi chính xác của các nghi lễ nầy Theo PGS.Nguyễn Văn Huy - thành viên Hội đồng di sản văn hóa nhà nước: “không có cái gọi là “ Lễ hội đâm trâu” trong một lễ cúng quan trọng nào đó, liên quan đến một sự kiện lớn của cộng đồng hay của gia đình Nếu không có ăn trâu, lễ đó chưa được coi là lễ trọng, cho dù có thịt vài con bò đi nữa” [5] GS.Ngô Đức Thịnh cũng đồng tình với quan điểm này khi ông nói “Trước tiên phải gọi chính xác là lễ “ăn trâu”, như cách gọi của

các dân tộc người Tây Nguyên, chứ không phải đâm trâu như người Kinh thường gọi

“Ăn trâu” là một nghi lễ trong nghi lễ nhiều lễ hội của các tộc người ở Tây Nguyên”.[4]

Như vậy, chúng ta thấy không nên dùng từ “lễ hội” mà ở đây chỉ nên dùng từ

“lễ” bởi đây không phải là một lễ hội thuần túy như những lễ hội khác trên khắp dải đất Việt Nam Bởi lẽ về mặt lý thuyết, một lễ hội thuần túy thường diễn ra tại một không gian và thời gian xác định, gắn liền với một sự kiện, một di tích cụ thể hay một nhân vật lịch sử nào đó Và đối với “đâm trâu” hay “ăn trâu”, cho dù bao giờ cũng bao gồm hai phần chính là những nghi lễ và những hoạt động vui chơi giải trí, hay nói cách khác tương ứng với hai phần lễ và phần hội trong các lễ hội thông thường, song vẫn không thể coi đây là một loại lễ hội được bởi những hoạt động này thường diễn ra trong qui mô của một lễ hội khác lớn hơn, thời gian cũng trải dài không xác định Thứ hai, chúng tôi cũng nhận thấy rằng, nên gọi là “lễ ăn trâu” thay cho tên gọi đã trở nên quen thuộc với hầu hết người Việt là “ lễ đâm trâu” bởi vì ngay chính đồng bào các tộc người Tây Nguyên cũng gọi tên lễ thức này đơn giản như vậy Với tên gọi “ăn trâu”, trong lễ này, con trâu được chọn làm vật hiến sinh để cúng tế thần linh “Ăn trâu”, có nghĩa là được hưởng các thức sau khi cúng thần linh bằng thịt và máu trâu nhằm tạ ơn thần linh đã ban ơn, phù hộ…

Cá nhân người viết cho rằng cả “đâm trâu” và “ăn trâu” đều cùng là hai nghi thức quan trọng trong các lễ hội lớn của người Tây Nguyên Dù gọi là lễ ăn trâu hay đâm trâu thì cũng chưa hẳn là một cách gọi đầy đủ, nên trong đề tài này, người viết sẽ

sử dụng cụm từ lễ ăn trâu để nói về nghi lễ quan trọng này của đồng bào Tây Nguyên Gọi tên lễ ăn trâu trước là tôn trọng theo cách gọi của chính người Tây Nguyên, và

Trang 17

17

đưa thêm thuật ngữ “đâm trâu” nhằm giải thích rõ hơn để người Việt có thể hiểu về nội dung được nghiên cứu của đề tài Tuy nhiên, để tránh lặp lại, đôi chỗ người viết sẽ chỉ sử dụng cụm từ “lễ ăn trâu”

Về mục đích tổ chức, lễ ăn trâu là một sinh hoạt văn hóa dân gian nổi bật, mang

tính tổng hợp cao, có ý tưởng mong muốn cuộc sống ấm no, hạnh phúc, trở thành một nghi lễ độc đáo trong các ngày hội của các buôn làng người Bana như lễ hội mừng lúa mới, mừng nhà rông, mừng được mùa, mừng chiến thằng…

Lễ ăn trâu với người Bana được xem là nghi lễ quan trọng nhất, lớn nhất trong đời sống tín ngưỡng của họ Khi cuộc sống luôn phải phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, khi điều kiện kinh tế bấp bênh, chỗ dựa tinh thần, cứu cánh tâm linh không gì khác ngoài những lễ thức và niềm tin vào thần linh cầu mong sự bình yên trong cuộc sống Đây là những ngày hội thực sự mang những nét văn hóa truyền thống, thể hiện rõ yếu

tố cộng đồng, tình yêu thiên nhiên, thần linh được gắn với nhau chặt chẽ, là sự kế tục truyền thống văn hóa xa xưa của người Bana

Trong không gian của đại ngàn Tây Nguyên, lễ ăn trâu dường như là nét văn hóa đặc trưng của vùng đất này Lễ ấy có mặt trong hầu hết sắc thái văn hóa của các tộc người Tây Nguyên, từ cộng đồng Stiêng, Bana, Cờ Tu, Êđê, Xơ đăng, Giẻ triêng, K’ho, Gia Rai đến người Brâu đâu cũng có lễ ăn trâu Tuy nghi thức lễ hội mỗi nơi có thể khác nhưng mục đích thì cơ bản của sự hiến sinh, dâng cúng này thì giống nhau

Lễ ăn trâu luôn có mặt trong những lễ thức chung của cộng đồng, hoặc lễ lớn của những gia đình giàu có; như lễ ăn cơm mới, cúng bến nước, bỏ mả, ăn mừng thắng lợi, mừng năm mới, đám cưới, tang lễ, giải hạn… người Bana cũng quan niệm rằng tính chất quan trọng của các lễ kể tên trên phụ thuộc rất nhiều vào việc có hay không có sự hiện hữu của nghi thức “ăn trâu” Và đồng thời, tùy theo mức độ non già của con trâu (căn cứ vào độ dài và cong của sừng)1 để đánh giá quy mô của buổi lễ

Về thời gian tổ chức: cứ sau mỗi mùa rẫy - tháng 12 đến tháng 3 âm lịch, đồng

bào Bana lại tổ chức lễ Sa-rơ-pu hay gọi là lễ ăn trâu Đây là thời điểm nông nhàn của

bà con khi công việc nương rẫy đã hoàn thành, lúa ngô đã đầy nhà, họ không phải lên rẫy nữa Đây cũng là thời điểm trùng với mùa lễ hội chung ở Tây Nguyên vì đồng bào nơi đây không ăn tết cổ truyền cố định trong một ngày giống như người miền xuôi mà

1 Đồng bào gọi “trâu một em hoặc hai em”, tức đã sinh đẻ một, hai lần, mà đánh giá lễ lớn hay nhỏ: Trâu càng già, sừng càng dài, lễ càng được coi lớn

Trang 18

họ thu hoạch xong lúa nào là tiến hành tổ chức lễ hội lúc đó Hay nói cách khác, ở Tây Nguyên nói chung, người Bana nói riêng, các lễ hội đều dồn hết vào mùa thu hoạch cuối năm và mùa phát nương làm rẫy đầu năm

2.1.2 Nội dung của lễ ăn trâu

2.1.2.1 Công việc chuẩn bị

Lễ ăn trâu là một dịp quan trọng để con người thể hiện tấm lòng của mình với Yang (thần linh ) nên công việc chuẩn bị cũng hết sức chu đáo, cẩn trọng Trong thời gian này, tiếng cồng chiêng sẽ liên tục nổi lên để khuấy động không khí, để mời gọi, đón tiếp thần linh cũng như những người tham dự và hỗ trợ thúc giục việc chuẩn bị lễ hội được chu đáo

Việc chuẩn bị cho lễ ăn trâu bao giờ cũng phải mất từ năm đến bảy ngày, thậm chí có khi cả tháng Trước khi làm lễ ăn trâu bao giờ hội đồng già làng, thường ba đến bốn người, cũng tổ chức họp để phân công công việc cho từng nóc, từng thành viên trong cộng đồng Việc quan trọng hơn cả là tìm cây để dựng cây nêu, thường được gọi

là cây nêu thần Theo quan niệm của người Bana, cây nêu càng cao, càng đẹp thì thần linh càng hài lòng và mùa màng năm đó sẽ bội thu, cuộc sống sẽ ấm no Vì vậy, những ai được giao nhiệm vụ đi tìm cây dựng cậy nêu, trang trí cho cây nêu đều dồn tất cả tâm huyết của mình vào trong đó bởi sự cẩn thận của cá nhân bao giờ cũng gắn với sự bình yên của cộng đồng, gắn với những thực hành truyền thống đã được xác lập từ lâu đời

Người Bana gọi Gưng Sakapo,chính là cây cột lễ - là trung tâm của lễ đâm trâu Cây nêu vừa là chỗ để cột trâu, vừa là bàn tế, vừa là nơi để Yang về trú ngụ, chứng giám lòng thành của con người với thần linh, vừa là “cây hoa” trang trí, làm cầu nối giữa thế giới thần linh với con người (cũng có tộc người làm cây nêu riêng biệt với cây cột trâu) Do đó, cây nêu phải đủ vững chãi để chủ trâu khỏe đến thế, trong cơn hoảng loạn lồng lộn khi chứng kiến hàng trăm người vừa đánh chiêng vừa múa (xoang) đi vòng tròn cả buổi mà vẫn không suy chuyển, lại vừa mềm mại trữ tình trong cái thế vút cao rồi rủ xuống phơ phất trong nắng trong gió dưới trời xanh rười rượi Cái cứng cáp vững chãi song hành cùng cái mỏng manh mềm mại khiến cây nếu trở nên một tác phẩm nghệ thuật rất đẹp, rất độc đáo [9 Tr.34]

Sau khi tìm được cây về để làm cây nêu, những người được giao nhiệm vụ tiến hành họa khắc lên cây và các ngọn lồ ô những họa tiết đặc trưng Cây nêu được trang

Trang 19

19

trí tùy theo cách nghĩ, cách cảm, theo đời sống văn hóa tâm linh của đồng bào dân tộc Bana, đó là những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, kết tinh trong lẽ sống cũng như tài hoa nghệ thuật và tâm hồn của người dân tộc Bana

Theo già làng Đinh Thoang cho biết, thường thì công việc tìm cây nêu cũng như trang trí cho nó phải mất hai ngày Khi cây nêu được làm xong mọi người sẽ tiến hành dựng cây nêu Địa điểm dựng cột buộc trâu, nếu làm riêng của gia đình thì ngay giữa sân nhà Nếu là lễ của buôn, bon, kon, plei thì cây nêu sẽ dựng trước sân nhà Rông hoặc nhà sinh hoạt chung của cộng đồng làng, thường là một bãi đất trống, rộng Đối với các gia đình làm lễ cầu bình an, ăn mừng lứa mới, bỏ mả…, địa điểm trồng cột nêu sẽ do thầy cúng chọn và quyết định Trước hôm làm lễ một ngày, phải hoàn thành việc dựng cây nêu (Tư liệu điền dã tháng 4/2017)

Công việc cần chuẩn bị quan trọng tiếp theo là việc chọn trâu để hiến sinh Trâu được chọn bao giờ cũng phải là con trâu đực to khỏe, hông nở, trâu càng già, càng to béo thì càng chứng tỏ buôn làng đó giàu mạnh Gia đình nào có trâu được chọn đều lấy làm tự hào vì điều đó thể hiện sự chăm sóc chu đáo, cẩn thận của gia chủ đối với con vật nuôi Và trong nghi thức cúng tế, con trâu bao giờ cũng được già làng đặc tả những đặc điểm trên thân cùng tên người chủ của nó [9 Tr.35]

Ngoài trâu để đâm làm lễ cúng Yang ra thì người ta cũng chuẩn bị gà và lợn để cúng thần linh trước khi vào bắt đàu buổi lễ Người trong buôn lo đổ đầy các ché rượu cần, giã gạo để nấu cháo, củi để đốt trong suốt những ngày diễn ra nghi lễ sao cho nghi lễ phải thật long trọng, vui tươi và không bị kết thúc nhanh vì hết rượu sớm Khách của buôn (hay của gia chủ) cũng được mời dự Dàn cồng chiêng cũng được chuẩn bị để sẵn sàng cho buổi lễ thêm linh thiêng hơn Các cô gái, chàng trai, người dân trong buôn lựa chọn những bộ trang phục đẹp nhất để mặc, lựa ngọn giáo sắc nhọn để đâm trâu cho chuẩn xác nhất, mang lại niềm vui cho buôn làng Không khí rộn ràng, nô nức bao trùm lên tất cả buôn làng

2.1.2.2 Các nghi thức chính

Mặc dù nghi thức của đồng bào dân tộc Bana cư trú tại huyện Chưsê có sự khác biệt ít nhiều so với các dân tộc khác, song có thể nói hầu như lễ ăn trâu nào cũng bao gồm những nghi thức chính sau đây:

Nghi thức cúng dựng cột nêu

Trang 20

Người Bana quan niệm cây nêu là nơi các Yang về trú ngụ và tham dự lễ hội cùng dân làng, vì thế, người ta coi cây nêu là “linh vật” nối kết giữa con người và thế giới thần linh Trước khi dựng cột nêu, dân làng chuẩn bị một phần lễ vật, gồm heo,

gà hoặc ngỗng, gạo, ngoài ra không thể thiếu các ghè rượu Nghi thức này dùng để cúng Yang (thần linh), mời thần linh về chứng giám Chủ trì ngày hội đâm trâu thường là một già làng, còn gọi là “Riu Yang” (thầy cúng) Sau khi mọi thứ đã chuẩn

bị sẵn sàng vị già làng sẽ thay mặt mọi người đọc lời khấn với nội dung cầu xin thần trời - thần nước - thần sông suối hãy đến đây chứng kiến ngày hội đâm trâu của dân làng, cầu mong thần linh phù hộ cho dân làng có được nhiều trâu, bò, heo, gà, mọi người có cuộc sống ấm no, không đau ốm, bệnh tật, lúa gạo đầy kho… Sau đó, người

ta tiến hành dựng cây nêu tại địa điểm đã được lựa chọn sẵn Trong lúc những người được giao nhiệm vụ đào lỗ để dựng cột nêu, dân làng đứng thành một vòng tròn chắp tay cầu khấn theo nhịp lục lạc leng keng trên tay thầy cúng Riu Yang đứng nghiêm trang bên cột đang buộc con trâu, sau lưng ông là năm thanh nữ tú, ban nhạc cồng chiêng Khi dựng nêu, nam nữ trong làng phải đánh cồng, đánh chiêng, múa hát xung quanh cây nêu

Nghi thức cột trâu

Sau khi cây nêu được dựng xong, tiếng chiêng, cồng bắt lại nổi lên hòa với tiếng hú của dân làng Cảnh buôn làng trở nên rộn ràng, sinh động Sau đó, con trâu cúng bắt đầu được dẫn ra và cột chặt vào cây nêu với một sợi dây thật chắc được làm bằng vỏ cây rừng Sợi dây buộc trâu thường được đan rất công phu và rất đẹp Trước

đó, con trâu đã được tắm rửa sạch sẽ và thường bị bỏ đói để làm vật hiến tế thanh sạch dâng lên thần linh Khi đã hoàn tất những nghi lễ của việc dựng cây nêu và cột trâu, mọi người tập trung lên nhà rông hoặc nhà sinh hoạt cộng đồng cả buôn làng Suốt đêm hôm đó, họ ăn thịt lợn, uống rượu, múa và đánh chiêng, cồng không biết mỏi

chân, mỏi tay

Trang 21

21

Nghi thức khóc trâu

Trình tự của một lễ “ăn trâu” có lớp lang cẩn thận Để “ăn trâu” ngày hôm sau, thì đêm hôm trước hoặc sáng sớm đã diễn ra nghi lễ “khóc trâu” Gọi là “khóc trâu”, nhưng thực ra là vừa hát vừa kể lể, vừa để vỗ về, an ủi, tiễn biệt con vật yêu quí vừa bày tỏ chân thành sự tiếc thương, sự biết ơn đối với con trâu đã vì sự tồn tại sống còn của cả cộng đồng mà chịu làm vật hiến sinh Người chịu trách nhiệm khóc trâu thường là một người phụ nữ được cả cộng đồng nể trọng, hoặc là người chủ gia đình nếu như lễ đâm trâu được cử hành ở qui mô gia đình; cũng có nơi người được lựa chọn khóc trâu và làm lễ tiễn biệt con trâu là các cô gái Người khóc trâu phải vừa hát, vừa nói, vừa vuốt ve con trâu, cho trâu ăn ngọn cỏ cuối cùng, có nơi lại rắc gạo quanh mình trâu hoặc cho trâu uống rượu với ý nghĩa cho trâu ăn và tẩy uế cho trâu trước khi dâng cúng thần linh Nội dung của bài khóc trâu đại ý như sau:

“Lâu nay trâu làm bạn với người trong nhà, trong buôn như anh em Nay vì sự

no đủ của buôn làng (hay gia đình), xin dâng trâu lên các thần linh làm đồ tế lễ Trâu vui lòng nhé, ơ trâu, ơ trâu…”.[5] Hay “Thôi ta từ giã trâu từ đây, trâu hãy ăn nắm cỏ lần cuối, trâu hãy uống rượu cần lần cuối, đừng trách ta nữa nghe trâu, đừng giận ta nữa nghe trâu, mai trâu về xứ Phan (xứ õm) giữ lúa, cho buôn làng ta êm ấm nghe trâu, cho buôn làng ta được mùa trâu ơi!”.[4]

Có thể nói rằng lời người khóc trâu nói mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện tình cảm rất sâu đậm giữa con người với vật hiến sinh Theo chúng tôi, khóc trâu

là biện pháp nhân cách hóa con trâu, nhằm thể hiện tình cảm yêu thương con người với nhau, thương trâu cả đời lam lũ phục vụ con người nay cũng hiến xác thịt cho thần, cho người Lời than ai oán, lý lẽ chân tình, mộc mạc, những bài hát khóc trâu luôn đủ sức làm lây động cả những tâm hồn cứng rắn nhất Vì người Bana theo chế độ mẫu hệ nên vai trò của người phụ nữ hết sức quan trọng trong đời sinh hoạt hằng ngày cũng như đời sống văn hóa Trong đời sống hằng ngày của người Bana ở huyện Chưsê, con trâu và người đàn ông gắn bó cùng nhau trong công việc đồng án, vận chuyển hàng hóa, tuy nhiên, người phụ nữ lại đóng vai trò hết sức quan trọng là việc chăm sóc cho con trâu của gia đình mình Từ khi biết chăn nuôi con vật theo cách nhốt chuồng chứ không thả rông như trước kia thì người phụ nữ đảm đương việc cho trâu ăn, dọn chuồng, thậm chí là tắm cho trâu, hoặc trâu có bệnh thì cũng tự tay chăm sóc Chính

Trang 22

vì vậy, việc lựa chọn người phụ nữ để thực hiện nghi lễ khóc trâu nhằm mong muốn được sự thông cảm nhiều hơn từ con trâu được chọn làm vật tế

Sau khi bài hát khóc trâu kết thúc, tiếng chiêng trống lại nổi lên rộn rã, trai đánh chiêng, gái móc tay nhau thành vòng xoay ngược theo chiều kim đồng hồ quanh cột nêu buộc trâu Sở dĩ đi ngược chiều kim đồng hồ vì người Tây Nguyên quan niệm rằng đó chính là hướng đi của thần linh và cũng là hướng của sự phát triển, sinh sôi [9 Tr.38]

Những người đến tham dự đứng thành vòng ngoài quanh đoàn chiêng, đoàn múa Âm thanh rộn ràng của trống chiêng, bước chân, bàn tay dịu dàng của các cô gái càng làm buổi lễ thêm sôi nổi và náo nhiệt

Nghi thức đâm trâu

Đâm trâu là nghi thức không thể thiếu, nó chỉ thể hiện sự sung túc no đủ, mừng mùa màng thắng lợi mà còn thể hiện nghi thức linh thiêng trong nghi thức cúng Trời, cúng Đất cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, thóc lúa đầy bồ, con người khỏe mạnh

Theo già làng Đinh Thoang, già làng Srưm và già làng Phăng cho biết sáng hôm sau là lễ đâm trâu, người ta cột trâu vào cây nêu và thầy cúng làm lễ trình báo với các Yang rằng vật hiến tế đã được chuẩn bị, rượu đã đầy ché, nhạc chiêng đã nổi lên xin các Yang về đây để nhận vật hiến tế và phù hộ cho dân làng có được cuộc sống bình an no đủ “Ơ Yang, Yang Trời, Yang núi, Yang sông, ơi ông bà tổ tiên, ơi các chiến binh, hôm nay buôn làng tổ chức lễ đâm trâu mừng chiến thắng để cảm ơn các Yang đã cho chúng ta có được cuộc sống bình an, hãy phù hộ cho các trai làng được mạnh cái tay, khỏe cái chân, đừng làm ai đau ốm, đừng có sự trả thù, ai cũng có cái ăn cái mặc…Ơ Yang!” (Tư liệu điền dã tháng 4/2017)

Thầy cúng ra hiệu, đội múa tản dần, nhập vào với dòng người phía ngoài Một

số chàng thanh niên khỏe mạnh, giỏi giang săn bắn trong buôn đã được lựa chọn trước cầm theo lao, đao, hoặc kiếm,…tiến vào Nhóm này dẫn đầu đội chiêng trống, vừa vũ khí, vừa đi vòng tròn quanh cột để lừa dịp đâm trâu

Nếu người được cắt cử đâm trâu chính khéo léo, giỏi giang, đâm trâu một nhát dao hoặc kiếm vào trúng tận tim trâu, con vật quỳ xuống chết liền, đó được coi là một trong những điềm báo may mắn cho cả cộng đồng Buôn làng sẽ được mạnh khỏe, làm ăn thuận lợi, dân làng hò la cổ vũ rất nhiệt liệt

Trang 23

23

Trường hợp đâm trâu chưa trúng, nhóm người kế tiếp sẽ vung dao chặt vào khuỷu chân trái sau của con vật, tiếp đó là khủy sau của chân trái, để con vật không chạy được nữa, mà chỉ lết quanh cột nêu mà thôi Nhóm đao kiếm vẫn tiếp tục nhảy múa vòng tròn, đâm chém cho đến khi con vật ngừng thở

Khi con trâu tắt thở, thầy cúng sẽ mang dụng cụ đến hứng lấy huyết trâu, hòa với rượu cần để thành một thứ như “nước phép” đặt lên bàn thờ cùng một số bộ phận quan trọng khác của con trâu như đầu, đuôi, tai, mũi, chân,… để thần linh ban phép Máu trâu còn được bôi lên cây nêu như một chứng tích để minh chứng làng đã làm lễ đâm trâu để cúng Yang, bôi lên nhà Rông, bôi vào đao kiếm, bôi vào dàn cồng chiêng, xoa vào bồ thóc lúa và thậm chí bôi lên ngực của những người đàn ông trai tráng trong làng để cầu mong thần linh sẽ ban cho họ sức mạnh, sự giỏi giang, khéo léo để săn bắn và bảo vệ buôn làng

Có thể nói đỉnh cao và linh hồn của lễ hội đâm trâu là lúc mũi lao cắm vào tim con trâu, cùng lúc tiếng cồng chiêng, tiếng hát, những vũ điệu theo cột đâm trâu vút lên không trung tạo niềm tin vào một mùa vụ bội thu, hăng say lao động sản xuất trước cuộc sống luôn thường trực những bất trắc, thiên tai, địch họa Để sinh tồn phát triển và vượt qua những thử thách ấy, con người cần giao lưu gắn kết với cộng đồng, cùng hướng tới sức mạnh siêu nhiên qua hình ảnh các thần linh trong nghi lễ

Già làng Đinh Thoang và già làng Srưm còn cho biết theo phong tục khi hành

lễ thì những người trong ban tế lễ phải luôn hướng mặt về phía nghĩa trang của làng,

vì bà con quan niệm rằng lễ đâm trâu mừng chiến thắng là một ngày hội lớn của toàn dân làng để bày tỏ lòng tri ân đối với tổ tiên ông bà và những chiến binh của buôn làng

vì công lao to lớn của các thế hệ cha ông đã dựng xây và bảo vệ cho buôn làng có cuộc sống bình an sung túc

Nghi thức ăn trâu

Sau khi hoàn tất các nghi lễ, đầu trâu được đưa lên gác cao trên cây nêu để làm

lễ tế thần Người Bana ở đây quan niệm rằng lúc này vật hiến tế đã được các Yang chấp nhận, những ước muốn thỉnh cầu của buôn làng sẽ được đáp ứng Phần thân trâu được bà con trong buôn nhanh chóng mang đi chế biến các món ăn để tiếp đãi khách quý cùng tất cả mọi người về tham dự lễ

Trong lúc những con trâu hiến tế được đem làm thịt, lễ cúng bên nhà sinh hoạt cộng đồng sẽ được tiến hành, đây là lễ quan trọng chỉ đại diện các gia đình trong làng

Trang 24

được dự Cúng xong, già làng ăn được rồi đến đại diện các gia đình Thịt trâu sau đó

sẽ chia đều cho mọi người đến cùng tham gia lễ hội, mỗi người một rẻo nhỏ Mặc dù rất nhỏ nhưng đó là sự sẻ chia vui buồn, là sợi dây kết nối tình nghĩa cộng đồng, tồn tại mãi hàng bao đời nay trong các lễ hội người Bana

Công việc cuối cùng của già làng và những người trong ban tế lễ là làm lễ cúng tại ngã ba ở đầu làng, đây là nơi bà con thường xuyên đi qua mỗi khi lên rẫy, xuống nương hay ra bến nước, ra nghĩa trang,…và bà con cho rằng đây là nơi các Yang thường lui tới mỗi khi ra vào bản làng nên phải cúng lễ rất thành tâm

Đây là nghi lễ cuối cùng của lễ hội Sau lễ này là đến phần hội, mọi người vui

vẻ no say bên ché rượu cần, đánh cồng chiêng, múa xoang cho đến hết đêm

Như vậy có thể thấy để thực hiện một lễ ăn trâu phổ biến ở đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, thông thường đồng bào sử dụng các lễ/hành động sau:

Các nghi lễ của việc thực hiện ăn trâu

Trước

đó, con trâu đã được tắm rửa sạch sẽ và thường bị bỏ đói để làm vật hiến tế thanh

Gọi là “khóc trâu”, nhưng thực ra là vừa hát vừa kể lể, vừa để vỗ về,

an ủi, tiễn biệt con vật yêu quí vừa bày tỏ chân thành sự tiếc thương, sự biết

ơn đối với con trâu đã vì sự tồn tại sống còn của cả cộng đồng mà chịu làm vật hiến sinh

- Người

Những người được giao nhiệm vụ tiến hành nghi thức đâm trâu sẽ cầm theo lao, đao, hoặc kiếm, xàgạc

tiến vào Họ se dẫn đầu đội chiêng trống, vừa múa vũ khí, vừa đi vòng tròn quanh cột để lừa dịp đâm

Sau khi chọn những bộ phận quan trọng nhất của con trâu để cúng thần linh, người ta bắt đầu tiến hành

xẻ thịt trâu

Thịt trâu sau đó sẽ chia đều cho mọi người đến cùng tham gia

lễ hội, mỗi người một xâu nhỏ

Mặc dù

Trang 25

25

sạch dâng lên thần linh

chịu trách nhiệm hát khóc trâu thường là một người phụ

nữ được cả cộng đồngnể trọng, hoặc là người chủ gia đình

rất nhỏ nhưng

đó là sự sẻ chia vui buồn, là sợi dây kết nối tìnhnghĩa cộng đồng,

2.1.2.3 Các hoạt động vui chơi giải trí

Không khí của buổi lễ vẫn không hề lắng xuống sau lễ đâm trâu, lúc này chính

là khoảng thời gian cả bản làng quây quần bên ché rượu cần, bên những mâm thịt, cùng nhau nhảy múa ăn uống quanh đống lửa , tận hưởng những thành quả của ngày

lễ, sự ban thưởng của thần linh Vì thế, lễ hội toát lên một cách đầy đủ nhất những sắc thái đặc trưng văn hóa tộc người, thể hiện tính cộng đồng trong sự cộng hưởng: cầu mùa, cầu an, cầu phúc Trong suốt ngày và đêm này, mọi người sẽ nhảy múa theo tiếng chiêng Ngoài ra còn có các hoạt động thi thố tài năng bằng đấu vật, đánh roi…

để tranh giành bùa do già làng tặng

Già làng Đinh Thoang là một trong những vị già làng được chứng kiến nhiều lễ hội đâm trâu của dân tộc mình nhất trong buôn làng, kể từ khi ông còn nhỏ đến nay ông đã 89 tuổi Khi được hỏi về những kỉ niệm với các lễ hội, ông Thoang không khỏi xúc động và bày tỏ lòng biết ơn với các Yang bằng cách cuối đầu xuống sát đất như muốn lạy tạ Ông nói: “Già cảm ơn thần linh, cảm ơn Yang đã ban sự bình yên và sức khỏe cho buôn làng Trải qua rất nhiều năm, có lẽ cái kỉ niệm đáng nhớ nhất về lễ hội đâm trâu đầu tiên khi Già được lên làm già làng, đó là năm Già 60 tuổi Khi trẻ tham gia lễ hội thì được nhận lá bùa từ vị già làng mà cảm thấy thiêng liêng lắm, giờ thì tự tay mình làm để tặng cho các thế hệ thanh niên, cảm giác như thay mặt các Yang ban phép xuống cho đồng bào mình May mắn thay cũng trong cái năm ấy, trời đất thuận lợi, mùa màng bội thu gấp hai lần năm trước, những đứa thanh niên được nhận lá bùa

từ Già cái sức nó cũng mạnh hơn, dân làng vui mừng cái bụng lắm Niềm vui của Già

Trang 26

cũng nhiều hơn, hơn nữa Già cũng được bà con trong buôn tín nhiệm” (Tư liệu điền

dã tháng 4/2017)

Điểm đặc biệt trong các hoạt động này là các chiến binh ra nhảy múa, diễn lại cảnh đánh nhau và chiến thắng để khơi dậy dũng khí trong lòng mọi người tham dự Anh Hơm, người của làng Xơ, là một trong số những “chiến binh” dũng mãnh nhất trong làng tham gia vào cả nghi lễ đâm trâu và các trò chơi sau lễ Anh cho biết, bản thân cảm thấy vô cùng hãnh diện khi được tham gia vào lễ hội lớn của toàn huyện và cũng là lễ hội đặc trưng của dân tộc mình Khi tham gia vào lễ hội, anh mang một lòng thành kính sâu sắc gửi đến các Yang, các thần linh với mong muốn các Yang sẽ hài lòng với sự chuẩn bị kĩ lưỡng của đồng bào mình và ban phước lành đến cho buôn làng Anh mong muốn lễ hội năm nào cũng được tổ chức thật lớn và long trọng, điều

đó thể hiện sự giàu có, thịnh vượng của buôn làng mình Đồng thời, anh cũng hy vọng

lễ hội sẽ được nhiều người trong nước biết tới, qua đó giới thiệu được bản sắc văn hóa đặc trưng đọc đáo của dân tộc mình

Theo nhịp trống, cồng chiêng, sáo bầu, các cô gái nắm tay nhau thành vòng xoang (múa) Dường như tất cả nữ giới trong làng đều có mặt tại đây, nên vòng xoang

cứ dài mãi, xoay mãi, say mê bước theo nhịp ching chiêng, từ lúc mặt trời đi ngủ, cho đến khi lại vén mây thức dậy phía đằng Đông Bên cạnh đó là các vũ khúc của các chàng trai múa khiên, lao, tiếng cồng chiêng không dứt, những điệu múa nhịp nhàng uyển chuyển của các chàng trai cô gái trong trang phục sặc sỡ càng làm cho không khí thêm náo nhiệt, cuộc vui tưởng chừng như muốn kéo dài ra vô tận

[9 Tr.41]

Sau lễ ăn trâu, mọi nỗi buồn, hiềm khích, đố kỵ trong buôn đều được thần linh mang đi hết, niềm vui và hạnh phúc được nâng lên gấp bội, ai nấy hăng hái trở lại chuỗi ngày lên nương xuống rẫy dưới mưa dầm nắng gắt, đêm sương muối xót thịt xương, con người bán mặt cho đất bán lưng cho trời nơi đại ngàn lắm dã thú, nhiều sỏi

đá khô cằn hơn màu mỡ, hi vọng tết mùa sau với nhiều lễ cúng, nhiều tiếng hát, nhiều tiếng cồng chiêng lại vang lên quyến rũ con người vào cuộc vui say bất tận

Trang 27

là sự kế tục truyền thống văn hóa xa xưa của người Tây Nguyên Trong những dịp lễ hội quan trọng này, con trâu được chọn là vật hiến sinh, là biểu tượng cho sự "thông quan" giữa con người với Yang và thần linh, là lời cảm ơn Yang (trời), cảm ơn thần linh đã cho mưa thuận gió hoà, đã giúp cho dân làng ngăn cản muông thú, chim chóc không phá hoại rẫy nương, cho mùa màng tươi tốt, dân làng sống hoà thuận, vui vẻ, không xảy ra dịch bệnh Tuy mục đích chung là như vậy, nhưng mức độ và sắc thái

biểu hiện ở mỗi tộc người lại có sự khác biệt nhất định

2.2.1 Mục đích tổ chức nghi lễ

Theo tập tục của người Bana, Xơ đăng, Giẻ triêng hàng năm dân làng tổ chức một lần hội đâm trâu tại nhà Rông Mọi phí tổn trong ngày hội do dân làng đóng góp lại Những tộc người này tổ chức hội đâm trâu bên cạnh việc cúng Yang thì còn nhằm

tạ ơn những tù trưởng xưa kia đã có công xây dựng và gìn giữ buôn làng, và sau nữa

là tỏ lòng biết ơn đối với người hiện đang chịu trách nhiệm giữ gìn bảo vật của buôn (là những vũ khí, giáo mác, khiên, tù và… mà xa kia, ông cha họ đã từng dùng để đánh giặc bảo vệ buôn làng) Bên cạnh đó, những khi đau, ốm bất ngờ (ví dụ đi tắm về

bị cảm, vào rừng bị sốt hoặc bị gai đâm ) dân làng cho là thần làm ốm nên muốn khỏi, cũng phải làm lễ đâm trâu, nhưng lễ đâm trâu này nhỏ hơn lễ đâm trâu trong ngày hội

Khi hỏi thăm cụ bà Y Nhiên là người dân tộc Xơ đăng sinh sống tại làng K’ni,

xã Kblang, huyện Chưsê về một lễ hội đâm trâu để cầu xin thần linh cho hết bệnh, bà kể: “ Ngày đó Già mang gùi xuống rẫy bẻ cái ngô, lúc về không may bị ngã vào hòn

đá làm rách da chảy máu rất nhiều Nhờ người đưa về nhà, dùng cây thuốc trong vườn

để làm lành vết thương nhưng tận hai lần con trăng tròn vẫn bị sưng vù và đau nhức

Cả nhà quyết định làm lễ cầu xin Yang cho hết bệnh Vật tế là một con trâu đực to, khỏe, khi các công đoạn chuẩn bị xong là cả nhà tiến hành nghi thức đâm trâu với một lòng thành kính cầu xin Một điềm báo rất đáng mừng là con trâu bị đâm không dãy dụa nhiều mà chỉ một nhác là trúng ngay tim rồi khuỵu xuống chết từ từ Sau khi tổ

Trang 28

chức nghi lễ xong thì chân Già cũng khỏi dần Già và gia đình rất đội ơn thần linh đã che chở và bảo vệ cho mình.” (Tư liệu điền dã tháng 4/2017) Cũng giống như nhiều tộc người khác, ba tộc người Bana, Xơ đăng và Giẻ triêng thường tổ chức ngày hội đâm trâu trong khoảng thời gian từ đầu tháng 12 cho đến tháng 3 âm lịch

Xơ Đăng

Lễ hội đâm trâu cũng là một tập tục lâu đời của người Xơ đăng Ngoài việc dâng lễ tế lên thần linh nhằm tạ ơn vì đã ban cho một mùa màng bội thu và con người có sức khỏe dồi dào thì những lúc bình thường không phải sau mùa vụ hay lễ tết, người Xơ đăng vẫn sẽ tổ chức

lễ đâm trâu theo khuôn khổ gia đình nếu như trong nhà có người bệnh nặng, cầu mong sự phù hộ của thần linh giúp mau chóng khỏi bệnh; hoặc một già làng nào đó mắc bệnh nặng cả làng sẽ cùng nhau tổ chức lễ đâm trâu, dùng vật tế để xin Yang phù hộ cho già làng qua cơn bệnh.[1]

Giẻ

Triêng

Nếu đối với dân tộc Bana hay Xơ đăng lễ hội đâm trâu là một lễ hội tách biệt, thì đâm trâu là một nghi thức trong lễ hội mừng nhà rông mới Mục đích của nghi thức đâm trâu là đem vật hiến tế dâng lên Yang

để thể hiện tấm lòng và ước nguyện của người Giẻ triêng, cảm ơn Yang

đã giúp dân làng có nhà rông mới, cầu mong nhà rông và bà con được che chở, đồng thời cũng cầu mong một mùa vụ bội thu

2.2.2 Địa điểm tổ chức nghi lễ

Thông thường các dân tộc Tây Nguyên hay xây dựng nhà cửa quây quần thành một cụm và trung tâm của buôn làng là khoảng đất rộng có nhà rông-nơi sinh hoạt

Ngày đăng: 11/05/2021, 21:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bùi Minh Đạo, Trần Hồng Thu, và Bùi Bích Lan.2006.Dân tộc Bana ở Việt Nam. NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Bana ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
4. L.Phinô. Báo điện tử. 10/2010. Lễ “ăn trâu” - đừng nhìn nghi lễ rởm mà phán xét Sách, tạp chí
Tiêu đề: ăn trâu
1. Báo dân tộc và phát triển. 2012. Lễ đâm trâu của người Xơ đăng: Cần thay đổi quan niệm Khác
2. Bộ văn hóa, thể thao và du lịch. Báo điện tử. 2016. Lễ hội đâm trâu của dân tộc Xơ đăng Khác
5. Linh Nga niek dam. Báo điện tử. 2009. Nghệ thuật diễn xướng Tây Nguyên Khác
6. Ngô Đức Thịnh. 2005. Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các tộc người Tây Nguyên. NXB Khoa học xã hội Khác
7. Tổng điều tra dân số và nhà ở huyện Chưsê năm 2015 Khác
8. Trần Quốc Vượng. 2003. Con trâu trong văn hóa Việt Nam. Trích trong cuốn Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm. NXB Văn học Khác
9. Trần Thị Thim. 2011. Lễ hội ăn trâu (đâm trâu) của một số dân tộc Tây Nguyên phục vụ phát triển du lịch. Đề tài NCKH Khác
10. Vũ Thị Thanh Hương. 2009. Nghiên cứu khai thác các giá trị văn hóa dân gian Đồ Sơn phục vụ phát triển du lịch. Đề tài NCKH. Trường ĐH Dân lập Hải Phòng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w