1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế sơ đồ tư duy phục vụ dạy học lịch sử việt nam (1858 1918) ở trường thpt (chương trình chuẩn)

77 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với môn lịch sử kết hợp phương pháp dạy học truyền thống với phương pháp dạy học hiện đại: ứng dụng công nghệ thông tin để truyền tải kiến thức cơ bản, cần thiết.. Ứng dụng công nghệ

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Th.s Trương Trung Phương, đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình viết khóa luận tốt nghiệp

Em chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm em học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quí báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin

Em chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường và các thầy cô giáo tại các trường THPT trên địa bàn Quảng Nam đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để

em thực nghiệm đề tài trong suốt quá trình làm khóa luận

Trong quá trình làm khóa luận, do hạn chế về thời gian, đồng thời do trình

độ lý luận còn hạn chế nên bài báo cáo không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong các thầy, cô bỏ qua Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe

và thành công trong sự nghiệp cao quý

Đà Nẵng, ngày 28 tháng 4 năm 2017 Sinh viên thực hiện

Hồ Thị Nhung

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích nghiên cứu 4

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu của đề tài 4

5.1 Nguồn tư liệu 4

5.2 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của đề tài 5

7 Bố cục đề tài 5

NỘI DUNG 6

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6

1.1 Cơ sở lí luận 6

1.1.1 Quan niệm về công nghệ thông tin 6

1.1.2 Khái niệm về sơ đồ tư duy 7

1.1.3 Ý nghĩa của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Lịch sử ở trường THPT 9

1.2 Cơ sở thực tiễn 10

1.2.1 Mục đích điều tra 10

1.2.2 Đối tượng điều tra 10

1.2.3 Nội dung điều tra 10

1.2.4 Kết quả điều tra 11

Chương 2: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỂ THIẾT KẾ SƠ ĐỒ TƯ DUY PHỤC VỤ DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1858 - 1918) Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (chương trình chuẩn) 13

Trang 5

2.2 Nguyên tắc ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế sơ đồ tư duy phục vụ dạy

học lịch sử Việt Nam (1858 - 1918) ở trường THPT (chương trình chuẩn) 21

2.2.1 Nắm vững mục tiêu, yêu cầu và nội dung môn học 21

2.2.2 Đảm bảo tính khoa học 23

2.2.3 Đảm bảo tính trực quan 24

2.2.4 Đảm bảo tính thẩm mĩ 24

2.2.5 Phát huy tính tích cực của học sinh 25

2.3 Quy trình ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế sơ đồ tư duy phục vụ dạy học Lịch sử Việt Nam (1858 - 1918) ở trường THPT (chương trình chuẩn) 25

2.3.1 Một số phần mềm để tạo sơ đồ tư duy 25

2.3.2.1 Phần mềm iMindMap 25

2.3.2.2 Phần mềm Edraw Mind Map 27

2.3.2.3 Phần mềm Microsoft PowerPoint 28

2.3.2.4 Phần mềm Open Mind 29

2.3.2 Cài đặt phần mền iMind Map 30

2.4 Hệ thống sơ đồ tư duy được sử dụng để dạy học lịch sử Việt Nam (1858 - 1918) ở trường THPT (chương trình chuẩn) 31

Chương 3: SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY PHỤC VỤ DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1858 - 1918) Ở TRƯỜNG THPT (chương trình chuẩn) 34

3.1 Một số yêu cầu khi sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử Việt Nam (1858 - 1918) ở trường THPT (chương trình chuẩn) 34

3.1.1 Phù hợp với từng loại bài học 34

3.1.2 Phù hợp với đối tượng học sinh 34

3.1.3 Phát huy tính tích cực cho học sinh 35

3.2 Các hình thức và phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam (1858 - 1918) ở trường THPT (chương trình chuẩn) 36

3.2.1 Các hình thức sử dụng sơ đồ tư duy phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam (1858 - 1918) ở trường THPT (chương trình chuẩn) 36

3.2.1.1 Sử dụng trong việc dạy học nội khóa 36

3.3.1.2 Sử dụng trong các hoạt động ngoại khóa 37

Trang 6

3.2.2 Phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam (1858 -

1918) ở trường THPT (chương trình chuẩn) 38

3.2.2.1 Tổ chức dạy học theo nhóm 38

3.2.2.2 Tổ chức dạy học nêu vấn đề 39

3.2.2.3 Tổ chức hoạt động tự học 40

3.3 Thực nghiệm sư phạm 41

3.3.1 Mục đích thực nghiệm 41

3.3.2 Đối tượng, thời gian thực nghiệm 41

3.3.3 Nội dung và phương pháp tiến hành 41

3.3.4 Kết quả thực nghiệm 42

KẾT LUẬN 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

Trang 7

đủ tính cụ thể, tính hình thành, tính muôn màu muôn vẻ của nó, đồng thời hướng dẫn cho các em đánh giá, nhận xét về những điều lịch sử đã qua, bước đầu vận dụng kiến thức đó vào cuộc sống Trên cơ sở hình thành một hệ thống kiến thức đó mà phát triển năng lực của học sinh

Triều Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam, được xác lập trong bối cảnh nền kinh tế tư bản chủ nghĩa hiện đại và phát triển, trong khi

đó Việt Nam dưới triều Nguyễn khi mới thành lập đã gặp không ít sự chống đối của nhân dân, để đàn áp các cuộc nổi dậy triều đình đã nhờ đến sự giúp đỡ của Pháp và dần dần Việt Nam đứng trước nguy cơ xâm lược của thực dân Pháp Cho đến năm

1858, Pháp chính thức nổ súng xâm lược Việt Nam, từ đây nước ta rơi vào thời kì mới, thời kì đấu tranh, bảo vệ đất nước trước sự xâm lăng

Hiện nay vấn đề đổi mới phương pháp dạy học trở thành vấn đề được sự quan tâm của nhà giáo và toàn xã hội Phương pháp dạy học là một trong những yếu

tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy học Để đổi mới phương pháp dạy học, đòi hỏi người dạy phải làm quen với công nghệ thông tin Trước sự bùng nổ của công nghệ thông tin thì việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học nói

Trang 8

chung và dạy học lịch sử nói riêng là nhu cầu cấp thiết Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin nhằm đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, qua đó sẽ làm cho bài học thêm sinh động, thu hút học sinh

do có nhiều minh họa sinh động cụ thể với những hình ảnh, phim tư liệu… tạo các

em hứng thú với môn học Đối với môn lịch sử kết hợp phương pháp dạy học truyền thống với phương pháp dạy học hiện đại: ứng dụng công nghệ thông tin để truyền tải kiến thức cơ bản, cần thiết Mặc khác đảm bảo tính thẩm mĩ, khoa học để tiết học thêm phần sinh động Ứng dụng công nghệ thông tin là một trong các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học và đổi mới phương pháp theo quan điểm hiện đại, nó sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học, tạo ra môi trường dạy học tương tác cao, tạo điều kiện để học sinh chủ động học tập nâng cao chất lượng học tập

Lịch sử là những cái đã xảy ra trong quá khứ, chúng ta không thể tận mắt chứng kiến mà nó chỉ được tái hiện thông qua hình ảnh, lời kể của nhân vật, sơ đồ, bản đồ, phim tư liệu… Vì vậy để cho lịch sử không bị khô khan, nhàm chán buộc người giáo viên phải tìm cho mình một phương pháp dạy học thích hợp để lôi kéo học sinh vào với bài giảng và ngày càng hứng thú hơn với môn học Có rất nhiều phương pháp để kết hợp phương pháp dạy học truyền thống với phương pháp dạy học hiện đại để mang lại hiệu quả cao trong dạy học, và một trong những phương

pháp đó tôi chọn phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế sơ đồ tư

duy phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam (1858 - 1918) ở trường THPT (chương trình chuẩn)

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đang được quan tâm và thực hiện, nhất

là việc ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học nói chung

và dạy học Lịch sử nói riêng ở trường trung học phổ thông có ý nghĩa hết sức quan trọng Chính vì vậy có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này cả trong nước

và nước ngoài

Các tác phẩm viết về vấn đề này trước hết là cuốn “Chuẩn bị giờ học Lịch sử

như thế nào?” Đa-ri đã chỉ ra quá trình để phát triển tư duy học sinh Đó là “Lựa

Trang 9

kiến thức, tình cảm, tư duy; xác định chất lượng của sự kiện, ý nghĩa của chúng đối với sự hình thành khái niệm, đối với sự phát triển tư duy và giáo dục đạo đức cho học sinh, đưa vào bài học tất cả yếu tố cần thiết cho việc xây dựng nhận thức lịch

sử hoàn chỉnh” [11, tr 25]

Nói về vấn đề này không thể không kể đến công trình lí luận chung về

phương pháp dạy học Lịch sử điển hình nhất là cuốn “Phương pháp dạy học Lịch

sử” do Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi Đã dành

một chương “Phát triển năng lực nhận thức và thực hành cho học sinh trong học

tập Lịch sử” [21, tr 265] Tác giả nhận định rằng: “Trong sự phát triển tư duy nói chung cho học sinh, mỗi môn học ở phổ thông đều góp phần hình thành những nét riêng của mình và môn Lịch sử cũng hình thành ở các em tư duy lịch sử” [21, tr

275] Tuy nhiên giáo trình cũng chỉ mới trình bày lí luận chung chứ chưa đi sâu vào vấn đề sử dụng công nghệ thông tin để thiết kế sơ đồ tư duy để phục vụ dạy học Lịch sử Việt Nam

Ngô Minh Oanh (chủ biên) đã viết cuốn sách “Con đường và biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Lịch sử ở trường phổ thông” đã đề cập đến vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Lịch sử, tuy nhiên vẫn chưa đi sâu vào việc ứng dụng cho từng giai đoạn lịch sử và đặc biệt là giai đoạn (1858 - 1918) của lịch

sử Việt Nam

Tác phẩm của Nguyễn Thị Côi (chủ biên), “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm” cũng có nói đến việc sử dụng các phương tiện kĩ thuật day học để nâng cao hiệu quả dạy học, nhưng cũng chưa đề cập sâu sắc đến việc ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế sơ đồ tư duy phục vụ dạy học Lịch sử

Trong một số bài viết “Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Lịch sử ở trường THPT” (2012) của tác giả Nguyễn Chí Thuận đã trình bày những thuận lợi khó khăn trong việc dạy học Lịch sử ở THPT hiện nay và tầm quan trọng của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Lịch sử ở trường THPT Tuy nhiên tác phẩm chỉ dừng lại ở việc sử dụng sơ đồ tư duy chứ chưa đi sâu vào việc ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế sơ đồ tư duy

Trang 10

Nhưng nhìn chung, số công trình nghiên cứu về vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế sơ đồ tư duy phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam là không ít Tuy nhiên, đa số các công trình đều trình bày một cách khái quát, chứ chưa đi sâu vào thiết kế cho từng giai đoạn đặc biệt là giai đoạn 1858 - 1918 Chính vì vậy công trình nghiên cứu này sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn chi tiết cụ thể hơn về vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế sơ đồ tư duy phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam (1858 - 1918)

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Với đề tài này tôi tập trung nghiên cứu việc ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế sơ đồ tư duy phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam (1858 - 1918)

Nghiên cứu đề tài này nhằm tìm hiểu những khó khăn và thuận lợi trong vấn

đề dạy học Lịch sử phổ thông hiện nay, xác định những kiến thức cơ bản của nội dung chương trình sách giáo khoa ở trường THPT phần Lịch sử Việt Nam (1858 - 1918), (chương trình chuẩn), trên cơ sở đó tiến hành ứng dụng công nghệ thông tin thiết kế sơ đồ tư duy phục vụ dạy học Lịch sử, nhằm nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử ở trường THPT

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu của đề tài

5.1 Nguồn tư liệu

Cơ sở của phương pháp nghiên cứu khóa luận là Chủ nghĩa Mác - Lênin và

tư tưởng Hồ Chí Minh về lịch sử và lịch sử giáo dục chủ yếu là lí luận dạy học bộ môn lịch sử

Trang 11

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, tôi nghiên cứu và sử dụng một

số phương pháp sau:

Về phương pháp nghiên cứu lý thuyết: các sách về phương pháp, các khóa luận, các báo cáo về phương pháp dạy học, các tạp chí chuyên ngành và các tài liệu khác có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài

Về phương pháp tiến hành điều tra: tiến hành điều tra tình hình ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế sơ đồ tư duy phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam (1858 - 1918) Bên cạnh đó tìm hiểu khả năng nắm bài và hiểu bài qua bài giảng của giáo viên

Phương pháp thống kê toán học: sử dụng một số phép thống kê toán học để trình bày kết quả thực nghiệm và kiểm định kết quả qua hai nhóm: Đối chứng - thực nghiệm

Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp khác như: sưu tầm, phân tích, so sánh, đối chiếu, tập hợp tư liệu… theo yêu cầu của đề bài

6 Đóng góp của đề tài

Tìm hiểu đề tài ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế sơ đồ tư duy phục

vụ dạy học lịch sử Việt Nam (1858 - 1918) ở trường THPT ngoài việc cũng cấp một phương pháp dạy học lịch sử hiện nay, giúp cho người học tìm ra được phương pháp học tập mới, hình thành tư duy lôgich cho người học, ngoài ra các em có thể ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế sơ đồ tư duy để học các môn khác Còn đối với giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế sơ đồ tư duy phục vụ dạy học lịch sử để làm bài dạy hiệu quả hơn, tạo hứng thú học tập cho học sinh

7 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung đề bài gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ứng dụng công nghệ thông tin

trong dạy học lịch sử ở trường THPT (chương trình chuẩn)

Chương 2: Ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế sơ đồ tư duy phục vụ

dạy học lịch sử Việt Nam (1858 - 1918) ở trường THPT (chương trình chuẩn)

Chương 3: Phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy phục vụ dạy học lịch sử Việt

Nam (1858 - 1918) ở trường THPT (chương trình chuẩn)

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1:

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ

THÔNG 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Quan niệm về công nghệ thông tin

Bộ môn lịch sử với những ưu thế của mình đã góp phần quan trọng trong giáo dục truyền thống yêu nước đấu tranh cách mạng chống ngoại xâm của dân tộc

ta Tuy nhiên trên thực tế, điều kiện học tập vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu xã hội đặt ra Học sinh hiện nay không có hứng thú với môn lịch sử, mà một trong những nguyên nhân dẫn đến học sinh thờ ơ với bộ môn này là do trang bị kĩ thuật, cơ sở vật chất dạy học còn thiếu, lạc hậu, phương pháp truyền đạt của giáo viên còn hạn chế, gây ra sự nhàm chán cho học sinh

Mục tiêu của ngành giáo dục là không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng giáo dục ở tất cả các cấp học Trong đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đang được đẩy mạnh và nhân rộng trong toàn ngành hiện nay

Trong thời đại của chúng ta sự bùng nổ công nghệ thông tin đã tác động đến công cuộc phát triển kinh tế xã hội loài người Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ

ý nghĩa và tầm quan trọng của công nghệ thông tin, truyền thông cũng như yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở cửa và hội nhập, hướng tới nền kinh tế tri thức Ngày nay khi công nghệ thông tin càng phát triển thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các lĩnh vực là một điều tất yếu, trong đó có lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo Trong giáo dục đào tạo công nghệ thông tin được ứng dụng mạnh

mẽ trong những năm gần đây và các trường đã đưa tin học vào giảng dạy, học tập

Hiện nay Bộ giáo dục và Đào tạo yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học Xem

Trang 13

công nghệ thông tin như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học ở các môn học

Xuất phát từ các văn bản chỉ đạo của Đảng và nhà nước nhất là chỉ thị CT/UW của Bộ Chính Trị ngày 07 tháng 10 năm 2000 về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đã chỉ rõ trọng tâm của ngành giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo, đây là nhiệm vụ mà Thủ tướng Chính phủ đã giao cho ngành giáo dục giai đoạn 2001 - 2005 thông qua quyết định số 81/2001/QĐ-TTg

58-Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo và Nghị quyết số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29/NQ-TƯ ngày 04 tháng

11 năm 2013, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học Phát huy vai trò của công nghệ thông tin và các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại trong quản

lý nhà nước về giáo dục, đào tạo Từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin

Đổi mới phương pháp dạy học nâng cao chất lượng giáo dục là một trong những mục tiêu quan trọng hiện nay của ngành giáo dục Việc ứng dụng CNTT nhằm đổi mới nội dung, phương pháp dạy học là một công việc lâu dài, khó khăn đòi hỏi rất nhiều điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính, năng lực của đội ngũ giáo viên Nhưng thiết nghĩ rằng, với khả năng sư phạm vốn có cộng thêm một ít bồi dưỡng về kiến thức tin học, các GV hoàn toàn có thể thiết kế được bài giảng điện tử

để thể hiện tốt hơn phương pháp sư phạm, góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy

1.1.2 Khái niệm về sơ đồ tư duy

Tư duy là gì? Đây là một vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa học và nhiều nhà khoa học ngiên cứu Theo triết học thì nghiên cứu tư duy dưới góc

độ lý luận nhận thức Lôgíc học nghiên cứu tư duy ở các quy tắc tư duy đúng Xã hội học nghiên cứu tư duy ở sự phát triển của quá trình nhận thức trong các chế độ

Trang 14

xã hội khác nhau Sinh lí học nghiên cứu cơ chế của hoạt động thần kinh cao cấp với tư cách là nền tảng vật chất của quá trình tư duy ở con người

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2005) thì tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não người Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận…

Tác giả Nguyễn Quang Uẩn trong giáo trình tâm lí học đại cương đưa ra định nghĩa: “Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết”

Trong giáo trình tâm lí học do Phạm Minh Hạc chủ biên đã đưa ra những khái niệm: “Tư duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối quan hệ có tính chất quy luật của sinh viên và hiện tương trong hiện thực khách quan mà ta chưa biết”

Khái niệm sơ đồ tư duy được xây dựng bởi Nhà tâm lý học thế kỉ XX Tony Buzan trên nền tảng tâm lý học hiện đại Buzan nghiên cứu chuyên sâu về bộ não, trí nhớ và tìm ra quy luật khi xây dựng bản đồ gồm nhiều nhánh, giúp bộ não ghi

chép các sự kiện một cách hệ thống Theo ông: “Bộ não sinh ra là để ghi nhớ thì

mình cần phải tập luyện nó, giống như tay chân nếu không vận động lâu ngày sẽ bị teo đi vậy” Kết hợp giữa kiên thức tâm lý học đương thời và nghiên cứu trên,

Buzan đã đưa ra: Sơ đồ tư duy giúp luyện tập trí não (Mindmap)

Sơ đồ tư duy là một phương pháp, lưu trữ, sắp xếp thông tin và xác định thông tin theo thứ tự ưu tiên bằng cách sử dụng Từ khoá, Hình Ảnh chủ đạo Mỗi từ khoá hoặc hình ảnh chủ đạo trong sơ đồ tư duy sẽ kích hoạt những ký ức cụ thể và làm nảy sinh những suy nghĩ, ý tưởng mới

Sơ đồ tư duy là phương pháp kết nối mang tính đồ họa có tác dụng lưu giữ, sắp xếp và xác lập ưu tiên đối với mỗi loại thông tin bằng cách sử dụng từ hay hình ảnh then chốt hoặc gợi nhớ nhằm làm “bật lên” những ký ức cụ thể và phát sinh các

ý tưởng mới Mỗi chi tiết gợi nhớ trong Sơ đồ tư duy là chìa khóa khai mở các sự

Trang 15

Tóm lại, Sơ đồ tư duy là bản đồ thông tin cho bộ não của bạn, giúp nó hoạt động nhẹ nhàng, lưu trữ nhiều và nhớ thông tin được lâu hơn

1.1.3 Ý nghĩa của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Lịch sử ở trường THPT

Để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn lịch sử, người giáo viên phải luôn

sử dụng tốt các phương dạy học lịch sử một cách nhuần nhuyễn, trong những phương pháp đó việc sử dụng sơ đồ tư duy có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng DHLS ở trường phổ thông

Thứ nhất, trong những năm qua, công tác thiết bị trường học đã có nhiều

thay đổi và đạt những kết quả đáng khích lệ Trang bị ngày càng nhiều CNTT dùng

để dạy học chính vì thế giáo viên ứng dụng CNTT thiết kế sơ đồ tư duy phục vụ dạy học là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong quá trình dạy học Việc thiết kế sơ

đồ tư duy phục vụ dạy học được đề cập đến trong đề tài này mang ý nghĩa thể hiện

sự sáng tạo của giáo viên nhằm giải quyết nhu cầu thực tiễn của giáo viên để thực hiện đổi mới phương pháp phù hợp với khả năng sư phạm của mình, với đặc điểm của lớp học, người học và môn học Sơ đồ do chính giáo viên thiết kế cho phù hợp từng bài dạy giúp học sinh lĩnh hội kiến thức nhanh chóng và hiệu quả góp phần nào tạo hứng thú học tập cho học sinh và nâng cao chất lượng bộ môn lịch sử trong tình hình hiện nay

Thứ hai, đại đa số giáo viên thừa nhận đúng tầm quan trọng của việc dạy học

theo hướng phát triển tư duy, xong chưa áp dụng có hiệu quả trong việc dạy học ở trường phổ thông, chưa có sự đầu tư dồng bộ chương trình Do vậy chưa phát huy tính tích cực của học sinh Bản thân bộ môn lịch sử là thực sự rất hấp dẫn, sinh động với những sự kiện, biến cố chi phối sự phát triển của lịch sử dân tộc, song do phương pháp truyền thụ của thầy và phương pháp học tập của trò chưa đáp ứng yêu cầu của bộ môn Để đáp ứng nhu cầu ngày càng đổi mới của phương pháp dạy học một trong biện pháp nâng cao hiệu quả học tập Lịch sử là sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Sơ đồ tư duy giúp giáo viên có thể thực hiện tốt nhiệm vụ bồi dưỡng tri thức lịch sử cho HS, giúp học sinh lĩnh hội sâu sắc và nhớ lâu những sự kiện, hiện tượng lịch sử

Trang 16

Thứ ba, sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học trước hết giúp cho học sinh nắm

vững kiến thức, biết vận dụng kiến thức vào việc giải quyết các câu hỏi, bài tập nhận thức, qua đó kiến thức mà học sinh thu nhận được trở nên vững chắc hơn và sinh động hơn để hiểu đúng bản chất sự kiện, quá trình lịch sử… Bên cạnh có tác dụng bồi dưỡng về mặc kiến thức thì việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học còn

có tác dụng tích cực trong việc rèn luyện tư tưởng, tình cảm, đạo đức, thái độ của học sinh

Tóm lại, trong DHLS ở trường THPT, việc sử dụng sơ đồ tư duy ý nghĩa to

lớn trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, góp phần nâng cao hiệu quả bài học Lịch sử nói riêng, chất lượng dạy học bộ môn nói chung

và đưa vào thử nghiệm giáo án lịch sử ứng dụng CNTT để thiết kế sơ đồ tư duy phục vụ việc dạy học lịch sử Từ đó, chúng tôi rút ra những kết quả đạt được và những hạn chế cần khắc phục

1.2.2 Đối tượng điều tra

Đối tượng điều tra là giáo viên và học sinh lớp 11 của hai trường THPT Âu

Cơ và THPT Quang Trung trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

1.2.3 Nội dung điều tra

Về phía học sinh, chúng tôi xây dựng 6 câu hỏi trắc nghiệm (xem phụ lục) để kiểm tra 150 học sinh ở 2 trường THPT: Trường THPT Âu Cơ và trường THPT Quang Trung vào năm học 2016 - 2017 với mục đích sau:

Tìm hiểu về tình hình học tập, nhận thức của học sinh

Trang 17

Tìm hiểu về việc nắm và hiểu kiến thức lịch sử Việt Nam (1858 - 1918) hay không?

Bên cạnh đó, chúng tôi còn xây dựng một phiếu điều tra về việc giáo viên có quan tâm và sử dụng CNTT để thiết kế sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử hay không?

Về phía giáo viên, chúng tôi xây dựng 7 câu hỏi thăm dò ý kiến của giáo viên theo các nội dung sau:

Quan niệm của giáo viên về sơ đồ tư duy

Những khó khăn của họ khi tiến hành dùng CNTT để thiết kế sơ đồ tư duy

1.2.4 Kết quả điều tra

Về phiếu điều tra đối với học sinh, sau khi điều tra chúng tôi đã tiến hành xử

lí số liệu bằng phương pháp thống kê toán học Chúng tôi thấy học sinh lĩnh hội và nắm được những kiến thức mà giáo viên giảng dạy

Sau khi xử lí các phiếu điều tra từ giáo viên, chúng tôi thấy rằng đa số giáo viên đều thấy được tầm quan trọng của việc phát triển năng lực tư duy học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT Tuy nhiên do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau nên việc sự dụng CNTT để thiết kế sơ đồ tư duy còn hạn chế, mà chủ yếu do cơ sở vật chất của trường và do tiết học quá ngắn so với lượng kiến thức cần cung cấp

Từ kết quả điều tra từ học sinh và giáo viên chúng tôi rút ra kết luận rằng: Tình hình sử dụng CNTT để thiết kế sơ đồ tư duy phục vụ việc dạy học lịch sử học sinh hứng thú với phương pháp này, tuy nhiên kết quả đạt được chưa cao Qua đó, chúng tôi thấy được nguyên nhân mà đa số thầy cô đưa ra là:

Thứ nhất, trang bị kĩ thuật CNTT của trường THPT còn ít và chưa có phòng dành riêng cho bộ môn, nên khi học di chuyển rất phức tạp

Thứ hai, khả năng và trình độ thiết kế sơ đồ tư duy bằng các phần mền của giáo viên còn hạn chế

Thứ ba, trong quá trình học mặc dù học sinh hứng thú nhưng chưa thật phát huy khả năng tư duy của bản thân, mà vẫn còn lối học thụ động

Trang 18

Qua những hạn chế, bất cập mà chúng tôi tìm hiểu tại các trường THPT trên địa bàn Quảng Nam chính là điều kiện để chúng tôi tiến hành thiết kế và thực nghiệm tại các trường với đề tài của mình nhằm góp phần thay đổi và hạn chế những bất cập trên

Trang 19

độ do dự của nhà Nguyễn, nhân dân ta ngay từ đầu đã anh dũng chống trả quyết liệt các cuộc tấn công của quân xâm lược để bảo vệ tổ quốc, đây là nội dung chính của lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 - 1918

* Nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp xâm lược (1858 - 1873)

Giữa thế kỉ XIX Việt Nam là một nước độc lập , có chủ quyền song chế độ phong kiến đã lâm vào khủng hoảng, suy yếu trầm trọng

+ Chính trị: Giữa thế kỉ XIX, trước khi thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền song chế độ phong kiến nhà Nguyễn đã bước vào khủng hoảng, suy yếu trầm trọng

+ Kinh tế: Nông nghiệp sa sút, mất mùa, đói kém thường xuyên

Công thương nghiệp đình đốn lạc hậu do chính sách “bế quan toả cảng” của nhà nước

+ Quân sự lạc hậu, chính sách đối ngọai sai lầm: “cấm đạo”, xua đuổi giáo sĩ + Xã hội: nhiều cuộc đấu tranh chống triều đình bùng nổ

Từ giữa thế kỉ XIX, các nước tư bản phương Tây đẩy mạnh việc xâm chiếm các nước phương Đông

Sau nhiều lần khiêu khích, lấy cớ bảo vệ đạo Gia Tô, Pháp đem quân xâm lược Việt Nam Chiều 31/8/1858, 3000 quân Pháp - Tây Ban Nha dàn trận trước cửa biển Đà Nẵng Âm mưu của Pháp là chiếm xong Đà Nẵng sẽ kéo thẳng ra Huế, nhanh chóng buộc nhà Nguyễn đầu hàng

Rạng sáng 1/9/1858, quân Pháp nổ súng mở đầu cuộc xâm lược nước ta Quân dân ta, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương, anh dũng chống trả Quân

Trang 20

Pháp bước đầu thất bại Sau 5 tháng xâm lược, chúng chỉ chiếm được bán đảo Sơn Trà

Thấy không thể chiếm được Đà Nẵng, Pháp quyết định đưa quân vào Gia Định Tháng 02/1859, Pháp đánh chiếm thành Gia Định nhưng gặp nhiều khó khăn

do hoạt động của các dân binh Kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp thất bại, chúng phải chuyển sang kế hoạch “chinh phục từng gói nhỏ”

Từ năm 1960, Pháp bị sa lầy trong cuộc chiến ở Trung Quốc, Xi-ri, phải rút quân từ Đà Nẵng về Gia Định Lực lượng địch rất mỏng, tình thế cực kì khó khăn Triều Nguyễn không tranh thủ phản công mà cử Nguyễn Tri Phương vào xây dựng phòng tuyến Chí Hoà để “thủ hiểm”

Các nghĩa dũng do Dương Bình Tâm lãnh đạo tiếp tục tấn công giặc ở đồn Chợ Rẫy (07/1960), trong khi triều đình Huế xuất hiện tư tưởng chủ hòa

Ngày 23/2/1861, quân Pháp công phá đại đồn Chí Hòa, gặp sự kháng cự quyết liệt của quân Nguyễn Sau hai ngày chiến sự ác liệt, quân Nguyễn bị tổn thất nặng Nguyễn Tri Phương bị thương, còn em là Nguyễn Duy thì tử trận Quân Nguyễn phải bỏ đại đồn Chí Hòa, rút về Biên Hòa

Sau khi phá được đại đồn Chí Hòa, quân Pháp chiếm đánh Định Tường (Mỹ Tho), đặt đồn lũy khắp nơi để kiểm soát Triều đình Huế cử phái bộ do Phan Thanh Giản cầm đầu vào nghị hòa và ký hiệp ước Nhâm Tuất (1862) nhường ba tỉnh miền Đông cho Pháp

Trong khi triều đình Huế nhường từng bước trước quân Pháp và sau đó là cắt đất cho Pháp thì phong trào chống Pháp nổi dậy mạnh mẽ trong dân chúng tiêu biểu của buổi khởi đầu chống Pháp là cuộc khởi nghĩa của Trương Định và Võ Duy Dương

Trong khi nhân dân miền Đông đứng lên chống Pháp thì triều đình Huế đã

cử một phái bộ do Phan Thanh Giản làm Chánh sứ, Phạm Phú Thứ làm phó sứ sang Pháp xin chuộc Việc thương thuyết chưa ngã ngũ thì quân Pháp tiến hành cuộc đánh chiếm ba tỉnh miền Tây (6.1867) Lợi dụng sự bạc nhược lúng túng của triều đình Huế, ngày 20/6/1867, quân Pháp kéo đến trước thành Vĩnh Long, ép Phan

Trang 21

Thanh Giản phải nộp thành không điều kiện Chúng còn khuyên ông viết thư cho quan quân hai tỉnh An Giang và Hà Tiên hạ nộp vũ khí

Trong vòng 5 ngày, thực dân Pháp đã chiếm gọn ba tỉnh miền Tây Nam Kì (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) mà không tốn một viên đạn

Sau khi mất ba tỉnh miền Tây, quân triều đình rút khỏi Nam Kỳ, chiến trường ở đây chỉ còn có nhân dân và quân Pháp Tiếp bước theo miền Đông, nhân dân miền Tây đứng lên chống Pháp mà điển hình là các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực và Nguyễn Hữu Huân

* Chiến sự lan rộng ra cả nước Cuộc kháng chiến của nhân dân ta (1873 1884) Nhà Nguyễn đầu hàng

-Sau khi chiếm 6 tỉnh Nam kỳ (1867 - 1873) tình hình kinh tế, xã hội nước ta càng lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng

Về chính trị: nhà Nguyễn tiếp tục chính sách bảo thủ “bế quan tỏa cảng”, không tính đến việc lấy lại 6 tỉnh Nam Kỳ Nội bộ quan lại bước đầu có sự phân hóa giữa bộ phận chủ chiến và chủ hòa

Về kinh tế: Nền kinh tế của đất nước ngày càng bị kiệt quệ vì triều đình huy động tiền để trả chiến phí cho Pháp

Xã hội: Đời sống ngày càng khó khăn, mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt, nhân dân bất bình đứng lên chống triều đình ngày càng nhiều

Một số quan lại có tư tưởng tiến bộ đã đề nghị cải cách, song triều đình không chấp nhận Tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ đã mạnh dạn dâng lên triều đình bản điều trần, bày tỏ ý kiến cải cách duy tân Nhưng do bảo thủ, cố chấp nên triều Nguyễn đã từ chối những đề nghị của ông Nguyễn Trường Tộ xứng đáng được coi

là nhà tư tưởng đổi mới, có hành động thức thời ở nửa sau thế kỷ XIX đầy biến động của Việt Nam

Sau năm 1867 tình hình đất nước không có gì đổi mới, kinh tế không được chấn hưng, quân đội không được cải tiến, khả năng phòng thủ đề phòng Pháp mở rộng tấn công không được tăng cường Sự khủng hoảng trầm trọng kinh tế, xã hội càng làm tăng nguy cơ mất nước, tạo cơ hội cho Pháp mở rộng đánh chiếm cả nước

Trang 22

Lấy cớ giải quyết vụ Đuy-puy đang gây rối ở Hà Nội, thực dân Pháp đem quân ra Bắc Ra đến Bắc, Gác-ni-ê đòi Nguyễn Tri Phương, phải khai phóng sông Hồng Nguyễn Tri Phương không đồng ý với yêu sách ấy, cương quyết đòi Đuy-puy phải rời khỏi sông Hồng

Ngày 19/11/1873 Gác-ni-ê cho nã súng tấn công thành Hà Nội Nguyễn Tri Phương cùng con là Nguyễn Lâm ra sức chỉ huy quân lính chống cự Nhưng chưa đầy một giờ thì thành Hà Nội bị vỡ Nguyễn Lâm tử trận, Nguyễn Tri Phương bị thương nặng Quân Pháp bắt được ông và chiêu dụ nhưng Nguyễn Tri Phương không chịu để cho quân Pháp săn sóc vết thương, nhịn ăn mà chết

Gác-ni-ê chiếm được thành Hà Nội nhưng lực lượng quân sự của Triều đình vẫn còn, do Hoàng Tá Viêm cầm đầu Quân của Hoàng Tá Viêm phối hợp với quân

Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc vây Hà Nội buộc Gác-ni-ê phải đem quân từ Nam Đinh trở về trên đường đi thì bị phục kích giết chết tại Cầu Giấy

Trước cái chết của Gác-ni-ê, phía Pháp đồng ý nghị hòa Nguyễn Văn Tường thay mặt cho Triều đình Huế ký hiệp ước Giáp Tuất (1874), công nhận Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, Pháp đồng ý trả lại Hà Nội và các tỉnh đã bị chiếm ở Bắc Kỳ

Ngày 26/3/1882 Ri-vi-e đem hai pháo thuyền cùng nhiều tàu chiến ra đóng gần Hà Nội rồi đến sáng ngày 25/4, Ri-vi-e gửi tối hậu thư cho Tổng đốc Hà Nội là Hoàng Diệu, đòi phải nộp thành Hoàng Diệu không đầu hàng Quân Pháp công phá thành kịch liệt Trong khi cuộc kháng diễn diễn ra quyết liệt thì kho đạn trong thành

bị bốc cháy, quân sĩ hoang mang, mất thành Hà Nội Để bảo toàn khí tiết Hoàng Diệu chạy vào hành cung thảo di biểu gửi triều đình rồi tuẫn tiết trong vườn Võ Miếu để giữ trọn khí tiết

Sau khi chiếm được Hà Nội, Ri-vi-e cho quân tiếp tục đi chiếm các tỉnh Hòn Gai, Cẩm Phả và Nam Định Vua Tự Đức kêu cứu với nhà Thanh Khoảng 10.000 quân Trung Hoa từ Lưỡng Quảng được điều động đến biên giới Thấy vậy, Toàn quyền Pháp tại Nam Kỳ gửi thêm viện binh cho Ri-vi-e

Nhận được tin quân Thanh can thiệp, Ri-vi-e trở về lại Hà Nội Quân Triều đình của Hoàng Tá Viêm phối hợp cùng toán quân ở Bắc Ninh vây thành Hà Nội

Trang 23

Ri-vi-e đem quân chủ lực định vượt Cầu Giấy phá vòng vây nhưng bị pháo nã chận lại Quân ta xung phong lên cầu giết chết được Ri-vi-e (19/5/1883)

Trong khi mọi việc chưa ngã ngũ thì vua Tự Đức mất (7/1883) quân Pháp

do Đô đốc Courbet cầm đầu, tiến vào đánh Đà Nẵng và tấn công cửa Thuận An Ngày 18/8/1883, quân pháp gửi tối hậu thư cho vua Hiệp Hòa đồng thời công phá thành đồn Thuận Hải Đồn vỡ, các quan giữ thành kẻ tử trận, kẻ tự tử chết

Nghe tin Pháp tấn công Thuận An, cử đại diện là Nguyễn Văn Tường xuống Thuận An xin đình chiến Tranh thủ thái độ mềm yếu của triều đình, Cao ủy Pháp Hác-măng (đại diện cao cấp của Pháp) đi ngay lên Huế đặt điều kiện cho một Hiệp ước mới Triều đình Huế cử Trần Đình Túc và Nguyễn Trọng Hợp đứng ra thương thuyết, ngày 25/8/1883 Hác-măng đưa ra bản Hiệp ước mới buộc triều đình Huế

phải ký kết Thừa nhận sự “bảo hộ” của Pháp trên toàn cõi Việt Nam Nam Kì là thuộc địa Bắc Kì là đất bảo hộ Trung Kì triều đình quản lý Đại diện của Pháp ở Huế trực tiếp điều khiển các công việc ở Trung Kì

Theo các nội dung của Hiệp ước Việt Nam mất quyền tự chủ trên phạm vi toàn quốc, triều đình Huế đã chính thức nhận sự bảo hộ của nước Pháp, mọi công việc chính trị, kinh tế, ngoại giao của Việt Nam đều do Pháp nắm Ở Trung Kì do triều đình cai quản, song trên thực tế đại diện của Pháp, khâm sứ ở Huế trực tiếp điều khiển các công việc ở Trung Kì, viên này có quyền gặp nhà vua bất kỳ lúc nào nếu xét thấy cần thiết

Ký hiệp ước Hác-măng, triều đình Huế coi như đã phản bội lại nhân dân cả nước, mặc dù vậy quân dân ngoài Bắc vẫn quyết tâm kháng chiến đến cùng Lệnh triệt binh của triều đình không ai nghe theo, nhiều trung tâm kháng chiến vẫn tiếp tục hình thành, các toán nghĩa binh do các quan lại chủ chiến đã phối hợp với các lực lượng quân Thanh (kéo sang từ mùa thu năm 1882) liên tiếp khuấy đảo, tiến công quân Pháp gây cho chúng nhiều thiệt ại Tháng 12/1883 Pháp buộc phải tiến hành các cuộc hành binh nhằm tiêu diệt các ổ đề kháng còn sót lại đồng thời tiến hành thương lượng để loại trừ sự can thiệp của nhà Thanh, chính phủ Pháp đã cử Patơnốt sang Việt Nam và cùng triều đình Huế ký một hiệp ước mới vào ngày 6/6/1884, nhằm xoa dịu dư luận và mua chuộc bọn phong kiến Nội dung chủ yếu

Trang 24

như hiệp ước Hác-măng song có sửa chữa một số điều: Trả lại cho nhà Nguyễn 3 tỉnh ở phía bắc là Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Bình Thuận ở phía Nam (theo hiệp ước Hác-măng thì Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh sáp nhập vào Bắc Kì, còn Bình Thuận sáp nhập vào Nam Kì) Nhà Nguyễn chỉ kiểm soát từ đèo Ngang (phía Bắc) đến Khánh Hoà (phía Nam)

* Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong những

năm cuối thế kỉ XIX

Ngay sau khi hiệp ước được ký kết, phong trào chống Pháp nổi lên mạnh mẽ

ở Bắc Kỳ Các tướng của Triều đình như Hoàng Tá Viêm, Trương Quang Đản không chấp nhận việc đầu hàng, liên tiếp tấn công các đồn trại của Pháp ở Bắc Kì Chiến sự xảy ra ác liệt với sự hỗ trợ của quân đội chính quy Trung Hoa

Hòa ước Giáp Thân 1884 mở đầu một giai đoạn rối loạn cho Triều đình Huế Trong Triều đình, phe chủ chiến đứng đầu là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đưa Ưng Lịch, mới 13 tuổi lên làm vua, tức là vua Hàm Nghi

Đêm mồng 4 rạng sáng mồng 5/7/1885 Tôn Thất Thuyết đã chỉ huy các đạo quân chia làm hai cánh tấn công cho quân tấn công vào tòa Khâm sứ, trại lính Pháp

ở Huế Cuộc tấn công thất bại Vua Hàm nghi phải xuất bôn Tôn Thất Thuyết đưa vua ra Quảng Trị rồi đến Nghệ An và đóng bản doanh tại đấy Từ bản doanh, vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, kêu gọi nhân dân khắp nơi nổi lên chống Pháp Thực dân Pháp đưa quân đi càn quét núi rừng Quảng Bình, Nghệ An hòng bắt vua cho được

Đến tháng 11/1886 quân Pháp mua chuộc được Trương Quang Ngọc, chỉ đạo đội quân người Mường có nhiệm vụ bảo vệ vua Trương Quang Ngọc bắt vua dâng cho Pháp Vua bị thực dân Pháp bắt đi đày ở An-giê-ri

Chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi được sự hưởng ứng mạnh mẽ khắp nơi, nhất là trong giới sĩ phu và ngay cả sau khi vua đã bị bắt đi đày rồi

Ở Trung Kỳ, tiêu biểu cho phong trào Cần Vương là cuộc khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng (1860 - 1887)

Trang 25

ở Hà Tĩnh, cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng (1847 - 1895) và Cao Thắng (1864 - 1893) cũng đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử dân tộc Ông xây dựng đồn trại, lập xưởng công binh chế tạo vũ khí Quân Pháp với sự giúp sức đắc lực của Hoàng Cao Khải, nhiều lần dụ ông ra hàng nhưng không được bèn cho quật

mồ tổ tiên ông Cuộc chiến đấu của Phan Đình Phùng kéo dài đến hơn 10 năm Trong một lần bị bao vây, ông bị bệnh và chết

Quân Pháp lại phải đối phó với phong trào Cần Vương ở Bắc Kỳ Nguyễn Thiện Thuật (1844 - 1926) lập chiến khu ở Bãi Sậy, dùng chiến thuật du kích tấn công tiêu diệt các toán quân tuần tiễu, các đồn bót của Pháp

Một cuộc khởi nghĩa lừng lẫy khác là tại Yên Thế do Hoàng Hoa Thám chỉ huy (1858 - 1913) chỉ huy Cuộc khởi nghĩa này làm tiêu hao lực lượng của quân Pháp, không để chúng yên ổn áp dụng chính sách cai trị của mình tại Bắc Ninh, Thái Nguyên Đến tháng 2/1913, khi Đề Thám bị sát hại, phong trao tan rã Quân Pháp phải ra sức đàn áp đến năm 1913 mới diệt được

* Xã hội Việt Nam trong những cuộc khai thác lần thứ nhất của thực dân Pháp

Sau khi căn bản hoàn thành công cuộc bình định Việt Nam bằng quân sự (năm 1896), thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa Việt Nam một cách quy

Mục đích: vơ vét sức người, sức của nhân dân Đông Dương đến tối đa

Nông nghiệp: Ra sức cướp đoạt ruộng đất: ở Bắc Kì, tính đến năm 1902, Pháp chiếm 182.000 ha, ở Nam Kì, Giáo hội chiếm 1/4 ruộng đất

Công nghiệp: chú ý khai thác mỏ để xuất khẩu kiếm lời (năm 1912, sản lượng than gấp 2 lần năm 1903, năm 1911, khai thác hàng vạn tấn quặng các loại) Các ngành công nghiệp nhẹ (không có khả năng cạnh tranh với Pháp) được xây dựng như sản xuất xi măng, gạch, ngói, điện, nước…

Thương nghiệp: độc chiếm thị trường, nguyên liệu và thu thuế (hàng hoá Pháp nhập vào Việt Nam chỉ đánh thuế rất nhẹ, của các nước khác có khi đến 120%), ở Việt Nam chúng đặc biệt đánh thuế rất nặng: thuế muối, thuế rượu, thuế thuốc phiện

Trang 26

Giao thông vận tải: mở mang đường xá, cầu cống, bến cảng… để vận chuyển

và vươn tới các vùng nguyên liệu… (còn để dễ hành quân đàn áp các cuộc nổi dậy của nhân dân)

Tác động:

Về tích cực: Những yếu tố của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa được du nhập vào Việt Nam, so với nền kinh tế phong kiến, có nhiều tiến bộ, của cải vật chất hơn sản xuất được nhiều hơn phong phú hơn

Về tiêu cực: Tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam bị bóc lột cùng kiệt, Nông nghiệp dậm chân tại chỗ, nông dân bị bóc lột tàn nhẫn, bị mất ruộng đất, Công nghiệp phát triển nhỏ giọt, thiếu hẳn công nghiệp nặng

Nền kinh tế Việt Nam cơ bản vẫn là nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, phụ thuộc Cuộc khai thác thuộc địa Việt Nam của thực dân Pháp là một cuộc khai thác triệt để, tàn bạo Dưới tác động của cuộc khai thác đã làm cho nền kinh tế nước ta

có những chuyên biến

Giai cấp địa chủ phong kiến: Từ lâu đã đầu hàng, làm tay sai cho thực dân Pháp, số lượng ngày càng đông lên, địa vị kinh tế và chính trị được tăng cường (dựa vào đế quốc ra sức tước đoạt ruộng đất của nông dân, ngày càng giàu có Do chính sách cai trị của thực dân, giai cấp này thành chỗ dựa của Pháp, được Pháp trọng dụng, nâng đỡ và nắm các chức dịch làng xã)

Giai cấp nông dân: số lượng đông đảo nhất ở vùng nông thôn, dưới tác động của cuộc khai thác lại càng điêu đứng hơn: bị tước đoạt ruộng đất, phải chịu hàng trăm thứ thuếvà các khoản phụ thu của các chức dịch trong làng xã Do vậy, giai cấp nông dân thời kỳ này có nhiều xáo trộn, nhiều nông dân bị phá sản đã: ở lại nông thôn làm tá điền cho địa chủ, đi làm phu cho các đồn điền Pháp, một số ít làm công ở nhà máy, hầm mỏ của tư bản Pháp và Việt Nam

Tầng lớp tư sản: Là các nhà thầu khoán, chủ xí nghiệp, xưởng thủ công, chủ hãng buôn bán… bị chính quyền thực dân kìm hãm tư bản Pháp chèn ép

Tiểu tư sản thành thị: Là chủ các xưởng thủ công nhỏ, cơ sở buôn bán nhỏ, viên chức cấp thấp và những người làm nghề tự do

Trang 27

Công nhân: Xuất thân từ nông dân, làm việc ở đồn điền, hầm mỏ, nhà máy,

xí nghiệp, lương thấp nên đời sống khổ cực, có tinh thần đấu tranh mạnh mẽ chống bọn chủ để cải thiện điều kiện làm việc và đời sống

2.2 Nguyên tắc ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế sơ đồ tư duy phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam (1858 - 1918) ở trường THPT (chương trình chuẩn)

2.2.1 Nắm vững mục tiêu, yêu cầu và nội dung môn học

Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Mục tiêu là cái cần đạt được của công tác dạy học, trong đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đòa tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực tư duy, sáng tạo

Như vậy, để thực hiện được mục tiêu giáo dục cần ứng dụng CNTT vào dạy học để nâng cao hiệu quả môn học CNTT không thể thay thế hoàn toàn phương pháp dạy truyền thống mà CNTT chỉ có vai trò hỗ trợ Điều này có nghĩa là trong dạy học phương pháp truyền thống: sử dụng bảng đen, phấn trắng vẫn được sử dụng phổ biến và rất cần thiết Việc sử dụng sơ đồ tư duy trog dạy học cùng với sự hỗ trợ tối đa của các thiết bị kĩ thuật dạy học nhằm mục đích góp phần là cho quá trình dạy

học đạt hiệu quả cao hơn Vì vậy khi thiết kế cần xác định được “giáo án là bản kế

hoạch của một tiết lên lớp trong đó nêu rõ các bước chủ yếu trong công việc của thầy giáo và học sinh ở trên lớp, đồng thời cũng nêu được một cách vắn tắt nội dung và phương pháp của công việc đó nhằm đạt được mục đích cụ thể rõ ràng mà thầy giáo xác định trước theo yêu cầu của chương trình học” [22, tr114]

Mục tiêu giáo dục Trung học phổ thông là nhằm giúp học sinh củng cố, phát triển những kết quả của giáo dục Trung học cơ sở hoàn thiện học vấn phổ thông và

có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật hướng nghiệp, có điều kiện phát triển

Trang 28

năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề và đi vào cuộc sống lao động

Mục tiêu của môn Lịch sử ở trường THPT là nhằm giúp học sinh có những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc cũng như lịch sử thế giới, góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu nước, yêu quê hương, giữ gìn những truyền thống dân tộc, bồi dưỡng các năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội

Mỗi bài học lịch sử có một đầu đề nhất định, phản ánh nội dung cơ bản của

nó và nhằm đạt một mục tiêu nhất định Mục tiêu của bài học lịch sử chính là cái đích phải đạt đến mức độ được quy định, là “sự cam kết” của thầy và trò trong dạy học

“Mục tiêu được xác định đúng là cơ sở để giáo viên lựa chọn tài liệu lịch sử của bài - những sự kiện lịch sử cụ thể, những biểu tượng, khái niệm, xác định mức

độ trình bày các sự kiện, hiện tượng hợp lí, có hiệu quả, tiến hành việc giáo dục tư tưởng đạo đức, rèn luyện kĩ năng cho học sinh Đồng thời, việc xác định rõ ràng, chính xác mục tiêu bài học giúp giáo viên lựa chọn một cách hợp lí, đúng đắn các hình thức, phương pháp, phương tiện dạy học để đạt hiệu quả cao nhất” [7, tr23]

Mục tiêu của từng bài góp phần thực hiện một phần mục tiêu chung của chương hay cả khóa trình và môn học, bởi vì mỗi bài là một bộ phận của chương, toàn khóa trình, toàn môn học

Qua mục tiêu bài học sẽ cung cấp đầy đủ kiến thức cho học sinh, ngoài ra còn bồi dưỡng thái độ, tình cảm Đồng thời, rèn luyện cho các em kĩ năng tư duy, phân tích

Việc ứng dụng CNTT để thiết kế sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử phải căn

cứ và mục tiêu, nội dung chương trình và bài học Bởi sử dụng CNTT là phương pháp dạy học để hình thành nâng cao hiệu quả bài học, dùng những phần mềm để thiết kế sơ đồ tư duy, thông qua đó giúp học sinh nắm vững kiến thức bài học, hình thành khả năng tư duy Điều quan trọng là cần lựa chọn, xác định nội dung của một

số bài cụ thể để có thể thiết kế sơ đồ tư duy

Trang 29

Để thiết kế sơ đồ tư duy cần phải dựa trên cơ sở sự kiện cơ bản, chính xác, trình bày thông tin như thế nào để không lặp lại một cách khô khan Phương pháp giảng dạy nhằm phát triển tư duy là biện pháp quan trọng để chống quá tải, nhồi nhét kiến thức, thậm chí những kiến thức không phù hợp với trình độ học sinh mà không nâng cao chất lượng học tập, chủ yếu là năng lực tư duy của học sinh Dựa vào mục đích của từng bài học mà lựa chọn đơn vị kiến thức cơ bản phù hợp để thiết kế sơ đồ tư duy

Ví dụ như bài 19 “Nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp xâm lược (Từ năm 1858 đến trước năm 1873)”, khi dạy phần tình hình Việt Nam đến giữa thế

kỉ XIX trước khi thực dân Pháp xâm lược Sử dụng sơ đồ tư duy để cho học sinh thấy được tình hình về chính trị, kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp, quân sự, xã hội, qua đó khắc họa sâu sắc kiến thức cho các em, đồng thời phát huy được khả năng tư duy

2.2.2 Đảm bảo tính khoa học

Trong nghiên cứu và học tập lịch sử cũng như các khoa học khác, tính chính xác là một yêu cầu chung Trong một ý nghĩa nhất định, tính khoa học đồng nghĩa với tính chính xác Các môn khoa học, trong đó có Lịch sử, đòi hỏi sự chính xác về tài liệu, sự kiện, quan điểm phương pháp luận Mặt khác, khi nghiên cứu, học tập tính khoa học luôn gắn liền với tính tư tưởng Tính tư tưởng của chúng ta là tính Đảng vô sản Để qua đó biến công tác dạy học lịch sử trở thành một công cụ đấu tranh chống lại những quan điểm xuyên tạc, sai lầm, làm ảnh hưởng đến Đảng, dựa trên mục tiêu bài học tránh sai lệch kiến thức chuẩn

Sơ đồ tư duy là phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh,

vì vậy, khi thiết kế sơ đồ tư duy cần đảm bảo tính khoa học Tính khoa học được thể hiện qua việc lựa chọn những sự kiện cơ bản, chính xác nhất, rõ nhất để tạo điều kiện hình thành cơ sở cho học sinh hiểu biết lịch sử

Trang 30

Ví dụ khi dạy bài 21 phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong những năm cuối thế kỉ XIX, trong phần một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu trong phong trào đấu tranh tự vệ cuối thế kỉ XIX

Sử dụng bản đồ tư duy để dạy cho phần này, thông qua đó học sinh có thể hiểu những nội dung cụ thể về các phong trào thông qua sự tìm hiểu tất cả phong trào, lãnh đạo, địa bàn, hoạt động, kết quả, ý nghĩa của từng phong trào, chia nhóm

và cho học sinh tự vẽ sơ đồ tư duy để thông qua sự tìm hiểu các em thấy được tính chất của các phong trào yêu nước thời kì này

2.2.3 Đảm bảo tính trực quan

Thể hiện ở việc sắp xếp các đường liên hệ rõ, đẹp, bố trí hình khối cân đối,

có thể dùng kí hiệu, màu sắc, đường nét đậm nhạt để nhấn mạnh những nội dung quan trọng Khi thiết kế sơ đồ tư duy phải hướng đến mục đích là sử dụng sơ đồ tư duy giảng dạy cho học sinh nên sơ đồ tư duy phải linh hoạt, sáng tạo phù hợp với từng nội dung, từng đối tượng giảng dạy Giáo viên phải lựa chọn phương pháp dạy hợp lí, mà sử dụng sơ đồ tư duy đáp ứng yêu cầu về trực quan

Ví dụ khi dạy bài 20 chiến sự lan rộng ra toàn quốc cuộc kháng chiến của nhân dân ta từ năm 1873 đến năm 1884 Nhà nguyễn đầu hàng khi dạy phần tình hình Việt Nam trước khi Pháp đánh Bắc Kì lần thứ nhất, sử dụng bản đồ tư duy để trình bày cụ thể tình hình Việt Nam, thông qua đó học sinh nắm vững kiến thức về nội dung này, đồng thời đó cũng là nguyên nhân Pháp đánh chiếm Bắc Kì

2.2.4 Đảm bảo tính thẩm mĩ

Khi học lịch sử, học sinh phải khôi phục những điều đã qua, không tái diễn trở lại Vì vậy, phải tạo được hình ảnh về sự kiện, con người trong quá khứ Vì vậy, khi thiết kế sơ đồ tư duy cần chú ý đến lứa tuổi, đặc điểm môn học để thiết kế cho phù hợp, đảm bảo tính thẩm mĩ, những phát triển nhận thức, tư duy về cái đẹp, mang lại hiệu quả cho tiết học, thu hút học sinh hứng thú với môn học Cùng với lời nói là sự kết hợp hình ảnh, sơ đồ, giúp học sinh định hình được kiến thức đồng thời cái đẹp và sự chân thực của lịch sử mà sơ đồ tư duy mang lại

Mặc dù là phải đảm bảo tính thẩm mĩ nhưng bài học cũng phải đảm bảo tính

Trang 31

tải Đặc biệt khi thiết kế sơ đồ tư duy trên phần mềm thì không nên lạm dụng màu sắc, hình ảnh, chuyển động, hiệu ứng vì những lạm dụng đó sẽ làm mất hiệu quả tiết học, làm học sinh mất chú ý nội dung cần khai thác và không đạt hiệu quả sư phạm

Ví dụ khi dạy bài 20 chiến sự lan rộng ra cả nước Cuộc kháng chiến của nhân dân ta từ năm 1873 đến năm 1884 Nhà Nguyễn đầu hàng, trong phần nhân dân Hà Nội và các tỉnh Bắc Kì kháng chiến Ngay từ khi Pháp đến Hà Nội đã vấp phải cuộc kháng chiến của quan quân và nhân dân, sơ đồ tư duy kết hợp với hình ảnh để qua đó học sinh hình dung một cách cụ thể, sinh động về nội dung này

2.2.5 Phát huy tính tích cực của học sinh

Hiện nay quan niệm sai lầm cho rằng “Học sử chỉ cần nhớ chứ không cần suy nghĩ ” Chính quan niệm và cách học này làm tê liệt sự thông minh sáng tạo và hứng thú học tập của học sinh Vậy cần phải áp dụng phương pháp dạy học mới để thay đổi quan niệm sai lầm đồng thời phát huy tính tích cực của học sinh Để làm được điều này cần đổi mới về nội dung, phương pháp,… Việc ứng dụng CNTT

để thiết kế sơ đồ tư duy phục vụ dạy học lịch sử sẽ giúp cho bài học đạt hiệu quả cao, có sự tương tác cao giữa thầy và trò, từ đó rèn luyện được cho học sinh khả năng tư duy, sử dụng CNTT vào việc học để khai thác triệt để nội dung bài học, đồng thời ứng dụng một số phần mềm để vẽ sơ đồ tư duy, thông qua quá trình đó sẽ giúp học sinh học tốt hơn và ngày càng yêu thích môn học

Ví dụ khi dạy bài 20 chiến sự lan rộng ra toàn quốc cuộc kháng chiến của nhân dân ta từ năm 1873 đến năm 1884 khi dạy phần quân Pháp đánh chiếm Hà Nội

và các tỉnh Bắc Kì lần thứ hai (1882 - 1883) để phát huy tính tích cực của học sinh giáo viên có thể cho các em tự vẽ sơ đồ tư duy để nhận thức để thấy nguyên nhân

mà Pháp tấn công Bắc Kì lần thứ hai Đồng thời đánh giá đúng trách nhiệm của triều đình Huế trong giai đoạn này

2.3 Quy trình ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế sơ đồ tư duy phục vụ dạy học Lịch sử Việt Nam (1858 - 1918) ở trường THPT (chương trình chuẩn)

2.3.1 Một số phần mềm để tạo sơ đồ tư duy

2.3.2.1 Phần mềm iMindMap

Trang 32

Sơ đồ tư duy là một dạng sơ đồ đi từ ý chính, lớn nhất rồi phát triển ra các ý nhỏ giống Và để thiết kế được một sơ đồ tư duy, chúng ta có thể sử dụng iMindMap để làm việc đó Phần mềm iMindMap giúp tạo ra các sơ đồ tư duy để phục vụ quá trình giảng dạy Buzan’s iMindMap là một công cụ sáng tạo mang lại

sự linh hoạt, thân thiện thị giác và tư duy của não Là công cụ duy nhất được chính thức xác nhận bởi Tony Buzan, người phát minh của MindMap, nó cho phép ta lập

kế hoạch công việc, tạo liên kết hệ thống kiến thức giúp hỗ trợ dạy học, hỗ trợ giao tiếp, giải quyết vấn đề

iMindMap làm tăng sự phát triển và tư duy của não bộ, bởi vì trong cuộc sống hiện đại ngày nay sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin, các máy móc hiện đại đã đi vào cuộc sống vì vậy việc học hành không phải cứ chăm chỉ là

có tiến bộ tốt, mà cần phải được hỗ trợ bởi công nghệ một cách đúng mực iMindMap được đánh giá là công cụ tuyệt vời để thiết kế một bản đồ tư duy thể hiện các ý tưởng, hiện thực hóa suy nghĩ, kế hoạch, dự án trên giấy Phần mềm này được viết ra bởi Tony Buzan, tác giả nổi tiếng chuyên khai thác những bản đồ tư duy giúp con người sáng tạo và làm việc hiệu quả hơn iMindMap giúp bạn phác họa tư duy bằng các hình ảnh và ký tự, áp dụng cho quá trình nhận thức hỗ trợ việc ghi nhớ, phân tích, đây là một loại bản đồ kết hợp giữa hình ảnh và màu sắc, đi kèm với việc sử dụng các từ khóa để thể hiện mối liên kết giữa các ý tưởng

iMindMap tạo nên một luồng gió mới đến hàng trăm triệu người trên thế giới, làm thay đổi tư duy, phong cách làm việc của họ, giúp con người hiện thực hóa, khai thác các ý tưởng mới, kích thích sự sáng tạo ở con người Phần mềm vẽ sơ

đồ tư duy iMindMap cung cấp hàng trăm mẫu hình ảnh có sẵn và bạn chỉ cần lựa chọn một hình ảnh phù hợp cho các ý tưởng trung tâm đến các nhánh con khác nhau Khi sử dụng iMindMap, chúng ta có thể dễ dàng thiết kế bản đồ tư duy nhờ giao diện trực quan: có thể di chuyển chuột đến nhiều vị trí, lựa chọn các gợi ý trên vòng tròn 5 phần, sử dụng công cụ Mind Map View hoặc Brainstorm View cho việc xây dựng ý tưởng, chuyển đổi ý tưởng thành kế hoạch

iMindMap hỗ trợ thiết kế bản đồ trong không gian 3D với các hình vẽ mang

Trang 33

tin trực quan hơn Người dùng có thể xuất bản đồ ra nhiều định dạng khác nhau như PDF, JPEG để chia sẻ lên mạng Hiện phần mềm đã và đang được sử dụng nhiều trong các tổ chức nổi tiếng như NASA, Walt Disney, Microsoft, Pepsi, IBM… đồng thời cũng là công cụ hỗ trợ doanh nhân nâng cao hiệu quả công việc mọi lúc mọi

nơi Với phần mềm này phù hợp để giáo viên khi thiết kế sơ đồ tư duy để dạy học

2.3.2.2 Phần mềm Edraw Mind Map

Edraw Mind Map là ứng dụng giúp bạn tạo sơ đồ tư duy rất dễ dàng và nhanh chóng, đồng thời hỗ trợ xây dựng, lưu, chia sẻ, in ấn các sơ đồ được tạo Đây

là cách thức để bạn thể hiện các ý tưởng hoặc phác thảo cấu trúc cơ bản của một vấn đề, kế hoạch dự án mà mình đang thực hiện Phần mềm này cung cấp hầu hết các tính năng đáp ứng mọi yêu cầu mà bạn cần, xứng đáng được gọi là một chương trình hoàn hảo

Edraw Mind Map cung cấp các mẫu sơ đồ có sẵn để người dùng tham khảo hoặc bạn cũng có thể sử dụng các công cụ từ phần mềm để tạo một sơ đồ tư duy mới Nếu bạn đang ấp ủ một kế hoạch, dự án trong công việc hay đơn giản chỉ là một suy nghĩ, tư tưởng cá nhân, bạn có thể dùng phần mềm để xây dựng nó ngay lập tức Chương trình cho phép bạn hình dung và sắp xếp các ý tưởng một cách nhanh chóng, khoa học để tạo thuận lợi hơn khi bước vào thực hiện trên thực tế So với một số phần mềm có cùng chức năng, chẳng hạn như XMind thì ứng dụng này khá phong phú về các mẫu bản đồ (có đến 600 mẫu biểu đồ có sẵn) Ưu điểm của XMind có khả năng tạo nhiều loại bản đồ khác nhau, xuất dữ liệu bản đồ dưới nhiều định dạng và chia sẻ bản đồ trực tuyến cho những người liên quan

Edraw Mind Map cũng tích hợp nhiều hiệu ứng, chủ đề có sẵn để người dùng thoải mái lựa chọn, kết hợp với các hướng dẫn vẽ sơ đồ thông minh dễ hiểu, do đó

mà bạn sẽ thấy những sơ đồ vốn phức tạp trở nên đơn giản hơn nhiều Bạn cũng có thể tạo ra những sơ đồ có kích thước lớn, với nhiều tùy chọn khác nhau như sơ đồ dạng khái niệm, bản đồ, bong bóng Trong quá trình vẽ sơ đồ, người dùng được phép tự do tùy chỉnh chọn nền, viền, màu sắc, font chữ Đặc biệt, phần mềm này đi kèm với nhiều liên kết dữ liệu trực tuyến và các trang Mind Map Mindjet MindManager cũng là một phần mềm tạo sơ đồ tư duy mang đặc điểm này, Mindjet

Trang 34

MindManager giúp bạn nhập dữ liệu trực tiếp từ các công cụ tìm kiếm trực tuyến rất

dễ dàng

Người dùng có thể tìm thấy ở Edraw Mind Map hầu hết các ký tự, màu sắc, biểu tượng cần thiết để tích hợp vào sơ đồ tư duy, cùng với hệ thống màu sắc được

đa dạng hóa để bạn đánh dấu và phân biệt các chủ đề Bạn sẽ thấy những lợi ích khi

ý tưởng được phác họa cụ thể, các dự án kế hoạch được vẽ ra trước mắt để bạn có một định hướng thực hiện tốt hơn Hơn hết, đây là một phần mềm giúp bạn khơi nguồn sáng tạo và có động lực để tạo nên nhiều thành công trong cuộc sống

Edraw Mind Map là một phần mềm mới ra đời nên theo đánh giá của nhiều người, nó hội tụ được nhiều ưu điểm của những phần mềm đi trước và cách vẽ sơ

đồ tư duy bằng Edraw Mind Map cũng khá đơn giản Trong khi tạo biểu đồ, chương trình cung cấp tính năng tự động sắp xếp các dữ liệu, chèn nhiều chủ đề cùng lúc để hoàn thành biểu đồ tư duy nhanh hơn Bạn cũng được nhúng vào bản vẽ của mình các thành phần như văn bản Word, bảng tính và biểu đồ Excel, các công thức toán học nằm trong bộ Microsoft Office Ngoài ra, với sự liên kết với các ứng dụng Microsoft Office, người dùng chia sẻ dễ dàng hơn các tác phẩm của mình tới người khác

bá kiến thức cho học sinh

PowerPoint là một chương trình đồ họa diễn hình, cho phép người dùng thiết

kế các slide shown có thể trình chiếu trên màn hình máy tính với máy chiếu Projector

Presentation: Là sản phẩm được tạo ra từ Microsoft PowerPoint Trong mỗi Presentation cũng bao gồm các slide, chúng được sắp xếp theo một trình tự nhất

Trang 35

Slide: Chưa đựng các thông tin trình diễn Mỗi slide có thể chứa nhiều loại thông tin khác nhau như chữ, hình ảnh, tranh vẽ, âm thanh… Trong quá trình trình diễn thông tin, các slide có thể được xuất hiện một cách tự động hay tuân theo sự điều khiển của người dùng

Với khả năng chứa đựng nhiều dạng thông tin trong một slide, các hiệu ứng kết hợp với khả năng tương tác từng đối tượng trong slide…, phần mềm này khá phù hợp trong việc giảng dạy của giáo viên nhằm nâng cao chất lượng dạy và học

Đặc trưng của bộ môn lịch sử là mang tính quá khứ và không lặp lại, do đó quá trình dạy học yêu cầu giáo viện phải tái hiện được cho học sinh nội dung kiến thức một cách chính xác, chân thực, hệ thống Để làm được điều này yêu cầu người giáo viên cần cố những biện pháp, phương pháp phù hợp, trong đó sử dụng phần mềm Microsoft PowerPoint để thiết kế sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử đóng vai trò hết sức quan trọng Bên cạnh đó, trong điều kiện hiện nay với sự phát triển mạnh

mẽ của CNTT Việc ứng dụng một số phần mềm tin học như: Microsoft PowerPoint, iMind Map, Edraw Mind Map, Open Mind… đặc biệt phần mềm Microsoft PowerPoint dùng để thiết kế sơ đồ tư duy nhằm hỗ trợ cho việc dạy học trở nên phổ biến

2.3.2.4 Phần mềm Open Mind

Open Mind là phần mềm hỗ trợ người dùng vẽ sơ đồ tư duy để thể hiện các

suy nghĩ và ý tưởng của mình rất nhanh chóng và đơn giản nhờ các công cụ thiết kế trực quan, tùy chỉnh dễ dàng Trong quá trình làm việc, ứng dụng giúp bạn tự động kiểm tra lỗi chính tả, tính năng tìm kiếm, trình hướng dẫn tạo bản độ, trình hướng dẫn danh sách, các phong cách đường kẻ Phần mềm này hỗ trợ đính kèm nhiều định dạng tập tin vào sơ đồ, bảo vệ dữ liệu bản đồ bằng mật khẩu an toàn

Open Mind có giao diện được đánh giá và đơn giản, được thiết kế để tối ưu hóa các thao tác cho người dùng Những người chưa có nhiều kinh nghiệm cũng có thể sử dụng phần mềm khá nhanh chóng, phục vụ cho học tập hoặc công việc của mình Ứng dụng cung cấp cho bạn các hộp chưa ý tưởng dạng bong bóng, đồng thời kết nối các ý tưởng dễ dàng tạo nên một bản đồ hoàn thiện Để vẽ sơ đồ tư duy, bạn chỉ cần sử dụng thao tác kéo thả các bong bóng ý tưởng đến vị trí phù hợp, đồng

Trang 36

thời thay đổi kích thước, màu sắc sao cho tương thích với kích thước chung của sơ

đồ Ngoài sơ đồ tư duy, công cụ này còn giúp bạn tạo các loại biểu đồ dạng cấu trúc, bản đồ hình tròn, biểu đồ hình con nhện và một số dạng biểu đồ khác

Nói đến phần mềm tạo bản đồ tư duy, phải nói đến những cái tên như Edraw Mind Map Trong đó, Edraw Mind Map tích hợp sẵn hàng trăm mẫu sơ đồ có sẵn

và bạn chỉ có nhiệm vụ lựa chọn và nếu bạn cần một công cụ thiết kế đơn giản thì đây là lựa chọn phù hợp

Open Mind cho phép người dùng đính kèm các tập tin định dạng bảng tính, ảnh, video và các tệp cài đặt từ máy tính lên sơ đồ đang vẽ dưới hình thức nhúng hoặc dẫn liên kết Sau khi tạo xong sơ đồ tư duy, người dùng có thể mã hóa các tập tin của mình bằng các thuật toán an toàn MD5 và DES đồng thời khóa chúng bằng các mật khẩu Ưu điểm của phần mềm này là tích hợp trình hướng dẫn tạo biểu đồ với các loại biểu đồ tròn, biểu đồ đường, biểu đồ cột nhằm thể hiện các thông tin theo cách dễ hiểu nhất Một tính năng khác cũng khá thú vị là khả năng tự động kiểm tra lỗi chính tả, gạch chân đánh dấu để người dùng chỉnh sửa, hỗ trợ trên 20 từ điển khác nhau

2.3.2 Cài đặt phần mền iMind Map

Do iMind Map là phần mềm không có sẵn trong máy tính nên muốn sử dụng phần mềm này người dùng cần tải về máy tính để thuận tiện trong việc sử dụng Hiện nay, CNTT rất phổ biến muốn tải phần mềm iMind Map không mấy khó khăn,

để sử dụng phần mềm người dùng cần cài cho mình phần mềm iMind Map để có thể cập nhật phiên bản tiện lợi và dễ sử dụng nhất

Trên các trang mạng hiện nay có rất nhiều phần mềm iMind Map, để tải về máy tính phần mềm tốt nhất cho việc sử dụng Chúng ta truy cập vào trang http://taimienphi.vn/download-imindmap-15839 sau đó tiến hành cài đặt phần mềm vào máy tính

* Bước 1: Từ cửa sổ Windows bạn chọn Start => Chọn All Programs => Chọn iMind Map => Nhấp chuột lên iMind Map

Trang 37

* Bước 2: Lưu trình diễn: Để thuận tiện cho quá trình thiết kế sơ đồ tư duy hay soạn bài giảng bằng iMind Map, khi iMind Map được mở nên chọn lưu file trước để đảm bảo không bi mất đi khi gặp sự cố

Sau khi cài xong phần mềm iMind Map, bắt đầu chạy phần mềm Có nhiều cách khởi động iMind Map nhưng để dễ dàng và thuận tiện nên thực hiện theo các bước sau:

* Bước 1: Mở iMind Map: kích chuột vào Start, chọn bảng Start xuất hiện

=> Chọn All Programs => Chọn iMind Map (Ngoài ra chúng ta có thể nháy đáy chuột vào biểu tượng iMind Map trên màn hình máy tính)

* Bước 2: Chọn iMind Map:

Căn cứ vào nội dung cần thiết kế sơ đồ mà chọn Mind map cho thích hợp Chọn trên iMind Map => Chọn sơ đồ => Nhấn Start

2.4 Hệ thống sơ đồ tư duy được sử dụng để dạy học lịch sử Việt Nam (1858 - 1918) ở trường THPT (chương trình chuẩn)

- Cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Kì sau hiệp ước 1862

Sử dụng phần mềm iMindMap

để thiết kế các sơ đồ tư duy, qua

sơ đồ đó HS có thể hệ thống một cách cụ thể toàn bộ nội dung bài học

Thông qua đó giúp HS hiểu được bản chất xâm lược và thủ đoạn tàn bạo của chủ nghĩa thực dân

Đánh giá đúng mức nguyên nhân và trách nhiệm của triều đình phong kiến nhà Nguyễn trong việc tổ chức kháng chiến Qua đó giáo dục lòng yêu nước,

Trang 38

lòng tự tôn dân tộc cho HS (Xem phụ lục 8)

Kháng chiến lan rộng ra Bắc Kì

- Thực dân Pháp tiến đánh Bắc Kì lần thứ hai Cuộc kháng chiến ở Bắc Kì và Trung Kì trong những năm

1882 - 1884

- Thực dân Pháp tấn công cửa biển Thuận An Hiệp ước 1883 và hiệp ước 1884

Sử dụng phần mềm iMindMap

để thiết kế các sơ đồ tư duy thể hiện quá trình Pháp đánh chiếm Bắc Kì qua hai lần, cuộc kháng chiến của nhân dân và hai bản hiệp ước mà triều đình Huế đã

kí với Pháp

Để từ đó đánh giá đúng mức trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để mất nước

Sử dụng phần mềm iMindMap

để thiết kế các sơ đồ tư duy về hoàn cảnh phong trào đấu tranh

vũ trang chống Pháp cuối thế kỷ XIX, trong đó có cuộc khởi nghĩa Cần Vương và các cuộc khởi nghĩa tự vệ, hiểu được diễn biến cơ bản của một số khởi nghĩa tiêu biểu: Ba Đình, Bãi Sậy, Hương Khê, Yên Thế Qua đó HS có thể thấy được lòng yêu nước của cha ông, đồng thời giáo dục cho HS lòng yêu nước, ý chí đấu tranh giải phóng dân tộc

Ngày đăng: 11/05/2021, 21:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w