1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch trên sông cu đê thành phố đà nẵng

82 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch trên sông cu đê, thành phố đà nẵng
Tác giả Nguyễn Duy Việt
Người hướng dẫn Th.S Tăng Chánh Tín
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Cử nhân Việt Nam học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2017
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 2,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (7)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (8)
  • 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu (10)
  • 4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu (10)
  • 5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu (11)
  • 6. Đóng góp của đề tài (12)
  • 7. Bố cục đề tài (12)
  • CHƯƠNG 1: NHỮNG VẦN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN (13)
    • 1.1. Một số khái niệm về du lịch (13)
      • 1.1.1. Khái niệm về du lịch (13)
      • 1.1.2. Tài nguyên du lịch (15)
      • 1.1.3. Loại hình du lịch (15)
    • 1.2. Các nguyên tắc cơ bản của hoạt động du lịch (18)
    • 1.3. Một số loại hình du lịch phổ biến hiện nay (19)
    • 1.4. Tổng quan về thành phố Đà Nẵng (20)
      • 1.4.1. Đặc điểm tự nhiên (20)
      • 1.4.2. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển (23)
      • 1.4.3. Đặc điểm kinh tế xã hội (27)
  • CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG KHAI THÁC DU LỊCH TRÊN SÔNG CU ĐÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG (32)
    • 2.1. Đôi nét về dòng sông Cu Đê, thành phố Đà Nẵng (32)
      • 2.1.1. Ý nghĩa tên gọi (32)
      • 2.1.2. Đặc điểm tự nhiên (34)
      • 2.1.3. Đặc điểm thủy văn (36)
      • 2.2.1. Tiềm năng về tài nguyên du lịch (39)
      • 2.2.2. Tiềm năng về nguồn nhân lực (40)
      • 2.2.3. Tiềm năng về hệ thống chính sách, quy hoạch phát triển du lịch (42)
    • 2.3. Thực trạng tổ chức hoạt động du lịch trên sông Cu Đê, thành phố Đà Nẵng (43)
      • 2.3.1. Các tuyến điểm du lịch trên sông Cu Đê (43)
      • 2.3.2. Tình hình khách du lịch và doanh thu (45)
      • 2.3.3. Hiện trạng khai thác, đầu tư cơ sở hạ tầng (46)
      • 2.3.4. Công tác truyền thông, quảng bá du lịch (47)
      • 2.3.5. Chính sách đầu tư, phát triển của chính quyền địa phương (48)
  • CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN SÔNG CU ĐÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG (49)
    • 3.1. Định hướng của địa phương với phát triển du lịch trên sông Cu Đê, thành phố Đà Nẵng (49)
    • 3.2. Các loại hình du lịch có thể khai thác trên sông Cu Đê (52)
      • 3.2.1. Loại hình du lịch sinh thái (52)
      • 3.2.2. Loại hình du văn hóa lịch sử (54)
    • 3.3. Giải pháp phát triển du lịch trên sông Cu Đê, thành phố Đà Nẵng . 50 1. Giải pháp về quy hoạch du lịch (56)
      • 3.3.2. Giải pháp đẩy mạnh hoạt động xúc tiến du lịch, mở rộng thị trường (58)
      • 3.3.3. Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao (60)
      • 3.3.4. Giải pháp xây dựng chương trình du lịch, sản phẩm lưu niệm (63)
      • 3.3.5. Giải pháp bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh du lịch (67)

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Thành phố Đà Nẵng nổi bật với địa hình độc đáo và bờ biển dài hơn 60km cùng những bãi biển tuyệt đẹp Nơi đây được bao bọc bởi dãy Trường Sơn hùng vĩ và bán đảo Sơn Trà, tạo nên vẻ đẹp riêng biệt Đèo Hải Vân, được mệnh danh là “thiên hạ đệ nhất hùng quan”, mang đến khung cảnh biển ngoạn mục và những khúc đường hiểm trở Ngũ Hành Sơn với năm ngọn núi Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là điểm đến lý tưởng cho những ai yêu thích khám phá hang động và chùa chiền Ngoài ra, dãy núi Phước Tường và các ngọn núi quanh co dọc sông Cu Đê tạo nên cảnh sắc thiên nhiên tuyệt mỹ, với độ cao từ 600 đến 1487m tại Bà Nà.

Khu vực phía Tây Đà Nẵng nổi bật với những ngọn núi cao và dòng sông Cu Đê uốn lượn, tạo nên một khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp Nơi đây sở hữu hệ sinh thái phong phú và môi trường trong lành, gần gũi với các khu du lịch sinh thái hấp dẫn như suối Hoa, Hòa Phú Thành, Suối Mơ, suối nước khoáng Thần Tài và Bà Nà Hill Với nguồn tài nguyên du lịch đa dạng, việc phát triển du lịch nghỉ dưỡng kết hợp với du lịch sinh thái, đặc biệt là du lịch đường sông Cu Đê, đang trở thành xu hướng nổi bật tại thành phố Đà Nẵng.

Lê Thị Ánh Trinh, Nguyễn Thị Cẩm Tú, Phạm Thị Thanh Trang và Nguyễn Thị Trúc Phương, sinh viên lớp 09 CVNH, Khoa Lịch Sử, Trường Đại Học Sư phạm - ĐHĐN, đã tiến hành nghiên cứu thực trạng du lịch thuyền tại thành phố Đà Nẵng Họ nhận định rằng du lịch đường sông là một loại hình mới mẻ, có tiềm năng lớn trong việc thúc đẩy nền kinh tế địa phương phát triển.

Dựa trên những nghiên cứu trước đây, đề tài “Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch trên sông Cu Đê, thành phố Đà Nẵng” nhằm khai thác tiềm năng du lịch tại khu vực này Mục tiêu là đưa ra các giải pháp hợp lý để phát triển du lịch, đa dạng hóa và liên kết các loại hình du lịch, từ đó thúc đẩy sự phát triển toàn diện cho khu vực trong hiện tại và tương lai.

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu Đề tài này nguyên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng việc khai thác du lịch trên sông Cu Đê, thành phố Đà Nẵng

Để phát triển du lịch trên sông Cu Đê, thành phố Đà Nẵng cần xây dựng các tour du lịch đường sông hiệu quả, đồng thời đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển du lịch và bảo vệ môi trường tự nhiên, nhằm mang lại nguồn lợi cho thành phố.

Nghiên cứu cơ sở lý luận về du lịch, sản phẩm du lịch và du lịch trên sông là cần thiết để hiểu rõ hơn về ngành này Bài viết sẽ phân tích thực trạng và tiềm năng phát triển du lịch trên sông Cu Đê, thành phố Đà Nẵng Đồng thời, sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển và khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch sông, góp phần nâng cao giá trị kinh tế và bảo tồn môi trường.

Cu Đê, thành phố Đà Nẵng.

Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là thực trạng việc phát triển du lịch trên sông Cu Đê, thành phố Đà Nẵng

Bài viết này tập trung vào việc phân tích thực trạng du lịch trên sông Cu Đê, thành phố Đà Nẵng, từ đó đề xuất các giải pháp và định hướng chiến lược nhằm phát triển du lịch bền vững tại khu vực này.

Không gian: đề tài này được nghiên cứu trong phạm vi sông Cu Đê, thành phố Đà Nẵng

Hiện trạng khai thác và phát triển du lịch trên sông Cu Đê, thành phố Đà Nẵng đang được đánh giá, từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả du lịch tại khu vực này trong thời gian tới.

Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này, tác giả đã tiếp cận đa dạng nguồn tư liệu, bao gồm sách báo, bài viết về du lịch trên sông, và các trang web điện tử Thông qua các phương tiện truyền thông và internet, tác giả đã thu thập thông tin cần thiết để đảm bảo nội dung phong phú và chính xác.

Tư liệu thành văn về du lịch trên sông bao gồm sách chuyên ngành, các công trình nghiên cứu, bài viết trong sách, báo, tạp chí, và các văn bản pháp lý liên quan Những tài liệu này cung cấp thông tin quan trọng và có giá trị cho việc nghiên cứu và phát triển du lịch bền vững trong lĩnh vực này.

Tư liệu điền dã đóng vai trò quan trọng trong việc thành công của đề tài, vì nó được thu thập từ các cuộc gặp gỡ với sở ban ngành và lãnh đạo địa phương Qua những tiếp xúc thực tế, tác giả có được cái nhìn chính xác và sâu sắc hơn về các vấn đề liên quan đến đề tài.

Phương pháp khảo sát thực tế là phương pháp chính trong nghiên cứu đề tài, giúp thu thập dữ liệu và thông tin chính xác và thuyết phục hơn Phương pháp này còn cho phép kiểm tra tính xác thực của tài liệu đã được nghiên cứu.

Để hoàn thành đề tài, cần thu thập và tổng hợp nhiều nguồn tư liệu từ các ban ngành liên quan Việc lựa chọn nguồn tư liệu phù hợp là rất quan trọng cho nội dung nghiên cứu Sau khi thu thập, cần tiến hành phân tích để xác định tính toàn vẹn và phát hiện mối quan hệ giữa các vấn đề liên quan đến đề tài.

Để đảm bảo hiệu quả trong quá trình nghiên cứu, việc thống kê và xử lý các số liệu, tư liệu thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau là rất cần thiết, đặc biệt khi chúng có độ dài và chất lượng không đồng nhất.

Đóng góp của đề tài

6.1 Về mặt khoa học Đề tài góp phần vào việc nghiên cứu có hệ thống loại hình du lịch trên sông tại sông Cu Đê, thành phố Đà Nẵng

Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin quan trọng cho các nhà làm du lịch, giúp họ đưa ra các chính sách đầu tư và khai thác hợp lý Điều này không chỉ mang lại lợi ích cho người dân địa phương mà còn gửi gắm thông điệp về ý thức bảo tồn giá trị môi trường tự nhiên cho du khách.

Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu,kết luận, phần phụ lục và tài liệu tham khảo, bố cục khóa luận được chia làm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Chương 2: Tiềm năng và thực trạng khai thác du lịch trên sông Cu Đê, thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác du lịch trên sông

Cu Đê, thành phố Đà Nẵng.

NHỮNG VẦN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Một số khái niệm về du lịch

1.1.1 Khái niệm về du lịch

Du lịch, được ghi nhận lần đầu trong từ điển Oxford năm 1811, mang hai ý nghĩa chính là việc di chuyển đến một nơi xa và trải nghiệm các hoạt động tham quan, khám phá.

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), du lịch bao gồm tất cả các hoạt động của những người du hành tạm trú nhằm mục đích tham quan, khám phá, trải nghiệm, nghỉ ngơi, giải trí, hoặc hành nghề trong thời gian không quá một năm, ở ngoài môi trường sống định cư Tuy nhiên, du lịch không bao gồm các chuyến đi có mục đích chính là kiếm tiền Đây cũng được xem là một hình thức nghỉ ngơi năng động trong môi trường khác với nơi cư trú.

Khái niệm du lịch hiện nay vẫn được hiểu theo nhiều cách khác nhau, với nhiều định nghĩa khác nhau Dù có những tranh luận xung quanh, hầu hết các ý kiến tại diễn đàn quốc tế đều thống nhất rằng du lịch là hành động di chuyển đến một địa điểm khác với nơi cư trú thường xuyên, không nhằm mục đích kinh doanh Tại hội nghị Liên Hợp Quốc ở Roma, Italia (21/08-05/09/1963), các chuyên gia đã định nghĩa du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và hoạt động kinh tế phát sinh từ các chuyến đi và lưu trú của cá nhân hoặc tập thể bên ngoài nơi ở thường xuyên, với mục đích hòa bình, và nơi lưu trú không phải là nơi làm việc.

Theo I.I Pirôgionic vào năm 1985, du lịch được định nghĩa là hoạt động của cư dân trong thời gian nhàn rỗi, bao gồm việc di chuyển và lưu trú tạm thời ngoài nơi ở thường xuyên Mục đích của du lịch là để nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, cũng như nâng cao nhận thức về văn hóa hoặc thể thao, đi kèm với việc tiêu thụ các giá trị tự nhiên, kinh tế và văn hóa.

Dưới góc độ khác nhau, định nghĩa về du lịch cũng rất khác nhau:

Du lịch, dưới góc độ kinh tế, được định nghĩa là ngành dịch vụ phục vụ nhu cầu tham quan và nghỉ ngơi, bao gồm cả các hoạt động chữa bệnh, thể thao và nghiên cứu khoa học Tại Việt Nam, lĩnh vực du lịch còn khá mới, chỉ bắt đầu được nghiên cứu từ đầu thập niên 50 của thế kỷ XX, nhưng đã thu hút sự quan tâm lớn từ nhiều nhà nghiên cứu và tổ chức du lịch Tuy nhiên, do sự khác biệt về trình độ nhận thức và quan điểm, khái niệm về du lịch vẫn còn nhiều điểm chưa thống nhất Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch được hiểu qua hai khía cạnh khác nhau.

Du lịch là hoạt động nghỉ dưỡng và tham quan của con người bên ngoài nơi cư trú, nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí và khám phá các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, cũng như các công trình văn hóa nghệ thuật Từ góc độ này, du lịch được xem xét qua nhu cầu và mong muốn của người đi du lịch.

Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp hiệu quả, không chỉ nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, mà còn góp phần tăng cường tình yêu đất nước và tình hữu nghị với người nước ngoài Về mặt kinh tế, du lịch mang lại hiệu quả lớn và có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ Để thống nhất khái niệm và làm cơ sở cho nghiên cứu cũng như phát triển du lịch, Luật Du lịch Việt Nam (được Quốc hội thông qua năm 2005) đã đưa ra định nghĩa về du lịch tại Việt Nam.

Du lịch là những hoạt động mà con người thực hiện khi rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để tham quan, tìm hiểu, giải trí và nghỉ ngơi trong một khoảng thời gian nhất định Đây là nền tảng quan trọng cho sự phát triển du lịch tại Việt Nam.

Tài nguyên du lịch là một loại tài nguyên đặc biệt, không thể tách rời khỏi khái niệm du lịch Theo Điều 10 của Pháp lệnh Du lịch Việt Nam (1999), tài nguyên du lịch bao gồm cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn và các công trình sáng tạo của con người, tất cả đều phục vụ nhu cầu du lịch Những yếu tố này là cơ sở để hình thành các điểm du lịch và khu du lịch, góp phần tạo ra sức hấp dẫn cho ngành du lịch.

Tài nguyên du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển ngành du lịch, với thực tế cho thấy rằng sự phong phú và đặc sắc của tài nguyên du lịch sẽ tăng cường sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch.

Tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam, được ví như "rừng vàng biển bạc", có tiềm năng lớn trong ngành du lịch Tuy nhiên, việc khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch còn phụ thuộc vào đầu tư, quy hoạch hợp lý và yếu tố con người.

Loại hình du lịch là tập hợp các sản phẩm du lịch có đặc điểm tương đồng, đáp ứng nhu cầu và động cơ du lịch giống nhau, phục vụ cùng một nhóm khách hàng, hoặc có cách phân phối và tổ chức tương tự, và thường được phân loại theo mức giá bán nhất định.

Du lịch có thể được phân loại thành nhiều loại hình khác nhau dựa trên các tiêu chí và phương pháp khác nhau Hiện nay, các chuyên gia du lịch tại Việt Nam thường phân chia các loại hình du lịch theo những tiêu chí cơ bản sau đây.

Phân chia theo môi trường tự nhiên:

Phân loại theo mục đích chuyến đi:

+ Du lịch nghiên cứu, học tập

+ Du lịch thể thao kết hợp

Phân loại theo lãnh thổ hoạt động:

Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch:

Phân loại theo phương tiện giao thông: + Du lịch xe đạp

+ Du lịch bằng tàu hoả

+ Du lịch bằng tàu thuỷ

Phân loại theo loại hình lưu trú:

Phân loại theo lứa tuổi du lịch:

+Du lịch người cao tuổi

Phân loại theo độ dài chuyến đi : + Du lịch ngắn ngày

Phân loại theo hình thức tổ chức: + Du lịch tập thể

Phân loại theo phương thưc hợp đồng:

Các nguyên tắc cơ bản của hoạt động du lịch

Phát triển du lịch bền vững nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không gây ảnh hưởng tiêu cực đến cảnh quan, xã hội và kinh tế Để đạt được điều này, ngành du lịch cần tuân thủ một số nguyên tắc hoạt động cơ bản.

Sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên môi trường - yếu tố cốt lõi trong phát triển du lịch

Duy trì các quá trình diển thể sinh thái cần thiết và hổ trợ bảo tồn di sản thiên nhiên, đa dạng sinh học

Tôn trọng và bảo về tính xác thực của vuawn hóa xã hội và di sản

Tôn trọng các giá trị truyền thống

Góp phần tăng thêm sự hiểu biết và tôn trọng đối với các nền văn hóa khác

Để đảm bảo lợi ích kinh tế thiết thực và bền vững cho tất cả các bên tham gia hoạt động du lịch, cần phân bổ đồng đều các lợi ích kinh tế, bao gồm cả các dịch vụ xã hội.

Để góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo công ăn việc làm, mọi bộ phận liên quan đến hoạt động du lịch, bao gồm Chính phủ, nhà quản lý, doanh nghiệp, nhân viên, cộng đồng và du khách, đều cần có trách nhiệm chung trong việc thực hiện mục tiêu này.

Một số loại hình du lịch phổ biến hiện nay

Ngành du lịch Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ nhờ vào sự quan tâm kịp thời và chính xác Sự đa dạng trong các loại hình du lịch cùng với những yếu tố du lịch sẵn có đã tạo nền tảng vững chắc cho việc thu hút một lượng lớn khách du lịch quốc tế.

Du lịch Việt Nam vẫn còn tiềm năng lớn, với nhiều lợi thế chưa được khai thác triệt để Tuy nhiên, nhờ vào việc thử nghiệm các loại hình du lịch mới, ngành du lịch Việt Nam đã đạt được những thành công đáng kể trong thời gian qua.

Sau đây là một số loại hình du lịch tiêu biểu tại Việt Nam hiện nay:

Tham quan di tích lịch sử và thắng cảnh là hình thức du lịch truyền thống đặc sắc của Việt Nam, nơi sở hữu sự đa dạng và phong phú về yếu tố tự nhiên Các danh lam thắng cảnh nổi tiếng trải dài khắp 64 tỉnh thành, với những điểm đến hấp dẫn như Vịnh Hạ Long, động Phong Nha, Đà Lạt, Sa Pa và Nha Trang.

Du lịch lễ hội và du lịch hoa, như Festival Huế, Festival hoa Đà Lạt, hội chùa Hương, hội Lim và tết cổ truyền, mang đến cho du khách cơ hội tham quan và trải nghiệm văn hóa độc đáo Đây là loại hình du lịch hấp dẫn, đặc biệt cho du khách quốc tế, giúp họ khám phá những nét đẹp văn hóa phong phú của Việt Nam.

Gần đây, du lịch thiên nhiên đã trở thành xu hướng phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới Hình thức du lịch này mang lại sự gần gũi với thiên nhiên và tối ưu hóa lợi thế tự nhiên của mỗi quốc gia.

Du lịch sinh thái tại Việt Nam đang thu hút sự quan tâm với nhiều điểm đến nổi bật như Nhà vườn Huế, bãi biển Lăng Cô, rừng Cúc Phương, hồ Ba Bể, vườn quốc gia Cát Tiên, U Minh Thượng và U Minh Hạ Những khu du lịch này không chỉ mang đến trải nghiệm gần gũi với thiên nhiên mà còn góp phần bảo tồn hệ sinh thái đa dạng của đất nước.

Du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh: tắm nước khoáng Kim Bôi – Hòa Bình, nhà nghỉ ở Phan Thiết, Nha Trang, châm cứu ở Hà Nội…

Du lịch MICE, bao gồm các hoạt động gặp gỡ, xúc tiến, hội nghị và hội thảo, đang phát triển mạnh mẽ tại các địa điểm như Vũng Tàu và Đà Nẵng, phục vụ nhu cầu của doanh nghiệp và công ty Bên cạnh đó, du lịch tuần trăng mật cũng thu hút du khách đến những điểm đến lãng mạn như Đà Lạt, Sa Pa và Tam Đảo.

Chương trình teambuilding tour kết hợp du lịch tham quan và nghỉ dưỡng đang trở thành xu hướng phổ biến trong các doanh nghiệp Mục tiêu chính của loại hình du lịch này là xây dựng và tăng cường tinh thần đoàn kết giữa các nhân viên Nhiều công ty hiện đang "đặt hàng" các chương trình teambuilding để nâng cao sự gắn kết và hợp tác trong tập thể.

Tổng quan về thành phố Đà Nẵng

Đà Nẵng, nằm ở tọa độ 15°55’ đến 16°14’ vĩ Bắc và 107°18’ đến 108°20’ kinh Đông, giáp tỉnh Thừa Thiên Huế ở phía bắc, tỉnh Quảng Nam ở phía tây và nam, và biển Đông ở phía đông Thành phố này có vị trí trung độ của Việt Nam, kết nối các tuyến giao thông Bắc - Nam qua đường bộ, đường sắt, đường biển và hàng không, cách Hà Nội 764 km về phía bắc và TP Hồ Chí Minh 964 km về phía nam Đà Nẵng cũng đóng vai trò là cửa ngõ quan trọng ra biển cho Tây Nguyên và các nước như Lào, Campuchia, Thái Lan, và Myanmar, kết nối với Đông Bắc Á thông qua Hành lang kinh tế Đông - Tây với cảng Tiên Sa là điểm kết thúc.

Diện tích tự nhiên của Đà Nẵng là 1.255,53 km 2 ; trong đó, các quận nội thành chiếm diện tích 213,05 km 2 , các huyện ngoại thành chiếm diện tích 1.042,48 km 2

Khí hậu Đà Nẵng thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với nhiệt độ cao và ít biến động Đây là khu vực chuyển tiếp giữa khí hậu cận nhiệt đới miền Bắc và khí hậu nhiệt đới xavan miền Nam, chủ yếu mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới Đà Nẵng có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, với một vài đợt rét mùa đông nhẹ Mùa khô kéo dài là lợi thế cho ngành du lịch phát triển quanh năm Đặc biệt, khu vực Bà Nà Hill ở Đà Nẵng có khí hậu mát mẻ với nhiệt độ trung bình khoảng 20°C, nơi mà trong một ngày có thể trải nghiệm bốn mùa khác nhau.

Khí hậu tại bán đảo Sơn Trà rất trong lành và dễ chịu nhờ vào việc không khí được lọc qua cánh rừng nguyên sinh Thành phố Đà Nẵng, nằm cạnh biển, hưởng lợi từ không khí biển mát mẻ vào mùa hè, nhưng cũng trải qua những cơn gió mạnh mẽ và dữ dội vào mùa đông.

Thành phố Đà Nẵng có nhiều loại đất phong phú, bao gồm cồn cát, đất mặn, đất phèn, và đất phù sa Đặc biệt, nhóm đất phù sa ở vùng đồng bằng ven biển rất thích hợp cho việc thâm canh lúa, trồng rau và hoa quả Trong khi đó, đất đỏ vàng ở vùng đồi núi phù hợp cho các loại cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản và dược liệu, đồng thời có kết cấu vững chắc thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và chăn nuôi gia súc.

Tài nguyên nước Đà Nẵng bao gồm bờ biển dài khoảng 30 km và vịnh Đà Nẵng được bảo vệ bởi núi Hải Vân và Sơn Trà, với mực nước sâu lý tưởng cho việc xây dựng cảng lớn và các cảng chuyên dụng khác Vịnh Đà Nẵng nằm trên các tuyến đường biển quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông đường thủy Du lịch biển là một trong những tài nguyên du lịch đặc trưng của thành phố này, đồng thời vịnh còn là nơi trú ẩn an toàn cho các tàu lớn trong mùa bão.

Vùng biển Đà Nẵng có diện tích ngư trường rộng lớn hơn 15.000 km2, với hơn 266 giống loài động vật biển, trong đó có 16 loài hải sản có giá trị kinh tế cao, tổng trữ lượng đạt 1.136.000 tấn Các loài hải sản này chủ yếu phân bố ở độ sâu từ 50-200m, chiếm 48,1% tổng trữ lượng Đà Nẵng hàng năm có khả năng khai thác từ 150.000 đến 200.000 tấn hải sản, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của người dân và khách du lịch Bên cạnh đó, Đà Nẵng còn sở hữu bờ biển dài với nhiều bãi tắm đẹp như Non Nước.

Mỹ Khê, Thanh Khê và Nam Ô sở hữu nhiều cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, trong khi khu vực quanh bán đảo Sơn Trà có các bãi san hô phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển dịch vụ du lịch biển Bên cạnh đó, vùng biển Đà Nẵng cũng đang được thăm dò để khai thác dầu khí và chất đốt.

Các sông ngòi của Đà Nẵng chủ yếu xuất phát từ hướng Tây và Tây Bắc của thành phố cùng với tỉnh Quảng Nam Đặc điểm nổi bật của các sông ở Đà Nẵng là chúng thường ngắn và có độ dốc lớn.

Có 2 sông chính là Sông Hàn (chiều dài khoảng 204 km, tổng diện tích lưu vực khoảng 5.180km2) và sông Cu Đê (chiều dài khoảng 38 km, lưu vực khoảng 426km2) Ngoài ra, trên địa bàn thành phố còn có các sông: Sông Yên, sông Chu Bái, sông Vĩnh Điện, sông Túy Loan, sông Phú Lộc Thành phố còn có hơn 546 ha mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản Với tiềm năng về diện tích mặt nước, tạo điều kiện tốt để xây dựng thành vùng nuôi thủy sản với các loại chính như: cá mú, cá hồi, cá cam, tôm sú và tôm hùm Đây cũng là một tài nguyên du lịch để phát triển du lịch đường sông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Diện tích đất lâm nghiệp tại Đà Nẵng là 67.148 ha, chủ yếu tập trung ở huyện Hòa Vang, với một phần nhỏ ở quận Liên Chiểu, Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn Tỷ lệ che phủ rừng đạt 49,6%, trong khi trữ lượng gỗ ước tính đáng kể.

3 triệu m3 Phân bố chủ yếu ở nơi có độ dốc lớn, địa hình phức tạp

Rừng của thành phố Đà Nẵng không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường và phát triển du lịch Thành phố được thiên nhiên ưu đãi với các khu bảo tồn đặc sắc như Bà Nà, Sơn Trà và khu văn hóa lịch sử Nam Hải Vân Đặc biệt, Bà Nà Hill và bán đảo Sơn Trà được xem là hòn ngọc kinh tế và là lá phổi xanh của Đà Nẵng.

1.4.2 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển

Khi nhà nước Chămpa ra đời, Đà Nẵng thuộc tiểu quốc Amaravati Đến năm 1306, thông qua cuộc hôn nhân giữa Vua Chế Mân và Công chúa Huyền Trân, hai châu Ô, Lý được nhượng cho nhà Trần, đánh dấu sự hình thành các làng xóm của người Việt Vào tháng Giêng năm Đinh Mùi (1307), Vua Trần Anh Tông đổi tên châu Ô và châu Lý thành châu Thuận và châu Hóa, từ đó Đà Nẵng trở thành phần đất thuộc châu Hóa Sau năm 1446, Đà Nẵng thuộc huyện Điện Bàn, phủ Triệu Phong, thừa tuyên Thuận Hóa Sau khi sáp nhập vào Đại Việt, Đà Nẵng vẫn là miền biên viễn, thường xuyên bị quấy nhiễu và cướp phá.

Năm 1470, Lê Thánh Tông đã đánh bại quân Chiêm Thành, mở rộng biên giới Đại Việt đến mũi Nạy, giữa Phú Yên và Khánh Hòa ngày nay Sau sự kiện này, vùng đất này trở nên bình ổn và bắt đầu có những cuộc khai phá Các cư dân Việt đã đến sinh sống tại đây, tiếp nhận và cải biến những yếu tố văn hóa Chămpa để hòa nhập vào văn hóa Việt.

Trong thời kỳ Chúa Nguyễn, Đà Nẵng đã phát triển thành một vùng đất trù phú, thu hút thương nhân và tàu thuyền nước ngoài đến mua bán Vào giữa thế kỷ 16, Hội An là trung tâm buôn bán lớn ở phía nam, trong khi Đà Nẵng đóng vai trò là cảng trung chuyển hàng hóa và sửa chữa tàu thuyền Đến đầu thế kỷ 18, Đà Nẵng dần trở thành thương cảng quan trọng, thay thế Hội An, nhờ vào sự phát triển của kỹ thuật đóng tàu châu Âu, cho phép tàu lớn dễ dàng ra vào vịnh Đà Nẵng.

Thời kỳ các Chúa Nguyễn chứng kiến sự thành lập của Hải đội Hoàng Sa, có nhiệm vụ khai thác tài nguyên quần đảo Hoàng Sa trong 8 tháng mỗi năm, bao gồm đánh cá và thu thập tài sản từ tàu đắm để nộp cho triều đình Hoạt động của Hải đội Hoàng Sa không chỉ là việc khai thác mà còn khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ XVII Đà Nẵng, trong bối cảnh Trịnh - Nguyễn phân tranh và thời Tây Sơn, trở thành vùng tranh chấp quyết liệt, chứng kiến nhiều trận đánh ác liệt giữa quân đội nhà Nguyễn và đối thủ trong cuộc tấn công vào cửa Đà Nẵng và Đại Chiêm.

TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG KHAI THÁC DU LỊCH TRÊN SÔNG CU ĐÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Đôi nét về dòng sông Cu Đê, thành phố Đà Nẵng

Từ núi Trường Sơn hùng vĩ, nhánh Hải Vân tạo thành bức tường thiên nhiên ngăn cách miền Bắc và miền Nam của dải đất miền Trung Chỉ vài cây số về phía nam Hải Vân, dòng sông chảy lặng lẽ ra cửa biển Nam Ô, mang theo những lớp trầm tích phù sa lịch sử - văn hóa, gắn liền với hai sự kiện nổi bật: Câu Chiêm và Cụ Đê.

Vào năm 1311, vào tháng 12, vua đã dẫn quân đi đánh Chiêm Thành do Chế Chí, vị chúa nước này, thường xuyên phản bội Năm sau, vào tháng 5, vua đã bắt được Chế Chí và phong em của hắn, Chế Đà A Bà Niêm, làm Á hầu để trấn giữ vùng đất này Trước đó, Chế Chí đã cử người sang cống, người này là trại chủ Câu Chiêm, và vua đã giao cho Đoàn Nhữ Hài bí mật thương thảo với hắn Khi vua trực tiếp dẫn quân đi đánh, ông đã chia quân thành ba đường, trong đó có Huệ Vũ Vương Quốc Chẩn theo đường núi.

Vua dẫn quân theo hai hướng, một đường biển và một đường bộ, để tiến quân cùng lúc Ông cử Đoàn Nhữ Hài làm sứ giả để thuyết phục quốc chủ ra hàng Khi đến Câu Chiêm, vua dừng lại, và Nhữ Hài đã cử người đến trại chủ để truyền đạt yêu cầu đầu hàng Trại chủ đã báo cáo lại với Chế Chí, và Chế Chí quyết định theo lời khuyên, dẫn gia thuộc ra biển để đầu hàng.

Vào tháng 11 năm 1470, vào ngày 6, vua đã ra lệnh xuất quân để tấn công Chiêm Thành Đến mùa xuân năm 1471, vào ngày 2 tháng Giêng, vua nhận thấy sự cần thiết phải tăng cường luyện tập cho quân lính trước khi vào đất địch, nên đã chỉ thị cho quân Thuận Hóa ra biển tập luyện thủy chiến Vua cũng nhận định rằng địa hình và dòng nước của Chiêm Thành còn nhiều điều chưa rõ, vì vậy đã cử thổ tù Nguyễn ở Thuận Hóa để thu thập thông tin.

Vào ngày mồng 6, viên Chỉ huy Cang Viễn đã bắt giữ Bồng Nga Sa, viên lại giữ cửa quan Cụ Đê nước Chiêm, và đem nộp Vũ đã vẽ hình thế hiểm dị của nước Chiêm để dâng lên.

Câu Chiêm, điểm hội quân quan trọng sau khi vượt qua núi Hải Vân, là nơi không xác định được vị trí dừng chân cụ thể trong trại Tuy nhiên, viên quan giữ cửa quan Cụ Đê nước Chiêm bị bắt năm 1471 có thể là người trấn giữ cửa ngõ phía nam núi Hải Vân, tức vùng cửa sông Cu Đê ngày nay Thời đó, có hai con đường bộ vượt qua ngọn núi Hải Vân, nhưng cả hai đều phải vượt qua sông Cu Đê, khiến khu vực này trở thành yết hầu quan trọng vào đất Chiêm Lợi thế tự nhiên này đã được Nguyễn Phúc Anh và sau này là chúa Nguyễn sử dụng để lập vành đai phòng thủ chống quân Trịnh Năm 1312, Câu Chiêm được nhắc đến khi vị sứ thần và lực lượng hùng hậu hội quân tại đây, trong khi năm 1471, 25 vạn quân của Lê Thánh Tông đã nhanh chóng bắt vị quan trấn giữ khi “vào đất giặc”.

“cửa quan Cụ Đê nước Chiêm”, rồi thẳng tiến về kinh đô Đồ Bàn

Hai sự kiện cách nhau 160 năm liên quan đến địa danh Câu Chiêm và Cụ Đê Theo Phan Khoang trong "Việt sử xứ Đàng Trong", Câu Chiêm (Cu Chiêm) vào năm 1312 "có lẽ ở biên giới núi Hải Vân", nhưng không chỉ rõ vị trí cụ thể Ở bờ bắc Hải Vân không có địa danh nào như vậy Vua Trần Anh Tông đã chia quân thành ba đường: thủy, bộ và đường núi, trong đó vua chọn đi đường bộ.

Cửa quan Cụ Đê, hiện nay là dòng sông Cu Đê, đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng, nhưng người dân hai làng chài Nam Ô và Xuân Dương vẫn gọi nơi đây là Câu Đê Tên gọi này có nguồn gốc từ hai địa danh Câu Chiêm và Cụ Đê, với chữ Câu và Cụ có nghĩa tương đồng, trong khi Chiêm và Đê lại không giống nhau về hình thức nhưng có thể tương đồng về nghĩa Chữ Đê có nghĩa là thấp, hèn kém, trong khi Chiêm ám chỉ người Chàm Lê Quý Đôn trong tác phẩm của mình đã chỉ ra rằng Đê có thể ám chỉ người Chiêm, dẫn đến việc Cụ Đê trở thành biến thể của Câu Chiêm với ý nghĩa khác Sự thay đổi tên gọi này có thể phản ánh sự điều chỉnh của các sử quan thời Lê, và tương tự, thời Nguyễn cũng đã thay đổi tên địa danh Thanh Chiêm thành Thanh Triêm Sự chuyển đổi này cho thấy ảnh hưởng của giới tinh hoa Nho giáo trong chính quyền phong kiến.

Hơn bảy thế kỷ, cái tên Cu Đê đã trở thành biểu tượng đặc trưng, góp phần tạo nên vẻ đẹp độc đáo của vùng cửa ải, nơi sông nước hòa quyện trong khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp.

Sông ngòi tại Đà Nẵng chủ yếu bắt nguồn từ phía Tây và Tây Bắc của thành phố cũng như tỉnh Quảng Nam Hầu hết các con sông ở đây có chiều dài ngắn và độ dốc lớn.

Có 2 sông chính là Sông Hàn (chiều dài khoảng 204 km, tổng diện tích lưu vực khoảng 5.180km2) và sông Cu Đê Trong đó sông Cu Đê có chiều dài khoảng

Sông Hòa Bắc, dài 38 km, nằm ở phía Bắc thành phố Đà Nẵng, được hình thành từ hai phụ lưu chính là sông Bắc và sông Nam Sông Bắc có một chi lưu là sông Cha Nay Sông Hòa Bắc chảy theo hướng Tây-Đông, đi qua huyện Hòa Vang và quận Liên Chiểu, trước khi đổ ra biển Đông tại cửa biển Nam Ô, thuộc phường Hòa Hiệp Bắc và Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu.

Liên Chiểu nằm cách chân đèo Hải Vân khoảng 5 km và có tổng diện tích lưu vực sông Cu Đê khoảng 472 km² Chiều rộng bình quân của lưu vực đạt 12,8 km, với độ cao bình quân là 358 m và độ dốc bình quân là 26,6%.

Lưu vực sông Cu Đê được chia làm 3 khu vực

+ Thượng lưu: Giàn Bí và Nam Yên

+ Trung lưu: Xã Hòa Bắc, Xã Hòa Liên, Thủy Tú và Trường Định

+ Hạ lưu: Hòa Hiệp Nam, Hòa Hiệp Bắc, Thủy Tú và Nam Ô

Hạ lưu sông Cu Đê là một vùng sinh thái nhạy cảm, nổi bật với hệ sinh thái thủy sinh tự nhiên phong phú, bao gồm các loài cá và động vật đáy sống trong môi trường nước ngọt, nước lợ và nước mặn.

Thành phố còn có nhiều con sông nổi bật như sông Yên, sông Chu Bái, sông Vĩnh Điện, sông Túy Loan và sông Phú Lộc, góp phần tạo nên cảnh quan thiên nhiên phong phú và đa dạng.

Thực trạng tổ chức hoạt động du lịch trên sông Cu Đê, thành phố Đà Nẵng

2.3.1 Các tuyến điểm du lịch trên sông Cu Đê

Có thể nói, các tuyến điểm du lịch về văn hóa dọc sông Cu Đê vô cùng đặc sắc, mang ý nghĩa lịch sử rất sâu sắc

Khám phá Miếu Bà (miếu 1) mang đến cơ hội tìm hiểu văn hóa tâm linh độc đáo và cuộc sống của cư dân làng chài ven sông Du khách có thể tham gia vào hoạt động cùng ngư dân, học cách đan lưới và thử sức với việc giăng lưới thả rớ để đánh cá, từ đó thưởng thức những món ăn ngon từ thành quả đánh bắt.

- Làng Thủy Tú ven sông, đi bộ vào tìm hiểu chiến tích một thời của:

“Thủy Tú quê tôi chưa mưa đã lội Đất tuy nghèo nhưng vang dội chí trung kiên ”

Núi đá Bà tọa lạc dọc theo triền sông Cu Đê, và theo truyền thuyết địa phương, ngày xưa trên đỉnh núi có hai hòn đá lớn mang tên đá Bà và đá Ông Sau một thời gian, một hòn đá đã lăn xuống phía trước, được gọi là đá Ông, trong khi hòn đá còn lại vẫn nằm nguyên vị trí hiện tại, được gọi là đá Bà.

“Ngó lên hòn kẻm đá Bà – Nhìn về Thủy Tú cây đa vẫn còn”

Bia di tích Hầm Vàng ghi nhận những chiến công oanh liệt của quân và dân Thủy Tú trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, với các trận đánh nổi bật ở Bến Lượng, Sông Cu Đê, Cồn Dâu, Hầm Vàng, Đá Bà và Núi Cấm Nằm cách Bia di tích vài trăm mét là núi Hầm Vàng, được người dân địa phương đặt tên do có các hầm do Pháp đào để tìm vàng, nhưng vì trữ lượng vàng ít ỏi, Pháp đã ngừng khai thác.

Bến Hầm Vàng là điểm dừng chân lý tưởng để khám phá bến Ma, nơi du khách có thể thưởng thức các đặc sản độc đáo của vùng sông nước Cu Đê như cháo cá đối cồi và gỏi cá Nam Ô Tại đây, bạn cũng có thể mua sắm quà lưu niệm và tham gia cùng người dân địa phương thả đèn hoa đăng trên sông, tạo nên những trải nghiệm khó quên.

- “Bến không chồng” ở thượng nguồn sông Cu Đê

Đình làng Thủy Tú, hay còn gọi là đình Trung, là một ngôi đình lớn nằm trong tổ 60 khối Thủy Tú, phường Hòa Hiệp Bắc, được xây dựng vào khoảng thế kỷ XV.

Vào năm 1945, đình được xây dựng với cột gỗ lớn và mái lợp ngói âm dương Mỗi năm vào tháng Giêng, lễ cúng đình được tổ chức, nơi thờ các sắc phong Hiện nay, đình đã bị phá hủy, chỉ còn lại nền móng cũ.

Sông Cu Đê không chỉ nổi bật với các điểm du lịch văn hóa mà còn có khu du lịch sinh thái Thọ Yên – Hòa Bắc, nơi lưu giữ những ngôi nhà rường cổ và nhà sàn dân tộc, cùng với các hiện vật văn hóa độc đáo của người Cơ Tu Mô hình du lịch tại đây kết hợp hài hòa giữa văn hóa địa phương và hoạt động giao lưu cộng đồng, phản ánh nét đặc trưng của vùng Quảng và miền Trung Tuy nhiên, khu du lịch này vẫn chưa thu hút được nhiều du khách và đang trong tình trạng chưa phát triển mạnh mẽ.

2.3.2 Tình hình khách du lịch và doanh thu

Qua thực tế cho thấy, các dịch vụ được khai thác phục vụ tại tuyến sông

Cu Đê hiện nay đang gặp phải tình trạng nghèo nàn và đơn điệu, thiếu sự đặc trưng của địa phương Các dịch vụ tại đây chủ yếu hoạt động riêng lẻ và chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Đặc biệt, trong lĩnh vực ẩm thực, các quán ăn phục vụ món ăn dân dã từ miền núi sông vẫn chưa thu hút được thực khách, cần có sự chú trọng hơn để nâng cao trải nghiệm ẩm thực.

Hiện nay, các tuyến du lịch trên sông Cu Đê đang trong giai đoạn thử nghiệm do UBND Quận Liên Chiểu và UBND Huyện Hòa Vang tổ chức, nhằm khảo sát tiềm năng để phát triển các dự án du lịch Tuy nhiên, việc thống kê tình hình du lịch và doanh thu gặp nhiều khó khăn Một số chương trình du lịch đã được tổ chức với sự tham gia của các công ty lữ hành và quản lý văn hóa, nhưng hiện tại, hoạt động du lịch trên sông Cu Đê vẫn chưa diễn ra thường xuyên và chưa được đưa vào chương trình cụ thể của các công ty du lịch.

Một số thống kê về lượt khảo sát của các nhà quản lý:

+ Năm 2014: Chuyến khảo sát của Phó bí thư thường trực Quận ủy Liên Chiểu Nguyễn Bá Đức

Năm 2017, dưới sự chỉ đạo của Sở Du lịch, Khoa Lịch Sử trường Đại học Sư phạm - ĐHĐN đã tổ chức chuyến thực tế ngược dòng Cu Đê, với sự tham gia của 3 giảng viên và 2 sinh viên, do cô Ngô Thị Hường dẫn đầu.

+ Ngoài ra còn một số khảo sát cảu các giảng viên khoa Địa Lý và khoa Sinh Môi Trường trường Đại học Sư pham - ĐHĐN

Mặc dù vẫn có khách du lịch đến sông Cu Đê, nhưng chủ yếu theo hình thức tự phát, khi họ tự thuê thuyền của người dân để khám phá khu vực này Hiện tại, chưa có chương trình du lịch chuyên nghiệp nào được tổ chức, dẫn đến việc doanh thu khó thống kê và không có số liệu cụ thể Trong quá trình nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp, tôi đã cố gắng tìm hiểu và tham khảo ý kiến từ các nhà quản lý tại Đà Nẵng và quận Liên Chiểu, nhưng việc thu thập thông tin về số lượng khách và doanh thu vẫn gặp nhiều khó khăn.

2.3.3 Hiện trạng khai thác, đầu tư cơ sở hạ tầng

Hầu hết các cơ sở vật chất cho dịch vụ du lịch tuyến sông Cu Đê còn thiếu, chỉ có một phương tiện mới được đầu tư bởi Công ty Tân Cường Thành với công suất 16cv, chở 15 khách, và kinh phí 120 triệu đồng Các chủ phương tiện còn lại chưa chuẩn bị cho việc chuyển đổi hoặc nâng cấp để phục vụ loại hình du lịch này.

Hệ thống cơ sở hạ tầng và kỹ thuật tại các điểm du lịch hiện nay chỉ được đầu tư ở mức cơ bản, chủ yếu tập trung vào việc xây dựng nhà hàng và nhà nghỉ để đáp ứng nhu cầu ăn uống và nghỉ ngơi của du khách, cùng với các điểm dừng chân trên các tuyến du lịch.

Hệ thống giao thông, điện, nước và thông tin liên lạc tại các tuyến điểm du lịch hiện có tương đối thuận lợi Tuy nhiên, sự thiếu đồng bộ của hệ thống internet gây khó khăn trong việc phục vụ công tác tuyên truyền và quảng bá.

Hệ thống cơ sở lưu trú và ăn uống tại các điểm du lịch hiện nay chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu của khách hàng Đầu tư cho trang thiết bị cao cấp còn hạn chế, chủ yếu là các quán Bar phục vụ đồ uống và món ăn dân dã, không đủ để phục vụ cho nhóm đông khách Chỉ có một số khu vực như Khu du lịch Xuân Thiều và Trạm dừng chân Nam Hải Vân được đầu tư tốt hơn về trang thiết bị chế biến.

GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN SÔNG CU ĐÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Ngày đăng: 11/05/2021, 21:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Huy Bá (chủ biên) (2016), Du lịch sinh thái, NXB Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái
Tác giả: Lê Huy Bá (chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2016
4. Vũ Thế Bình (2007), Non nước Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Non nước Việt Nam
Tác giả: Vũ Thế Bình
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2007
5. Vũ Xuân Cảnh, Phạm Xuân Hậu, Nguyễn Kim Hồng, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ (2008), Đại lý du lịch, NXB thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại lý du lịch
Tác giả: Vũ Xuân Cảnh, Phạm Xuân Hậu, Nguyễn Kim Hồng, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ
Nhà XB: NXB thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008
6. Trần Chương (2009), “Một số vẫn đề định hướng quy hoạch trong việc xây dựng thành phố sinh thái”, Tạp chí văn hóa Hội An, Xuân Kỷ Sửu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vẫn đề định hướng quy hoạch trong việc xây dựng thành phố sinh thái”," Tạp chí văn hóa Hội An
Tác giả: Trần Chương
Năm: 2009
7. Nguyễn Thị Duyên (2005), Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên phục vụ phát triển du lịch Đà Nẵng, Khóa luận Tốt nghiệp, khoa Địa Lý trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên phục vụ phát triển du lịch Đà Nẵng
Tác giả: Nguyễn Thị Duyên
Năm: 2005
9. Đề án phát triển Tour, Tuyến du lịch đường sông và du lịch sinh thái thôn quê - 2010, Sở Du lịch thành phố Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyến du lịch đường sông và du lịch sinh thái thôn quê - 2010
10. Nguyễn Văn Đính (chủ biên) (2009), Giáo trình kinh tế du lịch, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Đính (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Năm: 2009
11. Thế Đạt, Du lịch và du lịch sinh thái, NXB lao động Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch và du lịch sinh thái
Nhà XB: NXB lao động Hà Nội
12. Phạm Hoàng Hải (2004), Đà Nẵng trên con dường di sản, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đà Nẵng trên con dường di sản
Tác giả: Phạm Hoàng Hải
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2004
13. Phan Minh Hải (2009), Hấp dẫn các khu du lịch sinh thái Đà Nẵng, Bản tin du lịch Đà Nẵng, số 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hấp dẫn các khu du lịch sinh thái Đà Nẵng
Tác giả: Phan Minh Hải
Năm: 2009
14. Trịnh Thị Hằng (2010), Tìm hiểu hoạt động du lịch - ảnh hưởng của nó đến phát triển kinh tế xã hội và môi trường thành phố Đà Nẵng, Khóa luận Tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu hoạt động du lịch - ảnh hưởng của nó đến phát triển kinh tế xã hội và môi trường thành phố Đà Nẵng
Tác giả: Trịnh Thị Hằng
Năm: 2010
16. Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu (2002), Du lịch bền vững, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
Tác giả: Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2002
17. Bùi Thanh Huân, Lê Khánh Linh (2010), Phát triền du lịch bền vững Đà Nẵng, Hội thảo Khoa học 35 năm phát triển và hội nhập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triền du lịch bền vững Đà Nẵng
Tác giả: Bùi Thanh Huân, Lê Khánh Linh
Năm: 2010
18. Đinh Trung Kiên, Một số vấn đề về du lịch Việt Nam, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về du lịch Việt Nam
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
19. Hương Lê (2012), Du lịch sinh thái gắn với bảo vệ môi trường, Bộ VHTT và DL – Tổng cục Du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái gắn với bảo vệ môi trường
Tác giả: Hương Lê
Năm: 2012
21. Phạm Trung Lương, (chủ biên), (2002), Du lịch sinh thái - Những vấn đề về lý luận và thực tiễn phát triền ở Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái - Những vấn đề về lý luận và thực tiễn phát triền ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương, (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
22. Phạm Trọng Nghĩa (2009),“Đánh giá tác động của du lịch đến môi trường xã hội”, Tạp chí du lịch Việt Nam, NXB Thế Giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động của du lịch đến môi trường xã hội”," Tạp chí du lịch Việt Nam
Tác giả: Phạm Trọng Nghĩa
Nhà XB: NXB Thế Giới
Năm: 2009
23. Đồng Ngọc Minh, Vương Lôi Đình (2001), Kinh tế Du Lịch và Du Lịch học, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Du Lịch và Du Lịch học
Tác giả: Đồng Ngọc Minh, Vương Lôi Đình
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2001
24. Nhiều tác giả (1996), Quảng Nam Đà Nẵng xưa và nay, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Nam Đà Nẵng xưa và nay
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
25. Nhiều tác giả (1997), Việt Nam di tích và thắng cảnh, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam di tích và thắng cảnh
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w